Home / Tam Tạng Kinh Điển / Kinh Ba La Mật / Kinh Niệm Phật Ba La Mật – Phẩm thứ ba: Niệm Phật công đức

Kinh Niệm Phật Ba La Mật – Phẩm thứ ba: Niệm Phật công đức

Lúc bấy giờ, ngài Phổ Hiền Bồ Tát liền nhập Nhứt Thiết Phật Độ Thể Tánh Tam Muội, tất cả Bồ Tát và đại chúng đều thấy thân ḿnh ở trong thân của Phổ Hiền Bồ Tát.

Lại thấy rơ cơi nước Cực Lạc vô lượng vô biên sự trang nghiêm và tự nhiên thấy ḿnh đang trụ trong cảnh giới vi diệu thù thắng ấy. Thấy đức A Di Đà đang ngự trước mặt mình.

Thân tướng của đức A Di Đà cao lớn khôn cùng, h́nh dáng ngời sáng chói sắc vàng Diêm Phù Đàn. Lông trắng chặng giữa chân mày thì uyển chuyển xoáy tṛn về bên hữu, như năm ngọn núi Tu Di. Đôi mắt trắng và xanh biếc như bốn biển lớn. Các lỗ chân lông nơi thân đều phóng hào quang sáng sạch, chiếu soi muôn nghìn cơi nước ở khắp mười phương. Mỗi mỗi hào quang thường che chở và nhiếp thọ những chúng sanh niệm Phật.

Lại thấy toàn cơi Cực Lạc hiện trong thân ḿnh, mặt đất bằng lưu ly trong suốt, rạng rỡ. Bảo thọ, bảo đài, liên tŕ, bảo lâu, bảo ṭa… mỗi mỗi nghiêm sức bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, trân châu, mă năo. Chư thượng thiện nhân đều do hoa sen hóa sanh, ai nấy đầy đủ ba mươi hai tướng hảo, thọ dụng y thực tự nhiên thuần pháp hỷ thực và thiền duyệt thực.

Tất cả đều ngồi trên ṭa báu lắng nghe đức Phật cùng Bồ Tát thuyết pháp. Những sự việc trang nghiêm bất khả tư nghị như vậy, dẫu đến ức kiếp kể cũng không cùng tận.

Hiện thần lực như thế rồi, ngài Phổ Hiền bèn ra khỏi Nhất Thiết Phật Độ Thể Tánh Tam Muội, làm cho đại chúng trở lại như cũ.

Bấy giờ đại chúng được thấy sự chưa từng có, cho là rất đặc biệt lạ lùng, ngồi yên lặng nhất tâm chiêm ngưỡng. Lúc ấy, quốc mẫu Vi Đề Hy hoàng thái hậu chắp tay bạch rằng:

– Thưa Đại Sĩ, nay tam muội nầy thật vô cùng hi hữu, có uy lực lớn, có công năng bất tư nghị, vậy tên gọi của tam muội ấy là gì?

Phổ Hiền Bồ Tát nói:

– Tam muội nầy gọi là Nhứt Thiết Phật Độ Thể Tánh c̣n gọi là Niệm Phật Tam Muội. Do công đức xưng niệm danh hiệu Phật tạo thành, hoặc là kết quả tự nhiên của mười tâm thù thắng.

Nầy Phật tử, nay tôi nương thần lực và ḷng đại bi vô hạn lượng của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, mà tuyên thuyết công đức bất khả xưng tán của sự chấp tŕ danh hiệu Phật.

Mười thứ tâm thù thắng ấy, thật ra vừa là nhân vừa là quả. Nhân cùng quả th́ không bao giờ rời nhau. Người tu môn niệm Phật th́ phải đề khởi mười thứ tâm thù thắng, mới nhanh chóng thâm nhập Niệm Phật tam muội, hiện bày cảnh giới Cực Lạc. Hoặc ngược lại, người đặt trọn tín tâm nơi bản nguyện và cả đời chuyên nhất xưng niệm danh hiệu Phật th́ dần dần đi vào Niệm Phật tam muội, tự nhiên thành tựu mười thứ tâm thù thắng nói trên.

Tại sao vậy ?

Nầy Phật tử hăy chăm chú lắng nghe, tôi sẽ giải thích tường tận.

Danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật vốn đầy đủ vô lượng vô biên hằng hà sa công đức, vô lượng vô biên hằng hà sa ư nghĩa, vô lượng vô biên hằng hà sa lực dụng, cứu cánh, cảnh giới, giác tánh… dẫu trăm ngàn muôn ức na do tha vi trần đại kiếp, cũng không thể diễn nói hết được. Nay v́ chúng sanh nơi thời kỳ Chánh pháp cuối cùng, mà tôi sẽ lược nói để chúng sanh thu hoạch nhiều lợi ích.

Nầy Phật tử! Nam Mô A Di Đà Phật nghĩa là gì? 

Nam Mô là thủy giác. A Di Đà là tương tục giác, Phật là bản giác. 

Nam Mô là năng niệm, A Di Đà là tương tục niệm, Phật là sở niệm. 

Nam Mô là giới luật, A Di Đà là thiền định, Phật là trí tuệ. 

Nam Mô là thế gian giới, A Di Đà là pháp giới, Phật là vô sai biệt giới, vô sở hữu cảnh giới, vô trụ xứ cảnh giới. 

Nam Mô là thường, A Di Đà là tịch, Phật là quang. 

Nam Mô là diệu quan sát trí, A Di Đà là b́nh đẳng tánh trí, Phật là đại viên cảnh trí, vô tận sở hữu trí. 

Nam Mô là phi hữu, A Di Đà là phi vô, Phật là không tánh, phi hữu vô định tánh. 

Nam Mô là như thực hữu, A Di Đà là như thực không, Phật là như thực bất không. 

Nam Mô là sai biệt trí, A Di Đà là vô sai biệt trí, và Phật là pháp hải tuệ công đức vô tận tạng viên măn trí. 

Nam Mô là phương tiện lực, A Di Đà là cứu cánh lực, và Phật là dung thông phương tiện siêu việt cứu cánh lực. 

Nam Mô là ly trần, A Di Đà là ly căn, Phật là ly thức. 

Nam Mô là chuyển y tạng, A Di Đà là vô tận thiện căn tạng, Phật là quyết định chính giác tạng. 

Nam Mô là ly cẩn tạng, A Di Đà là Niết Bàn tạng, Phật là như huyễn giải thoát tạng. 

Nam Mô là trang nghiêm Phật quốc độ, A Di Đà là thành tựu vô biên Phật quốc độ, Phật là như huyễn thập phương Hoa Tạng Thế Giới Hải. 

Nam Mô là gia tŕ lực, A Di Đà là tiếp dẫn lực, Phật là tự tánh tương ưng nhiếp thọ lực. 

Nam Mô là khai thị vô lượng trí, A Di Đà là thâm nhập chính giác trí, Phật là quang minh phổ chiếu trí. 

Nam Mô là thế gian giải, A Di Đà là giác ngộ giải, Phật là nhất thiết trí biến chiếu thập phương viên măn giải. 

Nầy Phật tử, danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật có vô lượng vô biên bất khả thuyết ư nghĩa thâm mật vi diệu như thế, dẫu ba đời mười phương chư Phật diễn nói cũng không cùng tận.

Lại nữa, không thể chấp trước nơi ngữ ngôn, văn tự, âm thanh, tri kiến, biện luận… mà bảo rằng danh hiệu Nam Mô A Di Đà là hữu niệm hoặc vô niệm. V́ sao vậy? Bởi v́ danh hiệu ấy chính là không tánh, là vô sở đắc, là vô sở ư, vô cấu nhiễm, là vô sở tương ưng, là vô sở bội nghịch, vô công dụng hạnh, là vô sở cầu hạnh.

Lại nữa, không thể chấp trước nơi h́nh thái tu tập, chỗ dụng công, hoặc phương tiện biểu hiện, qui tắc hành tŕ, mà cho rằng danh hiệu ấy là hữu định tánh hay vô định tánh. V́ sao vậy? Bởi v́ danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật chính là vô tận tạng, hư không tạng, đà ra ni tạng, giải thâm mật cụ túc tạng …

Lại nữa, không thể chấp trước vào ư nguyện văng sanh, tâm thái mong cầu Phật lực, hoặc an trú bản nguyện lực, hay sự phát tâm bồ đề quảng đại… mà cho rằng danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật là hữu thú hướng hoặc vô thú hướng. Vì sao vậy? Bởi v́ danh hiệu ấy, chính là tịch tịnh tạng, thanh tịnh vi diệu tạng, minh triệt tạng, là trần tạng, là thức tạng, là cấu tạng…

Lại nữa, không thể chấp trước vào cách thức tŕ niệm, vào nghi tắc lễ bái cúng dường, vào sự khẩn thiết xưng tán, sám hối hoặc tâm chí tùy hỷ công đức của hành giả niệm Phật mà cho rằng danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật là hữu sở y hay vô sở y.

Vì sao vậy? Bởi v́ danh hiệu ấy chính là khả ái nhạo tạng, là ly chủng chủng trần cấu tạng, là ly uẩn tạng, là vô chướng ngại tạng, là vô tận công đức tạng… vô tận thiện căn tạng, là Niết Bàn tạng, là như huyễn tam muội vô vi tạng, là thành tựu Phật độ tạng, là quyết định vô thượng bồ đề tạng, là Phổ Hiền bất tư nghị giải thoát tạng…

Khi ngài Phổ Hiền Bồ Tát ở trước đức Như Lai mà tuyên thuyết ư nghĩa và công đức bất khả tư nghị của danh hiệu Phật rồi, đức Như Lai khen rằng: “Lành thay! Lành thay!”

Vô lượng vô biên Bồ Tát khắp mười phương chứng đắc Niệm Phật Tam Muội, và quốc mẫu Vi Đề Hy cùng những vị trưởng lăo trong đại chúng đều thân chứng Tín Giải đà ra ni. Chư Thiên, Long, Quỷ, Thần đều thâm nhập Thiện Căn đà ra ni, hớn hở vui mừng đồng chắp tay nhất tâm xưng niệm Nam Mô A Di Đà Phật.

 

Xem tiếp:

Kinh Niệm Phật Ba La Mật – Phẩm thứ nhất: Duyên Khởi

Kinh Niệm Phật Ba La Mật – Phẩm thứ hai:  Mười tâm thù thắng

Kinh Niệm Phật Ba La Mật – Phẩm thứ ba: Niệm Phật công đức

Kinh Niệm Phật Ba La Mật – Phẩm thứ tư Xưng tán danh hiệu

Kinh Niệm Phật Ba La Mật – Phẩm thứ năm Quán Thế Âm Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông

Kinh Niệm Phật Ba La Mật – Phẩm thứ sáu: Năng lực bất tư nghị của danh hiệu Phật

Kinh Niệm Phật Ba La Mật – Phẩm thứ bảy: Khuyến phát niệm Phật và đọc tụng chân ngôn

Bình Luận

avatar
  Subscribe  
Notify of