Tịnh Độ – Bạch Hạc – Phật Giáo Việt Nam https://bachhac.net Mon, 20 Apr 2020 03:37:18 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=5.6.2 Tịnh độ chỉ quyết – Thích Minh Thành https://bachhac.net/tinh-do-chi-quyet-thich-minh-thanh.html Mon, 20 Apr 2020 03:37:18 +0000 https://bachhac.net/?p=3164 THIỀN SƯ ĐẠO BÁI (1615-1702) Thiền sư Đạo Bái, người đời Thanh, họ Đinh, tự Vi Lâm, hiệu Lữ Bạc, Phi Gia Tẩu. Quê ở Kiến An (nay là huyện Kiến Âu, tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc. Năm 14 tuổi vào chùa Bạch Vân, năm sau thì xuống tóc. Một hôm, thấy vị Tăng ở …

The post Tịnh độ chỉ quyết – Thích Minh Thành appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
tịnh độ chí quyết

THIỀN SƯ ĐẠO BÁI

(1615-1702)

Thiền sư Đạo Bái, người đời Thanh, họ Đinh, tự Vi Lâm, hiệu Lữ Bạc, Phi Gia Tẩu. Quê ở Kiến An (nay là huyện Kiến Âu, tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc. Năm 14 tuổi vào chùa Bạch Vân, năm sau thì xuống tóc. Một hôm, thấy vị Tăng ở phòng bên cạnh chết, Sư tỏ ngộ đạo lý vô thường, bèn phát khởi ý chí rộng lớn, đi khắp mọi nơi học đạo.

Năm 18 tuổi, được ngài Văn Cốc dạy “niệm Phật cuối cùng sẽ thành Phật”, Sư tin sâu không nghi ngờ. Về sau, Sư theo học với Thiền sư Nguyên Hiền ở Cổ Sơn bốn năm. Sau đó, Sư đi khắp các giảng đường ở Hàng Châu trong 5 năm, am tường được yếu chỉ của các kinh Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Duy Ma, Hoa Nghiêm, kinh Viên Giác, Luận Khởi Tín, Duy Thức, và giáo lý tông Thiên Thai. Trở về đất Mân dựng am ở lại trên núi Đại Bách Trượng, độ mẹ xuất gia và cùng tu Tịnh nghiệp với mẹ trong 5 năm. Năm thứ mười niên hiệu Thuận Trị (1653), nhập thất ba năm ở am Quảng Phước tại Kiến Ninh. Tháng 10 năm thứ 14 niên hiệu Thuận Trị (1657), Thiền sư Nguyên Hiền thị tịch. Sư kế nhiệm trụ trì, mở pháp đường thuyết pháp hơn mười năm.

Tháng 4 năm thứ 23 (1684) Khang Hy, Sư hoàn thành “Hoa Nghiêm Sớ Luận Toản Yếu”–120 quyển. Năm thứ 26 Khang Hy (1687), Sư biên tập “Thiền Hải Thập Trân”–1 quyển. Năm thứ 34 Khang Hy (1769), trước tác “Pháp Hoa Kinh Văn Cú Toảûn Yếu”–7 quyển. Ngoài những tác phẩm trên, Sư còn trước tác rất nhiều bộ kinh khác, riêng về Tịnh Độ có các quyển: “Tịnh Độ Chỉ Quyết”, “Tịnh Nghiệp Thường Khóa”, “Tục Tịnh Độ Sinh–Vô Sinh Luận”, “Phát Nguyện Văn Chú”. Năm thứ 41 Khang Hy (1702), Sư thị tịch, hưởng thọ 88 tuổi.

Ngài Đạo Bái tiếp nhận sự khai thị của Thiền sư Nguyên Hiền, tỏ ngộ ý chỉ của Tổ sư từ Ấn Độ sang, chú trọng và phát huy sự tự ngộ. Ngài nói: “Phật không phải là Phật hình tướng bên ngoài, mà chính là tánh biết vốn có sẵn nơi mỗi người”. Ngài còn nói: “Ngàn kinh muôn luận đều phá trừ chấp thân và chấp tâm. Hai chấp đã được phá trừ thì tánh Phật tự hiện. Chấp thân không còn thì huyễn thân, tức là Pháp thân. Chấp tâm không còn thì huyễn tâm chính là tánh Phật”. Ngài cũng đề xướng dung thông Thiền–Giáo, Nho–Thích và nói phải từ lòng tin mà vào Phật pháp: “Tin, một là tin lời Phật; hai là tin tâm mình”.

“…Hiện nay có những người không tin lời Phật, nhưng thật ra chẳng phải là không tin lời Phật, mà chính là chẳng tin tâm mình”.

TỰA

Pháp môn phương tiện của Phật, Tổ rất nhiều, nhưng muốn tìm pháp thẳng tắt, giản dị, rộng lớn và tinh vi, thì không gì bằng pháp môn Tịnh độ. Người xưa bảo: “Trong biển sinh tử, niệm Phật bậc nhất”, thật không phải lời nói giả dối!

Trong Kinh A Di Đà, chính đức Như Lai tuyên thuyết, chư Phật sáu phương cùng chung khen ngợi. Các Kinh Luận Đại thừa cũng đều khuyến tấn nhiều lần. Đến như các bậc Tông sư: Thiên Thai, Nam Nhạc, Trường Lô, Vĩnh Minh, Từ Thọ, Trung Phong… đều cực lực tán dương pháp môn niệm Phật.

Bởi vì, pháp môn này về mặt lợi mình thì có thể thành tựu trong một đời; về mặt lợi người thì đều có thể thâu nhiếp cả ba căn cơ; còn xét đến chỗ trở về thì phù hợp với ý chỉ của Thiền tông. Bảo rằng: “Thiền là Thiền của Tịnh độ, Tịnh độ là Tịnh độ của Thiền”, thật là xác đáng!

Thời nay, Phật pháp dần suy, bậc chân tu hiếm thấy. Người tham thiền được chút ít hiểu biết liền vội luận bàn việc hướng thượng cao siêu, xem thường Tịnh hạnh. Thậm chí, họ còn xem những lời phá trừ chấp trước của Tổ sư là pháp thật. Khắp nơi đều như vậy không chịu nương về.

Người hiểu biết lấy làm lo lắng, bảo rằng: “Mọi người đã tự làm mất điều lợi ích, còn gây nên lỗi lầm phỉ báng chánh pháp. Thật đáng sợ thay!”.

Đại sư Đạo Bái ở Bảo Phước, đích thân tiếp nhận pháp ấn của ngài Nguyên Hiền. Ở nơi đạo tràng hơn hai mươi năm, tông phong được truyền bá rộng rãi, mưa pháp thấm nhuần khắp xa gần, thật là biển Thiền trong một thời!

Ngoài những khi đề xướng Thiền học, Sư cực lực tán dương Tịnh độ. Sư từng nói: “Lão tăng chí nơi tông môn, hạnh ở Tịnh độ”. Lời nói này thật sâu xa!

Ngài cùng Đại sư Thiên Thai, Vĩnh Minh đều là những bậc đã tự thân tu hành pháp niệm Phật, còn đem pháp ấy giáo hóa mọi người. Các vị này đều cùng một lối đi.

Tôi trước nay đắm chìm trong thế gian, hâm mộ cửa Phật muộn màng. Mùa xuân năm Tân Dậu, có nêu lên tám câu hỏi về Tịnh độ nhờ Sư giải bày. Mùa Thu năm ấy, lại được Sư từ xa gửi đến quyển Tịnh Độ Chỉ Quyết. Trong đó, phần nhiều khai thị niệm Phật gồm những bức thư, lời hỏi–đáp, kệ tán, dẫn rộng lời Phật, Tổ để chứng minh, tạo niềm tin vững chắc cho mọi người, lời lẽ giản dị, nghĩa lý sâu xa.

Tôi kính cẩn đọc tới đọc lui, khen ngợi sách ấy thật là thiết yếu. Những người tu Thiền và Tịnh, ngay đây nếu biết quay về nhận lấy “quê xưa cảnh cũ” của chính mình, thì gọi Thiền hay gọi Tịnh đều là lời nói dư thừa. Nếu chưa được như thế, thì quyển sách này chính là thềm bậc của Tịnh bang, cũng là chiếc gương quý của biệt truyền vậy.

PHÁT NGỮ KHAI THỊ TU TỊNH NGHIỆP CHO CƯ SĨ CUNG TÍCH VIỆN

Các Kinh thảy đều khen ngợi pháp môn niệm Phật. Trong kinh A Di Đà, chư Phật sáu phương đều hiện tướng lưỡi rộng dài che khắp ba ngàn thế giới nói lên lời thành thật. Đó chính vì sợ chúng sinh không tin nổi, nên các Ngài mới làm như thế để bảo chứng cho lời nói đó không giả dối, và làm cho chúng sinh phát sinh lòng tin chắc chắn, bởi vì đây là pháp sâu rộng khó tin.

Kinh A Di Đà có nói: “Không thể dùng chút ít nhân duyên phước đức căn lành, mà được vãng sinh Tịnh độ”.

Pháp khó tin mà tin được thì biết người đó có nhiều nhân duyên, nhiều phước đức và nhiều căn lành.

Chỉ trong một môn niệm Phật mà bao gồm đầy đủ vô lượng pháp môn. Bởi vì Phật có ba thân, cõi có bốn loại. Người tu Tịnh nghiệp tùy theo sức mình mà tu hành:

 Hoặc niệm Phật Pháp Thân, nguyện sinh về cõi Thường Tịch Quang.

 Hoặc niệm Phật Báo Thân, nguyện sinh về cõi Thật báo Trang nghiêm.

 Hoặc niệm Phật Hóa Thân, nguyện sinh về hai cõi Phương Tiện Hữu Dư và Phàm Thánh Đồng Cư.

Tuy nói Phật có ba thân nhưng thật sự chỉ là một thân, nói có bốn cõi nhưng vốn chỉ là một cõi, vì đều lấy Pháp giới làm thể. Thế nên, hàng căn cơ viên đốn chỉ từ nơi một mà xuyên suốt tất cả. Như Đồng Tử Thiện Tài, ở núi Diệu Phong tham kiến vị thiện tri thức đầu tiên là Tỳ kheo Đức Vân được pháp Niệm Phật Tam Muội của ngài Phổ Hiền, đây chính là hạng người ấy.
 Niệm Phật Hóa Thân thì có Hòa thượng Đại Hạnh ở Cao Tề rất tôn sùng và chuyên tu trì theo pháp môn niệm Phật này. Ngài nói: “Tứ tự giáo chiếu”. Nghĩa là nơi tâm thường luôn “tin nhớ”, nơi miệng thường luôn “xưng kính”.

Bảo rằng vãng sinh Tịnh độ cần phải có lòng tin, ngàn người tin ngàn người được vãng sinh; muôn người tin, muôn người về Tịnh độ.

Tâm luôn tin, miệng thường niệm danh hiệu Phật, thì chư Phật liền cứu, chư Phật liền độ. Tâm thường nhớ Phật, miệng thường niệm Phật, thân thường kính Phật, như thế mới gọi tin sâu. Dù cho sớm hay muộn, nhưng sau cùng cũng không còn lý do gì ở lại Ta bà nữa. Đây chính là đứng về mặt Niệm Phật Hóa Thân, vãng sinh nơi cõi Phương Tiện và Đồng Cư. Vì vậy, nhắc nhở người mới phát tâm nên xem trọng và siêng năng thực hành.

 Niệm Phật Báo Thân thì sáu mươi vạn ức Na do tha hằng hà sa do tuần đều là thân của Phật. Vô lượng vô biên bất khả tư nghì A tăng kỳ kiếp là thọ mạng của Phật. Nước bốn biển trong ngần mắt biếc, năm Tu Di uyển chuyển bạch hào, ánh sáng không có bờ mé, quyến thuộc nhiều vô số. Người hầu cận bên trái là Bồ tát Quán Âm, bên phải là Bồ tát Thế Chí, vừa xưng danh hiệu thì diệt trừ được tội nặng của sự sinh–tử trong tám mươi ức kiếp, thoáng nhìn Thánh tượng liền được tám vạn bốn ngàn tướng hảo.

Ôi! Đã bảo rằng thân Phật to lớn sáu mươi vạn ức Na do tha hằng hà sa do tuần thì Ta bà cách Cực lạc chẳng qua chỉ mười muôn ức cõi. Nếu vậy thì ba đường đen tối, sáu nẻo luân hồi, tất cả chúng sinh trong thế giới Ta bà đều ở trong tâm của Phật A Di Đà, luôn luôn nuôi ta lớn, luôn luôn thâu nhận ta, luôn luôn phóng quang minh soi sáng ta. Không biết tại sao chúng sinh chẳng hay, chẳng tin, chẳng thấy?

Nếu người thiện nam có phước đức căn lành, thấy biết như thế, tin tưởng hướng về, phát nguyện rộng lớn, nguyện vãng sinh cõi nước ấy thì toàn thể dung thông, vừa khởi niệm liền đến ngay. Như vậy nào có xa xôi gì? Nếu có thể Niệm Phật Báo Thân được như thế, chắùc chắc sinh về cõi Thật Báo Trang Nghiêm.

Niệm Phật Pháp Thân, trong Luận Đại Thừa Khởi Tín nói:

“Như trong Kinh nói nếu người chuyên niệm Phật A Di Đà ở thế giới Cực lạc Tây phương; tu mọi căn lành để hồi hướng nguyện vãng sinh về thế giới ấy, thì chắc chắn được vãng sinh, vì thường thấy Phật nên rốt cuộc không thối chuyển. Nếu quán xét về Pháp thân Chân như của đức Phật ấy và thường siêng năng tu tập, thì nhất định được vãng sinh, trụ nơi chánh định”.

Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói:

“Phật A Di Đà là Thân Pháp Giới vào khắp trong tâm tưởng của tất cả chúng sinh. Thế nên, khi tâm các ông tưởng Phật, tâm ấy tức là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Tâm này làm Phật, tâm này là Phật”.

Trời đất đồng cội gốc, muôn vật cùng một thể. Pháp thân của chư Phật là chân tâm bản giác của chúng sinh. Chư Phật không có chứng ngộ chi khác, chỉ là chứng ngộ chân tâm của chúng sinh.

Tâm, Phật và chúng sinh cả ba không khác biệt. Bảo rằng “tâm này làm Phật” là nói rõ do tâm biến hiện, từ nơi bản tánh mà tu hành. Bảo rằng “tâm này là Phật”, nghĩa là ngoài tâm không có Phật, ngoài Phật không có tâm.
Pháp quán này không chỉ quán xét bản tánh, mà chính là nương vào quả Phật để hiển bày nơi bản tánh. Bởi vì đồng thể nên trước nói rõ Hóa Phật ở nơi tâm tưởng của ta, tiếp theo trình bày Pháp thân Như Lai chính là tâm thể bản giác của hành giả, không hai không khác.

Kinh Đại Phẩm Bát Nhã còn nói:

“Tánh như của các pháp tức là Phật”.

Kinh Kim Cang nói:

“Như Lai nghĩa là tánh như của các pháp”.

Đã biết “NHƯ” là Phật, mà tất cả pháp đều “NHƯ”, thì pháp gì chẳng phải Phật. Cho nên vô minh, vọng tưởng điên đảo phan duyên của chúng sinh; cho đến non sông quả đất, cây cối rừng rậm, trâu ngựa heo dê, côn trùng vi tế đều là Pháp thân chân thật thanh tịnh của Phật A Di Đà. Hành giả nếu có thể Niệm Phật Pháp Thân như thế, thì trụ ở nơi chánh định, chắc chắn được sinh về cõi Thường Tịch Quang.

Kinh Duy Ma Cật nói:

“Muốn được cõi nước thanh tịnh, nên làm thanh tịnh tâm mình. Tâm mình thanh tịnh thì cõi Phật thanh tịnh”.

Nhưng phương pháp tịnh tâm thì không có thuật nào khác, chỉ có thâu nhiếp sáu căn, chuyên tâm niệm Phật là điều thiết thực nhất.

Thế nên, bậc cao đức ngày xưa nói:

“Thanh châu gieo vào nước đục, nước đục không thể không trong. Danh hiệu Phật gieo vào tâm loạn, tâm loạn tất nhiên an định”.

Tiên Sư nói:

“Tâm tịnh cõi Phật tịnh
Lý này chẳng đổi dời
Tơ sen nếu chưa đứt.
Lôi kéo voi lớn đi”.

(Tâm thanh tịnh thì cõi Phật thanh tịnh, lý này muôn vạn lần khó đổi dời. Nếu còn nghi ngờ sẽ chướng ngại sự tiến tu, cũng như sợi tơ sen nhỏ bé, nhưng có thể lôi kéo được voi lớn đi).

Đây đều là những lời chân thật.

Thân do cha mẹ sinh ra, tâm từ bóng duyên nơi sáu trần. Cả hai đều phải chịu sự sinh–trụ–dị–diệt, dời đổi trong từng niệm, biến hoại ở mỗi sát na, không thể nào nương tựa được lâu. Thế nên, tự mình cần nhìn thấu rõ thân–tâm hiện giờ.

Bát Nhã Tâm Kinh nói:

“Quán chiếu thấy năm uẩn đều rỗng không, vượt qua tất cả khổ đau”.

Bài kệ của Phật Câu Lưu Tôn nói:
“Thấy thân không thật là thân thật
Rõ tâm như huyễn là tâm thật
Rõ được thân–tâm vốn tánh không
Người này với Phật nào khác biệt”.

Hành giả tu Tịnh nghiệp, nên quán chiếu như thế, hiểu rõ như thế, quán xét thật tướng của thân–tâm như thế, quán xét Phật cũng như thế. Bởi vì chúng sinh và Phật đều cùng một thể không hai, không khác.

Một bộ Kinh Hoa Nghiêm là lời nói đầu tiên trong năm thời của Như Lai, là lời bàn tột cùng xứng với tự tánh thênh thang bao dung rộng lớn và đầy đủ, mà sau cùng thâu về mười đại nguyện vương của ngài Phổ Hiền, dẫn về Cực lạc. Thế nên biết, Cực lạc là lối tắt dạo biển thế giới trang nghiêm Hoa Tạng, là ngôi nhà an ổn để các bậc Tam hiền Thập thánh, chư đại Bồ tát nghỉ ngơi. Phật tử chân chánh phải nên gắng sức tu hành không nên hứa hẹn lần hồi.

Hợp Luận của Lý trưởng giả thường lấy sự Quyền và Thật của Tịnh độ để so sánh lẫn nhau, là bởi vì muốn dựa vào Lý mà nói để hiển bày Tam thừa, chỉ rõ Tịnh độ ở phương khác là phương tiện quyền biến, còn Tịnh độ duy tâm của giáo lý Nhất thừa trong kinh Hoa Nghiêm là chân thật.

Nhưng nếu chẳng có chân thật thì không thể lập bày quyền biến, chẳng có quyền biến thì không thể hiển bày chân thật. Quyền biến và chân thật đều để chỉ bày Tịnh độ Hoa Nghiêm, còn Đông–Tây–Nam–Bắc, nhơ–sạch, lớn–nhỏ, mỗi sự mỗi vật đều là pháp giới vô tận luôn chứa đựng và dung thông lẫn nhau. Dùng Thập Huyền Lục Tướng dung thông mới vào được tận cùng đạo lý. Người đọc nên khéo được ý, đừng vướng mắc vào nơi ngôn ngữ.

ĐÁP TÁM CÂU HỎI TỊNH ĐỘ CỦA CƯ SĨ CUNG TÍCH VIỆN

Hỏi: Vào đạo có nhiều môn, Thiền tông, Tịnh độ đường lối tuy khác, nhưng chỗ về vẫn là một, vốn không phân biệt hơn–kém.

Tuy nhiên, tham thiền lấy tỏ ngộ làm chính yếu, một khi công phu đến mức thì đời này liền được liễu ngộ; tu Tịnh độ lấy vãng sinh làm tiêu chuẩn, trì niệm tuy chuyên nhưng đến lâm chung mới được vãng sinh. Như thế thì cũng có trước sau, mau chậm khác nhau chăng?

Nói về việc tham cứu câu “niệm Phật là ai?”, cùng với việc khán thoại đầu “thế nào là bản tánh Di Đà?”, đây vẫn là công phu tham cứu. Những kẻ căn cơ thấp kém chưa thể làm được.

Nếu chỉ đơn giản trì một câu Phật hiệu mà muốn lúc sống có được lợi ích ngộ đạo, khi chết có được niềm vui vãng sinh. Xin Sư chỉ dạy rõ, tại sao lại được may mắn như thế?

Đáp: Tham thiền, niệm Phật vốn không phải hai pháp, nên tùy theo căn cơ của mình để thực hành sâu một môn. Các pháp ấy chỉ là phương tiện để dẫn dắt chúng sinh của Phật, Tổ, là lối tắtù để vào đạo mà thôi. Còn như nói về sự mau – chậm, trước – sau, cũng chỉ tùy theo căn cơ ban đầu của mỗi người, thật sự không có pháp nào cố định.

Về pháp tham thiền, có người từ một gậy, một tiếng hét, một lời nói, một cơ dụng liền đốn ngộ. Cũng có người suốt đời chẳng ngộ, hai hoặc ba đời mới được tỏ ngộ, cho nên bậc cao đức ngày xưa dạy người, nói rằng: “Giả sử tham cứu chưa thấu triệt, học chưa thành, nhưng một khi đã lọt vào tai thì mãi mãi thành hạt giống đạo, đời sau trở lại một khi nghe liền thấu suốt, được Đại tổng trì”.

Còn niệm Phật vãng sinh, tuy là việc của thân sau, nhưng người được khai ngộ ở hiện đời cũng không ít. Điều này có thể thấy rõ trong sử sách.

Chương Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông trong kinh Thủ Lăng Nghiêm nói: “Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tại, tương lai nhất định thấy Phật”. Nay, không luận đời này ngộ hay không ngộ, trong hai mươi bốn giờ chỉ một lòng niệm Phật, đừng để lãng quên dù trong giây phút. Nếu quên liền phải nhớ, rồi khởi sức mạnh đại nguyện thì chắc chắn được vãng sinh. Thiền sư Vĩnh minh nói: “Chỉ được thấy Di Đà, lo gì chẳng khai ngộ”. Lời này chính là để răn nhắc những người hay lo lắng niệm Phật chẳng được khai ngộ.

*
Hỏi: Người chấp trì danh hiệu Phật mà còn đọc tụng kinh điển Đại thừa, pháp này vốn thật rất ổn thỏa. Nếu người ở trong trần lao, tuổi già mới biết học đạo, lại bận việc nhà, tiếp đãi khách khứa, đủ mọi công việc không có nhiều thời giờ. Trong một ngày, nếu chỉ đọc tụng kinh điển thì giống như “vào biển đếm cát”, sẽ không thể chuyên tâm trì niệm danh hiệu Phật. Còn nếu chỉ chuyên tâm trì niệm thì ngại rằng chỗ thấy không được chân chính, khó mà thấu suốt. Vậy nên niệm–tụng song tu, hay chỉ trì danh hiệu Phật để khỏi bỏ sót pháp đơn giản nhưng quan trọng này. Cúi mong Ngài dạy rõ?
Đáp: Người tu Tịnh nghiệp đọc tụng Kinh điển Đại thừa, chính vì để thấu rõ Lý Tánh, vững chắc lòng tin chân chánh, sao lại nói “vào biển đếm cát?”. Nếu nói như thế là còn vướng mắc trong từ ngữ, chẳng thấu rõ tâm Phật, chẳng khéo đọc Kinh. Không nên chấp vào một bên, mà phải tùy theo sự tiện lợi của mình mà thực hành. Nếu thích đọc tụng thì bớt một ít thời giờ để đọc tụng, đem công đức hồi hướng Tây phương, còn nếu thích chuyên tâm niệm Phật thì cứ chuyên tâm niệm Phật. Mục đích chỉ làm cho chánh niệm liên tục là được, không nên do dự.
*
Hỏi: Bậc cao đức ngày xưa dạy người niệm Phật, cần phải: “Niệm mà vô niệm, vô niệm mà niệm. Niệm và vô niệm nhồi thành một khối, đó mới là công phu cao tột”. Hiện nay, người mới học trong lúc rảnh rang có thể trì niệm chẳng quên, nhưng khi gặp việc tiếp duyên bỗng nhiên quên mất. Lúc niệm thì có, khi chẳng niệm thì không. Như thế đã chia làm hai, sao có thể nhồi thành một khối? Nay muốn làm cho lúc rảnh rang, tâm tỉnh giác sáng tỏ không mờ, khi gặp việc tiếp duyên luôn giữ được câu niệm Phật, thì bằng phương pháp nào mới phù hợp?

Đáp: Niệm Phật có hai mặt: niệm về Lý, có niệm về Sự.

Nếu niệm Phật về Sự, thì chỉ nhất tâm niệm, quan trọng là niệm làm sao cho mỗi chữ rõ ràng, từng câu được nối nhau liên tục. Nếu mỗi chữ chẳng rõ ràng tức là bị hôn trầm, từng câu chẳng liên tục tức là tán loạn. Không hôn trầm, không tán loạn, một câu Phật hiệu rõ ràng hiện tiền, lâu dần tự nhiên thành tựu Niệm Phật Tam Muội.

Niệm về mặt Lý, là thấu suốt được tâm hay niệm và Phật được niệm hiện giờ do nhân duyên hợp thành, vốn không có gì, ngay nơi bản thể là tánh không. Như thế là niệm mà vô niệm.

Tuy tánh không mà tâm hay niệm và Phật được niệm luôn rõ ràng ở trước mắt, như thế chính là vô niệm mà niệm.

Tuy nhiên, niệm mà vô niệm là pháp Quán Không. Vô niệm mà niệm là pháp Quán Giả. Không và Giả chẳng hai, thì Pháp thân hiện giờ chính là pháp Quán trung đạo. Nếu có thể hành trì tương ưng với quán hạnh này, thì biết rõ Ta bà và Tịnh độ chỉ ở một nơi, Di Đà và bản thân mình vốn chẳng phải hai người khác biệt.

Niệm Phật như thế, chắc chắn vãng sinh lên thượng phẩm nơi Tịnh độ. Đó gọi là:

“Sinh thì quyết định sinh,
Đi thì thật không đi”.

Nếu chưa rõ lý tánh, thì đều chấp chặt vào mặt “có niệm”, mà không biết đạo lý “niệm mà vô niệm, vô niệm mà niệm”. Lý đã chưa tỏ, mà muốn cầu tương ưng, thật là khó khăn.

Nay chẳng luận là Sự hay là Lý, chỉ cần chuyên tâm trì niệm một câu danh hiệu Phật.

Bạch Hương Sơn nói:

“Đi cũng A Di Đà, ngồi cũng A Di Đà, cho dù bận rộn đến đâu cũng chẳng rời câu A Di Đà Phật. Lâu dần thuần thục, thành tựu chánh định. Tự nhiên rỗng rang thì tỉnh giác tỏ sáng không mờ, nên khi tiếp duyên xúc cảnh cũng không quên chánh niệm”.
*
Hỏi: Trì giới là nền tảng của sự tu hành; không sát sinh là căn bản của đại giới. Vả lại: “Nhân giới mà sinh định, nhân định mà phát tuệ”, thì Giới là đứng đầu. Nhưng người tại gia nhiễm sâu nghiệp nặng, tập khí nhiều đời khó đổi dời. Hơn nữa, từ trung niên trở về sau thân thể yếu đuối nhiều bệnh, khổ nỗi chưa dứt được việc ăn mặn, lẽ nào còn nghiệp mà được vãng sinh?

Chư Phật từ bi chẳng ngại mở ra một con đường Tịnh độ, nhưng vẫn còn tâm qua–lại, lấy–bỏ, nên khó thoát khỏi ba đường, nhân–quả trả vay đâu thể lên ngôi thượng phẩm. Như thế làm sao thoát ra được?

Đáp: Không thể trì trai giữ giới là bệnh chung của người giàu sang. Thuở xưa, Liêm Sứ ở Hồng Châu hỏi Ngài Mã Tổ về việc ăn thịt, Tổ đáp rằng:

“Ăn thịt là lộc của ông
Không ăn thịt là phước của ông”.

Không ăn thịt đã là phước, thì ăn thịt ắt mắc tội. Điều ấy quá rõ ràng.

Tô Đông Pha thông minh cái thế, thấu suốt giáo lý nhà Phật, nhưng vẫn không tránh khỏi ăn thịt chúng sinh. Hoàng Sơn Cốc suốt đời trai giới trong sạch, làm văn phát nguyện, tự khích lệ thống thiết, từng làm kệ răn nhắc Tô Đông Pha:

“Thịt ta, thịt chúng sinh

Hình khác, thể không khác

Vốn đồng một chủng tánh

Chỉ cách biệt dáng hình

Khổ đau chúng phải chịu

Vì ta cần béo ngọt

Chớ bảo Diêm Vương phán

Tự xét xem thế nào?”.

Bài kệ này dạy người rất xác đáng, vì vậy hành giả tu Tịnh nghiệp cần phải suy xét cẩn thận: “Ta ăn một miếng thịt, chúng sinh chịu khổ vô cùng, do nghĩ về nỗi khổ của chúng sinh, nên ta không ăn thịt”.

Tuy thế, việc “còn nghiệp mà được vãng sinh”, trong giáo lý có nói rõ ràng, chỉ là phẩm sen không cao mà thôi. Bậc đại trượng phu nên nhắm thẳng đến thượng phẩm, sao lại tự thu mình vào chỗ mang nghiệp vãng sinh?
*
Hỏi: Từ khi tu Tịnh độ đến nay vẫn hiểu thế giới là giả dối, thân thể là huyễn hóa, nên cũng có tỉnh giác đôi phần. Nhưng lại lo lắng bất chợt nương theo giả dối mà sinh khởi vọng tâm. Hoặc trong hoàn cảnh nghèo khó tuy hiểu là huyễn hóa, nhưng vẫn thường phát sinh vọng tưởng. Có thể hiểu mà không thể chứng đạt, nói được nhưng không làm được.

Như vậy, chẳng những khó thành tựu được Tịnh đức này, mà còn dễ làm tăng trưởng tâm nhiễm kia. Nay muốn tâm nhiễm không tăng trưởng, đồng thời thành tựu trọn vẹn được điều khó thành tựu kia, thì phải tu pháp gì mới có thể đạt được mục đích?

Đáp: Chướng có dày–mỏng, ngộ có cạn–sâu. Còn chỗ không tương ưng vì bởi cái thấy chưa thấu triệt, thực hành chưa thuần thục, chạm cảnh gặp duyên vẫn còn dao động. Đó là bệnh chung của người mới tu hành. Chỉ có người trí thì ở ngay chỗ không tương ưng đó, thường xuyên nỗ lực luyện tập khắc khổ, chân thật nhìn thấu rõ, một niệm soi sáng trở lại, ngay đó điều phục an lạc. Lâu dần tự nhiên tập thành tánh, chẳng cần phí sức.
*
Hỏi: Khi niệm Phật, tâm này tuy chưa đạt đến chỗ không loạn, nhưng cũng không đến nỗi lãng quên hoàn toàn. Chỉ về đêm, lúc ngủ nằm mộng còn cảm thấy tập khí từ trước hiện ra đủ thứ, là điều thuần thục khó quên. Nghiệp lực huân tập nhiều đời chẳng phải trong sớm chiều có thể thắng được. Trong chiêm bao còn khó làm chủ, thì đối với việc sinh–tử đâu tránh khỏi nổi chìm.

Nay muốn học theo người xưa ngồi mãi không nằm, nhưng sức lực yếu đuối, có ý nguyện học theo lại chưa được. Con người bình thường thì đêm ngủ, ngày ăn, phân chia thành khi mê–lúc tỉnh, rất khó giữ gìn lúc nào cũng như một. Nay phải dùng phương pháp gì để khiến cho thức–ngủ như một, ông chủ tỉnh giác luôn có mặt?

Đáp: Hành giả tu Tịnh nghiệp, ngay lúc ban ngày đối với cảnh phải–quấy, thương–ghét hỗn tạp, thường thường bị mất chánh niệm, theo cảnh trôi nổi, huống gì trong lúc chiêm bao!

Nói chung, đều do tình Ta bà nặng, niệm Tịnh độ nhẹ. Nếu đem tâm đó ra cân lường, sẽ thấy một bên cao, một bên thấp. Nay chỉ chân thật nhìn thấu rõ mọi việc ở thế giới Ta bà đều là đau khổ, giả dối, không có việc gì chân thật đáng lưu luyến, buông bỏ muôn duyên, dốc hết lòng niệm Phật.

Ban ngày, lúc mở mắt nếu không mất chánh niệm, thì ban đêm khi chiêm bao tự nhiên chánh niệm cũng không mất. Trong chiêm bao đã không mất chánh niệm, thì lúc chết chánh niệm ở ngay trước mắt. Đại Sư Trí Giả ở Thiên Thai nói: “Lúc lâm chung tâm ở nơi định, tức là lúc vãng sinh Tịnh độ”.

Cảnh thức, ngủ như một, giống với chỗ này.

*
Hỏi: Người xưa khi chưa rõ việc lớn, rất quý việc gần gũi bậc minh sư, sớm chiều thưa thỉnh để mong cầu thấu triệt.

Thế nên, mới có việc Ngài Đặng Ẩn Phong “ba lần lên, chín lần đến” hỏi đạo với Thiền sư Thạch Đầu. Ngày xưa có tương truyền, thấy tánh như ngài Triệu Châu, mà lúc tuổi đã tám mươi rồi còn phải hành cước khắp nơi tham vấn các bậc thiện tri thức.

Nay người tu Tịnh độ, tuy chỉ trì niệm danh hiệu của một đức Phật, nhưng cũng mong thấu rõ được tâm tánh mình, thì cũng giống nhau cả thôi. Thời gian và nơi chốn của người tại gia luôn bị giới hạn, không được như người xuất gia có thể đi ngàn dặm để học đạo. Dù có tạm thời gần gũi bậc Đạo sư, cũng không được như người xuất gia thoát tục. Sáng–chiều phải đối diện với vợ con, quyến thuộc, mắt thấy–tai nghe đều là việc chướng đạo nghiệp lụy. Nhất quyết muốn cắt đứt dứt hẳn để thân cận với bậc thiện tri thức, thì phải xuất gia rời thế tục, nhưng nếu còn ở trong nhà cũng cần phải tự mình có phương tiện khéo léo. Nay rất muốn được nghe chỉ dạy về việc này!

Đáp: Hành giả tu Thiền hay tu Tịnh, chẳng luận tại gia hay xuất gia, hãy xem nguyên nhân phát tâm có chân thật hay không.

Nếu như phát tâm chân thật, thì tuy ở nhà đoàn tụ với vợ con, quyến thuộc, nhưng trí tuệ vẫn sáng suốt không bị trở ngại. Xưa nay mắt thấy–tai nghe những người tại gia đắc đạo rất nhiều, rõ ràng có thể khảo sát, đâu cần thiết mọi người đều phải xuất gia tham vấn, sau đó mới có thể học đạo?
Thế nên, phẩm Tịnh Hạnh trong Kinh Hoa Nghiêm bảo: “Hành giả phải khéo dụng tâm, chạm cảnh gặp duyên thường phát một trăm bốn mươi nguyện”. Nguyện thứ nhất nói rằng:

“Bồ tát tại gia
Nên nguyện chúng sinh.
Biết nhà tánh không
Khỏi sự bức bách”.

Nếu quả thật biết rõ bản chất của gia đình vốn rỗng không, thì tất cả tùy duyên, chẳng sinh tâm tham luyến vướng mắc. Khi bồng con, đùa cháu, vui cười, mắng giận đều đủ để khai phát bản tánh, hỗ trợ cái nhìn chân chính. Như thế, đâu cần phân biệt tại gia hay xuất gia!

Còn nếu là người phát tâm không chân thật, thì không chỉ tại gia chẳng đắc đạo, mà ngay cả xuất gia cũng chỉ là “ông Tăng vì cơm áo” mà thôi.

*
Hỏi: Người xưa tham thiền, có vị tu hai, ba mươi năm giữ một câu thoại đầu mà còn chưa thấu triệt. Ngay cả như ngài Triệu Châu còn phải không để tâm xen tạp suốt bốn mươi năm. Thiền sư Hương Lâm hành trì trong bốn mươi năm mà con trâu còn rong chạy, huống gì người khác.

Nay niệm một câu Phật hiệu và tham một câu thoại đầu chỉ là một, nhưng tuổi đã quá năm mươi, sắc thân mỗi ngày suy yếu bởi già bệnh nên càng thêm lụm cụm, rất muốn một đời xong xuôi, nên e rằng từ đây trở về sau, chưa chắc đã có hai, ba mươi năm để công phu đạt đến cảnh giới An Dưỡng.

Cảnh giới An Dưỡng chẳng phải việc dễ dàng, đâu thể chỉ trì niệm qua loa đạt đến được. Vậy phải thực hành thế nào mới toại nguyện? Cúi mong Sư chỉ rõ để nhắc nhở tiến thêm!

Đáp: Tham thoại đầu chính là công phu vào cửa của người mới tu. Còn như ngài Triệu Châu bốn chục năm không dụng tâm xen tạp; Thiền sư Hương Lâm bốn chục năm mà con trâu còn rong chạy, chính là con đường diệu huyền thực hành sau khi ngộ.

Bảo rằng học Phật, học Pháp là dụng tâm xen tạp; rơi vào tình phàm, kiến giải Thánh đều là rong chạy. Như thế đâu thể xét chung với việc khán thoại đầu được!

Thế Tôn ở ngoài pháp môn Tam thừa, mở riêng một môn Tịnh độ, gọi là “phương tiện thù thắng”, là “lối tắt tu hành”, hay còn gọi là “ra khỏi ba cõi theo chiều ngang”. Thiền sư Vĩnh Minh gọi là: “Muôn người tu, muôn người vãng sinh”.

Bởi vì, dựa vào sức mạnh của lòng tin, sự thực hành và tâm phát nguyện của chính mình, lại có thêm sức mạnh từ bi gia hộï của Phật A Di Đà, Bồ tát Quán Âm và Thế Chí cùng chư Đại Thánh chúng, ví như xuôi buồm thuận gió tiến thẳng đến bờ kia, có gì gian nan hiểm trở. Thế nên, người tạo mười điều ác, chỉ trong mười niệm còn được vãng sinh. Chim Oanh Vũ theo vị Tăng niệm Phật còn được thoát kiếp chim lồng, hoa sen mọc lên từ lưỡi. huống gì bậc nam tử đầy đủ niềm tin chân chánh và phước tuệ, nhất tâm niệm Phật mà không được vãng sinh hay sao?

Cần gì lo lắng phải công phu hai, ba mươi năm sau đó mới được thành tựu. Chỉ e lòng tin không vững chắc, niệm Ta bà sâu nặng, còn tâm Tịnh độ thì cạn mỏng, nên chẳng được tương ưng. Như thế chính là chỉ ở nơi mình tự cố gắng hết lòng mà thôi.

Ngày xưa, có vị quan tên Ngô Tử Tài ở nhà chuyên tu Tịnh độ, tự đặt một chiếc quan tài trong nhà và thường nằm trong đó. Ông sai đồng tử mỗi sáng gõ vào quan tài gọi dậy, ca lên rằng:

Ngô Tử Tài!
Về đi thôi
Ba cõi không an, chớ nên ở.
Tây phương Tịnh độ có Liên Đài!

Đó chính là lo lắng thói quen xấu ác ràng buộc, nên phải tự mình đối trị như thế. Vậy mới mong được dễ dàng thành tựu Niệm Phật Tam Muội.

DẠY THIỀN NHÂN ĐỨC CHƯƠNG

Thượng tọa Đức Chương trở về Duy Dương, ở vườn Cực lạc, buông bỏ mọi việc để tiến tu Tịnh nghiệp. Lại không ngại mấy ngàn dặm xa xôi gửi thư đến, hỏi về pháp tu Tịnh độ.

Tôi bảo: “Người tu Tịnh nghiệp trước phải nhìn thấu mọi thứ tệ ác trong cõi Ta bà đều là đau khổ, chẳng sinh tâm tham luyến.

Sau đó chuyên tâm hướng về Tịnh độ, mỗi ngày đọc tụng kinh điển Đại thừa, dốc lòng niệm Phật, phát nguyện hồi hướng. Năm tháng tích lũy lâu dài, tự nhiên thành tựu Niệm Phật Tam Muội. Đó gọi là: “Muôn người tu, muôn người vãng sinh”.

Tuy niệm Phật có đủ vô lượng pháp môn, nhưng chỉ có pháp Trì Danh Niệm Phật là thẳng tắt nhất. Kinh A Di Đà nói: “Chấp trì danh hiệu hoặc một ngày, hai ngày cho đến bảy ngày nhất tâm không loạn. Người ấy lúc sắp mạng chung, Phật A Di Đà cùng chư Thánh chúng hiện ra trước mắt. Người ấy lâm chung, tâm không điên đảo liền được vãng sinh cõi nước Cực lạc”, chính là nói điều này. “Nhất tâm không loạn” là nói pháp niệm Phật cần phải không mau không chậm, quan trọng là niệm cho mỗi chữ mỗi chữ rõ ràng, mỗi câu mỗi câu liên tục. Bởi vì không liên tục, thì ý niệm duyên theo ngoại cảnh, như thế không phải là nhất tâm. Không rõ ràng thì tâm liền mờ tối, rối loạn. Rời hai bệnh này, chính là khéo biết niệm Phật.

Nay bất luận là Sự hay Lý, chỉ đem một câu A Di Đà Phật hết lòng trì niệm, lòng tin chân thật tha thiết thì tự nhiên được tương ưng.

Chư Phật trong sáu phương đều hiện tướng lưỡi rộng dài che khắp ba ngàn thế giới, nói lời thành thật, chính vì sợ chúng sinh không tin nổi. Kinh Hoa Nghiêm quy hướng về mười đại nguyện vương của Bồ tát Phổ Hiền dẫn về Cực lạc. Vì thế, ông nên luôn luôn nghiền ngẫm kỹ để bồi đắp lòng tin chân chánh, không thể xem thường!

THƯỢNG TỌA VIÊN HẠNH Ở ÔN LĂNG THỈNH KHAI THỊ VỀ TỊNH ĐỘ

Sư bảo:

Hôm nay, do Thượng tọa Viên Hạnh ở am Bách Nguyên hướng dẫn các đạo hữu trong Liên Xã thiết lập trai đàn, mời Sơn tăng lên tòa khai thị pháp môn Tịnh độ. Sơn tăng tuy chủ trì tông môn, nhưng thật ra tu trì Tịnh nghiệp trọn vẹn.

Khổng Tử nói:

“Chí của ta ở nơi Xuân Thu, mà hạnh thì ở nơi Hiếu Kinh”.
Sơn tăng cũng trộm bảo:
“Chí của tôi ở Thiền tông, mà hạnh nơi Tịnh độ”.

Cho nên hôm nay, không quản ngại nhọc nhằn ở trước đại chúng, nhận lấy một phen bại trận, mặc cho người sáng mắt kiểm điểm. Đại chúng có biết hay chăng?

Tịnh độ của Phật A Di Đà, chư Phật trong mười phương đều cùng nhau khen ngợi. Các Tổ sư bao đời khác miệng chung lời, nói rằng: “Đây là con đường thẳng tắt về nhà rất an ổn”.

Không luận Tăng–tục, sang–hèn, nam–nữ, chỉ cần dốc hết tâm sức niệm Phật, thì nhất định được vãng sinh; vừa thấy Phật Di Đà liền vĩnh viễn bước lên hàng Bất thối chuyển, luôn luôn được nghe pháp, mỗi niệm mỗi niệm tiến đến Phật quả. Công đức lợi ích ấy thật chẳng thể nghĩ bàn!

Song, những người tham thiền gần đây không rõ ý chỉ, thường chấp Di Đà là tự tánh, Tịnh độ ở nơi tâm, không tin pháp môn Tịnh độ, thậm chí còn truyền rộng tà thuyết này hủy hoại lòng tin của mọi người. Những kẻ ấy không chỉ tự mình sai lầm mà còn làm cho người khác sai lầm theo.

Thế nên đương thời, Thiền sư Diên Thọ ở chùa Vĩnh Minh, từng răn dạy sâu sắc những người không chứng ngộ chớ nên xem thường Tịnh độ. Ngài còn làm Tứ Liệu Giản, bảo rằng:

1. Có Thiền, không Tịnh độ
Mười người, chín lạc lối
Lúc Ấm cảnh hiện ra
Liền theo đó mà đi.

Nghĩa là người chỉ thấu rõ lý Tánh, không phát nguyện vãng sinh. Ở lâu dài nơi Ta bà, thì có nỗi lo về Ấm cảnh, như năm mươi loại Ấm ma trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, chính là nói điều này.

2. Không Thiền, có Tịnh độ
Muôn tu, muôn vãng sinh
Chỉ được thấy Di Đà
Lo gì chẳng khai ngộ.

Nghĩa là người tuy chưa thấu rõ lý tánh, chỉ cần một lòng niệm Phật và phát nguyện vãng sinh, khi đã gặp Phật A Di Đà thì tự nhiên khai ngộ.

3. Có Thiền, có Tịnh độ
Như cọp mọc thêm sừng
Đời nay làm thầy người
Đời sau làm Phật Tổ.

Nghĩa là thấu rõ lý tánh lại tu Tịnh nghiệp, đây chính là nhân quả thù thắng vi diệu, lợi mình–lợi người đời đời kiếp kiếp.

4. Không Thiền, không Tịnh độ
Giường sắt với cột đồng
Trải muôn kiếp ngàn đời
Chẳng một ai nương tựa.

Nghĩa là đã không thấu rõ lý tánh, lại chẳng nguyện vãng sinh, mãi đắm chìm trong biển khổ, biết ngày nào ra khỏi.

Thiền sư Diên Thọ hết lời khuyên răn dạy bảo tới lui như thế, có thể thấy rằng: “Phật không thể không niệm, Tịnh độ không thể không vãng sinh”. Điều đó quá rõ ràng. Lẽ nào lại chấp suông vào sự hiểu biết cuồng dại, rồi tự để lại lo lắng cho mình về sau?

Trong đại chúng tương đối cũng có người tin tưởng hướng về, nhưng chẳng qua chỉ thả trôi qua ngày, miệng tuy nói về Tịnh độ nhưng tâm ràng buộc chốn Ta bà. Cho nên, người niệm Phật thì nhiều như lông trâu, mà người vãng sinh lại ít như sừng lân. Không phải bảo rằng hoàn toàn không có, nhưng rất là hiếm. Do đó, Sơn tăng thường khuyên đệ tử tu Tịnh nghiệp, phải có đủ ba loại tư lương:

Một là phát khởi lòng tin vững chắc.
Hai là tu hạnh chân thật.
Ba là phát nguyện rộng lớn.

 Sao gọi là lòng tin vững chắc?

Nghĩa là phải tin cõi Ta bà rõ ràng đau khổ, cõi Tây phương chắc chắn an vui. Phật A Di Đà, Bồ tát Quán Âm, Thế Chí hiện đang ở thế giới Ta bà này thâu nhận chúng sinh niệm Phật vãng sinh Tịnh độ, điều đó thật sự không giả dối.

Lại phải tin rằng Phật A Di Đà là thân pháp giới ở khắp trong tâm tưởng của tất cả chúng sinh. Khi chúng sinh niệm Phật thì: “Tâm này tức là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Tâm này làm Phật, tâm này là Phật”. Như trong Kinh Hoa Nghiêm, Trưởng giả Giải Thoát nói:

“Nếu ta muốn thấy Phật A Di Đà ở thế giới An lạc, tùy ý liền thấy ngay”.
Tin được như thế mới là lòng tin vững chắc.

 Sao gọi là tu hạnh chân thật?

Nghĩa là người tu Tịnh nghiệp trước phải nhìn thấu được bản chất của thế gian, buông bỏ muôn duyên, suốt hai mươi bốn giờ, trong bốn oai nghi đem một câu A Di Đà Phật hết lòng trì niệm.

Điều quan trọng là niệm làm sao cho mỗi chữ, mỗi chữ rõ ràng; từng câu, từng câu liên tục. Niệm đến khi không còn phải nhớ niệm mà tự nơi tâm mình niệm, đó là niệm mà không niệm. Dù gặp đủ mọi cảnh duyên khác biệt, nhưng câu niệm Phật này vẫn rõ ràng hiện tiền. Trong sinh hoạt hằng ngày, niệm Phật như thế mới là hạnh chân thật.

 Sao gọi là phát nguyện rộng lớn?

Trên hội Hoa Nghiêm, Bồ tát Phổ Hiền sau khi phát mười nguyện lớn rồi, lại còn phát nguyện rằng:

“Nguyện con đến lúc sắp lâm chung
Diệt trừ tất cả các chướng ngại
Tận mặt gặp Phật A Di Đà
Liền được vãng sinh cõi Cực lạc.
Con đã vãng sinh cõi kia rồi
Hiện tiền thành tựu nguyện lớn này
Tất cả tròn đầy không thiếu sót
Lợi lạc hết thảy các chúng sinh.
Chúng hội Phật ấy đều thanh tịnh
Con từ hoa sen nở sinh ra
Tận mắt thấy Phật Vô Lượng Quang
Hiện tiền thọ ký quả Bồ đề.
Con được Như Lai thọ ký rồi
Hóa thân vô số muôn ngàn ức
Trí lực rộng lớn khắp mười phương
Lợi ích tất cả các chúng sinh”.
Phát nguyện như thế mới gọi là rộng lớn.

Bởi vì nếu nguyện không rộng lớn tức là nguyện nhỏ hẹp; hạnh không chân thật tức là hạnh giả dối; lòng tin không vững chắc tức là lòng tin nông cạn. Người như thế muốn được vãng sinh, thật rất khó khăn.

Nếu lòng tin đã vững chắc, hạnh lại chân thật; phát nguyện được rộng lớn, giống như thuận buồm xuôi gió tiến thẳng đến bờ kia, có gì gian nan hiểm trở?

Lại cần phải biết, thế giới Ta bà, sáu nẻo luân hồi chịu mọi thứ đau khổ, chỉ vì một chữ “Ái”. Thế giới Cực lạc thọ hưởng đủ mọi niềm vui, nhất định tiến đến chỗ thành Phật là do một chữ “Tịnh”. Thế nên, bậc cao đức ngày xưa nói:

“Ái không nặng, không sinh Ta bà
Niệm không tịnh, không sinh Tịnh độ”.

Do đó, người tu Tịnh nghiệp cần phải mạnh mẽ cắt đứt duyên ái, siêng năng tu tập tịnh niệm. Lúc tịnh niệm thành tựu, cũng chính là lúc hoa nở thấy Phật, đã thấy Phật rồi mới biết tuy trọn ngày niệm Phật, mà chẳng trái với vô niệm, rõ ràng vãng sinh vốn không trái với vô sinh.

Phàm và Thánh đều ở nơi vị trí của mình, mà đạo cảm ứng qua lại. Đông–Tây chẳng lại qua, mà thần thức siêu sinh Tịnh độ. Nghiệp trói cột khổ đau chẳng thể buộc ràng, lửa trong kiếp thiêu chẳng thể đốt cháy. Trừ bỏ năm tướng suy hao trên cõi Trời, không còn tám nỗi khổ đau ở nhân thế. Gió thổi vi vu lay cành báu, sóng nước xao động lấp lánh ánh vàng. Thiên nhạc diễn thuyết pháp khổ–không, chim linh tuyên bày diệu pháp. Chẳng nhờ vào pháp thuật nào khác, chính là “quê xưa cảnh cũ” của chính mình. Các ông rõ biết hay chăng?

Tự chẳng muốn về, về liền đượcCảnh đẹp Ngũ Hồ có ai tranh?

KHAI THỊ CHO THƯỢNG NHÂN DUY TƯỜNG

Ngày xưa, Thế Tôn ở trong Tam thừa riêng biệt mở ra một môn Tịnh độ, gọi là “lối tắt tu hành”, cũng gọi là “vượt khỏi ba cõi theo chiều ngang”. Vốn bảo rằng: “Niệm Phật vãng sinh rất dễ dàng”.

Thời nay, người niệm Phật thì nhiều, người vãng sinh lại ít. Tại sao như thế? Bởi vì chẳng nhìn thấu Ta bà, chẳng tin nơi Cực lạc. Ta bà tệ ác đủ mọi bức bách, có chỗ nào mà nhìn không thấu suốt. Cực lạc thì Y báo, Chánh báo vô vàn thù thắng.

Chư Phật trong mười phương, các Tổ sư bao đời nhiều lần hết lời khuyên bảo tới lui việc vãng sinh, còn có chỗ nào mà không tin? Nếu thật sự không tin, không nhìn thấu suốt tức là chúng sinh ngu si không trí tuệ, mù tối, chỉ lo việc trước mắt, chẳng biết lo sợ về sau. Thế thì, nỗi khổ sau này chưa biết bao giờ kết thúc.

Chỉ có người trí mới nhìn thấu rõ mọi việc ở thế giới Ta bà, tin sâu chắc những điều nơi thế giới Cực lạc. Sau đó buông bỏ muôn duyên, trong bốn oai nghi đều chuyên tâm trì niệm một câu “A Di Đà Phật” này.

Điều quan trọng là niệm làm sao cho mỗi chữ mỗi chữ được rõ ràng, từng câu từng câu đều đặn liên tục. Niệm đến khi chỉ còn tâm thanh tịnh không loạn động. Lúc hoa nở thấy Phật mới hay niệm tức là Phật, Phật tức là niệm; niệm chẳng phải niệm, Phật chẳng phải Phật; Di Đà và chính mình hoàn toàn là một, Cực lạc–Ta bà trở nên đồng nhất.

Sau đó đem pháp như thế để độ chúng sinh cũng như thế, nguyện đạt tới phẩm cao nhất trong chín phẩm, đầy đủ ba kỳ kiếp chỉ trong một đời, trên báo đáp được bốn ân, dưới cứu giúp ba cõi. Như thế mới là người Phật tử chân chánh.

Thời gian chẳng đợi người. Mỗi người nên tự cố gắng.

KHAI THỊ CHO VƯƠNG LIÊN THẬT

Sư bảo: “Ông thờ Phật, ăn chay, dốc lòng tu Tịnh nghiệp, còn mời Sơn tăng nói rõ yếu chỉ Tịnh độ để làm công cứ, mà ông có thể hội chăng?”.

Nghiệp thiện–nghiệp ác đều do tâm tạo; uế độ–Tịnh độ đều từ tâm sinh.

Do đó, Thế Tôn nói:

 Tâm ngay thẳng là Tịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, những chúng sinh không xiểm nịnh đến sinh trong thế giới của Ngài.

 Tâm sâu xa là Tịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, những chúng sinh đầy đủ công đức đến sinh trong thế giới của Ngài.

 Tâm Đại thừa là Tịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, những chúng sinh Đại thừa đến sinh trong thế giới của Ngài.

Cho đến bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ đều là Tịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, những chúng sinh đầy đủ Lục độ sinh về trong thế giới của Ngài.

Thế nên nói: “Muốn được Tịnh độ nên làm thanh tịnh tâm mình. Tâm mình thanh tịnh thì cõi Phật thanh tịnh”.

Dám hỏi: “Rốt cuộc làm sao để được tâm thanh tịnh? Ông có tỏ rõ hay chăng?”.

Xưa nay không một vật

Bụi bặm bám vào đâu?

Vừa niệm A Di Đà

Tịnh độ sen đã nở.

Ngũ trược vốn thanh tịnh

Tam kỳ chẳng an bày

Người người trong nhà lửa

Đều ngồi đài sen báu.

VĂN KHUYÊN NIỆM PHẬT

Nói về tình người, không ai chẳng chán khổ ưa vui, bỏ khổ lấy vui. Vậy mà hiện nay có nhiều sự khổ đau cùng cực, nhưng vẫn không biết chán nản rời bỏ; Lại biết có niềm vui tột bực mà chẳng biết ưa thích nhận lấy. Như thế không phải rất mê lầm hay sao?

Sự khổ đau cùng cực chính là nơi thế giới Ta bà này, sinh–già–bệnh–chết đủ mọi bức bách.

Niềm vui tột bực chính là thế giới Cực lạc của Phật A Di Đà ở phương Tây, có đầy đủ Y báo, Chánh báo thanh tịnh trang nghiêm.

Bậc cao đức ngày xưa, vì thấy chúng sinh mãi mê lầm không thấu suốt nguyên nhân đau khổ và an vui, nên mới so sánh giữa Ta bà và Tịnh độ. Nói rằng:

 Ở cõi này loài người bẩm thọ thân hình máu thịt, có sinh là có khổ; cõi kia thì chúng hữu tình đều hóa sinh nơi hoa sen, không còn sự khổ về sinh.

 Ở cõi này thời tiết đổi dời, con người lần lần đi đến cảnh già yếu; cõi kia không có sự thay đổi nóng–lạnh, chúng sinh không bị khổ suy già.

 Ở cõi này con người mang thân hữu lậu dễ sinh nhiều bệnh hoạn, cõi kia thì chúng sinh thân thể phước báo thanh tịnh, không có sự khổ về đau yếu.

 Ở cõi này ít ai sống đến bảy mươi, cơn vô thường mau chóng; cõi kia thì chúng sinh mạng sống đến kiếp vô lượng vô biên, không có sự khổ về chết.

 Ở cõi này con người bị sợi dây thân tình, ái luyến ràng buộc, chịu nỗi đau khổ vì chia lìa; nơi cõi kia chúng sinh đều là quyến thuộc Bồ đề, nên không bị khổ về ân tình chia cách.

 Ở cõi này có nhiều sự ganh ghét oán thù, nên khi gặp gỡ tất phải chịu nhiều nỗi phiền não khổ đau; nơi cõi kia toàn bậc thiện nhân nên không có sự khổ về oan gia hội ngộ”.

 Ở cõi này con người phần nhiều nghèo khổ thiếu kém, tham cầu không thấy đủ; nơi cõi kia, sự thọ dụng về ăn, mặc, ở, các thứ trân báu đều được hóa hiện tự nhiên.

 Ở cõi này con người hình thể xấu xa, các căn không đủ; cõi kia chúng sinh tướng hảo trang nghiêm, thân thể có ánh sáng xinh đẹp.
 Ở cõi này chúng sinh xoay vần trong vòng sinh–tử; nơi cõi kia bậc thượng thiện nhân đều chứng Vô sinh pháp nhẫn” (lý thể chân như thật tướng xa lìa sinh diệt).

 Ở cõi này tu hành khó thành đạo quả. Nơi cõi kia mọi người tiến lên ngôi Bất thối chuyển dễ dàng”.

 Ở cõi này nhiều gò nổng hang hố, rừng rậm chông gai, đầy dẫy các tướng nhơ ác; nơi cõi kia vàng ròng làm đất, cây báu vút trời, lầu chói trân châu, hoa khoe bốn sắc.

 Ở cõi này rừng Ta La Song Thọ đã khuất bóng đức Phật, hội Long Hoa của Bồ tát Di Lặc còn xa diệu vợi; nơi cõi kia, Di Đà Thế Tôn hiện đang thuyết pháp.

 Ở cõi này chỉ mến danh lành của Bồ tát Quán Âm, Thế Chí; nơi cõi kia, chúng sinh thường làm bạn với các Ngài.

 Ở cõi này bọn ma cùng ngoại đạo làm não loạn người tu hành chân chánh; nơi cõi kia, chỉ thuần là sự giáo hoá của Phật, tà ma không còn dấu vết”.

 Ở cõi này tài sắc, âm thanh, danh lợi khiến người tu mê hoặc; nơi cõi kia có Y báo và Chánh báo thanh tịnh, hoàn toàn không có bóng người nữ.

 Ở cõi này ác thú, ma quái gào thét rùng rợn. Nơi cõi kia, chim, nước, cây rừng thường nói pháp mầu.

So sánh hai cõi, cảnh duyên hơn–kém nhau rất xa. Sự thù thắng của cõi Cực lạc thật không sao có thể kể hết!

Nay đã nói rõ đến như thế, vậy mà người đời vẫn mịt mờ, không biết ưa thích niềm vui Cực lạc, chán nản nỗi khổ ở Ta bà, bỏ đây về kia. Đó đều do tập khí hư vọng nhiều đời che đậy tự tâm, trí tuệ chẳng phát sinh, nên xét lý không sáng tỏ.

Than ôi! Người không lo xa ắt có buồn gần. Người đời đều biết có ngày sẽ chết, nhưng chẳng vì điều đó mà chọn lựa nơi tốt đẹp cho thân sau, thật là một lối đi rất sai lầm. Cho nên, Thế Tôn ra đời, dùng nhiều thứ phương tiện khuyên người niệm Phật cầu vãng sinh Tịnh độ, đều là chỉ dạy mọi người một con đường đi.

Kinh A Di Đà nói:

“Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn nghe nói về Phật A Di Đà bèn chấp trì danh hiệu, hoặc một ngày hoặc hai ngày cho đến bảy ngày nhất tâm không loạn. Người ấy lúc sắp lâm chung, Phật A Di Đà cùng chư Thánh chúng hiện ra trước mắt.

Khi người ấy lâm chung, tâm không điên đảo liền được vãng sinh cõi nước Cực lạc của Phật A Di Đà”.

Một ngày, hai ngày cho đến bảy ngày dốc hết lòng niệm Phật, còn được vãng sinh. Thì huống chi một tháng, một năm, cho đến trọn đời dồn hết tâm sức để niệm Phật, chẳng lẽø không được vãng sinh hay sao?

Kinh Quán Vô Lượng Thọ còn nói:

“Nếu có chúng sinh tạo nghiệp bất thiện, năm tội nghịch, mười điều ác. Do nghiệp ác, nên phải đọa vào đường ác. Nếu có thể chí tâm niệm Phật không dứt tiếng, đầy đủ mười niệm xưng Nam Mô A Di Đà Phật. Bởi xưng danh hiệu Phật, nên trong mỗi niệm mỗi niệm trừ được tội nặng của sự sinh tử trong tám mươi ức kiếp. Lúc mạng chung thấy hoa sen vàng giống như mặt trời ở trước mặt, chỉ trong khoảnh khắc liền được vãng sinh Cực lạc”.

Người tạo mười điều ác, chỉ trong khoảnh khắc niệm mười câu Phật, nương nguyện lực của Phật còn tiêu diệt tội lỗi được vãng sinh. Huống chi người có lòng tin chân chánh, niệm trăm câu, ngàn câu, muôn câu, cho đến niệm Phật nhiều vô số kể, mà không được tiêu diệt tội lỗi vãng sinh hay sao?

Thế nên, tôi khuyên tất cả người đời nên tranh thủ chút ít thời gian rảnh rỗi trong lúc bận rộn, mỗi ngày niệm Phật hoặc trăm, hoặc ngàn, hoặc muôn câu. Niệm xong rồi thì điền vào vòng tròn, hồi hướng Tịnh độ. Một năm đã mãn, sau đó tính chung lại xem niệm Phật được mấy muôn câu, ghi vào trong sổ, thọ trì suốt đời, dần dần tích lũy Tịnh nghiệp. Người ấy hiện tại được ánh sáng của Phật chiếu soi, tội diệt–phước tăng, về sau được ba vị Thánh ở Tây phương tiếp dẫn sinh về Tịnh độ.

Hạnh chân thật, nguyện chân thật, nhân chân thật, quả chân thật. Nếu chịu tin theo đây mới là người bạn pháp chân thật.

VĂN KHUYÊN NIỆM PHẬT PHÓNG SINH

Con người sống ở trên đời này một trăm năm có bao lâu. Một hơi thở không trở lại liền qua đời khác, muôn thứ chẳng đem được, chỉ có nghiệp theo mình. Ngay lúc ấy dù muốn niệm một câu Phật, nhưng có được chăng? Muốn thả một sinh mạng có được chăng?

Thế nên, hôm nay tôi khuyên khắp tất cả mọi người, không luận sang–hèn, giàu–nghèo, nam–nữ, già–trẻ đều có thể xoay đầu nhìn lại để thấu rõ điều này, rồi tranh thủ thời gian rảnh trong một ngày niệm Phật ba thời, giảm bớt những việc phù phiếm uổng phí hơi sức. Ngoài ra còn phải cứu sinh mạng lúc nguy ách, để làm chánh nhân Tịnh độ, gieo trồng hạt giống từ bi.

Bảo rằng niệm Phật, không phải niệm Phật nào khác, chính là niệm Phật A Di Đà ở thế giới Cực lạc. Do đức Phật ấy từ xa xưa đã phát thệ nguyện lớn, thâu nhận những chúng sinh niệm Phật vãng sinh Tịnh độ.

Phóng sinh, chẳng phải thả sinh mạng nào khác, đó chính là thả sinh mạng lục thân quyến thuộc nhiều đời của chính mình. Bởi vì chúng từ xa xưa đến nay đã từng cùng ta làm cha con, thân quyến, chỉ vì thay hình đổi dạng, nghiệp báo khác nhau nên không còn nhận ra nhau nữa.

Vì sao biết như thế?

Kinh A Di Đà nói:

“Từ đây qua phương Tây cách mười muôn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực lạc. Đức Phật ấy hiệu là A Di Đà, hiện nay đang thuyết pháp… Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn nghe nói về Phật A Di Đà liền chấp trì danh hiệu. Hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, cho đến bảy ngày nhất tâm không loạn, thì người ấy lúc sắp lâm chung, tâm không điên đảo liền được vãng sinh cõi nước Cực lạc của Phật A Di Đà”.

Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói:

“Nếu có chúng sinh có thể chí tâm niệm Phật không dứt, đầy đủ mười niệm xưng Nam Mô A Di Đà Phật. Do xưng niệm danh hiệu Phật, nên trong mỗi niệm, mỗi niệm diệt trừ tội nặng của sự sinh–tử trong tám mươi ức kiếp. Lúc mạng chung, thấy hoa sen vàng giống như mặt trời ở trước mặt, chỉ trong khoảnh khắc liền được sinh về thế giới Cực lạc”.

Kinh Lăng Nghiêm nói:

“Nhớ Phật, niệm Phật trong hiện tại, thì tương lai nhất định thấy Phật”.
Như những lời nói trong ba bộ Kinh trên, há chẳng phải là sự minh chứng của việc niệm Phật A Di Đà vãng sinh Tịnh độ hay sao?

Kinh Hoa Nghiêm nói:

“Đối với tất cả chúng sinh có mạng sống, nên thường phát sinh lòng từ bi lợi ích, chẳng có tâm ác làm hại chúng sinh. Huống gì đối với chúng sinh lại khởi tư tưởng cố ý sát hại” .

Kinh Lăng Già nói:

“Có vô lượng lý do không nên ăn thịt. Vì tất cả chúng sinh từ xưa đến nay do nhân duyên thường làm thân quyến của ta. Do là người thân, vì thế không nên ăn thịt”.

Kinh Phạm Võng nói:

“Vì lòng từ bi, nên thực hành phóng sinh. Phải suy nghĩ thế này: “Tất cả người nam là cha ta; tất cả người nữ là mẹ ta, ta đời đời kiếp kiếp đều từ họ thọ sinh. Vì vậy chúng sinh trong sáu nẻo đều là cha mẹ của ta. Nếu ta giết chúng để ăn tức là giết cha mẹ ta vậy”.

Như lời nói trong ba bộ Kinh trên, lẽ nào chẳng phải là sự minh chứng của việc phóng sinh, chính là thả quyến thuộc nhiều đời của mình hay sao?

Bậc cao đức ngày xưa bảo rằng: “Lời Phật nói không tin, vậy lời ai đáng tin? Đạo làm người mà không tu, thì tu đạo gì?”.

Nay đã được sinh trong loài người, đã được nghe lời Phật nói mà không tin, không tu, thì tôi chẳng biết phải làm thế nào nữa?

Sự xấu kém và tốt đẹp giữa Ta bà và Tịnh độ; tội–phước và nhân–quả của việc sát sinh cùng phóng sinh, đều được ghi chép rộng rãi trong Kinh điển rồi, nên không cần phải nói nhiều ở đây.

Mong những bậc cao minh nên tự xem rộng, để chuyển hóa những người chưa tin. Nếu làm được như thế thì công đức vô lượng!

DIỄN KỆ KHUYÊN NIỆM PHẬT CỦA HÒA THƯỢNG THIỆN ĐẠO

(Mỗi câu thành một bài thơ)
Da mồi tóc bạc lần lần
Thời gian âm thầm thôi thúc
Thấy người già cả xót thương
Chẳng biết quán sát thân mình
Phải rõ thân này chẳng thật
Tựa như bọt nước trôi sông
Khuyên người kịp thời niệm Phật
Đừng đợi đến khi già yếu.
*
Lụm cụm bước run mấy chốc
Chẳng còn đi xa được nữa
Nhớ lại năm xưa mạnh khỏe
Luống uổng long đong cả đời
Chưa từng đạp trên đất thật
Nào biết tỉnh xét lại mình
Khuyên người kịp thời niệm Phật.
Dẫu sang vàng ngọc đầy nhà
Ngày đêm lo lắng tính toan
Một mai nhắm mắt xuôi tay
Đều do người khác làm chủ
Quên mất kho báu nhà mình
Đuổi theo ngói gạch kẻ khác
Khuyên người dốc lòng niệm Phật
Tây phương chính thật đất báu.
*
Vẫn khổ suy già, bệnh tật
Trên đời khó kẻ tin được
Chỉ cậy sức mình mạnh mẽ
Nào xét già bệnh theo chân
Một mai triền miên giường bệnh
Tám khổ nung nấu đốt thiêu
Khuyên người gắng sức niệm Phật
Vào thẳng thai sen gởi chất.
*
Ví hưởng khoái lạc nghìn muôn
Đâu biết vui là nhân khổ
Thân này chỉ toàn nghiệp tội
Muôn kiếp đâu khỏi trầm luân
Thiện–ác, U minh có sổ
Tên tuổi đều ghi rõ ràng
Khuyên người một lòng niệm Phật
Ánh tuệ xua tan tình mê.
*
Đâu khỏi vô thường chết mất
Một hôm buông hết muôn thứ
Chỉ lấy mảnh đất non xanh
Xương trắng vùi sâu nơi đó
Không một vật gì là ta
Chẳng đem theo được mảy may
Khuyên người lo niệm Phật trước
Gốc sen vun bồi chắc sâu.
*
Duy có đường tắt tu hành
Một ngày hơn cả muôn đời
Chỉ quí hạnh nguyện nơi người
Cũng nhờ ánh sáng của Phật
Chánh định thường luôn thành tựu
Tội lỗi mỗi niệm băng tan
Khuyên người tín tâm niệm Phâït
Đài sen thượng phẩm nêu danh.
*
Chỉ niệm A Di Đà Phật
Chẳng cần tìm pháp môn khác
Ngay đây chuyển phàm thành Thánh
Giống như cá chép hóa rồng
Câu câu liên tục không dứt
Chữ chữ gương soi chẳng mờ
Muốn được thấy Phật liền thấy
Thôi bàn Tịnh độ–Ta bà.

KỆ KHUYÊN NIỆM PHẬT

Ở nơi ba cõi thôi cất bước
Đài sen chín phẩm thích nêu danh
Sau này buông tay về lối tắt
Mới tin không sinh–không chẳng sinh.
*
Lối tắt tu hành, duy niệm Phật
Sáu căn đều nhiếp, một tâm minh
Ta bà chuyển đổi thành An Dưỡng
Lửa rực, đầm trong, sen nở xinh.
*
Sinh–tử luân hồi không ngày dứt
Chuyên lòng niệm Phật hướng Tây phương
Mắt thấy Di Đà, nghe diệu pháp
Quả Bồ đề chín ngọt ngào hương.
*
Biển khổ rộng sâu vạn sóng trào
Nhiều đời chìm đắm biết làm sao?
Khuyên anh niệm Phật về An Dưỡng
Bờ kia cất bước thảnh thơi ca.
*
Ba cõi không an đừng lưu trú
Tây phương có lối hãy quay về
Một lòng không loạn, trì danh hiệu
Mỗi bước lửa hồng, sen nở hoa.
*
Cực lạc nơi lòng khác người xa
Hoa sen mỗi bước xuất hiện ra
Thanh tịnh, không nhiễm một trần nhỏ
Chớ hỏi ai là Phật Di Đà?
*
Khổ đau, bùi ngọt, không thế giới
Mờ mịt lăng xăng mộng thân–tâm
Chúng sinh cực khổ ai cứu độ?
Chỉ có Di Đà nguyện lực thâm.
*
Sinh–tử, tử–sinh bao giờ dứt
Trôi nổi lênh đênh lúc nào dừng
Chẳng hay niệm Phật về quê cũ
Biển khổ thoát ra mới thật mừng.
*

Người chuyên niệm Phật, tâm thanh tịnh
Tịnh tâm niệm Phật, thân không bệnh
Chư Phật hoan hỷ giáng kiết tường
Gốc đạo vững chắc thường tinh tấn.
*
Người niệm Phật rồi, chán ngũ trược
Trôi nổi, đắm chìm không sao vượt
Tâm tâm luôn hướng cõi Tây phương
Người đi đường này sẽ đến được.
*
Người siêng niệm Phật ắt thành Phật
Thoát khỏi thai phàm đổi Thánh chất
Đất báu, hoa sen được hóa sinh
Trong ao tám đức thường tắm gội.
*
Người niệm Phật nhiều, dứt tham sân
Thấu rõ thân thế tựa phù vân
Không lưu, chẳng luyến, đâu ràng buộc
Tiêu diêu tự tại hợp Thiên chân.
*
Người luôn niệm Phật chí kiên cố
Tám gió khó động, Tu di vững
Nhà lửa ba cõi rực nơi nơi
Mỗi bước đạp trên vô sinh lộ.
*
Trong tâm niệm Phật, cảnh Phật hiện
Muôn pháp đều do tâm chuyển biến
Tâm này là Phật, không chi khác
Ví tợ soi gương thấy mặt mình.
*
Người trì niệm Phật nhiếp sáu căn
Không theo trần cảnh vọng lăng xăng
Tịnh niệm tiếp nối như chuỗi ngọc
Ngày đêm liên tục không cách ngăn.
*
Người niệm Phật hiệu rất tôn quí
Cùng chung ở với thượng thiện nhân
Chẳng phân nam–nữ, hiền–ngu nữa
Thấy được Di Đà, lên Bất thối.
Tánh Chân như vốn có
Chúng sinh với Phật đồng
Rỗng rang tâm tự ngộ
Như nhật chiếu trời trong.
Di Đà sức đại nguyện
Tin sâu chớ nghi ngờ
Nương theo Phật tu hành
Chắc chắn chứng Phật quả.
Mã Minh và Long Thọ
Quả thật là thầy ta
Thiền–Tịnh viên tu chứng
Đâu nhọc tìm lối khác.
Rất chán khổ Ta bà
Lo đời sau lầm lạc
Một lòng siêng niệm Phật
Gởi chất Bạch Liên hoa.
Lòng tin thường không thối
Phát nguyện mãi đời đời
Nhân duyên Bát nhã chín
Quả Bồ đề tự thành.
Toàn nhờ sức Bát nhã
Soi thấu tâm thế gian
Tâm tịnh, cõi Phật tịnh
Di Đà hạnh nguyện sâu.
Sinh–tử có lo sợ
Nên nương công đức Phâït
Ngay đây thấy Di Đà
Cần gì hỏi Di Lặc.

KHEN NGỢI BA VỊ THÁNH TÂY PHƯƠNG

Cúi lạy Tây phương Vô Lượng Thọ
Xa với tay vàng tiếp Ta bà
Chúng sinh độ hết mới dừng nghỉ
Mấy kẻ biết ơn thoát ái hà.
Cúi lạy Tây phương Quán Thế Âm
Độ sinh bi nguyện thật rộng sâu
Đem giọt nước Cam lồ trong mát
Lắng dịu lòng nóng bức thế gian.
Cúi lạy Tây phương Đại Thế Chí
Trên đảnh bình báu phóng quang minh
Dẫn người niệm Phật về Tịnh độ
Liền ngộ không sinh, không chẳng sinh.

The post Tịnh độ chỉ quyết – Thích Minh Thành appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Tiểu Sử 13 Vị Tổ trong Tịnh Độ Tông- Thích Thiền Tâm https://bachhac.net/tieu-su-13-vi-to-trong-tinh-do-tong.html Mon, 20 Apr 2020 02:46:35 +0000 https://bachhac.net/?p=3160 1. Huệ Viễn Đại Sư Họ Cổ Huệ Viễn đại sư họ Cổ, nguyên quán xứ Lâu Phiền ở Nhạn Môn thuộc tỉnh Sơn Tây. Ngài sinh tại Thạch Triệu, năm Giáp Ngọ, vào niên hiệu Diên Hy đời vua Thành Đế nhà Tấn. Cả song thân đều khuyết danh. Thuở ấy, còn gọi là …

The post Tiểu Sử 13 Vị Tổ trong Tịnh Độ Tông- Thích Thiền Tâm appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
13 vị tổ sư trong tịnh độ tông

1. Huệ Viễn Đại Sư Họ Cổ

Huệ Viễn đại sư họ Cổ, nguyên quán xứ Lâu Phiền ở Nhạn Môn thuộc tỉnh Sơn Tây. Ngài sinh tại Thạch Triệu, năm Giáp Ngọ, vào niên hiệu Diên Hy đời vua Thành Đế nhà Tấn. Cả song thân đều khuyết danh.

Thuở ấy, còn gọi là thời Ngũ Hồ, mặc dù có nhiễu nhương, nhưng các tư tưởng học thuyết Thánh Hiền lan rộng đã lâu, nên từ bé Ngài đã thấm nhuần nề nếp thuần phong đạo đức.

Niên hiệu Hàm Hoa thứ 9, Ngài lên mười ba tuổi, được song thân cho du học ở miền Hứa Lạc. Không bao lâu, từ Nho giáo đến các học thuyết Lão, Trang cùng Bách gia chu tử, Ngài đều đã thông biện đến mức siêu quần.

Trong niên hiệu Cảnh Bình, vừa 21 tuổi, cảm thấy các học thuyết sở đắc của mình không thể giải quyết được vấn đề sống chết luân hồi mà trong tâm hằng thao thức, Ngài cùng ẩn sĩ Phạm Tuyên Tử định du phương tìm đạo nhưng lúc ấy vì có loạn Thạnh Hồ, đường giao thông bị trở ngại nên ý nguyện không thành.

Thời gian sau, có Đạo An pháp sư trú tại chùa Nghiệp Trung ở núi Thái Hằng thuộc dãy Hằng Sơn, vân tập Tăng chúng giảng dạy kinh điển, các hàng đạo tục, vua quan, sĩ thứ đều cảm hóa hướng về. Ngài nghe danh mến đức, tìm đến xin quy y, nương theo tu học.

Sau khi nghe Pháp sư giảng xong kinh Bát-nhã, Ngài suốt thông tỏ ngộ than rằng: “Phật Pháp quả thật cao diệu bao la, xét lại học thuyết của Khổng, Mạnh, Lão, Trang là rất khác!”. Từ đó, Ngài chuyên tâm hôm sớm tụng đọc, suy nghĩ, tu tập. Đạo An thấy biết khen ngợi: “Về sau Phật Pháp lưu thông ở Đông Độ, âu là do Huệ Viễn này chăng?”.

Niên hiệu Thái Nguyên thứ 6, Đại sư du hóa đến Tầm Dương, thuộc tỉnh Giang Tây. Xa trông cảnh Lô Sơn rộng rãi thanh tú, phải nơi hành đạo, mới đến lập Tịnh xá nương ở. Thấy chỗ đó thiếu nước, vả lại bấy giờ, tại bản xứ gặp cơn nắng hạn, các dòng suối đều cạn khô, Ngài phát tâm từ bi đến khe núi, tụng kinh Hải Long Vương: Cầm tích trượng dộng xuống đất khấn nguyện, bỗng có con bạch long từ dưới đất bay vọt lên hư không. Giây phút mưa to xối xả, mực nước các nơi đều trở lại bình thường, tại đó xuất hiện dòng suối mát mẻ trong xanh, quanh co tuôn chảy. Vì hiện tượng này, Ngài lấy hiệu Tịnh xá là Long Tuyền. Lúc ấy, Pháp sư Huệ Vĩnh, một bạn đồng môn, trước đã trụ chùa Tây Lâm bên phía Tây Lô Sơn, muốn mời Ngài cùng ở. Nhưng pháp duyên của Huệ Viễn đại sư thạnh, học giả nương về Ngài càng ngày càng đông, cảnh Tây Lâm đất hẹp không thể lập đạo tràng dung chúng. Quan Thái Sử Hoàn Y thấy thế, phát tâm cất chùa cho Ngài bên phía Đông Lô Sơn. Do uy đức của Đại sư, khi sắp khởi công kiến tạo, vào một đêm nọ, bỗng có cơn mưa giông to lớn, sấm sét vang trời. Sáng ra, đại chúng thấy vật liệu xây cất, như các thứ to quý và cát đá chất thành đống. Bởi nhờ sức thần linh vận chuyển giúp công như thế, nên ngôi chùa ấy có tên Đông Lâm Thần Vận Tự.

Khi ngôi Lan-nhã hoàn thành, Đại sư đốc xuất chúng ngày đêm tinh tấn hành đạo. Trước thời gian ấy, tại Quảng Châu có các ngư dân vào buổi hoàng hôn, thấy ánh sáng xuất hiện trên mặt biển, họ cùng đến tìm xem, và vớt được một tôn tượng Văn-thù Bồ-tát rất đẹp, liền đem trình với quan thái thú sở tại là Đào Khản. Tượng này được tôn trí tại chùa Hàn Khê. Sau đó, vị trụ trì nhân có việc đến Hạ Khẩu, ban đêm mộng thấy ngôi bản tự bị hỏa hoạn, chỗ thờ đức Văn-thù có nhiều lòng thần ủng hộ vây quanh. Ông vội vã trở về, quả thật ngôi chùa đã bị lửa thiêu tàn trụi, chỉ có pho tượng là còn nguyên. Về sau, Đào Công sắp đi trấn nhậm nơi khác, nhân thấy tôn tượng rất linh thiêng muốn đem theo, nhưng dùng đủ mọi cách mà vẫn không di chuyển được. Nghe danh đức của ngài Huệ Viễn, ông đến viếng thăm, nhân tiện thuật lại mọi việc, và nhờ Đại sư chú nguyện để cung thỉnh về thờ tại chùa Đông Lâm. Lần này, khác hơn trước, Long Thiên đều ủng hộ, một cơn gió nhẹ thổi đến, làm cho tôn tượng bỗng dưng lay động, cuộc di chuyển rất thuận tiện dễ dàng. Tượng được tôn chí một nơi trang nghiêm riêng biệt tại Đông Lâm, gọi là Văn-thù Các.

Trước chùa, để cảnh trí thêm phần trang nhã và muốn phân định thời khắc, Đại sư cho đào ao trồng hoa sen trắng, trên mặt nước thả mười hai cánh sen gỗ, dẫn nước suối ra vào. Cứ mỗi giờ nước chảy đầy qua cánh sen gỗ. Đại chúng y theo đó định thời khóa tu hành, gọi là Liên Lậu.

Lần lượt các vị cao Tăng, những hàng danh sĩ, mến đạo phong của Huệ Viễn đại sư, đến xin dự chúng tu tập, mỗi ngày thêm nhiều, trong đây, có những vị lỗi lạc tài hoa. Như nhóm ông Tạ Linh Vận, trước kia thường nhìn thiên hạ bằng đôi mắt trắng, nhưng khi gặp Đại sư, bỗng liền đổi thành thái độ khiêm cung trước đạo phong an điềm giải thoát, và lời luận biện cao nhã thông suốt của Ngài.

Khu vực Lô Sơn có rất nhiều rắn độc, từ trước đã làm nguy hại đến tánh mạng dân cư ở vùng ấy. Nhưng từ khi có chùa Đông Lâm, các loài rắn dữ đều trở nên hiền lành, ngày lẫn đêm thường vây quanh Đại sư để nghe giảng kinh. Bởi trường hợp này, Đại sư được người đương thời tôn hiệu là “Bích Xà Thánh Giả”.

Thỉnh thoảng, lại có những danh tài bá lâm tìm đến vấn nạn Ngài. Trong ấy, đại để như Pháp sư Huệ Nghĩa, cho đến quan thái úy Hoàn Huyền. Nhưng khi tiếp kiến, gương mặt rộng rãi uy nghiêm, phong thái trầm tĩnh tự tại của Đại sư, các vị ấy bỗng nhiên mất tự chủ xuất hạn đầm đìa, rồi rút lui không dám tranh biện. Ra ngoài họ đều kinh ngạc than thở: “Huệ Viễn đại sư có uy lực, nhiếp chúng rất lạ lùng thật đáng nể phục!”.

Niên hiệu Long An thứ 3, và đầu năm Nguyên Hưng đời Đông Tấn, quan phụ chính Hoàn Huyền lần lượt gởi cho Ngài hai văn kiện bãi đạo và thanh lọc hàng ngũ xuất gia. Nội dung của văn kiện gồm nhiều lý lẽ đề cập đến việc không lợi ích cho quốc gia và sự hoang đường thiếu thiết thực của Phật giáo. Thời gian ấy, Tăng chúng trong toàn quốc bị đạo luật này chi phối, nhiều vị phải hoàn tục. Đại sư đều tuần tự phúc đáp bằng lời lẽ vững mạnh thích đáng, khiến cho đạo luật đó không ứng dụng được tại tỉnh Giang Tây.

Trong niên hiệu Nghĩa Hy, An Đế từ Giang Lâm xa giá đến Giang Tây, chấn nam tướng quân Hà Vô Kỵ yêu cầu Ngài đích thân tiếp Vua. Đại sư lấy cớ đau yếu từ khước không bái kiến. Đến năm Nguyên Hưng thứ Hai, Hoàn Huyền lai gởi văn thơ cho Ngài, với nhiều lý luận bắt buộc hàng Sa-môn phải lễ bái quốc vương. Đại sư soạn văn thư phúc đáp, và quyển Sa Môn Bất Kính Vương Giả Luận gồm năm thiên để hồi âm. Triều đình đều nể trọng và phải chấp nhận quan điểm của Ngài.

Đạo đức, sự linh cảm, và công hộ trì Phật pháp của Đại sư còn rất nhiều, nơi đây chỉ thuật lại phần khái quát. Những điểm này trong vô hình đã khiến cho tỉnh Giang Tây biến thành trung tâm Phật hóa tại miền Nam.

Nhân khi rỗi rảnh, Đại sư họp chúng lại bảo: “Chư vị đến đây niệm Phật, phải chăng đều cùng quyết chí gieo nhân lành cầu về Tịnh độ ư?”. Nhân cơ duyên đó, Ngài cùng đại chúng cho mời thợ khéo chiếu y theo kinh điển, tạo tượng Tây Phương Tam Thánh. Ba tôn tượng A-di-đà, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí khi tạo thành rất cao lớn tươi đẹp, có đủ nét tướng uy đức trang nghiêm. Tượng Tam Thánh ấy được phụng cúng ở Bát-nhã Đài ở Đông Lâm.

Vào tiết Mạnh Thu năm Mậu Thìn, nhằm ngày lạc thành tôn tượng, Đại sư cùng tất cả chúng kết lập Bạch Liên Xã, nguyện đồng sinh về cõi Liên bang. Khi ấy, ông Lưu Di Dân làm bài văn phát nguyện khắc vào bia đá. Các danh sĩ như nhóm ông Vương Kiều Chi lại viết thành tập thơ, lấy tên Niệm Phật Tam-muội để tỏ bày ý chí. Đại sư vì làm lời tựa như sau: “Tam-muội là thế nào? Chính là nhớ chuyên, tưởng lặng vậy. Nhớ chuyên thì chí một tâm đồng, tưởng lặng thì khí thanh thần sáng. Khí thanh thì trí soi ngộ đến lý nhiệm mầu, thần sáng thì không chỗ u vi nào chẳng thấu. Hai điểm này tự nhiên thầm hợp nương về, mà phát sinh ra diệu dụng.

Lại các môn Tam-muội, danh mục rất nhiều, công cao dễ tu, niệm Phật là thắng. Tại sao thế? Vì cùng nơi huyền tịch, mới hiệu Như Lai, thể hợp với thần, mười phương ứng hiện. Thế nên, khi vào Tam-muội, lặng lẽ vong tri, trí sáng chiếu cảnh duyên, gương lòng bày muôn tượng. Chỗ mắt tai không đến được mà vẫn thấy vẫn nghe, nơi linh trí lặng sáng thanh nên hằng thông hằng suốt. Nếu chẳng phải bậc căn cơ linh mẫn, thì làm sao được cảnh diệu huyền?

Hôm nay, cùng chư Hiền tu tập, đồng nương kết pháp duyên, rửa lòng cửa Phật, những e còn kém duyên sen. Chuyên ý sớm hôm, cảm nỗi tháng ngày chẳng lại. Chí nguyện ba thừa thông suốt, bước đạo tiến cao, lòng mong dìu dắt người sau, lối tranh tẩy sạch. Xin xem thiên bài mà thấu ý, đừng theo văn vịnh để vui tâm”.

Đại sư vì thấy miền Đông Nam kinh tạng còn thiếu nhiều, nên sai đệ tử là Pháp Tịnh, Pháp Lĩnh cùng nhiều vị khác vượt ngọn Thông Lãnh sang Tây Thiên, tìm thỉnh các thứ kinh Phạn bản. Trải nhiều năm vượt suối băng ngàn, dãi nắng dầm sương, chịu đủ mọi nỗi khó khăn trở ngại, đoàn thỉnh kinh từ Tây Vức mới trở về, mang lại nhiều kết quả mong muốn. Tuy nhiên, nguyên bản còn là chữ Phạn, Huệ Viễn đại sư phải cho người đến Trường An thỉnh Tôn giả Phật-đà-bạt-đà-la họp cùng những vị khác đến Lô Sơn phiên dịch các kinh điển ấy. Đại sư lại viết thư thỉnh cầu Tôn giả Đàm-ma-lưu-chi người Tây Trúc dịch thành bộ Thập Tụng Luật. Thời ấy, những kinh luật lưu hành từ Lô Sơn, có gần đến trăm thứ.

Tuy xiển dương Tịnh độ, Đại sư vẫn lưu tâm đến các pháp môn khác, viết nhiều bài tựa về kinh luận, và hoàn thành mấy tác phẩm như sau:

Đại Trí Luận Yếu Lược (20 quyển).
Pháp Tánh Luận.
Sa Môn Bất Kính Vương Giả Luận.
Đại Thừa Nghĩa Chương (3 quyển).
Thích Tam Bảo Luận.
Minh Báo Ứng Luận.
Sa Môn Đản Phục Luận.
Biện Tâm Thức Luận.
Phật Ảnh Tán.
Du Lô Sơn Thi.
Lô Sơn Lược Ký.
Du Sơn Ký.
Ngoài ra, còn nhiều văn thư biện luận về Phật pháp giữa Đại sư với ngài Cưu-ma-la-thập, cùng các ông Lưu Di Dân, Đới An và những hàng tấn thân, đều được người đương thời truyền tụng. Trong bộ Pháp Tánh Luận, Đại sư phát minh lý Niết-bàn thường trú. Khi bộ luận này truyền đến Quan Trung, Pháp sư Cưu-ma-la-thập xem được, khen rằng: “Lành thay! Huệ Viễn đại sư cư ngụ vùng biên phương, chưa đọc kinh Đại Niết-bàn, mà lời luận lại thầm hợp với chân lý. Đây chẳng phải là điều kỳ diệu hay sao?”.

Bạch Liên Xã do Đại sư thành lập, quy tụ hơn ba ngàn người, trong đây có 123 vị được tôn là Hiền. Trong 123 vị Hiền này, lại có 18 bậc thượng thủ gọi là Đông Lâm Thập Bát Đại Hiền, gồm các Ngài như sau:

1. Huệ Viễn đại sư.

2. Huệ Vĩnh pháp sư.

3. Huệ Trì pháp sư.

4. Đạo Sinh pháp sư.

5. Phật-đà-gia-xá tôn giả.

6. Phật-đà-bạt-đà-la tôn giả.

7. Huệ Duệ pháp sư.

8. Đàm Thuận pháp sư.

9. Đạo Kính pháp sư.

10. Đạo Bính pháp sư.

11. Đàm Tiên pháp sư.

12. Danh sĩ Lưu Di Dân.

13. Danh sĩ Lôi Trình Chi.

14. Danh sĩ Lôi Thứ Tôn.

15. Danh sĩ Tôn Bính.

16. Danh sĩ Vương Dã.

17. Danh sĩ Vương Thuyên.

18. Danh sĩ Châu Tục Chi.

Đại sư ở Lô Sơn hơn ba mươi năm, chân không bước ra khỏi núi. Ngài khước từ mọi sự liên lạc không cần thiết với đời, nguyện giải quyết vấn đề sinh tử ngay trong kiếp hiện tại. Khi có khách đến viếng, lúc ra về Đại sư chỉ tiễn chân tới cầu suối Hổ Khê trước chùa rồi trở vào. Có một lần, hai danh nhân là nho sĩ Đào Uyên Minh và đạo gia Lục Tu Tĩnh tìm đến yết kiến. Vì cơ luận khế hợp, khi dưa khách ra về, bất giác Đại sư bước ra khỏi cầu suối hồi nào không hay. Vừa lúc ấy, ánh tịch dương chợt rọi đến, in bóng người bên vách núi. Cả ba như bừng tỉnh, đứng lại nhìn nhau cả cười, rồi chia tay tạm biệt. Người sau dựng Tam Tiếu Đình tại nơi đây để lưu niệm. Trong Tây Phương Bách Vịnh, Nhất Nguyên đại sư có biên ký điều trên như sau:

“Tây Phương cổ giáo Thế Tôn Tiên

Đông Độ khai tông hiệu Bạch Liên

Thập Bát Đại Hiền vi thượng thu

Hổ Khê Tam Tiếu chí kim truyền”.

Tạm dịch:

“Tây Phương Phật dạy trước tiên

Truyền sang Đông Độ Bạch Liên mở đàng

Mười Tám Hiền, học hạnh toàn

Hổ Khê dường hãy còn vang tiếng cười”

Đại sư hôm sớm hằng lặng lòng quán tưởng, chuyên chí về Tịnh đô, đã ba phen thấy Thánh tướng mà im lặng không nói ra.

Năm Nghĩa Hy thứ mười hai, đêm ba mươi tháng bảy, Ngài ngồi tịnh nơi Bát-nhã Đài. Lúc vừa mở mắt xuất định, bỗng thấy Phật A-di-đà thân sắc vàng đầy khắp hư không. Trong áng viên quang hiện vô số hóa Phật, mỗi vị đều có Quán Âm, Thế Chí hầu hai bên tả hữu. Lại thấy nước chảy chia thành mười bốn ngọn quanh lộn lên xuống, phóng ra những tia sáng đẹp, diễn nói các pháp: khổ, không, vô thường, vô ngã. Đức Phật bảo Ngài: “Ta dùng sức bản nguyện đến đây an ủi ngươi. Sau bảy ngày, ngươi sẽ được sinh về Cực Lạc!”. Đại sư lại thấy bạn đồng tu ở Liên Xã đã viên tịch trước, như các ông: Phật-đà-da-xá, Huệ Trì, Huệ Vĩnh, Lưu Di Dân… đều đứng phía sau Phật. Các vị ấy bước đến trước, chấp tay chào và nói: “Ngài phát tâm sớm hơn chúng tôi, nay sao lại về muộn như thế?”.

Hôm sau, Đại sư cảm bệnh nhẹ, gọi đệ tử là Pháp Tịnh, Huệ Bảo đến thuật lại, và nói: “Ta ở Lô Sơn này, trong mười một năm đầu, đã ba lần thấy Thánh tướng cùng các kỳ tích. Nay lại có điềm như thế, tất duyên sinh Tịnh độ đã đến thời kỳ!”. Rồi dặn bảo các việc, soạn quy chế để răn nhắc đại chúng

cùng nhau sách tiến tu tập.

Trong thời gian Đại sư lâm bệnh, chư Tăng khuyên Ngài phương tiện dùng thuốc rượu để điều trị. Đại sư khước từ, bảo: “Thân người như huyễn, nguyện giữ giới luật hoàn toàn thanh tịnh”. Các Đại đức lại thỉnh Ngài dùng nước cơm, Đại sư bảo hãy mở luật tìm xem có đề cập đến điều này hay không? Các luật sư tra cứu chưa xong, Ngài đã viên tịch. Lúc ấy, nhằm ngày mùng 06 tháng 08 năm Bính Thìn, niên hiệu Nghĩa Hy thứ mười hai. Đại sư thọ 83 tuổi.

Quan Thái Thú Tầm Dương là Nguyễn Bảo cùng đại chúng làm lễ an táng và xây tháp Ngài tại phía Tây Lô Sơn. Vua An Đế nhà Tấn hay tin rất thương tiếc, sắc phong cho Đại sư thụy hiệu “Lô Sơn Tôn Giả, Hồng Lô Đại Khanh, Bạch Liên Xã Chủ”. Các Vua đời sau đều có phong tặng để cảm niệm công đức hộ pháp an dân của Ngài.

2. Thiện Đạo Đại Sư

Thiện Đạo đại sư, người đời nhà Đường, chưa am tường xuất xứ.

Trong niên hiệu Trinh Quán, nhân thấy bài văn Tịnh Độ Cửu Phẩm Đạo Tràng của Đạo Xước thiền sư ở Tây Hà, Ngài rất mừng, bảo: “Đây mới thật là cửa mầu đi vào cảnh Phật. Tu các hạnh nghiệp khác xa vời quanh quất khó thành, duy pháp môn này mau thóat sinh tử!”.

Từ đó, Ngài siêng cần tinh khổ sớm hôm lễ tụng. Ít lâu sau lại đến Kinh sư, khuyên Tứ chúng niệm Phật. Mỗi khi Ngài vào thất quỳ niệm Phật, nếu chưa đến lúc kiệt sức, quyết không chịu thôi nghỉ. Lúc ra thất, liền vì đại chúng diễn nói pháp môn Tịnh độ. Hơn ba mươi năm, Đại sư vừa hóa đạo, vừa chuyên tu, chưa từng ngủ nghỉ. Hằng ngày, Ngài thường nghiêm trì giới hạnh không để sai phạm một mảy may. Khi được cúng dường thức ăn ngon quý, Ngài đem dâng cho đại chúng, còn phần mình chỉ dùng thứ thô dở mà thôi. Tài vật của tín thí cúng cho, Ngài dùng tả hơn mười muôn quyển kinh A-di-đà, họa cảnh Tịnh độ được ba trăm bức. Ngoài ra thì dùng vào việc sửa sang chùa tháp, thắp đèn nối sáng, không chứa để dư.

Kẻ đạo người tục quy hướng theo đức của Ngài, niệm Phật rất nhiều kể đến số vạn. Nhóm này thì tụng kinh A-di-đà từ mười vạn đến năm mươi vạn biến, nhóm khác mỗi ngày đêm niệm Phật từ một muôn đến mười muôn câu. Trong đó, những người hiện tiền chứng Tam-muội, lúc lâm chung được thoại ứng vãng sinh, đông không thể kể xiết.

Có người hỏi: “Niệm Phật quyết chắc được vãng sinh chăng?”. Ngài đáp: “Như ông tin tưởng và thực hành, chắc chắn sẽ được toại nguyện!”. Nói xong, Ngài tự niệm: “Nam mô A-di-đà Phật”, liền một tia sáng từ trong miệng phóng ra. Kế lại liên tiếp niệm từ mười đến một trăm câu, mỗi câu đều có ánh sáng quang minh dài nối nhau khiến sáng rực cả chùa. Sự thần dị này truyền đến Đế kinh, vua Cao Tôn nghe được phụng tứ một tấm biển sắc tặng hiệu chùa là Quang Minh Tự.

Đại sư có bài kệ khuyên tu như sau:

“Da mồi tóc bạc lần lần,

Lụm cụm bước run mấy chốc.

Dù sang vàng ngọc đầy nhà,

Vẫn khổ suy già bệnh tật.

Ví hưởng khoái lạc ngàn muôn,

Đâu khỏi vô thường chết mất?

Duy có đường tắt thoát ly

Chỉ niệm A-di-đà Phật!”.

Có người gạn:

– Sao Hòa thượng không dạy người quán tưởng Phật, mà chỉ bảo chuyên trì danh?

Ngài đáp:

– Chúng sinh đời nay phần nhiều chướng nặng tâm thô, thức thần tán động, mà cảnh Tịnh độ rất tế diệu, nên quán tưởng khó thành. Vì thế, đức Phật xót thương, khuyên thẳng nên xưng danh hiệu. Chính vì xưng danh hiệu là hạnh dễ làm, nếu cứ giữ mỗi niệm nối nhau tu như thế suốt đời, thì mười kẻ niệm mười kẻ được vãng sinh, trăm người tu trăm người về Tịnh độ. Tại sao thế? Vì không duyên tạp bên ngoài, nên dễ được chánh niệm. Vì cùng với bản nguyện của Phật hợp nhau. Vì không trái với kinh giáo. Vì thuận theo lời Phật và chư Thánh chỉ dạy.

Nếu bỏ chuyên niệm mà tu xen tạp những hạnh khác, thì trong trăm ngàn người chỉ hy vọng được ba bốn kẻ vãng sinh. Bởi tại sao? Vì duyên tạp loạn động khiến cho mất chánh niệm. Vì không hợp với bản nguyện của Phật A-di-đà. Vì trái với kinh giáo và lời Phật, Thánh. Vì sự hệ niệm không nối tiếp nhau. Vì tâm không thường nhớ Phật. Vì tuy hành đạo mà thường tương ưng với danh lợi. Vì thích theo duyên tạp, làm chướng chánh hạnh vãng sinh của mình và người.

Gần đây, hàng đạo tục kiến giải không đồng, kẻ thích chuyên tu, người ưa tạp hạnh. Xin khuyên nhắc: Nếu chuyên niệm Phật, mười kẻ niệm mười kẻ được vãng sinh. Như tạp tu mà không chí tâm, thì trong ngàn người khó mong được một. Nguyện tất cả đều nên chín chắn tự suy xét kỹ!

Lại người niệm Phật đi đứng nằm ngồi, phải cố gắng nhiếp tâm, ngày đêm chớ rời Thánh hiệu, thề quyết giữ đến hơi thở cuối cùng. Như thế tới lúc mãn phần, niệm trước vừa thọ chung, niệm sau liền sinh Cực Lạc. Từ đây, vĩnh viễn hưởng sự vui pháp lạc vô vi cho đến khi thành Phật, há chẳng đáng mừng ư?

Đại sư cũng từng dạy phương pháp giữ vững chánh niệm trong lúc lâm chung như sau: Người niệm Phật khi sắp mãn phần, muốn được sinh về Tịnh độ, thì điểm cần yếu là đừng sợ chết. Phải thường nghĩ thân này nhơ nhớp, biết bao điều khổ lụy trói vây! Nếu bỏ được thân huyễn hôi nhơ, sinh về Cực Lạc thọ thân Kim Cương thanh tịnh, sẽ thoát khỏi luân hồi khổ thú, hưởng vô lượng sự an vui, ví như bỏ chiếc áo cũ rách đổi lấy đồ trân phục, còn điều chi đáng thích ý bằng! Nghĩ như thế, buông hẳn thân tâm không còn lo buồn tham luyến. Lúc vừa có bệnh, liền tưởng đến sự vô thường, một lòng niệm Phật chờ chết. Nên dặn thân thuộc chớ lộ vẻ bi thương, cùng bàn việc hay dở trong nhà. Nếu có ai đến thăm, chỉ khuyên nên vì mình niệm Phật, đừng hỏi thăm chi khác, cũng không nên dùng lời dịu dàng an ủi, chúc cho sớm được lành vui, vì đó chỉ là chuyện bông lông vô ích. Phải bảo trước cho quyến thuộc biết, lúc mình bệnh ngặt sắp chết, đừng rơi lệ thương khóc, hoặc phát ra tiếng than thở âu sầu, làm kẻ lâm chung rối loạn tâm thần, lạc mất chánh niệm. Nói tóm lại, tất cả chỉ giữ một việc xưng danh trợ niệm cho đến sau khi tắt hơi. Nếu lại được bậc tri thức hiểu rành về Tịnh độ, thường đến khuyên thì thật là diệu hạnh! Như lúc lâm chung biết áp dụng phương pháp này, tất sẽ được vãng sinh không còn nghi ngờ chi nữa.

Việc vượt qua cửa tử là điều rất quan hệ lớn lao, phải tự mình gắng sức mới được. Nếu một niệm sai lầm, tất nhiều kiếp sẽ chịu khổ lụy, đâu có ai thay thế cho mình? Phải chú ý nghĩ suy và nghi nhớ kỹ!

Một hôm, Đại sư bỗng bảo người rằng: “Thân này đáng chán, ta sắp về Tây!”. Nói xong, leo lên cây liễu trước chùa, chấp tay hướng về Tây chúc nguyện rằng: “Xin Phật và Bồ-tát tiếp dẫn con, khiến cho không mất chánh niệm, được sinh về Cực Lạc”. Nguyện xong, gieo mình xuống nhẹ nhàng như chiếc lá rơi, ngồi kiết già ngay thẳng trên mặt đất.

Đại chúng vội chạy đến xem thì Ngài đã tắt hơi viên tịch.

Li bịnh:

Các bậc tu thiền đắc đạo, muốn biểu hiện sự sống chết tự tại, có vị đứng mà hóa, có vị trở ngược đầu xuống đất đưa hai chân lên trời mà viên tịch. Nếu chưa phá tan Ngũ uẩn, khi từ trên cao rơi xuống, dù bậc phục được hoặc phát ngộ cũng khó giữ vững được chánh niệm. Hành động của Thiện Đạo đại sư, từ trên cây gieo mình xuống đất ngồi kiết già mà hóa, là biểu hiện sự sống chết tự tại, tùy niệm vãng sinh một cách tuyệt mức. Đại sư muốn ngầm khai thị: “Niệm Phật được nhất tâm chứng ngộ, thì Tịnh tức là Thiền vậy”.

3. Thừa Viễn Đại Sư

Thừa Viễn đại sư, người đời Đường, nguyên quán từ đâu, chưa rõ xuất xứ.

Ban sơ, Ngài theo học với Đường thiền sư ở Thành Đô, kế lại học với Tản thiền sư ở Tứ Xuyên. Sau Ngài đến Kinh Châu tham học với Chân pháp sư ở chùa Ngọc Tuyền.

Sau khi học nghiệp đã xong, tu hành đã

ngộ, Chân công khuyên đến Hoằng Sơn để ứng duyên hoằng hóa.

Trước tiên, khi mới đến, Đại sư cất thảo am dưới gộp đá phía Tây Nam non Hoành. Người đạo tâm hay biết, đem cúng cho thức ăn thì Ngài dùng, hôm nào không có thì ăn bùn đất, tuyệt không hề đi quyên xin. Khổ tu như thế, đến nỗi mình gầy mặt nám, trên thân chỉ còn một chiếc y cũ rách.

Về phần truyền giáo, Đại sư đứng theo lập trường Trung đạo, tùy căn cơ mỗi người mà quyền biến chỉ dạy. Thấy cư dân quanh vùng phần nhiều khổ tật bệnh, Ngài rộng truyền pháp môn Tịnh độ, khuyên mọi người đều nên niệm Phật. Trên đá, nơi gốc cây, ven đường, Đại sư đều có viết lời Thánh giáo, khuyên tỉnh ngộ lẽ đạo việc đời, cần chuyên niệm Phật. Do đức hóa của Ngài, từ đó không cần chỉ dẫn nhiều, mà lần lượt kẻ mang vải gạo, người khiêng đá gỗ, đến càng lúc càng đông, xây thành cảnh chùa, đến nỗi có dư bố thí cho kẻ nghèo đói. Ngài vẫn thản nhiên, không khước từ cũng không khuyến khích, để họ xây cất sửa dọn tùy tâm. Chẳng mấy lúc, nơi vùng hoang sơn trước kia đã trở thành cảnh Lan-nhã thanh u đồ sộ. Lần lần về sau, bốn phương xa gần, người tín hướng quy y niệm Phật càng nhiều, như nước trăm sông đổ về biển, phải lấy số vạn mà kể.

Trước đó, có ngài Thích Pháp Chiếu ở Lô Sơn, một hôm nhập định, thần thức dạo chơi cõi Cực Lạc. Bên đức Phật, thấy có vị Tăng mặc áo rách đứng hầu. Đức A-di-đà chỉ vị Tăng ấy mà bảo rằng: “Ngươi có biết chăng, người này là Sa-môn Thừa Viễn ở Hoành Sơn đấy!”. Sau khi xuất định, Pháp Chiếu đến Hoành Sơn tìm. Lúc gặp Thừa Viễn đại sư, nhìn đúng là vị Tăng áo rách mà mình đã thấy, liền xin theo làm đệ tử.

Về sau, ngài Pháp Chiếu đi truyền giáo khắp nơi, danh đức rộng lớn, được vua Đại Tông nhà Đường phong làm Quốc Sư. Nhân khi nhàn nhã, Quốc sư thuật lại đạo hạnh của thầy mình cho vua nghe. Đại Tông muốn thỉnh ngài Thừa Viễn đến kinh để học đạo, nhưng rồi tự biết đó là bậc chí đức không thể vời rước được, liền xoay về phương Nam, hướng về phía Hoành Sơn mà đảnh lễ. Kế đó, vua truyền chỉ phong tặng chỗ ở của Ngài hai tấm biển: một tấm đề “Sắc Tứ Di-đà Tự”, tấm kia niêm mấy chữ “Bát Chu Tam-muội Đạo Tràng”. Vua lại truyền cho ông Liễu Tôn Nguyên soạn bài văn ký sự khắc vào bia đá, dựng bên cổng trước chùa.

Vào năm Trinh Ngươn thứ mười tám đời Đường, nhằm ngày 19 tháng 07, Đại sư an lành thị tịch, thọ 91 tuổi.

4. Pháp Chiếu Đại Sư

Pháp Chiếu đại sư, chưa rõ là người bậc thế nào?

Trong năm Đại Lịch thứ Hai đời nhà Đường, hàng đạo tục được biết Ngài ở chùa Vân Phong tại Hoành Châu, thường chuyên cần tu tập.

Một buổi sáng, vào lúc thanh trai, Ngài thấy trong bát cháo ở Tăng đường hiện rõ bóng mây ngũ sắc. Trong mây hiện ra cảnh sơn tự, phía Đông Bắc chùa có dãy núi, chân núi có khe nước. Phía Bắc khe nước có cửa ngõ bằng đá. Trong ngõ đá lại có một ngôi chùa to, biển đề “Đại Thánh Trúc Lâm Tự”. Mấy hôm sau, Ngài lại thấy nơi bát cháo hiện rõ cảnh chùa lớn ấy, gồm vườn ao, lâu đài tráng lệ nguy nga, và một vạn Bồ-tát ở trong đó.

Ngài đem cảnh tượng ấy hỏi các bậc tri thức. Một vị cao Tăng bảo: “Sự biến hiện của chư Thánh khó nghĩ bàn được. Nhưng nếu luận về địa thế non sông, thì đó là cảnh Ngũ Đài Sơn”. Nghe lời ấy, Ngài có ý muốn đến viếng Ngũ Đài thử xem sự thật ra thế nào.

Năm Đại Lịch thứ tư, Đại sư mở đạo tràng niệm Phật tại chùa Hồ Đông. Ngày khai hội, cảm mây lành giăng che chốn đạo tràng. Trong mây, hiện ra cung điện lầu các, Phật A-di-đà cùng hai vị Bồ-tát Quán Âm, Thế Chí hiện thân vàng sáng chói cả hư không. Khắp thành Hoành Châu, bá tánh trông thấy đều đặt bàn đốt hương đảnh lễ. Cảnh tượng ấy hiện ra giây lâu mới ẩn mất. Do điềm lành này, rất nhiều người phát tâm tinh tấn niệm Phật. Đạo tràng khai liên tiếp được năm hội.

Một hôm, Đại sư gặp cụ già bảo: “Ông từng có ý niệm muốn đến Kim Sắc thế giới tại Ngũ Đài Sơn để đảnh lễ đức Đại Thánh Văn-thù, sao đến nay vẫn chưa thực hành ý nguyện?”. Nói xong liền ẩn mất. Được sự nhắc nhở, Ngài sửa soạn hành trang, cùng mấy pháp hữu, đồng viếng Ngũ Đài.

Năm Đại Lịch thứ năm, vào ngày mùng 06 tháng 04, Đại sư cùng đồng bạn mới đến chùa Phật Quang ở huyện Ngũ Đài. Đêm ấy, vào khoảng canh Tư, Ngài thấy ánh sáng lạ từ xa chiếu đến thân mình, liền nhắm phỏng chừng tia sáng mà theo dõi. Đi được năm mươi dặm thì đến một dãy núi, dưới chân núi có khe nước, phía Bắc khe có cửa cổng bằng đá. Nơi cửa, có hai vị đồng tử đứng đón chờ, tự xưng là Thiện Tài và Nan-đà. Theo chân hai đồng tử dẫn đường, Ngài đến một ngôi chùa nguy nga, biển đề: “Đại Thánh Trúc Lâm Tự”. Nơi đây đất vàng, cây báu, ao sen, lầu các rất kỳ diễm trang nghiêm. Cảnh giới quả đúng như ảnh tượng đã thấy nơi bát cháo khi trước.

Ngài vào chùa, lên giảng đường, thấy đức Văn-thù bên Tây, đức Phổ Hiền bên Đông. Hai vị đều ngồi tòa Sư tử báu cao đẹp, đang thuyết pháp cho một muôn vị Bồ-tát ngồi phía dưới lặng lẽ lắng nghe. Pháp Chiếu bước đến chí thành đảnh lễ, rồi quỳ xuống thưa rằng: “Kính bạch Đại Thánh! Hàng phàm phu đời mạt pháp, cách Phật đã xa, chướng nặng nghiệp sâu, tri thức kém hẹp, tuy có Phật tánh mà không biết làm sao hiển lộ. Giáo pháp của Phật lại quá rộng rãi mênh mông, chưa rõ pháp môn nào thiết yếu dễ tu hành cho mau được giải thoát?”.

Đức Văn-thù bảo: “Thời kỳ này chính là đúng lúc các người nên niệm Phật. Trong các hành môn không chi hơn niệm Phật và gồm tu phước huệ. Thuở đời quá khứ, Ta nhờ quán Phật, niệm Phật, cúng dường Tam Bảo mà được Nhất thiết chủng trí. Tất cả các pháp như: Bát-nhã Ba-la-mật, những môn thiền định rộng sâu, cho đến chư Phật cũng từ niệm Phật mà sinh. Vì thế nên biết, niệm Phật là vua trong các pháp môn”.

Ngài Pháp Chiếu lại hỏi: “Bạch Đại Thánh! Nên niệm như thế nào?”.

Đức Văn-thù dạy: “Về phương Tây của thế giới này, có Phật A-di-đà giáo chủ cõi Cực Lạc. Đức Thế Tôn đó nguyện lực không thể nghĩ bàn! Ngươi nên chuyên niệm danh hiệu của Ngài nối tiếp không gián đoạn, thì khi mạng chung, quyết được vãng sinh, chẳng còn bị thối chuyển”.

Nói xong, hai vị đại Thánh đồng đưa tay vàng xoa đầu ngài Pháp Chiếu và bảo rằng: “Do ngươi niệm Phật, nên không lâu sẽ chứng được quả Vô Thượng Bồ-đề. Nếu thiện nam tín nữ nào muốn mau thành Phật, thì không chi hơn niệm Phật. Kẻ ấy nhất định sẽ mau lên ngôi Chánh Đẳng Chánh Giác”.

Được hai vị Đại Thánh thọ ký xong, ngài Pháp Chiếu vui mừng đảnh lễ rồi từ tạ lui ra.

Hai đồng tử khi nãy theo sau tiễn đưa. Vừa ra khỏi cổng, Ngài quay lại thì người và cảnh đều biến mất. Ngài liền dựng đá đánh dấu chỗ ấy, rồi trở về chùa Phật Quang.

Đến ngày 13 tháng 04, Pháp Chiếu đại sư cùng hơn năm mươi vị Tăng đồng đến hang Kim Cang, thành tâm đảnh lễ hồng danh ba mươi lăm đức Phật. Vừa lạy được mười lượt, Ngài bỗng thấy hang Kim Cang rộng lớn thanh tịnh trang nghiêm có cung điện bằng lưu ly, đức Văn-thù, Phổ Hiền đồng ngự trong ấy. Hôm khác, Ngài lại đi riêng đến hang Kim Cang, gieo mình đảnh lễ, nguyện thấy Đại Thánh. Đang khi lạy xuống vừa ngước lên, Đại sư bỗng thấy một Phạm Tăng tự xưng là Phật-đà-ba-ly. Vị này đưa Ngài vào một đại điện trang nghiêm, biển đề là “Kim Cang Bát-nhã Tự”. Toàn điện nhiều thứ báu lạ đẹp mầu, ánh sáng lấp lánh. Dù đã nhiều lần thấy sự linh dị, nhưng Ngài vẫn chưa thuật lại với ai cả.

Tháng chạp năm ấy, Ngài nhập đạo tràng niệm Phật nơi chùa Hoa Nghiêm, định kỳ tuyệt thực tu hành, nguyện vãng sinh về Tịnh độ. Đêm đầu hôm ngày thứ bảy, đang lúc niệm Phật, Đại sư bỗng thấy một vị Phạm Tăng bước vào bảo: “Ông đã thấy cảnh giới ở Ngũ Đài Sơn, sao không truyền thuật cho người đời cùng được biết?”. Nói xong, liền ẩn mất.

Hôm sau, trong lúc niệm Phật, vì Phạm Tăng hiện ra, bảo y như trước. Ngài đáp: “Không phải tôi dám giấu kín Thánh tích, nhưng chỉ sợ nói ra người đời không tin sinh sự chê bai mà thôi”. Phạm Tăng bảo: “Chính đức Đại Thánh Văn-thù hiện tại ở núi này, mà còn bị người đời hủy báng, thì ông còn lo ngại làm chi? Hãy đem những cảnh giới mà ông thấy được truyền thuật với chúng sinh làm duyên cho kẻ được biết, phát khởi tâm Bồ-đề”. Ngài tuân lời, nhớ kỹ lại những sự việc đã thấy, rồi nghi chép ra truyền lại cho mọi người.

Năm sau, sư Thích Huệ Tùy ở Giang Đông cùng với chư Tăng chùa Hoa Nghiêm, theo Pháp Chiếu đại sư đến hang Kim Cang lễ Phật. Kế đó lại đến chỗ dựng đá lúc trước để chiêm ngưỡng dấu cũ. Đại chúng còn đang ngậm ngùi ngưỡng vọng, bỗng đồng nghe tiếng chuông hồng chung từ vách đá vang ra. Giọng chuông thanh thoát ngân nga, nhặt khoan rành rẽ. Ai nấy đều kinh lạ, đồng công nhận những lời thuật của ngài Pháp Chiếu là đúng sự thật. Vì muốn cho người viếng cảnh đều phát đạo tâm, Tăng chúng nhân cơ duyên ấy, khắc những sự việc của Ngài nghe thấy vào vách đá. Về sau, ngay nơi đó, một cảnh chùa trang nghiêm được dựng lên, vẫn lấy hiệu là Trúc Lâm Tự để lưu niệm.

Triều vua Đức Tông, Pháp Chiếu đại sư mở đạo tràng niệm Phật tại Tinh Châu, cũng liên tiếp được năm hội. Mỗi đêm, vua và người trong cung nghe tiếng niệm Phật rất thanh thoát từ xa đưa vẳng lại. Sau khi cho người dò tìm, được biết đó là tiếng niệm Phật ở đạo tràng tại Tinh Châu, vua phái sứ giả mang lễ đến thỉnh Ngài vào triều. Ngài mở đạo tràng niệm Phật tại hoàng cung, cũng gồm năm hội. Vì thế, người đương thời gọi Ngài là Ngũ Hội Pháp Sư.

Từ đó, Đại sư tinh tấn tu hành, ngày đêm không trễ. Một đêm nọ, Ngài thấy vị Phạm Tăng khi trước là Phật-đà-ba-ly hiện đến bảo: “Hoa sen công đức của ông nơi ao Thất bảo ở cõi Cực Lạc đã thành tựu. Ba năm sau là đúng thời kỳ hoa nở, ông nên chuẩn bị”. Đến kỳ hạn, Đại sư gọi Tăng chúng lại căn dặn rằng: “Ta về Cực Lạc, mọi người phải gắng tinh tu!”. Nói xong, Ngài ngồi ngay yên lặng mà tịch.

5. Thiếu Khang Đại Sư họ Châu

Thiếu Khang đại sư họ Châu, người đời nhà Đường, ở vùng núi Tiên Đô xứ Tấn Vân.

Từ buổi sơ sinh, Ngài im lặng không nói

Năm bảy tuổi, nhân lễ trai hội, Ngài theo mẹ vào chùa lạy Phật. Bà chỉ tượng Phật hỏi đùa rằng: “Con có biết đó là ai chăng?”. Ngài bỗng ứng tiếng đáp: “Đức Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Thế Tôn!”. Biết con mình có duyên lành với Phật pháp, cha mẹ Ngài liền cho đi xuất gia. Căn cơ linh mẫn, đến mười lăm tuổi Ngài đã thông suốt được năm bộ kinh.

Niên hiệu Trinh Ngươn năm đầu, Đại sư đến viếng chùa Bạch Mã ở Lạc Dương. Thấy chỗ để sách trong đại điện phóng quang, Ngài lại tìm xem, thì ánh sáng phát xuất từ tập văn Tây Phương Hóa Đạo của Hòa thượng Thiện Đạo. Ngài liền khấn rằng: “Nếu tôi có nhân duyên với Tịnh độ, nguyện tập văn này phóng quang một lần nữa!”. Vừa dứt lời, ánh sáng lại càng chiếu ra rực rỡ, trong ấy, ẩn hiện hình dạng các hóa Bồ-tát. Ngài chấp tay nói: “Kiếp đá có thể mòn, nguyện này thề không đổi!”.

Nhân đó, Đại sư đến Trường An, chiêm lễ di tượng của Hòa thượng Thiện Đạo. Đang khi lễ, tượng của Nhị Tổ bỗng bay lên, bảo Ngài rằng: “Ông nên y theo lời dạy của Ta mà phổ độ chúng sinh, ngày kia công thành, sẽ sinh về Cực Lạc!”. Đi ngang qua Giang Lăng, Ngài gặp một Sư cụ bảo: “Ông muốn hoằng hóa, nên sang xứ Tân Định, cơ duyên ở nơi đó!”. Nói xong bỗng biến mất.

Sau thời gian ấy, Đại sư đến Tân Định, thấy người xứ này chưa biết niệm Phật là gì, Ngài liền dùng phương tiện. Ban sơ, Ngài quyên tiền dẫn dụ trẻ con niệm Phật. Nếu đứa nào niệm Phật được một câu, Ngài liền thưởng cho một đồng tiền. Như thế hơn một năm, rồi không cần thưởng tiền, chúng nó cũng niệm. Tập quán lần quen, về sau lúc gặp Đại sư ở trong nhà hay đi chơi ngoài đường, chúng cũng vẫn niệm. Từ đó, nam nữ, già trẻ, hễ thấy Ngài đều niệm A-di-đà Phật. Nhân sự việc này, dân chúng vùng ấy lần lượt phát tâm thờ cúng niệm Phật rất nhiều.

Thấy cơ duyên đã có phần thuần thục, Đại sư thành lập Tịnh Độ Đạo Tràng ở Ô Long Sơn, xây đàn tam cấp. Cứ đến ngày trai, thiện nam tín nữ đều họp nơi đó để niệm Phật nghe pháp. Thường thường, số người họp có trên ba ngàn. Mỗi khi thăng tòa, Ngài chấp tay to tiếng niệm Phật, thì đại chúng ở dưới đều xướng niệm hòa theo. Có lúc, Đại sư xưng một câu Phật hiệu, hội chúng thấy một đức Phật từ miệng Ngài bay ra. Niệm đến mười câu, trăm, ngàn câu đều có mười, trăm, ngàn, ngàn vị Phật bay ra, liên tiếp như xâu chuỗi. Đại sư bảo: “Quý vị đã được thấy Phật, chắc chắn đều sẽ vãng sinh!”. Mọi người nghe nói đều có cảm niệm vui mừng an ủi.

Năm Trịnh Ngươn thứ 21, vào tháng 10, Đại sư họp hết hàng đạo tục đến dặn bảo: “Các vị nên phát tâm chán lìa cõi Ta-bà ác trược, ưa thích miền Tịnh độ an vui, mà cố gắng tu hành tinh tấn. Giờ phút này, ai thấy được quang minh của Ta, kẻ ấy mới thật là hàng đệ tử”. Nói xong, Ngài phóng vài tia sáng lạ đẹp dài, rồi ngồi yên lặng mà tịch.

Đại chúng xây tháp Ngài ở Đài Nham, tôn hiệu là Đài Nham Pháp Sư.

6. Diên Thọ Đại Sư

Diên Thọ đại sư, tự Xung Huyền, người đời Tống, con của họ Vương ở Tiền Đường. Lúc thiếu thời, Ngài thích tụng kinh Pháp Hoa, cảm đến bầy dê quỳ mọp nghe kinh.

Lớn lên, Xung Huyền được Văn Mục Vương tuyển dụng, cho làm quan trông nom về thuế vụ. Nhiều lần Ngài lấy tiền công quỹ đến Tây Hồ mua cá trạnh phóng sinh. Việc phát giác ra, bị Pháp ty thẩm định, xử Ngài vào tội tử hình. Lúc sắp đem đi chém, Văn Mục Vương bí mật cho người rình xem, nếu thấy Ngài nhan sắc thản nhiên, không tỏ về buồn rầu lo sợ, thì phải đem về trình lại. Thấy Ngài trước sau vẫn an điềm, Sứ giả trao sắc chỉ cho quan Giám trảm, rồi dẫn về diện kiến vua. Khi Vương hỏi duyên cớ, Ngài đáp: “Tôi tự dụng của công, đáng tội chết. Nhưng toàn số tiền đó, tôi dùng mua cứu được muôn ức sinh mạng, thì dù thân này có chết, cũng được vãng sinh về cõi Liên Bang, vì thế nên tôi không lo sợ”. Văn Mục Vương nghe qua cảm động, ra lệnh tha bổng. Ngài xin xuất gia, Vương bằng lòng.

Sau đó, Ngài đến quy đầu với Thúy Nham thiền sư ở Tứ Minh. Kế lại tham học với Thiều Quốc Sư ở Thiên Thai, tỏ ngộ tâm yếu, được Quốc sư ấn khả. Ngài từng tu Pháp Hoa Sám ở chùa Quốc Thanh. Trong lúc thiền quán, thấy đức Quán Thế Âm Bồ-tát rưới nước cam lồ vào miệng, từ đó được biện tài vô ngại. Do túc nguyện muốn chuyên chủ về Thiền hoặc Tịnh mà chưa quyết định, Ngài đến thiền viện của Trí Giả đại sư, làm hai lá thăm: một lá đề Nhất Tâm Thiền Định, còn lá kia là Trang Nghiêm Tịnh Độ. Kế lại chí tâm đảnh lễ Tam Bảo sám hối, cầu xin gia bị. Đến khi rút thăm, luôn bảy lần đều nhằm lá Trang Nghiêm Tịnh Độ. Từ đây, Ngài nhất ý tu về Tịnh nghiệp.

Năm Kiến Long thứ Hai đời Tống, Trung Ý Vương thỉnh Ngài trụ trì chùa Vĩnh Minh, tôn hiệu là Trí Giác Thiền Sư. Ngài ở đây trước sau mười lăm năm, độ được một ngàn bảy trăm vị Tăng.

Đại sư lập công khóa, mỗi ngày đêm hành trì một trăm lẻ tám điều và hai điều đặc biệt trong đó, là tụng một bộ kinh Pháp Hoa, niệm mười muôn câu Phật hiệu. Ban đêm, khi Ngài qua gộp núi khác niệm Phật, những người ở gần nghe tiếng loa pháp cùng thiên nhạc trầm bổng du dương.

Về kinh Pháp Hoa, trọn đời Ngài tụng được một muôn ba ngàn bộ.

Đại sư thường truyền giới Bồ-tát, mua chim cá phóng sinh, thí thực cho quỷ thần, tất cả công đức đều hồi hướng về Tịnh độ. Ngài có trước tác một trăm quyển Tông Cảnh Lục, hội chỉ thú dị đồng của ba tông: Hoa Nghiêm, Pháp Hoa và Duy Thức.

Đại sư lại soạn ra tập Vạn Thiện Đồng Quy. Trong đây, lời lẽ chỉ dạy về Tịnh độ rất thiết yếu, đại lược như sau:

Hỗi: Cảnh Duy tâm Tịnh độ đầy khắp mười phương, sao không hướng nhập mà lại khởi lòng thủ xả, cầu về Cực Lạc gởi chất ở đài sen. Như thế, đâu hợp với lý Vô sinh, và đã có tâm chán uế ưa tịnh thì đâu thành bình đẳng?

ấp: Sinh Duy tâm Tịnh độ là phần của các bậc đã liễu ngộ tự tâm, chứng được Pháp thân vô tướng. Tuy nhiên, theo kinh Như Lai Bất Từ Nghị Cảnh Giới thì những bậc chứng Sơ địa vào Duy tâm Tịnh độ cũng nguyện xả thân để mau sinh về Cực Lạc. Thế thì biết ngoài tâm không pháp, cảnh Cực Lạc đâu ngoài Duy tâm? Còn về Phần “Lý Vô sinh mà môn bình đẳng”, tuy lý thuyết là như thế, nhưng kẻ lực lượng chưa đủ, trí cạn tâm thô, tập nhiễm nặng, lại gặp cảnh trần lôi cuốn mạnh mẽ, dễ gì mà chứng nhập được! Những kẻ ấy cần phải cầu sinh Cực Lạc, nhờ cảnh duyên thắng diệu ở đó mới mau chứng vào Tịnh độ Duy tâm và thực hành Bồ-tát.

Thập Nghi Luận cũng nói: “Bậc trí tuy liễu Vô sinh, song vẫn hăng hái cầu về Tịnh độ, vì thấu suốt sinh thể như huyễn không thể tìm được. Đó mới thật là chân Vô sinh. Còn kẻ ngu không hiểu lý ấy, bị nghĩa sinh ràng buộc nghe nói sinh thì nghĩ rằng thật có tướng sinh, nghe nói Vô sinh lại tưởng lầm là không sinh về đâu cả. Do đó, họ mới khởi niệm thị phi chê bai lẫn nhau, gây thành nghiệp tà kiến báng pháp. Đáng thương thay!”.

Hỗi: Kinh luận nói: “Ngoài tâm không pháp, Phật không khứ lai”. Nhưng sao người tu Tịnh độ lại thấy Thánh tướng và việc Phật đến rước là như thế nào?

ấp: Kinh Bát Chu nói: “Như người nằm mơ thấy bảy thứ báu, hàng thân thuộc đều cùng vui mừng. Đến lúc thức tỉnh nghĩ lại, chẳng biết cảnh sang giàu ấy ở đâu? Sự việc niệm Phật cũng như vậy”. Thế thì biết các cảnh đều như huyễn do duy tâm hiện, tức có mà không, tuy hiện tướng khứ lai song thật không có đến đi. Cho nên, Thánh cảnh tuy như huyễn, song chẳng phải không có huyễn tướng; việc đến đi tuy không thật, song chẳng ngại gì có tướng khứ lai. Đó là lý trung đạo. Huyễn sắc tức chân không chính huyễn sắc, có và không đều vô ngại. Tất cả sự và cảnh chúng sinh đang sống ở thế gian này cũng đều như thế.

Thật ra, chân cảnh của duy tâm, không có Đông Tây cùng phương hướng, không có đến đi qua lại, cũng không có một pháp nào ngoài tâm. Nhưng với bậc đã dứt trừ nghiệp hoặc, chứng Vô sinh nhẫn, vào Thật tướng của Pháp thân, mới dám đương sánh huyền lý trên đây. Còn hàng sơ tâm mới tu, chớ nên lầm tự nhận.

Hỗi: Theo Quán kinh thì phải nhiếp tâm vào định, quán y báo chánh báo cõi Cực Lạc rõ ràng, mới có thể về Tịnh độ. Tại sao kẻ chưa vào định, tu môn Trì danh cũng được vãng sinh?

ấp: Chín phẩm sen ở Cực Lạc gồm nhiếp tất cả công hạnh thấp cao, song không ngoài hai điểm: Định tâm và Chuyên tâm.

1. Định tâm hay định thiện, là những vị tu tập quán pháp thành công, hoặc trì danh hiệu được vào Tam-muội. Các vị này sẽ sinh về Thượng phẩm.

2. Chuyên tâm hay tán thiện, là những người chỉ niệm danh hiệu chưa được vào Tam-muội, hoặc tu các công đức lành khác trợ giúp, rồi phát nguyện hồi hướng. Hạng người này cũng được dự vào các phẩm thấp hơn, nhưng cần phải trọn đời quy mạng Tây Phương và chuyên cần tu tập. Lúc ngồi nằm, thường xây mặt về Tây Phương. Khi niệm Phật, lúc phát nguyện, phải chí thành không xao lãng. Tâm niệm khẩn thiết ấy ví như kẻ bị gông xiềng tù ngục cầu mau thoát ly, người lâm cảnh lửa cháy, nước trôi, hoặc giặc cướp rượt đuổi mong được thoát khỏi nạn. Lại phải vì sự sống chết, phát lòng Bồ-đề, cầu sinh Tây Phương, mau thành Thánh đạo để đền đáp bốn ân, nối thạnh Tam Bảo, độ khắp muôn loài. Chí thành như thế, quyết chắc sẽ được kết quả.

Trái lại, nếu lời và hạnh không hợp nhau, sức Tín Nguyện yếu kém, tâm không chuyên nhất, sự tu hành không tương tục thì khó hy vọng thành công. Bởi kẻ biếng trễ như thế e khi lâm chung bị nghiệp chướng trở ngăn, chẳng gặp bạn lành, lại thêm thân thể đau nhức, tâm thức hôn mê, không thành chánh niệm. Vì sao? Bởi hiện tại là nhân, khi lâm chung là quả. Cần phải nhân cho chắc thật, quả mới không hư luống, như tiếng hòa nhã thì vang dịu dàng, hình ngay tất bóng thẳng vậy. Nếu muốn khi sắp chết mười niệm thành công, thì ngay lúc hiện tại phải một lòng chí thiết tinh tấn tu hành, tất không còn điều chi lo ngại.

Đại khái, chúng sinh bởi tâm chia thiện ác, nên báo có khổ vui. Do nơi ba nghiệp tạo thành, mới khiến sáu đường luân chuyển. Nếu tâm sân hận, tà dâm, đó là nghiệp Địa ngục; tâm tham lam, bỏn xẻn là nghiệp Ngạ quỷ; tâm ngu si, tà kiến là nghiệp Súc sinh; tâm ngã mạn, tự cao là nghiệp Tu-la. Giữ bền Ngũ giới, là nghiệp người. Tiến tu Thập Thiện là nghiệp Trời. Chứng ngộ nhân không, là nghiệp Duyên giác. Tu trọn Lục độ, là nghiệp Bồ-tát. Chân từ bình đẳng là nghiệp Phật.

Nếu tâm thanh tịnh niệm Phật thì hóa sinh về Tịnh độ, ở nơi bảo các hương đài. Như ý mê tối đục nhơ, tất bởi chất cõi uế bang, nương cảnh nổng gò hầm hố. Cho nên, lìa được tự tâm không còn biệt thể, muốn được quả tịnh phải chủng nhân mầu. Như tánh nước chảy xuống, tánh lửa bốc lên, lý thế tất nhiên, có chi mà ngờ vực!

Đại sư lại vì người đương thời còn phân vân giữa Thiền và Tịnh, chưa biết tu môn nào được kết quả chắc chắn, nên làm kệ Tứ Liệu Giản để so sánh sự lợi hại như sau:

“Có Thiền không Tịnh độ

Mười người, chín lạc lộ.

Ấm cảnh khi hiện ra

Chớp mắt đi theo nó.

Không Thiền có Tịnh độ

Muôn tu muôn thoát khổ.

Vãng sinh thấy Di-đà

Lo gì chẳng khai ngộ?

Có Thiền có Tịnh độ

Như thêm sừng mãnh hổ.

Hiện đời làm thầy người

Về sau thành Phật, Tổ.

Không Thiền không Tịnh độ

Giường sắt, cột đồng lửa!

Muôn kiếp lại ngàn đời

Chẳng có nơi nương tựa”.

Niện hiệu Khai Bảo thứ tám, ngày 26 tháng 02 vào buổi sáng sớm, Đại sư lên chánh điện đốt hương lễ Phật. Lễ xong, Ngài họp đại chúng lại dặn dò khuyên bảo, rồi ngồi kiết già trên pháp tòa mà tịch, thọ 72 tuổi.

Về sau, có vị Tăng từ Lâm Xuyên đến, trọn năm kinh hành lễ tháp của Đại sư. Có người hỏi duyên cớ, vị Tăng đáp: “Năm trước tôi bị bệnh nặng, thần thức vào cõi U minh, thấy bên tả đại điện có thờ tượng một vị Hòa thượng, Minh Vương đang cung kính lễ bái tượng ấy. Tôi thưa hỏi nguyên do, mới biết đó là tượng Diên Thọ thiền sư ở chùa Vĩnh Minh tại Hàng Châu. Ngài đã vãng sinh về phẩm Thượng thượng nơi cõi Cực Lạc. Minh Vương trọng đức nên kính thờ”.

Theo truyện ký, vào thời Ngô Việt Vương, tại Hàng Châu có Hòa thượng Hành Tu, trụ trì chùa Pháp Tướng. Ngài vốn con nhà họ Trần ở Tuyền Nam, sinh ra có tướng lạ, hai tai dài chấm tới vai, đến bảy tuổi vẫn không nói. Một hôm, có người đùa hỏi, Ngài bỗng ứng tiếng đáp: “Nếu không gặp bậc tác gia, nói cho lắm chỉ xô phá lầu khói mà thôi!”.

Sau Ngài xuất gia ở chùa Ngõa Quan tại Kim Lăng, tham phỏng với Tuyết Phong thiền sư, ngộ được tâm ấn. Từ đó, mãnh thú gặp Ngài đều thuần thục, từng nổi tiếng là ông Tăng có nhiều sự phi thường, linh dị. Có một Đại đức hỏi: “Thế nào ý nghĩa của đôi tai dài?”. Ngài không đáp, chỉ kéo dài hai tai mà biểu thị. Lại hỏi: “Chót núi phương Nam có khó đến chăng?”. Ngài đáp: “Chỉ tại chưa từng đi đến”. Hỏi: “Sau khi đến rồi như thế nào?”. Đáp: “Một mình nằm nghỉ đỉnh non cao”.

Ngô Việt Vương nhân khi đến chùa lễ Phật, có hỏi ngài Vĩnh Minh: “Bạch tôn đức! Thời nay có bậc chân Tăng nào khác chăng?”. Đại sư đáp: “Có Hòa thượng Hành Tu, đôi tai dài, chính là Phật Định Quang ứng thân đấy!”. Vương tìm đến ngài Hành Tu cung kính đảnh lễ, tôn xưng là Định Quang Như lai ra đời. Ngài bảo: “Vĩnh Minh đại sư thật khéo nhiều lời. Ông ta cũng chính là Phật A-di-đà ứng thân đó”. Nói xong, ngồi yên mà hóa. Ngô Việt Vương vội vã trở về chùa Vĩnh Minh định gạn hỏi hết, thì Đại sư cũng đã thị tịch.

Do đó, người đương thời truyền nhau: Vĩnh Minh đại sư là Phật A-di-đà ứng hóa. Và hàng Tăng tục mới lấy ngày sinh nhật của Đại sư ngày 17 tháng 11 là lễ vía kỷ niệm Phật A-di-đà.

7. Tỉnh Thường Đại Sư

Tỉnh Thường đại sư, tự Thứu Vi, người đời Tống, con nhà họ Nhan ở Tiền Đường. Khi lên bảy, Ngài gặp duyên lành xuất gia và mới mười bảy tuổi đã thọ giới Cụ túc.

Trong niên hiệu Thuần Hóa, Đại sư đến trụ trì chùa Chiêu Khánh. Vì mến di phong của Lô Sơn, Ngài tạo tượng Phật A-di-đà kết hợp bạn sen, thành lập Liên Xã. Sau đó, Ngài lại chích máu tả phẩm Tịnh Hạnh trong kinh Hoa Nghiêm. Do nhân duyên ấy, lại đổi tên Liên Xã thành Tịnh Hạnh Xã. Hàng sĩ phu dự vào hội niệm Phật được một trăm hai mươi người. Ngoài ra, các hàng nam nữ thiện tín khác có đến hàng vạn, đều xưng là Tịnh Hạnh đệ tử. Trong đây, quan Tướng Quốc Hương Văn Đán làm hội thủ. Riêng phần Tỷ-kheo Tăng, Đại sư độ được hơn một ngàn người, đều tu môn niệm Phật.

Năm Thiên Hy thứ Tư, ngày 12 tháng Giêng, theo thường khóa, Đại sư ngồi kiết già niệm Phật. Giây lát, bỗng nói to lên rằng: “Đức A-di-đà Thế Tôn đã đến!”. Rồi ngồi yên mà hóa, thọ 62 tuổi.

Trong giờ Ngài thị tịch, đại chúng thấy mặt đất biến thành sắc vàng ròng, rất lâu mới hoàn phục như cũ.

Li phu:

Kinh dạy: “Tâm tịnh thì cõi Phật thanh tịnh”. Đại sư đã tu nhân niệm Phật thanh tịnh, tất phải cảm tịnh quả. Nhưng vì tịnh quá mãnh liệt nên không đợi sinh về Tây Phương mà ảnh hưởng đến cảnh uế độ này tạm biến thành sắc hoằng kim. Đây là một bằng chứng cho biết cảnh đất vàng cây báu ở Tịnh độ là có thật, vì “Tất cả pháp do tâm tạo”.

Quả vị của Đại sư tất ở ngôi Thượng thượng phẩm.

8. Châu Hoằng Đại Sư

Châu Hoằng đại sư, tự Phật Huệ, hiệu Liên Trì, người đời Minh, con nhà họ Trầm, ở xứ Nhân Hòa tại Hàng Châu.
Năm 17 tuổi, Ngài đã được bổ làm Giáo thọ, nổi tiếng là người học hạnh kiêm toàn.

Láng giềng có bà lão, mỗi ngày niệm Phật vài ngàn câu, lấy làm thường khóa. Nhân lúc rỗi rảnh sang chơi, Ngài hỏi duyên cớ, bà đáp: “Ông nhà tôi lúc sinh tiền chuyên lo niệm Phật, đến khi chết, không đau bệnh chi, vui vẻ vòng tay cáo từ mọi người mà qua đời. Do đó, tôi biết công đức niệm Phật không thể nghĩ bàn!”. Ngài nghe nói cảm động, từ đó hằng để ý đến pháp môn Tịnh độ. Lại viết bốn chữ: “Sống Chết Việc Lớn” dán nơi vách đầu bàn để tự răn nhắc.

Năm 32 tuổi, Ngài xuất gia, rồi đi tham phỏng các bậc danh đức. Sau cùng, đến học đạo với Tiếu Nham Nguyệt Tâm thiền sư, tham câu “niệm Phật là ai?”. Một hôm, đang đi tham cứu bỗng chợt tỉnh ngộ, làm bài kệ rằng:

“Hai chục năm qua việc đáng nghi

Ngoài ba ngàn dặm gặp sao kỳ!

Đốt hương, liệng kích dường như mộng

Ma, Phật, tranh suông lẫn thị phi!”.

Niên hiệu Long Khánh thứ Năm, Đại sư đi khất thực ngang qua đỉnh Vân Thê, thấy cảnh nước non cực kỳ u nhã, quyết ý cất am ở tu. Trong núi ấy có nhiều cọp, Ngài hành phép Du-già thí thực, từ đó, các loài thú dữ không còn khuấy hại nữa. Mấy năm sau, gặp lúc nắng hạn lâu, cư dân quanh vùng đến am cầu xin đảo võ. Ngài đáp: “Tôi chỉ biết niệm Phật, không có tài chi khác!”. Mọi người vẫn nài nỉ cố thỉnh. Đại sư cảm lòng thành của dân chúng, ra thảo am gõ mõ đi dọc theo bờ ruộng mà niệm Phật. Bước chân của Ngài đi đến đâu, mưa lớn rơi theo đến đó. Nhân dân vui mừng kính đức, cùng nhau hiệp xây cất điện chùa. Tăng chúng các nơi lần lượt nương về, không bao lâu, chỗ ấy thành cảnh đại Tòng lâm trang nghiêm thanh tịnh.

Đại sư tuy đã tỏ thiền cơ, nhưng xét thấy căn lực người thời mạt pháp kém yếu, kẻ nói lý thì nhiều song ngộ lý thật rất ít. Vì muốn lợi mình và người, nên Ngài chủ trương Tịnh độ, cực lực bác bỏ cuồng thiền. Bộ Phật Thuyết A-di-đà Kinh Sớ Sao do Ngài trước tác, dung hòa cả sự lý, gồm nhiếp khắp ba căn, lời dẫn giải vô cùng uyên áo.

Về trước, các bậc Tôn đức trong Phật giáo, tuy hoằng truyền Tịnh độ nhưng vẫn không bỏ Thiền tông, đến phiên Đại sư là người được chánh truyền tâm ấn từ ngài Tiếu Nham thuộc dòng Lâm Tế, lại chỉ hoằng dương Tịnh độ. Vì thế, các nhà Thiền học đương thời rất không bằng lòng. Ông Tào Lỗ Xuyên, một vị học Phật, hai phen gởi thư đến Vân Thê gạn hỏi. Ngài cũng hai phen phúc đáp mà vài đoạn có liên quan đến Tịnh độ.

Đại sư bình thời cũng tu các công đức để phụ trợ Tịnh nghiệp, như truyền giới pháp, khai những ao phóng sinh. Ngài lại thẩm định nghi Thủy Lục, hành Du-già Diệm Khẩu để cứu khổ U minh, truyền bá Văn Giới Sát, khiến người quy hóa làm lành rất nhiều.

Năm Vạn Lịch thứ 40, cuối tháng 06, Đại sư vào thành từ biệt các đệ tử và những người cố cựu, nói: “Tôi sắp đi nơi khác!”. Rồi Ngài trở về chùa thiết tiệc trà từ giã đại chúng. Mọi người không hiểu là duyên cớ gì. Đến chiều mùng 01 tháng 07, Ngài vào Tăng đường bảo: “Mai này tôi sẽ đi!”.

Qua chiều hôm sau, Đại sư kêu mệt rồi vào tư thất ngồi kiết già nhắm mắt. Chư Tăng, các đệ tử tại gia và những người cố cựu trong thành đều hội đến. Ngài mở mắt ra nhìn mọi người nói: “Các vị nên chân thật niệm Phật, đừng làm điều chi khác lạ, và chớ phá hoại quy củ của tôi!”. Nói xong, hướng về Tây chấp tay niệm Phật mà qua đời. Thọ được 81 tuổi.

9. Trí Húc Đại Sư Tự

Trí Húc đại sư tự Ngẫu Ích, người đời Thanh, họ Chung, nhà ở Ngô huyện. Thân phụ trọ trì chú Đại Bi và Bạch Y, mộng thấy đức Quán Âm đại sĩ trao cho một đứa bé trai mà sinh ra Ngài.

Thuở niên thiếu Ngài học Nho, từng viết sách bác Phật. Sau, nhân xem bộ Trúc Song Tùy Bút của Liên Trì đại sư, liền đốt quyển sách của mình viết. Năm 20 tuổi, Ngài đọc kinh Địa Tạng Bản Nguyện, phát ý xuất trần, mỗi ngày hằng niệm Phật.

Niên hiệu Thiên Khải năm đầu, Ngài 24 tuổi, sau khi nghe một Pháp sư giảng kinh, bỗng phát nghi tình, dụng công tham cứu. Ít lâu sau, được tỏ ngộ, liền đóng cửa nhập thất ở Ngô Giang. Thời kỳ ấy, Ngài đau nặng, mới quyết chí niệm Phật cầu sinh Tịnh độ. Bệnh vừa bớt, liền kết đàn trì chú Vãng Sinh một thất, đốt ba liều nơi cánh tay, thề phát lòng Bồ-đề cầu sinh Cực Lạc, để mau chứng đạo quả, sớm độ chúng hữu tình.

Về sau, Đại sư trụ trì trải qua các nơi: Ôn Lăng, Chương Châu, Thạch Thành, Thánh Khê, Trường Thủy và Tân An, rộng truyền giáo pháp Thiên Thai và môn niệm Phật. Thời bấy giờ, những người tu thiền ở các nơi, phần đông cho pháp môn Tịnh độ là Quyền giáo; khi gặp người niệm Phật, tất bảo tham cứu chữ “thùy”. Riêng Đại sư lại nhận định pháp Trì danh chính là tâm tông viên đốn. Có ông Trác Tả Xa, một nhà tu Thiền, đem những huyền lý bên Thiền gạn hỏi Tịnh độ, Ngài liền trả lời một cách thỏa đáng. Sau đó, Đại sư về dưỡng lão ở Linh Phong.

Bình thời, Đại sư từng khai thị rằng: Pháp môn Tịnh độ không chi lạ kỳ đặc biệt, yếu điểm chỉ là tin sâu, nguyện thiết và gắng sức thực hành mà thôi. Phật dạy: “Nếu người nào chuyên niệm A-di-đà, chính là Vô thượng thâm diệu Thiền”. Trí Giả đại sư bảo: “Niệm Phật Tam-muội là vua trong các môn Tam-muội”. Tổ Vân Thê cũng nói: “Một câu A-di-đà Phật bao trùm tám giáo, tròn nhiếp năm tông”.

Đáng tiếc, người thời nay xem niệm Phật là cạn cợt tầm thường, bảo đó là là công hạnh của hạng ngu phu, ngu phụ. Bởi thế nên lòng tin không chắc, chẳng gắng sức thực hành, trọn ngày lơ là, công phu khó thành tựu. Có kẻ lại lập phương tiện khéo bảo: “Muốn đi sâu vào niệm Phật Tam-muội, phải tham cứu chữ thùy”. Họ đâu biết rằng: Một tâm niệm hiện tiền vốn đã tự rời tứ cú, tuyệt bách phi, chẳng cần phải tác ý rời và tuyệt. Một câu niệm Phật là hiện tại, cũng vốn vượt tình lìa kiến, cần chi nói diệu nói huyền? Chỉ quý tin cho chắc, giữ cho vững, rời buông bỏ hết mà niệm. Hoặc mỗi ngày đêm niệm một muôn, hai muôn, năm muôn, bảy muôn, mười muôn câu, lấy sự nhất định không thiếu làm tiêu chuẩn. Như thế, quyết giữ đến trọn đời, thề không biến đổi. Và nếu đúng như thế mà không được vãng sinh, thì chư Phật trong ba đời đều thành vọng ngữ. Một khi được về Cực Lạc, vĩnh viễn không còn thối chuyển, tất cả pháp môn đều lần lượt hiện tiền.

Rất kiêng kỵ kẻ không có chủ trương, nay vầy mai khác. Khi gặp nhà thuyết giáo thì muốn tầm chương trích cú, học luật học kinh. Gặp người tu Thiền lại mong tham cứu thoại đầu, theo cơ phong chuyến ngữ. Gặp bậc trì luật, ưa thích ôm bát khất thực, tu hạnh đầu đà. Thế nên, sự sự không rồi, điều điều chẳng trọn. Đâu biết rằng khi câu Phật hiệu niệm được thuần thục, thì ba tạng, mười hai phần kinh gồm ở trong đó; một ngàn bảy trăm công án, cơ quan hướng thượng đều ở trong đó; ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, Tam tụ tịnh giới cũng ở trong đó.

Người chân thật niệm Phật, buông bỏ cả thân tâm thế giới là đại bố thí. Niệm Phật không khởi tham sân si là đại trì giới. Niệm Phật không quản nhân ngã thị phi là đại nhẫn nhục. Niệm Phật không gián đoạn, không tạp vọng là đại tinh tấn. Niệm Phật không còn vọng tưởng thô tế là đại thiền định. Niệm Phật không bị các pháp khác mê hoặc là đại trí huệ. Thử kiểm điểm lấy mình, nếu chưa quên thân tâm thế giới, chưa dứt niệm tham sân si, chưa tuyệt lòng thị phi nhân ngã, chưa hết gián đoạn tạp vọng, chưa trừ vọng tưởng bông lông, chưa khỏi bị pháp khác cuốn lôi mê hoặc, thì chưa phải là người chân thật niệm Phật.

Nếu muốn đến cảnh giới nhất tâm bất loạn, cũng không có cách gì lạ. Khi mới tập niệm, dùng chuỗi ký số rành rẽ, và khắc định thời khóa đừng để cho thiếu sót. Như thế lâu ngày, công phu tự thuần thục, không niệm mà vẫn tự niệm. Chừng đó, muốn ký số hay không ký số cũng được. Nếu bước đầu, vội vàng lộ vẻ mình hay giỏi, muốn tỏ ra không trước tướng, muốn học hỏi lối viên dung tự tại, rốt cuộc niệm lực khó thành. Đây tổng yếu bởi tin chưa sâu, thực chành chưa hết sức.

Người như thế, dù cho giảng thông thuộc ba tạng mười hai phần kinh, thấu suốt một ngàn bảy trăm công án, cũng đều là việc bên bờ sống chết luân hồi mà thôi. Kẻ ấy đến lúc lâm chung, quyết định không dùng chi được!

Năm Thuận Trị thứ Hai, vào cuối Đông, Đại sư cảm bệnh nhẹ, Ngài di chúc mọi việc và dặn các đệ tử, sau khi Trà-tỳ, phải tán nhuyễn xương trộn với bột hòa thành viên, chia thí cho loài cá chim để kết duyên Tịnh độ với chúng.

Sang đầu năm, ngày 21 tháng Giêng, Đại sư sáng dậy sớm, sắc diện tươi khỏe như người không bệnh. Đến đúng ngọ, Ngài đoan tọa trên giường, xoay mặt về Tây, chấp tay niệm Phật mà tịch, thọ được 57 tuổi.

Ba năm sau, các môn nhân hội lại, định y pháp làm lễ Trà-tỳ. Lúc mở bảo tháp ra, thấy toàn thân Đại sư vẫn còn nguyên vẹn, tóc ra dài phủ hai tai, sắc mặc tươi tỉnh như sống. Đại chúng không nỡ tuân lời di chúc, xây tháp thờ toàn thân ở chùa Linh Phong.

10. Hành Sách Đại Sư

Hành Sách đại sư, tự là Triệt Lưu, người đời nhà Thanh, con của Tưởng Toàn Xương, một bậc lão Nho ở vùng Nghi Hưng. Cha Ngài là bạn phương ngoại với đức Đức Thanh hòa thượng, tức Hám Sơn đại sư.

Niên hiệu Thiên Khải thứ Sáu, sau khi Hám Sơn đại sư thị tịch được ba năm, một đêm, Tưởng Toàn Xương nằm mộng thấy ngài Hám Sơn vào nhà mình. Cũng trong đêm ấy, Hành Sách đại sư sinh ra, nên nhân đó Ngài lại được cha đặt cho ngoại hiệu là Mộng Hám. Đến khi khôn lớn, cha mẹ kế tiếp qua đời, Ngài cảm sự thế vô thường, có ý niệm thoát tục.

Năm 23 tuổi, Ngài thế phát xuất gia với Nhược Am hòa thượng ở chùa Lý An. Tu hành tinh tấn, không đặt lưng xuống chiếu. Trải năm độ nắng mưa, Ngài tỏ suốt nguồn chân, ngộ vào pháp tánh. Sau khi Nhược Am hòa thượng thị tịch, Đại sư trụ trì chùa Báo Ân. Thời gian này, Ngài được bạn đồng tham thức là Tức Am thiền sư khuyên tu Tịnh độ, lại gặp Thiều Thạch pháp sư hướng dẫn duyệt lãm về Thiên Thai Giáo Quán. Kế đó, Ngài cùng Tiều Thạch pháp sư đồng nhập thất tu môn Pháp Hoa Tam-muội. Nhân đây, túc huệ của Đại sư khai phát, ngộ suốt đến chỗ cốt tủy của Thai giáo.

Niên hiệu Khang Hy thứ Hai, Ngài cất am ở núi Pháp Hoa, bên bờ sông Tây Khê tại Hàng Châu, chuyên tu Tịnh độ. Nhân đó, lại đặt tên chỗ ở của mình là Liên Phụ Am. Đến năm Khang Hy thứ Chín, Đại sư trụ trì chùa Phổ Nhân ở Ngư Sơn, đề xướng thành lập Liên Xã. Học giả các nơi hưởng ứng tu tập rất đông. Ngài từng làm bài văn khuyên phát lòng tin chân thật rằng: “Phần đông người tu tập xưa nay, đều ưa thích Niệm Phật Tam-muội. Tuy nói quả cao để tu tiến, mà kẻ sau ít được thành công. Ấy bởi do Tín Nguyện không chuyên nên chẳng thể đồng về cảnh Tịnh. Nay đã họp nhiều Liên hữu, cùng nhau tu tập Tịnh nhân, nếu không xét kỹ chỗ phát tâm, đâu biết rõ lối đường thoát khổ. Đồng nhân chúng ta dự và pháp hội, lòng tin chí nguyện phải thật phải chân. Nếu không chân chính, tuy ăn chay niệm Phật, tu phước phóng sinh, chỉ là người lành thế gian, duy hưởng nhân thiên phước báo. Lúc hưởng phước vui, dễ bề tạo nghiệp, đã tạo nghiệp ác, phải đọa khổ luân hồi. Điều này, dùng chánh nhãn xét xem: Chỉ hơn bọn Xiển-đề một bước! Nếu lòng tin như thế, đâu được gọi là chân? Vậy chân tín là thế nào?

Thứ nhất phải tin: Tâm, Phật và chúng sinh, cả ba không sai khác. Chúng ta là Phật chưa thành. Di-đà là Phật đã thành. Giác tánh đồng một vẫn không có hai. Ta tuy điên đảo mê lầm, giác tánh chưa từng mất. Ta tuy nhiều kiếp luân chuyển, giác tánh chưa động. Nên nói: “Khi một niệm hồi quang đồng về nơi bản đắc” là như thế.

Thứ hai phải tin: Chúng ta là Phật danh tự, Di-đà là Phật cứu cánh, tánh tuy không khác, ngôi cách vực trời. Nếu không chuyên niệm đức Phật kia, cầu về cõi Tịnh, tất phải chịu theo nghiệp lưu chuyển, chịu khổ vô cùng! Đây gọi là Pháp thân lưu chuyển sáu nẻo, không được thành Phật, mà vẫn cam phận chúng sinh.

Thứ ba phải tin: Chúng ta dù nghiệp sâu chướng nặng, sống lâu nơi cảnh khổ, vẫn là chúng sinh trong tâm của Di-đà. Di-đà tuy muôn đức trang nghiêm an vui ở cõi Tịnh, cũng là vị Phật trong tâm của chúng ta. Đã rõ chân tâm vốn không hai, tất biết cảm ứng tự giao tiếp. Như đá nam châm hút sắt, việc này đâu lựa phải nghi? Đây gọi: nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền hoặc tương lai, quyết định sẽ thấy Phật, cách Phật chẳng xa vậy.

Đủ lòng tin chân thật như trên, tuy chút phước điểm lành như hạt bụi mảy lông, đều có thể hồi hướng Tây Phương, trang nghiêm Tịnh độ. Huống nữa trì trai giữ giới, bố thí, phóng sinh, đọc tụng Đại thừa, cúng dường Tam Bảo, tu các hạnh lành, há chẳng đủ làm tư lương Tinh dộ ư? Chỉ e lòng tin chẳng chân thành, mới khiến bị chìm nơi hữu lậu. Cho nên trong việc Tịnh tu, không chước chi lạ. Muốn công không luống uổng, quả được tròn nên, thì ngày đêm khi hành đạo, không rời ba điều tin trên mà thôi!”.

Đại sư thường tổ chức những kỳ đả thất để khuyến khích đại chúng tinh tấn thêm. Trong các kỳ thất, Ngài khai thị đại ý rằng: “Bảy ngày trì danh, quý nơi giữ một lòng không loạn, chớ để trần lụy xen vào, không phải niệm mau niệm nhiều là hay. Cách trì danh, cần không huỡn không gấp, bền bỉ chắc chắn, khiến cho câu Phật hiệu rành rõ nơi tâm. Khi đi đứng nằm ngồi, ăn cơm mặc áo, nên giữ câu hồng danh liên tục chẳng dứt, không tán loạn hôn trầm dường như hơi thở ra vào nối tiếp. Trì danh như thế gọi là nhất tâm tinh tấn về phần sự.

Nếu thể cứu được sâu vào thì muôn pháp đều như, nguyên không hai tướng. Đó là chúng sinh cùng Phât, mình cùng người, nhân với quả, y báo với chánh báo, nhơ cùng sạch, khổ cùng vui, ưa với chán, lấy với bỏ, Bồ-đề cùng phiền não, sinh tử cùng Niết bàn… các pháp ấy đều không hai, đều đồng một tướng, đồng một thể thanh tịnh. Như thế, cứ thể cứu một cách thiết thực, không cần phải gắng gượng an bài. Thể cứu đến lúc cùng cực bỗng nhiên khế hợp với bản tâm. Chừng đó, mới biết mặc áo ăn cơm cũng là Tam-muội, cười đùa giận mắng đều việc độ sinh. Khi ấy, nhất tâm hay loạn tâm trọn thành hý luận, ngày đêm sáu thời tìm một mảy tướng khác cũng không thể được. Liễu đạt như thế, mới chân chánh là người học đạo, và trì danh như thế, gọi là nhất tâm tinh tấn về phần lý.

Sự nhất tâm như trước tợ khó mà dễ, lý nhất tâm như sau tợ dễ mà khó. Chỉ nhất tâm được như trước, quyết chắc dự phần vãng sinh. Nếu kiêm thêm cảnh nhất tâm sau, tất có thể lên ngôi Thượng phẩm. Nhưng hai thứ nhất tâm đây, đều là phần việc kẻ bác địa phàm phu, người hữu tâm đều có thể tu học. Khắp khuyên các hàng đạo tục trong Liên Xã, đều phải sách tấn thân tâm. Gần trong bảy ngày, xa suốt một đời, nếu thường tin và tu như thế, thì dù không chứng quả, cũng mạnh nhân sen. Ngày kia gởi chất Liên trì, tất không thuộc phẩm Trung Hạ vậy.

Đại sư trụ trì chùa Phổ Nhân được 13 năm. Niên hiệu Khang Hy thứ 21, ngày mùng 09 tháng 07, Ngài thóa hóa, thọ 55 tuổi. Khi ấy, có ông Tôn Hàn bị cấp bệnh tắt hơi, hôm sau bỗng sống lại nói: “Tôi bị Minh Ty bắt giam cầm nơi điện Diêm La. Bỗng đâu trong chỗ tối tăm, thấy ánh sáng rực trời, hương hoa đầy khắp hư không. Vua Diêm La quỳ mọp xuống đất, đưa một vị Đại sư về Tây Phương. Tôi thưa hỏi Đại sư nào thì được đáp là ngài Triệt Lưu. Nhờ ánh sáng của Đại sư chiếu đến, tôi mới được tha trở về”. Đồng ngày ấy, có con nhà họ Ngô chết, qua một đêm sống lại, cũng thuật việc mình nghe thấy y như ông Tôn Hàn.

11. Thật Hiền Đại Sư

Hành Sách đại sư, tự là Triệt Lưu, người đời nhà Thanh, con của Tưởng Toàn Xương, một bậc lão Nho ở vùng Nghi Hưng. Cha Ngài là bạn phương ngoại với đức Đức Thanh hòa thượng, tức Hám Sơn đại sư.

Niên hiệu Thiên Khải thứ Sáu, sau khi Hám Sơn đại sư thị tịch được ba năm, một đêm, Tưởng Toàn Xương nằm mộng thấy ngài Hám Sơn vào nhà mình. Cũng trong đêm ấy, Hành Sách đại sư sinh ra, nên nhân đó Ngài lại được cha đặt cho ngoại hiệu là Mộng Hám. Đến khi khôn lớn, cha mẹ kế tiếp qua đời, Ngài cảm sự thế vô thường, có ý niệm thoát tục.

Năm 23 tuổi, Ngài thế phát xuất gia với Nhược Am hòa thượng ở chùa Lý An. Tu hành tinh tấn, không đặt lưng xuống chiếu. Trải năm độ nắng mưa, Ngài tỏ suốt nguồn chân, ngộ vào pháp tánh. Sau khi Nhược Am hòa thượng thị tịch, Đại sư trụ trì chùa Báo Ân. Thời gian này, Ngài được bạn đồng tham thức là Tức Am thiền sư khuyên tu Tịnh độ, lại gặp Thiều Thạch pháp sư hướng dẫn duyệt lãm về Thiên Thai Giáo Quán. Kế đó, Ngài cùng Tiều Thạch pháp sư đồng nhập thất tu môn Pháp Hoa Tam-muội. Nhân đây, túc huệ của Đại sư khai phát, ngộ suốt đến chỗ cốt tủy của Thai giáo.

Niên hiệu Khang Hy thứ Hai, Ngài cất am ở núi Pháp Hoa, bên bờ sông Tây Khê tại Hàng Châu, chuyên tu Tịnh độ. Nhân đó, lại đặt tên chỗ ở của mình là Liên Phụ Am. Đến năm Khang Hy thứ Chín, Đại sư trụ trì chùa Phổ Nhân ở Ngư Sơn, đề xướng thành lập Liên Xã. Học giả các nơi hưởng ứng tu tập rất đông. Ngài từng làm bài văn khuyên phát lòng tin chân thật rằng: “Phần đông người tu tập xưa nay, đều ưa thích Niệm Phật Tam-muội. Tuy nói quả cao để tu tiến, mà kẻ sau ít được thành công. Ấy bởi do Tín Nguyện không chuyên nên chẳng thể đồng về cảnh Tịnh. Nay đã họp nhiều Liên hữu, cùng nhau tu tập Tịnh nhân, nếu không xét kỹ chỗ phát tâm, đâu biết rõ lối đường thoát khổ. Đồng nhân chúng ta dự và pháp hội, lòng tin chí nguyện phải thật phải chân. Nếu không chân chính, tuy ăn chay niệm Phật, tu phước phóng sinh, chỉ là người lành thế gian, duy hưởng nhân thiên phước báo. Lúc hưởng phước vui, dễ bề tạo nghiệp, đã tạo nghiệp ác, phải đọa khổ luân hồi. Điều này, dùng chánh nhãn xét xem: Chỉ hơn bọn Xiển-đề một bước! Nếu lòng tin như thế, đâu được gọi là chân? Vậy chân tín là thế nào?

Thứ nhất phải tin: Tâm, Phật và chúng sinh, cả ba không sai khác. Chúng ta là Phật chưa thành. Di-đà là Phật đã thành. Giác tánh đồng một vẫn không có hai. Ta tuy điên đảo mê lầm, giác tánh chưa từng mất. Ta tuy nhiều kiếp luân chuyển, giác tánh chưa động. Nên nói: “Khi một niệm hồi quang đồng về nơi bản đắc” là như thế.

Thứ hai phải tin: Chúng ta là Phật danh tự, Di-đà là Phật cứu cánh, tánh tuy không khác, ngôi cách vực trời. Nếu không chuyên niệm đức Phật kia, cầu về cõi Tịnh, tất phải chịu theo nghiệp lưu chuyển, chịu khổ vô cùng! Đây gọi là Pháp thân lưu chuyển sáu nẻo, không được thành Phật, mà vẫn cam phận chúng sinh.

Thứ ba phải tin: Chúng ta dù nghiệp sâu chướng nặng, sống lâu nơi cảnh khổ, vẫn là chúng sinh trong tâm của Di-đà. Di-đà tuy muôn đức trang nghiêm an vui ở cõi Tịnh, cũng là vị Phật trong tâm của chúng ta. Đã rõ chân tâm vốn không hai, tất biết cảm ứng tự giao tiếp. Như đá nam châm hút sắt, việc này đâu lựa phải nghi? Đây gọi: nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền hoặc tương lai, quyết định sẽ thấy Phật, cách Phật chẳng xa vậy.

Đủ lòng tin chân thật như trên, tuy chút phước điểm lành như hạt bụi mảy lông, đều có thể hồi hướng Tây Phương, trang nghiêm Tịnh độ. Huống nữa trì trai giữ giới, bố thí, phóng sinh, đọc tụng Đại thừa, cúng dường Tam Bảo, tu các hạnh lành, há chẳng đủ làm tư lương Tinh dộ ư? Chỉ e lòng tin chẳng chân thành, mới khiến bị chìm nơi hữu lậu. Cho nên trong việc Tịnh tu, không chước chi lạ. Muốn công không luống uổng, quả được tròn nên, thì ngày đêm khi hành đạo, không rời ba điều tin trên mà thôi!”.

Đại sư thường tổ chức những kỳ đả thất để khuyến khích đại chúng tinh tấn thêm. Trong các kỳ thất, Ngài khai thị đại ý rằng: “Bảy ngày trì danh, quý nơi giữ một lòng không loạn, chớ để trần lụy xen vào, không phải niệm mau niệm nhiều là hay. Cách trì danh, cần không huỡn không gấp, bền bỉ chắc chắn, khiến cho câu Phật hiệu rành rõ nơi tâm. Khi đi đứng nằm ngồi, ăn cơm mặc áo, nên giữ câu hồng danh liên tục chẳng dứt, không tán loạn hôn trầm dường như hơi thở ra vào nối tiếp. Trì danh như thế gọi là nhất tâm tinh tấn về phần sự.

Nếu thể cứu được sâu vào thì muôn pháp đều như, nguyên không hai tướng. Đó là chúng sinh cùng Phât, mình cùng người, nhân với quả, y báo với chánh báo, nhơ cùng sạch, khổ cùng vui, ưa với chán, lấy với bỏ, Bồ-đề cùng phiền não, sinh tử cùng Niết bàn… các pháp ấy đều không hai, đều đồng một tướng, đồng một thể thanh tịnh. Như thế, cứ thể cứu một cách thiết thực, không cần phải gắng gượng an bài. Thể cứu đến lúc cùng cực bỗng nhiên khế hợp với bản tâm. Chừng đó, mới biết mặc áo ăn cơm cũng là Tam-muội, cười đùa giận mắng đều việc độ sinh. Khi ấy, nhất tâm hay loạn tâm trọn thành hý luận, ngày đêm sáu thời tìm một mảy tướng khác cũng không thể được. Liễu đạt như thế, mới chân chánh là người học đạo, và trì danh như thế, gọi là nhất tâm tinh tấn về phần lý.

Sự nhất tâm như trước tợ khó mà dễ, lý nhất tâm như sau tợ dễ mà khó. Chỉ nhất tâm được như trước, quyết chắc dự phần vãng sinh. Nếu kiêm thêm cảnh nhất tâm sau, tất có thể lên ngôi Thượng phẩm. Nhưng hai thứ nhất tâm đây, đều là phần việc kẻ bác địa phàm phu, người hữu tâm đều có thể tu học. Khắp khuyên các hàng đạo tục trong Liên Xã, đều phải sách tấn thân tâm. Gần trong bảy ngày, xa suốt một đời, nếu thường tin và tu như thế, thì dù không chứng quả, cũng mạnh nhân sen. Ngày kia gởi chất Liên trì, tất không thuộc phẩm Trung Hạ vậy.

Đại sư trụ trì chùa Phổ Nhân được 13 năm. Niên hiệu Khang Hy thứ 21, ngày mùng 09 tháng 07, Ngài thóa hóa, thọ 55 tuổi. Khi ấy, có ông Tôn Hàn bị cấp bệnh tắt hơi, hôm sau bỗng sống lại nói: “Tôi bị Minh Ty bắt giam cầm nơi điện Diêm La. Bỗng đâu trong chỗ tối tăm, thấy ánh sáng rực trời, hương hoa đầy khắp hư không. Vua Diêm La quỳ mọp xuống đất, đưa một vị Đại sư về Tây Phương. Tôi thưa hỏi Đại sư nào thì được đáp là ngài Triệt Lưu. Nhờ ánh sáng của Đại sư chiếu đến, tôi mới được tha trở về”. Đồng ngày ấy, có con nhà họ Ngô chết, qua một đêm sống lại, cũng thuật việc mình nghe thấy y như ông Tôn Hàn.

12. Tế Tỉnh Đại Sư

Tế Tỉnh đại sư, tự Triệt Ngộ, hiệu Nạp Đường, người đời Thanh, con nhà họ Mã ở huyện Phong Nhuận.

Thuở bé, Ngài đã thông thuộc kinh sử. Sau khi xuất gia, lại đi tham học các nơi, rộng suốt cả hai tông Tánh, Tướng. Chỗ tâm đắc nhất của Ngài là chỉ thú Thập Thừa Tam Quán của kinh Pháp Hoa. Kế đó, Ngài lại tham phỏng với Tụy Như Thuần thiền sư ở Quảng Thông, tỏ ngộ thấu suốt, được truyền tâm ấn. Sau Thuần công về an dưỡng ở chùa Vạn Thọ, Đại sư kế nhiệm tại Quảng Thông, sách tiến hàng hậu lai, tông phong rất thạnh.

Bình nhật, Đại sư thường bảo: “Ngài Vĩnh Minh nguyên là bậc tông trượng trong Thiền môn mà còn quy tâm về Tịnh độ, huống nay là thời mạt pháp, chúng ta há chẳng tuân theo?”. Do đó, Ngài chuyên tu Tịnh nghiệp, chủ trương Liên tông. Mỗi ngày, hạn thời giờ dạy chúng hoặc tiếp khách nội một cây hương. Ngoài ra, chỉ chuyên lễ sám niệm Phật mà thôi.

Không bao lâu, Đại sư sang trụ trì chùa Giác Sinh, kế đó lại lui về ngụ chùa Tư Phước ở Hồng Loa Sơn. Tăng chúng các nơi mến đức nương về ngày càng đông, khiến chỗ ấy trở thành đại Tòng lâm. Đại sư vì pháp lợi sinh lòng không chán mỏi, tất cả đều dùng Tịnh độ làm chỗ quy thú. Mỗi khi giảng đến ân cứu khổ ban vui của Như Lai, thường lệ rơi theo tiếng. Thính chúng ngồi nghe đều cảm động sa nước mắt. Trong hai quyển Ngữ Lục của Ngài, lời khuyến hóa lại càng chí thiết. Đại lược như sau: “Đầu mối quan hệ trong vòng sống chết của chúng ta, duy có hai thức: Tâm lực và Nghiệp lực. Tâm lực là tâm niệm có nhiều mối, khi lâm chung đi theo mối nặng nhất; nghiệp lực ví như người mang nợ, chủ nợ mạnh lôi kéo trước tiên. Nghiệp lực tuy lớn, nhưng tâm lực lại càng lớn hơn. Bởi nghiệp không tự tánh, hoàn toàn nương nơi tâm, nên khi tâm chú trọng thì làm cho nghiệp thêm mạnh. Nếu ta dùng trọng tâm mà tu Tịnh độ, tất Tịnh nghiệp mạnh, khi lâm chung quyết định sinh về Tây Phương. Ví như cây to tường cao, nghiêng hướng về Tây, ngày kia khi đổ tất cũng hướng về Tây vậy.

Thế nào trọng tâm? Chúng ta tu Tịnh độ, lòng tin quý ở nơi sâu, chí nguyện quý ở nơi thiết. Do Tín Nguyện sâu thiết, nên tất cả tà thuyết không thể lay động, tất cả cảnh duyên không thể lay động, không thể kéo lôi. Giả sử đang khi ta niệm Phật, bỗng tổ Đạt-ma hiện ra, bảo phải bỏ Tịnh tu Thiền có thể liền giác ngộ, thì cũng từ tạ không dám tuân lời. Hay dù đức Thích-ca hiện thân, bảo có pháp môn khác hơn Tịnh độ, dạy ta phải bỏ niệm Phật để tu môn kia, ta cũng đảnh lễ mà từ khước. Giữ vững như vậy, mới gọi là lòng tin sâu sắc.

Về phần nguyện, ví như có vòng sắt nóng đỏ xoay vần trên đầu, ta cũng không vì sự khổ ấy mà thối thất chí vãng sinh. Lại như có cảnh dục lạc mầu nhiệm nhất của Chuyển Luân Vương hiện đến, ta cũng không vì sự vui sướng đó mà quên tạm niệm cầu về Cực Lạc. Gặp những cảnh duyên nghịch thuận cùng cực như thế, mà vẫn không đổi lòng, mới gọi là chí nguyện tha thiết.

Lòng tin sâu, chí nguyện thiết ấy, gọi là trọng tâm. Dùng tâm này mà niệm Phật thì Tịnh nghiệp mạnh và lần lần thành thục. Khi nghiệp thanh tịnh Cực Lạc thành thục, tất duyên nhiễm Ta-bà phải dứt. Như thế, lúc lâm chung dù có muốn cảnh luân hồi hiện ra, cảnh Tịnh độ cùng đức Di-đà chẳng hiện tiền cũng không thể được. Nhưng Tín Nguyện sâu thiết ấy lúc bình thời phải rèn luyện cho thành, khi lâm chung mới khỏi lạc vào nẻo khác. Như cổ đức lúc sắp mạng chung, chư Thiên ở sáu cõi trời trổi nhạc cầm Tràng Phan, kế tiếp đến rước, mà vẫn cố từ, một lòng chờ Phật, đợi khi Phật hiện đến mới chịu đi. Lâm chung là cảnh Tứ đại sắp phân tán, chư Thiên đến rước là cảnh tốt đẹp tuyệt vời! Nếu bình thời tâm Tín Nguyện chưa được mười phần vững chắc, thì khi lâm chung gặp phải cảnh ấy, làm sao tự chủ được!”.

Có nhà tu thiền hỏi: “Tất cả các pháp, đều như mộng huyễn. Cõi Ta-bà cố nhiên vẫn huyễn, song cảnh Cực Lạc cũng lại là mộng. Như thế, niệm Phật cầu về Cực Lạc nào có ích chi được?”.

Đại sư đáp: “Không phải thế đâu! Các bậc Bồ-tát từ đệ Thất địa trở về trước, đều tu hành trong huyễn mộng. Đến như bậc Đẳng giác vẫn còn ở trong mộng lớn vô minh. Duy có Phật mới là bậc Đại Giác, hoàn toàn thức tỉnh. Đang lúc còn trong mộng, thì cảnh vui cùng khổ vẫn uyển nhiên! Như thế, cam chịu cảnh mộng khổ ở Ta-bà, sao bằng về hưởng cảnh mộng vui nơi Cực Lạc? Phương chi, mộng ở Ta-bà là từ mộng vào mộng, mộng ở Cực Lạc là từ mộng ra khỏi mê, lần lướt đến ngôi Đại Giác. Cho nên mộng cảnh tuy vẫn đồng, mà kết quả ở đôi nơi rất khác xa, vì thế phải niệm Phật cầu về Cực Lạc!”.

Niên hiệu Gia Khánh thứ 15, vào tháng Hai, Đại sư dự biết ngày lâm chung chẳng còn bao xa, bèn đi từ giã những người ngoại hộ, dặn rằng: “Duyên hư huyễn chẳng bền lâu, giờ sống thừa nên quý tiếc. Các vị hãy cố gắng niệm Phật, ngày kia sẽ cùng gặp nhau nơi cõi Liên bang!”. Đến ngày mùng 02 tháng Chạp, Đại sư cảm bệnh nhẹ. Đang chí tâm niệm Phật, bỗng thấy có vô số Tràng Phan từ phương Tây bay đến, liền nhìn môn đồ nói: “Cảnh Tịnh độ đã hiện, ta sắp về Tây Phương!”. Rồi bảo đại chúng luân phiên trợ niệm.

Sáng ngày 17, vào giờ Thân, Ngài nói với chúng rằng: “Hôm qua tôi thấy ba vị đại sĩ: Văn-thù, Quán Âm, và Thế Chí. Hiện giờ lại được đức Phật tự thân đến tiếp dẫn. Tôi đi đây!”. Đại chúng nghe nói, niệm Phật càng chí thiết, Đại sư ngồi thẳng, chắp tay hướng về Tây, bảo: “Xưng một cầu hồng danh, thấy một phần tướng hảo!”. Dứt lời, liền kiết ấn mà tịch.

Lúc ấy, tất cả chúng đều nghe mùi hương lạ ngào ngạt. Để lộ khám bảy ngày, dung sắc Đại sư tươi như sống, tóc bạc biến thành đen. Lúc Trà-tỳ, được hơn một trăm hạt Xá-lợi lóng lánh. Đại sư thọ được 70, tăng lạp 49.

13. Án Quang Đại Sư

Án Quang đại sư, húy Thánh Lượng, biệt hiệu Thường Tàm, người khoảng cuối đời nhà Thanh sang kỷ nguyên Dân Quốc, con nhà họ Triệu ở Hiệp Tây.

Thuở bé, Ngài học Nho. Lớn lên, lấy việc duy trì đạo Khổng làm trách nhiệm, nên theo thuyết cúa Hàn Dũ, Âu Dương Tu, bài bác Phật pháp. Sau khi bệnh mấy năm, tự xét biết lỗi lầm, liền cải hối tâm niệm trước.

Niên hiệu Quang Chữ thứ Bảy đời Thanh, vừa sang 21 tuổi, căn lành thuần thục, Ngài xuất gia với Đạo Thuần hòa thượng tại chùa Liên Hoa Động ở núi Chung Nam. Ít lâu sau, lại được duyên thọ đại giới nơi chùa Song Khê, huyện Hưng An với luật sư Ấn Hải Định.

Ngài từng bị đau mắt khi sinh ra vừa sáu tháng, sau tuy lành bệnh nhưng mục lực đã suy kém. Mắt vừa hơi đỏ, chỉ nhìn thấy cảnh vật lờ mờ. Lúc thọ giới Cụ túc, vì Ngài cẩn thận và viết chữ khéo, nên được cử làm chức Thư ký. Do viết chữ quá nhiều, đôi mắt lại phát đỏ như huyết.

Lúc trước, nhân khi phơi kinh, được xem bộ Long Thơ Tịnh Độ, biết rõ công đức niệm Phật, nên kỳ thọ giới này, ban đêm sau khi chúng an nghỉ, Ngài vẫn ngồi niệm Phật, ban ngày cho đến lúc viết chữ, tâm cũng không rời Phật. Nhờ đó, tuy đôi mắt phát đỏ, vẫn có thể gắng gượng biên chép. Khi giới đàn vừa mãn, bệnh đau mắt cũng được lành. Do đây, Ngài biết công đức niệm Phật không thể nghĩ bàn! Và nhân duyên này cũng là đầu mối khiến Ngài quy hướng Tịnh độ, và khuyên người niệm Phật. Từ đó, Đại sư tiến bước trên đường tu học, trải qua các danh lam: Từ Phước Tự, Long Tuyền Tự, Viên Quảng Tự, và sau cùng đến chùa Pháp Võ ở Phổ Đà Sơn.

Trong thời gian ấy, khi thì tham học, lúc duyệt Tam tạng kinh, khi lại nhập thất, nên Ngài ngộ sâu đến Thượng thừa, lý sự đều vô ngại. Đại sư kiến thức cao siêu, làm việc cẩn thận nên hai phen được Hóa Văn hòa thượng và Đế Nhàn pháp sư mời làm đồng bạn đến đế đô thỉnh ba tạng kinh cho Pháp Võ Tự ở Phổ Đà Sơn và Đầu Đà Tự tại Ôn Châu. Cảm mến hạnh đức, Hóa Văn hòa thượng thỉnh Ngài về ở lầu Tàng Kinh tại chùa Pháp Võ để tĩnh tâm tu niệm. Tính đến cuối đời nhà Thanh, trong hơn ba mươi năm xuất gia, Đại sư trước sau tới lui giao tiếp để hôm sớm yên tu, cầu chứng Niệm Phật Tam-muội.

Nhưng chuông trống tuy đánh bên trong, tiếng thanh vẫn vang ra ngoài. Cao Tăng dù muốn ẩn mình, Thiên long cũng đưa duyên phổ hóa. Niên hiệu Trung Hoa Dân Quốc năm đầu, Cư sĩ Cao Hạt Niên nhân khi hành hương đến chùa Pháp Võ, lúc trở về đem vài bài văn của Đại sư đăng lên Phật Học Tòng Báo ở Thượng Hải, dưới đề tên là Thường Tàm. Tuy chưa biết đó là ai, nhưng văn tự Bát-nhã đã khiến cho độc giả phát khởi căn lành, nhiều người đua nhau dò hỏi chỗ ở. Lúc ấy, Đại sư vừa đúng 52 tuổi. Mấy năm sau, tung tích cũng bị người tìm biết được; lần lượt kẻ vượt bể lên non cầu lời khai thị, người mượn tin hồng nhạn hỏi lối nam châm. Cư sĩ Từ Huất Như sưu tầm văn tín của Ngài in thành bộ Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao, tái bản và tăng đính nhiều lượt, truyền bá cả trong đến ngoài nước.

Ban sơ, khi họ Từ cư sĩ đem mẹ lên núi cầu xin quy y, Đại sư còn bền chí ẩn tu không chịu chấp nhận, bảo sang quy y với Đế Nhàn pháp sư ở chùa Quán Tông tại Ninh Ba. Đến năm Dân Quốc Thư Tám, Cư sĩ Châu Mạnh Do đem quyến thuộc lên núi, ba bốn phen đảnh lễ cầu khẩn, xin thâu làm đệ tử tại gia. Đại sư quán xét cơ duyên, lý khó khước từ, bất đắc dĩ phải chấp thuận. Tính đến năm ấy, Ngài được 59 tuổi, mới thâu đệ tử quy y lần đầu. Từ đó, hàng thiện tín kẻ viết thư cầu làm đệ tử, người lên non xin được quy y, tất cả đều y giáo phụng hành, ăn chay niệm Phật. Trong một đời giáo hóa, đệ tử tại gia của Đại sư từ hạng quyền quý giàu sang, danh nhân học sĩ đến kẻ thôn giã thường dân, số lên đến gần ba trăm ngàn người. Có nhiều vị niệm Phật tu hành được sinh về Cực Lạc.

Đại sư trì giới tinh nghiêm, giữ mình rất kiêm ước. Đồ phục dụng tốt đẹp cùng thức ăn ngon quý người đem đến dâng, nếu không từ khước được, cũng chuyển tặng cho những vị xuất gia khác. Còn phẩm vật thông thường thì đều chuyển giao cho nhà kho của chùa, để dại chúng cùng thọ hưởng. Bao nhiêu số tiền của dân tín cúng dường riêng cho mình, Ngài đều đem in kinh sách, hoặc cứu tế các nạn tai, hay giúp vào những cơ quan từ thiện. Riêng mình, chỉ giữ phần cơm thô áo vải đến trọn đời.

Đại sư tánh không thích phô trương. Có vài Phật tử mến đức tìm tới tận quê nhà, sưu tập sự tích từ khi Ngài còn bé qua giai đoạn xuất gia và ra đời hoằng hóa, viết thành tuyệt ký, rồi gởi đến xin hiệu chính để ấn tống lưu truyền rộng ra, Ngài đều khước từ, gởi nguyên bản trả lại, khuyên xin vì mình mà dẹp bỏ đi. Hai vị hiển quan: Đào Tại Đông và Hoàng Hàm Chi có viết thư đem đạo hạnh của Đại sư trình lên Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc. Ngài được Từ Tổng Thống phong tặng tấm biển đề “Ngộ Triệt Viên Minh”, sai đoàn đại biểu đem đến tận chùa Phổ Đà, cùng hiến dâng nhiều hương hoa phẩm vật, song riêng Ngài vẫn thản nhiên dường không hay biết.

Đại sư có ba điểm đặc biệt khác hơn những vị xuất gia đương thời:

v Một là không lãnh làm trụ trì tự viện lớn, vì cho mình kém đức, e chướng ngại đến sự thanh tu.

v Hai là không thâu đệ tử xuất gia, vì xét thấy vào thời mạt pháp đã sâu, người xứng đáng với bổn phận xuất gia rất ít, nên không muốn gây nhiều hệ lụy.

v Ba là không quyên mộ khuyến hóa, bởi thẹn thấy nhiều kẻ vì lợi danh mà làm mất sự thanh khiết của nhà tu.

Về duyên hoằng hóa, Đại sư, quán xét vào thời mạt vận đạo đức lần suy, nhân căn hầu hết đều kém yếu, phần đồng chỉ ở trình độ giữ Tam quy, Ngũ giới, niệm Phật ăn chay mà thôi, như thế cũng gọi là đã có nhiều căn lành rồi, còn hạng siêu xuất thì thật ra tuyệt ít. Vì thế, đại khái Ngài chỉ khuyên giữ trọn luân thường, tin chắc nhân quả, lánh dữ làm lành, Tín Nguyện niệm Phật, cầu sinh Tây Phương. Người đáng chiết phục, dù bậc Thiền túc cự Nho, đạt quan danh sĩ, cũng thẳng thắn chỉ trích. Kẻ đáng nhiếp thọ, tuy hàng sơ học hậu sinh, nông công nô bộc, cũng từ ái khuyên dạy. Cách giáo hóa của Ngài, chỉ đem những sự lý thiết thực bình thường để khuyến ích, tuy chính mình hiểu sâu tông giáo, song không chuộng huyền luận cao đàm.

Đại sư thường tán trợ vào các hội niệm Phật phóng sinh, khuyên giúp vào các viện Từ ấu, Dưỡng lão. Ngài cũng sáng lập ra Hoằng Hóa Xã, giao cho người coi sóc, mình lãnh phần chỉ đạo, để ấn tống hoặc phát hành kinh sách và tượng Phật, Bồ-tát và hơn năm triệu bộ kinh sách thích ứng với thời cơ.

Về công trình hộ pháp, lúc Âu chiến lần thứ nhất, chính quyền có nghị định cho dời những kiều dân người Đức vào ở các chùa. Đại sư cố gắng vận động với các bậc quyền thế, khiến cho bỏ qua việc đó. Từ năm Dân Quốc thứ hai đến năm Dân Quốc thứ 25, đã nhiều phen chính phủ theo lời đề nghị của những nhà đương quyền có óc duy vật, lần lượt đăng báo muốn sung tài sản chùa chiền vào công quỹ, chiếm các tự viện làm trường học. Đại sư họp sứ cùng chư Tăng sĩ và các Cư sĩ hộ pháp, lập cách giải cứu, khiến cho đều được nạn thoát tai qua. Ngoài ra, các tiểu tiết khác, Ngài chỉ tùy thời dùng đôi lời nói, hoặc một phong thơ đều tiêu kiếp nạn.

Về phần linh cảm, năm Đại sư 70 tuổi, được Tăng chúng thỉnh về chùa Báo Quốc. Và cuối mùa Hạ, nơi đây sinh ra loài rệp rất nhiều. Từ gối chăn màn nệm, đến cửa sổ án kinh, đâu đâu cũng thấy chúng bò lai vãng. Hàng đệ tử thương Ngài tuổi già sợ không kham chịu sự quấy nhiễu, xin vào để tìm cách thâu nhập. Đại sư không chấp thuận, chỉ yên tâm niệm Phật cầu nguyện cho chúng đi, không bao lâu loài rệp đều tuyệt tích. Ngoài thời niệm Phật, Ngài thường tụng chú Đại Bi vào tàn hương, gạo, hoặc nước, để cứu những bệnh nặng mà các y sĩ đều bó tay. Mỗi lần như thế đều ứng nghiệm kỳ lạ.

Một hôm, nơi lầu Tàng Kinh chùa Báo Quốc, phát hiện ra vô số mối trắng. Ngài hay được liền trì chú Đại Bi trong nước, bảo đem đến vẩy vào chúng. Loài mối đều kéo nhau bỏ đi nơi khác. Cư sĩ Cao Hạt Niên có lời tự thuật: “Sở dĩ ông biết Ấn Quang đại sư là bậc cao Tăng, bởi Ngài nói những lời rất thông thường, nhưng càng suy ngẫm càng thấy đúng với hiện cảnh và sau đó đều ứng nghiệm”. Kỳ lên núi Phổ Đà lần thứ Nhất, lúc nhà Thanh hãy còn, nhân ngụ tại chùa lâu ngày, Cư sĩ có hỏi Đại sư về cuộc diện mai sau. Ngài ứng khẩu đáp bằng một bài thơ:

“Tuần hoàn kiếp số rất bi thương!

Thoát khổ đâu hơn Cực Lạc bang?

Gắng niệm Di-đà về bản cảnh

Đừng mê trần lụy lạc tha hương.

Bụi hồng nghiệp trước đời hư mộng

Lửa đỏ ngày sau nước họa ương

Khuyên sớm xa nơi nhiều kiếp nạn

Cùng nhau dạo bước đến Liên phương”.

Trong bài thơ, Ngài ám chỉ nạn binh hỏa về sau, và khuyên người niệm Phật vậy.

Năm Dân Quốc thứ 17, Đại sư thành lập Tịnh Độ Đạo Tràng tại chùa Linh Nham, soạn ra chương trình quy củ giao cho Chân Đạt hòa thượng nhiếp chúng trụ trì. Từ đó, Ngài về ở Tịnh thất tại Tô Châu. Sau thời niệm Phật, Đại sư họp cùng Cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh, tu chỉnh bốn quyển Danh Sơn Chí, nói về linh tích các núi: Phổ Đà, Thanh Lương, Nga Mi và Cửu Hoa.

Năm 70 tuổi, vì chiến cuộc bức bách, Ngài từ Tô Châu dời về Linh Nham, an cư niệm Phật ba năm.

Năm Dân Quốc thứ 29, ngày 24 tháng 10, Đại sư dự biết kỳ vãng sinh, cho triệu tập chư Tăng và Cư sĩ về chùa Linh Nham. Trong buổi hội đàm, Ngài suy cử Diệu Chơn hòa thượng kế nhiệm trụ trì, dặn dò các việc mai sau, và bảo: “Pháp môn niệm Phật không có chi đặc biệt lạ kỳ, chỉ cần khẩn thiết chí thành, thì không ai chẳng được Phật tiếp dẫn”.

Qua ngày mùng 04 tháng 11, Đại sư cảm bệnh nhẹ, song vẫn tinh tấn niệm Phật. Niệm xong, bảo đem nước rửa tay, rồi đứng lên nói: “Phật A-di-đà đã đến tiếp dẫn, tôi sắp đi đây! Đại chúng phải tin nguyện niệm Phật cầu về Tây Phương!”. Nói đoạn, bước lại ghế ngồi kiết già, chấp tay trì danh theo tiếng trợ niệm của đại chúng rồi an lành viên tịch. Lúc ấy, Đại sư tăng lạp được 60, thọ thế 80 tuổi.

Rằm tháng Hai năm sau, nhằm Thánh tiết Phật nhập Niết-bàn, cũng vừa đúng kỳ Đại sư vãng sinh được một trăm ngày, hàng đạo tục các nơi hội về Linh Nham trên hai mươi ngàn người, sắp đặt lễ Trà-tỳ. Lúc ấy, bầu trời hốt nhiên sáng tạnh trong trẻo. Khi Chân Đạt hòa thượng cầm đuốc cử hỏa, khói bay lên trắng như tuyết, hiện ra ánh sáng năm sắc. Hôm sau, Diệu Chơn hòa thượng cùng đại chúng đến nơi khám nghiệm, thấy Xá-lợi hiện ra nhiều hình dáng, đủ các màu, có thứ gồm ngũ sắc. Tất cả đều cứng như khoáng chất, gõ vào phát ra tiếng trong thanh. Đại chúng lựa chia thành sáu phần:

1. Nha sỉ Xá-lợi, gồm ba mươi hai cái răng

2. Ngũ sắc Xá-lợi châu, nhiều hạt tròn sáng.

3. Ngũ sắc tiểu Xá-lợi hoa, hình như các đóa hoa nhỏ.

4. Ngũ sắc đại Xá-lợi hoa, hình như những đóa hoa lớn.

5. Ngũ sắc huyết Xá-lợi, do huyết nhục hóa thành.

6. Ngũ sắc Xá-lợi khối, gồm những khối có nhiều hình dáng, màu sắc.

Tất cả đều để vào lồng kiếng, trân tàng tại bản sơn.

Kế tiếp, hàng Tăng Ni và đệ tử lễ bái thỉnh cầu, vị nào có thành tâm thì khi bới tro đều tìm kiếm được Xá-lợi. Như Quảng Hiệp pháp sư ở Tân Gia Ba, Pháp Độ Thượng Nhân ở Ngũ Đài, Cư sĩ Ngô Quốc Anh ở Phi Luật Tân, Cư sĩ Nhạc Huệ Võ ở Thượng Hải, mỗi vị đều được Xá-lợi màu xanh, màu vàng, huyết sắc hoặc ngũ sắc.

Đại sư lúc bình thời, ngôn hạnh chân thật, không biểu thị điều chi kỳ lạ, nên chẳng thể biết Ngài chứng đắc đến đâu. Song hàng Tăng tục xét qua đạo hạnh, sự hoằng hóa thuở còn sinh tiền, đến việc quy Tây và lưu Xá-lợi khi viên tịch, đều nhận định Ngài là bậc Thánh nhân tái lai để tùy cơ độ sinh và hộ trì chánh Pháp. Vì thế, nhân ngày kỷ niệm một năm viên tịch, các Liên hữu Tăng tục đồng suy tôn Đại sư làm vị tổ thứ mười ba của Liên tông.

 

The post Tiểu Sử 13 Vị Tổ trong Tịnh Độ Tông- Thích Thiền Tâm appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Tịnh Độ Hoặc Vấn – TT Thích Thiền Tâm https://bachhac.net/tinh-do-hoac-van-tt-thich-thien-tam.html Sat, 28 Mar 2020 03:11:51 +0000 https://bachhac.net/?p=3116 Tịnh Độ Hoặc Vấn – HT.Thích Thiền Tâm Đề từ: “Ngoài song non xanh giăng màn hoa Triền non thanh tuyền buông cầm ca Trong song kìa ai im như mơ Ngồi xem Thiên Như câu Di-đà Người đời đều ưa cơ Thiền sâu Hành nhơn ai vào tâm vương mầu Đèn sương trơ vơ …

The post Tịnh Độ Hoặc Vấn – TT Thích Thiền Tâm appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
TỊNH ĐỘ HOẶC VẤN

Tịnh Độ Hoặc Vấn – HT.Thích Thiền Tâm

Đề từ:

“Ngoài song non xanh giăng màn hoa

Triền non thanh tuyền buông cầm ca

Trong song kìa ai im như mơ

Ngồi xem Thiên Như câu Di-đà

Người đời đều ưa cơ Thiền sâu

Hành nhơn ai vào tâm vương mầu

Đèn sương trơ vơ ngoài trời thu

Non Tu, vi trần đều gồm thâu

Mà trong A Di hồng danh thâm

Ngàn muôn khôn tìm ra tri âm!

Thiên Như lòng từ soi chân đăng

Đưa người mau ra vòng mê lầm

Hư không chim bay dường như tranh

Lưu tuyền quanh co triền non xanh

Người đi xa xa làn mây trôi

Di-đà chân như nầy tâm lành

Ôi câu hồng danh mầu thâm xa

Sâu cùng chư Tông làng Thiền Na

Buông ra thâu vào đều như như

Tương tư tâm đầy trời Liên Hoa”.

Thiên Như lão nhơn đang tĩnh tọa nơi thất Ngọa Vân, bỗng có người đẩy cửa bước vào, tự xưng là Thiền khách. Lão nhơn im lặng gật đầu chào, đưa tay ra ý mời ngồi. Đối tọa đã lâu, ánh tịch dương tà tà xuyên qua song trúc, lò hương thiền khói sắp muốn tàn, khách từ từ đứng dậy, sửa y phục nghiêm trang, thư thả mở lời thưa thỉnh:

1. Hỏi rằng:

Trộm nghe Vĩnh Minh hòa thượng ẩm thọ môn học đơn truyền nơi Thiều Quốc Sư ở Thiên Thai, mà cũng chính là đích tôn của ngài Pháp Nhãn. Khi Hòa thượng trụ trì chùa Tịnh Từ ở Hàng Châu đã khai thị cho học chúng rất nhiều, biện tài cơ trí dường như gió cuốn, sấm vang, hải nội thiền lâm đều kỉnh xưng là bậc đại tông tượng. Tại sao ngoài sự nói Thiền, Ngài lại tự tu Tịnh độ, khuyên người niệm Phật, viết sách rộng truyền môn ấy nơi đời? Hơn nữa, Ngài lại làm kệ Tứ Liệu Giản, đại ý nói: “Có Thiền không Tịnh độ, mười người chín ngại đường. Không Thiền có Tịnh độ, muôn tu muôn người sinh”. Qua mấy câu ấy, có phải Ngài đã chủ trương Tịnh độ, tự hạ môn Thiền của mình, lời nói dường như quá đáng chăng? Ngu ý nghi ngờ việc nầy rất nhiều, mong Đại sư chỉ thị!

Đáp:

Lời hỏi ấy rất thích đáng! Tuy nhiên, Vĩnh Minh đại sư không phải quá khen Tịnh yểm Thiền, mà thật ra lời nói của Ngài rất có công với bên Tông cũng như bên Giáo. Tiếc vì trong Tứ Liệu Giản, Ngài chỉ nói lược qua đại cương, chưa phát minh hết ý thú, nên chưa đánh tan được mối nghi hoặc của nhà Thiền. Tôi học tập theo Thiền tông, chưa tinh tường về Tịnh độ, nhưng cũng thường qua những kinh sách của môn đó, nên cũng biết phần đại khái.

Tịnh độ là pháp dễ tu dễ chứng, song cũng là môn khó nói khó tin. Cho nên khi còn tại thế, đức Thích-ca Từ phụ vì hàng đệ tử nói kinh A-di-đà đã dự biết chúng sinh đời mạt pháp khó sinh lòng tin tưởng, mới dẫn lời thành thật của sáu phương chư Phật để phá mối nghi và phát khởi tín tâm cho người sau. Lúc thuyết kinh gần xong, nhân nói đến chư Phật khen ngợi mình, đức Bổn sư lại bảo: “Nên biết Ta ở nơi đời ác năm trược làm việc khó nầy đắc quả Vô Thượng Bồ-đề vì tất cả thế gian nói pháp khó tin đây, thật là một điều rất khó!”. Ấy đều là những lời tha thiết, cặn kẽ dặn dò để khuyên người tin tưởng vậy. Vả đấng Thế Tôn đã rủ lòng đại bi, cứu đời trong kiếp mạt, khi kim khẩu nói ra một câu một kệ, hàng nhơn, phi nhơn đều tín thọ phụng hành, nhưng riêng về thuyết Tịnh độ, thế gian có xen lẫn lòng nghi, là tại sao? Bởi giáo môn Tịnh độ cực rộng lớn mà pháp tu Tịnh độ lại quá giản dị, hai điểm ấy dường như cách biệt, khiến cho người nghe khó nén lòng nghi. Nói rộng lớn, là môn nầy thâu nhiếp tất cả căn cơ: trên từ bậc Đẳng giác Bồ-tát, vị Nhất sinh bổ xứ đều cầu về Tịnh độ, dưới cho đến hàng ngu phu, ngu phụ, kẻ tạo Ngũ nghịch, Thập ác, nếu quyết tâm tín hướng đều được vãng sinh. Nói giản dị là người tu không phải quá gian nan lao khổ, không trải qua cảnh giới sai biệt mê lầm, chỉ trì niệm sáu chữ hồng danh mà được thoát Ta-bà, được sinh Cực Lạc, được Bất thối chuyển, cho đến khi thành Phật mới thôi. Bởi có sự rộng lớn mà lại giản dị như thế nên dù cho người trí cũng sinh mối nghi ngờ. Nếu ông nhận thức rõ được điểm nầy, tất sẽ biết lời khen của ngài Vĩnh Minh rất có ý thâm, mà không phải là quá đáng.

*

2. Hỏi:

Sự rộng lớn và giản dị, tôi đã nghe lời chỉ dạy. Nhưng bậc ngộ đạt trong Thiền tông, đã gọi thấy tánh thành Phật, há lại khứng chịu cầu sinh về Tây Phương ư?

Đáp:

Thật ra, ông chưa biết đó thôi. Chính những bậc ngộ đạt càng cấp thiết cầu sinh. Cổ đức đã bảo: “Không cầu về Tịnh độ, còn nguyện sinh cõi nào?”. Nay ông chưa ngộ đạo, giả sử khi được tỏ ngộ rồi, e cho tâm niệm cầu sinh Cực Lạc của ông, muôn trâu cũng không thể kéo lại!

*

3. Hỏi:

Sở dĩ Phật, Tổ ra đời vì độ chúng sinh; học giả chỉ lo việc lớn chưa xong, nếu đã phát minh đại sự (tức ngộ đạo), nên theo gương đấng Đại Giác hiện thân vào nơi khốn khổ, không hiềm đường sinh tử mà độ khắp hàm linh. Nếu bậc đã ngộ đạt mà còn cầu sinh Tịnh độ, đó chẳng qua là tâm niệm chán khổ tìm vui, không đoái đến kẻ đang ở trong vòng chìm đắm? Tôi dù ngu hèn, vẫn không thích làm như vậy!

Đáp:

Thấy cái trứng mà muốn cho nó nở liền, tâm niệm ấy sao đà vội gấp! Ông cho rằng sau một phen tỏ ngộ thì nghiệp tập đã dứt sạch, được ngay vị Bất thối chuyển ư? Và cũng không còn học khắp Phật pháp, không cần phải tu hành thêm để chứng những quả vị từ thấp đến cao ư? Hay là ông lại nghĩ: sau một phen ngộ đạo, tất đã đồng hàng với chư Phật, có thể vào sinh ra tử không bị chướng duyên nhiễu loạn ư? Nếu quả như thế thì chư Đại Bồ-tát trải qua hằng hà sa kiếp tu sáu độ muôn hạnh, cũng đều phải hổ thẹn với ông vậy! Cổ giáo đã có lời răn nhắc: “Hàng Thanh văn còn muội lúc ra thai, bậc Bồ-tát còn mê khi cách ấm!”. Hai hạng ấy mà còn như thế, huống chi người ngộ giải non kém, tự cứu chưa xong giữa đời nay ư? Dù cho chỗ tỏ ngộ có sâu xa, trí thông hiểu có cao sáng, hạnh cùng giải hợp nhau, chí quyết muốn độ người; nhưng vì chưa lên hàng Bất thối, lực dụng chưa đầy đủ, mà muốn ở cõi đời ác nầy hóa độ kẻ cang cường, điều ấy bậc Tiên Thánh cũng chưa hứa nhận. Ví như đem chiếc thuyền đóng trám chưa kỹ để vớt người nơi biển dậy ba đào, cái họa trầm nịch cả đoàn tất không tránh khỏi. Cho nên, Luận Vãng Sinh nói: “Muốn du hành nơi địa ngục, muốn cứu độ chúng hữu tình mê khổ, trước phải cầu sinh về cõi kia, đợi khi chứng được Vô sinh nhẫn rồi sẽ trở lại đường sinh tử mà thực hành bổn nguyện. Do nhân duyên ấy nên người tu mới cầu về Tịnh độ”. Lại, Tiên Thánh cũng đã bảo: “Chưa được vị Bất thối chuyển, chưa chứng Vô sinh nhẫn, cần phải thường không rời Phật. Ví như trẻ thơ không nên xa mẹ, như chim non chỉ có thể bay chuyền theo cành cây”.

Nay, ở cõi Ta-bà nầy, đức Thích-ca đã diệt, Phật Di-lặc chưa sinh. Huống nữa, bốn đường khổ thú, nhân quả dây dưa, trăm mối ngoại tà, thị phi rối loạn; sắc tốt tiếng dâm hằng quyến dụ, cảnh hư duyên ác mãi vây quanh. Trong hiện trạng ấy, đã không có Phật để nương nhờ, lại bị cảnh duyên làm khuấy động, hàng sơ tâm ngộ đạo hỏi mấy ai không bị thối lui? Cho nên, đấng Thế Tôn ân cần chỉ về Cực Lạc là bởi lý do ấy. Phương chi ở cõi kia, đức Di-đà hiện đang nói pháp, cảnh diệu độ muôn thứ thuận duyên; đã nương nhờ hải chúng, nhẫn lực mau thành, lại gần đấng Pháp Vương, Phật thừa dễ đạt. Chừng ấy, muốn ra ứng hóa độ sinh, còn chi trở ngại? Cũng vì lẽ ấy, nên bậc thượng căn lợi trí còn nguyện thác sinh, huống chi ông là hạng trung hạ mới được đôi chút giải ngộ đó ư?

Ông há không thấy trong kinh Quán Phật Tam-muội, ngài Văn-thù tự bày tỏ túc nhân, bảo mình đã chứng môn Niệm Phật Tam-muội, thường sinh ở Tịnh độ ư? Do bởi đó, đức Thế Tôn mới thọ ký cho Ngài rằng: “Ông sẽ được sinh về thế giới Cực Lạc”.

Lại chẳng thấy trong kinh Hoa Nghiêm, Phổ Hiền Bồ-tát đem mười đại nguyện vương khuyến tấn Thiện Tài Đồng Tử và đại chúng nơi hải hội, nên dùng công đức đó cầu sinh về Cực Lạc ư? Trong ấy có đoạn nói:

“Tôi nguyện khi đến lúc lâm chung

Dứt trừ tất cả điều chướng ngại

Diện kiến đức Phật A-di-đà,

Liền được sinh về cõi Cực Lạc”.

Lại chẳng thấy trong kinh Lăng-già, đức Thế Tôn đã huyền ký: “Sau xứ Nam Thiên Trúc, có danh đức Tỷ-kheo, tôn hiệu là Long Thọ, hay phá hữu, vô tông. Trong thế gian hiển ngã, pháp Vô Thượng Đại thừa, chứng Sơ hoan hỷ địa, sinh về cõi Cực Lạc” ư?

Và chẳng thấy trong Luận Khởi Tín, Mã Minh Bồ-tát, khen ngợi sự vãng sinh; trong kinh Đại Bảo Tích, Phật hứa khả cho Tịnh Phạn Vương và bảy muôn Thích chúng đồng về An Dưỡng; trong kinh Thập Lục Quán, đức Thế Tôn chỉ dạy phương pháp cho bà Vi-đề-hy cùng năm trăm thị nữ được lễ cẩn đức A-di-đà ư?

Trong mấy vị trên, như vua Tịnh Phạn và bà Vi-đề-hy hiện tiền đều đã chứng được Vô sinh pháp nhẫn. Ở Tây Trúc, những hạng ấy cầu vãng sinh rất nhiều. Bên Đông Độ thì có Viễn Công ở Lô Sơn cùng các bậc cao nhơn trong Liên Xã, những vị tôn túc ở hai tông Thiên Thai, Hiền Thủ, tất cả đều dùng môn Niệm Phật tự tu và độ người khuyến hóa hàng Tăng tục đồng cầu sinh về Tịnh độ. Nói chung, những bậc cao đức tu Tịnh nghiệp số lượng không biết bao nhiêu mà kể! Đến như hai ngài Văn-thù, Phổ Hiền là bậc Đại Bồ-tát, Thiện Tài Đồng Tử và hải chúng Hoa Tạng đều là bậc đại nhơn trong bốn mươi mốt vị. Mã Minh, Long Thọ là hàng Bồ-tát, mà cũng là bậc Đại Tổ sư.

Những Thánh nhơn ấy chỗ ngộ và chứng siêu xuất hơn người ngộ đạt ngày nay như trời với vực, mà còn nguyện sinh về Tây Phương, ông bảo rằng đã tỏ ngộ không cầu về Cực Lạc, lại bác sự cầu sinh, thì các ngài Văn-thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ, chắc là không bằng ông rồi! Ông thử tự lượng xem chỗ tu chứng có bằng hai bậc Đại sĩ và hai vị Tổ sư; sự tham ngộ có bằng ngài Thiện Tài cùng hải chúng, cảnh giới sở đắc và được Phật hứa khả có bằng vua Tịnh Phạn và bà Vi-đề-hy chăng? Vả Tịnh Phạn Vương là thân sinh của Phật, bảy muôn Thích chúng là tộc thuộc của Ngài, nếu sự về Tịnh độ không có lợi ích thì đức Thế Tôn đâu nỡ khiến phụ vương và hàng thân thuộc cầu vãng sinh? Trước kia đã nói bậc chứng được Vô sinh nhẫn có thể vào tục độ sinh, nay vua Tịnh Phạn và người thân thuộc của Phật đã đắc quả ấy mà đức Như Lai còn khuyên và thọ ký cho vãng sinh, thì tấm lòng hộ trì bảo dưỡng của Ngài há chẳng là thân thiết và sâu xa ư?

Tôi thấy hàng Thiền giả đời nay phần nhiều không xét liễu nghĩa của Như Lai, chẳng rõ huyền cơ của Đạt-ma, bụng rỗng lòng cao, tập quen thành bệnh cuồng vọng. Khi thấy người tu Tịnh độ, họ khinh thường và cười bảo: “Đó là việc làm thấp kém của hàng ngu phu ngu phụ!”. Tôi thường cho đó không phải khinh hạng ngu phụ, ngu phu, mà chính là khinh các ngài Văn-thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ; đó chẳng những tự mê chánh đạo, tự làm mất căn lành mà còn tự bỏ quên huệ thân và tự để tiêu Phật chủng. Đó cũng là tự gây ra tội báng Chánh pháp, tự kết thành nghiệp khinh Thánh Tăng. Chư Phật, Tổ xem những kẻ ấy là hạng người đáng thương xót! Vì lẽ ấy nên ngài Vĩnh Minh động mối bi tâm đem hết tâm can chủ trương Tịnh độ, đã tự tu lại khuyên đời. Khi lâm chung, Đại sư biết trước ngày giờ, có các điềm lành ứng hiện; lúc Trà-tỳ Xá-lợi tuôn ra vô số. Về sau có một vị Tăng ở Phủ Châu thường cung kính đi nhiễu xung quanh tháp của Ngài, nhiều người hỏi lý do thì vị Tăng ấy đáp: “Nhân lúc tôi bị bệnh nặng, thần thức đi vào minh giới, Diêm Vương xét thấy thọ số chưa mãn, cho đưa trở về. Khi ấy, tôi thấy bên phía tả đại điện có thiết bàn thờ di tượng một vị Đại đức, Diêm Vương lễ bái ân cần. Hỏi ra thì Quan Chủ lại bảo đó là chân dung của Vĩnh Minh Diên Thọ thiền sư, vì Ngài tu hành tinh tấn, được sinh về Thượng phẩm ở Cực Lạc nên Diêm Vương họa tượng để thờ”. Vĩnh Minh đại sư là bậc đã ngộ suốt môn Thiền trực chỉ của tổ Đạt-ma, mà lại gởi chất nơi phẩm sen thượng thượng bên trời An Dưỡng; những sự kiện ấy đủ giải thích mối tình chấp của người tu Thiền, còn làm duyên khuyến tấn cho chúng sinh đời mạt pháp. Cho nên, tôi nói Ngài rất có công đối với bên Tông cũng như bên Giáo là ở điểm nầy.

Song, chẳng những chỉ có Vĩnh Minh đại sư mới như thế mà thôi. Ngoài ra, còn có Tử Tâm Tân thiền sư đã ngộ bên Thiền, lại khuyên tu bên Tịnh. Ngài đã bảo: “Di-đà rất dễ niệm, Tịnh độ rất dễ sinh. Người tham Thiền niệm Phật rất tốt. Nếu kẻ căn cơ hơi kém, sợ e đời nay chưa được đại ngộ, kiếp sau dễ lạc bến mê, thì nên nhờ sức bi nguyện của đức A-di-đà để sớm vãng sinh về Cực Lạc. Nếu vị nào chí tâm niệm Phật mà không được sinh về Tịnh độ, lão Tăng xin chịu đọa vào địa ngục Bạt Thiệt (ngục rút lưỡi)”. Lại như Chân Yết Liễu thiền sư, trong bài văn Khuyên Tu Tịnh Độ, có nói: “Tại sao người trong tông Tào Động, ngoài sự tập Thiền, còn mật tu Tịnh độ? Sở dĩ có việc ấy, vì pháp môn Niệm Phật là con đường tắt trong các lối tu hành. Xét trong Đại tạng, môn nầy ngoài sự tiếp dẫn bậc thượng thượng căn còn thâu nhiếp hạng người trung hạ… Bậc đại tượng trong Tông môn đã ngộ pháp phi không phi hữu, lại chăm chú tu Tịnh nghiệp, có phải sự thấy Phật của Tịnh độ còn giản dị hơn tông môn chăng? Cho nên, dù Phật, dù Tổ, hoặc Giáo, hoặc Thiền đều do nơi cửa Tịnh độ đồng về nơi chân nguyên. Vào được môn nầy, tức có thể vào được vô lượng pháp môn khác…”.

Đến như các Ngài: Thiên Y Hoài thiền sư, Viên Chiếu Bản thiền sư, Từ Thọ Thâm thiền sư, Nam Nhạc Tư thiền sư, Pháp Chiếu thiền sư, Tịnh Yết thiền sư, Tịnh Từ Đại Thông thiền sư, Thiên Thai Hoài Ngọc thiền sư, Lương Đạo Trân thiền sư, Đường Đạo Xước thiền sư, Tỳ Lăng Pháp Chân thiền sư, Cô Tô Thủ Nạp thiền sư, Bắc Nhàn Giản thiền sư, Thiên Mục Lễ thiền sư, những đại lão ấy là bậc tông tượng trong Thiền môn, song xét ra chỗ mật tu và hiển hóa đều phát dương ý chỉ Tịnh độ, tuy không ước hẹn mà ngẫu nhĩ đồng đường.

Chẳng những các vị đại lão ấy như thế mà thôi, tôi lại thường nghe một vị kỳ túc bên Tông môn nói: “Hầu hết Ngũ gia tông phái và những Thiền Tăng trong thiên hạ, đã tỏ ngộ cùng chưa tỏ ngộ, đều quy hướng về Tịnh độ”. Hỏi lý do thì vị đó đáp: “Ngài Bá Trượng Trí Hải thiền sư là đích tử của Giang Tây Mã Tổ, những Tòng lâm trong thiên hạ đều y theo cách thức của Ngài mà kiến lập và Thanh Quy ở khắp Thiền môn đều y theo pháp chế của Ngài mà cử hành. Từ xưa đến nay không ai dám có lời thị phi và trái với pháp chế ấy”.

Theo Thanh Quy của Ngài thì nghi thức tụng cầu cho những vị Tăng bệnh nặng là phải nhóm chúng lại, tất cả đồng tụng bài kệ tán Phật A-di-đà, rồi cao tiếng niệm Nam mô A-di-đà Phật, hoặc trăm câu, ngàn câu. Khi niệm xong, hồi hướng phục nguyện rằng: “Nếu các duyên chưa mãn, sớm được an lành. Như hạn lớn đến kỳ, sinh về An Dưỡng”. Đó chẳng phải là bằng chứng chỉ quy Tịnh độ hay sao? Lại trong nghi thức đưa những vị Tăng đã tịch có đoạn nói: Đại chúng đồng niệm A-di-đà Phật hồi hướng phục nguyện rằng: “Thần siêu cõi Tịnh, nghiệp dứt đường trần, Thượng phẩm sen nở hiện kim thân, Nhất sinh Phật trao phần quả ký”. Đó không phải là bằng chứng chỉ quy Tịnh độ hay sao? Đến như lúc Trà-tỳ, trong Thanh Quy lại dạy: Vị Duy-na đánh dẫn khánh niệm Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A-di-đà Phật mười lần, đại chúng đồng xướng họa theo. Khi xướng xong, lại hồi hướng rằng: “Trước đây xưng dương mười niệm, phụ giúp vãng sinh…”. Đó không phải là bằng chứng chỉ quy Tịnh độ hay sao? Cho nên, lão Tăng nói: “Các Thiền gia trong thiên hạ đều quy hướng Tịnh độ là bởi nguyên nhân đó”.

Tôi nghe những lời dẫn chứng của vị kỳ túc ấy đều có y cứ, nên không biện bác ra sao được. Nhân đó tôi lại chợt hiểu chỗ lập pháp của ngài Bá Trượng tất có thâm ý nhiệm mầu.

Nay ông ở Tòng lâm, thân đã đưa không biết bao nhiêu vị Tăng quy tịch, tai cùng miệng đã nghe và xướng không biết bao nhiêu lần mười niệm, ý đã chuyên chú hồi hướng về Tịnh độ lại không biết bao nhiêu lần! Thế mà ông đã không hiểu ý Tổ sư, đã không phát lòng thức tỉnh, lại lầm bảo: những bậc ngộ đạt không nguyện vãng sinh. Quả thật, cái bệnh chấp Thiền trong thiên hạ, không còn ai hơn ông được!

*

4. Hỏi:

Sự nhiếp cơ của Tịnh độ quả thật là rộng, ngu giả không còn dám luận bàn. Nhưng tôi thường nghe nói: “Di-đà bổn tánh, Tịnh độ duy tâm”, trong ý cũng có trộm mừng! Đến chừng xem qua các kinh luận về tông nầy thì Tịnh độ là miền Cực Lạc ngoài muôn ức cõi, Di-đà là vị giáo chủ ở Liên Bang. Như vậy thì kia đây cách xa, ngoài nghĩa lý duy tâm bổn tánh rồi! Thế là ý chỉ gì?

Đáp:

Chỗ hiểu ấy còn nông cạn hẹp hòi. Ông không biết rằng Chân tâm của ông rộng rãi và sáng suốt vô cùng? Kinh Lăng-nghiêm nói: “Những non sông đất liền cho đến hư không ở ngoài sắc thân ta, đều là cảnh vật trong Chân tâm mầu sáng”. Lại nói: “Các pháp sinh hóa đều là hiện cảnh của duy tâm”. Thế thì đâu có cõi Phật nào ngoài tâm ta ư? Cho nên, ý nghĩa của Tịnh độ duy tâm là nói cõi Tịnh độ ở trong Chân tâm của ta, như biển cả nổi lên vô lượng bóng bọt, mà không có bóng bọt nào ở ngoài biển cả. Lại như những hạt bụi nơi đất liền, không có hạt bụi nào chẳng phải là đất; cũng như không có cõi Phật nào chẳng phải là tâm. Nên Tiên Thánh đã nói: “Chỉ một tâm nầy có đủ bốn cõi là: Phàm Thánh Đồng Cư, Phương Tiện Hữu Dư, Thật Báo Vô Chướng Ngại và Thường Tịch Quang”.

Cõi Phàm Thánh Đồng Cư có hai: Đồng Cư Tịnh Độ và Đồng Cư Uế Độ. Đồng Cư Uế Độ là như cõi Ta-bà trong quốc độ nầy, có phàm Thánh ở chung lẫn, mà phàm và Thánh đều có hai hạng. Hai hạng của phàm là ác chúng sinh, tức bốn thú và thiện chúng sinh, tức trời người. Hai hạng của Thánh là Thật Thánh và Quyền Thánh. Thật Thánh là các Thánh nhơn thuộc bốn đạo quả, bậc Bích-chi Phật, bậc Thất địa trong Thông giáo, Thập trụ trong Biệt Giáo, Thập tín hậu tâm trong Viên giáo. Những vị nầy phần thông hoặc tuy dứt, song sắc thân quả báo hãy còn, nên đều gọi là Thật. Quyền Thánh là các vị Bồ-tát trụ ở những cõi Phương Tiện, Thật Báo, Tịch Quang cùng bậc Diệu Giác (Phật) vì làm lợi lạc cho kẻ hữu duyên nên ứng sinh vào cõi Đồng Cư. Bởi tùy cơ thị hiện nên gọi là Quyền. Những vị trên đây cùng với phàm phu đồng ở, nên gọi là Phàm Thánh Đồng Cư, và cảnh cư trú về phần khí thế giới, có hầm hố, gai góc, bùn đất, cùng các tướng nhơ nhớp, về phần hữu tình giới có bốn ác thú, nên gọi là Uế Độ. Đồng Cư Tịnh Độ là như cõi Cực Lạc, tuy y báo, chánh báo nơi đây trang nghiêm mầu nhiệm, không có bốn ác thú, song cũng gọi Phàm Thánh Đồng Cư vì chúng sinh sinh về cõi nầy không phải đều là bậc đắc đạo. Như trong kinh nói: “Hạng người phạm tội nặng, khi lâm chung chí tâm sám hối và niệm Phật đều được vãng sinh”. Do đó, nên biết nơi cõi nầy, chúng sinh còn hoặc nhiễm cũng có thể được ở. Thế giới Cực Lạc cũng có hai hạng Thánh cư và bởi y báo, chánh báo đều sạch sẽ trang nghiêm nên gọi là Tịnh độ. Để nói rộng thêm, tuy gọi Tịnh độ nhưng thật ra trong ấy có nhiều hạng hơn kém không đồng. Như thế giới Diệu Hỷ, tuy là Tịnh độ, song còn có nam nữ và núi Tu-di, và Tịnh độ đã như thế, uế độ cũng như vậy.

Cõi Phương Tiện Hữu Dư là chỗ ở của bậc Nhị thừa và ba hạng Bồ-tát đã chứng Phương Tiện Đạo. Những vị nầy do tu hai môn quán, dứt phần thông hoặc, phá hết trần sa, bỏ thân phần đoạn, thọ thân Pháp tánh, tự tại ở ngoài ba cõi; nhưng vì họ chưa đoạn được Biệt hoặc vô minh nên còn có sự Biến dịch sinh tử. Sở dĩ gọi là Phương Tiện vì đó là cảnh giới của hành nhơn tu chứng Phương Tiện Đạo. Gọi Hữu Dư là bởi họ chưa đoạn được vô minh. Cho nên, trong Thích Luận nói: “Ngoài Tam giới có cõi Tịnh độ, đây là chỗ của hàng Thanh văn, Bích-chi Phật cư trú, thọ Pháp tánh thân, không còn sự Phần đoạn sinh tử”.

Cõi Thật Báo Vô Chướng Ngại là nơi không có hàng Nhị thừa, chỉ thuần là bậc Pháp thân Bồ-tát ở. Những vị nầy phá từng phần vô minh, chứng từng phần Pháp tánh, được quả báo chân thật. Song vì họ chưa đoạn hết vô minh nên còn nhuận vô lậu nghiệp, thọ Báo thân Pháp tánh, và cảnh giới nầy cũng gọi là Quả Báo Độ. Kinh Nhân Vương nói: “Ba hiền, mười Thánh trụ Quả Báo” là chỉ cho sự việc trên đây. Sở dĩ gọi Thật Báo vì các Đại sĩ ấy do quán Thật tướng, phát được chân vô lậu, thọ hưởng quả báo chân thật. Gọi Vô Chướng Ngại là bởi chư Bồ-tát đây tu Chân Không Định, sắc cùng tâm không ngăn ngại lẫn nhau. Trong kinh Hoa Nghiêm, thuyết minh thế giới Nhân Đà La Võng, chính là cảnh nầy.

Cõi Thường Tịch Quang là chân lý Pháp giới như như, sáng suốt cùng cực của bậc Diệu Giác. Đây là Phật tánh Chân như, tức độ là thân, tức thân là độ, thân và độ không hai, là trụ xứ của đức Tỳ-lô-giá-na, cũng gọi là Pháp Tánh Độ. Thường chính là đức Pháp thân. Tịch là đức Giải thoát. Quang là đức Bát-nhã như chữ Y có ba điểm, không thể cách lìa, một tức là ba, ba nguyên vẫn một. Đây cũng gọi là Bí Mật Tạng, là cảnh giới du hóa của Như Lai, cứu cánh chân thường, thanh tịnh cùng cực.

Hai cõi trước là chỗ ở của Ứng thân Phật. Cõi thứ ba cũng thuộc về Ứng cũng thuộc về Báo, mà chánh thức là chỗ ở của Báo thân Phật. Cõi thứ tư không phải Ứng và Báo mà kiêm cả Ứng, Báo, là chỗ ở của Pháp thân Phật.

Bốn cõi trên đây tùy theo chỗ tu chứng mà phân chia, song kỳ thực vẫn là một. Cho nên, Chân tâm bao trùm muôn tượng, vô biên quốc độ như vi trần ở khắp mười phương chính là cảnh giới trong tâm ta, hằng sa chư Phật trong ba đời, cũng là các đức Phật trong tâm ta; tất cả không ngoài bổn tâm mà có. Hiểu được lý nầy thì biết không có cõi nào chẳng nương nơi tâm ta mà kiến lập, không có vị Phật nào chẳng nương nơi tánh ta mà xuất sinh. Thế thì miền Cực Lạc ngoài mười muôn ức cõi há chẳng phải là cảnh Tịnh độ của duy tâm ư?

Thế giới Cực Lạc đã như thế thì vị giáo chủ ở cõi ấy cũng là đức Di-đà của bổn tánh. Nên biết chỉ một tâm nầy bao trùm đủ mười giới, thân và độ dung thông, trùng trùng không ngại. Lại nên biết tâm, Phật, chúng sinh, ba chính là một, đồng thể không khác nhau, chúng sinh và Phật hỗ hiện, mỗi niệm giao tham. Cho nên cổ đức nói: “Chúng sinh trong tâm chư Phật, mỗi trần đều là Cực Lạc; chư Phật trong tâm chúng sinh, mỗi niệm chính thật Di-đà. Mười phương tịnh, uế gom về trong khoảng Sát-na. Một niệm sắc tâm, bủa khắp gồm thâu Pháp giới”. Xem thế thì biết, tất cả đều sẵn đủ trong thể thiên chân, không phải do duyên khởi mới thành lập. Một tâm niệm đã như thế, một điểm trần lại khác chi? Vì vậy nên mới có thể:

“Trong mỗi mỗi trần tất cả cõi

Trong mỗi mỗi tâm tất cả tâm

Mỗi mỗi tâm trần lại khắp nhau

Trùng trùng không tận, không chướng ngại

Đồng thời hiện rõ không ẩn hiển

Tất cả viên thành chẳng kém hơn”.

Cảnh giới Chân tâm bao hàm vô biên quốc độ trên đây, như lưới báu Thiên Châu của trời Đế Thích, bóng và ánh sáng của bao nhiêu hạt châu đều gom hiện vào một hạt châu, bóng và ánh sáng của một hạt châu lại hiện khắp vào tất cả các hạt châu khác. Tuy mỗi mỗi hạt châu giao hiện lẫn nhau, nhưng hạt châu nầy không thể là hạt châu kia, hạt châu kia không thể là hạt châu nầy, xen mà không tạp, lìa mà chẳng phân, mỗi mỗi khắp bày, vẫn không sở tại! Thế giới Cực Lạc cho đến mười muôn ức cõi mỗi miền cũng như một trong các hạt châu. Nói tinh tế hơn, khắp mỗi cõi từ Tam thừa Thánh nhơn cho đến trời, người, Tu-la, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục, mỗi mỗi lại cũng như một trong các hạt châu. Và đức A-di-đà cũng là một trong các hạt châu. Cho nên, thấy một vị Phật tức thấy mười phương chư Phật, mà cũng là thấy chín giới chúng sinh ở khắp mười phương. Cõi Phật vô biên, mười phương kim cổ toàn thể là một hải ấn đốn viên, không còn pháp chi khác nữa!

Như thế thì thân trải qua mười muôn ức cõi, chính hóa sinh trong bổn tâm ta; chất gởi nơi chín phẩm hoa sen, há cách biệt ngoài chân như Phật? Những lời dẫn giải trên đây đều là những minh huấn của Phật, Tổ, Thánh, Hiền đã tuyên dương vậy. Hiểu được lý này tất sẽ thấy thế giới Cực Lạc là duy tâm, mỗi cõi Phật mỗi điểm trần đều là duy tâm; đức Di-đà là bổn tánh, mỗi vị Phật mỗi chúng sinh cũng đều là bổn tánh. Như thế lại còn chi phải nghi ngờ?

Lời phụ:

Pháp giới Chân tâm là một thể rộng rãi vô biên, bao hàm vi trần thế giới, chư Phật và chúng sinh. Trong thể nhất chơn ấy, phần thế giới chúng sinh luôn luôn biến đổi, thuộc về Sinh diệt môn; phần tịch quang lặng mầu sáng suốt và thường hằng gọi là Chân như môn. Chân tâm là một thật thể chung, gồm hai môn hữu vi và vô vi đó. Tất cả những danh từ: Chân tâm, Bổn tánh, Bản thể, Phật tánh, Như Lai Tạng, Pháp giới, Pháp tánh, Thật tướng, Niết-bàn, Pháp thân, Vô Cấu Bạch Tịnh Thức, Như Lai A-lại-da Thức, Bản lai diện mục, Bát-nhã, Chân không, đều là chỉ cho thật thể ấy.

Để trở về thật thể nầy, giáo môn của Phật chia làm hai. Các tông như: Thành Thật, Tam Luận, Thiên Thai, Thiền, Thai Tạng Bộ của Mật giáo từ nơi Không môn mà đi vào. Còn các tông: Câu-xá, Pháp Tướng, Luật, Hoa Nghiêm, Tịnh độ và Kim Cang Bộ của Mật giáo lại do nơi Hữu môn mà thể nhập. Cho nên, những vị hiểu sâu về lý Bát-nhã của Thiền, hay lý huyền môn của Hoa Nghiêm đều nhận rõ sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc chính là không, không chính là sắc. Trái lại, các vị học chưa thấu đáo, nếu không chấp có tất cũng chấp không. Nhưng chấp có thì còn biết kiêng sợ nhân quả, lánh dữ làm lành, đời sau hưởng phước nhân thiên, hoặc chuyên niệm Phật lại có thể sinh về Tịnh độ. Đến như chấp không tất sẽ đi đến chỗ bài nhân quả, bác Phật Thánh, tương lai bị đọa xuống Tam đồ. Cho nên, tiên đức đã răn bảo: “Thà chấp có như non Tu, chớ chấp không như hạt cải!”.

Vị Thiền giả trên, vì chưa nhận rõ Chân tâm, nên nghe nói “duy tâm Tịnh độ, bổn tánh Di-đà”, vội hiểu lầm rằng tâm mình thanh tịnh đó là Tịnh độ là Di-đà rồi, chớ không có cõi Cực Lạc hay đức Di-đà nào khác nữa. Phật pháp dù ở xứ nào, Trung Hoa hay Việt Nam cũng có hạng người tà kiến chấp không ấy. Đại khái họ bác không có Di-đà, Cực Lạc, không có địa ngục, thiên cung, hoặc như nói Địa Tạng là tâm địa tánh tạng, chớ không có đức Địa Tạng nào cả. Như người đeo cặp kiếng đen thì thấy nơi nào cũng tối tăm, những kẻ ấy dù có giảng thuyết bao nhiêu lời, diễn dịch bao nhiêu kinh sách, kết cuộc cũng lạc vào bệnh không chấp. Những kẻ chấp không thường tự cao tự mãn, cho mình là cao siêu, bác người là chấp tướng. Xét ra khi diễn dịch kinh, họ cũng có tâm muốn hoằng dương Phật pháp, không dè ngược lại thành ra kết quả hủy báng Tam Bảo; tự mình đã sai lầm, khiến cho bao nhiêu người khác bị lầm lạc theo. Ví như kẻ dùng y đem tâm muốn cứu đời, chẳng ngờ sự học hiểu về y dược không rành, trở lại làm cho nhiều người thêm bệnh.

Cho nên sự dịch kinh, thuyết pháp, vị tất là có phước, là hoằng dương Phật giáo nếu hành giả lạc vào tà kiến, không hiểu ý kinh.

*

5. Hỏi:

Đã gọi tịnh uế dung thông, mỗi điểm trần đều là Cực Lạc, tại sao cõi Ta-bà lại thành uế độ?

Đáp:

Do nghiệp cảm của phàm phu, chính nơi tịnh mà thành uế. Còn Phật nhãn nhìn xem tất cả uế đều thành tịnh. Báo cảnh của đức Thích-ca, há phải thật là uế ư?

6. Hỏi:

Lý duy tâm bao gồm tất cả, viên dung không ngại, tôi đã tin là rộng lớn, là nhiệm mầu. Nhưng kẻ còn trệ nơi tình mê, chưa lìa nghiệp uế, làm sao mà được thanh tịnh?

Đáp:

Tâm nhơ thì cõi nhơ, tâm sạch thì cõi sạch. Kinh Duy-ma nói: “Muốn được Tịnh độ, trước phải tịnh tâm; tùy tâm thanh tịnh, cõi Phật thanh tịnh”. Pháp tu Tịnh độ là một môn huyền diệu để đi đến chỗ tịnh tâm, không còn phương tiện nào đặc biệt hơn nữa!

*

7. Hỏi:

Về phần đại khái của pháp môn Tịnh độ, tôi có thể nghe được chăng?

Đáp:

Tịnh độ nguyên không chi tu, tu nhân bởi mê lầm mới có; pháp môn vẫn không cao thấp, cao thấp do căn lành mà phân. Vì chúng sinh căn cơ sai biệt nhau, nên pháp tu cũng có nhiều cách. Tuy nhiên, nếu tóm lại, có thể chia thành ba môn là: Quán tưởng, Ức niệm, và Chúng hạnh.

Môn thứ nhất, nói Quán tưởng là như trong Quán Kinh dạy: “Chư Phật Như Lai là thân Pháp giới, vào trong tâm tưởng của tất cả chúng sinh”. Cho nên khi tâm các ông tưởng Phật thì tâm ấy chính là 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp tùy hình, tâm ấy làm Phật, tâm ấy là Phật. Biển Chánh Biến Tri của Phật từ nơi tâm tưởng mà sinh. Vì thế các ông phải nhớ nghĩ và quán tưởng kỹ thân đức Phật kia.

Thiên Thai Sớ nói: “Mấy chữ chư Phật Như Lai sắp xuống là thuyết minh tất cả chư Phật; mấy chữ phải nhớ nghĩ sắp xuống là chỉ cho quán tưởng riêng đức A-di-đà. Pháp giới thân là Pháp thân của Báo Phật. Tâm chúng sinh tịnh, Pháp thân tự hiện nên gọi là “vào”; như khi vầng hồng nhật mọc lên tất bóng hiện xuống trăm sông. Đây là chỉ cho Phật thân tự tại, có thể tùy vật hiện hình vậy. Lại Pháp giới thân là chỉ cho thân Phật, khắp tất cả chỗ, lấy Pháp giới làm thể. Khi hành giả chứng được môn Quán Phật Tam-muội nầy, giải nhập tương ưng, nên nói vào trong tâm tưởng. “Tâm nầy làm Phật” là Phật nguyên vẫn không, nhân chúng sinh tâm tịnh mới có. “Tâm nầy là Phật” ý nói trước nghe bảo: Phật nguyên vẫn không, nhân chúng sinh tâm tịnh mới có, sợ e người hiểu lầm cho rằng bỗng nhiên mà có, nên mới nói “là Phật”, mới khởi tu quán nên nói “làm”, sự tu đã thành nên gọi “là”.

Diệu Tông Thích nói: “Muốn tưởng thân Phật, phải hiểu rõ quán thể. Thể đó là Bổn giác, từ nơi đây mà khởi thành pháp quán. Bổn giác là thân Pháp giới của chư Phật, vì chư Phật không sở chứng chi khác, toàn chứng bổn tánh của chúng sinh. Nếu Thủy giác có công, Bổn giác mới hiển, nên nói Pháp thân từ nơi tâm tưởng mà sinh”. Lại đức Di-đà cùng tất cả chư Phật đồng một Pháp thân một trí huệ, sự ứng dụng cũng như vậy. Hiển được thân đức Di-đà tức là hiển được thân chư Phật, tỏ được thân chư Phật tức là lộ được thể Di-đà. Cho nên, trong văn kinh nói rộng qua chư Phật để kết về sự quán tưởng đức A-di-đà. Từ mấy chữ thân Pháp giới trở xuống là nói về sự giao cảm của đạo cảm ứng và ước về lý giải nhập tương ưng.

Phê bình về hai lời giải trên, ngài Dung Tâm đã nói: “Nếu không có lời giải trước thì môn Quán tưởng ấy không phải là quán Phật; như không có lời giải sau, e học giả hiểu lầm rằng thể của chúng sinh và Phật, khác nhau. Hai lối giải đã tác thành cho nhau mà thuyết minh quán pháp vậy”.

Môn thứ hai, nói Ức niệm là hành giả hoặc duyên theo tướng tốt, hoặc trì danh hiệu của Phật, đều gọi là “Ức niệm”. Môn nầy có lý có sự. Trong Kinh Hoa Nghiêm, Giải Thoát trưởng giả nói: “Nếu tôi muốn thấy đức Vô Lượng Thọ Như Lai và thế giới An Lạc thì tùy ý liền được thấy. Tôi có thể biết rõ tất cả chư Phật, quốc độ tùy thuộc cùng những việc thần thông của các Ngài. Bao nhiêu cảnh tướng trên đây không từ đâu mà đến, không đi về đâu, không có xứ sở và không chỗ trụ; cũng như thân tôi không thật có đi đứng, tới lui. Các đức Như Lai kia không đến chỗ tôi, tôi cũng không đi đến chỗ của các Ngài. Sở dĩ như thế, vì tôi hiểu rõ tất cả chư Phật cùng với tâm mình đều như mộng. Lại hiểu tự tâm như nước trong chum, các pháp như hình bóng hiện trong nước. Tôi đã ngộ tâm mình như nhà huyễn thuật, tất cả chư Phật như cảnh huyễn hóa. Lại biết chư Phật Bồ-tát trong tự tâm, đều như tiếng vang, như hang trống tùy theo âm thanh mà phát ra tiếng dội lại. Vì tôi ngộ giải tâm mình như thế nên có thể tùy niệm thấy Phật”.

Về đoạn kinh trên, ngài Trinh Nguyên giải rằng: “Từ câu đầu đến mấy chữ chỗ của các Ngài chính là thuyết minh lý duy tâm, nếu ngộ tức tâm mà vô tâm liền vào Chân như Tam-muội. Khi hành giả hiểu rõ các cảnh tướng đều hư huyễn, duy tâm hiện ra, đã ngộ duy tâm và tức tâm là Phật, thì tùy chỗ tưởng niệm, không đâu chẳng là Phật. Đoạn sau nêu ra bốn điều thí dụ: “cảnh mộng” là dụ cho lý không đến không đi, “hình bóng trong nước” là dụ cho lý không ra không vào, “tướng huyễn hóa” là dụ cho lý chẳng có chẳng không, “tiếng vang” là dụ cho lý chẳng tan chẳng hợp. Và dụ thứ nhất là nói toàn thể đều duy tâm, dụ thứ hai nói vì duy tâm nên không, dụ thứ ba nói vì duy tâm nên giả dụ, thứ tư nói vì duy tâm nên trung. Bốn dụ đều đủ bốn quán, gồm thông và biệt để hiển lý duy tâm, tất cả vẫn viên dung không ngại, đó là ý Kinh Hoa Nghiêm”.

Nếu hành giả hiểu rõ lý trên đây, rồi chấp trì bốn chữ A-di-đà Phật, không dùng tâm có, tâm không, tâm cũng có cũng không, tâm chẳng phải có chẳng phải không, dứt cả quá khứ hiện tại vị lai mà niệm, đó gọi là Lý Ức niệm. Và ngày đêm sáu thời cứ như thế mà nhiếp tâm trì niệm không cho gián đoạn, không sinh một niệm thì chẳng cần vượt giai tầng mà đi thẳng vào cõi Phật. Đây cũng gọi là Lý nhất tâm.

Về sự Ức niệm, như trong Kinh Lăng-nghiêm nói: “Nhớ Phật niệm Phật, hiện đời hoặc đương lai nhất định sẽ thấy Phật, cách Phật không xa, không cần mượn phương tiện chi khác mà tâm tự được khai ngộ”. Hay như các kinh sách khác đã chỉ dạy, hoặc hệ niệm suốt một đời, hoặc trì niệm trong ba tháng, bốn mươi chín ngày, một ngày đêm, cho đến bảy ngày đêm, hoặc mỗi buổi sớm mai giữ mười niệm. Nếu hành giả dùng lòng tin sâu, nguyện thiết, chấp trì câu niệm Phật như rồng gặp nước, như cọp dựa non thì được sức Phật gia bị đều vãng sinh về Cực Lạc. Theo trong kinh, cho đến hạng phàm phu tạo tội Ngũ nghịch Thập ác, nếu khi lâm chung chí tâm xưng danh hiệu Phật mười niệm, cũng được vãng sinh. Và đây gọi là Sự nhất tâm.

Nói tóm lại, Lý nhất tâm là người thông đạt bốn lý quán trên, dùng tâm ấy mà niệm Phật, tương ưng với không huệ, đi đến chỗ thuần chơn. Sự nhất tâm là hành giả tâm còn giữ niệm, mỗi niệm không cho xen hở, đi đến chỗ không còn tạp niệm. Lý nhất tâm là hành môn của bậc thượng căn, Sự nhất tâm thông về hàng trung, hạ.

Môn thứ ba, nói Chúng hạnh là hành giả dùng nhiều hạnh để vãng sinh về Cực Lạc. Như trong kinh Hoa Nghiêm, Phổ Hiền Bồ-tát khuyến tấn Thiện Tài Đồng Tử và đại chúng nơi hải hội dùng mười đại nguyện vương cầu sinh Tịnh độ. Mười đại nguyện ấy là:

1. Lễ kính chư Phật;

2. Khen ngợi Như Lai;

3. Rộng tu sự cúng dường;

4. Sám hối nghiệp chướng;

5. Tùy hỷ các công đức;

6. Thỉnh Phật chuyển pháp luân;

7. Thỉnh Phật trụ ở đời;

8. Thường theo Phật tu học;

9. Hằng tùy thuận chúng sinh

và 10. Hồi hướng khắp tất cả.

Trong mỗi nguyện ấy đều có nói: “Khi nào cõi hư không, cõi chúng sinh, nghiệp chúng sinh, phiền não của chúng sinh hết, thì nguyện tôi mới hết”. Và hành giả phải dùng ba nghiệp thân, khẩu, ý, thực hành nguyện đó không gián đoạn, không chán mỏi. Đến khi lâm chung, tất cả mọi thứ tùy thân đều để lại, cho đến các căn đều tan rã, duy đại nguyện ấy hằng theo bên mình, trong khoảng Sát-na, hành giả liền được sinh về Cực Lạc. Đây là nói về dùng nguyện lực để vãng sinh.

Lại như trong kinh Đại Bảo Tích, đức Thế Tôn bảo ngài Di-lặc: “Mười thứ tâm nầy, không phải hạng phàm ngu, bất thiện, kẻ nhiều phiền não có thể phát được. Mười thứ tâm ấy là gì?

1. Đối với chúng sinh khởi lòng đại từ, không làm tổn hại.

2. Đối với chúng sinh khởi lòng đại bi, không làm bức não.

3. Với Chánh pháp của Phật, hết lòng hộ trì, không tiếc thân mạng.

4. Với Chánh pháp sinh lòng thắng nhẫn, không chấp trước.

5. Tâm điềm tĩnh an vui, không tham sự lợi dưỡng, cung kính, tôn trọng.

6. Tâm cầu chủng trí của Phật trong tất cả thời không quên lãng.

7. Đối với chúng sinh khởi lòng tôn trọng cung kính, không cho là hạ liệt.

8. Không tham trước thế luận, với phần
Bồ-đề sinh lòng quyết định.

9. Tâm thanh tịnh không tạp nhiễm, siêng trồng các căn lành.

10. Đối với chư Phật, xả ly các tướng, khởi lòng tùy niệm”.

Đây là mười thứ phát tâm của Bồ-tát, do tâm nầy nên được vãng sinh. Nếu có kẻ nào thành tựu một trong mười tâm trên, muốn sinh về thế giới Cực Lạc mà không được như nguyện, đó là điều không khi nào có. Đoạn kinh trên là nói về dùng tâm lực để vãng sinh.

Lại nữa, như trong kinh Đại Bi Tâm Đà-la-ni, đức Quán Thế Âm Bồ-tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Nếu chúng sinh nào tụng trì thần chú Đại Bi mà còn bị đọa vào ba đường ác, tôi thề không thành Chánh Giác. Tụng trì thần chú Đại Bi, nếu không được sinh về các cõi Phật, tôi thề không thành Chánh Giác. Tụng trì thần chú Đại Bi, nếu không được vô lượng Tam-muội biện tài, tôi thề không thành Chánh Giác. Tụng trì thần chú Đại Bi, tất cả sự mong cầu trong đời hiện tại, nếu không được như nguyện, thì chú nầy không được gọi là Đại Bi Tâm Đà-la-ni; duy trừ cầu những việc bất thiện, trừ kẻ tâm không chí thành”. Ngoài ra, những kẻ chí tâm trì tụng các chú như: Bạch Tán Cái, Chuẩn Đề, Vãng Sinh đều có thể sinh về Cực Lạc hoặc các Tịnh độ khác. Đây là nói về dùng thần lực để vãng sinh.

Và, như trong kinh Quán Vô Lượng Thọ nói: “Muốn sinh về Cực Lạc, phải tu ba thứ phước:

1. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, tâm từ bi không giết hại, tu mười nghiệp lành.

2. Thọ trì Tam quy, giữ kỹ các giới, không phạm oai nghi.

3. Phát lòng Bồ-đề, tin lý nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyến tấn người tu hành”.

Ba thứ phước nầy là chánh nhân Tịnh nghiệp của chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai”. Đây là nói về dùng phước lực để vãng sinh.

Ngoài ra, những kẻ cất chùa, xây tháp, tạo tượng, lễ bái tán tụng, giữ gìn trai giới, đốt hương, rải hoa, cúng dường tràng phan, bảo cái, trai Tăng, bố thí, nếu hạnh lành thuần thục, dùng lòng tín nguyện hồi hướng, đều có thể vãng sinh. Các điều dẫn ra trên đây gọi là Chúng hạnh. Nhưng nguyện hạnh đã có lớn nhỏ không đồng, lý sự sai biệt, thì việc thấy Phật, nghe pháp, cảm thọ y chánh tất cũng có hơn kém khác nhau, đây là chỉ nói phần đại lược.

Lời phụ:

Muốn sinh về Cực Lạc, hành giả có thể dùng một trong các hạnh: nguyện lực, tâm lực, thần lực, phước lực để hồi hướng, không phải chỉ đặc biệt có môn Quán tưởng hay Trì danh. Tuy nhiên, trong bốn phương pháp ấy, người tu phải thực hành cho đến độ công đức tinh thuần, hạnh lành thành tựu mới có hy vọng. Mà kẻ dung thường thì nghiệp chướng nặng không dễ gì đoạn, hạnh lành khó không dễ gì thành, duy có hạnh Trì danh nương cầu nơi tha lực là chắc chắn nhất. Cho nên, Ấn Quang pháp sư nói: “Hạng phàm phu kém cỏi mà được vãng sinh toàn là nhờ từ lực của Như Lai”. Vậy người niệm Phật đời nay muốn cho phần vãng sinh được đảm bảo, nên lấy sự Trì danh làm phần chánh, còn các công đức như: tụng kinh, trì chú, bố thí và những hạnh lành khác, để vào phần trợ, mới là đường lối an toàn.

Trong ba môn của ngài Thiên Như trình bày, đại khái môn thứ nhất nói về Thật tướng niệm Phật, hạng trung, hạ khó hành trì. Môn thứ ba thì hạng dung thường, nhiều nghiệp duyên cũng ít có hy vọng, chỉ nên dùng làm phần trợ. Duy phương pháp Sự Trì danh thuộc môn thứ hai là mọi người đều có thể thực hành và có hy vọng thành tựu. Tuy nhiên, vì căn tánh của chúng sinh khác nhau, Ngài phải nói cho đủ để mọi người tùy sở thích mà lựa chọn. Về phần dịch giả chỉ căn cứ theo phần đông hạng dung thường đời nay mà biện minh sự lợi hại thế thôi.

*

8. Hỏi:

Tôi nghe Thiện Tài Đồng Tử là bậc viên đốn lợi căn, một đời được chứng quả. Sao đức Phổ Hiền không khuyên Ngài sinh về cõi Hoa Tạng mà lại khuyên sinh về Cực Lạc, là ý thế nào?

Đáp:

Trong Hoa Nghiêm Sớ có lời hỏi ấy. Sớ bổn đã đáp: “Việc đó hàm ẩn nhiều lý do: vì có nhân duyên, vì để tâm niệm được quy nhất, vì không lìa cõi Hoa Tạng, vì tức là bổn sư”. Hai lý do trước dễ hiểu. Lý do thứ ba là trong thế giới Hoa Tạng có vi trần cõi Phật, miền Cực Lạc cách đây mười muôn ức Phật độ, tất cả đều không ngoài số sát chủng ấy. Lý do thứ tư là như trong kinh nói: “Hoặc thấy pháp hội Phật Vô Lượng Thọ, có nhiều vị Bồ-tát như Quán Thế Âm vi nhiễu, liền khen ngợi thân dị hóa của đức Tỳ-lô-giá-na. Tỳ-lô-giá-na Như Lai là giáo chủ cõi Hoa Tạng, đức A-di-đà đã là thân dị hóa của Ngài thì đâu có khác chi Ngài, vì thế nên mới nói tức là bổn sư”.

Trong ấy lại nói: “Phổ Hiền Bồ-tát vì Thiện Tài và hải chúng kết khuyến về Cực Lạc bởi ngài Thiện Tài là bậc tin hiểu viên thông, vào trí Văn-thù, tu hạnh Phổ Hiền, phước huệ và sự lý đều xứng hợp Pháp giới. Đó là bậc đại tâm, tuy đã ngộ thể bổn minh, đồng hàng với chư Thánh, nhưng vì lực dụng chưa đầy đủ, không thể nhập thế làm lợi ích khắp quần sinh như các đức Như Lai. Vì thế, Phổ Hiền Bồ-tát khuyên Ngài cho đến hải chúng nương về Tịnh độ, gần gũi Di-đà, không ngoài ý muốn cho tất cả được mau chứng quả Phật”.

*

9. Hỏi:

Trong môn Chúng hạnh nói: Nguyện hạnh đã có lớn nhỏ không đồng, lý sự sai biệt thì việc thấy Phật, nghe pháp, cảm thọ y chánh, tất cũng có hơn kém khác nhau; thế thì hai môn Quán tưởng, Ức niệm, nhân tu không đồng, sự cảm tướng có khác nhau chăng?

Đáp:

Việc ấy cố nhiên là phải khác. Vì thế, ngài Vĩnh Minh đã bảo: “Sự vãng sinh có chín phẩm, không phải đồng một bậc. Hoặc có kẻ nương về hóa quốc, thấy Ứng thân của Phật; hoặc có vị sinh nơi báo độ, thấy chân thể của Như Lai; hoặc có kẻ trải qua nhiều kiếp mới chứng quả Tiểu thừa, hoặc có vị vừa sinh một đêm liền siêu lên thượng địa. Nói tóm lại, vì người vãng sinh căn hạnh không đồng, có độn căn lợi căn, có định ý, tán ý, nên hoa nở có sớm muộn, quả chứng có chậm mau, thời hạn rất là cách biệt”. Từ Vân Sám Chủ cũng bảo: “Tuy chia ra chín phẩm nhưng đó chỉ là lược phân, nếu tế phân lẽ ưng phải có vô lượng phẩm”.

*

10. Hỏi:

Cực Lạc chỉ là cõi Đồng Cư, không phải cõi Thật Báo, tại sao lại nói: “Hoặc có vị sinh nơi báo độ, thấy chân thể của Như Lai?”.

Đáp:

Ông cho rằng có cõi Thật Báo ở riêng ngoài cõi Đồng Cư hay sao? Nên biết ba cõi kia không lìa cõi Đồng Cư mà có, chỉ khác là thân, cảnh và sự thọ dụng không đồng nhau thế thôi! Như trong kinh nói: “Thân của Phật A-di-đà cao sáu mươi muôn ức Na-do-tha hằng hà sa Do-tuần”. Các bậc cổ đức bình giải cho đó là thân Thật Báo. Chẳng những thế giới Cực Lạc có bốn độ không đồng, mà các cõi khác cũng đều như vậy. Nên ngài Kinh Khê nói: “Ngay cõi Ta-bà nầy có đủ bốn độ. Như đương thời hải hội Hoa Nghiêm không lìa Thệ Đa Lâm, mà các bậc đại Thanh văn vẫn không nghe thấy và hay biết”.

11. Hỏi:

Nếu cõi Ta-bà có đủ bốn độ thì chỉ nên ở tại đây mà lần lượt tu hành, cần chi phải cầu sinh Cực Lạc?

Đáp:

Cõi nầy tuy đủ bốn độ, nhưng vì thuộc về Đồng Cư Uế Độ, nên người tu khó trừ nghiệp nhiễm. Muốn thoát ly nhiễm nghiệp, hành giả phải cầu sinh về Đồng Cư Tịnh Độ ở Liên Bang. Nên Tứ Minh Tôn Giả nói: “Cõi Ta-bà cảnh duyên trược ác nặng, người tu phải chứng đến vị Thập tín mới thoát khổ luân; miền Cực Lạc cảnh duyên thắng diệu nên khi về, chín phẩm đều lên hàng Bất thối”. Ông há không nghe trong kinh Pháp Hoa nói có những vị thọ giáo với Đại Thông Trí Thắng Như Lai, từ đó đến nay đã trải qua số kiếp như bụi nhỏ của vô lượng vô biên cõi Phật mà còn ở nơi địa vị Thanh văn hay sao? Ấy đều bởi do mãi thối chuyển nên phải trải qua thời kiếp lâu xa. Chẳng hạn như ngài Xá-lợi-phất, tiền kiếp đã chứng đến Lục trụ mà còn thối tâm, huống nữa là hạng tu hành lơ láo ư? Nói chung, ở cõi nầy vì có nhiều chướng duyên, nên người tu dễ bị lui sụt. Nên tiên đức đã bảo: “Số lượng Bồ-tát mới phát tâm nhiều như bông xoài, trứng cá, nhưng kết cuộc còn lại không được bao nhiêu”.

Nếu kẻ nào biết hướng về Cực Lạc, nhờ thắng duyên bên cõi ấy, dù cho hạng phàm phu thấp thỏi, cũng lên ngay ngôi Bất thối. Đây là lý do tất yếu trong sự cầu sinh mà các hành nhơn nên suy gẫm kỹ.

*

12. Hỏi:

Trong mười phương, cõi Đồng Cư Tịnh Độ rất nhiều. Nay lại riêng chỉ thế giới Cực Lạc và duy khen cảnh duyên ở cõi ấy thắng diệu là tại sao?

Đáp:

Kinh Phật Thuyết A-di-đà nói: “Chúng sinh ở cõi ấy không có các sự khổ, chỉ hưởng những điều vui, nên gọi là Cực Lạc”. Cảnh duyên ở Cực Lạc rất thù thắng, có nhiều sự kiện thuận lợi cho chúng sinh nơi cõi nầy hơn các Tịnh độ khác, mà tâm lượng của phàm phu trong Tam giới không thể thấu hiểu được. Nay xin tạm đem cảnh duyên ở Ta-bà đối chiếu để so sánh lược qua:

– Ở cõi nầy, loài người bẩm thọ thân hình huyết nhục, có sinh là có khổ; cõi kia thì chúng hữu tình đều hóa chất nơi hoa sen, không còn sự khổ về sinh.

– Ở cõi nầy, thời tiết đổi dời, con người lần lần đi đến cảnh già yếu; cõi kia là thế giới trường xuân, không có đêm, ngày, nóng, lạnh, chúng sinh không bị sự khổ suy già.

– Ở cõi nầy, con người thân Tứ đại khó điều hòa, dễ sinh nhiều bệnh hoạn; cõi kia thì chúng sinh thể chất Kim Cương thơm sạch, không có sự khổ về yếu đau.

– Ở cõi nầy, con người ít ai sống đến bảy mươi, cơn vô thường mau chóng; cõi kia thì chúng sinh thọ số đến kiếp lượng vô biên, không có sự khổ về chết.

– Ở cõi nầy, con người bị sợi dây thân tình ái luyến ràng buộc, chịu đau khổ vì nỗi tử biệt sinh ly; nơi cõi kia chúng sinh hóa thân nơi hoa sen, không có cha mẹ vợ con, nên không bị khổ về ân tình chia cách.

– Ở cõi nầy, ai không có kẻ thương người ghét, nên khi oán thù gặp gỡ tất phải chịu nhiều nỗi phiền não gian truân; nơi cõi kia toàn là bậc thiện nhơn dắt dìu giúp đỡ lẫn nhau, không có sự khổ về oan gia hội ngộ.

– Ở cõi nầy, con người phần nhiều nghèo khổ thiếu kém, dù kẻ giàu sang cũng có biết bao ước vọng không thành; nơi cõi kia, sự thọ dụng về ăn, mặc, ở, các thứ trân bảo, bao nhiêu điều mong muốn, đều được hóa hiện tự nhiên, chúng sinh an vui, không có nỗi đau buồn về thất vọng.

– Ở cõi nầy, con người hoặc hình thể xấu xa, các căn không đủ; cõi kia chúng sinh đều có 32 tướng tốt, thân Kim Cương xinh đẹp, có ánh quang minh.

– Ở cõi nầy, chúng sinh xoay vần trong nẻo luân hồi; nơi cõi kia, bậc thượng thiện đều chứng Vô sinh pháp nhẫn.

– Ở cõi nầy, có đủ bốn ác thú khổ não; nơi cõi kia, tên ba ác đạo hãy còn không.

– Ở cõi nầy, nhiều gò nổng hang hố, rừng rậm chông gai, dẫy đầy các tướng nhơ ác; nơi cõi kia thì vàng ròng làm đất, cây báu vút trời, lầu chói trân châu, hoa đua bốn sắc.

– Ở cõi nầy thì Song Lâm đã khuất, Long Hoa còn xa; nơi cõi kia, Di-đà Thế Tôn hiện đang thuyết pháp.

– Ở cõi nầy thì Quán Âm, Thế Chí luống mến danh lành; nơi cõi kia, chư Bồ-tát thượng nhơn hằng làm thắng hữu.

– Ở cõi nầy thì các ma cùng ngoại đạo làm não loạn bậc chánh tu; nơi cõi kia, Phật hóa tinh thuần, ngoại ma tuyệt tích.

– Ở cõi nầy thì sắc thinh, danh lợi khiến mê hoặc người tu; nơi cõi kia, y chánh sạch nghiêm, không còn duyên nhiễm.

– Ở cõi nầy thì ác thú, muỗi mòng khiến hành nhơn không yên ổn; nơi cõi kia, nhạc, cây, chim, nước hằng nói pháp âm.

So sánh lược qua hai cõi, cảnh duyên hơn kém thật đã cách xa, nếu nói cho kỹ thì sự ưu liệt làm sao kể xiết! Tuy nhiên, tóm lại phần khái yếu cũng không ngoài hai quan điểm: một là vì cảnh Cực Lạc thù thắng, nên có thể khích phát lòng mong mến và quy hướng của loài hữu tình; hai là duyên Liên Quốc nhiệm mầu nên có thể giúp ích cho người vãng sinh dễ tiến mau trên đường tu chứng. Vì thế, cõi Đồng Cư Tịnh Độ ở mười phương tuy nhiều, song riêng cõi Cực Lạc có đầy đủ thắng duyên, các kinh luận đều chỉ quy, cũng do lẽ đó.

*

13. Hỏi: Trong mười phương có vô số chư Phật, những chúng sinh hữu tâm đều có thể thân cận. Nay lại riêng suy cử đức A-di-đà là tại sao?

Đáp: Trong ấy có ba lý do: vì đức A-di-đà thệ nguyện sâu rộng, vì chúng sinh ở cõi này có nhân duyên lớn với Ngài, và vì sự giáo hóa của hai đức Thế Tôn ở Tây Phương và Đông Độ liên quan nhau.

Về nguyên nhân thứ nhất, như kinh Vô Lượng Thọ nói: “Đức A-di-đà trong thời kỳ tu nhân đã phát nhiều thệ nguyện rộng lớn. Phần khái yếu trong các lời nguyện ấy là: “Khi Tôi thành Phật, nếu có chúng sinh nào muốn sinh về nước Tôi, siêng tu các căn lành và chí tâm xưng danh hiệu Tôi cho đến mười niệm, như kẻ ấy không được vãng sinh thì Tôi thề không thành Chánh Giác. Kẻ nào đã sinh về nước Tôi mà còn bị thối chuyển và không quyết định được thành Phật, Tôi thề không thành Chánh Giác”. Nên trong Hoa Nghiêm Sớ nói: “Phật A-di-đà có lời thề sâu nặng nguyện tiếp dẫn chúng sinh ở cõi Ta-bà”.

Về nguyên nhân thứ hai, khi Phật Thích-ca còn ở đời, chúng sinh nghe lời từ huấn, quy hướng về đức A-di-đà rất nhiều. Từ khi đức Thế Tôn niết-bàn về sau, không luận là hàng Tăng tục, nam nữ, giàu nghèo, sang hèn, kẻ đã nghe Chánh pháp hay chưa biết gì về Phật giáo vẫn thường xưng niệm danh hiệu A-di-đà Phật. Dù cho hạng hung dữ, kẻ không lòng tin, khi gặp cảnh nguy khốn tai nạn, hay lúc vui mừng, thán oán, bất giác cũng kêu gọi A-di-đà Phật. Cho đến trẻ nhỏ khi chơi đùa vẫn thường nắn hình, vẽ tượng Phật A-di-đà; người hát xướng hay đứa hài nhi năm ba tuổi nói năng chưa rành cũng biết niệm A-di-đà Phật. Sự không ai khuyến khích mà vẫn biết niệm ấy không phải do nhân duyên là gì? Lại như trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Thế Tôn đã bảo: “Nay Ta nói kinh nầy khiến cho chúng sinh được thấy Phật Vô Lượng Thọ và quốc độ của Ngài. Những kẻ muốn bước lên đường giải thoát nên cầu vãng sinh. Pháp môn nầy mọi người đều có thể tu, chớ vì Ta diệt độ rồi mà sinh lòng nghi hoặc. Trong đời đương lai, khi Tam tạng giáo điển đã diệt hết, Ta dùng nguyện lực từ bi, duy lưu kinh nầy trụ thế một trăm năm. Những chúng sinh nào có duyên được gặp, tùy ý mong cầu thảy đều đắc độ”. Lại nói: “Sau khi kinh nầy diệt rồi, Phật pháp hoàn toàn mất hẳn trong đời, chỉ còn lưu truyền bốn chữ A-di-đà Phật để cứu độ chúng sinh; kẻ nào không tin mà hủy báng sẽ bị đọa vào địa ngục, chịu đủ các sự khổ”. Vì lẽ đó, nên ngài Thiên Thai nói: “Phải biết đức Phật kia đối với cõi trược nầy có nhân duyên rất lớn”.

Về nguyên nhân thứ ba thì các vị tiên giác đều bảo: “Đức Thích-ca ứng sinh nơi cõi uế, đem các duyên: nhơ ác, khổ não, vô thường, chướng nạn mà chiết phục chúng sinh, khiến cho họ sinh lòng nhàm chán mà tu theo chánh đạo. Đức Di-đà hiện thân nơi cõi Tịnh, dùng các duyên: trong sạch, an vui, lâu dài, không thối chuyển mà nhiếp hóa loài hữu tình, khiến cho họ khởi tâm ưa mến mà trở lại nguồn chân. Hai bậc Thánh nhơn đã dùng hai môn Chiết và Nhiếp làm cho chánh giáo lưu hành, nên sự hóa độ có liên quan nhau. Lại, đức Bổn sư ngoài sự chỉ dạy ba thừa để giáo hóa chúng sinh, đặc biệt nói thêm môn Niệm Phật để nhờ đức A-di-đà tiếp dẫn những kẻ còn chưa được độ. Vì thế, trong các kinh Đại thừa, đức Thế Tôn đã ân cần dặn bảo, luôn luôn khen ngợi và khuyến khích sự vãng sinh”.

Ba lý do trên đây đã nói rõ tại sao đức A-di-đà được riêng suy cử trong số mười phương chư Phật!

*

14. Hỏi:

Về việc duy chỉ cõi Cực Lạc, riêng suy cử đức A-di-đà, cùng những ý nghĩa: chiết, nhiếp, chán, ưa, tôi đã nghe lời diệu chỉ. Nhưng thiết tưởng Chân tâm vẫn bình đẳng trong lành, nếu còn niệm chán ưa tức là còn sự ghét, yêu, lấy, bỏ. Như thế có lỗi hay chăng?

Đáp:

Ông chưa hiểu sâu về việc trên nên mới có lời hỏi ấy. Sự chán ưa đó không phải là lòng yêu ghét của thế gian, mà chính là đường lối chung để chuyển phàm thành Thánh của mười phương chư Phật. Nếu không chán bỏ, làm sao chuyển phàm; nếu không có ưa lấy, làm sao thành Thánh?

Cho nên, từ phàm phu đi đến Thánh vị, từ Thánh vị đi đến Đẳng giác, khoảng thời gian tăng tiến đó đều ở trong vòng lấy bỏ chán ưa. Chừng nào hành nhơn đã chứng đến ngôi cực quả là Diệu Giác mới không còn sự lấy bỏ chán ưa, vào thể như như bình đẳng. Vì thế tiên đức đã bảo: “Người tu trước tiên phải có lấy bỏ để đi đến chỗ không lấy bỏ. Khi sự lấy bỏ đã chí cực thì cùng với sự không lấy bỏ vẫn đồng nhau”. Huống chi, pháp môn Tịnh độ vốn do đức Thích-ca và Di-đà kiến lập, một vị khuyến khích cầu sinh, một vị giữ phần tiếp dẫn. Nếu người tu Tịnh nghiệp không có niệm chán bỏ thì làm sao lìa cõi Ta-bà, không có tâm ưa cầu, làm sao sinh về Cực Lạc? Sự sinh về Tịnh độ chẳng qua là mượn thắng duyên bên cõi ấy để mau thành quả Bồ-đề, thì việc lấy bỏ chán ưa đã không có công lớn thì thôi, sao lại cho là có lỗi?

*

15. Hỏi: Thuyết lấy bỏ đã đúng, tôi không còn dám luận bàn. Song việc vãng sinh chẳng biết có trái với lý Vô sinh hay chăng?

Đáp: Ngài Thiên Thai đã bảo: “Người trí sốt sắng cầu sinh Tịnh độ, song hiểu rõ sinh thể vốn không. Đó chính là lý sinh mà vô sinh, và tâm tịnh cõi Phật thanh tịnh. Kẻ ngu bị cái sinh ràng buộc, nghe nói sinh hiểu là thật có sinh, nghe nói vô sinh lại nhận lầm rằng không sinh về đâu cả. Đâu biết sinh tức là vô sinh và vô sinh há lại ngại gì sinh ư?”. Trường Lô thiền sư nói: “Cho sinh là thật có sinh, lạc vào lỗi chấp thường; cho vô sinh là không có sinh, lạc vào lỗi chấp đoạn. Sinh mà không sinh, không sinh mà sinh, mới chính thật Đệ nhất nghĩa đế”. Thiên Y thiền sư cũng bảo: “Sinh thì quyết định sinh, song về vẫn thật không về”. Lý thuyết của ba Đại sư trên, ý nghĩa rất rõ ràng; nay tôi xin đem hai chữ tánh, tướng để giải thích rộng thêm.

Về phần tánh thì Chân tâm mầu lặng, thể nó vốn tự không sinh. Về phần tướng thì khi nhân duyên hòa hợp, trong Chân tâm vẫn hiển hiện ra các tướng sinh diệt. Vì tánh hay hiện tướng, nên nói “vô sinh tức là sinh”, vì tướng do tánh mà hiện, nên gọi “sinh tức là vô sinh”. Hiểu được nghĩa nầy thì sinh về Tịnh độ tức là sinh trong thể duy tâm, sinh mà không sinh, lý đâu có trái!

*

16. Hỏi: Thuyết vãng sinh ý nghĩa đã rõ ràng. Song về việc đó, hàng học giả đời nay trong ngàn muôn người, mấy ai được thông hiểu? Vì thế họ đều nghi rằng miền Cực Lạc cách đây mười muôn ức cõi, lộ trình đã xa vợi, khi mạng chung làm sao có thể đến nơi? Chẳng biết Đại sư có phương sách gì để thuyết minh việc ấy chăng?

Đáp: Mối nghi ấy thật đã vớ vẩn! Tôi đã nhiều lần nói ngoài tâm không độ, ngoài độ không tâm, mà ông còn chưa hiểu sao? Song việc ấy không chi khác, chỉ vì nhiều người đã nhận lầm rằng tâm mình thuộc vào phạm vi nhỏ hẹp ở trong sắc thân. Họ đâu ngờ đó chỉ là vọng thức. Mà thật ra, Chân tâm của mỗi người rộng rãi vô biên, bao trùm sa giới, đầy khắp thái hư. Cho nên, mười phương hư không vô tận vô cùng, hằng sa thế giới vô biên vô số, đều bị tâm lượng của ta bao trùm và đầy khắp tất cả. Xem thế thì biết, mười muôn ức cõi chỉ ở trong tâm ta, kỳ thực rất gần, có chi là xa? Và khi mạng chung được vãng sinh, cũng chỉ sinh ở trong tâm ta, kỳ thực rất dễ, có chi là khó? Thập Nghi Luận nói: “Mười muôn ức cõi là đối với tâm lượng của hạng nhục nhãn phàm phu ở trong nẻo luân hồi mà nói đó thôi. Nếu đối với chúng sinh Tịnh nghiệp thành tựu thì tâm ở trong định khi lâm chung chính là tâm thọ sinh về Tịnh độ, vừa động niệm liền được vãng sinh”. Vì thế, trong Quán Kinh nói: “Cõi nước của Phật A-di-đà cách đây không xa”. Lại nghiệp lực không thể nghĩ bàn, trong một niệm liền được sinh về cõi Phật, không cần phải lo đường lối xa xôi. Ví như người nằm mơ, thân tuy ở nơi giường mà tâm đi khắp các nơi xa lạ như lúc còn thức. Sự sinh về Tịnh độ đại để cũng như vậy.

Các kinh có chỗ nói trong khoảng khảy móng tay liền được vãng sinh. Có chỗ nói khoảng co duỗi cánh tay, hoặc nói trong khoảnh khắc, nên Tự Tín Lục đã bảo: “Trong khoảnh khắc liền vượt qua mười muôn ức cõi vì tự tâm vốn nhiệm mầu”. Những điểm thí dụ trên đại ý chỉ cho: vì sinh trong Chân tâm rộng lớn của mình nên rất dễ và rất gần đó thôi. Hãy gác qua việc Chân tâm rộng, nay tôi chỉ căn cứ nơi tâm lượng phàm phu nhỏ hẹp của ông, lập ra một thí dụ cho dễ hiểu: Ví như từ đây sang xứ Tây Thiên Trúc, lộ trình trải qua nhiều nước và xa hơn mười muôn dặm. Có người tuy chưa đi đến Tây Thiên, nhưng nghe kẻ khác đã đi rồi trở về thuật lại rành rẽ, để ý ghi nhớ kỹ nơi lòng. Về sau người ấy trong khi ngồi nằm, bỗng động niệm nhớ lại việc trước, suy nghĩ trải qua ngàn dặm đến nước nào, muôn dặm đến nước nào, và kết cuộc đến xứ Thiên Trúc ra làm sao; liền thấy hiện ra cảnh giới của mỗi giai đoạn, lúc nghĩ tới đâu như thấy mình thân hành đến ngay nước đó. Sự vãng sinh về Cực Lạc cũng không ngoài đạo lý ấy, trong khoảng khảy móng tay hoặc trong một niệm liền đi đến, có chi là khó khăn ư? Nếu ông không tu Tịnh độ mà muốn đến Cực Lạc, cố nhiên là khó; như Tịnh nghiệp của ông thành tựu thì sự đi đến rất dễ dàng. Chỉ cần quyết tâm là sẽ được mãn nguyện, Phật, Thánh không khi nào có lời nói dối đâu!

*

17. Hỏi: Không tu Tịnh nghiệp tất khó vãng sinh, đó là điều chắc chắn. Nhưng tại sao hàng phàm phu nghịch ác khi lâm chung cũng có thể vãng sinh? Điểm ấy tôi còn chưa hiểu và có chỗ nghi ngờ, mong Đại sư chỉ dạy rành rẽ?

Đáp: Trong Quán Kinh đã dạy: “Hạ phẩm Hạ sinh là như có người tạo tội Ngũ nghịch, Thập ác làm đủ các việc không lành, do vì ác nghiệp, nên đáng lẽ phải bị đọa vào ác đạo, trải qua nhiều kiếp chịu khổ vô cùng! Nhưng khi lâm chung, kẻ ấy được gặp thiện tri thức an ủi và thuyết pháp cho nghe, khuyên phải nhớ tưởng đến Phật. Song đương nhơn vì bị sự khổ bức bách nên không nhớ tưởng được. Thiện hữu lại bảo: “Nếu ông không thể nhớ Phật thì hãy chí tâm xưng Nam mô A-di-đà Phật âm thanh liên tiếp nhau cho đủ mười niệm”. Người ngu ác kia vâng lời hết lòng xưng danh, nên trong mỗi niệm diệt được tội nặng nơi đường sinh tử trong tám mươi ức kiếp. Khi người ấy niệm Phật, bỗng thấy hoa sen vàng chói sáng như vầng nhựt hiện ra ở trước, trong khoảng một niệm, đương nhiên liền được sinh về thế giới Cực Lạc và kế tiếp đó phải ở trong hoa sen mãn mười hai đại kiếp. Khi hoa sen nở ra, kẻ ấy thấy đức Quán Thế Âm, Đại Thế Chí dùng tiếng Đại Bi vì mình nói Thật tướng của các pháp và cách trừ diệt tội chướng. Đương nhơn nghe pháp rồi tự nhiên vui vẻ, phát tâm Vô Thượng Bồ-đề”.

Đoạn kinh trên chỉ rõ cảnh tướng của bậc Hạ phẩm Hạ sinh. Mười hai đại kiếp ở trong hoa sen, tuy thời gian có lâu xa, nhưng người vãng sinh thấy mình ở trong một bầu thế giới riêng biệt, hưởng thọ sự vui như chư thiên nơi cung trời Đao-lợi. Vì thế, cổ đức đã bảo:

“Trong hoa vui vẻ như Đao-lợi

Khác hẳn thai phàm của thế gian”.

Theo Quán Kinh Sớ thì người nghịch ác mà được vãng sinh là do khi lâm chung, kẻ ấy chí tâm niệm Phật nên tội chướng được tiêu trừ. Thế thì ý của Sớ Văn cho sự niệm Phật là thắng duyên vãng sinh. Riêng tôi, sau khi tham khảo các kinh luận và sớ giải về Tịnh độ, lại ước kết trong ba nghĩa:

* Điều thứ nhất, hành nhơn chỉ niệm Phật trong thời gian ngắn ngủi mà có thể thắng nổi nghiệp ác trọn đời là do nhờ tâm lực rất mạnh mẽ, ý chí cực quyết định; đó gọi là đại tâm. Tình cảnh ấy ví như người bị quân giặc vây khổn, đang lúc nguy cấp, do liều chết không kể đến thân mạng nên phát được sức dũng mãnh cùng cực, xông phá vượt ra khỏi trùng vi.

* Điều thứ hai, kẻ ấy tuy tạo ác, song hoặc hiện đời đã có tu Tam-muội nên khi lâm chung nghe người nhắc bảo, định lực được dễ thành. Đây cũng thuộc về hạng người mà trong nhà Phật gọi là “thừa cấp giới huỡn”. Nếu đương nhơn hiện đời không tu Tam-muội, tất đời trước cũng đã có huân tu. Hạt giống lành ấy nay đã đến thời kỳ thuần thục nên khi lâm chung gặp thiện tri thức khuyên bảo, kẻ đó nương nơi túc thiện nghiệp, trong mười niệm mà được thành công.

* Điều thứ ba, nếu không phải do công tu trong hiện đời hay nghiệp lành về kiếp trước, tất khi lâm chung kẻ ấy đã niệm Phật với lòng sám hối tha thiết cùng cực. Nên ngài Vĩnh Minh nói: “Vì thể nhân duyên vốn không nên nghiệp thiện ác chẳng định; muốn rõ đường siêu đọa, phải nhìn nơi tâm niệm kém hơn. Cho nên, một lượng vàng ròng thắng nổi bông gòn trăm lượng, chút lửa le lói đốt tiêu rơm cỏ muôn trùng”.

Một trong ba nhơn duyên trên cộng thêm công đức của Phật hiệu, nguyện lực của Di-đà, nên khi lâm chung kẻ nghịch ác mới thắng được tội khiên, sinh về Cực Lạc.

*

18. Hỏi: Sống trong đời ác năm trược, mỗi người đều có tội; giả sử không tạo tội nặng Ngũ nghịch thì cũng vương vào các lỗi khác. Nếu có người không sám hối, hoặc sám hối mà tội chưa tiêu diệt hết, khi bình thời và lúc lâm chung đều chí tâm niệm Phật thì có được vãng sinh hay chăng?

Đáp: Những kẻ hành trì như thế đều được vãng sinh, do nhờ sức đại nguyện không thể nghĩ bàn của đức A-di-đà. Kinh Na-tiên nói: “Như đem tảng đá thật to để trên thuyền, do nhờ sức thuyền nên đá không bị chìm và được chuyển sang bờ bên kia. Nếu không có thuyền thì dù đem hạt cát để xuống nước, hạt cát ấy cũng vẫn bị chìm”. Tảng đá to dụ cho người nghiệp nặng, hạt cát dụ cho người nghiệp nhẹ, chiếc thuyền dụ cho nguyện lực của Phật. Người dù nghiệp nặng bao nhiêu mà biết ăn năn chí tâm niệm Phật thì cũng được Phật tiếp dẫn, ví như tảng đá to được thuyền chở qua bờ bên kia. Kẻ nghiệp tuy nhẹ mà không niệm Phật, khi mạng chung sẽ tùy nghiệp chịu khổ luân hồi, ví như hạt cát bị chìm, bởi không thuyền chuyên chở. Cho nên, trong nhà Phật có thuyết “đới nghiệp vãng sinh” là còn mang nghiệp mà được sinh về Tây Phương, chính ý nghĩa đó. Trong Tịnh Độ Văn, đoạn nói về bốn cõi cũng bảo: “Người còn đủ hoặc nhiễm vẫn được sinh về Đồng Cư Tịnh Độ”. Như Hùng Tuấn, Trương Chung Quỳ và một người ở Phần Châu đều lấy nghiệp đồ sát làm nghề sinh sống; khi lâm chung, cả ba người kẻ thì thấy bầy trâu ồ ạt kéo đến muốn chém, kẻ lại thấy thần nhơn đuổi bầy gà đến mổ khắp cả mình và đôi mắt, làm cho máu chảy ướt giường. Nhưng nhờ chí tâm niệm Phật, nên cả ba đều thoát khỏi nghiệp Nê-lê (địa ngục), được sinh về Cực Lạc. Sự tích nầy có chép rõ trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục. Những việc trên đây không phải bằng chứng của Phật lực là gì?

Xin đem một thí dụ nữa để nói rõ: Như có người phạm pháp quan đáng lẽ phải bị tù ngục, nhưng kẻ ấy biết cầu cứu với vua, nhờ che chở cho để chờ lúc lập công; do vua tuyên triệu nên quan không thể gia hình. Đương nhơn nhờ đó mà đi thẳng đến đế kinh, không ai cầm bắt được. Cho nên, bộ Tây Tư Sao nói: “Chúng sinh được về Tịnh độ là do nhờ đức Thích-ca chỉ đường, Phật A-di-đà tiếp dẫn và chư Phật mười phương đều hộ niệm. Như người qua biển cả, đã được thuyền to, lại nhờ tay lương đạo, thêm vào đó sức gió thuận, nên có thể mau đến bờ bên kia. Nếu còn không chịu bước lên thuyền, lưu liên nơi miền ác địa, đó là lỗi của ai ư?”.

*

19. Hỏi: Trước đã nói: “Hàng phàm phu cũng được lên ngôi Bất thối”. Theo thiển ý, ngôi Bất thối là để cho hạng người không ác nghiệp. Nay những kẻ đới nghiệp vãng sinh mà cũng được Bất thối ư?

Đáp: Chỉ được vãng sinh là đều lên hàng Bất thối chuyển. Kinh nói: “Những kẻ sinh về, đều trụ nơi Chánh định tụ”. Lại nói: “Ở cõi Cực Lạc, chúng sinh nào sinh về đó đều là bậc A-bệ-bạt-trí”. Thập Nghi Luận nói: “Có năm nhân duyên khiến cho người vãng sinh không thối chuyển:

1. Do nguyện lực đại bi của Phật nhiếp trì

2. Ánh sáng của Phật thường soi đến thân, nên lòng Bồ-đề của chư thiện nhơn luôn luôn tăng tiến.

3. Chim, nước, rừng cây, gió, âm nhạc thường phát ra tiếng pháp: khổ, không, vô thường, vô ngã. Hành giả nghe rồi sinh lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.

4. Chúng sinh được sinh về Cực Lạc thì bạn lành toàn là bậc Bồ-tát thượng thiện, tuyệt tất cả chướng nạn, ác duyên, lại không
ngoại đạo, tà ma nên tâm thường an tịnh.

5. Đã được sinh về cõi ấy thì thọ lượng vô cùng, đồng với Phật và Bồ-tát, an nhiên tu tập trải qua vô biên A-tăng-kỳ kiếp”.

Cổ đức cũng bảo: “Không nguyện sinh Tịnh độ thì thôi, có thật nguyện tất đều được vãng sinh. Không sinh Tịnh độ thì thôi, đã vãng sinh tất đều được Bất thối chuyển”.

*

20. Hỏi: Kẻ một đời tạo ác, khi lâm chung duy niệm Phật, đã được đới nghiệp vãng sinh, lại còn không thối chuyển; nguyện lực của đức A-di-đà thâm diệu, thật không thể nghĩ bàn! Vậy thì bây giờ tôi tạo tác theo duyên đời, đợi khi sắp chết rồi sẽ niệm Phật có được chăng?

Đáp: Khổ thay! Lời ấy rất ngu muội sai lầm, còn nguy hiểm hơn thứ rượu độc, đã hại mình lại làm hại lây đến hàng Tăng ni, người, thiện tín trong đời nữa! Sở dĩ hàng phàm phu nghịch ác khi lâm chung biết niệm Phật, là do từ trước họ đã có căn lành, phước đức, nhân duyên, nên mới được gặp thiện tri thức, mới khởi lòng tin tưởng và phụng hành. Đó là việc cầu may trong muôn một, đâu phải mỗi người đều được như thế? Luận Quần Nghi nói: “Trong đời có mười hạng người khi lâm chung không niệm Phật được:

1. Không gặp bạn lành, nên chẳng ai khuyên niệm.

2. Nghiệp khổ bức thiết, không yên ổn rỗi rảnh để niệm Phật.

3. Trúng phong cứng họng, không thể xưng danh Phật.

4. Cuồng loạn mất trí, không thể chú tâm tưởng niệm.

5. Thoạt gặp tai nạn nước lửa, mất sự điềm tĩnh chí thành.

6. Bỗng gặp cọp beo ác thú làm hại.

7. Khi lâm chung bị bạn ác phá hoại
lòng tin.

8. Gặp bạo bệnh hôn mê bất tỉnh mà qua đời.

9. Bị trúng thương thoạt chết giữa quân trận.

10. Từ trên cao té xuống mà mạng vong”.

Mười sự kiện trên đây là những việc thường nghe thấy, không luận Tăng tục, nam nữ, hạng nào cũng có thể bị vướng vào. Đó là do túc nghiệp hoặc hiện nghiệp chiêu cảm nên sự việc bỗng nhiên xảy ra, không còn trốn tránh kịp. Ông đã không phải là bậc Thánh nhơn chứng Túc mạng thông, biết được khi lâm chung có nghiệp hay không nghiệp, lại chẳng phải là bậc đủ Tha tâm, Thiên nhãn, biết mình khi mạng chung chết tốt hoặc xấu, mà bình thời không niệm Phật, đến khi lâm chung nếu rủi mắc phải một trong mười duyên ác đó, thì sẽ liệu ra sao? Chừng ấy, dù có Phật sống hay bao nhiêu thiện tri thức đứng vây quanh cũng không làm thế nào cứu được, và thần thức ông sẽ tùy theo nghiệp đi vào chốn Tam đồ, Bát nạn, nhiều kiếp chịu khổ, biết có còn được nghe danh hiệu của Phật như ngày nay chăng?

Giả sử ông không bị những ác duyên đó, chỉ bệnh sơ sài rồi mãn phần, thì lúc sắp chết bốn đại phân ly, gân xương rút chuyển, thân tâm đau đớn kinh hoàng như con đồi mồi bị lột vảy, con cua rớt vào nước sôi, làm sao mà niệm Phật? Dù cho ông không bệnh mà chết một cách yên ổn nữa, khi lâm chung hoặc e duyên đời chưa dứt, niệm tục còn vương, nỗi tham sống sợ chết làm cho tâm ý rối loạn, phân vân cũng không niệm Phật được. Nếu là người tục thì lại thêm gia vụ chưa xong xuôi, việc sau chưa sắp đặt, vợ kêu, con khóc, trăm mối ưu tư cũng không rỗi rảnh để niệm Phật. Chẳng đợi lúc lâm chung, giả sử trước khi ông chưa chết mà có chút bệnh nơi thân, phải gắng chịu sự đau khổ, rên rỉ không yên, tìm thuốc, hỏi thầy, nhờ người cầu an sám hối, tạp niệm rối ren, chưa dễ nhiếp tâm niệm Phật. Dù lúc ông chưa có bệnh thì bị tuổi cao sức yếu, đủ sự kém suy, áo não buồn than, chỉ lo sự việc trên cái thân già còn chưa xong, chắc chi đã niệm Phật? Ví như lúc ông chưa già, thân lực đang cường tráng mà còn đeo việc thế, chưa dứt niệm đời, bôn tẩu Đông Tây, âu lo đủ việc, biển thức mênh mang, làm sao có thể niệm Phật? Dù ông được muôn duyên rỗi rảnh, có chí tu hành, nhưng đối với tướng thế gian, nếu nhìn không thấu, nắm không vững, dứt không xong, khi xúc đối với ngoại duyên không thể tự chủ, tâm tùy theo cảnh mà điên đảo làm sao yên chí để niệm Phật?

Ông thử nghĩ xem, chỉ khi già, bệnh, cho đến thuở mạnh khỏe an nhàn nếu còn một việc đeo đẳng nơi lòng cũng không thể chánh tâm niệm Phật, huống nữa là đợi đến lúc lâm chung ư? Phương chi, ông lại còn nói tạo tác theo duyên đời, đó phải chăng là lời si mê, là chỗ dụng tâm rất nên lầm lỗi? Vả sự nghiệp thế gian, như giấc mơ, trò huyễn, như bóng bọt, tiếng vang, chỉ thoáng chốc rồi không, nó có lợi ích chi thiết thực cho ông trên đường giải thoát? Dù cho ông có tạo được chùa chiền quy mô rộng lớn, gây nên thanh thế địa vị cao tôn, kết thân với nhiều kẻ quyền chức sang giàu, trong tâm tự hào cho đó là đã thành công nơi đường tu, đâu ngờ thật ra chính lại phạm nhằm điều răn của Tiên Thánh! Bởi cổ đức từng khuyến giới rằng: “Người xuất gia phải chí thú nơi sự giải thoát, đừng quá đua theo công nghiệp hữu vi, vì trong ấy có nhiều lầm lỗi, e cho thiên đường chưa thấy, địa ngục đã trước! Nếu việc sống chết chưa xong thì tất cả công nghiệp hữu vi đều là nguyên nhân của sự khổ. Một mai nhắm mắt đi rồi, tùy theo nghiệp mà thọ báo, chừng ấy mới hay việc đã làm là trên gông cùm thêm xiềng xích, dưới vạc nóng thêm củi than, mảnh pháp y đã mất nơi thân, nẻo dị loại đổi hình muôn kiếp!”.

Qua mấy lời trên, nếu người có chí giải thoát, biết cảm thương thân thế của mình, phải nên động lòng rơi lệ! Tổ sư đã tha thiết khuyên răn như thế, đâu có hứa cho ông tạo tác duyên đời, rồi đợi khi lâm chung mới niệm Phật ư?

Ông há không thấy Tử Tâm thiền sư bảo: “Trong đời, những người tiền của như núi, thê thiếp đầy nhà, đâu phải họ không muốn trẻ mãi để ngày đêm hưởng phước báo thế gian? Nhưng vì kiếp sinh có hạn, tháng năm thúc giục tuổi già, cái chết há thiên vị kẻ giàu sang, sức nghiệp đâu nể kiêng người tài trí? Chừng ấy, tội hành nghiệp cảm, còn chi là thói phong lưu; kiếp trả đền vay, luống hối cho đời phóng đãng! Những việc vừa nói, thế nhân hầu hết mắt đã từng thấy và tai cũng đã từng nghe. Người đời thường lần lựa chờ khi lớn tuổi, việc nhà xong xuôi rồi sẽ niệm Phật, nhưng cái chết đâu có hẹn trẻ hay già, và tuy nói như thế, đã mấy ai tuổi cao mà biết lo niệm Phật? Cổ nhơn bảo: “Chớ đợi đến già rồi niệm Phật. Đồng hoang mồ trẻ đã nhiều đây!”. Lại nói: “Con người từ lúc còn trẻ, có gia đình rồi đến nuôi con cái, trong cuộc sinh sống phải chịu biết bao là nỗi khổ nhọc đắng cay! Khi hơi thở đã tàn thì gia đình, tiền của, tất cả đều bỏ lại hết, chỉ theo nghiệp mà đi. Nếu là con có nghĩa thì nó khóc cho ít tiếng, đốt cho mấy xấp giấy tiền, rước thầy tụng cho năm ba bộ kinh, rồi đến ngày lại sắm cơm canh cúng quải; đó gọi là còn biết tưởng nhớ đến mẹ cha. Rủi gặp con bất hiếu thì cha mẹ vừa nhắm mắt, đầu xương chưa lạnh, nó đã lo tranh nhà giành đất, cãi cọ kiện thưa, khi được phần rồi lại phung phí ăn chơi, thậm chí lãng quên ngày cúng giỗ. Việc đời kết cuộc bất quá chỉ như thế, có điều chi đáng hẹn chờ! Cho nên, bậc hiểu rộng thấy xa, phải sớm niệm Phật tu hành, con cháu mỗi người tự có phước riêng, kẻ làm cha mẹ chỉ lo bổn phận phần nào mà thôi, chớ vì nó suốt đời làm thân trâu ngựa!”. Xin dẫn thêm ra đây mấy lời của cổ đức:

“Cười thương kẻ giàu sang

Lo giàu thêm rộn ràng!

Hũ gạo sinh sâu mọt

Kho tiền đầy ngổn ngang.

Ngày cầm cân suy nghĩ.

Đêm đốt đuốc tính toan

Hình hài trơ lẩn thẩn

Tâm trí rối bàng hoàng.

Vô thường khi chợt đến.

Biển nghiệp sóng mênh mang!”.

Ngài Tử Tâm đã tha thiết nhắc khuyên như thế, đâu có hứa cho ông tạo tác duyên đời rồi đợi đến khi lâm chung mới niệm Phật ư?

Cho nên, ông phải xét nghĩ kiếp người mong manh ngắn ngủi như lửa nháng thân đá, như chớp giật lưng trời, mới còn đó đã mất đi, có chi là trường cửu? Phải nhận định cho chắc, rồi thừa lúc chưa già chưa bệnh, gác qua thế sự, rũ sạch thân tâm, được một ngày quang âm lo một ngày niệm Phật, được một khắc rỗi rảnh tu một khắc công phu, đến lúc lâm chung mọi việc đã an bài, trời Tây cũng sẵn mở lối đường quang đãng! Bằng chẳng thế, khi duyên nghiệp đáo đầu, chừng ấy ăn năn đã muộn! Nên suy nghĩ kỹ!

*

21. Hỏi: Lời ngu giả đã thành lỗi lầm, dù có dong xe bốn ngựa cũng không thể vớt lại kịp! Nghe qua mấy điều Đại sư chỉ dạy, ai lại chẳng lạnh lòng! Hiềm vì nỗi lòng người tuy dễ tinh tiến song cũng dễ thối lui, khi nghe lời khuyên nhắc thì dõng mãnh siêng năng, lúc gặp việc chi chướng ngại lại giải đãi thối lui ngả theo hướng khác. Phần đông đều bảo: kết quả của sự niệm Phật có lẽ đợi sau khi chết rồi; còn hiện tại chỉ thấy nhọc nhằn mà không lợi ích chi thiết thực cả. Phải chăng đó cũng là duyên cớ thích đáng trong sự thối tâm biếng trễ của người tu?

Đáp: Chỗ thấy của ông chưa được rộng. Trong kinh nói: “Người nào chí tâm thọ trì danh hiệu Phật, hiện đời sẽ được mười điều thắng lợi:

1. Ngày đêm thường được tất cả chư Thiên, đại lực thần tướng và hằng sa quyến thuộc ẩn hình ủng hộ.

2. Thường được hai mươi lăm vị Đại Bồ-tát như đức Quán Thế Âm và tất cả Bồ-tát theo thủ hộ bên mình.

3. Hằng được chư Phật ngày đêm hộ niệm; đức A-di-đà thường phóng ánh sáng nhiếp thọ người ấy.

4. Tất cả ác quỷ như Dạ-xoa, La-sát đều không thể làm hại. Tất cả rồng độc, rắn độc và thuốc độc đều không thể xâm phạm.

5. Không bị những tai nạn như: nước trôi, lửa cháy, giặc oán, đao tên, gông xiềng, tù ngục, hoạch tử.

6. Những nghiệp ác về trước lần lượt tiêu diệt. Những oan mạng bị đương nhơn giết, nhờ công đức niệm Phật, đều được giải thoát, không còn theo báo phục.

7. Đêm nằm nghỉ yên ổn, hoặc mơ thấy
điềm lành hay thấy sắc thân thắng diệu của Phật A-di-đà.

8. Tâm thường an vui, nhan sắc sáng nhuận khí lực đầy đủ, việc làm có kết quả tốt đẹp.

9. Thường được mọi người kính trọng giúp đỡ, hoặc hoan hỷ lễ bái cũng như kỉnh Phật.

10. Khi lâm chung tâm không sợ hãi, chánh niệm hiện ra, được thấy Phật A-di-đà và các Thánh chúng tay bưng đài vàng tiếp dẫn vãng sinh về Cực Lạc, cùng tận kiếp vị lai hưởng thọ sự vui nhiệm mầu”.

Mười điều lợi ích như trên chính do kim khẩu nói ra, mà kinh văn đã ghi chép lại. Niệm Phật đã có lợi ích trong hiện tại và tương lai như vậy thì đó chính là pháp khẩn yếu trong các môn thế và xuất thế gian. Cho nên, người tu chỉ gắng tinh tấn, đừng mang tâm niệm hoài nghi.

*

22. Hỏi: Về môn niệm Phật, nhờ ơn nhiều phen chỉ dạy, nên các mối nghi đã tiêu tan, và lòng chánh tín cũng đã khai phát. Nhưng trước đã nói: “Gác qua thế sự, rũ sạch thân tâm”, mà người đời hoàn cảnh đều khác nhau; kẻ được rảnh rỗi thuận duyên thì có thể tuân hành, người bị trăm việc buộc ràng phải làm sao để tu tập?

Đáp: Nếu người tu biết thống cảm cảnh vô thường và thiết tha vì sự giải thoát, thì dù gặp duyên thuận nghịch, khổ vui, động tịnh, gấp huỡn, hoặc khi tiếp tân đãi khách, lo việc công tư, đối xử muôn duyên, ứng thù tám mặt, cũng không ngại gì đến sự niệm Phật. Cổ nhơn đã bảo:

“Non cao khó đón đường mây bạc.

Trúc rậm khôn ngăn ngọn suốt trong!”.

Lại nói:

“Mai lại A-di-đà

Chiều cũng A-di-đà

Dù gấp như tên bắn

Không rời A-di-đà”.

Cho nên, muôn cảnh vẫn nhàn, tự mình náo động, nếu người thiết thực cầu về Cực Lạc và biết cách dụng tâm thì không có duyên nào làm trở ngại được sự tu niệm cả.

Tuy nhiên, những kẻ năng lực kém yếu, việc đời bận nhiều, phải nên trong gấp cố tìm chút thời giờ rảnh, trong động gắng giữ niệm lắng yên, rồi tùy sức niệm Phật hoặc nhiều hoặc ít. Mỗi ngày nên định khóa hoặc ba muôn hay một muôn câu, ba ngàn hay một ngàn câu, và giữ mực thường hằng, đừng cho gián đoạn. Nếu vị nào duyên sự quá nhiều, ít có giây phút rỗi rảnh, thì mỗi buổi sớm mai tu theo pháp Thập niệm hồi hướng, cứ giữ như thế suốt đời, cũng được nhờ ơn tiếp dẫn. Người có thì giờ hay phương tiện, ngoài thời niệm Phật hoặc trì chú tụng kinh, hoặc sám hối bố thí, tùy phần tùy lực mà tu các phước lành, dù có mảy may công đức, cũng đem hồi hướng Tây Phương. Dụng công như thế, chẳng những quyết định được vãng sinh mà
cũng sẽ tăng cao thêm phẩm vị.

*

23. Hỏi: Từ trước đến nay, kẻ hậu tiến nầy chỉ nghe nói nhiều về niệm Phật mà chưa hiểu rõ phương châm; và pháp Thập niệm hồi hướng thế nào, riêng lòng cũng chưa được tường tất. Xin nhờ Đại sư chỉ thị?

Đáp: Niệm Phật là duyên tưởng theo ba mươi hai tướng, buộc tâm vào định, làm sao cho khi mở mắt hay nhắm mắt thường được thấy Phật. Hoặc phương pháp nữa là chuyên xưng danh hiệu, chấp trì không tán loạn, cứ bền giữ như thế, trong đời nầy cũng được thấy Phật. Hiện nay, tôi thấy phần đông người tu Tịnh độ đều lấy pháp Trì danh làm thắng. Phép xưng danh cần phải lắng lòng không cho tán loạn, mỗi niệm nối tiếp nhau, buộc tâm nơi hiệu Phật. Khi miệng niệm Nam mô A-di-đà Phật, tâm phải soi theo mỗi câu mỗi chữ cho rành rẽ rõ ràng. Khi xưng danh hiệu Phật, không luận ít hay nhiều, đều phải một lòng một ý tâm tâm nối nhau. Niệm như thế, mới có thể mỗi câu diệt được tội nặng nơi đường sinh tử trong tám mươi ức kiếp. Nếu chẳng vậy thì tội chướng khó tiêu trừ.

Còn về pháp Thập niệm thì mỗi buổi sớm mai, hành giả phải quỳ trước bàn Phật, hoặc chắp tay đứng ngay thẳng hướng về phương Tây, niệm Phật liên tiếp, luôn một hơi, cứ mỗi hơi kể một niệm, mười hơi là mười niệm. Khi niệm không hạn số câu ít hay nhiều, chỉ tùy theo hơi dài ngắn, chuyên chú niệm luôn cho hết hơi mới thôi. Nên giữ tiếng niệm Phật cho rành rẽ, không thấp không cao, không gấp không huỡn, niệm mười hơi liên tiếp, chớ để tâm ý tán loạn. Đây là pháp mượn hơi nhiếp tâm, quý ở nơi chuyên nhất, và phải giữ như thế trọn đời, không được một ngày tạm bỏ.

Về phần hồi hướng là sau khi niệm xong, dùng tâm chí thành nguyện rằng:

“Con là:…… (pháp danh:……)

Phát lòng Bồ-đề,

Một lòng quy mạng

Đức A-di-đà,

Nguyện về Cực Lạc.

Xưa Phật lập thệ:

“Nếu chúng sinh nào,

Muốn về nước Ta

Hết lòng xưng danh

Cho đến mười niệm

Như không được sinh

Ta không thành Phật”.

Con nguyện nương nhờ

Từ lực của Phật

Tội diệt phước sinh.

Con nguyện lâm chung

Biết ngày giờ trước

Dứt trừ chướng ngại.

Phật cùng Thánh chúng

Tiếp dẫn vãng sinh

Mau ngộ Phật thừa,

Độ khắp muôn loại”.

Môn Thập niệm hồi hướng trên đây là phương pháp rất thiết yếu của tiên đức đã chỉ dạy. Môn nầy rất được thạnh truyền và có lợi ích cho đời, người niệm Phật nên tuân hành.

*

24. Hỏi: Đối với người ở trong lưới tục, cổ đức đã tùy lượng mà chỉ dạy phương pháp rất cặn kẽ, rõ ràng. Nhưng với chúng tôi là hạng người thế ngoại, lại phải làm sao để dụng công?

Đáp: Trước tôi đã nói pháp tu có nhiều loại tổng nhiếp thành ba môn. Trong ba môn ấy, mỗi người tùy ý mình lựa chọn hoặc chuyên tu hay kiêm tu, chỉ yếu tâm chân thiết và giữ cho bền lâu, tự sẽ có kết quả.

*

25. Hỏi: Phương tu viên quán, pháp niệm duy tâm, dường như hành môn của bậc thượng khí. Còn mười nguyện trong kinh Hoa Nghiêm, mười tâm trong kinh Bảo Tích cũng là dụng công của hạng lợi căn. Nếu như căn khí không xứng hợp, e cho công hạnh khó thành! Nay tôi tự xét căn tánh và sở thích của mình thì chỉ nên chuyên trì danh hiệu, nếu rảnh thì thêm lễ Phật sám hối mà thôi. Ý Đại sư như thế nào?

Đáp: Lành thay! Ông biết tự lượng đó! Xét qua lời ông nói thật rất hợp với thuyết Chuyên Tu Vô Gián của Thiện Đạo đại sư. Thuyết ấy đại khái như sau:

Chuyên Tu là do chúng sinh phần nhiều chướng nặng, tâm tưởng thô phù, ý thức rối loạn, mà quán cảnh lại quá tinh tế nên công hạnh khó thành. Do đó nên đấng Đại Thánh xót thương, bảo chuyên xưng ngay danh hiệu; vì xưng danh rất dễ, nếu giữ mỗi niệm tương tục liền được vãng sinh. Kẻ nào suốt đời hành trì như thế thì mười tu mười người về, trăm tu trăm người về. Bởi tại sao? Vì không tạp duyên nên dễ được chánh niệm. Vì cùng với bổn nguyện của Phật hợp nhau. Vì không trái giáo pháp. Vì thuận theo lời Phật dạy. Nếu bỏ chuyên tu mà hành theo tạp hạnh để cầu sinh thì trong trăm ngàn người chỉ hy vọng được ba, bốn. Sở dĩ như thế, vì bởi tạp duyên loạn động làm mất chánh niệm. Vì trái bổn nguyện của Phật. Vì trái giáo pháp. Vì không thuận theo lời Phật dạy. Vì sự hệ niệm không nối tiếp nhau. Vì không tương tục để báo ân Phật. Vì tuy có hạnh lành mà tương ưng với danh lợi. Vì ưa theo tạp duyên mà làm chướng sự sinh Tịnh độ cho mình và người.

Vô Gián Tu là thân chuyên lễ Phật A-di-đà, không lễ vị Thánh nào khác; miệng chuyên xưng danh Phật A-di-đà, không trì tụng các kinh và xưng danh hiệu khác; ý chuyên tưởng Phật A-di-đà, không xen tạp các tưởng niệm khác. Lại khi những nghiệp tham, sân, si, nổi lên làm cho công tu gián đoạn, phải tùy phạm tùy sám hối, đừng để qua cách ngày, cách đêm, cách giờ. Phải làm sao giữ một niệm thanh tịnh, không xen tạp, không hở dứt, đó mới thật là Vô Gián Tu”.

Trên đây là pháp Chuyên Tu Vô Gián của Thiện Đạo đại sư. Theo Thiên Trúc Truyện, Đại sư là hóa thân của Phật A-di-đà. Chỗ lập thuyết của Ngài, điểm chính yếu là ở nơi niệm niệm tương tục. Cô Sơn hòa thượng cũng bảo: “Chẳng nên xưng danh tán loạn, phát nguyện lơ là”. Và Vĩnh Minh đại sư cũng dạy: “Phải một lòng quy mạng, trọn kiếp tinh tu; khi ngồi, nằm thường hướng về Tây. Lúc lễ bái, niệm Phật, phát nguyện, phải khẩn thiết chí thành, không xen lẫn tạp niệm, trạng như người sắp bị hình lục, như kẻ đang ở lao tù, như người gặp giặc oán rượt theo, như bị nạn nước lửa bức bách, một lòng cầu cứu, nguyện thoát khổ luân, mau chứng Vô sinh để nối ngôi Tam Bảo, đền đáp bốn ân, độ loài hàm thức. Chí thành như thế, tất công phu không uổng. Trái lại, nếu lời và hạnh không hợp nhau, lòng tin không vững chắc, niệm lực thường gián đoạn không tương tục, đem sự biếng trễ ấy để mong vãng sinh thì e cho khi lâm chung khó gặp bạn lành, bị sức nghiệp lôi kéo, sự đau khổ ép bức mà không thành chánh niệm. Vì sao? Bởi việc hiện tại là nhân, lúc lâm chung là quả; nhân phải cho thật, quả mới không hư, như âm thanh lớn thì tiếng vang dội rền xa, và hình ngay bóng mới thẳng vậy”.

*

26. Hỏi: Tu làm sao cho mỗi niệm nối nhau, thật ra tôi vẫn muốn được như thế. Song chỉ hiềm định lực chưa thành, niệm đầu không chủ, hoặc tri giác cũ khó quên, hoặc tư tưởng vọng nổi dậy, hoặc xúc đối cảnh duyên tự kềm giữ không vững, hoặc tâm tình rối loạn cố ngăn dẹp chẳng kham. Cứ ngồi vào lần chuỗi một lúc là tâm niệm đã chạy hết Đông sang Tây, bất giác nó đã đi xa cách mấy ngàn muôn dặm hồi nào cũng không tự hay biết. Có khi phải bận lo một việc chi thì luôn trong năm, mười ngày hoặc đến cả tháng, tâm trí vẫn vướng vít chưa quên, chỉ dẹp trừ nó còn chưa xong nói gì đến việc gián đoạn! Điều nầy thốt ra thật đáng hổ thẹn, song nghĩ lại cũng đáng thương tâm! Không biết có cách gì đối trị chăng, xin nhờ Đại sư chỉ bảo?

Đáp: Đó là căn bệnh chung của hầu hết người tu. Trong lúc ấy nếu ông không thống thiết tự trách răn thì khó mà thành tựu pháp Chuyên Tu Vô Gián. Tôi nghe người xưa có ba điều thống thiết tự trách răn, nay vì ông tỏ bày, nên ghi nhớ cho kỹ:

* Điều thứ nhất là phải nghĩ đến sự báo ân. Người tu có những ân trọng. Hãy tạm gác qua ân Phật ân thầy, như ông là phận xuất gia, công ơn sinh dưỡng của cha mẹ há chẳng phải là sâu nặng ư? Ông đã lìa tục xuất gia, vì đi học đạo nên phải xa cách quê quán nhiều năm, cha mẹ nhọc nhằn cực khổ ông cũng không biết, khi già yếu đau bệnh lại cũng không hay mà săn sóc thuốc thang. Đến lúc cha mẹ mãn phần, ông không biết, hoặc có được tin thì về cũng đã trễ muộn. Khi ông còn nhỏ, có khi cha mẹ vì nuôi nấng thương lo cho con mà gây ra nhiều tội nghiệp, lúc chết rồi hoặc bị đọa vào nẻo khổ, hy vọng ông cứu độ như khát chờ uống, như hạn trông mưa. Nếu ông tu hành lơ láo tất Tịnh nghiệp không thành; đã không thành thì tự cứu chưa xong, làm sao cứu được cha mẹ? Đối với song thân ông đã lỗi phần phụng dưỡng về thể chất, mà còn không cứu độ được phần hương linh, tức là phụ nghĩa quên ân, là người đại bất hiếu. Kinh nói: “Phạm tội bất hiếu, sẽ bị đọa vào địa ngục”. Thế thì tâm niệm gián đoạn không chuyên tu, chính là nghiệp địa ngục vậy.

Lại ông không dệt mà mặc, không cày mà ăn. Phòng nhà, chăn gối, cơm áo, thuốc thang đều do đàn việt cúng dâng. Tổ sư từng răn dạy: “Hàng thiện tín vì sùng kính Tam Bảo đã chia cắt bớt phần ăn của gia đình đem đến cúng dường. Nếu người tu đạo hạnh không tròn thì dù là tấc vải, hạt cơm, kiếp sau cũng phải đền trả”. Muốn báo ân đàn việt, ông phải lo chuyên tu Tịnh nghiệp để độ mình độ người. Nếu ông sinh một niệm gián đoạn không chuyên, tất đã có phần trong kiếp luân hồi vay trả. Và tâm niệm ấy chính là nghiệp hạ tiện hoặc súc sinh vậy.

* Điều thứ hai là phải có chí quyết định. Người tu hành phải kiên quyết để đi đến kết quả. Ông một đời tham Thiền đã chẳng ngộ Thiền, khi học Giáo lại không tinh về Giáo. Cho đến ngày nay tâm địa chưa lắng yên, niệm đầu còn sôi nổi, khi thì muốn làm thi, lúc lại thích tả tự, khi thì thuyết giáo, lúc lại đàm Thiền, ý chí ly tán đi ba, bốn nẻo. Tổ sư đã bảo: “Tâm niệm còn vướng mắc, đó là nghiệp luân hồi. Tình tưởng vừa sinh ra, muôn kiếp bị ràng buộc”. Sở dĩ ông chưa được chánh niệm là do vì còn tình tưởng phân vân, và tình tưởng còn phân vân cũng bởi chí không quyết định. Cho nên, người tu mà ý chí không nhất quyết, đó chính là đầu mối của sự sa đọa Tam đồ vậy.

Lại nếu người tu ý chí không quyết định thì không thể gìn giữ giới căn. Do ý niệm phân vân nên không thể thâu nhiếp thân và khẩu. Kinh nói: “Thà lấy nước đồng sôi rót vào miệng, nguyện không để miệng phá giới nầy thọ các thức ăn uống của tín tâm đàn việt. Thà dùng lưới sắt nóng quấn thân thể mình, nguyện không để thân phá giới nầy thọ những y phục của tín tâm đàn việt”. Phương chi, do các giới không trang nghiêm nên tâm càng vọng động; nhân sự vọng động ấy mà phần chuyên tu bị gián đoạn. Thế thì một niệm gián đoạn, đâu chỉ là nghiệp nhân của lưới sắt nóng và nước đồng sôi ư?

Và nếu người tu ý chí không quyết định, tất không nhận rõ tướng đời giả huyễn, dễ chạy theo danh lợi hư phù. Khi danh lợi thuộc về mình thì sinh lòng mê đắm, danh lợi thuộc kẻ khác lại sinh lòng ganh ghét hơn thua. Cổ đức bảo: “Tham đắm danh lợi đi về nẻo súc, đường quỷ; buông lòng thương ghét đồng vào hầm lửa vạc dầu!”. Thế thì một niệm gián đoạn chính là ngạ quỷ, hầm lửa vậy.

* Điều thứ ba là cầu sự ứng nghiệm. Người đã tu Tịnh nghiệp nên cố gắng làm sao cho có sự ứng nghiệm. Kiếp người mong manh, vô thường chẳng hẹn. Như ông nay tóc đã điểm bạc, da đượm nét nhăn, tướng suy tàn hiện rõ, kỳ lâm chung phỏng còn được mấy ngày? Vậy ông phải cố gắng chuyên tu, làm sao cho có triệu chứng vãng sinh chắc chắn. Như khi xưa, Huệ Viễn pháp sư ở Lô Sơn, ba phen thấy Phật xoa đầu. Lại như Hoài Cảm pháp sư chí thành xưng danh hiệu Phật, liền thấy đức A-di-đà phóng ánh quang minh, hiện ra tướng hảo. Và như Thiếu Khang pháp sư khi niệm Phật một câu, đại chúng liền thấy một vị Phật từ nơi miệng bay ra, cho đến trăm ngàn câu cũng như thế, tợ hồ các hạt chuỗi nối tiếp nhau. Những sự ứng nghiệm như thế có đến muôn ngàn. Nếu tâm ông không gián đoạn thì thấy Phật rất dễ; như còn gián đoạn, tất khó thấy Phật. Đã không thấy Phật thì cùng với Phật vô duyên. Và đã vô duyên quyết khó sinh Tịnh độ. Khi không được sinh về Tịnh độ tất sớm muộn gì cũng bị đọa vào ác đạo. Thế thì một niệm gián đoạn chính là nghiệp Tam đồ vậy. Phải nên răn dè và suy nghĩ kỹ!

Ba điều cảnh sách trên, người tu Tịnh nghiệp phải ghi nhớ suy nghĩ rồi tự trách răn một cách thống thiết, làm sao cho tâm không rời Phật, Phật chẳng rời tâm, đạo cảm ứng giao thông, hiện đời được thấy Phật. Đã thấy đức Phật ở Cực Lạc, tức thấy chư Phật khắp mười phương, và thấy chư Phật mười phương, tức thấy vị Phật thiên chân của tự tánh. Khi thấy được Phật tự tánh thì sự đại dụng sẽ hiện tiền. Chừng ấy mới theo lòng bi nguyện, độ khắp quần sinh. Đó gọi là Tịnh độ Thiền mà cũng là Thiền Tịnh độ vậy. Thế thì ý của ngài Vĩnh Minh nói: “Có Thiền có Tịnh độ, dường như cọp mọc sừng, đời nay làm thầy người, đời sau làm Phật Tổ” há chẳng là ứng nghiệm trong giai đoạn nầy ư? Phải nên cố gắng!

Thiền giả nghe xong vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, lặng lẽ giây lâu, dường như tìm được vật chi đã mất. Thiên Như lão nhơn lại bảo: “Thiền cùng Tịnh độ vẫn không hai, nếu liễu thì liễu cả, mê cũng đồng mê, bởi ngoài tâm không pháp, ngoài pháp không tâm, đừng nên lầm nhận!”. Thiền thượng nhơn liền đảnh lễ mà thưa rằng: “Tôi rất may mắn được nhờ ơn chỉ bảo, nay đã biết đường về!” rồi từ tạ mà lui.

Lời phụ:

“Thiền cùng Tịnh độ vẫn không hai, nếu liễu thì liễu cả, mê cũng đồng mê”. Lời của Thiên Như đại sư quả thật xác đáng. Bởi Chân tâm bao hằng sa muôn pháp, hàm vô biên quốc độ, nơi Thiền gọi là Bản lai diện mục, nơi Tịnh gọi là Tự Tánh Di-đà. Kinh Lăng-nghiêm nói: “Mười phương hư không sinh trong tâm ông như áng mây nổi điểm giữa trời xanh rộng lớn bao la, huống chi vô lượng thế giới ở trong hư không ư?”. Cổ đức cũng bảo: “Hằng sa pháp ấy Bồ-đề đạo, nghĩ đến Bồ-đề cách vạn tầm!”. Vì Chân tâm bao hàm muôn tượng nên nếu người tu Thiền mà hiểu Thiền bằng lý không không, rồi bác chẳng có Cực Lạc, bác sự cầu sinh, tất chưa phải là người hiểu Thiền. Sở dĩ ngài Thiên Như nhiều phen cặn kẽ chỉ bày là để phá mối chấp không đó. Về phần thể, Chân tâm xán lạn bao hàm vô biên thế giới, gọi là Thiền Tịnh độ và vô lượng thế giới ảnh hiện trong Chân tâm, tất cả đều tịch tịnh như huyễn, gọi là Tịnh độ Thiền. Về phần dụng, hành giả khi đã ngộ tánh Bản lai, rồi khởi lên bi nguyện tu những hạnh trang nghiêm cõi Phật, thành tựu chúng sinh, gọi là Thiền Tịnh độ và nếu dùng môn Tịnh độ để nhiếp hóa hữu tình trở về chân tánh, gọi là Tịnh độ Thiền.

Tóm lại, Thiền tức Tịnh độ, Tịnh độ tức là Thiền. Nếu bác Tịnh độ chính là chưa hiểu rõ Thiền, và bác Thiền cũng chẳng suốt thông Tịnh độ. Liễu thì liễu cả, mê cũng đồng mê, bởi do lý đó.

Đề bạt:

“Tức tâm là độ lý không ngoa

Tịnh khác Thiền đâu vẫn một nhà

Phước kết trang nghiêm phần sắc tướng

Huệ tuôn vô ngại cõi hằng sa.

Trời Tây sáng lạ màu vi diệu

Nguyện Phật thâm sâu đức hải hà

Ngoảnh lại đường tu ai sớm tỉnh?

Nỗi thương ác đạo mãi vào ra!”.

The post Tịnh Độ Hoặc Vấn – TT Thích Thiền Tâm appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
LUẬN NIỆM PHẬT https://bachhac.net/luan-niem-phat.html https://bachhac.net/luan-niem-phat.html#respond Sat, 22 Feb 2020 04:05:14 +0000 https://bachhac.net/?p=2788 Phật pháp có nguồn gốc từ Ấn Độ, được lưu truyền đến Trung Quốc và các quốc gia khác trên thế giới. Mục đích của Phật pháp không ngoài việc giúp chúng sinh giác ngộ tự tâm, xa ĺa khổ đau đạt được an lạc. Danh từ “Phật” có nghĩa là giác, tự giác giác …

The post LUẬN NIỆM PHẬT appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
luận niệm phật

Phật pháp có nguồn gốc từ Ấn Độ, được lưu truyền đến Trung Quốc và các quốc gia khác trên thế giới. Mục đích của Phật pháp không ngoài việc giúp chúng sinh giác ngộ tự tâm, xa ĺa khổ đau đạt được an lạc. Danh từ “Phật” có nghĩa là giác, tự giác giác tha, giác hạnh viên măn. Phật lấy từ bi làm gốc, từ nghĩa là ban vui, bi nghĩa là cứu khổ.

Sau khi thành Phật, Đức Phật thuyết pháp bốn mươi chín năm, về sau những lời dạy của Ngài được chúng đệ tử kết tập thành tam tạng mười hai bộ kinh. V́ căn tính chúng sinh bất đồng, tŕnh độ tiếp thu Phật pháp cũng khác nhau, do đó Phật pháp truyền đến Trung Quốc từ tam tạng mười hai bộ kinh lại được phân ra thành năm tông lớn: Giáo, Luật, Mật, Thiền và Tịnh. Sự phân chia này không phải là ư muốn của Phật. Đứng trên phương diện kinh điển th́ không cái ǵ gọi là tông, là phái. Nhưng để thích hợp với căn tính chúng sinh, trong xu hướng tự nhiên, người sau mới thành lập các tông phái như vậy. Trong các tông phái, Thiền tông lấy giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật. Giáo tông dạy môn hạ trước đốn ngộ sau mới tiệm tu, do tu mà chứng. Đối với Luật tông th́ chuyên tŕ giới luật, trước giữ ǵn thân, sau đó mới nhiếp tâm, giới có thể là: Ngũ giới, 250 giới, Bồ tát giới, Tam tụ tịnh giới. Do có nghiêm tŕ Tịnh giới, mà từ giới sinh định, từ định phát sinh trí tuệ. Mật tông chuyên tŕ chú, chú trọng tu Tam Mật tương ưng. Bốn tông này đối với người sơ cơ học đạo khó thực hành viên măn. Duy chỉ có Tịnh độ tông là rất đơn giản, chỉ chuyên tŕ một câu “Nam Mô A Di Đà Phật”, niệm đến nhất tâm bất loạn, liền được Phật A Di Đà tiếp dẫn văng sinh Cực Lạc. Không luận là người độn căn hay lợi căn đều có thể thực hành và được nhiếp thọ.

Pháp môn Tịnh độ lấy việc hành tŕ duy nhất là thành tâm niệm Phật. Nếu có người nào hỏi: “V́ sao phải niệm Phật?”. Trước tiên xin giải thích rơ hai từ “niệm Phật”. Từ “niệm” là do hai từ “kim” và “tâm” hợp lại mà thành. Từ “Phật” là tiếng Phạn, nói cho đủ là “Phật Đà Da” Trung Hoa dịch là giác ngộ, cũng c̣n có nghĩa là “hiểu biết”. Việc niệm Phật người người có thể thực hành được. Mục đích của việc niệm Phật là hiện tại đạt được nhất tâm bất loạn, giác ngộ và giải thoát. Một niệm của chúng ta đầy đủ thập pháp giới, nên mới nói: “Mười đời xưa nay không ĺa một niệm, hiện trong mười phương cát bụi, không cách một mảy may”. Nếu chúng ta niệm Phật th́ “Một niệm niệm Phật, một niệm giác ngộ, niệm niệm niệm Phật, niệm niệm giác ngộ”. “Một niệm niệm Phật, một niệm tỉnh giác, niệm niệm niệm Phật, niệm niệm tỉnh giác”. Ai mà không muốn giác ngộ, không muốn tỉnh giác? Thế nhưng chúng ta, miệng th́ nói muốn tỉnh giác, muốn giác ngộ mà tâm lại hồ đồ. Hồ đồ về cái ǵ? Đó là ư có ba nghiệp: Tham, sân, si. Miệng có bốn: Nói dối, nói lời thêu dệt, nói ác khẩu, nói lời ly gián. Thân có ba: Sát sinh, trộm cắp, tà dâm. Do thân, khẩu, ư không trong sạch nên hằng ngày, sáu căn tiếp xúc với sáu trần chỉ phân biệt âm thanh, h́nh sắc, lợi dưỡng, hơn thua, thị phi, tốt xấu, để rồi lấy những thứ đó làm sở tri, sở giác của ḿnh. Niệm Phật là cải đổi, bỏ đi tất cả những phân biệt hơn thua chấp trước đó, mà khôi phục lại cái bản tri bản giác. Một khi cái bản tri bản giác được khôi phục hoàn toàn là thành Phật. Việc thành Phật cũng không phải việc ǵ ở đâu xa xôi mà chủ yếu dụng công niệm Phật, niệm được thành phiến th́ những cặn bă của chân tâm dần dần bị phá vỡ, lúc đó Phật tính sẽ hiển bày.

Bản tâm của chúng ta xưa nay vốn thanh tịnh, b́nh đẳng giác ngộ, quang minh rực rỡ, bao trùm khắp pháp giới hư không. Chỉ v́ vô minh vọng động mà bị sáu trần dẫn dắt, do đó sự hiểu biết của chúng ta bị hạn hẹp, chỉ nhận thức được sắc thân tiểu ngă mà không thể nhập tính giác đại ngă vốn có xưa nay. Mọi người không ngờ thân thể mà chúng ta cho là “cái ta” chỉ là bảy đại: Đất, nước, gió, lửa, không, căn, thức hợp lại mà thành. Nếu đem phân chia ra từng phần th́ thân thể không tồn tại được. Thí như: Thịt da là thuộc về phần đất; máu mủ, mồ hôi, nước mắt… là nước, hơi ấm là lửa, sự chuyển động của không khí và hơi thở trong thân thể và bên ngoài không trung là thuộc về phần không khí; ngoài ra c̣n có sáu căn là nhăn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn và ư căn là thuộc căn đại. Trong mỗi căn lại có mỗi thức, sáu thức thuộc về phần thức đại. Nếu đem tất cả những phần trên phân ra từng phần, một người không thể nào tồn tại, vậy cái ǵ làm “cái ta” đây? Chúng ta xưa nay mê lầm cho bảy đại là ta, nhưng trên thực tế nó chỉ là một đăy da dơ bẩn, tanh hôi được trang hoàng bên ngoài bởi một lớp da nên chúng có ta khó nhận thức được.

Thí dụ chúng ta đang nghe pháp như vậy, tự nhiên có một người nào đó đem một túi đựng đầy phân tiến lại, chắc chắn mọi người cho đó là dơ dáy và hôi thối, người th́ bịt mũi lại hoặc người th́ đem nó mà bỏ, xem nó hết sức khinh rẻ. Thật ra, chúng ta ai ai cũng có một cái túi đầy dơ dáy như vậy, nhưng nó không lộ rơ ra bên ngoài như bao phân kia, mà được tiết ra bên ngoài thông qua chín lỗ, nên nói : “Chín lỗ thường bất tịnh” là vậy. Mọi người lại nhận lấy cái đăy da dơ bẩn làm cái ta, rồi yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ. Nếu lấy nhăn quan Phật mà nh́n th́ chúng ta thật ngu si biết chừng nào. Do đó, mọi người cần phải quán chiếu cái thân mà bấy lâu nay nhận làm “cái ta”, nó chỉ là vật đầy bất tịnh. Đứng trên phương diện định nghĩa “cái ta” nếu nói thân thể này thật là ta, th́ chúng ta có thể sai khiến nó làm theo ư muốn của ḿnh, khi cần th́ dùng, không cần có thể bỏ đi. Nếu không sai khiến được nó th́ “cái ta” là cái ǵ đây ?

Theo tập quán phổ thông, mọi người đều cho thân thể là ta, từ chỗ có ta lại có người, từ nhiều người hợp lại có chúng sinh, mỗi một chúng sinh đều ham muốn sống trường thọ, thật ra đó là điều hoàn toàn giả danh giả tướng. V́ “ta” và “người” là hai tướng đối đăi (tướng đối đăi là ở chỗ do có ta mà có người, do có người mà có ta). “Chúng sinh” là nhân hư giả (do vay mượn nhiều nhân duyên mà thành). “Thọ giả” cũng là tướng đối đăi không thực (Ngă, nhân, chúng sinh, thọ giả, tướng trạng của chúng vốn biến đổi không ngừng). Như vậy, nếu ly khai tất cả những tướng hư vọng giả danh ấy th́ có một cái ngă thật phải không ?

Hơn nữa, nghĩa “cái ta” là phải có chủ thể, mọi người thường cho thân thể là ta, nhưng nào có sai khiến nó được đâu, ví như : lúc đói không ăn chịu không được, lúc khát không uống không thể làm ǵ, ngay cả sinh mạng khi hơi thở đă tắt, không chết cũng không được, thậm chí mắt thấy sắc đẹp không nh́n cũng không được, gặp hoàn cảnh ngũ dục sung túc, không thọ nhận cũng không xong. Như vậy, nếu mọi người không làm chủ được những vấn đề nói trên th́ “cái ta” làm ǵ mà có. Tất cả những cái ăn, uống, thọ nhận là thuộc phần sinh mạng, sinh mạng th́ có sinh có diệt, ngoài sinh mạng ra, mỗi chúng ta đều có một tuệ mạng, tuệ mạng th́ không sinh cũng không diệt. Như vậy tuệ mạng là cái ǵ mà không sinh không diệt ? Đó là tri giác tính. Tri giác tính tuy là vô h́nh vô tướng nhưng lại bao trùm khắp hư không pháp giới, không nơi nào là không có. Cái được gọi là : “Không trung sinh đại giác, như bọt nước đại dương”. Niệm Phật chính là nuôi dưỡng tuệ mạng pháp thân của chính ḿnh, nhờ vào tha lực và tự lực, cầu sinh thế giới Cực Lạc, khai mở Phật tri kiến, phục hồi lại bản giác tự thân. Chư Tổ như : Thiên Thai Trí Giả Đại sư, Vĩnh Minh Đại sư, Long Thọ Thiền sư, Ngẫu Ích Đại sư, Triệt Ngộ Thiền sư… các ngài đều quy hướng Tịnh độ, chuyên môn niệm Phật. V́ tu các tông khác thường thường căn khí không thích hợp, hoặc khi tu gặp các cảnh tướng mà không người hướng dẫn sẽ gặp nguy hiểm, mang bệnh vào thân. Người niệm Phật chỉ cần tín, hạnh, nguyện đầy đủ, niệm chắc chắn thiết thực, đă có sự trợ giúp của tha lực, lại có sự tu hành của tự lực, th́ tuyệt không bao giờ gặp sai lầm. Cho nên nói pháp môn niệm Phật là pháp môn tối thắng mau thành Phật là vậy. Tu các pháp môn khác hoàn toàn dựa vào tự lực, phải đoạn trừ hết tham sân si, các lậu hoặc mới trực chứng. Nói th́ dễ dàng như vậy, thực tế việc đoạn trừ tham sân si nào có dễ, v́ nó đă được huân tập từ nhiều kiếp. Tu pháp môn Tịnh độ có một điểm đặc biệt là đới nghiệp văng sinh. Sau khi được văng sinh về thế giới Cực Lạc, nhờ vào năng lực không thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà, Đại Thế Chí Bồ Tát và Quán Thế Âm Bồ Tát, cùng chư Thánh chúng, được họ dẫn dắt huân tu, trong tương lai dần dần nghiệp dứt t́nh không. Từ nơi Phàm Thánh Đồng Cư Độ, rồi tu tiến đến Phương Tiện Hữu Dư Độ, kế tiếp tiến lên Thực Báo Trang Nghiêm Độ, cuối cùng đạt được chân thân của Phật. Đó là giai đoạn tiến tu của người có căn cơ hạ liệt. Đối với người có căn tính Đại thừa, dù sinh đến bất kỳ quốc độ nào trong bốn quốc độ trên đều có thể thấy các quốc độ c̣n lại.

Niệm Phật cầu văng sinh là pháp môn tối thắng, được văng sinh đến thế giới Cực Lạc th́ không c̣n tái sinh đọa lạc, hoàn toàn không c̣n tạo nghiệp, tự ḿnh gia công tiến tu cho đến ngày thành Phật độ chúng sinh. Tu hành các pháp môn khác cố nhiên cũng tốt. Nhưng công phu tu không đạt đến cứu cánh tất nhiên sẽ bị đọa lạc. Như thuở quá khứ có ba vị Bồ Tát Thế Thân, Vô Trước, Sư Tử Giác cùng tu tập Duy thức quán, ba vị phát nguyện sinh nội viện Đâu Suất thấy Bồ Tát Di Lặc. Các vị cam kết với nhau rằng, nếu ai sinh về đó trước th́ quay trở lại báo cho những người khác biết. Đầu tiên, Sư Tử Giác viên tịch, trải qua ba năm không thấy trở lại báo, ba năm sau Thế Thân lại viên tịch. Lúc Thế Thân sắp lâm chung, Vô Trước bảo với Thế Thân rằng : “Sau khi ông đến cơi trời Đâu Suất dù bất kỳ lư do ǵ ông cũng phải trở lại đây báo cho tôi biết”. Thế Thân qua đời, đúng ba năm sau ngài quay trở lại. Vô Trước hỏi Thế Thân : “V́ lư do ǵ mà ông trở lại đây muộn thế ?”. Thế Thân đáp : “Tôi đến nội viện Đâu Suất chắp tay đảnh lễ tam bái, nhiễu quanh Bồ Tát Di Lặc một ṿng là quay trở lại liền”. Vô Trước lại hỏi : “Hiện nay Sư Tử Giác đang ở đâu ? V́ sao không thấy trở lại ?”. Thế Thân đáp : “Ông ấy sinh vào cơi trời ngoại viện Đâu Suất, không có trong nội viện. Do sinh vào cơi trời ngoại viện đang bị ngũ dục trói buộc nên không thấy Bồ Tát Di Lặc, chính v́ lư do đó mà không thể trở lại đây được”. Vô Trước sau khi nghe nói sinh thiên rất nguy hiểm, nên phát nguyện không sinh thiên mà phát nguyện sinh Tịnh độ (theo Tịnh Độ Thập Nghi Luận của Đại sư Trí Giả). Thiết nghĩ, ngài Sư Tử Giác là một vị Bồ Tát Đại thừa, sinh thiên c̣n bị ngũ dục dẫn dắt, hà huống ǵ là phàm phu chúng ta, qua đó cho thấy rằng sinh thiên là điều nguy hiểm vô cùng ! Đối với người tu thiền định, nếu công phu chưa đạt đến tŕnh độ siêu xuất tam giới, không luận sinh lên một cơi trời nào, sau khi hưởng hết phước sẽ bị đọa lạc, rồi tùy theo nghiệp mà thọ báo. Lời này đă được Phật nói cho A Nan trong Kinh Lăng Nghiêm. Đúng là tu Tịnh độ không có nguy hiểm. Nên nói : “Nhiều người tu đến phi phi tưởng, không bằng quy hướng Tây phương”. Ư nói sinh đến tứ không của phi phi tưởng, khi tuổi thọ tận, phước hết đều bị đọa lạc, không bằng sinh về cơi Cực Lạc, dù có sinh nơi hạ hạ phẩm cũng có thể dần dần chứng đến thượng phẩm, so với việc sinh về cơi trời phi phi tưởng tốt hơn nhiều.

Trong thời khóa niệm Phật, mỗi ngày chúng ta nên đọc Kinh Di Đà, thường nên đọc vào công phu chiều. Đọc một lần, là một lần bạn đă huân tập cảnh giới thanh tịnh trang nghiêm vào trong tàng thức. Giống như bạn xem phim, một lần xem là một lần những h́nh ảnh trong phim đă huân tập vào tàng thức của bạn. Cũng vậy bạn đọc Kinh Di Đà lâu ngày, cảnh giới thù thắng trang nghiêm của cơi Cực Lạc sẽ dần dần huân tập vào trong tàng thức của bạn. Tuy hiện tại bạn chưa sinh Cực Lạc mà trong tâm đă được bao vây bởi cảnh giới Tây phương. Trong tương lai, đến giây phút lâm chung của bạn, ngoài công đức tŕ niệm danh hiệu Phật mà hằng ngày bạn huân tập, sẽ được Phật và Thánh chúng hiện ra tiếp dẫn. Lại c̣n những cảnh giới trang nghiêm thanh tịnh mà hằng ngày bạn đọc Kinh A Di đă được huân tập, cũng từ trong tâm thức hiện ra trợ giúp cho bạn văng sinh nhanh chóng hơn.

Điều được gọi là : “Tự tính Di Đà duy tâm Tịnh độ”. Chúng sinh chính là Phật, Phật cũng là chúng sinh. Phật và chúng sinh, Phật tính vốn b́nh đẳng như nhau. Tâm tức là độ, độ tức là tâm, tất cả đều do tâm sở hiện. Vậy người niệm Phật nên có công phu như thế nào ? Nếu tín, hạnh, nguyện, kiên cố không thay đổi, tự tính và Phật tức là một, tự tính tức là Phật, Phật tức là tự tính. Phật vốn đầy đủ vô lượng thọ, chúng sinh cũng vốn đầy đủ vô lượng thọ, Phật vốn đầy đủ vô lượng quang, chúng sinh cũng vốn đầy đủ vô lượng quang. Phật A Di Đà có thế giới Cực Lạc, y báo, chính báo, tướng hảo trang nghiêm; chúng sinh cũng có nhị báo, tướng hảo trang nghiêm. Trong Kinh Di Đà có nói : “Tất cả đều do Phật A Di Đà, muốn cho pháp âm chan ḥa khắp nơi, mà biến hóa ra như vậy”. Từ câu kinh này có thể chứng minh rằng các cảnh giới của thế giới Cực Lạc đều tùy theo nghiệp tướng phước đức của Phật A Di Đà, duy tâm mà sở hiện. Trong khi đó Phật tính của chúng sinh vốn đầy đủ như Phật, mà chúng sinh lại không thể hiển hiện được những cảnh giới như Đức Phật Di Đà hay sao ? Cho nên nói tự tính Di Đà, duy tâm tức Tịnh độ là vậy. Tự tính không nằm ngoài Phật và chúng sinh, Tịnh độ cũng không ngoài tâm mà có. Tây phương Di Đà và tự tính Di Đà, Tây phương Tịnh độ và duy tâm Tịnh độ đều là một. Cần phải hiểu đúng chữ “duy tâm”, duy tâm nói đây không phải là tâm điên đảo vọng tưởng duyên theo sáu trần hằng ngày, mà gọi “pháp pháp duy tâm”. Nói duy tâm là để hiển bày tự tính vốn bao trùm chu biến khắp pháp giới hư không, để thấy thân tứ đại chỉ là giả hợp. Từ đó người niệm Phật mỗi ngày khi đọc tụng Kinh Di Đà cần hiểu rơ như vậy, để ḷng tin phát khởi kiên cố. Kinh Di Đà là kinh vô vấn tự thuyết, trong kinh miêu tả về y báo, chính báo trang nghiêm của cơi Cực Lạc và pháp môn niệm Phật sinh Tây phương. Ư nghĩa của Kinh Pháp Hoa và Kinh Di Đà giống nhau. V́ Kinh Pháp Hoa Phật cũng nói cho Tôn giả Xá Lợi Phất, cũng không ai hỏi mà tự nói. Sau khi Phật nói Kinh Vô Lượng Nghĩa xong, Ngài ngồi xếp bằng nhập vào chánh định Vô Lượng Nghĩa Xứ Tam Muội, thân và tâm của Phật đều không lay động, từ nơi lông trắng giữa chặng mày phóng ra một luồng hào quang, chiếu khắp cả một muôn ngh́n cơi ở phương Đông, hiện ra vô số tướng trang nghiêm, khiến cho hàng đại chúng vô cùng nghi nan. Sau khi đại chúng được Bồ Tát Văn Thù và Bồ Tát Di Lặc giải quyết các nghi ngờ. Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn từ chánh định an lành mà dậy, không có người nào thưa hỏi mà bảo với ngài Xá Lợi Phất rằng : “Trí tuệ của Phật rất sâu vô lượng, môn trí huệ đó khó hiểu khó vào, tất cả hàng Thanh Văn cùng Bích Chi Phật đều khó biết được… thành tựu pháp vị tằng hữu thậm thâm… Tóm yếu mà nói, vô lượng vô biên pháp vị tằng hữu, Đức Phật thảy đều thành tựu”. Tôi thường nói : “Kinh Pháp Hoa là nói rộng Kinh Di Đà, Kinh Di Đà lược nói Kinh Pháp Hoa”. Hai bộ kinh này đều lần lượt đi từ sự đến lư, không như các kinh khác nói rất nhiều danh từ pháp tướng dẫn dắt người tu ngộ lư rồi tu sự, hoàn toàn nói đến cảnh hiện lượng và tâm hiện lượng. Nếu mọi người để tâm nghiên cứu, so sánh hai bộ kinh này chắc chắn sẽ thấy rơ hơn.

Kinh Pháp Hoa gồm 7 quyển 28 phẩm. 14 phẩm đầu là khai quyền hiển thật, 14 phẩm sau là khai mở việc gần để nói việc sâu xa, tất cả đều nói pháp tối thượng thừa. Ví như trong Kinh Di Đà có nói : “Nếu có người thiện nam tín nữ nào, được nghe danh hiệu A Di Đà Phật, rồi niệm danh hiệu đó, trong một ngày, hay hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, hay là bảy ngày, được nhất tâm bất loạn. Thế là người ấy vào phút lâm chung, Phật A Di Đà cùng chư Thánh chúng hiện ra trước mặt, người ấy lúc chết tâm không điên đảo, tức được văng sinh về nơi Cực Lạc”. Trong Kinh Pháp Hoa phẩm “Dược Vương Dược Thượng Bồ Tát bổn sự” quyển thứ 6 có nói : “Nếu có người nghe kinh này, đúng như lời mà tu hành, đến lúc mạng chung liền qua cơi An Lạc, chỗ trụ xứ của Phật A Di Đà, cùng chúng đại Bồ Tát vây quanh, mà sinh trong ṭa báu hoa sen”. Hai đoạn kinh nói trên ư nghĩa hoàn toàn giống nhau. Kinh Di Đà nói về sự trang nghiêm thanh tịnh, thọ mạng, quang minh và sự hộ niệm của sáu phương chư Phật… Tuy Kinh Pháp Hoa dùng văn tự để nói rộng có khác, thế nhưng về mặt cảnh giới và ư nghĩa hoàn toàn giống Kinh Di Đà. V́ vậy một câu “A Di Đà Phật” là pháp tối thượng thừa, bao quát vô lượng pháp môn.

Một câu “A Di Đà Phật”, niệm được tương ưng, lập tức lục căn được thanh tịnh. Ví dụ, quư vị hiện tại đang niệm Phật, mắt thường thấy Phật đó là nhăn căn thanh tịnh, tai nghe âm thanh niệm Phật của ḿnh và đại chúng, là nhĩ căn thanh tịnh, mũi ngửi hương trầm, là tỷ căn thanh tịnh, lưỡi đang co giăn phát ra danh hiệu Phật, là thiệt căn thanh tịnh, thân thể đang ở trong đạo tràng thanh tịnh, ngày ngày hướng Phật lễ bái đó là thân căn thanh tịnh, niệm Phật lạy Phật, tâm nhớ Phật là ư căn thanh tịnh. Lục căn thanh tịnh th́ ba nghiệp thanh tịnh, ba nghiệp thanh tịnh th́ thân không trộm cắp, sát sinh, tà dâm; miệng không nói hai lưỡi, ác khẩu, nói dối, nói lời thêu dệt; ư không tham, sân, si đó là tu thập thiện. Người tu hành không dễ ǵ mà đối trị được tam nghiệp, chỉ có niệm bốn chữ “A Di Đà Phật” mới có thể thu nhiếp, làm chủ được nghiệp, dần dần lâu ngày, niệm Phật thành phiến, tịnh nhân tăng trưởng, đến lúc lâm chung nhất định được văng sinh Cực Lạc.
Phật và chúng sinh đều có chung quan niệm công phu mà thành. Phật một niệm đầy đủ thập pháp giới, chúng sinh một niệm cũng đầy đủ thập pháp giới. Nếu tâm khởi một niệm tham đó là Ngạ Quỷ, tâm khởi một niệm sân là Địa Ngục, tâm khởi một niệm si là Súc Sinh, khởi một niệm mạn nghi là A Tu La; một niệm vui ở ngũ thường, ngũ giới chuyển vào cơi Người, một niệm vui ở thượng phẩm thập thiện, th́ sinh vào cơi Trời, nếu lấy Tứ Đế làm quán niệm đó là Thanh Văn, lấy Mười Hai Nhân Duyên làm quán niệm, đó là Duyên Giác, lấy Lục Độ làm quán niệm là Bồ Tát, lấy tự lợi lợi tha, vạn hạnh b́nh đẳng làm quán niệm đó là Phật. Lại như trong nhân gian có các quan niệm : Sĩ, Nông, Công, Thương, Quân, Chính, Cảnh, Học Sinh, đều là do quan niệm từ ban đầu mà h́nh thành. Vậy quan niệm là cái ǵ ? Đó là do nhận thức của mọi người. Người niệm Phật cũng giống như vậy, mỗi ngày mắt thấy Phật, miệng niệm Phật, thân lễ lạy Phật, tâm nhớ Phật, tai nghe danh hiệu Phật, từng giây từng phút lấy việc siêu sinh Tịnh độ làm quan niệm, cứ như thế cho đến ngày thọ mạng hết, nhất định văng sinh Tịnh độ và quyết định thành Phật. Như tôi đă nói ở trên, Phật giáo Trung Quốc, để thích hợp với xu thế tự nhiên, người sau mới phân chia thành một số tông phái như : Thiên Thai tông, Hiền Thủ tông, Pháp Tướng tông (cũng gọi Từ Tư tông hoặc Duy Thức tông), Tịnh Độ tông, Chân Ngôn tông, Thiền Tông, Luật tông v.v… đều do quan hệ truyền bá và học tập chuyên môn, mới thành lập ra như vậy. Trong các tông phái trên, chỉ có Tịnh Độ tông và Luật tông, việc hành tŕ cũng như giáo nghĩa thâm nhập vào các tông phái khác, được các tông phái kiêm tu, đồng thời cũng được bảy chúng đệ tử Phật tu tập. Thí dụ như : Thiên Thai tông, Hiền Thủ tông, Tam Luận tông, Pháp Tướng tông… Phán giáo và tu quán hoàn toàn khác nhau. Nhưng tóm lại mà nói, tất cả họ đều lấy pháp môn Tịnh độ làm phương tiện cứu cánh, đều lấy việc niệm Phật để thành Phật. Như Thiền tông trong tham thoại đầu cũng lấy câu “Người niệm Phật là ai ?” để tu tập. Chẳng những vậy, bạn thấy không luận là một người xuất gia hay tại gia, cũng không luận là người học Phật v́ động cơ như thế nào. Song, mục đích duy nhất của người học Phật, không ngoài việc niệm Phật thành Phật, đồng thời trong quá tŕnh học Phật đó cần phải giữ ǵn giới luật thanh tịnh. Thí dụ như : không luận Bắc tông, Nam tông hay một tông phái nào, hiện nay tại Trung Quốc, mỗi lúc mọi người lên chánh điện lạy Phật hay nhiễu quanh Phật đều niệm “Nam mô A Di Đà Phật”. Lúc nói chuyện hay trả lời người khác mọi người đều niệm “Nam mô A Di Đà Phật”. Tuy nhiên, mục đích tối hậu là không ngoài việc văng sinh Tịnh độ thấy Phật thành Phật. Điều đó cho thấy rằng pháp môn niệm Phật rất phương tiện lại c̣n phổ biến. Giới luật cũng không kém quan trọng, Phật pháp có hưng thịnh hay không, cũng từ chỗ đệ tử của Phật có giữ ǵn giới luật thanh tịnh hay không. Mọi người có giữ ǵn giới luật th́ Phật pháp trụ thế, ngược lại th́ Phật pháp sẽ diệt vong.

Thời Phật c̣n tại thế, xứ xứ mọi người đều lấy Phật làm thầy. Sau khi Phật diệt độ, tất cả mọi người đều lấy giới luật làm thầy. Vào giờ phút Phật nhập diệt, bốn chúng đệ tử đều thỉnh Phật trụ thế, vây quanh mà khóc lóc thảm thiết. Lúc bấy giờ, Tôn giả Vô Bần, ḷng đầy bi thương suy nghĩ : “Lúc Phật c̣n tại thế, mọi người lấy Phật làm y chỉ. Nay Phật nhập diệt rồi, muốn cho Phật pháp cửu trụ thế gian phải làm ǵ ? Cần phải thưa hỏi Phật cho rơ”. Lúc đó, tôn giả A Nan cũng đang khóc lóc thảm thương. A Nan là thị giả Phật, đồng thời mỗi khi Phật thuyết pháp A Nan đều có mặt bên Phật. Do đó mà tôn giả Vô Bần nhờ A Nan hỏi Phật bốn việc. Trong đó có hai điều : Thứ nhất, lúc Phật c̣n tại thế mọi người an trú vào Phật, nay Phật diệt độ nên an trú vào đâu ? Thứ hai, lúc Phật c̣n tại thế mọi người lấy Phật làm thầy, khi Phật diệt độ rồi, lấy ai làm thầy ? Phật dạy : “Sau khi ta diệt độ các thầy nên an trú vào tứ niệm xứ, lấy giới luật làm thầy”. Lời di giáo sau cùng đó cho chúng ta thấy giới luật thật quan trọng biết chừng nào.

Phàm là người đệ tử Phật, cần phải giữ ǵn giới luật Phật dạy. Tuy nhiên, không giữ được trọn vẹn, cũng phải giữ những giới quan trọng. V́ giữ bao nhiêu giới th́ có lợi ích bấy nhiêu, nếu giữ được trọn th́ sẽ có định lực rất lớn. Các đại ṭng lâm Nam tông cũng như Bắc tông đều có quy củ và gia phong. Quy củ và gia phong đó chính là mọi người đồng tu cùng giữ ǵn giới luật. Thử hỏi một tự viện, một am thất, một tịnh xá, một niệm Phật đường mà không giữ ǵn giới luật th́ Phật pháp sẽ ra sao ? Đó là những nơi mọi người thường văng lai, ứng nhân tiếp vật, do đó cần phải có giới luật. Điều đó cho thấy rằng niệm Phật và tŕ giới quan trọng như nhau. Hiện tại, Luật tông có Luật sư Hoằng Nhất, ngài tuy là người chuyên hoằng truyền giới luật, thế nhưng lại cũng chuyên niệm Phật và khuyên người khác niệm Phật. Ngoài Luật sư Hoằng Nhất ra c̣n có lăo Pháp sư Đế Nhàn, lăo Ḥa thượng Hư Vân v.v… không người nào là không chú trọng niệm Phật. Cho nên cổ đức có nói : “Giáo diễn bổn tông, tu hành Tịnh độ” là vậy.

Thông thường, đệ tử Phật có bảy chúng. Một là Tỳ Kheo tăng, là người nam xuất gia thọ cụ túc giới. Hai là Tỳ Kheo Ni, là người nữ xuất gia thọ cụ túc giới. Ba là Thức Xoa Ma Na được giải thích là người nữ học pháp, tức là Sa di ni muốn thọ giới cụ túc, từ mười tám đến hai mươi tuổi, học sáu pháp (không dâm dục, không trộm cắp, không sát sinh, không nói dối, không uống rượu và không ăn phi thời). Trải qua sự học tập đó mới có thể thọ cụ túc giới làm Tỳ kheo ni. Bốn là Sa Di, là người nam hậu xuất gia thọ tŕ mười giới. Năm là Sa Di Ni, là người nữ hậu xuất gia cũng tŕ giữ mười giới. Sáu là Ưu Bà Tắc, là người nam tại gia gần gũi Tam Bảo. Bảy là Ưu Bà Di, cũng là người nữ tại gia gần gũi Tam Bảo.

Người tại gia niệm Phật, trước tiên phải quy y Tam Bảo, thọ tŕ ngũ giới. Tam Bảo là ǵ ? Là Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo. “Phật” bao gồm Phật Thích Ca Mâu Ni hiện thân ở cơi Ta Bà, cho đến chư Phật hiện tại, quá khứ và vị lai. “Pháp” có nghĩa là quy tắc, đó là lời dạy của chư Phật. “Tăng” có nghĩa là ḥa hợp, là những người xuất gia thay Phật hoằng dương chánh pháp, làm mô phạm cho thế gian. Tam Bảo gồm có Tự Tính Tam Bảo, Biệt Tướng Tam Bảo và Trụ Tŕ Tam Bảo. Tự tính Tam Bảo ở mỗi chúng sinh vốn có đầy đủ, chẳng hướng ngoại mà t́m cầu. Như : Linh Minh Giác Chiếu là Phật bảo, Tịch Thường Viên Tịnh là Pháp bảo, Cách Ḥa Diệu Lạc là Tăng bảo. Biệt tướng Tam Bảo gồm những ǵ ? Bao gồm pháp, nhân, quả, tính, tướng, thể, dụng. Như diệu giác và tam thân đều gọi là Phật, chân như lư thể và tất cả các pháp môn phương tiện, đều gọi là Pháp, năm mươi địa vị Thánh hiền được gọi là Tăng. Trụ tŕ Tam Bảo gồm những ǵ ? Trụ tŕ Tam Bảo ở thế gian, chủ yếu là muốn cho Phật pháp được lưu truyền, đồng thời làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. Tượng Phật, xá lợi… đó là Phật bảo, tam tạng Kinh, Luật, Luận là Pháp bảo, đồ chúng xuất gia v́ sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh đó là Tăng bảo.

Mọi người cần biết, người quy y Tam Bảo, ngoài việc quy y Tam Bảo ra, cần phải quay về quy y Tam Bảo tự tính vốn có của bản thân. Chữ “Phật” được giải thích là giác, người người đều có tính giác. V́ vậy quy y Phật, đó là quy y tính giác của ḿnh. Người người đều có thể tự lực làm hiển lộ tính giác thù thắng đó. Quy y Pháp là quy y chân như diệu lư vốn có, mọi người đều có khả năng tiếp tục phát huy chân tính của tự thân. Quy y Tăng là quy y pháp thân thanh tịnh, tỉnh thức của tâm. Đă quy y Phật rồi, bạn không nên quy y bất kỳ một tôn giáo nào khác, v́ các tôn giáo đó phần lớn đều ca ngợi, tôn sùng các vị thần linh, họ không đề cao vai tṛ và năng lực của con người, họ cho rằng con người chỉ vĩnh viễn làm nô lệ cho thần linh, điều đó hoàn toàn trái ngược với tinh thần b́nh đẳng mà Phật thường dạy : “Các pháp vốn b́nh đẳng, không có cao thấp”. Người người có tính giác, người người có khả năng niệm Phật thành Phật. Tuy nhiên, theo quan niệm phổ thông, khi nói đến quy y người ta thường nghĩ rằng chỉ quy y Thế gian Trụ tŕ Tam Bảo. Điều đó chẳng qua nhằm dẫn đạo cho người, mục đích chính là hướng dẫn cho bạn quay về nương tựa tự tính Tam Bảo vốn có của chính ḿnh. Người niệm Phật cần hiểu biết tường tận, việc thành Phật không phải người khác thay thế, cũng chẳng ai mang đến cho ta mà phải chính ta nỗ lực niệm Phật để tự tính hiển lộ mới có khả năng thành Phật.

Ngoài quy Tam Bảo, mọi người cần giữ ǵn năm giới để làm trợ hạnh cho việc niệm Phật. Ngũ giới bao gồm : không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Không sát sinh là nhân, không trộm cắp là nghĩa, không tà dâm là lễ, không nói dối là tín, không uống rượu là trí. Bạn giữ ngũ giới tức là đă giữ ngũ thường của thế gian. V́ thế gian thường xem trọng nhân nghĩa. Không tàn nhẫn là đạo nghĩa, không cường bạo là lễ nhượng, không tà nhu là thật tín, không dối trá là lư trí, là không ngu si. Người niệm Phật tŕ ngũ giới là đă nuôi dưỡng nhân nghĩa, đạo nghĩa, lễ nhượng, thật tín, lư trí vừa là chánh nhân quân tử lại có thể làm tư lương cho Tịnh độ.

Ngoài tam quy ngũ giới ra, người niệm Phật c̣n phải tu tập quán niệm Tứ niệm xứ và Bát chánh đạo trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Tứ niệm xứ là ǵ ? “Tứ” là bốn, “xứ” là nơi, là chốn, là vị trí, là đối tượng, là sở tri, là sở quán. Tứ niệm xứ là bốn cái mà người niệm Phật cần phải nhớ và quán niệm. Thứ nhất, Quán thân bất tịnh. Quán niệm thân thể này từ gót chân cho đến đỉnh đầu nơi nơi đều bất tịnh. Thân thể là xác thịt do tinh cha huyết mẹ hợp lại mà thành. Tất cả những ǵ làm nên và chứa đựng trong thân thể (như : thịt, máu, mủ, phân, nước tiểu, mồ hôi, nước mắt, lông, móng, da v.v…) đều dơ bẩn, hôi hám, không có ǵ là trong sạch, tất cả đều bất tịnh. Thứ hai, Quán thọ là khổ. Khổ nói tóm có tám loại : sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, thương yêu chia ly là khổ, muốn không được là khổ, thù nhau mà sống chung là khổ, năm ấm bất ḥa là khổ. C̣n nói đến những khổ nhỏ th́ trong thế gian này có vô lượng vô biên. Bạn nghĩ xem từ một người, cho đến một gia đ́nh, xă hội nào mà không có những điều khổ. Do đó người niệm Phật hăy quán niệm rằng, dù cảm thọ có vui có khổ, nhưng ở thế gian không có niềm vui chân thật, c̣n khổ đau th́ đầy dẫy. Nếu có vui cũng là cái vui tạm bợ và chỉ có cái khổ trá h́nh, rốt cuộc cái vui là nguyên nhân của cái khổ. V́ thế, mọi cảm thọ đều là khổ đau. Thứ ba, Quán tâm vô thường. Người niệm Phật phải quán chiếu rằng tâm niệm chúng ta luôn thay đổi trong từng sát na sinh diệt, không có một ư nghĩ nào là bền vững chắc chắn, niệm này qua niệm khác lại đến, sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà sinh ra vọng tưởng điên đảo, không có một ư nghĩ nào là bền vững, chắc chắn. Thứ tư là Quán pháp vô ngă. Phải quán niệm vạn pháp trong thế gian đều do nhân duyên ḥa hợp mà làm nên, không vật ǵ là có bản tính độc lập, là chân thật. Tất cả đều là giả danh giả tướng không có cái ǵ là có thực ngă. Đó là nói lược về tứ niệm xứ, người niệm Phật phải thường trực tỉnh giác quán niệm như thế, th́ tâm niệm Phật mới được vững vàng.

Bát chánh đạo là ǵ ? Bát chánh đạo là tám nguyên tắc hành động chân chính, là một trong những đạo lư căn bản của đạo Phật. Về mặt nhân bản, đó là nền đạo đức học thực nghiệm của Phật giáo nhằm rèn luyện con người có được một nhân cách đẹp đẽ cao thượng, trọn vẹn. Về mặt tôn giáo, đó là con đường đưa đến sự chấm dứt khổ đau, đạt được an lạc giải thoát, chứng nhập Niết Bàn. Bát chánh đạo bao gồm : Một là chánh kiến, là thấy biết đúng đắn sự thật, là cái thấy vạn vật là vô thường, vô ngă, duyên sinh, đúng với bản chất của chúng, cái thấy không bị phủ che bởi vô minh, thành kiến cố chấp. Trái với chánh kiến là tà kiến. Chánh kiến là trí tuệ của bậc giác ngộ. Hai là chánh tư duy, là suy nghĩ chân chính, suy nghĩ đúng với bản tính của các pháp là vô thường, vô ngă, duyên sinh. Từ suy nghĩ chân chính sẽ mang đến cho ta tư tưởng chân chính. Nếu tư tưởng xấu xa, sai lầm sẽ làm cho ta trở nên một con người thấp kém, thô lỗ. Thứ ba là chánh ngữ, là lời nói chân chính, nhiều khi chúng ta không nói dối nhưng vẫn sai với sự thật. Chúng ta thấy biết như thế nào th́ nói như vậy. Nhưng v́ cái thấy biết đă sai lạc, lầm lẫn nên dẫn đến chúng ta nói không đúng sư thật. Lời nói chân chính là lời nói không dối trá, không độc ác, không đâm thọc, không thêu dệt và siểm nịnh, là lời nói không xuất phát từ ḷng tham dục, ích kỷ, hận thù, giận dữ, ngu dốt, ganh tỵ. Nói năng chân chính là không nói lời nhằm lừa gạt, nịnh hót, phỉ báng, chửi mắng, vu oan, mà luôn nói những lời từ ái, ḥa nhă, dịu dàng, đem an vui, lợi ích, tin tưởng cho người. Thứ tư là chánh nghiệp, là hành động chân chính. Có ba loại hành động (tam nghiệp) : hành động của ư (ư nghiệp), hành động của miệng (khẩu nghiệp) và hành động của thân (thân nghiệp). Hành động chân chính là hành động được soi sáng bởi chánh kiến, chánh tư duy, được thúc đẩy bởi t́nh thương và hiểu biết, là đi đứng nằm ngồi đều hành động theo chánh pháp. Thứ năm là chánh mạng, là mưu sinh chân chính, là nghề nghiệp chân chính. Ví dụ người niệm Phật, đối với xă hội thường làm các công việc từ thiện. Bác sĩ có công việc chuyên chữa trị bệnh, để cứu lấy sinh mạng cho người bệnh, lại có những người chuyên bán quan tài, giết trâu mổ lợn đó cũng là nghề nghiệp v.v… Tuy nhiên, trong cuộc sống mưu sinh, người người đều phải làm việc v́ miếng cơm manh áo, thế nhưng công việc kiếm sống cũng có những nghề nghiệp tốt và nghề nghiệp xấu. Đă là người tu học theo lời Phật dạy, bạn không nên chọn những nghề gây đau khổ cho người khác, hoặc tăng thêm sự bất công cho xă hội, hoặc tàn hại thiên nhiên và nhẫn tâm giết hại sinh mạng của mọi loài. Bạn nên t́m công việc lương thiện, trong sạch, để tăng thêm phước đức, không nên có tâm niệm gian tham, bóc lột sức người, không nên kiếm sống một cách bất lương trên mồ hôi nước mắt của người khác. Thứ sáu là chánh tinh tấn, là siêng năng chân chính. Chánh nghiệp và chánh tinh tấn có quan hệ mật thiết với nhau. Đứng trên phương diện nghề nghiệp mà nói, cũng là siêng năng, thế nhưng có nghề th́ đưa con người đến cuộc sống thăng hoa giải thoát, có nghề lại đưa người ta vào con đường đọa lạc, như nghề đồ tể chẳng hạn. Người niệm Phật tinh tấn không ngừng là nhắm thẳng đến thành Phật, cho nên chánh tinh tấn và tà tinh tấn khác nhau là như vậy. Chánh tinh tấn được đặt nền tảng trên tứ chánh cần (những điều ác chưa sinh đừng cho phát sinh, những điều ác đă sinh th́ trừ diệt, những việc thiện chưa sinh làm cho phát sinh, những điều thiện đă sinh th́ làm tăng trưởng). Thứ bảy là chánh niệm, là nhớ nghĩ chân chính, khi làm việc ǵ th́ bạn nên để hết tâm ư vào công việc ấy. Trong cuộc sống đời thường, hằng ngày bạn thường tiếp xúc với nhiều người, nếu bạn không có chánh niệm chắc chắn bạn sẽ gây đau khổ cho ḿnh và người. Người niệm Phật, điều nhớ nghĩ tốt nhất là nhớ nghĩ đến bản nguyện của Phật A Di Đà, nhớ một câu “Nam mô A Di Đà Phật” là tốt nhất. Thứ tám là chánh định, là thiền định chân chính. “Định” là giữ tâm ư an trụ vào một đối tượng duy nhất. Phàm làm việc chân chính, bạn nên nhất tâm nhất ư mà làm. Việc ǵ là tốt ? Là những việc đem lại lợi ích cho ḿnh và cho người cả hiện tại và tương lai. Niệm Phật là việc tốt, do đó bạn nên nhất tâm mà niệm, một khi đă nhập vào niệm Phật tam muội th́ đó là chánh định. Trên đây nói sơ lược về Bát chánh đạo cho người sơ cơ niệm Phật. Thực ra Bát chánh đạo khi đi vào nghiên cứu chuyên sâu, chẳng đơn giản như đă tŕnh bày, mà c̣n nhiều khía cạnh thậm thâm vô cùng.

Người niệm Phật ngoài việc nhất tâm niệm Phật, nếu c̣n lo sợ thân tâm phóng dật hoặc tín, hạnh, nguyện không kiên cố, có thể lấy Tứ niệm xứ và Bát chánh đạo để ràng buộc, kiểm điểm thân tâm. Đối với phương pháp niệm Phật, cũng nên dựa theo căn tính của chính ḿnh mà lựa chọn. Ngoài các phương pháp tŕ danh niệm Phật, quán tưởng niệm Phật, thật tướng niệm Phật, c̣n có một phương pháp hết sức phương tiện, là phương pháp hô hấp niệm Phật. Hít vào bạn niệm “Nam mô A”, thở ra bạn niệm “Di Đà Phật”. Chỉ cần người niệm Phật có tâm kiên cố niệm Phật, từng giây từng phút, trong các oai nghi đi đứng nằm ngồi, không ĺa một câu “Nam mô A Di Đà Phật”. Đó là phương pháp rất tiện lợi cho bất kỳ một người nào, dù bạn là một công nhân đang làm việc trong các xí nghiệp, nhà máy hay là một công ty kinh doanh v.v… cứ thực hành như vậy, đến giây phút lâm chung, nghiệp thức cả đời bạn cũng tùy thuộc theo hơi thở niệm Phật cuối cùng đó mà văng sinh Cực Lạc, được thấy Phật A Di Đà.

Đối với việc niệm Phật được văng sinh của người xuất gia, tại gia, nam, nữ, người già, trẻ thơ, và những tướng lạ trang nghiêm xảy ra vào giờ phút lâm chung của những người niệm Phật đă có ghi chép trong truyện Văng Sinh, nếu nói ra đây th́ không sao kể hết.

Từ ngày tôi xuất gia đến nay, chính tôi đă chứng kiến người niệm Phật được văng sinh hơn hai mươi lăm vị, trường hợp văng sinh được nghe người khác kể th́ rất nhiều. Nhân đây, tôi xin kể ba vị mà tôi đă tận mắt thấy họ văng sinh, mong sao qua những câu chuyện đó, có thể giúp được phần nào làm cho tín tâm niệm Phật của các bạn càng thêm tăng trưởng.

Vị thứ nhất là một người xuất gia, pháp sư Tu Vô, quê ở Quản Vi. Ngài xuất thân trong một gia đ́nh làm nghề gạch ngói. V́ gia cảnh gặp khó khăn, làm công rất gian lao vất vả. Do đó mới cảm nhận cuộc đời khổ nhiều vui ít, mạng người trong hơi thở, tạm bợ như giọt sương đầu ngọn cỏ, như làn điện chớp trong không trung. Thế mà hằng ngày mọi người lại tranh đấu hơn thua, giành giựt lẫn nhau để rồi phải đau khổ. Ngài thường tư duy về pháp diệt khổ, nghe người ta bảo niệm Phật tốt, nên phát tâm niệm Phật. Sau đó xuất gia, chính thức được học Phật pháp, nhất là pháp môn Tịnh độ, sau khi được nghe lại càng khẩn thiết niệm Phật, ngài gặp người khác cũng khuyên niệm Phật.

Năm Dân Quốc thứ 50, tôi ở tại chùa Cực Lạc, Đông Bắc Cáp Nhĩ Tân, thỉnh lăo Pháp sư Đế Nhàn truyền giới. Một ngày nọ, có một vị sư đến t́m tôi và nói cho biết rằng : “Có một vị sư là Tu Vô từ Quản Vi đến, trong kỳ giới này phát tâm hành khổ hạnh”. Sau đó đưa vị sư vào gặp tôi, tôi mới hỏi sư có thể làm được ǵ ? Sư đáp : “Tôi phát nguyện chăm sóc những người bệnh”. Lúc đó, Pháp sư Định Tây trụ tŕ chùa Cực Lạc nhận sư vào chùa, cho sư ở một căn pḥng ngoài viện. Chưa đầy mười ngày, sư lại đến t́m tôi nói cần phải đi. Lúc đó Pháp sư Định Tây đang ngồi với tôi hỏi sư rằng : “Thầy phát tâm trông coi những người bệnh, v́ sao chưa đầy mười ngày lại đ̣i đi ? Như vậy tâm thầy không kiên cố rồi !”. Sư Tu Vô đáp : “Tôi không đi xứ nào cả mà tôi về Tây phương, kính thỉnh sư giám viện mở rộng ḷng từ bi, chuẩn bị cho tôi mấy trăm cân củi, để thiêu sau khi tôi đi vậy”. Pháp sư Định Tây hỏi lại : “Vậy khi nào thầy đi ?”. Sư Tu Vô đáp : “Trong ṿng mười ngày nữa”. Trả lời xong, sư trở về thất. Ngày thứ hai, sư lại đến t́m tôi và Pháp sư Định Tây nói : “Kính thưa Pháp sư ngày mai tôi đi, thỉnh Pháp sư chuẩn bị cho tôi một căn pḥng, và t́m cho tôi mấy người trợ niệm để đưa tiễn tôi đi”. Sau đó Pháp sư Định Tây cho người quét dọn một căn pḥng trong nội viện, t́m một số gỗ khô, chất thành một đống, lại t́m mấy thầy chuyên tu niệm Phật để chuẩn bị trợ niệm. Trước giờ phút văng sinh, những người trợ niệm nói với sư rằng : “Sư Tu Vô trước lúc văng sinh cũng nên làm mấy câu thơ, câu kệ, để lại cho chúng tôi làm kỷ niệm chứ !”. Sư đáp lại rằng : “Tôi vốn xuất thân từ nơi khổ cực, sinh ra đă phải chịu sự ngu dốt, v́ vậy thơ kệ đều không biết làm, thế nhưng tôi có một câu kinh nghiệm, xin đọc cho chư vị nghe, đó là : “Người nói được mà không hành được, không phải là người chân trí tuệ”. Sau đó sư ngồi kiết già, mặt hướng về hướng Tây niệm Phật, chưa đầy mười lăm phút sau th́ văng sinh. Từ lúc sư văng sinh cho đến chiều, không khí ngoài trời rất nóng, thế nhưng sắc diện của sư đầy vẻ thanh thoát lạ thường, thi thể tỏa ra một mùi thơm, cũng không có một con ruồi. Pháp sư Đế Nhàn cùng một nhóm Phật tử đến xem khen ngợi trường hợp thật hy hữu. Sau đó, đem thi thể sư hỏa thiêu hoàn toàn không có một mùi hôi nào. Về sau, cư sĩ Phan Đối Phù nghe được sư việc, lấy sự việc b́nh sinh niệm Phật của sư Tu Vô viết thành một tập sách để làm mô phạm cho người niệm Phật.

Vị thứ hai, là cư sĩ Trịnh Tích Tân, người Sơn Đông, là một thương gia. V́ xem kinh Phật, biết được niệm Phật là tốt, từ đó phát tâm niệm Phật, bản thân không lấy vợ. Năm 1922, tại Thanh Đảo được nghe tôi giảng tam quy và những lợi ích của việc niệm Phật, sợ ḿnh không chuyên tâm niệm Phật, nên cư sĩ đem mọi chuyện buôn bán trong gia đ́nh giao cho em trai lo liệu. Từ đó chuyên tâm vào niệm Phật, về sau ông tập luyện và giảng Kinh Di Đà. Mỗi năm có kỳ hội giảng kinh tại Thanh Đảo, đều có ông chủ tŕ giảng một hai ngày, rồi sau đó ông lại đến huyện B́nh Độ giảng cho bạn bè. Năm 1924, cư sĩ có mời tôi đến B́nh Độ giảng một lần. Mùa Xuân năm 1928, cư sĩ lại đến B́nh Độ và Thanh Đảo giảng kinh. Thấm thoát thời gian trôi qua, một hôm có người từ B́nh Độ đến nói với tôi : “Lăo Pháp sư ông có biết không ! Cư sĩ Trịnh Tích Tân đă quy Tây rồi”, (theo tập tục Giao Đông người ta gọi người chết là nhật quy). Nghe người đó nói xong tôi rất ngạc nhiên, tôi mới hỏi : “Trước đây mười ngày tôi c̣n gặp ông ta, thấy c̣n rất mạnh khỏe, v́ lư do ǵ mà ông ta đi nhanh như vậy ? Ông ta có bệnh hoạn ǵ không ? Hay có gặp tai nạn ǵ ?”. Người ấy lại đáp : “Sau khi ông giảng bộ Kinh Di Đà xong, mọi người đều ra về, chỉ c̣n khoảng năm sáu vị cùng ngồi lại nói chuyện và dùng cơm trưa, phần lớn những người này lại bạn bè thân thiết của ông. Sau buổi cơm trưa, ông mời tất cả những người bạn vào một căn pḥng, rồi nói ông phải đi. Mấy người bạn mới hỏi : “Ông đi đâu sao lại mời chúng tôi vào pḥng thế ?”. Cư sĩ đáp : “Tôi văng sinh, v́ e ngại ra đi tại nhà người khác sẽ phiền phức, nên mới mời chư vị vào đây vậy”. Các bạn ông lại nói : “Chúng ta là bạn tri giao đă nhiều năm, chẳng những bạn văng sinh, mà ngay cả khi bạn bệnh hoạn mất tại nhà chúng tôi cũng không sao, cần ǵ phải t́m một gian pḥng khác. Hiện tại, nơi đây có rất nhiều người tin Phật, niệm Phật. Nếu bạn chắc chắn văng sinh, cũng nên để chúng tôi mời tất cả những khác đến xem, để lấy đó làm tấm gương noi theo vậy”. Nói xong, những người bạn ông vội quét dọn hai căn pḥng rồi chọn lấy một. Cư sĩ Trịnh nói đôi lời tạ từ cùng các bạn, sau đó ngồi xếp bằng, mặt xoay về hướng Tây nói với những người bạn ông ta : “Xin cáo từ chư vị, tôi văng sinh đây ! Chúng ta là những người tin Phật niệm Phật, kính thỉnh chư vị hăy niệm Phật để tiễn tôi một phen”. Những người bạn lại nói : “Nay bạn văng sinh sao không để lại vài câu kệ cho chúng tôi làm kỷ niệm ?”. Cư sĩ lại đáp : “Không nên để kệ lại, nếu mọi người đến đây xem th́ đó là một bằng chứng rồi, cũng là một kỷ niệm đẹp rồi !”. Nói xong, mọi người đồng niệm để trợ tiễn ông ta, chưa đầy mười lăm phút sau ông ta mỉm cười rồi văng sinh. Do đó mà cả huyện B́nh Độ ai ai cũng tin niệm Phật là tốt, đồng thời có nhiều người tin Phật hơn.

Em trai của cư sĩ Trịnh, ban đầu thấy anh xả bỏ sản nghiệp chuyên tâm niệm Phật th́ chưa tin niệm Phật mấy, nghe anh khuyên niệm Phật cũng miễn cưỡng niệm, nhưng tâm chưa khẩn thiết cho lắm. Thế mà sau khi chứng kiến cảnh anh trai ḿnh niệm Phật được văng sinh, biết trước ngày giờ và ra đi trong thanh thản, từ đó về nhà cũng tin sâu, nguyện thiết niệm Phật. Ba năm sau, cũng văng sinh biết trước ngày giờ, chỉ khác anh trai là lúc lâm chung có ít bệnh.

Vị thứ ba là nữ cư sĩ họ Trương, sinh được một trai một gái, gia cảnh rất khó khăn, chồng làm nghề kéo xe ở một bến cảng, c̣n cô Trương buôn bán trong chợ Thanh Đảo. Nhà ở cạnh tịnh xá Trạm Sơn, trong tịnh xá có thành lập hội Phật học. Mỗi ngày cô đều đến tịnh xá lễ Phật và nghe kinh, do nhân duyên đó mà quy y Tam Bảo, được nghe Phật pháp, một ḷng tin Phật. B́nh thường ở nhà niệm Phật, hằng ngày đều dẫn hai con đến tịnh xá lễ lạy và nghe kinh. Nghe xong, lại quay về nhà chăm lo gia đ́nh, một bề niệm Phật.

Cuối năm 1926, một sáng nọ, cô Trương gọi chồng đến nói : “Anh ở lại chăm sóc các con, ngày nay tôi phải văng sinh Cực Lạc”. Anh chồng nghe vợ nói như vậy, v́ cuộc sống khó khăn, lại là người ít học tập Phật pháp nên gắt gỏng bảo với vợ rằng : “Đi đi ! Tôi bần cùng chắc không đủ khả năng nuôi bà, bà muốn đi th́ cứ đi !”. Sau khi nói xong không hỏi lại vợ một câu, rồi đi làm việc. Cô Trương gọi hai con đến gần căn dặn : “Các con ở lại phải nghe lời cha dạy bảo, không được ngỗ nghịch, nay mẹ phải văng sinh về thế giới Cực Lạc”. Lúc đó hai đứa con của cô ta c̣n nhỏ, đứa lớn chưa đầy mười tuổi, đứa bé khoảng năm hoặc sáu tuổi ǵ đó. Nghe mẹ chúng nói những lời như vậy, cũng không hiểu ư mẹ muốn nói ǵ. V́ vậy rồi cũng chạy đi chơi, sau khi chồng và con đều đi cả, cô Trương vội thu xếp việc nhà gọn gàng, tắm rửa sạch sẽ, v́ nhà nghèo không có áo quần mới để thay nên cô đành phải mặc lại áo quần cũ, lên giường ngồi xếp bằng, chắp tay niệm Phật văng sinh.

Nói đến hai đứa con của cô ta, sau một hồi đi chơi trong ḷng cảm thấy đói nên quay về nhà ăn cơm. Thấy mẹ đang ngồi trên giường lại chưa nấu cơm, ban đầu chúng cất tiếng gọi nhưng không thấy mẹ trả lời, sau đó chúng đến gần lay mạnh vẫn thấy mẹ ngồi yên, hai đứa bé mới biết mẹ chúng đă chết. Chúng vội khóc than gọi hàng xóm đến, mọi người hay tin đến xem, thấy cô Trương tuy đă chết từ lâu, thế nhưng sắc diện giống như người c̣n sống, họ rất ca ngợi công phu niệm Phật của cô Trương. Sau đó người chồng đi làm về khóc lóc thảm thương. V́ gia cảnh nghèo khó, không có tiền để liệm, nên các vị có tấm ḷng tốt trong hội Phật học đứng ra chi phí toàn bộ lễ tang.

Việc quan trọng của đời người là niệm Phật để liễu sinh thoát tử. Không luận là như thế nào, mọi người hăy tự xét hoàn cảnh của chính ḿnh, dù trong bận rộn hay nhàn nhă, hăy sắp xếp cho ḿnh một thời khóa công phu niệm Phật nhất định. Chẳng những vậy, ngay cả lúc làm việc có thể trụ tâm mặc niệm. Bằng ngược lại suốt ngày làm các điều sát sinh, trộm cắp, dâm dục, nói dối, tạo nhiều nghiệp ác khác th́ khó mà tránh đọa lạc tam đồ, luân hồi trong lục đạo, thọ nhận khổ năo vô tận. Trong Kinh Lăng Nghiêm Phật có nói : “Loài nào cũng thương yêu thân mạng, muốn cho ḿnh được sống, nên tham ăn những vật bổ dưỡng. V́ thế trong thế gian này, loài mạnh ăn thịt loài yếu, loài khôn giết hại loài dại. Bốn loài (thai sinh, noăn sinh, thấp sinh, hóa sinh) ăn nuốt lẫn nhau, gốc tại ḷng tham sát”. Chúng sinh v́ t́nh ái kết chặt, thương tưởng quyến luyến nhau không rời, cho nên thế gian này, cha mẹ, con cháu tiếp tục sinh ra không cùng tột, gốc chỉ tại ḷng tham dục”. Tóm lại, v́ ba nghiệp sát, đạo, dâm làm gốc, nên nghiệp và quả nối nhau không bao giờ cùng tận. Mọi người hăy nghĩ coi tạo nghiệp sát, đạo, dâm, chịu khổ biết dường nào. V́ thế kính khuyên mọi người niệm Phật, nên niệm càng nhiều càng tốt. Cổ đức có nói : “Niệm Phật một câu phước tăng vô lượng, lễ Phật một lễ tội diệt hà sa”. Trên đây, đem những lợi ích của việc niệm Phật nói sơ lược qua, nếu mọi người muốn rơ hơn hăy tham khảo các tập sách “Tịnh Độ Ngũ Kinh” hoặc “Tịnh Độ Thập Yếu” v.v… Nay nói sơ lược đôi điều như vậy cho người sơ cơ có tín tâm niệm Phật. Hy vọng rằng quư vị biết được niệm Phật là tốt rồi, hăy nên phát tâm kiên cố niệm Phật, niệm hết sức thành khẩn, lăo thật niệm Phật. Trong tương lai, chắc chắn chúng ta sẽ gặp nhau trong hội chúng ở Tây phương vậy.

Nam mô A Di Đà Phật

 

Nguyên tác: Đại sư Đàm Hư

Việt dịch: Thích Tâm An

The post LUẬN NIỆM PHẬT appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/luan-niem-phat.html/feed 0
TRIẾT LƯ VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ https://bachhac.net/triet-lu-va-thuc-tien-cua-phap-mon-tinh-do.html https://bachhac.net/triet-lu-va-thuc-tien-cua-phap-mon-tinh-do.html#respond Sat, 22 Feb 2020 03:58:17 +0000 https://bachhac.net/?p=2785 Nguyên tác: Châu Thế Long Việt dịch: Thích Tâm An —ooOoo— A- TRIẾT LƯ 1.- Pháp môn Tịnh độ là pháp môn duyên khởi, tức Như Lai tính khởi pháp môn Như Lai đă chứng quả Phật thanh tịnh, vô minh triệt đoạn, vĩnh viễn xa ĺa sinh tử, chánh nhân Phật tính hiển lộ, …

The post TRIẾT LƯ VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
pháp môn tịnh độ

Nguyên tác: Châu Thế Long
Việt dịch: Thích Tâm An

—ooOoo—

A- TRIẾT LƯ

1.- Pháp môn Tịnh độ là pháp môn duyên khởi, tức Như Lai tính khởi pháp môn

Như Lai đă chứng quả Phật thanh tịnh, vô minh triệt đoạn, vĩnh viễn xa ĺa sinh tử, chánh nhân Phật tính hiển lộ, tịch quang chân cảnh hiện tiền. Thường an trụ trong Thường Tịch Quang, thọ nhận an lạc thanh tịnh. Tuy nhiên, v́ đại sự nhân duyên lớn mà Phật xuất hiện ở đời, thực hiện hạnh nguyện hiển đại bi tâm. Phật A Di Đà lúc c̣n tu Bồ Tát hạnh, pháp danh là Pháp Tạng Tỳ kheo, đứng trước Phật Thế Tự Tại Vương phát ra bốn mươi tám lời nguyện, cứu độ chúng sinh.

Trải qua vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp tu hành, thực hiện thế giới Tịnh độ, để thực hiện bốn tám lời nguyện, mở bày nhị thân, lấy danh hiệu A Di Đà, làm con thuyền Bát nhă, rộng độ mười phương chúng sinh được sinh về Tịnh độ. Nhân v́ Phật với chúng sinh trong thế giới Ta Bà có nhiều nhân duyên, nên lấy pháp môn Tịnh độ mà dạy cho người được văng sinh.

Cũng chính v́ nhân duyên đó mà Như Lai xuất hiện ở đời làm việc rộng độ chúng sinh. Cho nên, luận về nguyên lư căn bản, nên mới có tên gọi là pháp môn tính khởi, hoặc có tên khác là pháp giới duyên khởi (Như Lai tính tức là chỉ cho pháp giới tính, Như Lai tính khởi tức là chỉ cho pháp giới duyên khởi, trên mặt văn tự nghe như khác nhau, nhưng ư nghĩa chỉ có một). Pháp môn tính khởi, hoặc pháp môn pháp giới duyên khởi, đều có nghĩa chỉ cho sự cứu cánh. Song, để tŕnh bày ư nghĩa thâm sâu đó cho một hành giả hiểu được thật khó biết dường nào.

Ấn Quang Đại sư c̣n gọi với cái tên khác là pháp môn đặc biệt. Pháp môn đặc biệt, chỉ có bốn chữ, mà ư nghĩa thật phi thường. Di Đà Như Lai, lấy từ bi nguyện lực trực tiếp hiển hiện nhị báo trang nghiêm, đích thân làm việc độ chúng sinh, sao dám xem là việc nhỏ được. Công việc đó tuyệt đối không có một công việc ǵ cao cả bằng. Cho nên có tên gọi pháp môn đặc biệt là hoàn toàn xứng đáng. Trong “Văn Sao Tịnh Độ” Đại sư Ấn Quang từng nói : “Nên biết pháp môn Tịnh độ, đầy đủ bốn pháp giới, có sự tướng, sự sự pháp giới vô ngại… cho nên mới gọi là yếu chỉ Tịnh độ.

Sự tức là lư, lư tức là sự, lư sự viên dung, khế hợp bản thể”. Bấy nhiêu lời vắn tắt đó của Đại sư cũng đủ chứng minh pháp môn Tịnh độ là pháp giới duyên khởi, cũng là pháp môn Như Lai khởi tính. Vô ngại tức là chỉ cho sự thông đạt tự tại, dung hợp với bản thể. Như tại thế giới Cực Lạc, có chim nói pháp, có cây bảy báu phát ra pháp âm vi diệu, người nghe liền niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Đó là do sự vô ngại dung hợp với lư vô ngại.

Các giống chim ấy đều do A Di Đà Phật muốn cho pháp âm được lưu chuyển mà hóa hiện ra những cảnh như vậy. Đó là lư vô ngại dung hợp với sự vô ngại. Lại nữa, ví như trong thế giới Cực Lạc, có ao thất bảo, có nước tám công đức, trong ao có hoa sen lớn như bánh xe, đầy đủ các màu sắc, xanh, vàng, đỏ, trắng, hương thơm thanh khiết. Lại nữa, nước đó lại có thiên nhạc, đất bằng vàng rồng, ngày đêm sáu thời, hoa mạn đà trên trời rơi xuống, chúng sinh trong nước đó sáng sớm ra hứng đem đi cúng dường mười phương chư Phật, trưa lại trở về quốc độ dùng cơm, rồi đi kinh hành, đó đều chỉ cho sự vô ngại.

Lại nữa, Đại sư Thần Thời có nói rằng : “Pháp môn Tịnh độ là pháp giới duyên khởi” điều đó chứng tỏ pháp môn Tịnh độ, lư nghĩa thật thâm sâu biết dường nào (tham khảo Tịnh Độ Thập Yếu, Đại sư Ngẫu Ích tuyển định). Vậy mà Mâu Thị Tam lại dám phê b́nh tính khởi của Kinh Hoa Nghiêm và bốn trí vô ngại là hư vọng, chẳng qua là giả lập mà có. Thật không ngờ ông ta lại cho rằng lư trung tính là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Như Lai tính bao hàm vạn pháp, vạn lư, trong pháp giới tất cả các thiện đức, tự nó cũng có hàm chứa Phật tính mà vô ngại.

Mâu cho rằng lư tính là nhân, Trịnh Minh Đạo lại cho rằng nhân là đồng thể của đức, họ tranh luận với nhau bất phân thắng bại, ai cũng bảo thủ ư kiến của ḿnh. Thật ra, tất cả sự tranh luận đó bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa, do lư không thông nên dẫn đến sự có chướng ngại, chỉ chấp trước vào lư mà bỏ sự. Mười phương ba đời chư Phật, thể cũng như đạo đều giống nhau, thuyết pháp độ sinh cuối cùng đều quy về Bồ Tát đạo, đó là duyên vô ngại. Chúng ta nói Tây phương Cực Lạc Tịnh độ. Mâu lại cho rằng thế giới Cực Lạc là thế giới của các vị thần, trong tâm lại không tin có thế giới Cực Lạc.

Thật ra, thế giới chúng ta hiện đang sống theo kinh gọi là thế giới Ta Bà. Trong Kinh Pháp Hoa, phẩm Ngũ Bá Đệ Tử Thọ Kư, đoạn Phật thọ kư cho Phú Lâu Na, có nói : “Nay ở đây quốc độ này (tức là thế giới Ta Bà), được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (tức là chỉ cho quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).

Đức Phật đó lấy số thế giới tam thiên đại thiên nhiều như số cát sông Hằng mà làm thành một cơi Phật, đất làm bằng bảy thứ báu, thẳng bằng như bàn tay… Lầu, đài bằng bảy thứ báu, đầy dẫy trong đó. Cung điện của các vị trời ở gần trên hư không, người cùng trời giao tiếp với nhau (cụ thể là chỉ cho sự ḥa hợp giữa trời và người). Trong đó không có các đường dữ (tức là chỉ cho bốn đường Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, A Tu La). Tất cả đều do hóa sinh, không có dâm dục… nhân dân nước đó thường dùng hai thức ăn : một là Pháp hỷ thực, hai là Thiền duyệt thực. Có vô lượng vô số ngh́n muôn ức na do tha các chúng Bồ Tát đặng sức thần thông lớn, bốn trí vô ngại, khéo hay giáo hóa các loài chúng sinh… Kiếp tên là Bửu Minh, nước tên là Thiện Tịnh”. Điều đó có thể chứng minh cho thế giới Cực Lạc.

Thế giới Ta Bà vốn đầy dẫy tội lỗi, thế nhưng đến khi Phú Lâu Na thành Phật th́ cũng tại thế giới này lại được thực hiện thành một thế giới lư tưởng không có bốn đường ác. Tại thế giới Cực Lạc, lư cũng như sự vô ngại. Vô ngại tức là không có sự mâu thuẫn, ngược lại nếu có mâu thuẫn th́ không được gọi là vô ngại. Đức Phật là người chứng ngộ vạn pháp trong vũ trụ nhân sinh, những lời Ngài nói ra đều là những sự thật, điều đó đă được Ngài thốt lên, ngay sau khi thành đạo. Lạ thay, tất cả các chúng sinh vốn có Phật tính như nhau nhưng v́ vô minh che lấp nên không thể nhận ra được.

Những ǵ Ngài chứng ngộ đều có sẵn trong vũ trụ nhân sinh, cũng như những phát minh của các nhà khoa học về các hiện tượng vật lư, vốn đă có sẵn trong cuộc sống, chớ không phải họ tự sáng chế ra mà họ chỉ căn cứ vào các thí nghiệm để rồi cuối cùng đưa ra kết luận về những phát minh đó. Sự chứng đạo của Đức Phật cũng như thế. Ngài chỉ nói ra những hiện thực của vũ trụ, nếu lấy cái nh́n thiển cận, với một trí óc đầy tham sân như chúng ta, để đánh giá lời dạy chư Phật, nếu phê b́nh sai chắc chắn sẽ mang tội lớn. V́ lời dạy của Đức Phật vốn được chư Thiên cũng như Hộ pháp ủng hộ.

Đức Phật A Di Đà phát bốn mươi tám lời nguyện độ chúng sinh trong mười phương, quang minh của Ngài vô lượng vô biên chiếu khắp mười phương, không có một chướng ngại. Mười phương hằng hà sa số các chư Phật đều tán thán công đức không thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà, tinh thần pháp giới duyên khởi của Phật A Di Đà cũng không có một chướng ngại, vốn ḥa hợp với lư tưởng mười phương thế giới.

2.- Tâm làm Phật thì tâm là Phật

Lư tưởng văn hóa mười phương thế giới, sở dĩ ḥa hợp v́ giữa tâm Phật và tâm Phật có sự tương tức tương nhập với nhau, hiển phát bốn trí vô ngại. Tâm vốn là nguồn gốc của vạn pháp trong thế giới, cũng là nguồn gốc của nền văn hóa tinh hoa của nhân loại. Bản tâm của chúng sinh cùng với bản tâm của chư Phật vốn đồng thể vô ngại. Song, chúng sinh v́ hiện tiền bị nghiệp thức làm chướng ngại, nên sự hiểu biết có chướng ngại, bị cục bộ trong phạm vi nhỏ bé. Chư Phật Thế Tôn là những người đă đạt được sự hiểu biết cùng khắp không thể đo lường.

Chư Phật là “người biết đạo, khai đạo và dạy đạo” (Kinh Pháp Hoa, quyển thứ ba, phẩm Dược Thảo Dụ). Nhưng v́ mục đích xuất hiện ở đời là v́ muốn rộng độ tất cả chúng sinh. Chúng sinh chỉ cần thực hành lời Phật dạy, nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền và tương lai nhất định được thấy Phật. Đức Thế Tôn c̣n dạy : “Các Đức Phật Như Lai, chính là pháp giới thân, in sâu vào tâm tưởng của hết thảy chúng sinh. V́ vậy, trong khi tâm các người tưởng Phật, th́ tâm ấy tức là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp theo thân h́nh Đức Phật, cái tâm đó làm Phật, cũng tức tâm đó là Phật.

Sự hiểu biết chân chính cùng khắp không thể đo lường của chư Phật, đều từ nơi tâm tưởng mà sinh ra, v́ thế nên các người phải chăm ḷng buộc niệm lại” (Kinh Quán Vô Lượng Thọ). Tổ thứ mười hai Liên tông, Triệt Ngộ Đại sư, có nói : “Tâm làm Phật th́ tâm là Phật, so với việc trực chỉ bản tâm, kiến tính thành Phật của Thiền tông hoàn toàn khác nhau”. V́ sao ? V́ việc kiến tính th́ khó, thế nhưng tâm làm Phật th́ tâm là Phật th́ lại dễ. Thế nào gọi là kiến tính ? Kiến tính là ly khai cái ư thức của tâm, cái vọng tưởng điên đảo nghĩ suy theo trần cảnh.

Người muốn dừng những phân biệt của tâm, muốn tâm không khởi niệm khi đối duyên xúc cảnh, chuyện đó đâu có dễ làm, v́ những tập khí chúng sinh trong chúng ta đă tích chứa nhiều đời nhiều kiếp không thể tính kể. Nếu đối duyên xúc cảnh mà không khởi niệm, giữ cho tâm được sáng suốt đâu có dễ làm.

Kiến tính là xa ĺa ư thức của tâm, trí tuệ quang minh phải hiển lộ th́ mới được gọi là kiến tính. Như thế nào tâm làm Phật th́ tâm là Phật ? Là tâm tŕ niệm danh hiệu Phật, quán y chính trang nghiêm của Phật, tức là tâm làm Phật, điều này dễ. Kinh c̣n nói : “Khi tâm các người tưởng Phật, th́ tâm ấy là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, há chẳng phải tâm tưởng Phật th́ tâm là Phật hay sao, cho nên người niệm Phật th́ nhất định thấy Phật”.

Trong Kinh Lăng Nghiêm, chương “Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông”, Bồ Tát Đại Thế Chí có nói : “Mười phương Như Lai, thương nhớ chúng sinh, như mẹ nhớ con; nếu con trốn tránh, dù mẹ có nhớ cũng chẳng có lợi ích ǵ, nếu con nhớ mẹ, như mẹ nhớ con, th́ mẹ con đời đời không xa cách nhau. Nếu chúng sinh đem tâm nhớ Phật, niệm Phật th́ hiện tại hay tương lai chắc chắn thấy Phật, cách Phật không xa, chẳng cần tu thêm bất kỳ một phương tiện nào khác mà tự nhiên tâm được khai ngộ… Gốc tu hành, nhân địa của con là ngộ được vô sinh pháp nhẫn.

Nay con nguyện ở thế giới này để nhiếp hóa mọi người văng sinh Tịnh độ. Nay Phật hỏi viên thông, con vốn không lựa chọn, chuyên thâu nhiếp sáu căn, khiến cho tịnh niệm nối liền liên tục, được vào tam ma địa (Tam muội) đó là thứ nhất”.

Căn cứ vào những lời kinh điển trên, chúng ta có thể rút ra ba điểm : một là niệm danh hiệu A Di Đà và quán y chính trang nghiêm của Phật th́ tâm là Phật, trong thời khóa tụng niệm mỗi ngày hay dù làm tất cả công việc ǵ, nếu tâm chúng ta nghĩ Phật, niệm Phật th́ tâm là Phật.

Do tâm chuyên chú vào danh hiệu Phật nên tâm bị tác động bởi công đức rộng lớn không thể nghĩ bàn của Phật. Những trần cấu vọng tưởng sẽ không có cơ hội nuôi dưỡng, dần dần chân tâm sẽ hiển lộ. Nếu tâm cứ vọng tưởng theo trần cảnh th́ chân tâm khó mà hiển lộ. Hai, nếu tâm từ sáng đến chiều đều nhớ Phật niệm Phật, th́ không cần tu thêm một pháp môn nào cả, mà tâm tự nhiên được khai ngộ, tâm được khai ngộ đó là minh tâm kiến tính.

Ba, điều nhiếp lục căn, tịnh niệm liên tục, đắc tam ma địa, nhiếp tâm niệm Phật. Ấn Quang Đại sư có nói : “Niệm Phật cần nên nhiếp tâm, vọng niệm từ tâm mà khởi, âm thanh từ miệng mà lưu xuất, do đó niệm Phật cần phải niệm từng câu từng chữ rơ ràng, tai nghe rơ ràng. Câu niệm Phật từ trong tâm mà lưu xuất, một khi nhĩ căn được nhiếp phục, th́ các căn c̣n lại không thể hướng ngoại, nhanh chóng đưa đến nhất tâm bất loạn, điều mà Bồ Tát Đại Thế Chí gọi là điều nhiếp lục căn, tịnh niệm tương tục, được tam ma địa, đó là đệ nhất, tức là điều đó vậy” (xem “Văn Sao Tịnh Độ” quyển 1).

Việc niệm Phật, điều quan trọng là phải từ tâm phát khởi, từ miệng mà lưu xuất, miệng niệm từng câu từng chữ rơ ràng, tai nghe từng câu từng chữ rơ ràng. Việc này ban đầu tuy khó, cần phải dụng công lâu ngày mới có được kết quả, một khi nhĩ căn có sự tập trung vào danh hiệu, th́ vọng niệm không thể xen tạp vào được. Đôi tai chúng ta có tác dụng đón nhận và phân tích âm thanh từ bên ngoài, nếu một khi tai chuyên chú vào danh hiệu, tâm không phân tán, mà tâm cũng nghe từng câu từng chữ rơ ràng, tâm, miệng, tai phối hợp cùng niệm, th́ việc nhất tâm thật không khó khăn ǵ.

3.- Một niệm hiện tại là nhân thăng trầm trong vui khổ

Tâm đầy đủ của linh tri, niệm là hoạt động của linh tri. Là người tu học Phật pháp, điều căn bản là phải nắm bắt được những hoạt động của linh tri. Triệt Ngộ Đại sư có nói : “Phàm phu hầu hết đều có niệm. Tâm thể không có niệm chỉ có Phật là người duy nhất chứng được. Từ hàng Đẳng Giác trở xuống đều có niệm. Phàm phu chúng ta khi khởi một niệm đều nằm trong phạm vi của thập pháp giới, không có niệm nào thoát khỏi phạm vi thập pháp giới. Mỗi một niệm khởi làm duyên cho việc thọ sinh”. Nếu đă biết được lư như vậy mà không khởi niệm Phật th́ người đó chưa được gọi là người hiểu đạo. Nếu tâm chúng ta khởi đại từ, đại bi, công đức y chính trang nghiêm, đồng thời tâm cùng tương ưng với vạn đức hồng danh, tức là niệm pháp giới Phật. Tâm tương ưng với lục độ vạn hạnh của Bồ Tát tức là niệm pháp giới Bồ Tát.

Tâm tương ưng với Thập Nhị Nhân Duyên đó là niệm pháp giới Duyên Giác. Lấy tâm vô ngă và quán sát Tứ Đế đó là niệm pháp giới của Thanh Văn. Hoặc cùng tương ưng với tứ thiền bát định, cho đến thượng phẩm thập thiện, là niệm pháp giới cơi Trời. Nếu tâm tương ưng với ngũ giới th́ đó là niệm pháp giới cơi Người. Nếu tu tập các thiện pháp, tâm hay ôm ḷng sân hận, cống cao, hơn thua đó là đă rơi vào pháp giới A Tu La. Tâm nghĩ hạ phẩm thập ác, tức là đọa vào pháp giới Súc sinh. Hoặc tâm hay ôm ḷng keo kiệt bỏn sẻn, tương ưng với trung phẩm thập ác, tức là rơi vào pháp giới Ngạ quỷ.

Nếu tâm tương ưng với thượng phẩm thập ác, tức là đọa vào pháp giới Địa ngục. Thập ác gồm có : sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời thêu dệt, nói lời thô ác, nói lưỡi đôi chiều, tham lam, sân hận, si mê. Ngược lại, là thập thiện.

Biết được như vậy rồi, trong đời sống b́nh nhật chúng ta phải luôn xem xét, kiểm điểm xem tâm chúng ta rơi vào pháp giới nào, có như vậy mọi người mới không để cho tâm khởi lên những niệm ác, gây hại cho người và ḿnh. Nếu ta để cho tâm suy nghĩ thường xuyên các niệm xấu, chắc chắn hiện tiền cũng như trong tương lai khó mà tránh được những nghiệp xấu.

Một sát na chỉ xảy ra trong nháy mắt. Tham Huyền Kư, quyển thứ 3 có nói : “Trong một nháy mắt có đến sáu mươi sát na”. Như vậy, trong một nháy mắt thôi, tâm của chúng ta đă có thể khởi ra sáu mươi niệm. Kinh Đại Bát Nhă có chép : “Người sống trên thế gian này, trong một ngày một đêm đă có thể khởi lên tám ngh́n bốn mươi vạn niệm”. Điều đó cho thấy vọng niệm trong tâm chúng ta khởi lên liên tục không bao giờ dừng nghỉ. V́ vậy, không cho niệm khởi là điều quan trọng.

Không cần phải bàn nhiều, phương pháp đối trị vọng niệm không ǵ khác hơn là dùng chánh niệm để đối trị lại vọng niệm. Niệm Phật là phương pháp giúp chúng ta giữ được chánh niệm hơn hết. Trong Luận Đại thừa có nói : “Nhớ Phật niệm Phật, là con đường tắt đạt đạo nhanh nhất”. Đại sư Ấn Quang cũng có nói : “Pháp niệm Phật là bối trần hợp giác, là diệu pháp đệ nhất phản bản quy nguyên” (Văn Sao Tịnh Độ). Người niệm Phật đến phút lâm chung, nếu tâm giữ được chánh niệm phân minh th́ quyết định được văng sinh không nghi ngại. Chánh niệm ở đây tức là chỉ cho tâm nhớ Phật, niệm Phật.

Tâm không rời danh hiệu, th́ tâm không có một mảy may tâm niệm tham ái, sân hận. Lâm chung chánh niệm phân minh, trong khoảng sát na được Phật tiếp dẫn văng sinh Tịnh độ. Người muốn được như vậy, không ǵ khác hơn là trong đời sống hằng ngày, phải giữ cho tâm chánh niệm niệm Phật, tạo thành thói quen, không được lơ là chểnh mảng.

4.- Người niệm Phật tâm lực cần phải chuyên nhất

Tâm lực, vốn là nguồn sức mạnh không thể nghĩ bàn, tiếc thay nhân loại không biết dựa vào đó mà tinh tấn tu hành phát huy diệu dụng của tâm. Trong pháp giới, vật lực đă rất lớn, mà tâm lực lại càng lớn hơn.

Sau đây là biểu đồ :

Vật lực phát xuất từ tâm

Tâm lực là nguồn gốc phát sinh tất cả vật lực
Tâm lực là tính rộng lớn của vạn pháp vạn vật Vật lư hiện đại đă phát hiện ba nguyên lư về vật chất :
1- Vật chất hằng biến đổi
2- Không cố định
3- Vật chất có sóng âm
Chánh tri kiến của Phật :
Sắc (vật chất) tức là không, không tức là sắc.

Nh́n chung hiện nay tất cả nhân loại đều sợ hăi về sức mạnh công phá vĩ đại của nguyên tử, thật ra nguồn nguyên tử đó cũng từ tâm lực mà phát sinh, tâm lực chính là năng lực, sức mạnh nguyên tử cũng từ tâm lực mà có. Chúng ta chỉ cần y theo Phật pháp chí thành tu hành đến ngày thành Phật, th́ thần lực của tâm có thể đạt đến cảnh giới tối cao không thể nghĩ bàn. Lúc đó, tha hồ mà biến đổi tam thiên đại thiên thế giới.

Kinh Pháp Hoa, quyển thứ tư, phẩm “Hiện Bảo Tháp” lại có chép rằng : “Đức Phật Đa Bảo đă diệt độ, toàn thân ở trong tháp, bản nguyện đă viên măn liền vọt lên khen ngợi Kinh Pháp Hoa. Đức Phật Thích Ca bảo rằng : “Phật Đa Bảo có thệ nguyện rộng lớn, Đức Phật nào muốn đem thân ta mà chỉ bày cho bốn chúng, thời các vị Phật của nước đó phân thân ra nói pháp ở các nước trong mười phương đều phải nhóm họp ở một chỗ”. Bấy giờ, Đức Phật Thích Ca, từ lông trắng giữa chặng mày, phóng ra một luồng hào quang, rộng chiếu khắp sáu phương : Đông, Nam, Tây, Bắc, trên dưới.

Lúc đó các Đức Phật phân thân trong mười phương, đều bảo chúng Bồ Tát : “Các ngài phải qua chỗ của Đức Thích Ca Mâu Ni, để cúng dường tháp báu của Đa Bảo Như Lai”. Lúc bấy giờ, cơi Ta Bà liền biến thành thanh tịnh, đất bằng lưu ly, cây báu trang nghiêm. Đó là lần biến hóa thứ nhất. Đức Phật chỉ lưu lại chúng trong hội Pháp Hoa, dời các hàng trời người đi chỗ khác. Lúc đó, các Đức Phật ở phương Đông đă nhóm họp, ngồi xếp bằng trên ṭa sư tử, như thế lần lượt đến khắp đầy cả tam thiên đại thiên, mà ở thân Phật của Đức Thích Ca Mâu Ni phân thân ra khắp cả mười phương mà vẫn chưa hết. Lúc đó, Phật Thích Ca v́ muốn dung thọ các vị Phật của ḿnh phân thân, nên ở nơi tám phương lại biến thành hai trăm muôn ức na do tha cơi nước, đều làm cho thanh tịnh. Hai trăm muôn ức, tám phương lại kết thành một ngh́n sáu trăm vạn thiên thế giới, rồi biến các nước đó thành một nước của Phật. Đó lần thứ hai Phật biến hóa.

V́ các Đức Phật sẽ đến ngồi, nên ở tám phương lại biến hóa thành hai trăm muôn ức na do tha cơi nước, đều làm cho thanh tịnh. Đó là lần biến hóa thứ ba. Như vậy, trong ba lần biến hóa mà đă có tám phương Tịnh độ, ba vạn hai ngh́n muôn ức na do tha các nước, lại có thể dung chứa mười phương phân thân của chư Phật. Các Đức Phật đều sai các thị giả của ḿnh qua thăm viếng Đức Thích Ca Mâu Ni. Các Đức Phật trụ trong hư không, đều thấy Đức Đa Bảo Như Lai, ở trong tháp ngồi ṭa sư tử, toàn thân như vào cảnh thiền định.

Ba vạn hai ngh́n muôn ức na do tha các nước, đều do thần lực của chư Phật biến hóa ra. So sánh hoạt động của nguyên tử với thần lực của chư Phật làm sao mà bằng cho được. Qua đó chứng tỏ rằng tâm lực luôn thắng vật lực, vạn pháp đều do tâm, điều này chúng tôi đă có tŕnh bày trong bài viết “Vạn pháp duy tâm”, xin quư vị tham khảo. Chỉ có thần lực của chư Phật là xứng đáng cho chúng ta nương tựa. Người niệm Phật cần phải có tâm lực chuyên nhất, tha thiết liễu sinh thoát tử, tin sâu, nguyện thiết, hành chuyên, nhất định sẽ được văng sinh. Một khi đă được văng sinh rồi th́ chuyện thành Phật không c̣n ǵ để lo ngại.

Tổ thứ hai Liên Tông, Thiện Đạo Đại sư, khuyên người chỉ niệm danh hiệu A Di Đà Phật. Lại có người gạn hỏi : “Sao Ḥa thượng không dạy người “quán tưởng Phật” mà chỉ dạy chuyên tŕ danh thôi, chẳng hay có ư ǵ ?”. Ngài đáp : “Chúng sinh đời nay phần lớn chướng nặng tâm thô, thần thức tán loạn. Trong khi đó, cảnh Tịnh độ rất tế diệu, nên quán tưởng khó thành tựu. Chính v́ thế, Đức Phật xót thương nên chỉ dạy niệm Phật. Tại sao ? V́ xưng danh hiệu là việc dễ làm, nếu có thể giữ mỗi niệm nối nhau không dứt, tu như thế suốt đời th́ : mười kẻ niệm mười kẻ sẽ văng sinh, trăm người tu trăm người về Tịnh độ. Tại sao thế ? V́ không có duyên tạp bên ngoài, nên dễ được chánh niệm, v́ cùng với bản nguyện của Phật hợp nhau. Không trái với kinh giáo, thuận theo lời Phật và chư Thánh chỉ dạy. Nếu bỏ chuyên niệm Phật mà tu xen tạp những hạnh khác, th́ trong trăm ngàn người chỉ hy vọng ba bốn kẻ được văng sinh. Tại sao ? V́ duyên tạp niệm khiến cho mất chánh niệm, không khế hợp với bản nguyện của Phật. V́ trái với kinh giáo và lời chư Phật, chư Thánh dạy, hệ niệm không tiếp nối nhau, tâm không thường nhớ Phật. V́ thân tuy hành đạo mà tâm lại tương ưng với lợi danh, v́ thích theo duyên tạp mà làm chướng ngại chánh nhân văng sinh của ḿnh và người. Các hàng ngoại đạo, tục có kiến giải không giống nhau, như là : kẻ thích chuyên tu, người ưa tạp hạnh. Nếu như chuyên tâm niệm Phật th́ mười người niệm đều văng sinh cả mười. Nếu như tu tạp niệm mà tâm không chí thành th́ trong ngàn người tu khó mong được một. Nguyện xin tất cả hăy nên chín chắn mà suy nghĩ kỹ. Lại nữa, người niệm Phật khi đi, đứng, nằm, ngồi phải cố gắng nhiếp tâm, ngày đêm chớ rời danh hiệu, quyết giữ câu niệm Phật cho đến hơi thở cuối cùng. Như thế th́ đến giây phút măn phần, niệm trước vừa thọ chung, niệm sau liền văng sinh Cực Lạc. Từ đây vĩnh viễn hưởng được sự vui “pháp lạc” vô vi măi cho đến ngày thành Phật. Há là chẳng đáng vui sướng ư ?”. (Tham khảo “Tịnh Độ Thánh Hiền”, quyển thượng, tập 2)

Tương truyền Đại Sư Thiện Đạo, là hóa thân của Phật A Di Đà. Mỗi khi ngài niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, th́ có một tia hào quang từ nơi miệng ngài phóng ra, ngài niệm Phật từ mười câu cho đến trăm câu đều có hào quang như vậy. Do tâm lực của ngài đă thành tựu nên mới có việc hiển hiện những điều kỳ diệu như thế. Qua đó cũng đủ chứng minh cho chúng ta thấy diệu dụng của niệm Phật, một khi chúng ta chuyên chú tâm niệm danh hiệu A Di Đà Phật, th́ khiến cho tâm lực tập trung chuyên chú vào một chỗ, tạo nên một năng lực chánh niệm rất lớn, và hiện hữu mọi lúc mọi nơi, th́ sự kiện “niệm trước vừa thọ chung, niệm sau văng sinh Cực Lạc” là việc có thể thực hiện, lời nói đó hoàn toàn không sai trái. Do đó, trong thời tu tập mỗi ngày chúng ta phải định cho ḿnh một thời khóa công phu rơ ràng, nếu công việc thật sự bận rộn, trong nghi lễ của thời khóa công phu chỉ cần tụng Kinh A Di Đà, chú văng sinh, đọc bốn mươi tám lời nguyện trong Kinh Vô Lượng Thọ là đủ, đối với các kinh luận khác không nhất thiết phải đọc, sau đó đọc kệ tán Phật, tiếp theo là niệm đức hồng danh, niệm vạn câu hoặc trên vạn câu. Ngoài thời khóa chính ra, những lúc b́nh thường miệng cũng không xa ĺa danh hiệu Phật, tịnh niệm liên tục, có như thế mới đạt đến nhất tâm bất loạn. Người niệm Phật cần phải có tâm chuyên nhất, có tinh tấn, không nên v́ một nhân duyên nào, mà phế bỏ công phu. Hăy xem việc niệm Phật là công việc quan trọng nhất, tâm luôn tha thiết liễu sinh thoát tử, có như thế mới thành tựu việc văng sinh. Một khi tâm có tin sâu, nguyện thiết, hành chuyên sẽ tạo nên tâm lực rất lớn không ǵ b́ kịp, v́ tâm lực có diệu dụng không thể nghĩ bàn. Người niệm Phật một khi đạt được tâm lực đó th́ không khác ǵ tâm lực của chư Phật trong mười phương.

5.- Nguyện và nguyện cảm ứng đạo giao

Đức Phật A Di Đà tu Bồ Tát thừa phát bốn mươi tám lời nguyện. Phàm có chúng sinh nào chí tâm xưng niệm danh hiệu của Ngài, hoặc nghe danh hiệu của Ngài, cho đến phát đại Bồ Đề tâm (nguyện lực). Nguyện lực của Ngài đă thành tựu rồi, Ngài trải qua muôn kiếp tu hành, nhẫn lực tu hành thành tựu sáu Ba la mật, siêng năng tu Bồ Tát vạn hạnh (hạnh lực). Hạnh lực của Ngài đă viên măn rồi, lại thành tựu chính báo quả vị Vô Thượng Bồ Đề và y báo là nước Cực Lạc trang nghiêm (công đức lực). Ba yếu tố : nguyện lực, hạnh lực, công đức lực ḥa hợp tạo nên thần lực danh hiệu không thể nghĩ bàn. Ngài dùng danh hiệu A Di Đà làm con thuyền Bát nhă, cứu độ chúng sinh. Chúng sinh, tin Phật, niệm Phật, phát tâm đại Bồ đề thành Phật độ chúng sinh. Nguyện văng sinh Tịnh độ để được sự giáo hóa của chư Phật, luôn luôn lấy lời nguyện đó hồi hướng về Phật A Di Đà. Do vậy mà có sự cảm ứng đạo giao giữa nguyện lực của chúng sinh và nguyện lực của Phật. Để có được sự cảm ứng đạo giao, người niệm Phật cần phải có tâm tin sâu, nguyện lực phải tha thiết, hành tŕ phải chuyên nhất, cầu Phật lực từ bi thương xót, gia hộ độ tŕ thoát ly sinh tử, tiếp dẫn văng sinh Tịnh độ, tu tập cho đến ngày thành Phật, trở lại Ta Bà rộng độ chúng sinh đồng thoát ly sinh tử, đồng sinh Tịnh độ, vĩnh kiếp không c̣n sợ thối chuyển.

Ngẫu Ích Đại sư có nói : “Phải tin vào Phật lực mới có thể tin sâu công đức của danh hiệu, phải có tin tŕ danh mới có thể tin bản tính không thể nghĩ bàn của chúng ta. Người có đầy đủ tâm tin sâu như vậy, mới có thể phát nguyện rộng lớn. Người niệm Phật chỉ cần ghi nhớ hai chữ “tín, nguyện”. V́ tín nguyện là kim chỉ nam của pháp môn Tịnh độ, chấp tŕ danh hiệu là chánh hạnh. Nếu người có tín nguyện kiên cố, đến phút lâm chung chỉ cần mười niệm tâm không rối loạn thôi cũng được văng sinh. Người không có tín nguyện dù cho niệm Phật đến tŕnh độ gió thổi không động, mưa rơi không thấm, kiên cố vững chắc như tường đồng, lũy sắt cũng không được văng sinh. Phàm là người tu tịnh nghiệp không thể không biết điều đó”. (Tham khảo Kinh A Di Đà yếu giải do Đại sư trước tác). Ngài c̣n nói rằng : “Người có được văng sinh hay không văng sinh, cũng tùy thuộc nơi chỗ có tín nguyện hay không có tín nguyện, phẩm vị cao hay thấp là tùy thuộc ở chỗ hành tŕ sâu hay cạn”.

Phật pháp chú trọng ở chỗ cảm ứng. Cũng không nằm ngoài đặc điểm đó, sự cảm ứng là thật tướng pháp giới vốn bao trùm khắp pháp giới hư không, không có sự ngăn ngại, v́ nó vốn nhân duyên tương cảm, nương tựa nhau, tương ứng mà có. Tại sao sự cảm trong Phật pháp lại rất đặc biệt như vậy ? V́ Phật pháp vốn có pháp tính trong sạch thanh tịnh, do đó thế giới thần linh rất ưa chuộng. Nó vốn không có sự chướng ngại như các tôn giáo khác, nói đúng hơn Phật pháp thể tính của nó rất thanh tịnh b́nh đẳng, luôn hướng chúng sinh về con đường chân thiện mỹ, nên rất được chư Phật, cũng như thế giới thần linh ưa thích và hộ niệm. Đức Phật A Di Đà khi c̣n là Pháp Tạng, sau khi đứng trước Phật Thế Tự Tại Vương phát bốn mươi tám lời nguyện rộng độ chúng sinh và sau khi nói kệ xong, lúc bấy giờ khắp các cơi đất sáu lần chấn động, chư Thiên rải hoa đẹp lên đầu Ngài cúng dường, tự nhiên có tiếng âm nhạc trong hư không vang lên khen ngợi và chứng quyết Ngài nhất định sẽ thành bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác (Kinh Vô Lượng Thọ). Đó là sự biểu hiện sự thật chứng của pháp giới thật tướng đối với lời phát nguyện của Pháp Tạng Tỳ kheo. Chỉ có chư Phật mới thấy được điều đó, phàm phu chúng ta không thể thấy được. Lại nữa, Đức Phật A Di Đà tu Bồ Tát thừa, trải qua nhiều kiếp tu hành, công đức của Phật đă viên măn, Ngài đă thành Phật, lời nguyện lớn của Ngài đă thành tựu một thế giới Tịnh độ. Trong thế giới Tịnh độ có vô lượng vô biên công đức trang nghiêm như : lầu gác, ao báu, hoa sen, cây báu, đất bằng vàng ṛng, lưới châu… tất cả những loại trang nghiêm đó không chỉ một tay Phật có thể xây dựng được mà do một phần cảm ứng của thế giới thần linh, thế giới chư Phật mà thành tựu một thế giới Tịnh độ trang nghiêm như vậy. Trong đó tâm nguyện xây dựng thế giới Tịnh độ, rộng độ chúng sinh của Phật A Di Đà đóng vai tṛ chính. Có gieo nhân ắt sẽ gặp quả cảm ứng. Nhân ví như hạt giống, quả ví như hoa quả. Người tu pháp môn Tịnh độ cũng như thế, lấy tín, nguyện, hạnh làm nhân, từ nhân được gieo đó, Phật A Di Đà mới biết để đến tiếp dẫn văng sinh, để giáo hóa thành Phật là quả. Tín nguyện của pháp môn Tịnh độ được ví như sóng điện từ phát đi từ đài phát thanh, Phật A Di Đà tiếp nhận luồng sóng đó mới có thể định hướng chúng sinh đang tín nguyện cầu về nước Ngài, dựa vào đó Ngài mới có thể định vị chúng sinh đang ở phương hướng nào để đến tiếp dẫn. Người niệm Phật sở dĩ được văng sinh cũng nhờ vào sự phát khởi tin sâu, nguyện thiết mới có cảm ứng đạo giao. Trong pháp giới có vô lượng vô biên sự thật chứng của chư Phật, công đức trang nghiêm các Ngài không thể nghĩ bàn, mười phương hằng hà sa chư Phật đều quy hướng Tịnh độ. V́ vậy, có chúng sinh nào phát khởi tâm niệm Phật, các Ngài đều hết sức tán thán và đồng hộ niệm cho người đó đạt được quả bất thối chuyển A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Điều đó có thể chứng minh rằng, nếu người niệm Phật phát khởi tin sâu, nguyện thiết chắc chắn sẽ thành tựu văng sinh Tịnh độ. V́ có sự cảm ứng đạo giao không thể nghĩ bàn của chư Phật đối với chúng sinh. Do đó những ai từ trước đến nay chưa phát khởi tâm niệm Phật hăy nhanh chóng phát khởi tín tâm, chắc chắn sẽ được văng sinh Tịnh độ.

Tổ thứ sáu Liên Tông, Vĩnh Minh Diên Thọ Đại sư, là vị Thiền Tịnh song tu. Ngài có trước tác cuốn “Vạn Thiện Đồng Quy” đó là một tác phẩm có giá trị về Tịnh độ. Ngài được xem là hóa thân của Phật A Di Đà. Sau khi Đại sư viên tịch, có một vị tăng từ miền Lâm Xuyên đến, trọn cả năm luôn đi kinh hành và lễ bái tháp của Đại sư, có người lấy làm lạ nên hỏi vị tăng đó, vị tăng đáp rằng : “Năm trước tôi bị đau nặng, thần thức rơi vào cơi u minh, thấy bên tả vua Diêm Vương có thờ tượng của một vị Ḥa thượng, tôi thấy vua Diêm Vương đang cung kính quỳ lạy tượng ấy, tôi thử hỏi nguyên do, mới biết đó là tôn tượng của Diên Thọ Đại sư ở chùa Vĩnh Minh tại Hàng Châu. Ngài đă văng sinh về nơi thượng phẩm của cơi Cực Lạc. Vua Diêm Vương do cảm kích trọng đức hạnh của ngài nên mới tác tượng lễ lạy cúng dường như vậy.” Qua đó cho chúng ta thấy được sự cảm ứng của Phật pháp c̣n cảm ứng đến cả nơi địa ngục, v́ cảm ứng của Phật pháp vốn chu biến khắp cả pháp giới hư không. V́ vậy, người niệm Phật nếu có tâm tín nguyện càng thành khẩn chắc chắn sẽ có cảm ứng đạo giao.

6.- Lấy quả đại giác làm nhân tâm địa

“Nhân quả là quyền lực lớn để Thánh nhân an dân trị nước” (lời của Ấn Quang Đại sư). Không có quả nào mà không có nhân, không có nhân nào mà không có quả. Từ mạng sống, sinh hoạt và sự nghiệp, cho đến phước họa, tốt xấu, thành công hay thất bại của con người đều không thoát khỏi sự chi phối của ṿng nhân quả. Tuy nhiên, chúng sinh tuy sinh ra trong nhân quả lại không có trí tuệ phân biệt nhân quả có nguồn gốc từ đâu. Làm sao để gieo những nhân tốt ? Chúng sinh hoàn toàn bị nhân quả chi phối, không biết tu hành ra sao. Việc tu hành theo đạo Phật đó là tu nhân. Nếu người gieo nhân địa giả dối chắc chắn gặt hái những quả giả dối.

Thông thường người ta không biết nhân đó là tâm, trong mảnh đất tâm có chứa rất nhiều hạt giống nghiệp thức khác nhau, một khi các hạt giống nghiệp thức này chín muồi sẽ khởi hiện hành phát sinh thành quả. Tu nhân tức là thanh lọc nghiệp thức. Nghiệp thức được thanh lọc liền thấy bản tâm, đó là chánh đạo. Nếu không thanh lọc nghiệp thức mà lại lấy nghiệp thức của tâm làm nhân địa nỗ lực tu hành, chẳng khác nào người nấu cát mà mong thành cơm ắt hẳn cơm không thành mà chỉ có cát. Pháp môn niệm Phật vốn có nhân duyên đặc biệt thù thắng hơn các pháp môn khác.

Đó là người niệm Phật lấy danh hiệu quả địa Chánh đẳng Chánh giác của Phật A Di Đà làm tâm nhân địa cho việc tu hành, người có quyết tâm tin Phật, quyết tâm nguyện sinh Tây phương, quyết tâm độ chúng sinh, quyết tâm tŕ niệm danh hiệu Phật, đem toàn thể tâm lực mà hệ niệm vào danh hiệu Phật. Phật có nghĩa là giác ngộ, tỉnh thức, hệ niệm vào danh hiệu Phật tức là đang hệ niệm vào tỉnh thức giác ngộ. Phật là người đă chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, từ bi nguyện lực của các Ngài cùng với tín, nguyện, hạnh của chúng sinh ḥa hợp lại tạo nên một năng lực cảm ứng không thể nghĩ bàn.

Phật lực của các Ngài sẽ khiến cho nghiệp thức của chúng sinh dần dần được thanh lọc, và tính giác của chúng sinh dần dần được hiển lộ. Do đó chúng sinh trong tâm niệm Phật, là đang gieo trồng chủng tử thành Phật. Nếu tín nguyện và niệm Phật cùng được tiến hành song song th́ tâm chúng sinh cảm thông với tâm Phật. Nếu tâm chúng sinh càng hệ niệm vào danh hiệu Phật th́ nghiệp thức của chúng sinh càng nhanh chóng được thanh lọc, và rồi bản giác càng nhanh chóng hiện lộ.

Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật có nói : “Niệm một câu Nam Mô A Di Đà Phật, có thể tiêu trừ trọng tội của tám mươi vạn kiếp sinh tử”. Do đó, người niệm Phật chỉ cần thành khẩn tha thiết mà niệm chắc chắn sẽ được cảm ứng đạo giao, nghiệp thức sẽ được tiêu trừ. Mỗi ngày nên định thời khóa mà niệm Phật, niệm liên tục, thiện căn càng chín muồi th́ nghiệp thức dần dần được tiêu trừ, bản giác sẽ dần dần hiển lộ. Đối với người trung và hạ căn, nếu không thể đạt đến nghiệp thức hoàn toàn được thanh lọc th́ có thể nương vào đới nghiệp được văng sinh. Một khi đă sinh Tịnh độ, hóa sinh trong hoa sen, dư nghiệp liền tiêu trừ, hoa nở liền thấy Phật ngộ được vô sinh pháp nhẫn.

Danh hiệu Phật có thần lực không thể nghĩ bàn, có thể chuyển hóa người niệm Phật từ chỗ tâm tính mê muội đạt đến chỗ minh tâm kiến tính. Nếu người niệm Phật niệm danh hiệu Phật lâu dài không gián đoạn, tâm chuyên nhất với danh hiệu, chắc chắn người đó đến phút lâm chung chánh niệm rơ ràng. Ngoài phương pháp tŕ danh ra, mọi người có thể áp dụng “phương pháp tùy tức niệm Phật” (theo dơi hơi thở niệm Phật), trong các oai nghi luôn mượn hơi thở làm tràng hạt để niệm Phật. Hít vào niệm “Nam Mô A” thở ra niệm “Di Đà Phật”, thực hành lâu ngày như thế, danh hiệu sẽ nhiếp theo hơi thở làm một, nhĩ căn sẽ hệ niệm ở tâm, do đó tạp niệm không thể xen vào và khởi lên, từ đó có thể đạt đến “sự nhất tâm bất loạn”. Một khi được “sự nhất tâm bất loạn” rồi, lại càng tinh tấn niệm, tâm không có sự mong cầu các cảnh tướng, Phật hiệu và tâm nhất như. Lúc đó tâm không niệm mà niệm, liền đạt đến “lư nhất tâm bất loạn”, tâm cùng tương ưng với tâm Phật, được gọi là thật tướng niệm Phật, hay đă thành tựu niệm Phật tam muội.

Ấn Quang Đại sư có nói : “Nếu thật sự đạt được quả niệm Phật “nhất tâm bất loạn” (chú ư hai chữ nhất tâm) tức là quả địa giác làm nhân cho tâm địa. Nếu có thể đạt đến tâm tương ưng th́ nhân tức là quả, rất b́nh thường, rất huyền diệu. Nếu người không tin nhận được điều đó th́ không thể được xem là người trí”. Ư Đại sư muốn nói khi tâm địa của người niệm Phật tương ưng với tâm địa của Phật, tâm tâm tương ưng, khế hợp với nhau, tức là thuộc thực tướng niệm Phật, điều đó chứng tỏ người đó đă đạt được niệm Phật tam muội. Chuyện đó là chuyện b́nh thường không có ǵ là cao siêu khó hiểu, nhưng nó rất huyền diệu thâm sâu, nếu là người trí thức cho điều đó là cao siêu khó hiểu, không thực tế th́ người đó không thể xem là hạng trượng phu trí thức được.

Đại sư Triệt Ngộ cũng có nói : “Sở dĩ gọi là chấp tŕ danh hiệu là chăm chăm buộc niệm kiên cố ở tâm, nếu có một mảy may niệm xen tạp hoặc gián đoạn th́ chẳng được gọi là chấp tŕ. Nếu niệm niệm tương tục không gián đoạn, tinh tấn niệm không dừng nghỉ dần dần đạt đến nhất tâm bất loạn. Một khi đă đạt được nhất tâm bất loạn rồi mà càng tinh tấn không dừng nghỉ, trí tuệ sẽ khai sáng, phát khởi biện tài, đắc được thành thông, thành tựu niệm Phật tam muội. Chỉ có đạt đến nhất tâm loạn th́ tịnh nghiệp mới viên thành. Pháp môn Tịnh độ là cánh cửa lớn độ thoát chúng sinh thoát ly sinh tử, người không có tín, không có nguyện chắc chắn măi măi không có an toàn, măi măi đắm ch́m trong sinh tử. Là bậc học giả hăy lấy điều đó mà suy nghĩ cho kỹ, không nên bỏ qua”.

Tóm lại, qua lời của hai vị Đại sư, tuy văn tự có khác nhau, thế nhưng ư nghĩa diễn đạt lại giống nhau. Cái được gọi là “tâm tương ưng, niệm niệm tương tục không gián đoạn… đạt được trí tuệ biện tài vô ngại, thành tựu niệm Phật tam muội” những cảnh giới chứng đắc đó thật là cao siêu, huyền diệu, nhưng đó là sự thực, không phải cảnh tướng xa lạ ǵ đối với những hành giả niệm Phật, một khi đạt được sẽ thấy được điều đó. Muốn đạt được thành tựu như vậy, người niệm Phật cần phải có tín, hạnh, nguyện thiết tha, công phu phải miên mật, niệm niệm không gián đoạn, mới có khả năng thành tựu niệm Phật tam muội. Đối với bậc học giả chúng ta cũng không nên chấp lư mà bỏ sự, không nên cho pháp môn Tịnh độ là hẹp ḥi chỉ dành cho ông già bà cả, mà đánh mất đi nhân duyên văng sinh Tịnh độ của chính ḿnh, nên khởi thực hành mới cảm nhận được sự vi diệu của nó, điều đó đă được hai vị Đại sư nhắc nhở như trên.

7.- Niệm Phật văng sinh là xả khổ thọ lạc

Trong Kinh A Di Đà, Phật Thích Ca có nói : “Này Xá Lợi Phất, v́ sao cơi ấy gọi là Cực Lạc ? Cơi ấy không có những thứ khổ, chỉ có thuần những sự vui, v́ vậy mà có tên là Cực Lạc”. Thế giới Cực Lạc là thế giới được Phật A Di Đà xây dựng từ vô lượng vô biên các công đức trang nghiêm, xin đơn cử vài điều như sau :

1.- Trí tuệ của Phật sáng vô lượng vô biên, soi khắp các nước khắp cả mười phương đều không chướng ngại, Phật A Di Đà rộng độ chúng sinh khắp mười phương, nhân dân nước Cực Lạc hằng ngày sáng sớm đều lấy xiêm y đựng các thứ hoa có hương thơm đẹp lạ, mang đi cúng dường mười muôn ức chư Phật ở các phương khác, đến giờ cơm lại quay về nước của ḿnh, dùng cơm xong lại đi dạo chơi, kinh hành niệm Phật, đó là đức đại ngă.

2.- Người sống trong cơi Cực Lạc, vô minh không c̣n, tham, sân, si hoàn toàn triệt đoạn, không phải sợ trở lại địa ngục, mà đều hóa sinh từ hoa sen, đó là tịnh đức.

3.- Các hàng cây báu cùng các loại chim nơi Cực Lạc đều phát ra pháp âm vi diệu, đó là đức thuyết pháp.

4. Nhân dân sinh sống ở Cực Lạc không có những điều khổ, chỉ thọ nhận những điều vui sướng, nên gọi là Cực Lạc, đó là lạc đức.

Thế giới Tịnh độ được thiết lập từ các công đức trang nghiêm, tất cả đều thuần sự vui sướng, không có các khổ đau, dục vọng như thế giới Ta Bà. Kinh Pháp Hoa có nói : “Nguyên nhân của khổ đau có nguồn gốc từ tham dục”. Lại nữa trong Kinh Thắng Thiên Vương Bát Nhă Đức Phật có nói : “Chúng sinh ngày đêm luân chuyển trong lục đạo, chịu khổ không ngừng, đều do tâm tham dục”. Thật vậy chúng sinh sở dĩ luân chuyển trong lục đạo, chịu khổ đau cũng từ tâm tham dục. Khổ vốn có trăm ngàn loại khác nhau, v́ vậy mà chúng sinh suốt ngày ca cẩm khổ đau không dừng, nào là lương thực thiếu thốn cũng khổ, tài nguyên, vật chất cạn kiệt cũng khổ, không khí, môi trường ô nhiễm cũng than khổ, bệnh tật, dịch hạch phát sinh cũng khổ, thất nghiệp khổ, chiến tranh khủng bố, bom đạn, nguyên tử hoành hành cũng khổ, nói tóm lại đă làm người sống trong thế gian này phải chấp nhận muôn ngàn khổ đau không thể nào kể hết.

Theo nhà Phật khổ được chia làm ba loại : ba khổ, tám khổ, trăm loại khổ. Nhưng thông thường khổ được Đức Phật giảng nói là tám thứ khổ, gồm các loại như sau : 1. Sinh khổ, 2. Lăo khổ, 3. Bệnh khổ, 4. Tử khổ, 5. Ái biệt ly khổ, 6. Cầu bất đắc khổ, 7. Oán tắng hội khổ, 8. Ngũ ấm xí thạnh khổ.

Sinh khổ : Sự khổ của sinh được chia làm hai giai đoạn, khổ từ khi thọ thai nằm trong ḷng mẹ và khổ lúc sinh ra. Trong thời kỳ nằm trong ḷng mẹ, thai nhi thọ bẩm khí huyết sạch hay dơ, no hay đói, mạnh hay yếu đều tùy thuộc vào người mẹ. Nếu người mẹ biết lo nuôi dưỡng giữ ǵn thai nhi th́ c̣n đỡ, bằng ngược lại, người mẹ mang thai trong trường hợp ngoài ư muốn, gia đ́nh và xă hội không cho phép th́ bắt buộc phải sử dụng thuốc phá thai, thai nhi phải chịu muôn phần đau khổ, èo uột, dở sống, dở chết thật thảm thương vô cùng… Thời kỳ thứ hai, sau chín tháng mười ngày nằm trong ḷng mẹ chịu biết bao đau khổ, thai nhi một lần nữa phải chịu đau đớn như ai cắt thân xé thịt mới có thể lọt ra khỏi ḷng mẹ, đó là chưa kể sau khi ra khỏi ḷng mẹ nếu có khóc th́ đỡ, bằng ngược lại bị đánh đến khi nào chịu khóc mới thôi, v́ có khóc buồng phổi của thai nhi mới hoạt động được, thai nhi mới có khả năng sống sót.

Lăo khổ : B́nh nhật ai cũng lo lam lũ làm ăn, ít có ai nhớ nghĩ đến cái già, v́ thế khi có ai nhắc đến cảnh già th́ tự nhiên giật ḿnh lo sợ. Cho nên người xưa thường than : “đa thọ th́ đa khổ”. Nếu người biết suy tưởng th́ sẽ thấy được rằng người ta càng sống lâu chừng nào càng gánh chịu nhiều khổ đau chừng ấy. Về thể xác, tuổi càng già thân thể càng tiều tụy, yếu đuối, đầu bạc da nhăn, mắt mờ tai điếc, mũi nghẹt, lưỡi đớ, răng th́ cái rụng cái lung lay, đau nhức vô cùng tận. Muôn việc đều nhờ con cháu giúp đỡ. Nếu con cháu có đạo đức và hiếu thuận th́ c̣n đỡ và an ủi được phần nào, bằng ngược lại làm khổ con cháu quá nhiều chúng nó đâm ra bỏ bê không chăm sóc đă khổ th́ lại càng khổ muôn phần. Về mặt tinh thần, người càng già thần kinh càng yếu, trí nhớ bất thường, quên trước nhớ sau, đôi khi lú lẫn làm tṛ cười cho thiên hạ. Do đó người đến tuổi già thường than : “già khổ lắm”.

Bệnh khổ : Đối với con người, sức khỏe là vàng bạc, có sức khỏe là có tất cả. Một người mắc bệnh th́ dường như họ mất cả lẽ sống, thân xác uể oải, đau nhức, tâm thần bất định. Đó là chưa kể những người mắc các bệnh trầm kha như ung thư, bệnh thế kỷ như HIV/AIDS, chưa có thuốc chữa trị, đang đứng giữa hai bờ sống chết. Những người này tuy sống mà như đă chết, lẽ sống đối với họ dường như không c̣n. Thế nên mới nói bệnh là khổ.

Tử khổ : Nói đến cái chết th́ từ con người cho đến các loại động vật, loài nào cũng hoảng sợ. V́ trước khi chết phải chịu biết bao cực h́nh đau khổ. Chết có nhiều h́nh thức khác nhau : chết v́ bệnh tật, chết v́ đâm chém, chết v́ cướp của giết người, chết bất đắc kỳ tử như bị tai nạn giao thông, máy bay hư, khủng bố chiến tranh giết chóc, bom đạn nguyên tử. Cái chết làm cho con người phải kinh sợ.

Ái biệt ly biệt khổ : Gia đ́nh, chồng vợ, con cháu… đang sống đầm ấm hạnh phúc, bỗng nhiên có một người nào đó đi xa, hoặc chết. Cảnh biệt ly giữa kẻ ở người đi thật không có nỗi buồn nào bằng nên nói thương yêu xa ĺa là khổ là vậy.

Cầu bất đắc khổ : Là sự mong muốn mà không toại ư. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường mắc phải những thất vọng sau : thất vọng v́ công danh, thất vọng v́ lợi lộc, thất vọng v́ giàu sang phú quư, thất vọng v́ t́nh duyên trắc trở v.v… các thất vọng trên đây thường tạo nên những móc xích trói buộc, khiến cho chúng sinh măi măi đắm ch́m trong sinh tử, thậm chí có người đôi khi v́ những thất vọng đó mà đánh mất đi thân mạng của chính ḿnh, thật đau đớn vô cùng.

Oán tắng hội khổ : Là chỉ cho nỗi khổ giữa hai người có oán thù mà phải ở chung. Người ở thế gian thường than : “Thấy mặt kẻ thù như kim đâm vào mắt, sống chung với kẻ thù như nếm mật nằm gai”. Ư nghĩa lời than trên đây có thể đă diễn đạt phần nào giữa hai người không có yêu thương mà phải sống chung. Đôi khi trong một gia đ́nh, nếu có t́nh trạng đó thật không có nỗi khổ nào bằng. Vợ chồng không thương yêu mà phải sống chung, tất nhiên sẽ dẫn đến phải ly thân, hoặc ly dị, làm cho con cái không đủ cha, đủ mẹ, chúng sẽ mặc cảm với bạn bè, không có người chăm sóc dạy dỗ, ắt hẳn sẽ đi vào con đường tội lỗi, tạo nên mối đe dọa gây khó khăn cho xă hội.

Ngũ ấm xí thạnh khổ : Ngũ ấm bao gồm sắc, thọ, tưởng, hành,thức. Sắc là nghiệp cảm thuộc về phần vật chất, thọ tưởng hành thức là nghiệp cảm thuộc về phần tinh thần. Ngũ ấm xí thạnh khổ là chỉ cho thân ngũ uẩn quá sung măn, mập ú, dẫn đến thúc dục thân tâm đ̣i hỏi, xung đột, chi phối bất thường, gây nhiều vọng tưởng, vọng thức tà vạy. Thật vậy, nói đến khổ đau mà con người gánh chịu từ kiếp này sang kiếp khác th́ không ngôn ngữ nào diễn đạt cho hết, cho nên trong kinh có nói : “Nước mắt chúng sinh nhiều hơn biển cả” là vậy. Thế nhưng, hằng ngày con người tiếp xúc với những đau khổ đó mà nào có hay có biết, họ chỉ một ḷng hăng say tạo tác nghiệp. Đối với họ đó là những niềm vui, là lẽ sống, v́ thế mà thế giới Ta Bà chúng ta đang sống mới có nghĩa “kham nhẫn” là vậy, nghĩa là chúng sinh sống trong thế giới Ta Bà kham nhẫn mọi khổ đau để mà sống.

Ấn Quang Đại sư có nói : “Thời đại mạt pháp tất cả chúng sinh nên tha thiết mà niệm Phật, nương nhờ Phật lực mà văng sinh Tịnh độ. Đă được văng sinh rồi th́ từ hoa sen mà hóa sinh, sẽ không c̣n nỗi khổ về sinh sản nữa. Tất cả đều được thọ thân người nam, thọ mạng ngang bằng với hư không, không có tai biến, không có các nỗi khổ về già, bệnh, chết, được gần gũi Phật A Di Đà và chư Thánh chúng, được nghe pháp âm vi diệu phát ra từ các hàng cây báu, từ các loại chim. Tùy theo căn tính, một khi nghe pháp rồi liền chứng được vô sinh pháp nhẫn, làm ǵ c̣n khổ đau. Nghĩ ăn là có ăn, nghĩ mặc là có mặc, sống trong lầu gác nguy nga tráng lệ đều bằng bảy báu, không cần phải lao động, không có nỗi khổ cầu bất đắc, cho đến thân thể có đại thần thông, đại uy lực, không cần phải xa ĺa xứ của ḿnh, mà chỉ trong một niệm thân đă ở mười phương chư Phật làm các Phật sự, thượng cầu hạ hóa, có đại trí tuệ, đại biện tài, ở trong một pháp mà thấu rơ thật tướng của muôn pháp, tùy theo căn cơ mà nói pháp, hoàn toàn không c̣n sự mê lầm, tuy nói lời tục đế, mà đều khế hợp với diệu lư của chân đế, không c̣n nỗi khổ về ngũ ấm, thân tâm thường an trụ trong tịch tịnh vô vi. Nên Kinh A Di Đà có nói : “Cơi nước đó không có những khổ đau, chỉ thuần những vui sướng, cho nên mới gọi là Cực Lạc”. Người trong thế gian, thường cho rằng đạo Phật là đạo bi quan, v́ chỉ nói toàn là khổ đau. Đó là do họ không có nghiên cứu áp dụng. Những lời Phật dạy như toa thuốc tùy theo bệnh chúng sinh mà chữa trị. Phương pháp trao truyền giáo pháp của Ngài thật khoa học và thực tiễn, cụ thể được Ngài thể hiện qua bài pháp Tứ diệu đế đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như và bát chánh đạo trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo.

Thật vậy, trong tám cái khổ được nêu trên, khổ đầu tiên là sinh khổ có ư nghĩa rộng lớn vô cùng, không có ǵ so sánh kịp. Sinh vốn là vô sinh, vô sinh vốn là sinh mà không sinh. Chúng sinh do mê lầm về thân ngũ uẩn mà quên đi bản tính vốn không sinh không diệt. Ngũ ấm bản thể vốn là không, đối với các pháp cũng giống như vậy. Duy chỉ có bản tính vô sinh, là thường trụ bất biến, không sinh cũng không diệt, không có điểm khởi đầu và cũng không có điểm kết thúc. Bản thể thường trụ đó, tuy thể của nó vốn không sinh không diệt, thế nhưng nó lại tùy theo nhân duyên, nếu tùy theo duyên tịnh, lại được tu hành theo Phật pháp, nó sẽ phát triển không thôi, tu Bồ Tát hạnh, thượng cầu hạ hóa cho đến ngày thành Phật. Nếu tùy theo duyên nhiễm, th́ nó bị luân chuyển trong vô minh lục đạo, chấp trước thế giới hư vọng là thực có, từ đó sinh tâm tham đắm gieo nhân khổ đau. Do đó, người niệm Phật phải có chánh tri kiến về thế gian cũng như thân thể, hiểu rơ thế gian tất cả vốn đều hư vọng, khổ, không, vô thường và vô ngă, nên phát nguyện niệm Phật mà văng sinh Cực Lạc, để xả ly thân thể và thế giới Ta Bà đầy dẫy đau khổ này, mà được thọ nhận thân thể thanh tịnh và được sống trong thế giới Tịnh độ đầy vui sướng.

8.- Thời đại mạt pháp niệm Phật kiên cố

Vào tháng 4 năm 1965, Đại sư Tuyên Hóa trụ tŕ chùa Kim Sơn tại nước Mỹ trở về thăm Đài Loan cùng với phái đoàn Phật tử nước ngoài. Trong một buổi nói chuyện với Phật tử tại giảng đường Tuệ Nhật, Đại sư có nói một câu làm cảnh tỉnh rất nhiều người, Đại sư nói : “Sau khi tôi xuất gia, trong thời gian lưu lại ở phương Đông hai năm, tôi nhận thấy có một thái độ rất bi quan của nhiều tín đồ, họ cho rằng : “Thời đại mạt pháp tu hành cũng vô dụng”. Thái độ đó nếu không chuyển hóa th́ rất có hại cho những tín đồ Phật giáo phương Đông. Do đó, tôi kính khuyên chư vị, chỉ cần chúng ta nhận chân được việc tu hành, th́ thời đại mạt pháp làm ǵ đủ khả năng chướng ngại được chúng ta”. Lời nói đó của Đại sư như một lời cảnh tỉnh đă làm cho nhiều người rất xúc động.

Thật vậy, phần lớn chúng ta là tín đồ Phật giáo đều biết rằng thời đại này là thời đại mạt pháp. Pháp nhược ma cường, tại sao lại không quyết tâm tu pháp môn Tịnh độ ? Phải nên nhận thức được rằng chỉ có niệm Phật là bền vững nhất. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo tại thế giới Ta Bà ngũ trược này, được sáu phương chư Phật ca ngợi việc làm của Ngài thật hy hữu hiếm có ở đời. Đức Phật Thích Ca là hiện kiếp của Đức Phật thứ tư. Hiện kiếp Phật thứ nhất là Đức Phật Câu Lưu Tôn Như Lai, vào kiếp này thọ mạng con người là sáu vạn tuổi. Hiện kiếp Phật thứ hai là Đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni Như Lai, thọ mạng con người vào kiếp này là bốn vạn tuổi. Hiện kiếp Phật thứ ba là Đức Phật Ca Diếp Như Lai, thọ mạng của con người vào kiếp này là hai vạn tuổi. Đến thời kỳ Phật Thích Ca th́ tuổi thọ con người chỉ c̣n trên dưới một trăm tuổi. Điều đó chứng tỏ rằng thế giới Ta Bà chúng ta đang sống hiện nay rất ô trược. Đức Phật xuất hiện ở thế giới Ta Bà này, nói pháp 49 năm, những người có nhân duyên với Ngài tu hành trong hội Pháp Hoa đều được Ngài thọ kư về sau thành Phật. Sau khi Phật diệt độ, thời đại chánh pháp trụ thế ở đời được 500 năm, thời kỳ tượng pháp được 1000 năm. Chúng sinh ra đời vào thời kỳ chánh pháp, cũng như sau thời kỳ tượng pháp khoảng 100 năm, tu hành đều có thể chứng đạo. Duy chỉ có thời đại mạt pháp cách Phật rất xa, nên phần lớn căn tính chúng sinh kém liệt, nghiệp chướng sâu dày, trợ duyên ít, ngược lại chướng duyên th́ nhiều. Người đọc kinh di giáo của Phật tuy có hiểu biết, song ít có người tu tập chứng ngộ. Có thể thấy được rằng vào thời đại mạt pháp, nếu tu tập mà chỉ nương nhờ tự lực th́ đạo nghiệp khó mà viên thành. Chỉ có nương nhờ tha lực là chính, tự lực phối hợp với tha lực tu tŕ mới có khả năng thành tựu. Trong Kinh Đại Tập có nói : “Thời đại mạt pháp ức ức người tu hành, ít có một người chứng đạo, duy chỉ có nương nhờ niệm Phật th́ mới có thể thoát sinh tử”, có thể minh chứng cho điều nói trên vậy.

Trong Kinh Tượng Pháp Quyết Nghi có nói : “Sau Đức Phật diệt độ, thời kỳ chánh pháp người tu tŕ giới bền vững được 500 năm, thời kỳ tượng pháp tu thiền định bền vững được 1000 năm, đến thời kỳ mạt pháp người tu niệm Phật bền vững được một vạn năm”. Từ khi Đức Phật Niết bàn đến nay thời gian đă trải qua hơn 1700 năm, chúng ta đă bước vào thời đại mạt pháp 200 năm. V́ thế thời đại ngày nay chính là thời đại niệm Phật để liễu sinh thoát tử vậy.

Pháp Chiếu Đại sư, Tổ thứ tư Liên Tông. Vào một buổi sáng, lúc thanh trai nơi tăng đường, ngài thấy trong bát cháo hiện ra bóng mây ngũ sắc, trong mây ấy hiện rơ một cảnh sơn tự, phía Đông Bắc sơn tự có một dăy núi, dưới chân núi có một khe nước, phía Bắc khe nước có một cái hang bằng đá, trong hang ấy có một ngôi chùa lớn, có biển treo ở trước đề tên Đại Thánh Trúc Lâm Tự. Mấy hôm sau, ngài lại thấy nơi bát cháo hiện ra cảnh chùa ấy, trong chùa lại thấy có vườn cây, ao nước lầu đài tráng lệ nguy nga, có một vạn (10.000) vị Bồ Tát đang ở trong đó. Thấy cảnh lạ ấy, ngài mới đem hỏi các bậc tri thức, có một vị cho rằng : “Sự biến hiện của chư Thánh khó thể nghĩ bàn, nhưng nếu luận riêng về địa thế, non sông, th́ đó đích thực là Ngũ Đài Sơn vậy”. Nghe lời ấy, ngài có ư muốn đến xem Ngũ Đài Sơn để xem sự thật như thế nào. Măi đến năm Đại Lịch thứ năm, vào ngày mồng 6 tháng 4, Đại sư cùng các bạn đồng tu đến được chùa Phật Quang ở huyện Ngũ Đài. Vào khoảng canh tư đêm đó, ngài thấy có một ánh sáng lạ từ xa chiếu đến thân ngài, ngài liền lần theo ánh sáng đó mà đi, đi được 50 dặm th́ đến một dăy núi, dưới chân núi có khe nước, có cửa cổng bằng đá, nơi cửa cổng có hai vị đồng tử đang đứng chờ ngài. Ngài theo chân hai vị đồng tử dẫn đến một ngôi chùa cực kỳ nguy nga lộng lẫy, biển đề Đại Thánh Trúc Lâm Tự. Ngài vào chùa, lên giảng đường, thấy đức Văn Thù ở phía bên Tây, đức Phổ Hiền Bồ Tát ở phía bên Đông, Pháp Chiếu Đại sư bước đến chí thành đảnh lễ, rồi quỳ thưa rằng : “Kính bạch Đại Thánh, hàng phàm phu đời mạt pháp, cách Phật đă xa, lại thêm bị chướng nặng nghiệp sâu, trí thức kém hẹp. Tuy có Phật tính mà không biết làm sao cho hiển lộ, trong khi giáo pháp Phật quá mênh mông. Chưa rơ pháp môn nào thiết yếu tu hành để cho mau được giải thoát ?”. Văn Thù Bồ Tát bảo rằng : “Thời kỳ này chính là vào lúc các ngươi nên niệm Phật, trong tất cả pháp môn không chi hơn là niệm Phật, cúng dường Tam Bảo, phước huệ song tu, đó là cửa tu rất thiết yếu. Thở đời quá khứ, ta nhờ quán Phật, niệm Phật, cúng dường Tam Bảo mà chứng được “nhất thiết chủng trí”. Tất cả các pháp Bát Nhă Ba La Mật, những môn thiền định rộng sâu, cho đến chư Phật cũng từ nơi niệm Phật mà sinh. V́ thế nên biết “Niệm Phật là vua trong các pháp”. Ngài Pháp Chiếu lại hỏi rằng : “Kính thưa Đại Thánh, chúng con nên niệm Phật như thế nào ?”. Đức Văn Thù lại đáp : “Về phương Tây của thế giới này, có Phật A Di Đà là giáo chủ của cơi Cực Lạc. Đức Phật ấy có nguyện lực lớn không thể nghĩ bàn. Ngươi nên niệm danh hiệu Ngài tiếp nối nhau không gián đoạn, th́ khi mạng chung, quyết định được văng sinh, chẳng c̣n bị thối chuyển nữa”. Nói xong hai vị Bồ Tát đồng đưa tay xoa đầu ngài Pháp Chiếu và bảo rằng : “Do nơi ngươi niệm Phật, không c̣n bao lâu nữa sẽ chứng quả Vô thượng Bồ Đề. Nếu có thiện nam tín nữ nào muốn thành Phật th́ không có ǵ hơn là niệm Phật. Kẻ ấy nhất định sẽ mau lên ngôi Chánh Đẳng Chánh Giác”. Được hai vị Đại Thánh thọ kư xong, ngài Pháp Chiếu vui mừng đảnh lễ rồi lui ra. (Tham khảo “Tịnh Độ Thánh Hiền” quyển thượng, tập 3)

Thật vậy hai vị đại Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền c̣n phải khuyên răn chúng sinh thời đại mạt pháp, nếu muốn thành Phật không có ǵ hơn là niệm Phật, điều đó đă được hai vị Đại Thánh thông qua Đại sư Pháp Chiếu, trở lại thế giới Ta Bà mà xiển dương vậy.

Đạo Kính Đại sư và Thiện Đạo Đại sư, trong các tập sách do hai ngài trước tác đều có dẫn chứng một đoạn trong “Kinh Nguyệt Kinh Tam Muội”, thuộc Đại Tạng Kinh quyển thứ 47, đoạn kinh đó như sau : “Tất cả mười phương ba đời chư Phật, quá khứ, hiện tại và vị lai, đều học niệm Phật mà nhanh chóng chứng quả Vô thượng Bồ Đề. Do đó nên biết ba đời chư Phật, đều nhân nơi niệm Phật mà được thành Phật. Có người lại hỏi Phật rằng : “Tại sao không niệm Phật trong mười phương, mà chỉ niệm Phật A Di Đà ?”. Đức Phật lại đáp : “Trong mười phương Phật th́ Phật A Di Đà là Phật thù thắng nhất, cao quư nhất, từ bi nhất. Lại nữa trong mười phương chư Phật, Phật A Di Đà là Phật kết duyên cùng chúng sinh thâm sâu nhất. Hiện tại trong mười phương chư Phật, Phật A Di Đà có nguyện lực nhiếp độ chúng sinh nhiều nhất. Lại nữa, hiện tại trong các thế giới Tịnh độ của mười phương chư Phật, thế giới Tịnh độ của Phật A Di Đà là tốt nhất. Lại nữa, trong các thế giới Tịnh độ của mười phương chư Phật, thế giới Tịnh độ của Phật A Di Đà là gần với thế giới Ta Bà nhất. Lại nữa, trong danh hiệu của các Đức Phật, danh hiệu Phật A Di Đà có công đức nhiều nhất”. Ngoài ra, trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Đức Phật cũng có nói : “Nếu có người nào niệm danh hiệu của một vị Phật hay hai vị Bồ Tát, th́ trừ diệt được những tội sinh trong vô lượng kiếp. Hà huống ǵ là người đó nhớ Phật, tưởng Phật mà chí tâm niệm Phật. Các ông nên biết những người niệm Phật đó giống như hoa Phân đà lợi ở trong cơi người vậy”.

Tóm lại, thời đại mạt pháp này, chính là thời đại niệm Phật. Điều đó đă được chư Phật nhắc nhở chúng ta, thông qua chư Tổ và các bậc Đại Thánh, v́ thế chúng ta hăy cùng nhau tin sâu, nguyện thiết mà niệm Phật, nhất định sẽ được văng sinh Tịnh độ, chứng quả Vô thượng Bồ Đề.

9.- Qua lại tam giới chứng đắc pháp thân thanh tịnh

Cổ đức có nói : “Hăy diệt sự suy nghĩ, mà sống với pháp thân thanh tịnh”. Thật vậy, sự suy nghĩ của chúng ta phát khởi liên tục và sinh diệt, diệt rồi sinh trong từng sát na, không có lúc nào dừng. Từ suy nghĩ và ư niệm liên tục đó đă tạo nên nhiều nghiệp cảm khác nhau, kiến hoặc, tư hoặc, trần sa hoặc, căn bản vô minh, đều là những nghiệp cảm vô cùng quan trọng. Là người tu đạo, tất cả những nghiệp cảm đó cần phải nhất nhất đoạn tận, mới có thể chứng được pháp thân thanh tịnh, mà bước vào quả vị Phật. Song, việc đoạn trừ kiến, tư hoặc và các phiền năo là cả một lộ tŕnh dài thăm thẳm. Đoạn trừ nghiệp cảm, chứng pháp thân, lời nói nghe qua sao mà dễ dàng, thế nhưng nếu dựa vào tự lực để thoát khỏi tam giới, cần phải trải qua ba đại A tăng kỳ kiếp, con số thời gian đó là cả một lộ tŕnh dài đầy vất vả gian lao. Hà huống ǵ thời đại mạt pháp, chúng sinh túc nghiệp thâm trọng, chỉ có cách xả tự lực, nương nhờ Phật lực, mới có thể thoát ly tam giới.

Trong công phu tu đạo, có hai cánh cửa tự lực và tha lực. Người tu tự lực là chỉ y theo lời dạy của Phật trong Tam tạng Thánh giáo mà tu hành. Từ sơ phát tâm, nếu không có chướng duyên, phải trải qua một đại A tăng kỳ kiếp, mới có thể đạt đến sơ địa (tức là Hoan Hỷ Địa). Lại phải trải qua một đại A tăng kỳ kiếp tu hành nữa, th́ hành giả mới có thể đạt đến Bát Địa (tức là Bất Động Địa). Trong khi đó hành giả tu tập theo tha lực, niệm Phật A Di Đà, theo Kinh Di Đà th́ nhanh nhất là một ngày, chậm nhất là trong bảy ngày, đạt được nhất tâm bất loạn, liền văng sinh Cực Lạc. Theo Kinh Lăng Nghiêm th́ ở địa vị thứ bảy của thập trụ Bồ Tát (Bất Thối Trụ), nói theo kinh niệm Phật ở địa vị thứ tám của thập đại bộ kinh Bồ Tát (Bất Động Địa), tuy dùng ngôn từ khác nhau, nhưng đều chỉ cho ngôi vị bất thối chuyển. Nói theo Kinh Di Đà được ở ngôi bất thối chuyển là đắc quả A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Người đă được quả vị bất thối chuyển là người có năng lực không c̣n sợ bị thối chuyển mà tiến thẳng đến quả vị thành Phật. Do đó người tu đạo không có chi tốt hơn là nương vào pháp môn Tịnh độ, cầu văng sinh để được ra khỏi tam giới thoát ly sinh tử luân hồi. Ấn Quang Đại sư có nói : “Nếu luận về việc xuất ly tam giới, th́ không có một năng lực nào có thể giúp hành giả tu giới định tuệ mà có thể đoạn tận phiền năo và nghiệp cảm. Giả như nghiệp cảm đoạn trừ được chút ít th́ người tu đă trở lại tam giới như cũ. Hà huống ǵ chúng sinh thời mạt pháp, thiện căn kém cỏi, mạng sống ngắn ngủi, mà nương vào tự lực tu hành, ức ức kiếp phiền năo mới chỉ đoạn trừ được chút ít. Nếu muốn thoát tam giới, chỉ có y theo pháp môn niệm Phật, tin sâu, nguyện thiết, niệm danh hiệu Phật, cầu sinh Tây phương, kiêm tu luân thường, thận trọng không làm các việc ác, chỉ làm các việc lành, th́ không c̣n sợ thối chuyển, được văng sinh Tịnh độ. Đă được văng sinh th́ siêu phàm nhập thánh, thoát ly sinh tử, vĩnh kiếp xa ĺa khổ năo, thọ hưởng vui sướng, công đức thuần thục liền sinh vào hoa sen thượng phẩm. Người tu niệm Phật, nếu công phu chưa được thành thục, cũng được đới nghiệp văng sinh, dự vào hàng thánh. So sánh lợi ích giữa tự lực và tha lực, thật không khác một trời một vực” (theo Hoằng Sơn Liên Xă, phần duyên khởi).

Người tu niệm Phật được văng sinh Tịnh độ, đă được văng sinh th́ từ hoa sen mà hóa sinh. Khi c̣n nằm trong hoa sen, những dư nghiệp sẽ hoàn toàn đoạn tận, hoa nở liền thấy Phật ngộ vô sinh pháp nhẫn, toàn thân pháp tính hiện tiền, được thọ thân nam, thọ mạng bằng hư không, không có sinh, già, bệnh khổ. Tại thế giới Tịnh độ, nếu hành giả tu tập, một đời tinh tấn, đời sau được quả nhất sinh bổ xứ, tức là được chuẩn bị bổ nhiệm thành Phật. Do đó chỉ có niệm Phật văng sinh, mới có thể ra khỏi tam giới, điều đó chứng tỏ pháp môn Tịnh độ có lợi ích rất lớn, không có pháp môn nào sánh bằng.

Tam giới là chỉ cho ba cơi, Dục giới, Sắc giới, và Vô sắc giới. 1. Dục giới : Dục là chỉ cho sự ham muốn. Chúng sinh ở cơi này chỉ thuần ham muốn về thực phẩm, ước muốn vật chất và dục vọng thể xác. Nói chung ở cơi này dục vọng rất thịnh hành. 2. Sắc giới : Cơi này không có sự ham muốn như cơi dục, nhưng h́nh tướng vật chất, thân thể, cung điện ở cơi này rất vi diệu và thù thắng. Các vị trời ở cơi này chỉ thuần sống trong thiền định, không có tướng nam nữ, như cơi Dục giới. 3. Vô sắc giới : Cơi này hoàn toàn không c̣n sắc chất, h́nh thù, mà chỉ có thuần các nghiệp thức trú trong thiền định thâm diệu. A lại da thức tuy đă hàng phục ở trong thiền định, thế nhưng những hạt giống nghiệp thức vẫn c̣n tồn tại. Tam giới có tất cả 28 cơi trời. Từng trời cao nhất có tên gọi là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng. Người tu thiền đạt được định phi tưởng phi phi tưởng sẽ sống ở cơi trời đó. Tuổi thọ ở cơi này là tám vạn kiếp, có thể nói là khá thọ. Tuy nhiên, có tuổi thọ tám vạn kiếp như vậy, song, đến khi tuổi thọ hết cũng tùy theo nghiệp lực của tâm thức mà bị rơi lại trong luân hồi. So với tại thế giới Tịnh độ khác nhau rất xa. Phàm là người tu theo đạo tiên nếu được lên cơi trời, nghiệp thức cũng chưa hết, đến khi hưởng hết phước cũng trở lại trong luân hồi, trôi lăn trong lục đạo, tất cả đều không cứu cánh.

Kinh Pháp Hoa, phẩm “Thí Dụ”, quyển thứ 4, có nói rằng : “Tam giới không an, giống như nhà lửa, chúng sinh khổ đầy dẫy, thường có sinh, già bệnh, chết, ưu năo, giống như ngọn lửa bừng cháy, không có lúc dừng”. Do đó nhà Phật lấy pháp thanh tịnh, dạy đạo cho chúng sinh, nhằm mục đích giúp chúng sinh thoát tam giới, xa ĺa khỏi lục đạo luân hồi, thoát ly sinh tử. Pháp môn Tịnh độ, tin sâu, nguyện thiết, niệm Phật văng sinh là con đường vắn tắt giúp chúng sinh được thoát ly tam giới, là pháp môn tối viên măn nhất.

B- THỰC TIỄN

Ấn Quang Đại Sư có nói : “Pháp môn niệm Phật là pháp bối trần hiệp giác, phản bổn quy nguyên, là diệu pháp tối thực tiễn”.

1.- Thực tiễn là có tín, nguyện và hạnh. Người niệm Phật chỉ nương vào ba món tư lương đó, không nên tu thêm bất kỳ pháp môn nào nữa.

2.- Người niệm Phật nên có tín, nguyện, quyết tâm xả ly thân thể và cơi Ta Bà đầy ô trược, nguyện văng sinh Tịnh độ thành Phật độ chúng sinh, cùng thoát ly biển khổ sinh tử.

3.- Người niệm Phật cần phải nghiêm tŕ ngũ giới, tŕ trai mà niệm Phật.

4.- Ngũ vị tân không được dùng là người Phật tử đă thừa biết điều ấy, lại không được hút thuốc v́ khi hút, làm cho thân khẩu trở nên hôi hám, không thích hợp với việc niệm Phật thanh tịnh.

5.- Người niệm Phật phải giữ giới dâm, thường quán thân bất tịnh, trong “Thập Nghị Luận” của Đại sư Trí Giả có nói rơ điều đó.

6.- Nói lưỡi đôi chiều, nói lời hung ác của giới vọng ngôn cũng nên tuân giữ.

7.- B́nh thường tất cả các loại rượu không được uống, không được mua bán rượu, ngay cả rượu thuốc cũng không nên uống.

8.- Khi xem kinh, đọc sách không được nằm.

9.- Nếu nhà cửa quá chật hẹp không thể đặt bàn thờ để lễ bái, nên hướng về phía Tây mà lễ lạy. Phàm khi tôn trí bàn thờ Phật, nên đặt giữa nhà, không nên đặt những nơi ẩm thấp, thiếu ánh sáng, hoặc nơi để tạp vật. Trong pḥng ngủ không được tôn thờ h́nh ảnh Phật, Bồ Tát, tượng ảnh để thờ, nên lấy Tam Thánh, hoặc Phật Bổn Sư, ngoài ra không được thờ các h́nh tượng tạp nhạp khác.

10.- Người sơ cơ niệm Phật, nên đọc ba kinh Tịnh độ (Kinh Di Đà, Quán Vô Lượng Thọ Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh). Có thể tham khảo thêm các loại sách luận liên quan Tịnh độ, như : “Văn Sao tập” của Ấn Quang Đại sư, sách “Tịnh Độ Thánh Hiền”, “Tịnh Độ Thập Nghi”… tiến thêm một bước có thể đọc thêm các Kinh Lăng Nghiêm, chương “Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông”, “Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm”. Ngoài ra, dù có nghe ai nói kinh này hay, chú kia tốt cũng không bỏ pháp niệm Phật mà tin theo tà kiến. Ngoại trừ các kinh chú do chính kim khẩu Phật nói.

11.- Người niệm Phật nếu công việc quá bận rộn, nên áp dụng phương pháp thập niệm. Phải định cho ḿnh thời khóa tu tập rơ ràng, ngoài ra trong các oai nghi nên tùy duyên mà niệm Phật, nhớ lúc nào nên phát khởi niệm lúc đó. Dù sao có tâm chí thành, nhớ Phật, niệm Phật, cầu văng sinh vẫn tốt hơn những người không có niệm. Đối với người nhàn rỗi, có thể tăng cường thời khóa, trong các oai nghi, nên luôn dụng công niệm Phật, mặc niệm cho nối tiếp nhau không để gián đoạn.

12.- Người niệm Phật, b́nh thường có làm được phước điền ǵ nên thành tâm hồi hướng văng sinh Tây phương. Không nên cầu hưởng phước báo nhân thiên mà chướng ngại cho việc văng sinh.

13.- Người niệm Phật có Phật gia hộ, đó là một thuận duyên rất lớn. Thế nhưng do nghiệp lực quá nặng, trong quá tŕnh dụng công niệm Phật tâm khó chuyên nhất, hành giả nên chí tâm sám hối, tu tập thêm các phước lành như : bố thí, cúng dường, phóng sinh, ấn tống kinh sách th́ nghiệp lực có thể tiêu trừ đôi phần, công phu niệm Phật có thể được chuyên nhất hơn.

14.- Người niệm Phật trong khi niệm, nên suy tưởng như ḿnh đang lâm chung, chuẩn bị đọa địa ngục, th́ tâm không khẩn thiết, cũng trở nên khẩn thiết (lời Vĩnh Gia Đại sư).

15.- Người niệm Phật không nên chuyên chú sự tướng bên ngoài (tức là chuyên lo chưng diện bề ngoài, mua danh, cầu lợi) mà c̣n phải lo việc dứt trừ các sự tướng trong nội tâm (Ấn Quang Đại sư).

16.- Khi niệm Phật nếu như thường xuyên lâm vào cảnh hôn trầm, buồn ngủ, đó không phải là do sức yếu, mà chính là do nghiệp chướng khiến xui ngăn cản, nên khẩn thiết chí thành mà niệm Phật. Nếu niệm không ra câu, ra tiếng được, th́ phải thường nhớ tưởng đến Phật. Khi nào thấy có thể niệm được nên ứng thanh mà niệm (niệm ra tiếng). Như thế lâu ngày, nghiệp sẽ tiêu trừ (Ấn Quang Đại sư).

17.- Người niệm Phật phải giữ sao cho “tâm niệm” cùng với “hành vi” luôn luôn thuận ḥa, hiền hậu, mới có thể thành tựu được công đức, phước lành. Nếu chẳng như thế, mà lại c̣n kiêm tu thêm gian xảo, thâm hiểm, ác độc… th́ cũng như chót núi đá trơ vơ, mưa bao nhiêu cũng không có đọng lại chút nước nào, mà cây cỏ cũng không sao sinh trưởng lên nổi (Ấn Quang Đại sư).

18.- Người niệm Phật phải có tin sâu, nguyện phải cho thiết tha. Mỗi ngày ít nhất tự tâm phát nguyện văng sinh ba lần, phải tha thiết có tâm cầu liễu sinh thoát tử, có như thế mới thành tựu việc văng sinh Tịnh độ.

The post TRIẾT LƯ VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/triet-lu-va-thuc-tien-cua-phap-mon-tinh-do.html/feed 0
LUẬN BẢO VƯƠNG TAM MUỘI https://bachhac.net/luan-bao-vuong-tam-muoi.html https://bachhac.net/luan-bao-vuong-tam-muoi.html#respond Tue, 27 Aug 2019 08:50:31 +0000 https://bachhac.net/?p=2291 Lời Đầu Sách Ngày xưa Tổ Liên Trì rất mến mộ hai quyển Bảo Vương Tam muội luận của Phi Tích Pháp sư và Niệm Phật Trực chỉ của Diệu Khấu Thiền sư, nhiều lần tìm kiếm nhưng chưa được gặp. Về sau, Lão Túc Vạn Dung ở đất Cổ Ngô tình cờ gặp được …

The post LUẬN BẢO VƯƠNG TAM MUỘI appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
LUẬN BẢO VƯƠNG TAM MUỘI

Lời Đầu Sách

Ngày xưa Tổ Liên Trì rất mến mộ hai quyển Bảo Vương Tam muội luận của Phi Tích Pháp sư và Niệm Phật Trực chỉ của Diệu Khấu Thiền sư, nhiều lần tìm kiếm nhưng chưa được gặp.

Về sau, Lão Túc Vạn Dung ở đất Cổ Ngô tình cờ gặp được một bản ở trong đám sách tạp nhạp của Thần Miêu. Hai quyển luận này được in chung, tuy bìa ngoài đã hư, nhưng chữ bên trong vẫn còn nguyên vẹn, Ngẫu Ích Đại sư tuyển hai quyển này vào Tịnh độ Thập yếu. Từ đó hai bộ luận trên được xem là những bộ luận trọng yếu của Tông Tịnh độ.

Trong mùa kiết hạ vừa qua, chúng tôi ở Phước Huệ Tòng Lâm đã dịch ra để giảng dạy chúng. Chúng tôi đã dịch và giảng thẳng từ bản chữ Hán được ghi âm lại chung với lời giảng từng đoạn. Vì thế, chúng tôi phải so lại với bản chữ Hán để tránh đi việc nhầm lẫn giữa chánh văn và chú giải.

Luận Bảo Vương Tam Muội, lời văn súc tích, ý nghĩa u huyền, người muốn tu tam muội rất khó thâm nhập, nên ban đầu chúng tôi có ý ghi thành chú giải. Nhưng lời giải quá dài, cần phải in nhiều tập. Trong hoàn cảnh khó khăn về in ấn, chúng tôi chỉ xin ghi phần chánh văn của bản luận. Về chú giải chúng tôi sẽ cố gắng hoàn thành và cống hiến quý vị sau. Dù vậy, chúng tôi cũng ghi lại phần giảng ngũ trùng huyền nghĩa để người đọc có thể dễ dàng trực nhận chỉ thú. Phật pháp cao siêu, nghĩa Tam muội vô lượng, hẳn trong phần sưu tập sẽ còn nhiều sơ sót. Dám mong chư vị thiện tri thức cao minh vui lòng góp ý để lần tái bản sau được hoàn hảo hơn. Rất đa tạ.

Hồng Nhơn cẩn bút

Luận Bảo Vương Tam Muội

Phần huyền nghĩa

Đề luận là cương yếu của toàn bộ luận như cổ áo đối với cái áo, chớp lưới đối với toàn cái lưới, muốn lấy áo cần nắm cổ áo, toàn bộ chiếc áo đều lên, nắm chóp lưới, cả chiếc đều tóm lại. Vì thế, Tổ Thiên Thai khi giải thích các bộ kinh luận thường lập năm lớp huyền nghĩa để người đọc có cửa ngõ khi muốn vào tác phẩm.

1.- Giải thích đề luận:

Niệm Phật : Niệm là nhớ rõ không quên, Phật là bậc giác ngộ, người không giác gọi là mê, không mê gọi là giác. Bậc giác ngộ là ý chỉ bậc hoàn toàn không có mê. Giác có nhiều bậc : Nếu nói từ xưa đến nay vốn không mê thì gọi là Bản giác, nếu nói đã mê rồi nay mới giác ngộ thì gọi là Thỉ giác. Nếu nói một lần giác ngộ là vĩnh viễn suốt thời vị lai, không còn mê lại gọi là Cứu cánh giác. Bản giác chỉ cho pháp thân, Thỉ giác chỉ cho bát nhã, Cứu cánh giác chỉ cho giải thoát. Nói chữ Phật là bí tạng của ba đức kể trên.

Phàm người niệm Phật cần phải biết cái nào là năng niệm, cái nào là sở niệm và cũng phải biết cái không phải năng và không phải sở. Năng niệm thuộc về Tâm, Sở niệm thuộc về Phật, lại cũng phải biết ngoài cái năng niệm không có cái sở niệm, tức ngoài tâm không có Phật; ngoài cái sở niệm không có năng niệm, tức ngoài Phật không tâm (gương và ảnh). Ngoài tâm không Phật, toàn Phật là tâm, ngoài Phật không tâm, toàn tâm là Phật. Nên nói : Phật là Giác, Giác là Tâm. Sở dĩ nói ngoài tâm không Phật vì tâm không mê, nói ngoài Phật không tâm, vì Phật là Giác. Niệm Phật cũng có ba thứ : Niệm Bản giác là niệm vị lai Phật có bảy môn ở quyển thượng của luận này. Niệm Thỉ giác là chung cho chư Phật ba đời, bảy môn thuộc quyển hạ. Niệm Cứu kính giác là niệm hiện tại Phật, sáu môn thuộc quyển trung.

Tam muội : Tam muội là tiếng Phạn, nói cho đủ là Tam muội da. Trung Hoa dịch là Chánh thọ, Chánh định hay Điều trực định. Chánh thọ có nghĩa là không nhận bất cứ vật gì. Chánh định là vì khác với bất định của phàm phu, chẳng phải thiên định của tiểu thừa, chẳng phải tà định của ngoại đạo nên gọi là chánh định. Điều trực định là chỉ chỗ tâm và cảnh phù hợp ở trạng thái hợp nhất. Chúng ta khi mới tu định, hôn trầm và tán loạn tấn công, nhiều điều phiền lụy, lần lần điều phục, lâu dần tâm thuần thục, mới có thể nhiếp cảnh về tâm, tâm vào trong cảnh, tâm thẳng cảnh thông cùng nhau hợp nhất, nên gọi là điều trực định.

Niệm Phật Tam muội có thể bao gồm hết trăm ngàn thứ Tam muội, nên gọi là vua của các Tam muội. Trăm ngàn Tam muội tuy nhiều nhưng không ngoài ba thứ Tam muội :

  • 1. Sa ma tha tức là Chơn đế tam muội.
  • 2. Tam ma bát để tức là Tục đế tam muội.
  • 3. Thiền na tức là Trung đế tam muội.

Tam muội tuy nhiều nhưng không ngoài ba thứ tam muội kể trên. Trong luận Niệm Phật Tam muội này, bảy môn ở quyển Thượng, niệm Bản giác Phật tức là Chơn đế Tam muội. Bảy môn ở quyển Hạ, niệm chung chư Phật ba đời là niệm Thủy giác Phật tức Tục đế Tam muội. Sáu môn ở quyển Trung là niệm Cứu cánh giác Phật tức Trung đế Tam muội.

Niệm Phật có 4 thứ chẳng đồng :

  • 1. Quán tưởng niệm Phật như trong thập lục Quán kinh.
  • 2. Quán tượng niệm Phật như trong Bát Nhã kinh.
  • 3. Trì danh niệm Phật như A Di Đà kinh.
  • 4. Thật tướng Niệm Phật như trong Phổ Hiền Quán kinh.

Ở đây chỉ nói về trì danh niệm Phật.

Người muốn tu trì danh niệm Phật trước tiên phải dùng chuổi, ghi mỗi niệm rõ ràng, phân định thời khóa, giữ chắc không cho thiếu sót. Nếu người mới phát tâm không chịu lần chuổi cho là không cần chấp tướng, muốn học theo lối viên dung tự tại, rõ ràng người ấy lòng tin không sâu, chỗ thực hành không đắc lực, vì tâm sinh tử không thiết, dù rằng tôn và giáo đều thông, nhưng đến khi mạng chung, không được chút nào lực dụng, chừng vô thường đến mới hối tiếc, ăn năn đâu còn kịp nữa!

Người niệm Phật muốn được Tam muội phải luôn luôn gìn giữ chánh niệm, khi niệm Hồng danh, tiếng ra từ miệng, tai nhận rõ ràng, miệng và tai thông đồng, tiếng và tâm khế hợp, lâu dần thuần thục, không biết có tâm năng niệm và ông Phật sở niệm, niệm mà không niệm, không niệm mà niệm, tuy thọ cái tên niệm mà không có tất cả cái thọ gọi là niệm Phật Tam muội. Kẻ phàm phu không trì danh hiệu Phật nên tâm không định, ngoại đạo thì tà kiến, nhị thừa thì chìm trong cái không. Quyền thừa thì trệ một bên đều không phải là chánh định. Chỉ có người niệm Phật được nhất tâm bất loạn mới được gọi là chánh định. Từ lúc tán tâm ban đầu niệm lâu tâm sẽ trở về một nên gọi là Điều trực định.

Bảo Vương : Chữ bảo có nghĩa là quí báu. Vương có nghĩa là thống lãnh tự tại. Như các thứ vàng, bạc, lưu ly, san hô, hổ phách, mả não, trân châu ….đều gọi là quý báu. Trong các thứ báu này, chỉ có châu ma ni là quý báu hơn cả, nên cổ nhân nói : Một hạt châu ma ni có thể đè bẹp hết ngàn loại châu báu trong biển nên gọi là vua trong các thứ quý báu. Ở đây ví muôn ngàn loại châu báu như muôn ngàn tam muội, ví châu ma ni như niệm Phật Tam muội. Tựa đề này dùng pháp dụ lập đề nên gọi Niệm Phật Tam Muội Bảo Vương.

Luận tiếng Phạn là A Tỳ Đạt Ma, Trung Hoa dịch là Vô Tỷ Pháp nghĩa là pháp không thể so sánh là danh xưng chung của Luận tạng.

Yếu thích : Nhằm giải rõ những chỗ bí áo trong luận tập nên dịch giả giải thích những điểm cốt yếu.

2.- Hiển thể:

Chữ Thể có nghĩa là tính chất hay chủ. Danh đề là khách, thể chính là chủ. Thể là thật chất, danh đề là giả danh. Danh đề là phần năng thuyên (1) của thể, thể là phần sở thuyên (2) của danh đề. Phàm tất cả danh đề, lời nói, văn tự đều thuộc phần năng thuyên, đều giống như ngón tay chỉ mặt trăng, như cái nôm để bắt cá. Vì vậy trước tiên phải giải danh đề rồi sau đó mới chỉ bày chỗ sở thuyên của thể, nhờ văn ngôn năng thuyên mà ngộ được tánh thể của sở thuyên, như nương theo hướng ngón tay mà thấy mặt nguyệt, nhờ có nôm mà bắt được cá.

Luận này lấy tịch chiếu bất nhị làm thể. Ý muốn chỉ chỗ tịch (lặng lẽ) mà chiếu (soi sáng) như ngọn đèn lặng lẽ mà hằng chiếu sáng. Trong lời tựa của kinh Di Đà Sớ Sao nói : ‘Tánh linh minh rỗng suốt, lặng lẽ thường hằng, không đục không trong, không lưng không mặt. Chơn thể rộng lớn thay ! Không thể nghĩ bàn được. Nó chính là tự tánh của chúng ta’.

Trong đoạn trên, câu đầu chỉ rõ cái chiếu, tức tịch mà chiếu. Câu kế nói tịch, tức chiếu mà tịch. Hai câu nếu hợp lại để quán thì chiếu tức là tịch, tịch tức là chiếu. Chữ tức trong quán này là nghĩa bất nhị (không hai).

Môn thứ 20 của luận này nói : ‘Định này đức Như Lai gọi là Thắng định, là Vua Tam muội, là Tạng Quang Minh, là hạt châu trừ tội, là đèn diệt tà kiến, là bản đồ cho người lạc đường, là ấn vàng của Vương Tử, là Tánh của Tam Bảo, là Đại Huệ Quang Minh.

Tất cả đều chỉ cái thể của Tịch chiếu bất nhị này.

3. – Minh Tôn:

Tôn chỉ là chỗ cốt yếu của tu hành, là điều kiện tất yếu để trở về bản thể. Nếu người tu hành không rõ tôn chỉ thì làm sao có thể lảnh hội được diệu thể không thể nghĩ bàn, nên trước đã hiển thể, sau phải minh tôn. Trước hiển thể là chỉ bày Tánh đức, còn minh tôn là chỉ bày chỗ Tu đức. Nên biết, Tu đức nếu có công mới hiển bày được Tánh đức.

Luận này lấy nhân quả cùng thời làm Tôn. Có người cho rằng Thể tức là Tôn, Tôn tức là Thể. Thực ra Thể thuộc về Tánh Đức không phải nhân, không phải quả, còn Tôn thuộc về Tu Đức có nhân có quả, vì trước tu là nhân, chứng được là quả. Tuy vậy Tôn Đức và Tánh Đức không phải một, không phải hai, nên không thể nói là một, cũng không thể nói là khác.

Cũng như cột kèo của cái nhà là giềng mối của cái nhà, nhờ có cái nhà mà ta có một khoảng trống do cột trụ tạo ra, nhờ có cột kèo mà ta có khoảng trống để che mưa đở nắng, nhưng không thể nói kèo cột là khoảng trống của nhà vì kèo cột không phải một, lại cũng không nói khoảng trống là kèo cột vì khoảng trống và kèo cột không phải hai.

Kèo cột dụ Tôn, khoảng trống dụ Thể. Nếu nói là một thì có nhiều lầm lẫn, vì bỏ kèo cột ra thì không có khoảng trống cái nhà, lìa khoảng trống thì không thấy kèo cột, hai cái đó không thể lìa được nên gọi là chẳng phải khác. Nói Thể và Tôn khác nhau thì lầm lỗi rất lớn, nếu Tôn khác với Thể thì Tôn không thể hiển Thể, Thể nếu khác với Tôn thì không phải là Thể của Tôn.

Nói nhân quả cùng thời là vì nhân gồm biển quả, quả thấu nguồn nhân, nhân quả hợp nhau nên gọi đồng thời. Trong Phổ Hiền Quán kinh nói : ‘Nhân của Đại thừa là thật tướng của các pháp, và quả của Đại thừa cũng là thật tướng của các pháp.’ Trước nói Thể là chỉ Ông Phật sở niệm. Nay nói Tôn là chỉ cho Tâm năng niệm, đã biết Phật thông cả ba đời là biết Cảnh dọc trùm ba phía, Tâm niệm chư Phật là biết Tâm ngang khắp mười phương, Tâm và Cảnh không hai, không có ngang dọc, Tâm Cảnh rõ ràng cũng ngang cũng dọc, như con mắt của Ma Hê Thủ La Thiên giống ba góc hình tam giác đều, không ngang không dọc, không cùng không khác. Trong luận nói : Lưới châu của Đế Thích chưa mở ngàn viên ngọc chiếu bày, lưới vừa mở toang, muôn mắt đều mở. Đầy biển cả phải dùng trăm sông, niệm được Phật danh chắc thành Tam muội.

4.- Luận dụng:

Dụng là lực dụng. Đa số kinh điển Tịnh độ lấy việc lìa khổ được vui làm lực dụng, thường cho cõi Ta bà bị năm món trược làm khổ, được về An dưỡng được năm thứ thanh làm vui. Chỉ có luận này lấy khổ vui đều quên làm lực dụng. Nếu chỉ niệm Phật hiện tại, như trong chương Thế Chí niệm Phật Viên Thông nói : ‘Các đức Như Lai trong mười phương thương nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con, chúng sanh niệm Phật như con nhớ mẹ, khi con nhớ mẹ như mẹ nhớ con thì mẹ con nhiều kiếp không hề xa nhau.

Tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền hoặc tương lai chắc được thấy Phật, không cần dùng phương tiện, tự được tâm mở tỏ. Nhơn địa tu hành của tôi, dùng tâm niệm Phật được vô sanh pháp nhẫn, nay ở thế giới này tiếp dẫn người niệm Phật về cõi Tịnh độ’. Lìa cái khổ của thế giới này về chỗ vui của Tịnh độ là lực dụng hầu hết các kinh luận Tịnh độ. Luận này thì trước niệm Phật vị lai, kế đó niệm Phật hiện tại, sau đó niệm chung chư Phật ba đời đều là Phật. Ý nói rằng : Chúng sanh đều là Phật, chúng sanh và Phật không hai.

Đã nhận chúng sanh và Phật không hai cảnh giới, thì không có lòng ghen ghét. Không ghét thì không có cái khổ để muốn xa lìa, không yêu thì không thấy cái vui có thể được, vì cõi tịnh và cõi uế vốn không hai, nên dùng khổ vui đều quên làm lực dụng. Trong quyển thứ nhất của Luận này, Ngài Văn Thù dạy người nữ nói : ‘Tánh Bồ đề vốn không, thân cô cũng không.’ Phật bảo Trưởng Giả Tử nói : ‘Nếu quán thân thật tướng, quán Phật cũng vậy, thì các pháp hữu vi liền thành vô vi.

Ở chỗ có chưa từng có, ở chỗ không chưa từng không, lo gì Phật có tướng? Tâm có niệm !’ Trong đoạn này ý nói thánh trí bồ đề và thân phàm tình của ông không khác; chỉ cho thánh phàm không hai. Ở chỗ có chưa từng có, ở chỗ không chưa từng không, chỉ không trụ ở hai bên. Lo gì Phật có tướng, tâm có niệm, trong Đạo chẳng an, lực dụng như thế thật mầu nhiệm.

5.-Phán giáo.

Tổ Thiên Thai Trí Giả Đại sư dùng năm thời tám giáo để giải thích một đời thuyết giáo của đức Như Lai. Năm thời gồm có thời Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã, Pháp Hoa Niết Bàn. Để dễ nhớ, cổ nhân có bài kệ :

Hoa Nghiêm tối sơ tam thất nhật

A Hàm thập nhị, Phương Đẳng bát.

Nhị thập nhị niên Bát Nhã đàm,

Pháp Hoa, Niết Bàn cọng bát niên.

Tạm dịch :

Hoa Nghiêm trước nhất 21 ngày

A Hàm mười hai, Phương Đẳng tám.

Bát Nhã nói suốt hai mươi hai

Pháp Hoa, Niết Bàn, tám năm dài.

Tám giáo là tạng, thông, biệt, viên, đốn, tiệm, bí mật và bất định. Trong kinh có thí dụ về luyện sữa như sau : Kinh Hoa Nghiêm dụ sữa mới nặn ra; kế đó từ sữa cho ra lạc, thời A Hàm dụ cho lạc; kế đó từ lạc cho ra sanh tô, Phương Đẳng dụ sanh tô; từ sanh tô cho ra thục tô, Bát Nhã dụ thục tô; từ thục tô cho ra đề hồ, Pháp Hoa, Niết bàn dụ cho đề hồ thượng vị. Luận này, ngay trong câu hỏi đầu khách đã hỏi : ‘Con đường thẳng tắt thành đạo là cái hạnh bất khinh trong Pháp Hoa Tam muội, cái Tôn của Ban Chu là niệm Phật tam muội, đều được gọi là cái cửa của vô thượng thâm diệu Thiền, nguyện nghe chỗ nhiệm mầu ấy?’ Như thế, luận này thuộc cơ thuần Viên độc diệu, Giáo tướng thuộc Vô thượng đề hồ Bồ tát tạng.

  • Phần thích luận

Thời Nhà Đường, núi Tử Các, Chùa Thảo Đường,

Tuyển luận: Sa Môn Thi Tích

Dịch giả: Sa Môn Hồng Nhơn

  • A Phần tựa

Có người khách cao ngạo đến thiền thất của tôi (Ngài Phi Tích) trước đảnh lễ rồi hỏi : Con đường thẳng tắt thành đạo là cái hạnh Bất Khinh trong Pháp Hoa Tam muội, cái Tôn của Ban Chu trong niệm Phật Tam muội đều là cửa ngõ thâm diệu thiền, nguyện nghe chỗ nhiệm mầu ấy?

Đáp : Tâm ông hy vọng rất cao, nên lời hỏi rất hay ! Ông sắp bước vào bến rồng vô sanh, muốn dở cánh bằng đến Đồ Nam. Tôi biết mình không xuất sắc nhưng cũng gắng gượng mở ra hai mươi môn nói về tôn chỉ này. Quyển thượng có bảy môn niệm vị lai Phật. Quyển trung có sáu môn niệm hiện tại Phật. Quyển hạ có bảy môn chung niệm cả ba đời đều là Phật.

  • B. Phần chánh tôn

I.. Quyển Thượng. Quyển thượng gồm có bảy môn, nói về niệm Bản Giác tức niệm Ông Phật ở vị lai.

1. Niệm Ông Phật ở vị lai mau thành Tam Muội

Nếu Tâm có hai thì sanh ra nhiều vọng tưởng, nhiều vọng tưởng tuy không thật, nhưng bị mê lầm làm trở ngại, việc trở ngại không giải thích là điều lo của Thánh nhân.

Vần mầu nhiệm thông suốt mà không lời, Pháp thân rỗng mà đủ tướng, không rõ được tướng, không tròn được lời, như thế ý chỉ một vị, tuyệt cả nói năng thì làm sao biết được chỗ qui thú ?

Khi lưới của Đế Thích chưa mở, nghìn hạt châu đâu ai thấy được, chóp lưới vừa động, muôn mắc lưới đều mở. Muốn đầy biển lớn phải dùng nước trăm sông, niệm hiệu Phật chắc thành Tam muội, một lời trùm khắp chính tại chỗ này, cũng như hạt thanh châu bỏ vào nước đục, nước đục không thể không trong, tưởng Phật đặt ở loạn tâm, loạn tâm không thể không có Phật.

Người đời niệm quá khứ Thích Ca, niệm hiện tại Di Đà, hoàn toàn chưa nghe niệm vị lai chư Phật. Vì sao ? Vì không hiểu đức Như Lai đối với cái Thô của chúng sanh mà nói cái Diệu của chư Phật bèn cho chúng sanh ở ngoài Phật.

Kinh Tịnh Danh nói đã có mùi hương hoa Chiêm Bồ không có mùi hương khác. Hoa có loại đeo vào thân, có loại không đeo vào thân. Đây là ý muốn chỉ bày Đại thừa. Chê Tiểu thừa vì để bác bỏ mờ mịt, chỉ bày Đại thừa đồng về với Bất Nhị. Kinh Pháp Hoa là Vua của các kinh đã chỉ rõ pháp Thinh Văn. Như thế, tất cả đều là hương Chiêm Bặc, tôn chỉ của luận này là Đại và Tiểu Thừa không chấp.

Nếu chẳng phải người ấy (phá chấp) tất cả đều cho Chư Phật là bậc rất cao (chí tôn), còn chúng sanh là hàng rất thấp (chí ti). Nếu có cao và thấp là các vọng đều sinh khởi, cung kỉnh và khinh mạng lập ra thì nhất chân pháp giới đều ẩn.

Người chấp chặt như thế ắt coi vạn hữu như cỏ rác, coi thiên hạ như đồ chơi, khi tràng ngã mạn đã lập nên thì cao ngạo chê người, mắt ngó mây xanh, tâm đạo trên thượng đế, không bao giờ chịu hạ thấp.

Kinh Duy Ma nói : Thấy tất cả đều nên cung kỉnh, dùng đồ cúng dường là hạnh tối thắng. Kinh Lăng Già nói : Như Lai Tàng tự tính nó vẫn thanh tịnh, chuyển 32 tướng vào trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh, như có bảo châu đại vô giá gói trong áo dơ. Lại như người ăn xin rất hèn hạ cùng đức Như Lai cao cả đều không sai khác, vì thế, niệm tròn đủ chư Phật ba đời là khắp quán các đức Thế Tôn trong mười phương. Trong lý thú Bát Nhã nói : ‘Tất cả chúng hữu tình đều là Như Lai Tạng, Bồ Tát Phổ Hiền tự thể trùm khắp các nơi. Như người con gái nghèo có mang một vị quốc vương, như hột gạo trong bao tấm cám, cảnh ấy có thể biết, đâu có thể mắc vào oan trái tám điều ngã mạn ư ? Mọi người đều khinh lờn hào quang ngọc của chư Phật thời vị lai mà không dám khinh lờn sắc vàng của chư Phật ở quá khứ và hiện tại mà khởi ra gốc tội, ở trước Phật tương lai vì được thấy chư Phật đã qua và hiện tại. Chúng sanh nếu chẳng phải là Phật, thì Phật vị lai đâu có !

Nên biết mẹ nghèo nhờ con quí mà sang, gạo nhờ cám mà được bảo toàn, điều ấy phù hợp với tâm Bất Khinh Bồ Tát trong Kinh Pháp Hoa, nếu được như vậy thì niệm Phật Tam muội không cầu mau mà tự thành tựu.

Pháp Hoa niệm Phật nguyên là một môn. Như dùng linh chi nấu thành thuốc. Các người tu tiên, xưa mỗi người ở một nơi không được gọi là Tiên. Người uống thuốc tiên có phép lên mây nên nhờ có thuốc mà nêu danh ở cõi Tiên. Người được dự vào cõi Tiên, người và thuốc tuy khác nhau, nhưng uống vào sẽ được thành tiên.

Nếu không có thánh nhân có ai được đạo, pháp không có Phật giác ngộ đâu ai làm cho ta tự ngộ. Pháp không có Phật thì không ai ngộ, từ đó niệm Phật Tam muội sinh ra, Phật không có pháp không sáng tỏ, nên Pháp Hoa Tam muội khởi. Một vị Tiên có hai danh xưng đều gọi là Tiên, niệm Phật Pháp Hoa đều gọi là Phật huệ. Phật huệ đã đồng chắc chẳng khinh Thiền Vô Thượng của Ban Chu, sự giác ngộ từ đây khởi xướng.

2. Dâm nữ, phường trộm đều chẳng nên khinh

Hỏi : Dâm nữ, phường trộm cướp là hạng người cực ác, đâu có thể được cung kỉnh như Phật ?

Đáp : Phương pháp độ của Phật có cách đối đãi và cách quyết liễu.

A.-Về đối đãi : Đối với người nữ dối trá, Phật nói Như Lai là chỗ chí chơn. Phật là bậc đáng tôn sùng, người nữ là kẻ cần xa lìa. Xa lìa có hai phần là tránh lòng dục vọng và dùng tâm buông bỏ.

Thứ nhất là tránh dục : Trong Kinh Bồ Tát Quở Sắc Dục có dạy : ‘Sắc gái đẹp là xiềng xích của thế gian. Kẻ phàm phu yêu đắm không thể tự mình nhổ ra khỏi, nó chính là tai họa lớn của thế gian, kẻ phàm phu bị vướng vào, đến chết cũng không bỏ được, nó chính là tai họa đáng thương của thế gian. Kẻ phàm phu gặp nó thì không có tai ách nào mà không đến’.

Hành giả đã bỏ được rồi, nếu còn nhớ lại, không khác người trong ngục vừa mới ra, lại nhớ ngục thất muốn vào. Như người cuồng vừa tỉnh lại muốn cuồng trở lại, người bệnh được lành lại mong mình được thêm bệnh. Người có trí tuệ biết điều đó là mê mờ điên đảo, người có niệm này sẽ chết không biết ngày nào !

Kẻ phàm phu mê đắm nữ sắc, cam lòng làm nô bộc cho tình yêu sai sử, trọn đời gánh vác những việc cay đắng khổ sở, tuy có ngàn mủi gươm dao đưa đến họ cũng cam lòng gánh chịu chẳng chút than van.

Nếu hành giả có thể bỏ mà không đoái hoài tới thì phá được các gông cùm xiềng xích, ghét mê, nhàm bệnh thì lìa được tai họa lo nghĩ. Tâm được an ổn là tốt, đã được ra khỏi lao ngục, vĩnh viễn không có hoạn nạn.

Người nữ có tướng yểu điệu dịu dàng, lời nói như mật ngọt ru hồn, nhưng lòng đầy thuốc độc. Suối lặng nước trong là chỗ ở của giao long, núi vàng hang báu là nơi cư ngụ của sư tử. Đây là chỗ họa hại không nên ở gần. Nhà cửa không yên là do người phụ nữ, tan nát dòng họ là hại bởi người vợ trong gia đình. Người nữ thật là một kẻ giặc âm thầm diệt hết trí huệ sáng suốt của con người.

Như lưới của người thợ săn đã bủa ra rồi ít con thú thoát nạn, như lưới chim vào rọ không thể bay ra, như lưới nhặt bọn cá bị lùa vào không thể nào ra khỏi, như đường hầm tối, người mù đi vào không thể trở ra, như thiêu thân thấy lửa đua nhau lăn vào. Vì thế, người trí biết rồi nên xa lánh thì không chịu những điều tai hại. Sự mê hoặc tồi tệ và xấu ác không gì bằng nữ sắc này.

Kinh Đại Bảo Tích nói : ‘Người bị các khổ như tên độc bắn trúng, cây nhọn đâm thân, rớt xuống núi đao còn ít khổ hơn sự sai sử của người nữ. Họ mượn hương hoa trang sức cho đẹp đẽ, để người ngu thấy đó vọng khởi tham cầu, như chim lạc ngoài bể mong được vào bờ, chết bị đọa vào địa ngục A tỳ, hiện đời gặp nhiều thứ khổ vây quanh mình, bạn lành xa lìa, cung Trời mất vĩnh viễn. Chẳng thà ta liều vào ngục sắt nóng, chạy trên núi đao, nằm trên đống than hồng, nguyện không bao giờ thân cận nữ sắc. Như chim vì tìm miếng ăn không tránh được lưới rập, người tham ái với người nữ bị hại cũng thế. Như cá ở trong nước, bơi lội trước lưới câu do mình muốn tìm mồi đâu ai hại mình được. Người nữ như kẻ bắt cá, lời dịu dàng dối gạt giống như lưới, người con trai giống như con cá bị lưới hay câu cũng như vậy, tự mình muốn tìm đâu ai bắt mình phải đến.’

Thứ hai là phương pháp phóng tâm (tâm buông bỏ). Kinh Đại Bảo Tích dạy : ‘Nếu người một lòng chuyên tinh tự giữ mình, khi tâm tham dục phát khởi liền phải tỉnh giác, dùng phương tiện dẹp hết, lại làm tâm trở lại tịch tịnh như cũ.’

Muốn trừ sạch hết phải làm sao ? Chúng ta phải nghĩ thế này : Tham dục này vốn không là chẳng sạch, hãy tìm chỗ sanh chỗ diệt của tâm dục này từ đâu mà đến, rồi đi về đâu, trong ấy ai là người nhiễm, ai là người bị nhiễm, và gì là pháp nhiễm ? Được như vậy mới có thể vào sanh tử chốn trần lao mà không lo bị tai họa bởi tham, sân, si, nên gọi là phóng tâm.

B.-Về quyết liễu : Nếu người xa lìa các vọng tưởng được rốt ráo, không nhiễm, rỗng rang như hư không, thì Phật quá khứ và Phật hiện tại đâu chẳng phải là Phật ở vị lai. Vì sao ? Vì người muốn tìm hạt châu quý báu, vô giá phải ở thương minh (biển sâu), muốn được của báu trí huệ phải tìm từ trong phiền não. Tướng ngũ nghịch là tướng giải thoát, cõi Ma tức là cõi Phật. Nếu còn nghe lời Phật mà vui mừng, nghe lời Ma mà nỗi giận thì chẳng phải là người giác ngộ được các pháp, muốn đến Bắc phải hướng Bắc mà đi, không được có ý về Nam, ngược đường mà đi, đâu được cùng người luận đạo.

Xưa có một vị đại Tiên tên Lộc Đế, dùng thần chú làm cạn cả nước, có cô dâm nữ dụ được làm trời hạn đổ mưa. Người nữ ấy chính là Bà Gia Du Đà La, vị lai sẽ thành Phật hiệu là Cụ Túc Thiên Vạn Quang Tướng Như Lai. A Na Luật ngày xưa là đầu đảng trộm cướp, một hôm vào chùa ăn trộm hạt châu trên trán Phật, lấy mũi tên khơi ngọn đèn trên bàn Phật, làm cho ánh sáng cháy mãi không dứt. A Na Luật Tàu dịch là Vô Diệt (không dứt cũng từ lý do này). Ngài tương lai sẽ làm Phật hiệu là Phổ Minh Như Lai. Hai vị Phật ở vị lai này đủ chứng minh rõ ràng rằng dù phạm dâm hay phạm trộm cũng đều thành Phật.

3. Trì giới, Phá giới đều tướng như Phật.

Trong giới luật, về giới tướng có hai loại: 1/ Giới của Thanh Văn gọi là Tăng giới, 2/ Bồ tát giới gọi là Phật Giới. Về Thinh Văn giới có bảy chúng chẳng đồng:

1. Tỳ kheo giới gồm có 250 giới.

2. Tỳ kheo Ni giới gồm có 348 giới.

3. Thức Xoa Ma Na học sáu pháp.

4. Sa Di gồm có 10 giới.

5. Sa Di Ni cũng có 10 giới.

6. Ưu Bà Tắc (cư sĩ nam) gồm 5 giới.

7. Ưu Bà Di (cư sĩ nữ) cũng có 5 giới

– Về Bồ tát giới có 2 chúng tại gia và xuất gia: Căn cứ vào Kinh Địa Trí, tại gia Bồ tát giới có 6 giới trọng và 28 giới khinh. Căn cứ vào kinh Phạm Võng, xuất gia Bồ tát gồm 10 giới trọng và 48 giới khinh. Giới Bồ tát này cũng gọi là Kim Cương Quang Minh Bửu Giới, cũng gọi là Tam Tụ Tịnh giới:

1. Nhiếp luật nghi giới.

2. Nhiếp thiện pháp giới.

3. Nhiêu ích hữu tình giới.

Cách trì giới: Bảy chúng đệ tử của Phật giữ gìn giới hạnh ở trong 4 oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm, có mật thiết quan hệ. Nếu ở trong 4 oai nghi này có một oai nghi nào không tỉnh giác thận trọng là không thể trì. Chữ trì đây có nghĩa là gìn giữ vâng làm. Vì vậy trong lúc đi đứng nằm ngồi không được lơi lỏng nên gọi là trì.

Tỳ kheo có 250 giới: 4 giới đầu thanh tịnh gọi là trì căn bản giới. Còn 246 giới sau mỗi giới đều thúc liễm giữ gìn không cho mất gọi là Tỳ kheo toàn trí. Thầy Tỳ kheo trước tiên ở trên giới đàn, Thầy Yết Ma 3 lần tác bạch, bảy chứng sư vì đại chúng chứng thành, gọi là đã được giới thể. Gìn giữ như thế cho đến thành Phật, được Pháp thân đều từ giới này làm gốc.

Tỳ kheo ni giữ 8 giới trọng, mãi mãi không phạm gọi là căn bản giới thanh tịnh. Còn 340 giới cũng phải bảo toàn không mất gọi là giới phẩm hoàn toàn. Nếu giới phẩm được hoàn toàn thanh tịnh thì thành Phật có dư. Còn Thức Xoa Ma Na chỉ yếu có 6 pháp không phạm là đủ. Sa Di và Sa Di Ni chỉ yếu 10 giới pháp thanh tịnh. Trong 10 giới này chỉ có giới ăn phi thời có quan hệ rất lớn không thể không trì, giới này nếu không trì thì tất cả các giới khó khỏi không phạm. Giới Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di phải giữ 5 điều giới luật, ai cũng biết rõ.

Phá giới: Tỳ kheo trong 4 giới trọng, bị phạm một giới gọi là phá căn bản giới, cũng bị mất giới thể, suốt đời không được khôi phục. Các giới sau có bị phạm gọi là phá chi mạt giới, cho đến rất nhỏ gọi là đột kiết la. Ở cõi Trời Tứ Thiên Vương, một ngày một đêm bằng nhân gian 50 năm. Ở Địa Ngục, một ngày một đêm bằng ở Tứ Thiên Vương 50 năm. Cứ như thế tính thành năm tháng. Người tội ở trong Địa ngục phải trải qua 500 năm mới ra khỏi ngục. Đây là thời gian của người phá giới tội rất nhỏ, bị đọa vào Địa ngục. Sáu chúng sau so sánh như trên thì biết. Nếu người sau khi phá giới phải sanh lòng hỗ thẹn, đến trước vị A xà lê chân thành thổ lộ, không được dấu diếm dù nhỏ bằng sợi tơ. A xà lê sẽ hứa cho sám hối, nếu nhẹ thì tác pháp sám, tập hợp 20 vị Tăng, đối chúng phát lồ, khóc lóc cầu xin, cứu kính không tạo tội mới, sau khi tác pháp rồi, luôn luôn vâng lời Thầy dạy, hoặc trì chú bao nhiêu biến, hoặc tụng kinh bao nhiêu quyển, hoặc lễ sám bao nhiêu bộ, làm xong mới cho vào chúng đồng tu. Nếu phạm căn bản giới sẽ không được sám hối.

Thủ Tướng sám: chẳng luận tụng kinh lễ sám hoặc thời hạn 7 ngày, 49 ngày, 90 ngày hoặc đến 1 năm, 3 năm, cần phải thấy hảo tướng như ánh sáng Phật, hoặc Phật đưa tay sờ đỉnh, hoặc chư thiên tán hoa… được các tướng như thế, tội mới sạch, gọi là Thủ Tướng sám.

Vô Sanh sám: Quán sát tánh của tội ấy, không ở trong, ngoài và chặng giữa, lại không ở quá, hiện, vị lai. Cuối cùng tội từ chỗ nào mà khởi? Tội không tự tánh, do nhân duyên sanh, đã từ nhân duyên mà sanh rồi cũng từ nhân duyên mà diệt. Từ nhân duyên mà sanh là người trong không dùng tâm tàm quý (xấu hổ) làm nhân, ngoài nhờ bạn ác làm duyên, do đó mà tạo ra các tội, nên gọi là sanh. Từ nhân duyên mà diệt là người trong lấy việc tàm quý (xấu hổ) phát lồ làm nhân, ngoài nhờ thiện tri thức làm duyên, nên có thể diệt hết các lỗi lầm nên gọi là diệt. Sáu chúng sau muốn sám hối khi phá giới cũng theo ba pháp sám kể trên.

Trì Bồ tát giới là người từ ở trong thân này đến khi thành Phật không được phạm gọi là Trì.

1. Nhiếp luật nghi giới là các ác đừng làm. Tất cả ác không làm gọi là trì, đã làm gọi là phạm, nên gọi không làm (chỉ) là Trì, có làm (tác) là Phạm.

2. Nhiếp thiện pháp giới: Tất cả việc lành đều làm gọi là Trì, không làm là Phạm nên gọi làm (tác) là Trì, không làm (chỉ) là Phạm.

3. Nhiêu ích hữu tình là không chúng sanh nào mà không độ. Hai cái chỉ và tác ở trên đều là tự độ, cùng độ người, nếu không độ người gọi là Phạm.

Chúng ta, những người niệm Phật, phàm thấy bốn chúng đệ tử của Phật không cần so tính trì giới hay phá giới, không được vọng khởi phân biệt, dùng tâm bình đẳng như Bồ tát Thường Bất Khinh trong Kinh Pháp Hoa thấy tứ chúng liền sanh cung kỉnh, khen ngợi, lễ bái: ‘Tôi không dám khinh các Ngài, các Ngài đều sẽ làm Phật’. Nên nói gặp mọi người đều sanh ý tưởng đang gặp Phật.

Hỏi: Kinh Phạm Võng nói: ‘Nếu người thọ giới Phật tức vào địa vị của chư Phật.’ Các hàng xuất gia là bậc mang giới luật như trăng sáng, đeo châu anh lạc, dự vào địa vị tam tôn, mô phạm cho bảy chúng. Nếu không tinh trì giới luật, vọng động làm điên đảo, ô uế thiền môn. Những người như thế, khinh chê đó cũng không lỗi, đánh đó cũng chẳng tội gì?

Trong Kinh Như Lai Tam Muội Hải, đức Phật vì phụ vương mà nói: ‘Ngày xưa có 4 vị Tỳ kheo phạm luật, lấy làm hỗ thẹn, không biết nương tựa vào đâu. Bỗng nhiên trên hư không có tiếng nói: ‘Các Ông đừng nói rằng không còn cách gì cứu! Không phải vậy, đức Không Vương Như Lai, tuy đã vào Niết Bàn nhưng hình tượng hãy còn.

Các Ông nên vào tháp, một lòng quán tưởng hào quang trắng ở giữa chân mày của bảo tượng. Các Tỳ kheo nghe theo rõ lệ mà nói rằng: ‘Phật tượng còn diệt được tội trọng như vậy huống hồ chân dung, khởi thân đảnh lễ đầu mặt sát đất, các tội liền tiêu. Ngày nay ở bốn phương đều thành chánh giác: phương Đông Phật A Súc, phương Nam Phật Bảo Tướng, phương Tây Phật Vô Lượng Thọ, phương Bắc Phật Vi Diệu Thinh. Bốn vị Tỳ kheo phá giới này một lòng quán bửu tướng, liền được vào vị đấng Đại Hùng của đời. Người niệm Phật đâu nên tự lầm và đem đến việc lầm lạc cho người khác.

Kinh Đại Tập nói: ‘Nếu các vương thần đánh mắng những người xuất gia trì giới hay phá giới, tội đồng chích một trăm ức thân Phật ra máu’. Nếu thấy có người mặc áo cà sa, không luận là trì giới hay phạm giới, chỉ tưởng như Phật, người có tưởng Phật là người chứng được Niệm Phật Tam muội vậy. Đây lời vàng của Phật dạy và cũng là ý chỉ của Bồ tát Thường Bất Khinh trong Kinh Pháp Hoa, đâu được chẳng tin ư!

Thà làm Tâm của Thầy, đừng làm Thầy của Tâm, thấy xan tham quán tưởng bố thí, thấy người phá giới quán tưởng trì giới. Vì vậy mà ta không bị cảnh giới lục tệ trói buộc, thành tựu Quán môn Lục Độ Ba La Mật. Nếu cố tâm phân biệt, tự mình nhận lấy tối tăm. Như có thể thấu hiểu được chỗ nhận thức này thì Niệm Phật Tam muội thành tựu dễ dàng như nước chảy trong sông vậy.

4. Hiện ở Địa Ngục Không Ngại Thọ Ký

Hỏi: Như kẻ hiện ở nơi Địa ngục, hoặc Ngạ quỷ, Bồ đề tâm khó có thể phát khởi, dòng sông đã đục chưa biết kỳ hạn bao giờ được trong, đâu được xem đồng như Phật?

Đáp: Hái thuốc quí không phải lấy từ nhà trồng hoa, lấy thuốc pháp không phải tự nhiên mà có được.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói về 4 thứ thọ ký:

1. Thọ ký người chưa phát tâm.

2. Thọ ký người mới phát tâm.

3. Thọ ký bí mật.

4. Thọ ký hiện tiền.

Nay kẻ hiện ở Địa ngục, Ngạ quỷ, Phật thọ ký tương lai chắc phát đại chí, gặp bạn lành, thực hành đạo Bồ tát, hoàn thành bậc Chánh giác, chính là Phật thọ ký cho người chưa phát tâm sẽ được thành Phật. Khi Phật nói bốn hạng người được thọ ký, ngài Ca Diếp bạch Phật: Chúng con từ nay đối với tất cả chúng sanh tưởng như Thế Tôn, nếu sanh lòng khinh, tự mình bị hại. Phật bảo, lành thay lời nói rất hay! Mọi người đều không thể suy lường chúng sanh, chỉ có đức Như Lai là có thể hiểu thấu đáo. Ta bảo các hàng Thanh văn và các vị Bồ tát đối với chúng sanh nên sanh ý tưởng như Phật.

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện nói: ‘Muốn phá trăm vạn cửa chướng, cần dùng tưởng chúng sanh như Phật này. Phàm nhà chứa châu báu tuy chưa mở cửa, không ngại gì nói có châu báu trong nhà. Hạt châu trên trán che kín, không ngại gì nói châu ẩn trên trán. Nếu không niệm chúng sanh là đương lai Phật, ắt bị sáu trần khuấy nhiễu, lại bị ma quân, tự mình phá hoại thành lủy, bảo tồn cho nước địch, luôn luôn khởi lòng cừu oán. Hai bên chiến trận chưa yên, trống trận còn thúc vang dội, đâu có thể nằm an nhàn say ngủ. Người có thể ngộ sắc thanh là Phật, thời chúng sanh đều là Phật ở tương lai, chắc không lập tâm ở phàm cảnh trước đây, hoặc tưởng thân mình là bổn tôn, thì quán môn thâm diệu của Du Già chơn ngôn, không cần tính toán cũng có được.

Hỏi: Những người ở Địa ngục là người chưa phát tâm, đức Như Lai là một đấng Pháp vương vì lòng từ bi thương xót mà thọ ký cho. Thật ra họ là người chưa ngộ thì bao giờ mới tỉnh?

Đáp: Cái nguồn của trường giang (sông dài) tràn đầy chừng một chén; gốc của đại mê chỉ ở trong hai cái chấp ngã và Pháp mà thôi. Nếu ngoài niệm mà lập ra vô niệm, ngoài sanh lập ra vô sanh thì sanh tử khác với Niết bàn, thì lời vàng của chư Phật cũng không dạy được. Nếu biết rõ niệm mà vô niệm, sanh mà vô sanh, thì phiền não tức Bồ đề, một tướng trang nghiêm nhân đây mà có thể ngộ được.

Cũng như đàn ong ở đỉnh núi đem về phòng vẫn cho mật tốt; bảy báu để trong giếng dơ đem lên không thể bỏ, mà không cho là của quý? Sự quý báu gốc vốn nó đã có đủ, không phải đợi đến bây giờ mới có. Chúng ta hãy xem xét khắp tất cả chỗ mà ta duyên đến đều thấy đức Như Lai thì những thứ tham, sân, si làm sao sanh ra còn được?

Trong Kinh Như Lai Tạng dạy: ‘Ta dùng Phật nhãn xem tất cả chúng sanh trong tham, sân, si và các thứ phiền não đều có trí Như lai, mắt Như lai, thân Như lai đang kiết già an ngồi, nghiễm nhiên chẳng động; cho đến đầy đủ các đức tướng như ta không khác gì? Dùng chín thí dụ để rộng nói rằng, tất cả chúng sanh đều có Như lai Tạng. Trong lời giải thích bài tạng của luận Thật Tánh dạy: ‘Trong cành hoa héo có chư Phật, trong thùng phẩn có vàng vòng, trong đất có tạng trân bảo, trong các trái củ có mầm non, trong chiếc áo rách có tượng vàng ròng, trong người con gái nghèo xấu có mang chuyển luân vương, trong đám bùn lầy có bảo tượng thượng diệu. Chúng sanh có đầy dẫy các thứ tham, sân, si, vọng tưởng phiền não, nhưng trong cái cảnh trần lao đều có Như lai Tạng’. Qua chứng minh trên chứng tỏ rằng hiện ở trong Địa ngục không có trở ngại gì cho việc thọ ký.

Hỏi: Bậc chí nhân (chí tôn) khi dụng tâm là các thứ phan duyên đều dứt hẳn, còn chúng sanh phóng tâm chạy theo duyên, đều thấy Như lai, chưa biết ở giáo lý nào? Kinh điển nào?

Đáp: Trong giáo lý có dạy: ‘Người khởi tâm duyên khắp sáu trần, ba nghiệp nhưng phát diệu nguyện vào cảnh giới Phật, mỗi thứ duyên khởi không lìa Như lai gọi là thấy tất cả, chỗ thấy viên mãn này không phải do mắt mà thấy được.

Kinh Niết Bàn dạy: ‘Thanh văn có Thiên nhãn được coi là Nhục Nhãn (mắt thịt), người học Đại thừa lấy nhục nhãn (mắt thịt) làm Phật nhãn vì hiểu rõ thân mình có Phật tánh’.

Kinh Thắng Thiên Vương dạy: ‘Các Đại Bồ tát dùng sức phương tiện thực hành Bát Nhã Ba La Mật, đối với tất cả pháp, tâm duyên tự tại. Duyên tất cả sắc nguyện được Phật sắc không chỗ được. Duyên theo các tiếng nguyện được vi diệu âm thinh của Như lai. Duyên các thứ hương nguyện được thanh tịnh giới hương của Như lai. Duyên các mùi vị nguyện được vị đệ nhất Trượng Phu Tướng của Như Lai. Duyên các sự xúc chạm nguyện được bàn tay mềm mại của Như lai. Duyên các pháp nguyện được tâm tịch tịnh của Như lai. Duyên thân nguyện được thân Phật. Duyên khẩu nguyện được Phật khẩu. Duyên ý nguyện được ý bình đẳng của Như lai. Đại Bồ tát thực hành Bát Nhã Ba La Mật không có một tâm một hạnh nào luống qua mà không hướng vào Nhất thiết Chủng trí, duyên khắp các pháp mà không chấp trước. Quán thấy các pháp đều hướng về đạo Bồ đề; Bồ tát tu tập các hạnh đều do ngoại duyên mà thành lập, cũng như quả đất, trên đó nếu muốn đào ao, đào giếng liền có nước mà dùng, nếu không chịu đào, không làm sao mà có được nước? Cảnh giới thánh trí cũng thế, trùm khắp tất cả pháp, nếu người nào siêng năng tu Bát Nhã Phương Tiện thì sẽ được Thắng trí Bát nhã, nếu không chịu tu thì làm sao có thể đạt được?

5. Quán không, vô ngã chọn việc thiện mà theo.

Hỏi: Tức phàm là thánh đều là vô ngã. Như thế vô ngã của Tam giáo tức không khác, nghĩa ấy thế nào?

Đáp: Tên của Tam giáo ban đầu đã không khác lý lại chẳng đồng. Đức Phu Tử (Trọng Ni) ở trong Tứ Tuyệt có nói đến Vô Ngã là ý khiêm nhường; Đạo Lão nói vô ngã là nói thời gian dài không có chủ; Còn Đạo Phật nói vô ngã là quán năm uẩn đều không.

Khổng giáo và Lão Giáo đều không hiểu rõ ngũ uẩn thì làm sao hiểu được Tứ Đế, Lục Độ Vạn Hạnh. Nói gì đến giai cấp. Thánh Hiền tuyệt nhiên chưa nghe, nên kẻ sĩ tu tâm cần phải chọn việc tốt nhất mà theo đó.

Vì việc Bất thiện (chẳng lành) không ích lợi đối với chí chơn, không ghi và quên luôn cả thiện và ác, làm trở ngại cho Phật Pháp, đâu không phải từ đó mà ra nên Thánh Nhân đơn giản (bỏ) mà không lấy. Niệm Phật Tam Muội là bậc thiện tối thượng, là đầu của muôn hạnh, nên gọi là vua Tam Muội.

6. Không chọn thiện không bỏ ác

Hỏi: Nếu chọn thiện để theo vì sao không chọn cái thiện của Chư Phật và bỏ cái ác của chúng sanh?

Đáp: Không cần đổi câu hỏi lại, cũng thành câu đối đáp. Vì sao, vì chọn thiện mà theo thì bao hàm cái ác mà thiện, tức vọng mà chơn. Nếu có thể niệm Ông Phật ở vị lai, nói cái sanh của Bồ Tát Thường Bất Khinh thì trời đất là một, muôn vật là một lông ngựa vậy.

Chúng sanh đều là Phật nên cõi này thường thanh tịnh, khác nào Ngài Xá Lợi Phất xem cõi này là đá, cát, ngói, gạch, đồng với cõi trân bảo trang nghiêm của Phạm Vương, vì vậy chọn chỗ chí thiện là không ai có thể bỏ.

Kinh Pháp Hoa nói rõ diệu ý tuyệt đối đãi: ‘Chúng sanh thấy kiếp cuối, khi lửa lớn thiêu đốt, cõi ta đây yên ổn, trời người rất sung túc, lầu nhà và vườn rừng, các thứ báu trang nghiêm’.

Trong Kinh Thắng Thiên Vương nói: ‘Chỗ Phật ở thật không phải cõi uế, vì chúng sanh phước mỏng nên thấy có bất tịnh’. Phàm năng lực mạnh mẽ của Tam Muội, không thể dùng vọng tưởng muỗi rệp (nhỏ nhít) mà có thể phá hoại. Gõ hồng chung niệm mười niệm không gián đoạn, đối với tán tâm niệm Phật có sai khác rất rõ. Niệm Phật A Di Đà là niệm chung cả Chư Phật trong ba đời, niệm Chư Phật Bồ Tát cũng như vậy. Luận Đại Thừa Khởi Tín dạy: ‘Y cứ vào một hướng nên bị lầm chuyển (Tây cho là Nam) sự thật phương hướng không có đổi. Vì thế, biết rõ được một phương là các phương khác đều đúng, niệm một vị Phật là Chư Phật hiện tiền. Đây chính là yếu nghĩa của Pháp Môn Đại Thừa vậy.

7. Không thể ăn thịt tất cả chúng sanh

Hỏi : Thịt là thứ để cho người ăn, người niệm Phật cấm tuyệt là ý gì ?

Đáp : Quốc Vương Thi Tỳ xã thân cứu con vịt đem toàn thân cân mới bằng, người và cầm thú tuy khác, nhưng đều tham sống sợ chết, nên đâu có thể ăn thịt nó, dùng béo thân mình để hại mạng nó đâu chẳng đáng sợ sao ? Nếu biết rằng chúng sanh là Phật vị lai, thì ai nở dùng dao giết hại mạng chúng!

Kinh Thủ Lăng Nghiêm có bài kệ: ‘Vì lợi giết chúng sanh, vì tiền lưới các vật. Hai món đều nghiệp ác, chết vào ngục kêu than’. Vì thế, Phật dạy nếu đem tiền của bố thí thì kẻ lưới thú và những người làm hàng thịt tự nhiên không có. Vì vậy, Tổ Long Thọ không khinh chim nhỏ, bậc cao tăng không dám đạp trùng kiến. Nếu có người hỏi việc này ta có thể đáp: Các chúng sanh lớn nhỏ cùng với ta đồng ở trong bể sanh tử, các chúng sanh kia hoặc có kẻ thành chánh giác trước ta, đâu thể dám khinh lờn. Khinh còn không được, huống gì ăn máu thịt của chúng.

Luận Bửu Tánh dẫn Kinh Như Lai Tạng dạy: ‘Chúng sanh là Đệ nhất nghĩa đế (Phật), là Như Lai Tạng, là Pháp Thân, là Bồ Đề’. Nếu người không hiểu ý chỉ niệm vị lai Phật, như con chó chỉ đuổi theo gói đồ ăn, không theo người, việc theo đuổi biết bao giờ dứt. Người chỉ niệm Phật quá khứ và hiện tại mà không niệm Ông Phật vị lai thì lòng ngã mạn không dứt. Nếu sư tử đuổi theo người, thì gói đồ ăn vứt ngay vì không cần thiết. Chúng ta thường nghe cung kỉnh và ngã mạn là một, nhưng tánh cách rất khác nhau. Bỏ cung kỉnh theo ngã mạn đối với cha mẹ là đại nghịch, bất đạo, bỏ ngã mạn theo cung kỉnh đối với cha mẹ là người đại hiếu. Nên kinh Phạm Võng dạy: ‘Chúng sanh trong sáu đường đều là cha mẹ. Hiếu gọi là giới, thiện căn phát khởi từ đây.’ Quán chúng sanh trong sáu đường đều là Phật ở tương lai rất gần với ý tưởng xem chúng sanh trong sáu đường là cha mẹ. Như vị Sa Di cứu đàn kiến tuổi thọ gia tăng, Lưu Thủy Trưởng giả dẫn nước cứu cá được Trời rưới hoa, thay cái chấp vô số kiếp lượng của chúng sanh để niệm cái thân của tương lai Phật. Phải biết trong đống phân ô uế có vàng ròng, tuy có nhiều lớp mây che, nhưng sau đó là trăng sáng. Như thế việc ham ăn thịt là những mây mù nghiệp báo sanh tử, cần phải dùng gió Huệ quét sạch thì Tam Muội hiện tiền, Kinh Phạm Võng dạy : ‘Ta là Phật đã thành, các Ông là Phật đang thành.’ Nếu người thường có lòng tin như vậy thì giới phẩm đã trọn vẹn, đâu được không thể niệm vị lai Phật ư?

Hỏi: Thịt không được ăn tôi đã tin rồi, còn ngũ tân thì sao?

Đáp: Kinh Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm dạy : ‘Năm thứ rau này, nếu ăn chín thì khởi lòng dâm, ăn sống tăng giận hờn. Người ăn năm thứ rau này dù có thể nói giỏi mười hai bộ kinh, Thiên Tiên trong mười phương nghe mùi hôi hám nên đều xa lánh, các ngạ quỷ theo người ăn ngũ tân liếm môi mỏ, thường cùng quỷ ở chung. Phước đức mỗi ngày mỗi tiêu, thường không lợi ích. Những người tu thiền ăn ngũ tân này, Bồ Tát Thiên Tiên, Thiên Thần trong mười phương không đến giúp hộ, Đại Lực Ma Vương được nhiều phương tiện gia hại. Người tu Đạo Bồ Đề phải vĩnh viễn đoạn tuyệt ngũ tân, đây là việc tăng tiến thứ nhất trong việc tu hành, đây là lời vàng chúng ta đâu nên trái lại.

Kinh Bách Dụ nói: ‘Có người ở trên đường nhặt được một rương tiền vàng, cắm cúi đếm chưa xong, chủ rương tiền đến, lấy tiền lại. Người đi đường hối hận sao hồi trước không đi nhanh, buồn rầu khổ sở? Như người gặp Phật Pháp không gấp siêng năng tu hành, chỉ thích nghe nhiều, bất chợt mạng chung, đọa vào ba đường ác, như người ngu kia, lẩn quẩn tính toán để người chủ đến đoạt mất. Có bài kệ rằng:

Ngày nay tạo việc này,

Ngày mai tạo việc kia,

Vui đắm không biết khổ,

Không ngờ giặc chết đến,

Dần dà lo các việc,

Kẻ phàm đều như vậy,

Như kẻ đếm tiền kia,

Việc đó cũng như vậy.

II. Quyển Trung: Quyển Trung gồm có sáu môn, Niệm Cứu Kính Giác là niệm ông Phật hiện tại chuyên chú vào một cảnh.

8. Niệm hiện tại phật chuyên chú vào một cảnh

Hỏi : Niệm vị lai Phật chính là chúng sanh đã nghe được huyền chỉ sự rộng, lý sâu, lại e tâm tán loạn khó thúc liễm, nay muốn dùng một để thấu suốt tất cả, chuyên niệm một vị Phật ở phương Tây, niệm một vị Phật để vào vị bất thối, bỏ tâm hữu lậu, chèo thuyền ở ao vàng ròng, lễ Phật Di Đà ở Điện Bạch Ngọc, dùng chung ba đời, mong vào chín phẩm có thể được chăng ?

Đáp : Luận Thập Trụ Tỳ Bà Sa, Bồ Tát Long Thọ y theo Kinh Hoa Nghiêm mà tạo luận. Trong luận có phẩm hạnh dễ làm viết : ‘Đường thực hành của Bồ Tát có hạnh khó làm như người đi bộ vất vả gian nan; có hạnh dễ làm như người đi thuyền khỏe thân mà mau đến. Năng lực bổn nguyện của Phật A Di Đà, nếu người nghe danh xưng niệm, chính mình được về nước Cực Lạc kia, như thuyền nước xuôi gặp gió thuận, ngày vượt xa ngàn dặm đâu có khó gì ! Vì thế, Phụ Vương và quyến thuộc của Đức Thích Ca Như Lai, sáu muôn họ Thích đều sanh về cõi Cực Lạc vì Phật A Di Đà và chúng sinh trong thế giới này có duyên sâu dày, nên chuyên chú một cảnh, viên thông cả ba đời là điều rất tốt vậy.

Hỏi : Chuyên chú một cảnh, viên thông ba đời là điều rất tốt, nhưng xưng niệm tự tâm mình để được vãng sanh về nước kia là dùng hữu vi hư giả như gió làm nhiều sóng, đâu chẳng tưởng bậy ở bên ngoài, mình chỉ nhiếp tâm ở bên trong làm sao hợp với ý chỉ vô vi ?

Đáp : Hữu vi tuy hư giả bỏ đi thì đạo nghiệp khó thành, vô vi tuy thật lấy đó thì tâm huệ không sáng. Trong kinh dạy : ‘Nhàm lìa công đức hữu vi là ma nghiệp, ưa đắm công đức vô vi cũng là ma nghiệp. Ông nay chán hay vui sự giao tranh đâu chẳng lạc vào hang quỷ ư ? Nếu Thánh Hiền nhiếp tâm gọi là nội, Phàm phu đã tưởng gọi là ngoại, nếu cho chạy bên ngoài là loạn, trụ ở bên trong là định. Chỗ chạy loạn bên ngoài hoặc bên trong đều không phải là ý của chỗ nhiếp tâm của niệm Phật Tam Muội. Trong phần chú kinh Duy Ma Cật, Pháp Sư La Thập kể : Ở nước ngoài có một người con gái rất đẹp, thân thể như vàng ròng, có người con của một vị trưởng giả tên là Đạt Mộ Đa La dùng một ngàn lượng vàng để cưới, khi rước dâu đi ngang Tinh Xá Trúc Lâm, Bồ Tát Văn Thù ở trên đường biến thân một nữ cư sĩ, mặc bộ đồ rất quý báu sang trọng, người nữ thấy rồi lòng tham phát khởi, muốn được bộ đồ đẹp ấy. Ngài Văn Thù nói : Nếu cô muốn được bộ đồ đẹp này, cô phải phát Tâm Bồ Đề, tôi sẽ tặng cho. Người nữ hỏi thế nào là Tâm Bồ Đề ? Ngài Văn Thù trả lời : Chính là thân cô đấy ! Cô ta hỏi : đó là ý nghĩa gì ? Ngài Văn Thù đáp : Tánh Bồ Đề vốn không, thân của cô cũng không. Người con gái đời trước đã từng ở nơi Phật Ca Diếp gieo trồng nhiều căn lành, rộng tu trí huệ, nghe lời ấy rồi liền chứng được Vô Sanh Pháp Nhẫn. Được Pháp Nhẫn rồi mới biết sự ham muốn của mình là sai, liền cùng con ông trưởng giả đi vào rừng. Khi vào rừng, cô ta hiện tướng ngất xỉu mà qua đời, thời gian sau thân thể sình chương hôi thối. Con ông Trưởng giả thấy thế rất sợ, tìm đến Tinh Xá, Phật thuyết pháp cho ông cũng được Pháp Nhẫn. Người Đại Giác chưa thành, chưa rảnh rỗi việc nên gọi là nhẫn, như tự quán thật tướng của thân, quán Phật cũng vậy, nữ thân không, thân Phật cũng không, đâu có gì là. Nếu được như thế thì tất cả hữu vi là vô vi, tất cả trong ngoài không phải trong ngoài. Vì thế, ở chỗ có mà chưa từng có, có mà thường không, ở chỗ không mà chưa từng không, không mà hằng có thì nào lo gì Phật có tướng tâm có niệm.

9. Đời này đời sau một niệm mười niệm

Hỏi : Đã nói về chỗ dễ làm và khó làm, quán thân là Bồ Đề ý chỉ đã rõ ràng, người sống ở đời mong manh như điện chớp, nếu để một niệm dần dà ăn năn không kịp. Người tu hành, biết tâm vô thường huống là thân, thân còn vô thường huống là vật ngoài thân. Một khi hơi thở ra không trở vào liền thuộc đời sau, gió nghiệp thổi bồng bềnh, mờ mờ không biết về đâu, dám mong chỉ cho thế nào một niệm và mười niệm vãng sanh và cái kế của đời này và đời sau thế nào ?

Đáp : Pháp môn Tịnh Độ công năng rất lớn, hàng Nhị Thừa thì lắng thần hư vô, chìm không sợ tướng, không nhớ chúng sanh, nên nói không có Tịnh Độ, nhưng Đại Thừa luôn luôn nhắc nhở. Kinh Bi Hoa dạy : Phật Di Đà xưa là một Chuyển luân vương tên là Vô Tránh Niệm có rất nhiều của báu và con cái. Nhờ có ông thiện tri thức là Bảo Hải đại thần hướng dẫn mà Ngài ở trước Phật Bảo Tạng phát Bồ Đề tâm, trang nghiêm Tịnh Độ Cực Lạc ở phương Tây, trong Kinh nói các Phật, Bồ tát, Thinh Văn đều là con cái của Ngài. Trưởng Thái Tử tên Bất Thuần là Đức Quan Thế Âm, con thứ tên Ma Ni là Đức Đại Thế Chí, con thứ tên Vương Chúng là Đức Văn Thù Sư Lợi, con thứ tên Dẫn Đồ là Đức Phổ Hiền, con thứ tên Năng Già Nô là Bồ Tát Kim Cang Trí Quang Minh, con thứ tên Vô Úy là Như Lai Liên Hoa Tôn, con thứ Am Bà La là Bồ Tát Hư Không Quang Minh, con thứ tên Hương Tý là Bồ Tát Sư Tử Hương, con thứ tên Mật Tô là Phật A Súc. Mật Tô từ khi phát tâm tu hành, thường dùng phương pháp ký số niệm Phật theo từng bước đi, nhờ đó mà mau thành chánh giác, hôm nay đã thành Phật ở nước Diệu Lạc. Chúng ta ngày nay trong lúc đi bộ ở đường cái hay dạo bước ở vườn rừng, đều nên bắt chước phương pháp niệm Phật của Ngài Mật Tô. Dù ở chốn đế đô, người qua kẻ lại, xe ngựa rộn ràng, không khí rộn rịp, ta luôn luôn nghĩ đến sinh tử là việc lớn, cần phải dụng tâm niệm Phật theo mỗi bước chân đi. Cõi đời thân người mong manh, sanh tử chỉ trong hơi thở, bất kỳ thời gian nào dù đang súc miệng, chải tóc đều cùng là bờ mé của sinh tử. Người đời phần nhiều lấy ngọc, gỗ, đá làm số châu niệm Phật, riêng tôi chỉ lấy hơi thở làm niệm châu, niệm danh hiệu Phật theo hơi thở, mỗi hơi thở là một câu, có nhiều lợi ích, không lo gì một hơi thở không trở lại liền thành đời sau. Ông nên đi đứng ngồi nằm thường dùng loại châu này để niệm Phật. Dù sắp ngủ cũng ngậm ông Phật mà ngủ, thức dậy lại tiếp tục. Chắc chắn ở trong mộng được thấy Phật A Di Đà, như người cọ lửa vừa thấy khói sanh lửa liền cháy sáng. Nếu trong mộng mà vẫn thực hành được pháp tu này thì Niệm Phật Tam Muội liền thành, tạng mặt gặp Phật A Di Đà, xin Ngài thọ ký, chắc được kết quả, ông hãy gắng đó.

Hỏi : Một niệm, mười niệm vãng sanh Tịnh Độ lấy cái nào làm chánh?

Đáp : Một niệm vãng sanh vào địa vị bất thối làm chánh. Như Phật dạy: Chê Phật, hủy kinh, đánh tăng, làm nhục bực tôn túc, thuộc về tội ngũ nghịch, tứ trọng đều do một niệm mà thành, bị đọa vào địa ngục nhanh như tên bắn. Hôm nay người niệm Phật sanh Tịnh Độ là nhất niệm thiện nghiệp thành tựu, được về Cực Lạc nhanh như khảy móng tay. Một niệm trước năm ấm diệt một niệm sau năm ấm sanh, như ấn sáp in vào bùn, ấn tan thì văn thành không có hai niệm. Ngày xưa có vị Sa Di ưa tô lạc, một niệm sanh ưa thích, sau sanh làm con trùng ở trong lạc. Vợ của ông Trưởng giả Đại Tát Bà, ngồi đối với gương sáng, soi gương tự khởi một niệm ưa thích thân mình, sau đó gió thổi chìm thuyền, bà sanh làm con trùng ở trong tử thi. Tất cả đều do một niệm mà ra. Trong kinh Vô Lượng Thọ viết: người có một niệm niệm Phật đều được vãng sanh. Quán Kinh dạy 10 niệm vì người tật bịnh yếu ớt, sức kém, tâm yếu, nên lấy 10 niệm xưng danh để giúp cho một niệm. Nếu tâm mạnh mẽ, không mê, chỉ cần một niệm cũng đủ sanh rồi không có gì lo ngại.

10. Tâm ấy là phật, tâm ấy làm Phật

Hỏi : Trong kinh có nói rõ tâm ấy là Phật, tâm ấy làm Phật. Vì sao lại xưng niệm danh hiệu của Phật A Di Đà ở phương xa, giữ tướng Cực Lạc, có phải là từ ngoài tâm mà tìm Phật không ?

Đáp : Câu hỏi của ông là dẫn từ Quán Kinh, ý chính nói rõ về niệm Phật A Di Đà, vì nhớ Phật nên Phật từ trong tưởng mà sinh ra, nên nói tâm ấy là Phật. Đâu thể trộm lấy phương pháp Quán Tưởng Phật A Di Đà mà xoay lại nói tâm mình là Phật A Di Đà. Nếu nói rằng không cần xưng niệm danh hiệu Phật A Di Đà mà tâm ấy là Phật, cũng như không tưởng ác mà tâm ấy là tâm ác. Đem so sánh thì biết. Huống nữa Đức Phật A Di Đà là Bậc Chí Tôn ở nuớc Cực Lạc. Nước Cực Lạc cách đây mười muôn ức cõi Phật, núi Tu Di đều là vật ở trong tâm nên không làm nhãn căn ta chướng ngại, hằng hà sa tướng hảo, do sức nguyện lực của Phật mà tưởng thành, khảy móng tay liền được vãng sanh, đâu cần vọng tình cõi kia xa gần.

Hỏi :Ánh sáng của Phật, ánh sáng của Ma, tự quán và tha quán, tà chánh lộn xộn mong được khai thị rõ ràng từng điểm một ?

Đáp : Y theo tưởng mà hiện gọi là tự mình quán, đó là Chánh quán. Không y theo tưởng mà hiện gọi là tha quán, cũng là Tà quán. Như ta quán tưởng Bạch hào mà bạch hào không hiện, trong lúc ấy chưa tưởng mắt xanh mà mắt xanh hiện là trái với bản tâm, huống là các tưởng khác. Ánh sáng của Phật êm dịu, không bóng và không chói mắt, ánh sáng của ma thì có bóng và chói mắt. Kinh Lăng Nghiêm dạy : Ánh sáng của Ma chiếu đến làm ta nóng xót như lửa hừng, ánh sáng của Phật mát mẻ không chói mắt. Lại nữa : Ánh sáng của Phật làm người niệm Phật thân tâm lặng lẽ thanh tịnh, ánh sáng của Ma làm người niệm Phật cảm thấy tâm bồn chồn hoảng hốt. Kinh Niết bàn dạy : ‘Trong suốt thanh tịnh là chơn giải thoát.’

Hỏi : Bậc chí nhân không có lo nghĩ, ở đây nói dùng tưởng, đâu chẳng sai lầm ư ?

Đáp : Kinh Đại Oai Đức Đà La Ni dạy : ‘Muốn vượt qua ba cõi và kiến tư hoặc cần phải phát khởi tâm muốn, Tưởng không phải là Tâm ham muốn. Đây cần kể rõ : ‘Muốn tu niệm Phật cần phải phát tâm tưởng, tưởng mà không có tưởng.’ Kinh Phương Đẳng Hiền Hộ dạy : ‘Người có ham muốn ác tưởng đến người nữ, mộng thấy người nữ, có ham muốn thiện tưởng Phật, mộng thấy Phật. Hai tưởng tuy đồng tên mà thiện và ác cách xa một trời một vực, vì thế không thể nghe nói tưởng mà sanh nhàm chán. Nếu quả nhàm chán chắc sanh về cõi trời Vô tưởng. Nếu chấp vô tưởng mà chê tưởng Phật thì vĩnh viễn rơi vào Địa ngục A Tỳ. Trong mười phương, đâu hy vọng được đến Thiên Cung! Huống nữa các cõi trời, chẳng phải là con đường giải thoát. Kinh Niết bàn dạy: ‘Người nghe trống độc, xa gần đều chết.’ Ở đây cũng như vậy, người bát không theo tưởng, xa gần đều bị đọa. Kinh dạy : Hoặc có người được sanh lên các cõi Trời, lên cao xuống thấp cuối cùng cũng bị đọa. Phàm nâng thuyền hay úp thuyền đều do nước, hoặc đứng hoặc té đều từ đất. Tưởng Vọng tức chúng sanh, tưởng Chơn tức chư Phật, lìa ngoài tưởng ra còn dùng được gì ? Kinh Ban Chu dạy : Tâm khởi tưởng là si, vô tưởng là niết bàn. Nên biết rằng người có tâm năng tưởng, tưởng Ông Phật sở tưởng hoặc lấy tưởng Phật, lấy chấp không làm vô tưởng đều thuộc về si. Hôm nay chúng ta rõ Phật từ tưởng sanh, không Phật cũng không tưởng làm gì có si. Đây chính là Quán Không Tam Muội, không có tà kiến. Phàm là bậc chí chơn, rõ chơn thể tịch tịnh, tâm thường rỗng rang như hư không, muôn pháp đều chiếu, tâm chưa từng chấp có, đấy là vô duyên của chơn trí, nên gọi là vô niệm, tục trí có duyên, tưởng niệm liền sinh. Lại nữa tưởng chẳng khác không, không chẳng khác tưởng, đó chính là Trung Đạo Đệ Nhất nghĩa đế, đây là hiển pháp thân. Không chẳng khác tưởng là tục đế, hằng sa muôn đức đều y theo tục đế, đây là hiển Báo thân. Tưởng tức không là chơn đế, phá 25 hữu, được 25 tam muội, thường không thường giáo hóa, hòa quang đồng trần, lợi vật độ sanh, đây là hiển thị Hóa thân. Như thế thì lấy Tam quán, quán tam đế, quán tam đế chứng tam Đức, thành tam Thân, cho đến 10 loại, ba pháp có chỗ nào chẳng được mà muốn bỏ cái tưởng thanh tịnh để lấy cái tưởng của vô tưởng ư. Các Kinh Lăng Nghiêm, Mật Nghiêm đều dạy : ‘Thà khởi hữu kiến như núi Tu Di, chẳng khởi cái không kiến bằng hạt cải.’ Người tin có nhân quả còn tưởng niệm Phật sanh về Tịnh độ Cực Lạc, người bát không nhơn quả, chê việc niệm Phật chắc bị đọa địa ngục A Tỳ. Than ôi ! Há chẳng sợ ư!

11. Cao tiếng niệm phật mặt hướng về tây

Hỏi : Tưởng tức vô tưởng, tôi đã nghe qua. Trong Kinh Phương Đẳng dạy : Tu vô thượng Thâm Diệu Thiền Định, phải tưởng bạch hào liên tục, gồm xưng danh hiệu Phật để cầu được thắng định, đã khế hợp rồi, tâm và Phật đều quên, là có đủ niềm tin rồi vậy. Chỉ cần mặc niệm làm suối tâm tự trong, tam muội tự đến, hà tất niệm tiếng vang làng xóm, rền khắp núi rừng, như vậy cho là đạo sao ?

Đáp : Âm thinh là việc tốt để tu hành, phàm chỗ cốt yếu để trị bịnh hôn trầm hay tán loạn, cần phải dùng tiếng, nếu tiếng không rõ, thì tâm bồng bềnh không định. Có 5 nghĩa :

1. Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc, tiếng niệm Phật cũng vậy, dùng một tiếng tận lực, tất cả phiền niệm như mây tan biến.

2. Tiếng niệm Phật vang đến đâu, tất cả ác quỷ đều xa lìa, nên làm cho Công Đức Tòng lâm ngàn năm hưng thịnh.

3. Người xưa cao tiếng niệm Phật, liền thấy tướng tốt, Phật hiện diệu tướng, hoa tán hư không.

4. Như người kéo gỗ đá, một người xướng lớn, nhiều người hòa theo chuyển vật nặng thành nhẹ, nhờ tiếng giúp mà có sức mạnh.

5. Khi hai bên giao chiến, thắng bại chưa phân, nếu có một phía dùng tiếng để khích lòng quân có thể phá cường địch, có thể dùng trống, hoặc tiếng nói để thúc dục. Người tu tam muội trước phải cao tiếng niệm Phật là chỉ, lặng lẽ tưởng bạch hào là quán, cao tiếng niệm Phật dứt được tán loạn và hôn trầm, tâm tưởng bạch hào mới được yên tịnh. Dụng công như vậy Phật chắc gia hộ vì phù hợp với ý Phật. Trong lời tựa quyển Niệm Phật Tam Muội dạy : ‘Công cao dễ tiến, niệm Phật là trước, lời niệm Phật vừa vang ra, trần lụy liền tiêu. Nếu tình trần đã tiêu thì huệ tâm liền sáng, chỗ chí diệu thoát khỏi trần lao, không do âm thinh niệm Phật thì không ai làm được’. Kinh Hoa Nghiêm dạy : ‘Thà chịu vô lượng khổ mà nghe được âm thinh Phật, còn hơn thọ tất cả vui, mà không nghe hiệu Phật.’ Vì thế, tiếng niệm Phật vừa vang, khai mở hạt giống Phật, như sấm chớp mùa xuân làm cây cỏ mọc mầm, đâu được khinh chê ư ?

Hỏi : Tịnh Độ trong 10 phương đều có Như Lai, vì sao mặt cứ hướng Tây, đâu chẳng phải là trệ chấp ư ?

Đáp : Đây là lời Phật dạy trong kinh Phương Đẳng đã nói như thế, chẳng phải là ý của các Sư. Người không thuận theo ý kinh là người chê Pháp. Người si thấy Đức Quan Âm có 11 mặt, lại vấn nạn tại sao không vẽ 12 mặt. Nếu có tượng họa 12 mặt lại vấn nạn tại sao không vẽ 11 mặt. Nếu chạy theo hý luận như thế là người si vậy. Kinh Thắng Thiên Vương dạy : ‘ Đức Như Lai có 80 cách đẹp, tùy theo công đức mà phát lộ hào quang gọi là hướng tới mà quay vào người khác. Nên biết Phật mặt thường hướng về tất cả chúng sinh, hành giả một hướng tất cả hướng đâu không có sự sai khác kia đây, phân biệt hướng tới quay lưng. Xưa Trí Giả Đại Sư từ thiếu niên xuất gia đến 60 tuổi, nằm thì chắp tay, ngồi mặt luôn luôn hướng về Tây, khi sắp vãng sanh, bảo tăng chúng đọc 48 đại nguyện chương cửu phẩm quán, hào quang sáng khắp núi, nhạc trời tấu vang, Ngài ngồi hướng mặt về Tây mà tịch. Vì thế, việc hướng mặt về Tây là việc lớn của người tu Tịnh Độ vậy.

Hỏi : Diệu môn của Tịnh Độ, đại nghĩa của ban chu như thế nào ? Nhưng gần đây, người được về An Dưỡng đã không báo cho nhau làm sao biết được chỗ đến ?

Đáp : Ban Chu là chữ Phạn, Tàu dịch là hiện tiền, ý nói tư duy chẳng dứt, Phật hiện ngay trong định. Hành giả lấy 90 ngày làm hạn kỳ đây chỉ là định kỳ trợ duyên chứ không phải nghĩa chính. Ngày xưa Pháp sư Huệ Viễn ở Lô Sơn theo Tam Tạng Phật Đà Bạt Đà La nhận pháp niệm Phật Tam Muội cùng em là Huệ Trí, Cao Tăng Huệ Vĩnh, các bậc triều hiền quý sĩ, các bậc ẩn dật trong sạch như Tôn Bính, Trương Giã, Lưu Di Dân, Lôi Thứ Tôn, Châu Thục Chi, Khuyết Công Tắc gồm chung có 123 người, làm lời minh thệ ở Lô Sơn, đều được Tam Muội, đều sanh về Tịnh Độ. Trong 123 người ấy chỉ có Ông Khuyết Công Tắc nguyện được vãng sanh sẽ trở về báo tin. Sau khi Ông Tắc viên tịch, những người bạn hữu còn lại, một đêm ở Đông Kinh, chùa Bạch Mã, vì Ông Khuyết Công Tắc mà đọc kinh truy điệu. Khi ấy ở trong điện, ngoài rừng đều trở thành màu vàng. Ở trên không có tiếng nói : ‘Tôi là Khuyết Công Tắc, cầu sanh về Cực Lạc nay đã kết quả nên trở về báo cho biết’. Nói rồi, không còn thấy nữa. Chi Đạo Lâm có làm bài tán :’ Lành thay Khuyết Công, thần thức hiển linh, hồn về Tây Vức, chứng nghiệm Đông Kinh, bồi hồi tưởng nhớ, lưu lại bóng hình, nay làm bài tán, chỉ rõ hành trình.’ Ngu Hiếu Kỉnh cũng có bài tán : ‘Lạ thay Công Tắc, thấm nhuần pháp vị, biết ta mong cầu, hiện điều tôn quý, hào quang chiếu sáng, dáng vẻ xưa nay, không bỏ hữu duyên, cho mọi người hay.’

12. Nhất tâm như mộng và tỉnh để làm sáng tỏ tam muội

Hỏi : Phật dạy : Tất cả pháp như mộng, chẳng biết người niệm Phật sanh về Tịnh độ cũng như mộng chăng ? Nếu chẳng phải như mộng thì Phật ở ngoài tâm, nếu là như mộng thì khi mộng thấy được vàng, thức rồi không có, thật hoàn toàn là giả dối, chẳng được vật gì ?

Đáp : Ý kệ là chỉ pháp của chúng sanh trong cữu giới, đó là pháp hữu vi, nên nói như mộng, còn niệm Phật là pháp xuất thế của chư Phật, nên phải nói như tỉnh (giác). Cổ nhân nói : ‘Tâm mê như mộng là chúng sinh trong chín cõi (cữu giới), Tâm ngộ như tỉnh (giác) là Pháp giới của chư Phật’. Người nằm mộng thấy được vàng là vì họ chạy theo vọng, còn niệm Phật sanh Tịnh độ là chơn nên không phải mộng. Như người tập thiên nhãn, trước tưởng ánh sáng của hạt châu lửa, tưởng mãi chẳng thôi, liền phát thiên nhãn thật, lúc đó ai nói là thiên nhãn giả. Kinh Hoa Nghiêm nói: ‘Tâm, Phật và chúng sanh, ba thứ ấy không sai khác. Tâm mê như mộng là chúng sanh trong chín cõi, tâm ngộ như tỉnh là pháp giới của chư Phật, mê ngộ đều ở trong nhất tâm, mộng và tỉnh từng không có hai vết.’ Kinh nói : Rõ vọng gốc từ chơn liền thấy Đức Lô Xá Na dù mộng là vọng cũng đâu có hại gì !

13. Niệm ba thân phật phá ba thứ chướng.

Hỏi : Phật có ba thân làm sao nhớ niệm ?

Đáp : Phật tuy có ba thân, nhưng vẫn là một : Pháp thân như mặt trăng, báo thân như ánh sáng mặt trăng, hóa thân như bóng nguyệt trong nước. Không thể nói là một, vì mặt trăng trong nước mọi thứ đều khác nhau, không thể nói là nhiều vì mặt trăng là một. Như chữ y có ba điểm, như Ma Hê có ba mắt, ngang dọc đều khác, thật không thể nghĩ bàn.

Kinh dạy : Hoặc hiện đại thân đầy khắp hư không, hoặc hiện to thân cao một trượng sáu, tất cả đều là ông Phật ở trong tâm thủy của chúng sanh. Phật còn chẳng có hình làm gì có hai. Cõi tịnh cõi uế cũng đều từ trong tâm chúng sanh mà có. Nếu muốn đem niệm ba thân Phật để phá ba chướng, xin giải rõ. Sở dĩ điều sinh ra thân Phật là từ chỉ và quán, vì chỉ quán không quân bình nên các chướng khởi ra. Người niệm Phật tu chỉ bị trầm (chìm) thì chướng hôn ám khởi lên làm chướng Hóa thân Phật, lúc ấy cần phải dùng tâm quán để sách tấn, niệm bạch hào tướng phá tướng hôn ám. Tu quán bị tâm phù, không ác nào chẳng tạo (vọng niệm phân vân) thuộc về chướng ác nghiệp, làm chướng ngại báo thân Phật, lại phải tu chỉ, ngăn tất cả ác niệm. Chư Phật có hằng hà sa công đức, trí huệ viên mãn, đối với nhân gọi là báo, phá được chướng ác nghiệp. Nếu chướng phiền não và sở tri hai bên cùng khởi, đổi dạng khác hình, muôn tướng phân vân, hai giặc lôi kéo làm chướng Pháp thân Phật, phải dùng Trung Đạo đệ nhất nghĩa không phá đó. Có kệ rằng : “Không sắc không hình tướng, không gốc không chỗ trụ, không sanh cũng không diệt, kính lễ không sở quán”. Lý của sở quán như bị gió mạnh thổi tan khói lam làm sáng tỏ pháp thân mặt nguyệt trong sạch phá bức não chướng. Tùy bệnh cho thuốc, người phải cần hiểu rõ. Ta đã hóa người, người cũng hóa vật, vật và ta đều thành sự sự vô ngại, Tam muội càng thạnh, chúng sanh vô tận, tam muội bất tuyệt.

Sáu môn ở trên là niệm hiện tại A Di Đà Phật, ý thông cả chư Phật ba đời. Rộng như trong An Lạc Tập, Thập Nghi Luận, Thích Quán Nghi Luận, Vãng sanh truyện, Pháp Bữu nghĩa luận, và Vô Thượng Thâm Diệu Thiền môn truyện có nói rõ.

III Quyển Hạ: Quyển hạ gồm có bảy môn nói về niệm thỉ giác là niệm ông Phật quá khứ, nhơn và quả đồng nhau.

14. Niệm quá khứ Phật nhân và quả đồng nhau.

Hỏi : Ông Phật sở niệm là bậc cùng huyền cực thánh, tôn hiệu là bậc Như Lai mà người năng niệm còn ở địa vị phàm phu đâu được sánh đồng với bậc chánh giác ?

Đáp : Kinh Tam Muội Hải nói : ‘ Ông Phật sở niệm như vua sư tử đã ra khỏi thai dụ cho Phật quả. Người năng niệm Phật như vua sư tử ở trong thai, dụ cho Phật tử. Nhân quả tuy khác nhưng oai thần kế tiếp Phật đâu có khác gì!’ Kinh Pháp cổ nói : Ngài Tiêu Độc Dược Vương có làm cái trống thuốc, chỉ cần đánh lên là làm cho tên độc tự nhổ ra, bình phục như cũ. Nếu nghe tên Thích Ca Mâu Ni hoặc nghe tên Phương Quảng Tỳ Kheo khởi lòng tin, có thể làm cho tên Ba độc trong thân tức khắc được nhổ ra. Phật Thích Ca là Phật quá khứ thuộc về quả. Tỳ Kheo Phương Quảng là nhân. Diệt tội đồng nhau nghĩa đó chỉ là một.

Trong Pháp Hoa Tam Muội, quyển năm có nói : ‘ Thời nhà Tùy ở núi Nam Nhạc, Hành Tư Đại Thiền Sư có người đệ tử làm huyện lệnh pháp danh Đại Thiện. Khi ấy Hoành Dương có nội xứ tên Trịnh Tăng Kiểu, không tin Phật ăn chay. Ông ta thường tập hợp săn thú. Một hôm ông vây được mười con nai mới gọi huyện lệnh lại bảo : ‘Ông thường xưng là Đại Thiện Thiền Sư, có sức Đại Từ Bi nhưng làm sao cứu dược bầy nai này ?’ Lúc ấy Huyện lệnh và một số người bên cạnh đồng thinh niệm một câu : Nam mô Đại Thiện Thiền Sư. Bất thần, bầy nai từ trong lưới, bay lên hư không mà ra khỏi. Cùng với thần lực của Đức Quán Thế Âm nào có khác gì ? Nếu không tin lời nói của thánh nhân, niệm Phật muốn tiêu ma, dứt tai họa, cũng như vàng còn ở trong khoáng không khác.

15. Vô tâm niệm Phật sự và lý đồng tu

Hỏi : Chuyên niệm một phương là niệm đủ chư Phật ba đời, đã nghe nghĩa nhiệm mầu ấy rồi. Nhưng có niệm là có sanh diệt, đâu bằng trong kinh Thắng Thiên Vương nói : Người niệm Phật cần dùng tâm vô niệm mới có kết quả tốt. Ý chỉ tu niệm Phật tam muội này có đồng với tâm vô niệm trên chăng?

Đáp : Lý của vô niệm sâu xa mầu nhiệm, nhiều người bị lạc đường, nếu không nghiên cứu tinh tường, e khó khỏi lầm lạc. Ở đây lấy lý và sự để giải thích rõ. Nói về lý là nói đến chỗ chân thật của không niệm. Nói đến có và không tức niệm nầy gốc là vô niệm. Vì sao ? Vì Phật từ niệm sanh mà tâm tức là Phật, như dao không thể cắt tự nó, ngón tay không thể sờ lấy nó. Phật không tự Phật, tâm chẳng tự tâm, thì đâu có thể ngoài Phật lập tâm, ngoài tâm lập Phật. Phật đã không thì tâm cũng không. Việc vô tâm niệm Phật nghĩa ấy đã rõ ràng. Ở đời người ta thường nói niệm Phật là có niệm, theo tôi thì niệm Phật là vô niệm không thể nào lầm được. Lại nữa niệm chính là không đâu được gọi là có niệm; chẳng phải niệm diệt cái không đâu được gọi là vô niệm; vì tánh niệm tự nó là không đâu có được sinh diệt. Lại tâm không có sở niệm được gọi là không có chỗ trụ. Người tu niệm Phật minh được tâm vô sở trụ. Tâm không chỗ niệm là từ gốc vô trụ mà ra. Người tu niệm Phật lập tất cả pháp mà tâm không có sở niệm thì niệm tức là không. Như vậy người tu niệm Phật không chính là Niệm, không trái với ý chỉ Tam muội này vì hiển minh lý Trung Đạo. Song tịch gọi là chỉ, song chiếu gọi là quán. Định Huệ, nếu không quân bình thì chẳng phải là chánh thọ, làm sao gọi là Tam Muội cho được. Ở đây nói chiếu mà thường tịch chính là tâm vô niệm, tịch mà thường chiếu là địa vị cấu kết của Tam Muội niệm Phật này. Nên Tam Muội này có thể sinh Định Thủ Lăng Nghiêm Sư Tử Hống vậy. Kinh Bồ Tát niệm Phật Tam Muội có bài kệ phá tướng :

Chơn kim sắc niệm Phật

An trụ tâm không chấp

Quán tên Phật là gì ?

Nhiếp tâm hằng tiếp nối,

Sắc vàng không Như Lai

Bốn ấm cũng như vậy

Lìa sắc không Như Lai

Tưởng sắc nên phải biết,

Đây là Phật Thế Tôn,

Chỗ tối thắng tịch tịnh.

Khéo diệt hết tất cả

Ngoại đạo, các tà kiến

Như vua rồng làm mưa,

Thấm ướt hết tất cả.

Bài kệ trên nói rõ Lục độ vạn hạnh chưa có một pháp nào không phải là niệm Phật Tam Muội.

Hỏi : Lý môn đã giải thích, nguyện chỉ bày sự môn, làm cho người học đời sau được chân thật vô niệm, thực hành bát nhã ba la mật, mở cửa thiền định thậm thâm của vô tướng Đại thừa, đâu chẳng lợi ích ư ?

Đáp : Lý và sự lợi ích như nhau. Trước đã nói lý của sự rồi giờ đây nói sự của lý. Kinh Đại Phẩm nói : ‘Phật vì những người căn độn nên nói các pháp vốn không tịch, do đó họ sinh ra kiến chấp. Vì người căn lợi nói chư Phật tướng hảo như sen không dính bùn. Ông Tu Bồ Đề là hàng Tiểu Thừa hiểu Không thứ nhất ở Hội Pháp Hoa được thọ ký hiệu Danh Tướng Như Lai; vì Ngài Tu Bồ Đề hiểu không mà còn hiểu bất không. Nếu ngũ trần là không thì đâu có hiệu là Danh Tướng và được Phật thọ ký. Phàm Phật sinh từ tâm nên Pháp Ban Chu từ vô niệm mà đến, cảnh Phật hiện tiền, Hạnh Bất Khinh trong Pháp Hoa do thấy tứ chúng mà khởi tưởng là Phật nên mau thành tựu Pháp thân. Tâm vô niệm là dứt các loạn tưởng, nếu người niệm Phật chỉ khéo tưởng một vị Phật cũng được gọi là vô niệm vì dứt các loạn tưởng. Kinh Văn Thù Bát Nhã nói : ‘Như người học bắn, tập lâu thì giỏi, sau đó dù vô tâm tên bắn ra đều trúng mục tiêu. Nếu người tu Nhất Hạnh Tam Muội, tùy theo phương nào Phật ở, nhất tâm hướng về, chuyên xưng danh hiệu, mỗi niệm tương tục, liền ở trong lúc niệm thấy chư Phật trong ba đời. Vì thế, Kinh Phương Đẳng nói : ‘Cố gắng niệm Phật, đừng cho thôi dứt, Phật sẽ hiện ra.’ Kinh Tọa Thiền Tam Muội nói : ‘Bồ tát tọa thiền không niệm tất cả, chỉ niệm một Phật, trước niệm sắc thân vàng ánh, kế niệm Phật thân cao lớn, cho đến các công đức pháp thân đều cũng niệm như vậy’. Nên biết không dùng chẳng niệm làm vô niệm, vì niệm tức là vô niệm. Kinh Lăng Già nói : ‘Dùng độc công độc, nay thời dùng niệm để dứt hết các niệm, khi niệm đã thuần thục, không cần toan tính mà vẫn thành tựu, không cần dùng sức. Như kiếm khách, khéo dùng kiếm, quăng cao trên không rồi dùng bao đeo ở sau lưng hứng lấy chính xác không hề sai sót. Đầu bếp thiện nghệ cắt thịt trên thớt có lót vải mỏng, không bao giờ đứt vải, người giỏi múa có thể gót chân trổi thành âm nhạc. Tất cả đều nhờ thuần thục mà nên. Khởi Tín Luận nói : Nên biết rằng tuy có nói mà không có năng nói có thể đặng, tuy niệm cũng không có năng niệm có thể đặng, gọi là tùy thuận chơn như. Nếu lìa được niệm thì gọi là được vào chơn như. Người muốn vào được vị vô niệm chỉ có Phật, vì đây là địa vị cứu kính của Diệu Giác, vì rõ được cái tính của Tâm sơ sanh. Sơ tướng này hiệu là vô niệm., chẳng phải Bồ Tát Thập địa có thể biết được. Hiện tại, mọi người đều ở địa vị thập tín, nếu không y theo Bồ tát Mã Minh từ chỗ năng thuyết mà vào vô thuyết, từ niệm mà vào vô niệm. Như người muốn xây lầu trăm từng mà không xây móng cho chắc, thì việc đổ ngả là việc dĩ nhiên ! Trong Kinh Lăng Nghiêm nói rõ niệm Phật Tam Muội : ‘Nếu tâm chúng sanh thường nhớ Phật niệm Phật, hiện tiền hay tương lai chắc được thấy Phật, cách Phật chẳng xa, không mượn phương tiện mà tự mình được tâm mở tỏ.’ Giả sử chúng sanh tâm có niệm thì cách Phật rất xa vì sao kinh nói chẳng xa, vì sao lại nói không cần mượn phương tiện mà tâm được mở tỏ. Cần phải suy nghĩ kỷ đó !

16. Liễu được cảnh giới của tâm thì vọng tưởng không sanh

Hỏi : Không liễu (hiểu rõ) tâm và duyên liền có hai thứ vọng tưởng, nay còn có ông Phật sở (bị) niệm và tâm năng niệm đâu chẳng phải là hai vọng tưởng ư ?

Đáp :Kinh Lăng Già nói : ‘Liễu tâm và cảnh giới, vọng tưởng liền chẳng sanh.’ Tâm chẳng sanh nầy là tâm xa lìa các thứ năng tướng và sở tướng. Nay người niệm Phật niệm ngàn vòng chữ vạn ở ngực Phật, và quán mắt xanh và bạch hào của Phật đều từ trong tự tâm của ta, không có Phật có thể được, duyên đã không có, tâm làm sao có được. Cái năng tướng của niệm và cái sở tướng của Phật vốn tự nó đã xa lìa, thì hai vọng tưởng trụ ở chỗ nào ? Các bậc tiên thánh trao thọ cho nhau vì biết vọng tưởng không có tánh (thực thể). Quán thật tướng Phật, quán thân Phật cũng vậy, gặp cảnh đều chơn, không tâm không Phật, lý Trung đạo bao trùm tất cả, đâu còn có ông Phật sở duyên ư? Như trên mặt có chấm mực, người xem gương ghét chấm mực, cố chùi chấm mực trên gương làm sao chùi được. Chuyện tốt xấu phải quấy ở trong tâm như vết mực soi gương, không liễu tự tâm cứ cố chùi trên gương làm sao chùi được. Phải rửa vết mực trên mặt, thì mặt gương không còn chấm mực. Như vậy hiểu được từ tâm thì muôn cảnh đều chơn. Người không biết chấp đá cho là châu báu, hiểu được tự tâm chúng sanh tức là Phật.

Tề Hướng cư sĩ viết thư đến Huệ Khả Thiền sư nói : Bóng là do hình khởi, vang theo tiếng đến, giởn bóng nhọc hình chẳng biết hình là gốc của bóng; to tiếng mà ngăn vang không biết tiếng là nguồn cội của vang. Người bỏ phiền não mà tìm Niết bàn là người lánh hình mà tìm bóng. Người lìa chúng sanh mà cầu quả Phật là người cố im tiếng mà tìm vang. Nên biết rằng mê và ngộ một đường, ngu và trí không khác. Không có danh mà làm ra cho có danh, do cái danh đó mà phải quấy sinh ra. Không có lý mà làm ra lý, do lý ấy mà có tranh luận. Nên biết huyển hóa chẳng phải chơn thì ai phải ai quấy, hư dối không thật thì cái nào có cái nào không. Nên biết được không chỗ được, mất không chỗ mất, ý ấy có đúng không ?

Huệ Khả Thiền sư dùng kệ đáp :

Nói chơn pháp nầy đúng sự thật,

Hợp lý mầu nhiệm có khác chi,

Người mê xem Ma ni là ngói gạch,

Giác rồi thấy nó chính chân châu,

Vô minh trí tuệ đều không khác,

Biết rằng muôn pháp thảy đều như,

Ông đã phá rồi hai kiến chấp,

Viết ra ý chỉ ở thư này,

Quán mình và Phật không sai khác,

Cần gì tìm kiếm nó làm chi.

Hai Thượng sĩ này, y theo Đại sư Đạt Ma đúng pháp mà dụng tâm đều là niệm Pháp thân Phật trung đạo đệ nhất nghĩa, chắc chắn không thể lìa niệm mà có vô niệm, lìa sanh mà có vô sanh, nếu lìa mà biệt lập thì rõ ràng không hiểu phiền não tức Niết Bàn, chúng sanh tức chư Phật. Đâu thể gặp ngói gạch mà coi như chân châu. Nếu lìa một không thể được thì niệm Phật là thật vô niệm, vãng sanh mà thật vô sanh nghĩa ấy rõ ràng. Nếu trời thu trong vắt, mặt nguyệt ra khỏi mây, đâu thể đồng với người ngu cố xem đầu ngón tay mà không nhìn mặt nguyệt.Thật đáng tiếc !

17. Muốn cầu Phật đạo nên cầu tâm mìmh

Hỏi : Kinh Duy Ma nói : ‘Chúng sanh muốn cầu Phật đạo nên cầu tự tâm mình’. Vì sao không cầu tự tâm lại đi cầu ông Phật ở ngoài, như thế không phải trái với ý chỉ của kinh sao ?

Đáp : Tôi thường bảo : Chẳng phải ngoài tâm có pháp, chẳng phải ngoài pháp có tâm. Thế giới Cực Lạc và Thế Tôn A Di Đà chính tự tâm ông; chẳng lìa tất cả tâm tưởng của chúng sinh, chính là ý chỉ của kinh Duy Ma vậy. Lại Tâm chúng sanh thường ở ba cảnh :

1. Ở cảnh thiện tu niệm Phật Tam Muội là điều chí thiện trong các điều thiện.

2. Ở cảnh bất thiện gọi là ba độc và các điều ác.

3. Ở cảnh vô ký thì tâm chẳng an trụ, không duyên thiện ác.

Lý tuy có ba nhưng nói cho thuận lý chỉ ở chỗ chí thiện.

Kinh nói : ‘Chấp ta là nhơ, không chấp ta là sạch’, vì không hiểu thể của Pháp tánh vốn không có xan tham, nếu ngược với Pháp tánh mà không làm việc bố thí, dù có làm việc bố thí đương nhiên chấp trụ ở chỗ thí, không thể bố thí đâu chẳng phải là nhơ sao ? Nếu người có thể hiểu rõ tùy thuận theo pháp tánh, làm việc bố thí mà không có tướng bố thí, khéo thuận ở nơi lý chẳng phải tịnh sao? Bất thiện và vô ký trái với pháp tánh không thể so sánh với việc chí thiện được. Phật bảo Thắng Thiên Vương: ‘Các bậc Đại Bồ tát học pháp Bát nhã Ba La Mật, tu thiền Ba La mật, nên quán tâm mình, làm ở cảnh nào? Nếu là cảnh thiện thời khuyên gắng tu tập, thí như hoa sen không chút bụi nhơ, nếu là pháp bất thiện thì không được tạm trụ. Như thế, lý thuận là phải hành thiện tâm, ở với cảnh thiện, rõ ràng niệm Phật là giải thoát ở trong tâm. Nếu không tu theo pháp giải thoát nầy thì gọi là mê, phải trầm luân vô số kiếp. Người ngộ thì chứng đạo dễ như trở bàn tay, phương pháp tập thiền cũng như gương sáng, người thực hành hợp lý sẽ được viên mãn. Vì thế, Như Lai xét các Tam Muội chỉ có niệm Phật Tam Muội là vua trong các pháp Thiền. Ngoài ra thiền có đối đải đều thuộc về phàm phu định. Nhưng Tam Muội Bảo Vương không trụ ở tướng tôn ti, tà chánh, sinh tử Niết bàn, phiền não bồ đề, tịnh loạn, cho đến việc thành chánh giác, độ chúng sanh, tọa đạo tràng đều không chỗ được. Các tướng như thế đều không thể trụ. Trung đạo còn bỏ huống hồ ở hai bên. Kinh Chư Pháp Vô Hành kệ nói :

Ví như người, ở trong mộng

Được Đạo Phật, độ chúng sanh

Đây không Đạo, không chúng sanh

Tánh Phật Pháp, cũng như vậy

Tọa đạo tràng, không chỗ được

Nếu không được, thì không có

Minh vô minh, đồng một tướng.

Biết như vậy , là Thế Tôn

Tánh chúng sanh, là Bồ Đề.

Tánh Bồ đề, là chúng sanh.

Chúng Bồ Tát, cũng không hai

Biết như thế, là Thế Tôn.

18. Dùng ba nghiệp cúng dường là tiêu biểu kính trọng.

Hỏi : Quán môn Tam Muội đã nghe được chỗ thâm diệu, còn dùng ba nghệp cúng dường, khi Phật đã viên tịch có nhiều phước bằng lúc Phật còn tại thế không ?

Đáp : Cúng dường bể pháp giới là trong muôn hạnh, người tịnh ba nghiệp đều gọi là cúng dường, nếu đứng về sự mà luận phước cũng rất nhiều, huống là dùng lý cúng dường thì phước nhiều vô lượng. Nói về lý, hành giả quán tất cả pháp hoặc thường, hoặc vô thường đều không chỗ được. Đối trước Phật tượng rộng trang nghiêm cúng dường, phước đức cũng đồng như lúc Phật còn tại thế, dùng hoa hương đầy khắp các cõi cúng dường phước nhiều vô lượng. Nên trong hội Pháp Hoa, Đức Dược Vương đốt tay cúng dường, hiến Bảo Tháp của Đức Phật Tịnh Minh, thân vàng tỏa sáng chiếu khắp 10 phương đó chính là Bồ Tát Hỉ Kiến. Người đời nay chỉ suy theo tự tâm là do tập khí xan tham, giải đãi, hoặc ở xa chỗ hoa, cây chẳng kính, trái với các nghi lễ phụng hiến là do lòng ngã mạn sâu dày mà ra. Đức Phật tuy hiện bày tướng diệt nhưng thật chẳng diệt. Như ông Đinh Lan ngày xưa, khi mẹ mất, ông lấy gỗ khắc tượng mẹ, quạt nồng ấp lạnh coi như còn sống, hiện còn ghi trong sử xanh, cho đến bây giờ người đời vẫn còn khen ngợi không dứt.

Ngày Đức Như Lai còn tại thế, thân tướng trang nghiêm vi diệu, bất cứ ai khi gặp Ngài đều phát khởi ý đạo. Đức Như Lai ẩn dấu như mặt nguyệt sau lớp mây mờ, người đời không còn thấy chơn dung, chỉ còn kinh điển để lại. Vì vậy, người đối trước hình tượng, phát khởi ý vô thượng chí thành dâng lên một cành hoa cũng là ít người, nhớ Phật vẫn thường trụ trong đời, thường phát khởi tâm thường cúng dường cũng rất khó có.

Kinh Niết Bàn nói : ‘Cho đến người chí thành dâng cúng Phật một cành hoa, chắc được sanh về Tịnh Độ Bất Động’. Như thế, cúng một nén hương, một cành hoa, một ngọn đèn, một khúc nhạc, cho đến những vật ăn uống, hết lòng dâng cúng chư Phật trong ba đời là diệu nhân sanh về Tịnh độ, là các bậc Thánh nguyên thỉ, đâu được khinh thường việc ấy. Có người cuồng ngu chấp tâm không cho rằng : hiến hoa ở trong tâm, hiến cúng đèn ở trong tâm, đốt hương ở trong tâm, lễ Phật ở trong tâm nào khác các con vượn múa mai gạt người, nói dối có cây me có nhiều trái ở đằng kia để người đi nắng đở khát. Có người còn cho rằng cứ mặc y trong tâm, ăn cơm trong tâm, làm sao no lòng ấm thân, chắc chắn sẽ bị khốn khổ triền miên. Vì vậy, cần phải dùng lục độ muôn hạnh đập tan cái tâm chấp không đó. Lời nói chỉ tâm chấp không nhiều lỗi lầm như thế, không thể không cẩn thận. Du già quán Hạnh chuyên quán cũng thường dùng sự, lấy tướng làm tiêu biểu, không chấp chỉ có tâm, thường dâng hoa hương cúng dường sáu thời không thiếu.

19. Giao báo của sự tin và bỏ của dâng hoa không tướng

Hỏi : Hoa là sự, lý ở chỗ nào ? Người tin và không tin bị quả báo thế nào ?

Đáp : Hoa là lý. Thuở xưa có vị Vương tử tên là Vô Sở Úy đem một cành hoa sen cúng dường Phật Bảo Tạng. Phật bảo : ‘Ông lấy hoa sen ấn vào hư không, nay ta tặng cho ông tên là Hư Không Ấn, tương lai sẽ thành Phật, thế giới tên Hoa, Phật hiệu là Liên Hoa Tôn. Hoa có thể ấn vào hư không thì Hoa chẳng phải là Hoa. Hoa chẳng phải là Hoa nên Hoa là Thế giới, hoa là Phật. Trong kinh Đại Phương Quảng Tổng Trì nói : ‘ Có vị Tỳ Kheo tên Tịnh Mạng, trụ trong chánh kiến đem cành hoa cúng dường Phật. Tỳ kheo Pháp Hạnh trụ trong tà kiến, đã được tứ thiền, thường cho Bát Nhã Không Tôn là thù thắng, chê Pháp sư Tịnh Mạng đem hoa cúng dường Phật. Chỉ một lời chê ấy, bị quả báo sáu muôn đời không lưỡi. Đến khi thành Phật vẫn còn bị quả báo ở trong cõi đời ngũ trược. Tỳ Kheo Pháp Hạnh kia đâu phải người nào lạ, đó chính là Đức Thích Ca mâu Ni. Phật dạy : Người ít hiểu biết ở trong pháp ta chấp vào hai kiến chấp, trọng lý không, khinh sự thật, khi mạng chung bị đọa vào địa ngục, trải qua trăm nghìn kiếp. Người muốn tu Bát Nhã Ba La Mật được Đại Bồ Đề, cần học Vua Ca Thi Ca, thực hành hạnh Bồ Tát đã bỏ thân yêu quý, bố thí đầu, mắt, tủy, não. Ngài đâu có phải là ngu si không có trí huệ mà muốn tu đầy đủ sáu pháp Ba La Mật vậy. Nếu chấp lý Không cho là phải, các việc khác cho là sai, đó là nghiệp ma. Đâu thể vọng dùng ngoan không cho là chơn không. Quả báo không lưỡi tự mình chuốc lấy. Đức Như Lai tự dẫn cái sai lầm ở tiền kiếp là muốn chúng sanh thấy xe trước ngã, xe sau phải tránh đi.

Một cành hoa như thế, tất cả hình tượng, gổ đất, lụa tre các kinh, cạo tóc Tăng Ni, trụ trì Tam Bảo, học Giới Định Huệ, chẳng luận phước điền hay không phước điền, tất cả đều phải kính trọng, đều vào trong bể pháp giới dùng ba nghiệp để cúng dường. Kinh Pháp Hoa có bài kệ :

Hoặc người trong tháp miếu,

Tượng cốt và tượng vẽ,

Dùng hoa hương màn lọng,

Kính trọng mà cúng dường,

Cho đến một tiếng nhỏ

Đều đã thành Phật Đạo.

20. Muôn thiện đồng về đều thành Tam muội

Hỏi : Người cúng dường đèn trường minh được sanh về cung trời Nhật Nguyệt, người cúng hoa, hương, màn, lọng cùng đèn không khác, quả thật được phước sanh về cõi trời, vì sao lại nói tất cả đều thành Phật ?

Đáp : Đế vương đi tuần đem theo ngàn quan, muôn xe, kẻ hạ người hầu đều mang chữ Ngự và mang Thiên Trượng. Nếu người phạm đến thiên trượng, đều có thể bị giết. Khi xe giá trở về cung, mỗi người về vị trí của mình, nếu xưng chữ Ngự cũng bị hành hình. Các quan và kẻ hầu hạ thì đồng mà mỗi thời gian trách nhiệm và tư cách khác nhau. Hoa lọng hương đèn không theo ý chỉ của Kinh Pháp Hoa thì đó là phước báu ở cung trời. Nay gặp Tam Muội Bảo Vương như người có Thiên Trượng của Vua, dù hiến một hoa đều đã thành Phật Đạo. Đây là duyên khởi từ hạt giống Phật, dĩ nhiên kết quả Phật đều đâu đó rõ ràng, như chim về núi Tu Di đều đồng một sắc, muôn sông chảy về biển cả, không kể chung các tên. Nên Kinh Đại Bảo Tích nói : ‘Ngài Văn Thù ở hội Phổ Môn, họp hết Trời rồng, tám bộ, địa ngục, súc sanh, sắc thanh hương v..v.. Tất cả pháp đều thành Tam Muội, cũng như sợi lông chứa bể cả, hột cải chứa hết núi Tu Di. Đâu phải do thần lực của lông và hạt cải mà do tánh lực của chánh nhân. Nên biết, thấy bằng mắt, đi bằng chân, thấy ngay thì đi ngay, thấy vạy thì đi vạy, chỗ sâu cạn của ma và Phật đều căn cứ vào chỗ thấy biết. Một hạnh đã như vậy, muôn hạnh cũng thế.

Pháp Hoa Tam Muội tức Niệm Phật Tam Muội, Đức Như Lai gọi là Thắng Định, vì Tam muội Bảo Vương là quang minh tạng, là châu trừ tội, là đèn soi tà kiến, là người dẫn đường cho kẻ mê, là ấn vàng của Vương Tử, là kho báu của người nghèo, là Không Tam Muội, là Thánh Tam Muội, là Đà La Ni, là chân tư duy, là quán tối thắng, là quán pháp Tam Muội tiêu ác nghiệp …. Nên biết giáo, lý, hành, quả và tám muôn bốn ngàn Pháp Ba La Mật, đều là tên khác của Niệm Phật Tam Muội này.

Nếu người hiểu được Tam Muội này thì hiến cúng một cành hoa là hiến cúng khắp cõi nước của Ba đời chư Phật. Niệm một vị Phật là thể thông suốt đến Phật ở vị lai, như lấy đại địa làm mục tiêu, đâu có mũi tên nào không trúng. Không được như vậy thì trái với ý chỉ của kinh Tư Ích chê trách sợ không, bỏ không, làm không, lấy không sao !

Phần lưu thông

Khách thưa : Bậc lương y đi rồi còn lưu sách quí, nhà buôn đi xa nhưng còn gởi lại vàng ròng, chỗ mầu nhiệm của các bậc Tiên Hiền bất cứ người nào cũng có phần thừa hưởng. Đệ tử dở đạo dốt học, nhưng muốn biết Tam Muội, hy vọng được nghe chỗ cao siêu thật tế. Những áo chỉ đã trình bày qua là bảo ấn của chánh pháp, động và tịch cùng chiếu, lý và sự viên dung, mỗi tâm đều chơn, chạm vật đều tăng trưởng. Một lần xưng Nam Mô, đều thành Phật Đạo, móng tay vừa khảy tốc chứng Bồ Đề, chẳng cần nhọc sức mà đạt ý chỉ Pháp Hoa, mắt lòa bị kim vàng gở sạch, ý nghĩa của 20 chương đệ tử chưa từng được nghe, rất vui mừng thấy chúng sanh nhờ đây mà rửa sạch tội cấu, được dạo chơi trên cõi bữu trang nghiêm, đâu có gì may mắn bằng. Đệ tử nguyện trong đời này, được thọ ký quả vị đề hồ, biết chư Phật trong tương lai là chúng sanh hiện tại. Đệ tử cúi đầu đảnh lễ Tháp Đa Bảo, đối với Tăng Liên Hoa, con cũng khắp quán 10 phương, niệm đủ 3 đời, hồ quỳ chắp tay nói kệ rằng :

Một lòng nhớ niệm Phật quá khứ

Cùng nhớ Thế Tôn đời vị lai

Hiện tại tất cả Điều Ngự Sư

Học hết quý Ngài lời thuyết pháp

Không có một Phật ở quá khứ

Cũng không đời nầy và đời sau

Chỉ có Thiền lớn thanh tịnh này

Phật không nói chứng hoặc hay nói.

Lời Cuối Sách

Cổ Đức thường nói : ‘Thân người khó dược, thành thị khó sanh, Phật Pháp khó nghe, Tịnh Độ khó tin, sanh tử khó thoát’. Chúng ta hôm nay đã được thân người, ở nơi nước văn minh thành thị là một điều may mắn rất to lớn. Nếu chúng ta không cầu nghe Phật, không tin pháp môn Tịnh độ thì việc muốn thoát sinh tử là một việc rất khó, vì sanh tử là một việc lớn, cơn vô thường mau chóng, một khi để mất thân người thì muôn đời khó gặp lại. Phật pháp thì rộng sâu như bể cả, hạng bạt địa phàm phu không ai có thể hiểu cùng tận, huống chi chúng sinh thời mạt pháp, nghiệp nặng chướng dày, phước mỏng huệ ít, thiện tri thức thì khó gặp mà tà ma ngoại đạo thì ra sức tung hoành. Vì thế, người muốn nghe Phật pháp, tự lực tu trì, tự mình đoạn hoặc nghiệp, chứng chơn thường, để thoát khỏi sinh tử thực vô cùng khó khăn, ít người có thể làm nỗi. May thay, Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn rộng khai tám muôn bốn ngàn pháp môn tự lực đã đặc biệt khai pháp môn Tịnh độ chuyên y cứ vào sức Phật nguyện. Hành giả không luận là đoạn bao nhiêu hoặc nghiệp, chứng bao nhiêu chơn thường, chỉ cần tin sâu, nguyện thiết dù những người tạo ác nghiệp sắp đọa địa ngục nếu đủ lòng tin nguyện chỉ cần mười niệm, nhờ nguyện lực của Phật mà thoát khỏi sinh tử xa hẳn luân hồi.

Pháp môn niệm Phật chỉ cần 10 niệm khi lâm chung là có thể vãng sanh, nhưng khi người sắp lâm chung, thân tứ đại tan rã, đau nhức như lột da xé thịt, trong lúc đau nhức cùng cực như thế muốn được 10 niệm nhất tâm thực vô cùng khó. Lại nữa, khi mạng chung có 10 chướng nạn làm hành giả không niệm Phật được:

1. Không gặp thiện tri thức, không ai khuyên niệm Phật.

2. Nghiệp khổ trói thân, không rảnh niệm Phật.

3. Trúng phong á khẩu, không thể xưng hiệu Phật.

4. Cuồng loạn mất tâm, chú tưởng khó thành.

5. Hoặc gặp nước lửa, không kịp chí thành.

6. Gặp cọp beo chụp, khong kịp nhớ Phật.

7. Gặp kẻ ác niệm, phá hoại lòng tin.

8. Ăn no quá độ, hôn mê đến chết.

9. Chiến đấu quân trận, hoảng hốt mà qua đời.

10. Té xuống vực sâu, chẳng toàn tánh mạng

Vì vậy, người muốn chắc được vãng sanh, bình thường cần phải niệm Phật cho được nhất tâm hoặc chứng Tam Muội thì khỏi 10 nạn. Dù hoàn cảnh thế nào lâm chung Phật và Thánh chúng cũng đến rước vãng sanh. Niệm Phật nhất tâm chúng tôi đã nói rõ trong Luận Trì Danh Tư Tưởng. Còn Niệm Phật Tam Muội thì chỉ có Luận Bảo Vương Tam Muội là dạy bảo rõ ràng hơn cả. Chúng tôi chân thành gởi đến quý liên hữu quyển luận vô giá, ít có, khó gặp nầy để chúng ta đồng học. đồng tu, đồng chứng Tam Muội, đồng được vãng sanh, đồng thành Phật Đạo.

Nam Mô A Di Đà Phật

PHỤ LỤC

Tiểu Sử Tác Giả

PHI –TÍCH

Phi Tích Thiền sư, khi mới xuất gia chuyên học luật nghi. Về sau, ngài cùng với Sở Kim Pháp sư nghiên cứu và tu tập giáo quán Thiên Thai.

Năm Thiên Bửu, ngài đến Kinh Sư, ngụ ở Chung Nam Sơn, soạn bộ “Niệm Phật Bửu Vương Luận” ba quyển, lưu truyền trong đời. Trong bộ đó về đoạn dạy chuyên chú niệm hiện tại Phật đại lược như thế này: Kinh Bi Hoa nói: “Mật Tô Vương tử từ lúc phát bồ đề tâm, trong khi đi, cứ mỗi bước chuyên tâm nhứt ý niệm Phật, nhờ vậy nên Vương Tử hiện nay đã thành Phật, tại Diệu Hỷ thế giới, chính là đức A Súc Bệ Phật”.

Tôi cho rằng khi đi nơi đường rộng, lúc bước trong vườn trong rừng đều phải hành đạo như Mật Tô Vương Tử. Nhẫn đến, dầu là lúc cầm hốt lên ngai, hoặc khi khua ngọc vào triều, ngựa xe rần rộ, cờ trống uy nghiêm, cũng đâu đặng chẳng dụng công tu niệm nơi thời gian ấy thay!

Phàm đã là người, chưa có ai không có hơi thở ra vào. Người khác phần đông dùng các thứ châu, ngọc, hột cây v..v.. làm chuỗi niệm, còn tôi thời dùng hơi thở làm chuỗi niệm. Niệm danh hiệu của Phật mà theo hơi thở rất có sự nương cậy vững vàng. Đâu sợ rằng một hơi thở chẳng trở vào, liền thuộc đời sau đó ư! Đi đứng nằm ngồi, tôi luôn dùng xâu chuỗi ấy, dầu cho đến lúc quá mỏi mê, tôi cũng ngậm Phật mà ngủ, vừa chợt tỉnh là nối liền lại. Rồi ở trong giấc ngủ đặng thấy Phật A Di Đà, như cọ cây ra khỏi, đó là khởi điểm của lửa. Chiêm bao thấy Phật mãi không hở liền thành tựu chánh định, tạn mặt gặp Phật được Phật thọ ký, nhất định vãng sanh muôn không sót một:

Hỏi: Như thế thời chỉ tưởng thầm mà không cần niệm ra tiếng ư?

Đáp: Có 5 nghĩa rất cần đến to tiếng niệm Phật. 1.-Nhổ cây cả gốc rễ phải nhờ tiếng thúc giục, trọn đời tinh tấn dứt sạch trăm mối lo sầu 2.-Tiếng Phật tới đâu thời nơi ấy muôn điều tai họa đều tan cả, công đức của tòng lâm sơn môn được phồn thịnh đều nhờ nơi tiếng 3.-Thánh cảnh hiện tiền, hoa trời tuôn rưới cũng do nơi tiếng 4.-Như kéo cây đá quá nặng, rập tiếng hè nhau liền đi nhẹ phơi phới 5.-Như dàn quân xông trận nhờ tiếng trống còi, binh sĩ tới lui do nơi phát lịnh.

Cứ theo các nghĩa trên đây, tưởng cùng niệm ra tiếng đồng dùng, chỉ quán song vận, rất hiệp ý của Phật, nào có ngại gì! Hoa Nghiêm nói: “Thà thọ vô lượng khổ mà đặng nghe tiếng Phật, chớ chẳng chịu hưởng những điều vui mà không được nghe danh hiệu Phật”. Vậy thời tiếng Phật, vang xa thêm lớn căn lành cho muôn loài. Dường như tiếng sấm mùa xuân làm động sanh lực của cây cỏ, đâu nên xem thường.”…

Về đoạn dạy “lý sự song tu, tức sanh vô sanh”, ngài nói: “Nhiều người nói niệm Phật là hữu niệm, còn tôi cho rằng niệm Phật là vô niệm. Niệm chính là “không”, đâu được cho là “hữu”. Chẳng phải niệm diệt mới thành “không”, đâu được cho là “vô”. Thể tánh của niệm “tự không”, đâu được cho là “sanh diệt”. Lại “tâm vô sở niệm” đó là “ưng vô sở trụ”, mà “tu niệm Phật” đó là “nhi sanh kỳ tâm”. Lại “tâm vô sở niệm” đó là “tùng vô trụ bổn”, mà tu niệm Phật: đó là “lập nhứt thiết pháp”. Lại “tâm vô sở niệm” đó là “niệm tức thị không”, “mà tu niệm Phật” đó là “không tức thị niệm”(I) . Đây chính là nghĩa “song tịch song chiếu”. Chiếu mà thường tịch, đó là “vô sở niệm tâm”, tịch mà thường chiếu, đó là “mà tu niệm Phật, chánh định tịch chiếu của đức Như Lai, là vị cứu cánh của niệm Phật tam muội vậy. Cho nên niệm Phật tam muội có thể sanh Thủ Lăng Nghiêm Sư Tử Hống định.

Bài kệ phá tướng trong kinh “Bồ Tát Niệm Phật Tam Muội” nói: – Niệm thân vàng ròng của Phật, an trụ tâm không tham luyến. Gẫm pháp gì gọi là Phật? Nhiếp tâm thường quan sát luôn. Sắc vàng không phải Như Lai, bốn uẩn sau cũng như vậy. Rời sắc thời không Như Lai, người quán sắc phải nên hiểu chính đó là chỗ tịch tịnh, tối thắng nhất của Như Lai. Có thể khéo diệt tất cả những tà kiến của ngoại đạo. Như Long Vương giáng mưa lớn, tất cả loài đều được nhờ.

Trong kinh này chỉ rõ lục độ vạn hạnh, chưa có một pháp gì chẳng phải là “niệm Phật tam muội”. Trong Đạt phẩm Bát Nhã, đức Phật nói các pháp không tịch để dẫn dạy hạng độn căn vì hạng này hay sanh chấp trước. Còn với bực lợi căn đức Phật giảng tướng hảo của chư Phật, vì biết là sen chẳng nhiễm trần. Trong kinh “Tọa Thiền Tam Muội” nói: “Bồ Tát tọa thiền chẳng niệm tưởng tất cả pháp khác, chỉ niệm một đức Phật: như núi Tu Di vàng ở giữa biển rộng trong mát. Nhẫn đến công đức pháp thân của Phật cũng niệm tưởng như vậy.”

Do các đoạn kinh văn và những lý trên, mà biết rằng chẳng đặng cho không niệm là vô niệm, quán Phật thật tướng quán thân cũng vậy, gặp cảnh nào cũng là chơn tánh, không tâm nào chẳng phải là Phật. Quyết định không rời niệm mà gìn vô niệm, lìa sanh mà lập vô sanh. Nếu rời niệm cùng sanh mà lập vô niệm với vô sanh, chính là bởi chẳng rõ lý “phiền não tức Bồ đề, chúng sanh tức Phật” vậy. Rời lìa là chẳng được, thời chính niệm mà là vô niệm, chính vãng sanh mà thật là vô sanh. Nghĩa đó rất rõ ràng, như đêm thu trong lặng, vầng trăng tròn sáng ra khỏi lùm mây!

Năm Vĩnh Thới nhà Đường, Thiền sư từng được triều đình thỉnh giữ chức “Chứng Nghĩa Chánh Viện” trong các hội dịch kinh. Như: Nhơn Vương Hộ Quốc Bát Nhã Kinh, Mật Nghiêm Kinh v..v..

Trích ở các bộ Tống Cao Tăng Truyện

Bảo Vương Tam Muội Luận

Chú thích:

(I) “Tâm vô sở niệm” thuộc lý quán, mà “tu niệm Phật” thuộc sự tu. Đem câu “tâm vô sở niệm mà tu niệm Phật” phối hiệp với câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” của kinh Kim Cang, câu “tùng vô trụ bổn lập nhứt thiết pháp của kinh Duy Ma Cật”, câu “Sắc tức thị không không tức thị sắc” của Tâm kinh.

The post LUẬN BẢO VƯƠNG TAM MUỘI appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/luan-bao-vuong-tam-muoi.html/feed 0
CHỈ CHƠN TÂM https://bachhac.net/chi-chon-tam.html https://bachhac.net/chi-chon-tam.html#respond Tue, 27 Aug 2019 08:40:32 +0000 https://bachhac.net/?p=2288 Lời đầu sách Diện mục bản lai xưa nay vốn viên tịch, vốn không có sanh diệt, vì có niệm sanh nên duyên theo đó mà sanh, theo vòng luân chuyển đưa chơn không vào chỗ có, từ niệm chuyển mà có ý thức, ý thức dùng sáu căn làm quyến thuộc để phân biệt, …

The post CHỈ CHƠN TÂM appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
chỉ chân tâm

Lời đầu sách

Diện mục bản lai xưa nay vốn viên tịch, vốn không có sanh diệt, vì có niệm sanh nên duyên theo đó mà sanh, theo vòng luân chuyển đưa chơn không vào chỗ có, từ niệm chuyển mà có ý thức, ý thức dùng sáu căn làm quyến thuộc để phân biệt, từ phân biệt biến thành chủng tử chuyển vào tâm.

Vì thế, tâm bị phủ một số niệm lự bên ngoài như bụi bám ngọc, như mây lờ trăng làm cho tánh sáng muôn đời bị che phủ. Chơn và vọng ở chung, do đó có phân chia hiền thánh. Tất cả chúng sanh, từ vô thỉ đến nay, chưa hề lìa tâm sanh diệt, do đó bị vọng tâm trói buộc. Vì thế chư Phật ra đời đều muốn mở bày chỉ cho tất cả chúng sanh hiểu được chơn tâm. Hiểu được tâm này là thấy được tánh mình vốn vắng lặng trong sáng, hằng sống với nó là bồ đề, vì tánh ấy chính nó đã không tịch, lặng lẽ, không có tướng mạo, sáng suốt, thường biết rõ.

Nhằm mục đích trên, chúng tôi lần dỡ trong Đại Tạng, tìm những tác phẩm chỉ tâm truyền tâm có giá trị, kết hợp và phiên dịch thành một tập lấy tên là “Chỉ Thẳng Chơn Tâm”. Toàn tập gồm có sáu tác phẩm. Tác phẩm đầu tiên là Chỉ Thẳng Chơn Tâm do Thiền sư Tri Nột, người Triều Tiên, đã được kết tập vào Đại Tạng. Tác phẩm thứ hai do Thiền sư Hy Vận viết ở Hồng Châu, có tên là “Truyền Tâm Pháp Yếu” và tác phẩm kế tiếp có tên là “Uyển Lăng Lục” do Thiền sư Hy Vận giảng và Tướng quốc Bùi Hưu ghi. Hai tác phẩm này chỉ cặn kẻ chơn tâm như mặt nhật giữa trưa, làm mọi người đều được thấy. Đã thấy được chơn tâm rồi, hành giả cần phải tiệm tu. Thiền tông, từ khi ngũ gia tôn phái hình thành, thường dùng công án để khai ngộ. Chúng tôi chọn tác phẩm Vô Môn Quan, vì tác phẩm này giải tường tận 48 công án then chốt, hầu giúp hành giả có thể trực nhập chơn tâm. Nhưng từ thời nhà Tống trở về sau, chư Thiền sư thấy lòng người chẳng bằng người xưa, không thể dùng tử tâm làm cực tắc, phần nhiều dùng lời dối trá không thật, lấy lời dạy của cổ đức để lòe người, cho là mình hay giỏi. Các ngài dạy cho thiền sinh tham thiền khán thoại đầu, mà gần đây có Hư Vân lão Hòa Thượng là người tham thiền đắc đạo, là bậc nanh vuốt trong tông môn, nên chúng tôi chọn tác phẩm thứ năm là Tham Thiền yếu chỉ để hành giả nào muốn tham thiền có tài liệu y cứ. Tác phẩm cuối là Tu Pháp Hoa Tam Muội do Thiên Thai Trí Giả Đại sư biên soạn, sau khi tu chưa quá 21 ngày, ngài đã chứng được Pháp Hoa Tam Muội, vô ngại biện tài. Đây là tác phẩm đã được tu chứng và nhiều hành giả đã nghiệm đúng, chúng tôi cho in vào đây, mục đích giúp cho người đọc có đủ hạnh giải tương ưng, đồng chứng vô sanh, đồng thành Phật đạo.

Hồng Nhơn cẩn bút.

Chỉ Chơn Tâm

Lời tựa

Chỉ thẳng chơn tâm là Phật với Phật trao tay, Tổ với Tổ truyền thọ, thật không có pháp nào khác. Tâm là bản nguyên của tất cả mọi người, là giác tánh của chư Phật. Tất cả muôn pháp đều ở trong nhất tâm, tám muôn bốn ngàn pháp môn cũng từ đó mà lưu xuất. Người ngộ tâm này thì phàm và thánh hợp nhau, người mê tâm này thì sanh tử không có bờ mé. Tâm theo sự mà chuyển, sự theo lý hiển bày, sự và lý dung hòa gọi là chỉ thẳng.

Có người hỏi: Chỗ diệu đạo của Tổ sư có thể biết được chăng? Người xưa nói: Đạo không thuộc biết, không thuộc không biết, biết thuộc vọng tưởng, không biết thuộc vô ký. Nếu người thật đạt đến chỗ không nghi, thì như thái hư rỗng rang, đâu có thể gắng lập phải quấy để làm gì? Lại hỏi: Nói như thế thì chư Tổ ra đời không đem lợi ích gì cho quần sanh ư? Phật và Tổ ra đời không có một pháp cho người, chỉ cần chúng sanh tự mình thấy bản tánh của chính mình. Kinh Hoa Nghiêm nói: Tất cả pháp đều là tự tánh của Tâm, thành tựu huệ thân không phải nhờ người khác mà được ngộ. Vì thế, Phật Tổ không bảo mọi người mê chấp văn tự, chỉ cần thôi dứt để thấy được tâm mình. Sở dĩ, ngài Đức Sơn những người mới nhập môn liền bị đánh, Lâm Tế nhập môn liền bị hét; ngôn ngữ như đầu lại thêm đầu, cần kiến lập làm gì! Lại hỏi: Ngày xưa Tổ Mã Minh tạo Luận Khởi Tín, Lục Tổ diễn Đàn kinh, Huỳnh Mai truyền Bát Nhã, đều là theo thứ lớp vì độ người, đâu phải không dùng phương tiện để độ ư? Trên đỉnh Diệu Cao, không có gì thương lượng, ở gộp thứ hai chư Tổ tạm dùng lời nói. Như vậy, ở gộp thứ hai có bày ra phương tiện phải không? Đúng vậy. Bởi vì đạo cả rộng sâu, chẳng co, chẳng không, chơn tâm nhiệm mầu dứt nghĩ, dứt bàn, nên người khó được vào cửa, dù có đọc năm ngàn Tạng giáo cũng ít có người hiểu rõ chơn tâm. Chỉ cần dùng một lời so sánh khéo léo, cũng giúp người có cơ duyên hiểu được. Chính vì thế, ở đây chúng tôi không tiếc “lòng mài”, cẩn thận chép vài chương, để làm nền tảng tạm cho người nhập đạo, muốn phát minh được chơn tâm.

Tri Nột kỉnh tựa.

Chỉ Chơn Tâm

1. Tin chắc có chơn tâm.

Chơn Tâm là chủ tể của sự sống, nó hằng lưu lộ ở sáu căn. Muốn nhận ra nó, bước đầu ta phải tin chắc chơn tâm hằng hữu. Dẫn một số kinh văn để chúng ta dễ dàng tin chắc. Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Tin là gốc đạo, là mẹ của các công đức, tin có thể nuôi dưỡng các căn lành, tin có thể thành tựu quả Bồ đề”. Duy Thức nói: “Tin như hạt thanh châu, có khảnăng làm nước đục hóa trong. Vì thế, muôn việc lành phát sanh, tin luôn luôn đi tiền đạo, nên trong tất cả kinh Phật đều đề “như thị ngã văn” (ta nghe như vầy) để mọi người sanh lòng tin trước nhất.

Có người hỏi: Tin ở Giáo môn khác với tin ở Tổ môn thế nào? Giáo môn và Tổ môn dạy nhiều chỗ chẳng đồng: Giáo môn dạy người tin nhơn quả, ưa phước lạc, tin mười thiện là diệu nhơn mà cũng là lạc quả của nhơn thiên. Nếu có vui không tịch, tin sanh diệt, nhơn duyên là chánh nhơn, Khổ, Tập, Diệt, Đạo là chánh quả. Có vui Phật quả tin ba kiếp sau đó làm đại nhơn, bồ đề, niết bàn là chánh quả. Chánh tín của Tổ môn không đồng ở trên: Không tin tất cả nhơn quả hữu vi, chỉ tin tự mình xưa nay là Phật. Tự tánh thiên chơn, mỗi người đều có đủ; Niết bàn diệu thể, mỗi cái đều tròn, không muốn nhờ ai, tự mình có đủ, vì bởi thủ xã nên chẳng thấy được! Chí Công dạy: Có không thân tướng trong thân tướng, con đường vô minh cũng chính là con đường vô sanh. Vĩnh Gia Thiền sư dạy: Thật tánh vô minh tức Phật tánh, thân thể huyễn hóa là pháp thân. Nên biết, chúng sanh xưa nay vẫn là Phật. Nếu muốn có lòng tin, chúng ta cần phải hiểu rõ, nên Vĩnh Gia Tập có câu: Tin mà không hiểu thêm lớn vô minh, hiểu mà không tin thêm lớn tà kiến. Nếu người có cả tin lẫn hiểu chắc sẽ được vào Đạo.

Có người hỏi: Người mới có lòng tin, chưa được vào đạo, có lợi ích gì? Luận Khởi Tín nói: Nếu người nghe pháp này rồi không sanh lòng sợ sệt, nên biết người đó sẽ nối tiếp giống Phật, chắc được chư Phật thọ ký cho. Nếu có người dạy tất cảchúng sanh, trong tam thiên đại thiên thế giới, thực hành trọn mười điều lành, không bằng có người ở trong một niệm chánh tư duy chơn như, công đức người ấy hơn người dạy thực hành mười điều lành trên không thể thí dụ. Kinh Bát Nhã nói: Nếu người một niệm sanh lòng tin trong sạch, Như lai đều thấy biết hết, các chúng sanh ấy được vô lượng phước đức. Muốn đi ngàn dặm, bước đầu phải đúng hướng, bước đầu đã lầm, ngàn dặm cũng lầm. Người vào nước vô vi, lòng tin ban đầu cần yếu phải đúng. Lòng tin ban đầu đã mất, muôn việc thiện đều lui. Nên Tổ sư dạy: Sai một ly xa ngàn dậm. Chính là lý này.

2. Những tên khác của chơn tâm

Đã sanh lòng tin chắc, chơn tâm sẳn trong mọi người, nhưng nó vốn không có tên và hình tướng, nên có nhiều tên khác nhau, chúng ta cần phải biết tường tận. Kinh Lăng Nghiêm phát minh được tâm này, vì nó lìa tất cả hư vọng gọi là chơn, linh minh tịch chiếu gọi là tâm, nên gọi là chơn tâm. Tâm này chỗ lập danh của Phật và Tổ không đồng nhau: Phật dạy trong Bồ Tát Giới gọi là TÂM ĐỊA vì nó sanh ra các pháp lành. Kinh Bát Nhã gọi là BỒ ĐỀ vì cùng thể giác. Kinh Hoa Nghiêm gọi là PHÁP GIỚI vì nó dung nhiếp thấu suốt. Kinh Kim Cang gọi là NHƯ LAI vì không từ đâu đến. Tâm Kinh gọi là NIẾT BÀN vì là chỗ về của tất cả Thánh. Kinh Kim Quang Minh gọi NHƯ NHƯ vì chơn thường không biến đổi. Kinh Tịnh Danh gọi PHÁP THÂN vì để báo thân và hóa thân y chỉ. Khởi Tín Luận gọi CHƠN NHƯ vì không sanh diệt. Kinh Niết Bàn gọi PHẬT TÁNH vì gốc của bathân. Kinh Viên Giác gọi TỔNG TRÌ vì lưu xuất của công đức. Kinh Thắng Phát gọi NHƯ LAI TÀNG vì ẩn chứa dụng. Kinh Liễu Nghĩa gọi VIÊN GIÁC vì phá chỗ tối, soi sáng tất cả chỗ. Do đó, Diên Thọ Thiền Sư trong Duy Tâm Quyết nói: Một pháp có ngàn tên, hợp theo duyên mà lập hiệu.

Tổ sư tuyệt cả nói năng, văn tự, tên còn không lập ra, làm gì có nhiều tên, nhưng vì chỗ ứng và cảm theo căn cơ, nên tên ấy cũng nhiều. Có lúc các Ngài gọi là TU KY vì chỉ bản tánh chúng sanh. Có lúc gọi CHÁNH NHÃN vì quan sát các cái có tướng. Có lúc gọi DIỆU TÂM vì hư linh tịch chiếu. Có lúc gọi CHỦ NHƠN ÔNG vì trách nhiệm gánh vác. Có lúc gọi là VÔ ĐỂ BÁT vì tùy chỗ mà sinh nhai. Có lúc gọi là MỘT HUYỀN CẦM vì vận ra lúc ấy. Có lúc gọi là VÔ TẬN ĐĂNG vì chiếu phá kẻ mê tình. Có lúc gọi VÔ CĂN THỌ vì gốc rễ bền bỉ. Có lúc gọi SUY MAO KIẾM vì dứt sạch căn trần. Có lúc gọi VÔ VI QUỐC vì bể lặng sóng êm. Có lúc gọi MÂU NI CHÂU vì giúp người nghèo khổ. Có lúc gọi VÔ NHU TỎA vì đóng kín sáu tình. Có khi gọi TRÂU BÙN, NGỰA GỖ, TÂM NGUYÊN, TÂM ẤN, TÂM CẢNH, TÂM NGUYỆT, TÂM CHÂU, nhiều thứ tên khác nhau không thể chép hết. Nếu người nào đạt được chơn tâm, các tên đều hiểu rõ. Mê chơn tâm, các tên đều vướng mắc. Vì thế đối với chơn tâm, cần phải hiểu rõ diệu thể của nó.

3. Diệu thể của chơn tâm

Kinh Phóng Quang Bát Nhã nói: Bát Nhã không có tướng sở hữu, không có tướng sanh diệt. Luận Đại Thừa Khởi Tín nói: Tự thể của chơn như ở tất cả phàm phu, Thinh văn, Duyên giác, Bồ tát, chư Phật, không hề có thêm hoặc bớt, không có sanh diệt, rốt ráo thường hằng, từ trước đến sau nó vẫn tự đầy đủ tất cả công đức.

Căn cứ vào kinh và luận kể trên, bản thể chơn tâm vượt khỏi nhơn quả, thông suốt xưa nay, không lập thánh phàm, không có đối đải, như bầu thái hư trùm tất cả chỗ. Thể nó mầu nhiệm, lặng lẽ (ngưng tịch), dứt hết tất cả hí luận, không sanh, không diệt, chẳng co, chẳng không, chẳng động, chẳng lai, vắng lặng (trạm nhiên) thường trụ gọi là CỰU NHẬT CHỦ NHƠN ÔNG hay OAI ÂM NA BẠN NHƠN, lại gọi KHÔNG KIẾP TIỀN TRI KỶ. Nó là một vật sáng rỡ, lặng lẽ, không có gì che ngăn, làm lấm lem. Tất cả núi sông, đất liền, cỏ cây, rừng rậm, muôn sắc muôn màu, các pháp nhiễm và tịnh đều từ trong ấy mà lưu xuất. Kinh Viên Giác dạy: Này thiện nam tử! Vô Thượng Pháp Vương có môn Đại Đà La Ni tên là Viên Giác, nó lưu xuất tất cả thứ, như Thanh tịnh Chơn như, Bồ đề, Niết bàn và Ba la Mật, có khả năng dạy bảo các Bồ tát. Khuê Phong Thiền sư dạy: Tâm vốn rỗng rang, vắng lặng, sáng chói rõ ràng, không tới không lui, rõ suốt ba mé, không ở trong, không ở ngoài, thấu suốt mười phương, không diệt không sanh, không cái gì có thể làm hại, lìa tánh lìa tướng, năm sắc ấm không thể làm mờ, nên trong Duy Tâm Quyết của ngài Vĩnh Minh nói: Tâm này là nơi tụ tập tất cả những điều mầu nhiệm và những điều linh ứng, là vua của muôn pháp, là nơi để các hàng tam thừa, ngũ tánh đều nương về, là mẹ của chư Thánh. Độc tôn, độc quý, không thể lấy gì để so sánh, chính là nguồn gốc của đại đạo, là chỗ cốt yếu của chơn pháp. Người tin có nó thì ba đời Bồ tát cùng học, vì học tâm này; ba đời chư Phật đồng chứng, vì chứng tâm này; Đại Tạng Kinh giáo đồng thể hiện, vì thể hiện tâm này; tất cả chúng sanh mê vọng trầm luân, vì mê tâm này; tất cả người tu được ngộ, cũng chỉ ngộ vào tâm này; tất cả chư Tổ truyền nhau, cũng truyền tâm này; chư Tăng khổ công tham phỏng khắp thiên hạ, cũng vì tham cứu tâm này. Đạt được tâm này, thì tất cả đầu mối đều mở tỏ, mê tâm này, thì mọi chỗ đều điên đảo, mỗi niệm đều si cuồng. Tâm này là bản thể sẳn có của tất cả chúng sanh, là căn nguyên sanh ra tất cả thế giới. Vì thế, đức Thế Tôn trên Hội Linh Thứu, đưa cành hoa sen lặng lẽ quên lời. Tổ Đạt Ma quán vách ở Thiếu Thất lặng lẽ nhiều năm không nói. Tất cả đều muốn phát minh diệu thể của tâm này. Vì thế, người muốn vào cửa Thiền, cần phải biết diệu thể và diệu dụng của nó.

4. Diệu dụng của chơn tâm

Cổ nhơn có bài kệ:

Gió đông lay cây cỏ,

Mây che tánh khởi trần.

Việc ngày nay hiểu rõ,

Xưa đã mê bao lần.

Diệu thể của chơn tâm xưa nay vốn không động, an ổn chơn thường. Từ chơn thể khởi ra diệu dụng hiện tiền, chứ không phải từ đâu mà được diệu. Nên Tổ sư có bài tụng: “Theo tâm muôn cảnh chuyển, chỗ chuyển thật u huyền. Theo dòng nhận được tánh, không vui cũng không lo”. Vì thế, việc làm của các ngài, trong tất cả thời, qua tây, lại đông, ăn cơm, đắp y, quay qua, ngoảnh lại, đều có diệu dụng của chơn tâm hiện rõ mặt. Phàm phu mê hoặc điên đảo, lúc mặc áo bị chấp trước theo mặc áo, lúc ăn cơm đắm trước theo ăn cơm, tất cả việc đều bị tướng chuyển, vì hằng ngày dùng Nó (Phật tánh) mà không biết, Nó ở trước mặt mà không hay, nếu người biết được thể tánh No, thì động, tịnh, có làm, không làm, đều không bị mê muội. Nên Tổ sư dạy: Lúc ở trong bào thai gọi là thân, lúc ở trong cõi đời gọi là người. Ở nơi mắt thì quán sát, ở nơi tai thì nghe, ở nơi mũi thì ngửi mùi thơm, ở nơi miệng thì đàm luận, ở nơi tay thì cầm giữ, ở nơi chân thì chạy đi, Nó biến hiện thì khắp cả pháp giới, thâu vào chỉ bằng hạt bụi trần. Biết được No, chính là Phật tánh, không biết được Nó, gọi là linh hồn. Vì thế, ngài Đạo Ngộ xòe quạt, ngài Thanh Chương trương cung, ngài Cu Đê chặt ngón tay, ngài Tịnh Châu đập đất, ngài Vân Nham rống như sư tử, tất cả đều muốn phát minh cái đại dụng ấy, nếu ở trong việc dùng hằng ngày không mê, tự nhiên ngang dọc không ngại.

5. Thể dụng của chơn tâm một hay khác?

Nếu nói về tướng, thì thể dụng của chơn tâm không phải một, nếu nói về tánh, thì không phải khác, nên thể và dụng của chơn tâm không phải một và không phải khác. Chúng ta thử suy nghiệm sau đây thì rõ: Diệu thể của chơn tâm không động, tuyệt các đối đải, lìa tất cả tướng, nếu người không đạt được thể tánh, chứng chơn thường, thì không thể so lường lý ấy; còn diệu dụng tùy theo duyên, ứng hợp nhiều loại, vọng lập các hư tướng, có hình trạng. Tóm lại diệu dụng có tướng, diệu thể vô tướng, nên không phải là một. Lại nữa, dụng từ thể mà phát khởi, nên dụng chẳng rời thể; thể thường phát ra dụng, nên thể chẳng rời dụng. Tóm lại thể và dụng, lý chẳng lìa nhau, nên không phải khác. Như nước lấy tánh ướt làm thể, thể nó không lay động, sóng lay động làm tướng, vì gió thổi, nhưng ngoài nước không có sóng, ngoài sóng không có nước. Tánh ướt là một, nên không phải khác. Từ đó suy ra, chúng ta có thể biết được thể và dụng của chơn tâm.

6. Chơn tâm ở chỗ mê

Thể dụng của chơn tâm, mọi người đều có, nhưng sở dĩ có kẻ thánh, người phàm không đồng, vì phàm phu chạy theo vọng tâm, nhận lầm ngoại cảnh, nên mất tánh thanh tịnh, do đó mà bị ngăn che. Sở dĩ phàm phu, chơn tâm không được hiện tiền, như bóng cây trong tối, suối nước ngầm dưới đất sâu, nó sẳn có mà không ai biết. Kinh Viên Giác nói: Này thiện nam tử! Như hạt Ma Ni bảo châu chiếu ra có năm sắc, tùy theo chỗ mà hiện, người mê thấy có châu Ma Ni kia năm mầu sắc thật, nhưng thật ra chỉ là đối cảnh hiện sắc thôi. Này thiện nam tử! Tánh Viên Giác hiện ở thân tâm, tùy loài mà có, như ở mắt thấy, tai nghe…, người mê nói Viên Giác ở trong thân tâm, nhưng không hề hay biết. Trong Kiền luận nói: Trong càn khôn và vũ trụ có một cái núi báu bí mật, núi ấy chính là nơi chơn tâm có mặt. Ngài Từ Ân nói: Pháp thân vốn có chư Phật cộng đồng, phàm phu do bị che ngăn mà không biết, phiền não chôn lấp Như Lai Tạng. Bùi Hưu nói: Suốt ngày có tánh Viên Giác, mà chưa từng sống với tánh Viên Giác, nên gọi phàm phu. Nên biết, chơn tâm tuy ở trong trần lao, mà không bị trần lao nhiễm, như ngọc trắng rơi vào bùn, nhưng sắc ngọc vẫn không thay đổi.

7. Chơn tâm dứt vọng

Chơn tâm ở trong vọng là phàm phu, làm sao dứt vọng để thành Thánh được? Cổ Đức dạy: “Vọng tâm không chỗ gá tức Bồ đề, Sanh tử và Niết bàn vốn bình đẳng.” Trong Kinh dạy: “Thân huyển của chúng sanh diệt, thì tâm huyển cũng diệt, vì tâm huyển diệt, nên trần huyển cũng diệt, vì trần huyển diệt, nên huyển diệt cũng diệt, như chùi gương hết bụi, ánh sáng hiện ra”.

Huyền Giác Thiền sư cũng nói: “Tâm là căn, pháp là trần, hai thứ cũng như vết nhơ trên kiến, khi vết nhơ hết rồi, ánh sáng mới hiện. Tâm và pháp hai cái đều quên, tánh liền thành chơn. Đó chính là bỏ vọng để thành chơn vậy. Muốn trị vọng tâm, trong Tông môn thường dùng “Vô Tâm” để trị.

Có người thắc mắc rằng, nếu nói vô tâm giống như cây cỏ, làm sao trị được vọng tâm? Thực ra vô tâm ở đây luôn luôn có tâm thể, nên gọi vô tâm, vì trong tâm không có vật nhiễm, nên gọi vô tâm, như gương không có vết nhơ, như nói chén không vì trong chén không có vật gì, chứ không phải không có chén. Nên Tổ sư nói: Ông chỉ ở trong tâm không có vật gì (không phân biệt) và không có vật gì đối với tâm, tự nhiên trong tâm rỗng sáng, vắng lặng, mầu nhiệm. Đó là tôn chỉ của Tâm. Căn cứ ý trên, chúng ta thấy không có vọng tâm gọi là vô tâm, chứ không phải không có diệu dụng của chơn tâm. Theo chư Tổ sư dạy, công phu tu tập vô tâm không đồng, nay tóm đại ý gồm có mười thứ:

a- Giác Sát: Khi công phu bình thường phải dứt niệm, đề phòng niệm khởi, nếu có một niệm vừa sanh ra, liền giác ngộ để phá, vọng niệm đã bị phá, sau khi giác ngộ, niệm sẽ chẳng còn sanh. Trong giác ngộ này, trí cũng chẳng cần dùng, vọng niệm và giác đều quên, gọi là vô tâm. Nên Tổ sư nói: “Chẳng sợ niệm khởi, chỉ lo giác chậm”. Không cần cầu chơn, chỉ cần dứt chấp, đó là công phu dứt vọng.

b- Hưu hiết (thôi dứt): Khi công phu, không nghĩ thiện, không nghĩ ác, tâm khởi liền thôi, gặp duyên liền dứt. Cổ nhơn dạy: “Không cho dính mãi tơ, mùa đông đất lạnh lẽo, như hương ở miếu hoang.” Tâm không dính mắc, liền được xa rời vọng tâm phân biệt, hoàn cảnh mặc hoàn cảnh, ta vẫn là ta, như thế mới được một phần thôi dứt.

c- Dẫn tâm tại cảnh (Mất tâm còn cảnh): Khi công phu, tất cả vọng niệm đều dứt, không cần ngoại cảnh, chỉ phải dứt từ trong tâm, vọng tâm đã dứt, cảnh có hại gì! Đó là phương pháp cổ nhơn dạy” Đạt người không đạt cảnh. Nên có câu: “Cõi ấy có cỏ quy, đầy thành chẳng người qua.” Bàng Công cũng nói: “Tự mình không tâm cùng vạn vật, lo gì vạn vật thường quấy phá.” Đó là công phu mất tâm còn cảnh, làm cho tâm dứt được vọng.

d- Dẫn cảnh tại tâm (mất cảnh còn tâm): Khi công phu, đem tất cả cảnh trong và ngoài đều quán là không tịch, chỉ còn một tâm độc lập cô phiêu. Vì thế, cổ nhơn nói:”Không cùng muôn pháp làm bạn, không còn đối với các trần.” Tâm nếu chấp cảnh, tâm liền bị vọng, nay đã không còn cảnh, vọng làm sao có? Chừng ấy chơn tâm chiếu sáng, không trở ngại đạo, tức là người xưa đạt cảnh không đạt người. Rõ ràng: “Ba ngàn kiếm khách còn đâu nữa! Chỉ Kế Trang Chu định thái bình.” Đó chính là mất cảnh còn tâm, dùng công phu này để dứt vọng.

e- Dẫn tâm dẫn cảnh (mất tâm mất cảnh): Khi công phu, trước vắng lặng ngoại cảnh, sau diệt nội tâm, nếu trong ngoài tâm và cảnh đều yên lặng, cứu cánh vọng còn do chỗ nào mà sanh. Ngài Quán Khê nói: “Mười phương không vách đổ, bốn phía cửa cũng không, sạch làu làu, đỏ chói chói.” Đó là pháp môn nhơn cảnh đều đạt của Tổ sư, nên có câu: “Mây tan nước trôi xuôi, lặng lẽ đất trời cùng một sắc.” Cũng nói: “Người trâu đều chẳng thấy, chỉ còn nguyệt trên không.” Đây chính là công phu mất tâm mất cảnh để dứt vọng.

f- Tồn tâm tồn cảnh (còn tâm còn cảnh): Khi công phu, tâm ở chỗ tâm, cảnh ở chỗ cảnh. Có khi tâm và cảnh đối nhau thì tâm không chấp giữ cảnh, cảnh không đến tâm, đều không có đối đải, tự nhiên vọng niệm không sanh, ở nơi đạo không còn gì chướng ngại. Kinh nói: “Pháp ấy ở nơi địa vị của nó, tướng của thế gian vẫn thường trụ.” Đó là pháp môn nhơn cảnh đều không đạt của Tổ sư. Nên có câu: “Một mảnh trăng soi biển, trên lầu ngắm mấy ai!” Lại nói:” Núi hoa ngàn muôn đóa, Du-Tử chẳng trở về.” Đây chính là công phu còn cảnh còn tâm diệt vọng tưởng.

g- Nội ngoại toàn thể (thể suốt trong ngoài): Khi công phu nơi núi sông, đại địa, mặt trời, mặt trăng, vật trong thân và ngoài thân, tất cả các pháp cùng thể với chơn tâm, lặng lẽ rỗng sáng, không mãy may sai khác, nên đại thiên thế giới đập thành một khối, thì chỗ nào vọng tâm có thể đến. Nên Triệu Pháp Sư nói: “Trời đất với ta cùng gốc, muôn vật với ta cùng thể.” Đây là công phu toàn thể trong và ngoài đều diệt vọng.

h- Nội ngoại toàn dụng (Dụng suốt trong ngoài): Khi công phu, đem tất cả các pháp ngoài thân, trong tâm và tất cả động tác thực hành đều quán làm diệu dụng của chơn tâm. Tất cả tâm niệm vừa sanh, đều là diệu dụng hiện tiền. Đã được tất cả đều là diệu dụng, thì vọng tâm làm sao có thể sanh, nên Huyền Giác Thiền sư dạy: “Thật tánh của vô-minh là Phật tánh, thân vô thường huyển hóa là pháp thân”. Trong Thập nhị thơ ca, Hòa Thượng Chí Công dạy: “Buổi sáng giờ dần, người cuồng trong chùa Đạo Nhân than, ngồi nằm không biết đó là đạo, chỉ cứ mê mang chịu khổ tân.” Đó là công phu toàn dụng cả trong lẫn ngoài để dứt vọng.

k- Tức thể tức dụng (Chính thể là dụng): Khi công phu, tùy hợp với chơn thể, chỉ có một vị không tịch, nhưng trong chứa linh minh thể tức là dụng. Trong linh minh chứa dụng không tịch, nên dụng tức là thể. Vỉnh Gia Tập nói: “Sáng suốt lặng lẽ, cái sáng suốt ấy không có cái quấy vọng tưởng. Lặng lẽ sáng suốt, cái lặng lẽ ấy không có lỗi vô ký. Trong cái lặng lẽ không dung nạp vô ký, trong cái sáng suốt không dung nạp vọng tưởng, như thế vọng tâm làm sao sanh.” Đó chính thể là dụng dứt vọng tưởng.

l- Thâu xuất thể dụng (rõ suốt thể và dụng): Khi công phu, không phân trong ngoài, không chia Đông Tây Nam Bắc. Bốn phương tám hướng chỉ còn là một cửa lớn giải thoát tròn sáng vắng lặng. Thể dụng không cần phân chia, phiền não không cần mãi múng, toàn thân đập thành một khối, vọng tưởng khởi từ chỗ nào? Cổ nhơn dạy: “Toàn thân không tỳ vết, trên dưới sạch tròn vo.” Đây là công phu rõ suốt thể và dụng để diệt vọng.

Mười phương pháp công phu trên đây, không cần phải dùng hết, chỉ cần thành tựu một phương pháp là có thể dứt vọng, chơn tâm hiển lộ. Người công phu, tùy theo căn cơ, đã có tập nhơn đời trước, hợp với pháp nào là có thể tu tập. Công phu này, lấy cái không công phu làm công, không phải dụng tâm lực gì cả. Pháp môn diệt vọng tâm này rất quan trọng, người tu nên cố gắng thực hành.

8. Bốn oai nghi thể hiện chơn tâm

Muốn dứt vọng, chư Tổ thường dạy tập ngồi, vì ngồi dễ thành tựu định lực, dứt vọng. Nhưng các Ngài vẫn chỉ rõ, cần phải dứt vọng trong bốn oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm, tập lâu thuần thục lúc nào cũng ở trong đại định. Luận Khởi Tính nói: “Người tu chỉ ở nơi vắng vẻ, ngồi ngay, ý chánh, không y theo hơi thở, hình sắc, nơi không, nơi đất nước gió lửa, cho đến không y theo kiến văn giác tri.

Tất cả các tướng theo niệm đều trừ sạch, vì tất cả pháp xưa nay vốn vô tướng. Mỗi niệm không sanh, mỗi niệm không diệt, cũng không được ngoài tâm mà niệm cảnh giới, sau lấy tâm trừ tâm. Tâm nếu chạy loạn, cần phải thu về trụ ở chánh niệm. Chánh niệm là chỉ có tâm, không có cảnh bên ngoài, và tâm này không có tự tướng, mỗi niệm không thể được.

Nếu từ chỗ ngồi, tới lui, đứng dậy, làm việc, ở tất cả thời gian, đều nhờ phương tiện, tùy thuận để quán sát, tập lâu thuần thục, tâm ấy sẽ an trụ. Tâm an trụ lần lần được mạnh mẽ, tùy thuận được chơn như tam muội, hàng phục hết phiền não, lòng tin tăng trưởng, mau được bất thối. Chỉ ngoại trừ người nghi hoặc, không tin Tam bảo, bài báng chánh pháp, ngã mạn, giải đải, là không thể vào chơn như tam muội. Căn cứ vào đó, bốn oai nghi thể hiện chơn tâm thật rõ ràng.

Kinh Viên Giác nói: “Trước tiên ý hành tu CHỈ của Như lai, kiên trì cấm giới, yên ở cùng chung, ngồi yên trong tịnh thất, đó là bước đầu tu tập chơn như tam muội”. Vĩnh Gia Tập nói: “Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, nói nín động tịnh thể an nhiên”, căn cứ vào đó, đủ biết tu thiền gồm bốn oai nghi. Người tu thuần thục, dù muôn Thánh đến trước mặt cũng không động, muôn loài yêu ma kêu chẳng quay đầu, huống chi đi đứng nằm ngồi, không thực hiện được công phu sao? Ở đời, người có oán hận trong lòng, mọi việc đi, đứng, nằm, ngồi, ăn cơm, uống nước, động dụng, tất cả thời gian đều không quên. Người yêu thương cũng thế, trong tâm có thể dung chứa bất cứ thời gian và hành động nào. Như thế, người công phu thực hành vô tâm, làm sao trong bốn oai nghi không thường hiện tiền, chỉ sợ lòng tin không chắc, không chịu thực hành, nếu tin bốn oai nghi, chơn như tam muội sẽ không mất.

9. Chỗ ở của chơn tâm

Dứt vọng thì chơn tâm hiện, như thế, thể dụng chơn tâm ở chỗ nào? Diệu thể chơn tâm trùm khắp tất cả chỗ. Vĩnh Gia tập nói: “Chẳng lìa đương xứ, thường vắng lặng, tìm dò biết Ông không thể thấy.” Kinh nói: “Chơn tâm là tánh hư không thường không động, trong Như Lai Tạng không có khởi và diệt”. Đại Pháp Nhãn nói:”Mỗi chỗ là đường bồ đề, mỗi đầu mối là rừng công đức”.

Đó chính là chỗ diệu thể chơn tâm đang ở. Diệu thể của chơn tâm tùy cảm tùy hiện, như tiếng vang, như hình và bóng. Pháp Đăng nói: “Xưa nay chẳng thay đổi, rõ ràng trước mặt mình, mảnh mây làm tối cốc, hạc cội cách xa trời.” Kinh Hoa Nghiêm nói: “Phật pháp ở chỗ dùng hàng ngày, chỗ đi đứng nằm ngồi, chỗ ăn cơm, uống nước, chỗ đối đáp lẫn nhau, chỗ hành động làm việc, chỗ khởi tâm động niệm.”

Thể chơn tâm trùm khắp tất cả chỗ, tất cả nơi đều có thể khởi dụng, do nhơn duyên có hoặc không hay bất định. Diệu dụng không định, tất cả đều có thể khởi dụng. Người tu tâm muốn vào bể vô vi, thoát sanh tử, đừng nhận lầm thể dụng và chỗ ở của chơn tâm.

10. Chơn tâm thoát sanh tử

Thường nghe người thấy tánh là thoát ly sanh tử, nhưng từ xưa, chư Tổ là bậc kiến tánh, đều có sanh tử và người tu thế gian đều có sanh tử, sao lại nói được thoát ly sanh tử? Sanh tử gốc nó vốn không vọng, chấp thành có. Như người đau mắt thấy trong hư không có hoa đốm, nếu người mắt không bệnh nói trong hư không không có hoa đốm, người bệnh không tin.

Nếu mắt bệnh hết rồi, hoa đốm tự diệt, mới tin hoa đốm vốn không. Khi hoa chưa diệt, tự thể nó vẫn không, vì người bệnh vọng chấp là hoa, kỳ thực nó không có thực thể. Như người vọng nhận sanh tử là có, người thoát khỏi sanh tử nói sanh tử vốn không, người kia một ngày vọng dứt sanh tử sẽ không còn, nên biết sanh tử từ xưa nay vốn không.

Khi sanh tử chưa dứt, cũng không phải thực có, vì vọng nhận sanh tử cho là có. Kinh nói: “Này thiện nam tử! Tất cả chúng danh từ vô thỉ đến nay có nhiều thứ điên đảo, cũng như người mê chạy ruổi bốn phương, thay đổi không dừng, vọng nhận bốn đại làm tướng của tự thân, bóng duyên của sáu trần làm tướng của tự tâm. Ví như người bệnh mắt thấy hoa đốm trong hư không, cho đến khi hoa đốm diệt trong hư không, cũng không thể nói có chỗ định diệt.

Vì sao? Vì nó không có chỗ sanh ra. Tất cả chúng sanh ở chỗ vô sanh, vọng chấp có sanh diệt, nên gọi luân chuyển sanh tử”. Căn cứ vào lời kinh trên, nên biết người đạt ngộ chơn tâm vốn không có sanh tử. Thể sanh tử vốn không, mà không thoát được sanh tử, vì công phu chưa đến.

Nên kinh dạy: Âm Ba Nữ hỏi Ngài Văn Thù: Biết rõ sanh tử là pháp vô sanh, thì làm gì bị sanh tử kéo lôi? Văn Thù đáp: Vì sức chưa thuần. Tân Sơn Chủ hỏi: Biết sanh tử là pháp vô sanh, thì làm sao bị sanh tử trói buộc? Tu Sơn Chủ đáp: Viết xong rồi ném bút đi, còn lấy gì để căn cứ.

Biết không sanh tử không bằng thể không sanh tử, thể không sanh tử không bằng khế hợp không sanh tử, khế hợp không sanh tử không bằng dụng không sanh tử. Người nay, thường không biết vô sanh, mong thể vô sanh, khế hợp vô sanh, dụng vô sanh vì nhận sanh tử và không tin pháp vô sanh tử.

11. Chánh và trợ của chơn tâm

Như trên nói dứt hết vọng là chơn tâm hiện tiền, khi vọng chưa dứt, phải dùng công phu vô tâm để dứt, như thế còn pháp gì để đối trị với vọng không? Có chánh và trợ không đồng. Lấy vô tâm dứt vọng làm chánh, lấy chứa nhóm các việc lành làm trợ. Như kiến sáng bị bụi bao phủ, tuy dùng năng lực của bàn tay lau chùi, nhưng cũng cần có thuốc chùi tốt thì ánh sáng mau hiện.

Bụi nhơ là phiền não, năng lực của tay là công phu vô tâm, thuốc chùi là các việc lành, kiến hiển lộ ánh sáng là chơn tâm. Luận Đại Thừa Khởi Tín nói: “Lại nữa, tín phát tâm thành tựu có ba thứ: a)Trực tâm là chánh niệm chơn như pháp. b) Thâm tâm là chứa nhóm tất cả pháp lành. c) Đại bi tâm là nhổ tất cả khổ não cho chúng sanh.” Có người hỏi: Như trên nói, pháp giới có một tướng, thể của Phật không hai, vì sao không chỉ niệm chơn như, lại muốn việc cầu học các pháp lành? Như châu đại ma ni, thể tánh vốn sáng suốt mà vẫn còn những khoáng chất làm dơ. Người tuy niệm chơn tánh, không dùng các thứ phương tiện mài dũa, trọn không thanh tịnh, vì phiền não vô lượng trùm khắp tất cả pháp; tu tất cả hạnh lành, vì chơn như thể tánh không tịch mà bị vô lượng phiền não nhuộm làm dơ. Người niệm chơn như không dùng phương tiện để huân tập, cũng không được thanh tịnh, vì cấu nhiễm khắp tất cả pháp nên cần dùng thiện hạnh để đối trị. Nếu người tu hành các pháp lành thì tự nhiên trở về chơn như. Căn cứ vào các lý luận trên, dứt vọng là chánh, tu các pháp lành là trợ. Người tu thiền phải cùng tương ưng với vô tâm, không chấp trước nhơn quả. Nếu chấp trước nhơn quả, liền lạc vào quả báo nhơn thiên, dù chứng chơn như vẫn không thoát khỏi sanh tử. Nếu cùng vô tâm tương ưng, mới thực là phương tiện chứng chơn như và là yếu thuật thoát sanh tử, phước đức vô cùng rộng lớn. Kinh Kim Cang nói: “Này Tu Bồ Đề! Bồ tát không trụ tướng bố thí, phước đức ấy không thể suy lường.” Đời nay có người tham học, vừa biết có bổn lai Phật tánh, liền tự ý vào tự tánh thiên chơn, không chịu làm việc lành, chẳng những không đạt được chơn tâm mà trở thành giải đải, đường ác còn chưa chắc thoát, mong gì thoát khỏi sanh tử luân hồi.

12. Công đức của chơn tâm.

Hữu tâm tu nhơn, chắc có công đức, vô tâm tu nhơn công đức làm sao có được? Hữu tâm tu nhơn có hữu vi quả, vô tâm tu nhơn hiển lộ tánh công đức. Vì các công đức này xưa nay vẫn đủ, nhưng do vọng tâm che lấp, nên nó không hiển lộ, nay trừ được vọng tâm, công đức sẽ hiện tiền, nên Vĩnh Gia tập nói: “Ba thân bốn trí, thể vẫn đủ, tám giải sáu thông an tâm địa.” Đây chính là trong thể chơn như đủ các công đức. Cổ nhơn cũng tụng: “Nếu người tịnh tọa trong giây lát, hơn tạo bửu tháp số hàng sa, bửu tháp rốt cuộc tan thành bụi, một niệm tịnh tâm chánh giác thành.” Nên biết công đức vô tâm lớn vô cùng so với hữu tâm. Vĩnh Liêu Hòa Thượng tham Mã Tổ: Ý chỉ của Tổ sư từ Ấn Độ sang thế nào? Bị Mã Tổ đạp ngã lăn, bỗng nhiên đại ngộ, đứng dậy múa tay cười lớn nói: “Lạ thay! Lạ thay! Trăm ngàn tam muội, vô lượng diệu nghĩa, chỉ trên đầu sợi lông, liền ngay đó biết được nguồn gốc.” Liền làm lễ mà lui. Căn cứ vào sự kiện trên, thì công đức không phải tự ngoài mà vào, vốn nó vẫn có đủ. Tứ Tổ gọi Lai Dung Thiền sư dạy: ” Trăm ngàn pháp môn đều về một tất vuông (tâm), công đức như cát sông Hằng đều ở nguồn tâm. Tất cả giới môn, định môn, huệ môn, thần thông biến hóa đều tự mình có đủ, không gì ở ngoài tâm mình.” Căn cứ vào lời Tổ sư, vô tâm công đức rất lớn. Người ham công đức sự tướng, so với công đức vô tâm thực xa một trời một vực.

13. Làm thế nào biết chơn tâm thành thục vô ngại

Người học đạo khi được chơn tâm hiện tiền, nghiệm thấy tập khí chưa trừ xong, nếu gặp xúc cảnh, có khi mất chánh niệm, như chăn trâu, tuy trâu đã điều phục, dẫn đâu tùy ý, nhưng chưa dám bỏ dây và roi, phải để tâm coi chừng từng bước, không cho trâu dẫm đạp và ăn lúa mạ người. Đợi khi trâu thuần thục, không còn hại lúa mạ nữa, mới dám lõng tay.

Đến địa vị ấy, người chăn trâu không cần roi và dây nữa, vẫn không hại lúa mạ. Người tu, sau khi được chơn tâm, cần phải dụng công nuôi dưỡng, có lực dụng lớn, mới nên lợi sanh. Nếu muốn thí nghiệm chơn tâm, nên lấy cảnh tham ái sâu đậm trong đời sống, tưởng như nó ở trước mắt, nếu từ đó khởi lòng thương ghét là tâm đạo chưa thuần thục, nếu không sanh lòng thương ghét là tâm đạo đã thuần.

Tuy vậy, việc thuần thục này cũng chưa phải là tự nhiên, không khởi thương ghét, phải nghiệm lại tâm. Nếu khi gặp cảnh thương ghét, đột nhiên khởi lòng thương ghét, nếu nghiệm nhiều lần mà tâm không khởi nữa, là tâm được vô ngại. Như trâu trắng đi đường thẳng, không hại lúa mạ. Đó là lúc công năng tu hành chơn tâm đã thành tựu.

14. Sự vô tri của Chơn Tâm

Chơn tâm và vọng tâm khi đối cảnh làm sao biết chơn vọng? Vọng tâm đối cảnh sanh ra hữu tri (có biết), biết chỗ thuận nghịch của cảnh rồi sanh lòng tham sân si. Như thế, trên cảnh mà khởi tâm độc là vọng tâm. Tổ sư nói: “Nghịch thuận tranh nhau đó là tâm bệnh.” Như thế, đối đải được và không được là vọng tâm. Chơn tâm là vô tri (không biết) mà biết, luôn luôn soi sáng, nên khác với cỏ cây, không sanh thương ghét, nên khác với vọng tâm. Đối với cảnh luôn luôn rỗng sáng, không ghét, không thương, không theo phân biệt, mà lúc nào cũng biết gọi là chơn tâm.

Triệu Thiền sư nói: Thánh tâm là triệt để mầu nhiệm, không có tướng mạo, không thể có, lúc ứng dụng di động không thể không, vì không phải có nên biết mà không biết, vì không phải không nên không biết mà biết. Đây là dùng không biết mà biết, nên không thể nói khác với tâm Thánh nhân được. Lại nữa, vọng tâm ở có chấp có, ở không chấp không, thường ở hai bên, không biết trung đạo.

Vĩnh Gia tập nói: “Bỏ vọng tâm lấy chơn lý, tâm còn lấy, bỏ thành dối trá, người nay không hiểu dùng tu hành, rõ ràng nhận giặc làm con quý.” Chơn tâm ở chỗ có không mà không rơi vào có không, thường ở nơi trung đạo. Tổ sư nói: “Không đuổi hữu duyên, đừng trụ không nhẫn, một hướng bình đẳng, tự nhiên dứt sạch.”

Triệu Thiền sư nói: “Chỗ của Thánh nhơn ơ, có mà không có, ở chỗ không mà chẳng không, tuy không chấp hữu vô mà không bỏ hữu vô, vì thế hòa ánh sáng vào chốn trần lao, khắp trùm năm nẽo, lặng lẽ mà qua lại tự do, nói không làm mà không có chỗ nào là không làm. Đây chính là Thánh nhân ứng hiện năm đường tiếp dẫn chúng sanh, tuy qua lại mà không có tướng qua lại. Vọng tâm thường nhiễm nên cùng chơn tâm không đồng.”

Chơn tâm là tâm bình thường, vọng tâm là tâm không bình thường. Tất cả mọi người chúng ta đều có tánh linh minh, lặng lẽ như hư không, trùm khắp cả chỗ, đối với tục đế, giả danh là lý tánh, đối với vọng thức, quyền hiệu là chơn tâm, dù ở tục hay chơn mảy may không khác. Chơn tâm gặp duyên không mê muội, không có một niệm lấy bỏ, gặp vật đều yên, không đuổi theo muôn cảnh, dù có ở trần cũng chẳng nhiễm, vẫn lìa đương xứ, vẫn lặng lẽ bình an, muốn tìm nó thì không thể thấy, chỉ khéo nhận ra, đó chính là chơn tâm bình thường.

Tâm chẳng bình thường vì có thánh phàm, nhiễm tịnh, cảnh có đoạn thường, lý sự, cảnh có sanh diệt, động tịnh, tới lui, cảnh có tốt xấu, thiện ác, nhân quả, luận cho kỷ có ngàn sai muôn khác. Những cảnh kể trên được gọi là cảnh không bình thường. Tâm theo cảnh chẳng bình thường mà sanh, sẽ theo cảnh không bình thường mà diệt, tâm không bình thường này, gọi là vọng tâm. Có người hỏi: Chơn tâm bình thường không có nhơn khác, tại sao Phật lại nói nhân quả báo ứng làm gì? Vọng tâm chạy đuổi theo mỗi thứ cảnh giới, không hiểu các cảnh, theo đuổi khởi ra các thứ tâm. Vì chơn tâm không chạy đuổi các thứ cảnh và không khởi các thứ tâm, nên Phật không nói một pháp. Có người hỏi: Chơn tâm bình thường không có sanh khởi sao? Chơn tâm có khi hiện diệu dụng, không phải chạy theo cảnh mà sanh, không mê muội nhơn quả.

15. Chỗ nương gá của chơn tâm

Người chưa đạt chơn tâm, do tâm mê, nên làm những nhơn thiện ác, do gây nhơn thiện, sanh về cõi thiện, do gây nhơn ác, sanh về cõi ác, theo nghiệp thọ sanh, lý đó không còn gì nghi. Nhưng người đạt chơn tâm, vọng tình đã cạn, khế chứng chơn tâm, không còn nhơn thiện ác, như thế, thần thức sẽ nương gá về chỗ nào?

Chúng ta đừng cho rằng, người có chỗ nương gá tốt hơn người không có chỗ nương gá, vì người ta quan niệm rằng: người không có chỗ nương gá, như những chàng lãng tử nổi trôi, như cô hồn không nơi nương tựa, vì vậy nên họ mới hỏi để tìm chỗ nương gá. Thực ra, người đạt tánh không phải thế, vì tất cả chúng sanh mê tánh giác, mê tình ái, nhờ kết nghiệp làm nhơn, sanh vào trong sáu nẽo, chịu quả báo thiện ác.

Như gây nhơn thiện, cao nhất chỉ được quả Trời, trừ việc thích nghi với chỗ sanh, ngoài ra không được thọ dụng thêm vật gì! Các nẽo đều như thế vì bị nghiệp lực sai sử trói buộc. Chỗ sanh thích hợp cho là vui, chỗ sanh không thích hợp cho là không vui, nơi sanh hợp với chỗ mình nương gá, nếu có vọng tình thì có vọng nhơn, nếu có vọng nhơn thì có vọng quả, có vọng quả thì phải có chỗ nương gá, có chỗ nương gá thì sanh ra tâm bỉ thử, sanh bỉ thử thì có chỗ được và không được. Người đạt chơn tâm, khế hợp với giác tánh vô sanh diệt, khởi diệu dụng vô sanh diệt. Từ thể sanh dụng, dụng tức là thể, làm sao có sanh diệt. Người đạt chơn như là chứng chơn thể, thì sanh tử nào có can hệ gì?

Như nước lấy tánh ướt làm thể, sóng làm dụng. Tánh ướt vốn không sanh diệt, sóng ở trong tánh ướt, làm sao có sanh diệt. Sóng không thể rời nước mà có, do đó, nguồn gốc của sóng vốn không sanh diệt. Vì thế, Cổ nhơn nói: ‘Tất cả người trong đại địa đều là Sa môn đắc đạo, tất cả đại địa đều là già lam, đó chính là chỗ an thân lập mạng của người ngộ đạo”.

Người đã đạt chơn tâm, bốn đường sáu nẽo đồng thời tiêu diệt, núi sông đại địa đều thật chơn tâm. Không thể lìa chơn tâm mà có chỗ nương gá được. Nếu không có vọng nhơn tam giới, chắc không có sáu nẽo vọng quả; vọng quả đã không, làm gì có chỗ nương gá, bỉ thử; bỉ thử đã không làm sao có được và không được, lúc ấy mười phương thế giới chỉ có chơn tâm, thọ dụng toàn thân không có chỗ nương gá, trong lúc thị hiện, tùy ý vãng sanh, không chỗ chướng ngại.

Nên trong truyền đăng lục, Ôn Tháo hỏi ngài Khuê Phong: Người ngộ chơn tâm, đến khi mạng chung, nương gá vào chỗ nào? Tất cả chúng sanh đều có đủ giác tánh linh minh, cùng Phật không khác, nếu ngộ tánh ấy chính là pháp thân. Pháp thân vốn vô sanh, đâu có chỗ nào để nương gá. Tánh linh minh không tối, thường biết rõ ràng, không từ đâu đến, không đi về đâu, chỉ lấy không tịch làm tự thể.

Đừng nhận lầm sắc thân làm linh tri, rồi chạy theo vọng niệm. Vọng niệm nếu khởi, ta không chạy theo, khi lâm chung, nghiệp không thể trói buộc. Tuy có trung ấm thân mà chỗ muốn đến được tự do, trên trời dưới đất, theo ý mình muốn mà đến. Đó là chơn tâm qua lại tự do, tùy ý nương gá.

The post CHỈ CHƠN TÂM appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/chi-chon-tam.html/feed 0
Niệm Phật Kính https://bachhac.net/niem-phat-kinh.html https://bachhac.net/niem-phat-kinh.html#respond Tue, 27 Aug 2019 08:35:54 +0000 https://bachhac.net/?p=2285 Lời giới thiệu Niệm Phật Tam Muội như tấm gương chiếu soi vạn tượng. Tám muôn bốn ngàn pháp môn đều là ảnh tượng, Tam thừa và Ngũ thừa từ đấy mà vào, có thể nói đây là chỗ chí yếu của Hải Tạng, là cửa mầu vào đạo, như gặp mẹ thì biết con, …

The post Niệm Phật Kính appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
niệm kính phật

Lời giới thiệu

Niệm Phật Tam Muội như tấm gương chiếu soi vạn tượng. Tám muôn bốn ngàn pháp môn đều là ảnh tượng, Tam thừa và Ngũ thừa từ đấy mà vào, có thể nói đây là chỗ chí yếu của Hải Tạng, là cửa mầu vào đạo, như gặp mẹ thì biết con, được gốc thì biết ngọn. Muốn lấy lưới, nắm được chóp lưới dở lên là toàn lưới lay động. Cầm cổ áo nhấc lên thì toàn áo đều lên. Vì thế, Kinh Hoa Nghiêm có thí dụ như dùng gân của con sư tử làm dây đàn cầm, một lần đánh lên âm thanh làm lấn áp hết các âm thanh và các dây đờn khác đều bị đứt đoạn.

Gần đây có một số người không niệm Phật A Di Đà lại khuyên Niệm Bồ Tát Quan Âm và trì Đà La Ni và Tu Thiền Định. Đây là một điều lầm lớn, vì ngoài Tây Phương không có Quan Âm Đại Sĩ nào khác. Ở Chín phẩm đến tiếp dẫn tay cầm Liên Đài hình tượng này trong Diệu Quán nói: “Tâm ấy là Phật”. Chính vì thế, Bách Trượng Thièn Sư đều khai trương Tịnh Độ, nói Pháp ngữ cho bệnh Tăng, Đại chúng đồng thinh niệm Phật, khi trà tỳ vong Tăng đều theo nghi thức Niệm Phật và nguyện vong Tăng được siêu sinh Tịnh Độ. Về Kinh điển Tịnh Độ từ Hoa Nghiêm đến Niết Bàn đều có nói đến, đây là lời dạy chánh thống của Đức Thế Tôn, người khinh chê pháp môn Tịnh Độ là chê Phật, chê Pháp, chắc tội báo không phải nhỏ.

Pháp môn Tịnh Độ là do lòng Đại bi triệt để của Đức Thế Tôn, vì thương chúng sanh thời mạt pháp, mà nói ra pháp môn ngoài tự lực còn có thêm đại nguyện lực của Đức Phật A Di Đà, nên việc làm nhỏ mà thành công cao, dùng sức ít mà công hiệu chóng. Đây là năng lực hộ niệm không thể nghĩ bàn của Chư Phật, nên được gọi là Pháp khó tin. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Lòng tin là gốc của Đạo là mẹ của các công đức, người không có lòng tin, như thuyền không lái, như ngựa không cương trôi dạt lênh đênh không biết đâu là bờ mé.” Muốn có lòng tin chắc, phải dứt hết tất cả các nghi. Chính vì thế Đại Sư Thiện Đạo và Đại Sư Đạo Cảnh trước tác quyển Niệm Phật Kính gồm 11 chương nhằm mục đích giải hết các nghi, quét sạch những mê lầm của người niệm Phật. Có thể nói đây là tấm gương soi sáng cho người niệm Phật. Trong ấy dẫn lời Phật dạy mở hết các nghi, như nhà tối nghìn năm, mặt nhật chiếu vào các nơi sáng rực, muôn dặm thủy trình chỉ cần con thuyền là đến bến. Những lời vàng ngọc đọc sẽ hiểu ngay, không cần diễn giảng. Trân trọng xin giới thiệu.

Hồng Nhơn Cẩn Bút.

Dẫn Nhập

Phàm viên thành Chánh Giác, hết bể trí dùng vô phương khắp ứng các cơ. Phá núi mê phải có đường, lời từ diễn khắp, người được nghe đạo chứng tam không, diệu nghĩa đều phân, người vào tín tâm hiểu rõ ràng tám đế. Ra đốn tiệm của 5 thừa, tiếp thánh phàm hai loại.

Người biết đạo liền đến nước Thường Lạc, người mê ý chỉ đó vĩnh viễn chìm trong cõi luân hồi. Vì thế, Đức Như Lai tùy theo căn cơ trao cho pháp tu chính yếu, chỉ thẳng Tây Phương, mở pháp môn Cực Lạc hiển bày danh hiệu của A Di Đà Phật. Vì thế, người Trời cùng chiêm ngưỡng, Phàm và Thánh đồng về, vào bến chính của Tịnh Độ, chứng con đường thẳng tắt vào Niết Bàn tánh tịnh.

Hành môn của Tịnh độ rất đơn giản mà công đức thậm thâm, từ xưa các bậc danh hiền đều y theo pháp môn Niệm Phật. Đại sư Huệ Trì, Huệ Viễn khi thọ chung báo có nghinh tiếp đầy cả hư không. Đại Sư Đạo Xước, Đạo Trân khi mạng chung nhạc trời đón tiếp về Tây Phương Cực Lạc. Hoặc nam hoặc nữ niệm Phật có thoại ứng không thể kể xiết, hoặc Tăng hoặc Ni niệm Phật Thánh chúng phóng quang tiếp dẫn lớp lớp không cùng.

Truyện ký đã ghi rõ ràng, đây không chép. Nay tấm gương soi của người niệm Phật này là chiếu sáng các vấn đề của người Niệm Phật, dứt hết các nghi. Người y theo đây tu hành chắc thoát khỏi khổ luân hồi, so sánh để dứt hết các nghi, dùng thánh giáo để minh chứng, không đâu rõ ràng bằng Kính Niệm Phật. Để người Niệm Phật hiểu rõ, tạm lập 11 chương để giải thích.

Chương Một – Khuyến Tấn Niệm Phật

Phật là Đại Sư của Tam giới, từ phụ của bốn loài, người quy tín đó thì diệt tội hằng sa, người xưng niệm đó thì được phước vô lượng. Phàm muốn niệm Phật, cần phải khởi lòng tin, nếu người không tin thì không thể thu hoạch được, cho nên trong Kinh nói: Lòng tin là bước đầu vào đạo, những hàng trí giả dùng phương chước mầu nhiệm cứu kính, trước hết cũng phải dùng lòng tin rồi sau đó mới vâng làm. Nên Kinh A Di Đà nói: “Nếu có người tin cần phải phát nguyện sanh về quốc độ kia.” Đây là lời khuyên tin của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.

Trong Kinh ấy cũng nói: “Các ông cần phải tin đây là lời khen ngợi công đức không thể nghĩ bàn của Chư Phật trong sáu phương đều khuyên tin”. Trong Kinh Pháp Hoa cũng nói: “Tùy thuận theo Kinh, năng dùng lòng tin mà được vào”. Luận Thập Trụ nói: “Nếu người gieo căn lành có lòng nghi thì hoa không nở, lòng tin thanh tịnh thì hoa liền nở liền được thấy Phật”. Thật vậy, người không có lòng tin như bánh xe không có chốt không thể đi xa. Người có lòng tin thì lời nói có lý đúng, lý đúng là đạo thành. Triệu Pháp Sư dạy: Người không có lòng tin không thể truyền. Đại Hạnh Hòa Thượng nói: “Pháp môn niệm Phật không hỏi đạo, tục, nam, nữ, sang, hèn, giàu, nghèo chỉ có đủ lòng tin là có thể vào đạo.”

Hỏi: Đã nói về lòng tin, vậy xin hỏi phải tin pháp gì?

Đáp: Người có lòng tin, y theo Kinh nói: Tin niệm Phật được sanh Tịnh Độ, tin niệm Phật chắc được diệt tội, tin niệm Phật chắc được Phật chứng, tin niệm Phật chắc được Phật gia hộ, tin niệm Phật đến khi lâm chung Phật tự đến rước. Tin niệm Phật bất cứ ai có lòng tin đều được vãng sanh, tin niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ chắc được 32 tướng tốt, tin niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ chắc được ở vị bất thối, tin niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ chắc được vui vẻ trang nghiêm, tin niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ chắc được sống lâu vô lượng, tin niệm Phật sanh Tịnh Độ cùng các Bồ Tát là bạn lữ, tin sanh về Tịnh Độ liền không rời Phật, tin sanh về Tịnh Độ hoa đài hóa sanh, tin Phật A Di Đà hiện đang thuyết pháp, tin sanh về Tịnh Độ không đọa tam đồ. Sở dĩ dạy Niệm Phật, vì căn cứ vào Quán Kinh, niệm Phật một niệm chắc diệt được trọng tội sanh tử 80 ức kiếp, lại được vi diệu công đức 80 ức kiếp, đây là chỗ sáu phương Chư Phật khuyên tin. Hòa Thượng Đại Hạnh dạy người niệm Phật, tâm chỉ tin Phật, Phật liền biết vì Phật có tha tâm thông, miệng xưng Phật, Phật nghe được vì Phật có thiên nhĩ thông, thân lễ kỉnh Phật, Phật liền thấy được vì Phật có thiên nhãn thông, đây là chỗ khuyên tin niệm Phật của Hòa Thượng Đại Hạnh.

Lòng tin cũng như người gieo hạt cây thật sâu, gốc cây chắc, nên gió thổi không động, cuối cùng có trái tốt giúp người hết đói khát. Người niệm Phật cũng như thế, chỉ cần có lòng tin sâu, được đến Tây Phương, thành Đẳng Chánh Giác, rộng giúp các nguy ách, nếu người không có lòng tin dù vào kho báu cũng chỉ tay không, chẳng được vật gì! Cho nên trong Kinh nói: “Bồ tát Thập Trụ khởi lòng tin niệm Phật, về sau dù gặp duyên ác phải tan thân mất mạng, thà phải chịu chết vẫn không mất lòng tin.” Nên Kinh Duy Ma nói: “Tin sâu bền chắc cũng như kim cương, pháp báu chiếu khắp như mưa cam lồ, nên người niệm Phật cần phải tin sâu.”

Luận Vô Thượng Thọ nói: Niệm Phật có 5 môn, vì sao gọi là năm? 1- Lễ Bái Môn là thân nghiệp chuyên lễ Phật A Di Đà. 2- Tán Thán Môn là khẩu nghiệp chuyên xưng danh hiệu Phật A Di Đà. 3- Tác Nguyện Môn là chỗ có công đức lễ niệm chỉ muốn cầu sanh về thế giới Cực Lạc. 4- Quán Sát Môn là đi đứng ngồi nằm chỉ quán sát Phật A Di Đà mau sanh Tịnh Độ. 5- Hồi Hướng Môn là chỉ công đức niệm Phật, lễ Phật chỉ nguyện sanh Tịnh Độ, mau thành Vô Thượng Bồ Đề. Đây chính là Pháp môn Niệm Phật chính yếu trong Kinh Vô Lượng Thọ.

Trong Kinh Vô Lượng Thọ cũng nói: “Người niệm Phật có 4 pháp tu hành. Vì sao gọi là 4 pháp tu? 1- Trường Thời Tu là một khi phát tâm niệm Phật liên tục thẳng đến được sanh Tịnh độ thành Phật trọn không lui sụt. 2- Cung Kính Xứ Tu là chính hướng Tây Phương chuyên tưởng không dời đổi. 3- Vô Gián Tu là chỉ chuyên Niệm Phật, không có những tạp thiện khác làm gián đoạn và cũng không có tham sân si tạp ác làm gián đoạn Niệm Phật. 4- Vô Dư Tu là không có thêm các thứ tạp thiện làm gián đoạn niệm Phật. Vì sao? Vì tạp thiện tu hành nhiều kiếp khó thành vì tự lực. Còn người niệm Phật 1 ngày đến 7 ngày liền sanh về Tịnh Độ, ở vị Bất Thối, mau thành vô thượng Bồ Đề, nương theo bản nguyện lực của Phật A Di Đà nên mau được thành tựu, nên gọi là Vô Dư Tu.

Căn cứ vào Quán Kinh khuyên người niệm Phật phẩm Thượng vãng sanh có nói: “Nếu có chúng sanh nào nguyện sanh về nước kia phải phát khởi ba thứ tâm liền được vãng sanh. Vì sao gọi là ba thứ? 1- Chí Thành Tâm: Hành giả thân nghiệp chuyên lễ Phật A Di Đà, khẩu nghiệp chuyên xưng Phật A Di Đà, ý nghiệp chuyên tin Phật A Di Đà cho đến vãng sanh Tịnh Độ thành Phật, không sanh lòng thối chuyển gọi là chí thành tâm. 2- Thâm Tâm là chân thật khởi lòng tin, chuyên niệm danh hiệu Phật, thề sanh Tịnh Độ, lấy thành Phật làm kỳ, hoàn toàn không còn khởi nghi hoặc nên gọi thâm tâm.” 3- Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm là chỗ có công đức lễ niệm chỉ nguyện vãng sanh Tịnh Độ, mau thành vô thượng Bồ Đề nên gọi là hồi hướng Phát Nguyện Tâm. Đây là pháp thượng phẩm vãng sanh.

Kinh Văn Thù Bát Nhã nói: “Không quán tướng mạo, chuyên xưng danh hiệu là thực hành Nhất hạnh Tam muội. Muốn mau được thành Phật cũng nên thực hành nhất hạnh tam muội này. Muốn đủ Nhất Thế Chủng Trí cũng nên thực hành Nhất hạnh Tam muội này. Muốn được thấy Phật cũng nên thực hành nhất hạnh tam muội này. Muốn được sanh Tịnh Độ cũng nên thực hạnh nhất hạnh tam muội này.” Đây chính Kinh Văn Thù Bát Nhã chỉ Pháp niệm Phật vãng sanh.

Kinh A Di Đà nói: “Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử thiện nữ nhơn nào nghe nói Phật A Di Đà rồi gìn giữ danh hiệu hoặc 1 ngày, hoặc 2 ngày cho đến 7 ngày một lòng không loạn, người ấy khi mạng sắp lâm chung, Phật A Di Đà cùng các thánh chúng hiện ra trước người ấy, người ấy khi lâm chung tâm không điên đảo liền được vãng sanh về cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà.” Đây là Pháp Niệm Phật vãng sanh của Kinh A Di Đà.

Hỏi: Nếu niệm Phật 1 ngày được vãng sanh về Tịnh Độ cần gì đến 7 ngày?

Đáp: Nói một ngày cho đến 7 ngày đều là chỉ thời gian lâm chung vãng sanh tịnh độ, mau thì 1 ngày, chậm thì 7 ngày đây là phương thượng phẩm vãng sanh trong Kinh A Di Đà. Trong Quán Kinh nói: “Hạ Phẩm hạ sanh hoặc có chúng sanh tạo pháp chẳng lành như ngũ nghịch, thập ác, những người ngu này, vì ác nghiệp nên phải đọa vào ác đạo, trải qua nhiếu kiếp chịu khổ vô cùng. Người này khi mạng chung gặp thiện tri thức dạy niệm danh hiệu Phật A Di Đà mười niệm trừ tội được vãng sanh. Đây là pháp vãng sanh của người bậc hạ hạ. Kinh Vô Lượng Thọ nói cho đến một niệm liền được vãng sanh Tịnh độ. Đây là Pháp vãng sanh của Bậc Hạ.

Hỏi: Như vậy là 1 niệm đến mười niệm là Bậc Hạ, còn 1 ngày đến 7 ngày là Bậc Thượng phẩm phải không?

Đáp: Phải. Một niệm đến 10 niệm là số niệm ít nên công đức cũng ít, nên sanh về Hạ Phẩm. Một ngày đến 7 ngày số niệm nhiều công đức cũng nhiều, nên sanh về Thượng Phẩm. Lại nữa, 1 niệm đến 10 niệm là chỉ người phát tâm trể, 1 ngày đến 7 ngày là chỉ người phát tâm sớm. Dù vậy, một niệm đến 10 niệm, một ngày đến 10 ngày được vãng sanh về Tịnh Độ, đồng ở vị bất thối, thẳng đến Vô Thượng Bồ Đề.

Lại nữa, người niệm Phật như tiếng khóc của con, cha mẹ nghe rồi liền mau đến cứu, đói thì cho ăn, lạnh thì cho áo ấm, đây là năng lực của cha mẹ chớ sức trẻ con không thể làm được. Người niệm Phật lại cũng như thế, chỉ cần niệm Phật, Đức Phật là Đấng Đại Bi, nghe tiếng liền đến cứu, chỗ có tội nghiệp Phật giúp diệt tội, chỗ có bệnh hoạn Phật giúp cho lành, chỗ có các chướng, Phật đều dẹp phá, cũng như cha mẹ nuôi con vậy. Kinh Pháp Hoa nói: “Tất cả chúng sanh đều là con ta, ta là cha các ông, các ông nhiều kiếp chịu khổ sở thiêu đốt, ta đều dẹp hết, dẫn ra khỏi ba cõi.” Người tu theo đạo Phật phải cần niệm Phật. Kinh Duy Ma nói: “Muốn trừ phiền não phải có chánh niệm”. Niệm Phật là chánh niệm hiện tiền.

Chương Hai – Tự Lực và Tha Lực

Hỏi: Trong luận nói: Các pháp Phật nói ra số nhiều vô lượng, xin hỏi pháp nào là tự lực, pháp nào là tha lực?

Đáp: Đức Như Lai nói có đến 8 muôn 4 ngàn pháp môn, chỉ có một pháp môn Niệm Phật là tha lực, còn tất cả các pháp môn khác nói chung là tự lực.

Hỏi: Theo Kinh giáo thì tu tự lực bao lâu được thành? Tu tha lực bao lâu được thành?

Đáp: Căn cứ vào Kinh Phật người tu tự lực từ khi mới phát tâm phải trải qua một Đại A Tăng kỳ kiếp mới đến Sơ địa. Và trải qua một Đại A Tăng kỳ kiếp mới là Bồ Tát Bát địa. Tiến lên một Đại A Tăng kỳ kiếp mới đến Bồ tát Đẳng giác, đó là đường tu và thời gian của người thực hành tự lực.

Tha lực căn cứ vào pháp môn niệm Phật, Kinh A Di Đà nói: “Mau thì 1 ngày, chậm thì 7 ngày, niệm Phật A Di Đà, vãng sanh về Tịnh độ là Bồ tát Bát địa.” Vì sao? Vì thừa bổn nguyện lực của Phật A Di Đà mà có được. Kinh A Di Đà cũng nói: “Chúng sanh nào sanh về Cực Lạc đều ở vị bất thối chuyển”. Vị bất thối chuyển này chỉ có Bồ Tát Bát Địa mới có được.

Hỏi: Trạng thái người tu tự lực và tha lực thế nào?

Đáp: Xin đem một thí dụ để biện minh. Người tu tự lực như một đứa trẻ được phong quan chức phải lên kinh đô nhận lãnh, muốn đến kinh đô phải trải qua con đường ngàn dậm mà đứa trẻ chỉ mới ba tuổi, nếu đứa trẻ tự mình đi lên kinh thì không thể nào đến được, vì tuổi quá nhỏ và yếu đuối. Các pháp môn chuyên tu tự lực lại cũng như thế, vì pháp môn này phải tu nhiều kiếp mới thành, cũng như đứa trẻ tự mình đến kinh đô không làm sao đến nơi được, nếu tự dùng sức mình để đi đến.

Người tu pháp môn tha lực cũng như đứa trẻ tuy nhỏ tuổi nhưng theo cha mẹ và sức chuyên chở của xe ngựa voi, nên không lâu đến kinh đô để nhận chức quan. Vì sao? Vì đứa trẻ này nương theo tha lực mà được. Người tu niệm Phật cũng như vậy, khi sắp lâm chung nương theo nguyện lực của Phật A Di Đà, trong một niệm sanh về Tây Phương Tịnh độ, được ở vị bất thối. Như cha mẹ đem xe voi ngựa đến chở đứa trẻ con, chẳng bao lâu đến kinh đô nhận được quan chức.

Người tu pháp tự lực như người nghèo đến làm công cho một người nghèo dùng sức rất nhiều mà được tiền rất ít. Các pháp môn tu tự lực lại cũng như thế, dùng sức rất nhiều mà công đức rất ít. Người tu tha lực như người nghèo đến giúp việc cho một vị vương gia giàu có, làm việc rất ít mà được tiền rất nhiều. Vì sao? Vì nhờ vào sự giàu có của vương gia mà trả tiền rất khá. Người niệm Phật cũng vậy, vì nhờ vào nguyện lực của Phật, nên dụng công rất ít mà công đức rất nhiều, chỉ cần 1 ngày đến 7 ngày chuyên tâm niệm Phật, mau được sanh về Tịnh độ, liền chứng quả Vô thượng Bồ Đề, giống như người làm việc cho nhà vua vậy.

Tha lực như con chim nhỏ muốn lên đỉnh núi Tu Di, nương nhờ vào cánh Đại Bàng, không bao lâu đã đến đỉnh núi được nhiều khoái lạc. Phàm phu niệm Phật lại cũng như thế, nương theo nguyện lực của Phật mà mau sanh về Tịnh Độ Tây Phương, thọ các khoái lạc. Các phương pháp tu tự lực như con chim nhỏ tự lực bay lên đỉnh núi, dù cố gắng sức trọn không thể đến được.

Người tu tự lực như sức của con tôm muốn dạo khắp đại dương thật không thể thành công, người tu tha lực như con tôm nhờ con rồng lớn mang đi chẳng bao lâu đi khắp đại hải. Người tu tha lực nhờ niệm Phật mà chúng sanh đều mau đến Tịnh độ Tây Phương. Người tu tự lực như phàm phu muốn đi quanh Tứ Bộ Châu dùng chân từng bước tiến lên dù trải qua nhiều kiếp cũng khó đến, người tu tha lực như nương theo chuyển luân thánh vương bay trên hư không, chẳng mấy chốc mà vượt qua Tứ Bộ Châu dễ dàng là nhờ vào năng lực của chuyển luân thánh vương. Người tu tha lực nương theo nguyện lực của Phật, chỉ trong một niệm liền được vãng sanh Tây Phương, chứng địa vị bất thối. Người tu tự lực như người đi trên bộ, vất vả gian lao mà khó đến. Người tu tha lực như đi trên thuyền gặp nước xuôi gió thuận, khoẻ thân mà mau đến. Người tu niệm Phật cầu vãng sanh cũng thế, dùng công ít mà mau chứng Bồ đề. Pháp môn niệm Phật ứng theo sức bổn nguyện của Phật A Di Đà nên mau chóng thành Phật, vượt hẳn các pháp môn tự lực gắp trăm ngàn vạn bội.

Chương Ba – Niệm Phật được lợi ích

Hỏi: Niệm Phật vãng sanh Tịnh độ được bao nhiêu lợi ích?

Đáp: Căn cứ vào Thiện Đạo Xà Lê Tập nói: “Pháp niệm Phật có 23 thứ lợi ích:

1- Diệt tội chướng nặng.

2- Ánh sáng nhiếp thọ.

3- Đại Sư hộ niệm.

4- Bồ Tát thầm gia hộ.

5- Chư Phật bảo hộ.

6- Tám bộ hộ vệ.

7- Công đức chứa nhóm.

8- Nghe nhiều trí huệ.

9- Không thối vị Bồ Đề.

10- Gặp đấng Đại hùng.

11- Cảm Phật đến rước.

12- Ánh sáng từ bi chạm thân.

13- Bạn thánh đồng khen.

14- Bạn thánh đồng tiếp.

15- Thần thông đi trên không.

16- Sắc thân thù thắng.

17- Sống lâu nhiều kiếp.

18- Được sanh về cõi thù thắng.

19- Mặt thấy Thánh chúng.

20- Thường nghe diệu pháp.

21- Chứng vô sanh pháp nhẫn.

22- Cúng dường 10 phương.

23- Trở về bổn quốc được Đà La Ni.

Hòa thượng Đại Hạnh nói niệm Phật có 10 thứ lợi ích:

1- Nương Phật lực.

2- Pháp dễ làm.

3- Công đức tối đa.

4- Mình người rất vui.

5- Mau được gặp Phật.

6- Chắc được bất thối.

7- Chắc được vãng sanh Cực Lạc.

8- Liền không rời Phật.

9- Thọ mạng dài lâu.

10-Cùng các bậc Thánh không khác.

Các kinh niệm Phật vãng sanh nói có 30 thứ lợi ích:

1- Diệt trừ các tội.

2- Công đức vô biên.

3- Được pháp thù thắng Chư Phật.

4- Chư Phật đồng chứng minh.

5- Chư Phật đồng hộ niệm.

6- Mười Phương Chư Phật đồng khuyên tin niệm.

7- Nếu có họa hoạn niệm Phật liền trừ.

8- Khi lâm chung lòng không điên đảo.

9- Niệm Phật một Pháp nhiếp nhiều Pháp.

10- Khi mạng chung Phật tự đến rước.

11- Dùng ít công đức mau sanh Tịnh độ.

12- Hóa sanh trong đài hoa.

13- Thân màu vàng ròng.

14- Thọ mạng dài lâu.

15- Sống lâu không chết.

16- Thân có ánh sáng.

17- Đủ 32 tướng.

18- Được 6 thứ thần thông.

19- Được vô sanh Pháp nhẫn.

20- Thường thấy Chư Phật.

21- Cùng với Bồ tát làm bạn.

22- Hương hoa, âm nhạc sáu thời cúng dường.

23- Cơm áo tự nhiên nhiều kiếp không hết.

24- Mặc dù tự do tiến đạo thẳng đến Bồ Đề.

25- Thường tươi trẻ không có tướng già.

26- Thường được khỏe mạnh không có bệnh tật.

27- Không bị đọa ba ác đạo.

28- Thọ sanh tự tại.

29- Ngày đêm sáu thời thường nghe Diệu Pháp.

30- Ở địa vị Bất Thối.

Kinh Niết Bàn nói: “Có năm trăm kẻ trộm cướp, trộm cướp các nơi. Vua Ba Tư Nặc bắt được truyền lệnh khoét mắt, chặt hết tay chân, đem liệng ngoài đồng. Trong số 500 người này có một người hướng theo Phật, nghe nói niệm Phật có thể cứu người khổ nạn, bèn kêu gọi những người đồng bọn hết lòng niệm Phật. Lúc bấy giờ các người giặc cướp đồng tâm phát nguyện niệm Phật. Họ chí tâm niệm Phật hoàn toàn hết khổ. Do đó biết rằng niệm Phật lợi ích không thể nghĩ bàn.

Kinh Nguyệt Đăng Tam Muội nói: “Chẳng phải có thân bệnh được bình phục mà tất cả bịnh khổ đau nhức, nếu chuyên tâm niệm Phật thì bịnh khổ đều tiêu trừ. Nếu bị bệnh nặng sắp chết, đau nhức bức bách không thể trị được, niệm Phật tam muội tất cả bệnh khổ đều được tiêu trừ. Nên Hòa Thượng Đại Nhật và Hòa Thượng Thiện Đạo nói: “Người bị bệnh tật niệm Phật liền được tự trừ.” Năng lực niệm Phật vô cùng to lớn, người bị bệnh khổ niệm Phật đều được lành không thể kể xiết. Gần đây có số người niệm Phật cảm được Xá lợi. Một số hạt Xá lợi vẫn còn giữ để cúng dường. Nên biết Niệm Phật lợi ích không thể nghĩ bàn.

Chương Bốn – Đã được vãng sanh nhiều ít.

Hỏi: Kinh A Di Đà nói: “Hoặc đã sanh, hoặc hiện sanh, hoặc sẽ sanh, ở trước khuyên niệm Phật vãng sanh, không biết hiện nay đã vãng sanh nhiều ít?

Đáp: Căn cứ vào kinh Tịnh Độ nói: “Ở thế giới Ta Bà đã có 67 ức Bồ Tát Bất Thối, niệm Phật A Di Đà, vãng sanh các quốc độ khác lại cũng như thế. Những người vãng sanh này nhiều vô lượng vô biên”. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tỳ kheo Đức Vân niệm Phật A Di Đà vãng sanh Tịnh Độ.” Kinh A Di Đà nói: “A Nan và Xá Lợi Phật, các Tỳ kheo trong hội, nghe Phật nói hoan hỉ tin nhận vâng làm liền được vãng sanh.” Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói: “Bà Vi Đề Hy cùng 500 thị nữ niệm Phật A Di Đà được vãng sanh về Tịnh Độ.” Chẳng phải chỉ có Bồ tát, Thanh văn vãng sanh, mà gần đây ở Bắc đô và Tây đô (Trung Quốc) có Thiền Sư Đạo Xước, Luật sư Thiện Đạo, Pháp sư Hoài Cảnh, Hòa Thượng Đại Hạnh và có hơn một trăm vị Tăng ở Pháp hội, niệm Phật A Di Đà nguyện vãng sanh Tịnh Độ. Chẳng phải chỉ có Tăng vãng sanh, mà Ni sư, bạch y nam nữ niệm Phật A Di Đà, khi lâm chung được thoại ứng vãng sanh Tịnh độ nhiều không thể kể xiết, ở Thánh Hiền Lục và Vãng Sanh Truyện có ghi rõ. Như thế, pháp môn Niệm Phật là pháp môn Chư Bồ Tát, Nhị thừa, phàm phu Tăng Tục nam nữ cùng nhau thực hành vãng sanh Cực Lạc.

Chương Năm – So lường công đức niệm Phật.

Hỏi: Kinh A Di Đà nói: “Không thể dùng ít căn lành, Phước đức, nhơn duyên được sanh về nước kia.” Không biết cái nào ít căn lành và cái nào nhiều căn lành?

Đáp: Đức Như Lai thuyết pháp nói ra 8 muôn bốn ngàn pháp môn. Trong tất cả pháp môn đều tu tạp thiện nên ít thiện căn, chỉ có một pháp môn niệm Phật là nhiều thiện căn, nhiều phước đức. Vì sao được biết? Căn cứ vào Quán Kinh nói: “Người thuộc hạ phẩm hạ sanh, chỉ cần 10 niệm thành tựu liền sanh Tịnh độ. Một tiếng niệm Phật diệt được tội trọng 80 ức kiếp sanh tử, được 80 ức kiếp vi diệu công đức, nên biết Pháp môn niệm Phật có nhiều thiện căn. Lại nữa, người tu theo các phương pháp tạp thiện, tự mình tu hành phải trải qua nhiều kiếp mới thành, còn niệm Phật tu hành, nương theo bổn nguyện lực của Phật A Di Đà, nên mau thì 1 ngày, chậm thì 7 ngày, liền sanh về cõi Tịnh Độ, ở vị Bất thối, nên kinh A Di Đà nói: “Nếu có thiện nam tử thiện nữ nhơn nào, nghe nói Phật A Di Đà, rồi gìn giữ danh hiệu hoặc 1 ngày, 2 ngày cho đến 7 ngày, một lòng không loạn, người ấy khi mạng chung, Phật A Di Đà cùng các Thánh chúng, hiện trước người ấy, người ấy khi mạng chung lòng không điên đảo, vãng sanh về quốc độ Cực Lạc của Phật A Di Đà.” Nên biết pháp Niệm Phật là nhiền căn lành, nhiều phước đức.

Hỏi: Niệm Phật một câu có thể diệt được tội sanh tử 80 ức kiếp, không biết bao nhiêu thời gian là 1 kiếp?

Đáp: Một kiếp không thể đếm bằng thời gian mà biết được, căn cứ vào Kinh giáo nói: “Có một cục đá vuông vức 40 dặm, ở cõi trời Đao Lợi có thiên y nhẹ chừng 3 thù (gram), lấy thiên y này mỗi năm đập vào cục đá, đập đến khi nào cục đá đó tan thành bụi gọi là 1 đại kiếp. Có người tạo nhiều tội nghiệp, hoặc sát, đạo, dâm, vọng ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, tham, sân, tà kiến, ngũ nghịch, bất hiếu, bài báng đại thừa. Tất cả ác nghiệp đã tạo ấy phải đọa vào địa ngục 80 ức kiếp. Nếu người niệm 1 câu Phật thì tội đọa địa ngục 80 ức kiếp đó liền bị tiêu diệt, lại được 80 ức kiếp vi diệu công đức. Nên biết pháp môn niệm Phật là nhiều căn lành nhiều phước đức.

Nếu tính về số kiếp thì 10,000 kiếp thành 1 muôn kiếp, 10 muôn kiếp thành 1 ức kiếp, từ 10 ức kiếp đến 80 ức kiếp công đức. Có người một ngày niệm 10 muôn câu A Di Đà Phật. Có người một ngày niệm được hai mươi muôn câu. Căn cứ vào Kinh A Di Đà niệm liên tục từ 1 ngày đến 7 ngày công đức vô lượng vô biên, nhờ nhiều công đức nên được vãng sanh về Tịnh Độ. Được về Tịnh độ là thành Bồ tát Bát địa, do đó mà trong kinh A Di Đà, mười phương Chư Phật đồng khen ngợi công đức không thể nghĩ bàn. Còn những người tu tạp thiện tính được từng món công đức nên gọi là ít căn lành vì nó có thể nghĩ bàn. Công đức niệm Phật rộng lớn vô biên, không phải tâm có thể nghĩ, chẳng phải miệng có thể đếm hết, nên Kinh nói không thể nghĩ bàn. Cho nên pháp Niệm Phật là nhiều căn lành, các pháp khác không thể so sánh kịp.

So sánh công đức Niệm Phật phân làm ba bậc là so sánh 1 niệm, so sánh 10 niệm và so sánh 1 ngày đến 7 ngày. Trong Quán Kinh nói: “Niệm Phật một câu diệt được tám mươi ức kiếp tội trọng sanh tử lại được 80 ức kiếp vi diệu công đức. Chỉ có 1 kiếp công đức không thể nghĩ bàn, hà huống trăm kiếp công đức không thể nghĩ bàn, hà huống ngàn kiếp công đức không thể nghĩ bàn, hà huống vạn kiếp công đức không thể nghĩ bàn, hà huống một ức kiếp cho đến 80 ức kiếp không thể đếm số, nên gọi là công đức không thể nghĩ bàn. Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói: “Người tạo tội ngũ nghịch, chê báng Kinh điển Đại Thừa, khi mạng chung niệm Nam Mô A Di Đà Phật 10 câu liền sanh về Tịnh Độ.” Đây là pháp vãng sanh cho bậc hạ phẩm hạ sanh. Một niệm công đức còn vô lượng huống chi niệm 2 niệm cho đến 10 niệm.

Hỏi:Tạo tội chướng đã nhiều vì sao niệm Phật 10 niệm có thể diệt tội nhiều kiếp được?

Đáp: 10 câu hiệu Phật nhất định trừ diệt được các tội trong nhiều kiếp. Vì sao được biết? Xin đem vài thí dụ để giải thích. Có người chứa củi một ngàn ngày, chỉ cần châm một mồi lửa nhỏ thì đống củi ngàn ngày bị cháy trong nửa ngày là tiêu sạch. Tội nghiệp phiền não cũng như đống củi, niệm Phật cũng như mồi lửa, tội chướng từ vô lượng kiếp đến nay do một công đức câu niệm Nam Mô A Di Đà Phật mà tất cả tội chướng đều tiêu diệt. Tội chướng cũng như ngôi nhà tối, niệm Phật cũng như đèn sáng. Nhà tối ngàn năm, đèn sáng vừa chiếu đến các bóng tối liền trừ, công đức niệm Phật lại cũng như thế. Tội chướng từ vô lượng kiếp đến nay do công đức niệm Phật A Di Đà mà tất cả tội chướng đều tiêu diệt. Nên biết niệm Phật nhất định trừ diệt được các tội trong nhiều kiếp. Quán Kinh nói: “Ông xưng danh hiệu Phật nên các tội tiêu diệt, ta nay đến rước ông.” Niệm Phật mười tiếng công đức còn vô biên, huống chi có người một ngày niệm được mười muôn danh hiệu Phật A Di Đà, hoặc 1 ngày niệm được 20 muôn câu A Di Đà Phật. Công Đức 1 ngày niệm Phật còn vô biên huống là 2 ngày đến 7 ngày công đức vô cùng.

Kinh A Di Đà nói: “Khi sắp lâm chung, mau thì 1 ngày chậm thì 7 ngày niệm Phật liền được vãng sanh Tịnh Độ. Lại nói: “Chúng sanh sanh về cõi ấy đều ở vị Bất thối.” Địa vị bất thối là hàng Bồ tát Bát địa, đây là pháp vãng sanh của Thượng Phẩm Thượng Sanh. Vì sao được biết? Ví như ở thế gian người mua nhà cửa, người có nhiều tiền thì mua ngôi nhà đẹp, nếu tiền của ít thì mua ngôi nhà xấu. Niệm Phật công đức rất nhiều nên sanh về Tịnh độ dự vào Thượng Phẩm, niệm Phật ít thì sanh về Hạ Phẩm. Đức Như Lai nói các công đức lành của 8 muôn 4 ngàn pháp môn chỉ có pháp môn niệm Phật là pháp tối thượng. Đức Như Lai tuy nói các công đức lành duy có Pháp môn niệm Phật là nhiều thiện căn, nhiều phước đức, nếu đem các tạp thiện mà so với niệm Phật thì ít căn lành, ít phước đức, pháp môn Niệm Phật thật chẳng phải của các môn khác có thể sánh kịp.

Lại nữa, pháp môn Niệm Phật y theo Kinh nói thì rất khó gặp. Vì sao được biết? Kinh Đại A Di Đà nói: “Thuở quá khứ có một quốc vương, phát khởi lòng tin nghĩ sẽ thực hành yếu pháp Niệm Phật liền đến gặp thiện tri thức, quyết chí cầu pháp Niệm Phật. Lúc bấy giờ thiện tri thức mới đáp rằng: Này đại vương chỗ cốt yếu của pháp Niệm Phật này, lý rốt ráo thật khó nghe. Nhà vua quyết tâm học pháp Niệm Phật nên đáp: Thưa Đại sư, xin Ngài vui lòng vì tôi mà nói pháp yếu Niệm Phật, tôi sẽ trọn đời cúng dường để ngài sai xử. Khi đó Thiện tri thức đáp: Này đại vương! Nếu ngài muốn biết pháp yếu Niệm Phật trước phải bỏ ngôi vua, ở đây phục vụ cung cấp cho ta không thối chuyển, ta sẽ vì vua mà nói pháp yếu Niệm Phật. Lúc ấy nhà vua bỏ ngôi vua theo hầu thiện tri thức cung cấp những điều cần dùng, không nề khổ cực, không sanh lòng thối chuyển. Nhà vua nghe dạy về pháp Niệm Phật Tam Muội, vua chuyên tu pháp này, sau đó gặp 2 muôn 8 ngàn Chư Phật đều vì nhà vua mà nói Niệm Phật Tam Muội. Nhà vua nghe được pháp Niệm Phật nên được thành Phật.” Huống chi ngày nay được nghe và chí thành tin niệm, đâu thể không được vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Ức ức chúng sanh bị chìm đắm trong đường ác, chẳng được thành Phật, chỉ vì không gặp được pháp môn Niệm Phật. Nên biết pháp môn Niệm Phật thật khó gặp.

Chương Sáu – So sánh việc Trì Trai và làm Phước

Hỏi: Người niệm Phật phải trì trai không?

Đáp: Phải. Niệm Phật cũng cần phải trì trai. Hòa Thượng Đại Hạnh từ nhỏ đến già trì trai không khuyết.

Hỏi: Trì trai được bao nhiêu công đức?

Đáp: Kinh Đại Vân Mật Tạng nói: “Trì trai có năm thời: giờ dần trì trai được 8 muôn 4 ngàn ức năm lương thực, giờ mẹo trì trai được 8 muôn ức năm lương thực, giờ thìn trì trai được 6 muôn ức năm lương thực, giờ tỵ trì trai được 4 muôn ức năm lương thực, giờ ngọ trì trai được năm trăm ngày lương thực. Sau giờ ngọ không thành trai, mắc tội không được 1 phần công đức. Nói lương thực dư là nói dùng không cùng tận. Đời này có đủ y áo vật thực đều do đời quá khứ trì trai mà được. Hòa Thượng Đại Hạnh nói: “Người niệm Phật cần phải trì trai. Như 1 ngày được dư lương thực còn không thể nghĩ bàn huống là 10 năm, trăm năm thì phước đức không thể nghĩ bàn. Vì vậy, người niệm Phật cần phải trì trai.

Chương Bảy – Nghi và bài báng niệm Phật mắc tội nặng

Hỏi: Khen ngợi niệm Phật có bao nhiêu công đức, bài báng niệm Phật có bao nhiêu tội?

Đáp: Kinh Tạp Tập nói: “Một lần chê bai, bài báng người niệm Phật bị muôn kiếp đọa vào địa ngục Nê Lê. Một lần khen ngợi người niệm Phật diệt được trăm kiếp tội cực trọng”. Hòa Thượng Đại Hạnh nói: “Người không chí tâm niệm Phật lại chê báng Phật Pháp, bị đọa vào Địa Ngục A Tỳ, nhận các điều khổ, không có ngày ra.”

Hỏi: Trong A Tỳ Địa Ngục có những hình cụ gì?

Đáp: Kinh Quán Phật Tam Muội nói: “Địa Ngục A Tỳ ngang dọc rộng đến 8 muôn bốn ngàn do tuần, bảy lớp thành sắt, 7 lớp lưới sắt, 7 lớp tràng sắt, 8 muôn bốn ngàn rừng gươm, 8 muôn bốn ngàn chảo dầu sôi, chó đồng, rắn sắt, chim sắt đầy khắp trong ngục. Một người vào ngục đều thấy mình đầy ngục, nhiều người vào trong cũng không thấy có kẻ hở. Ngục này chịu khổ rất dài, không có ngày ra, không có kẻ hở trong lúc hành hình suốt 8 muôn Đại kiếp. Sau đó mới ra khỏi lại bị đọa vào súc sanh do bài báng pháp Niệm Phật nên đọa vào trong địa ngục chịu khổ không có xen hở. Nếu không hồi tâm niệm Phật không nhờ đâu mà ra khỏi. Nếu người chí tâm niệm Phật thì các tội vô gián liền bị tiêu diệt.

Kinh Pháp Hoa nói: “Thấy có người đọc tụng kinh này, khinh chê ghen ghét sân hận trong lòng liền bị đọa vào địa ngục vô gián”. Huống chi chê pháp Niệm Phật, người ấy còn nặng hơn người khinh chê người chép đọc tụng kinh kia hơn muôn vạn bội phần. Vì vậy, Hòa Thượng Đại Hạnh dạy: Khi niệm Phật phải luôn luôn nhẫn nhục, dù có bị đánh mắng cũng không oán hờn vì sợ chi ác thêm tội báo cho người kia. Kinh Di Giáo nói: “Giặc cướp công sức không gì hơn lòng sân nhuế, nó là lửa dữ, cần phải phòng bị, không cho nó xâm nhập vào. Lửa dữ có thể đốt cháy hết vật quý báu ở thế gian, còn lửa sân thiêu hết thất thánh tài, cho nên người niệm Phật cần phải nhẫn nhục.”

Kinh Hoa Nghiêm nói: “Lòng sân khởi một niệm trăm vạn cửa chướng mở ra.” Quán kinh cũng nói: “Khen ngợi tốt của người khác tự mình được công đức, dùng lời nói hung ác mắng người xấu, tự mình chịu tội báo.” Vì sao biết được? Trong Báo Ân Kinh nói: “Sa Di Huân Đề vì mắng một vị Thượng Tọa tiếng nói như chó sủa. Sa Di Huân Đề do một lời nói ác đó, trong 500 đời thường làm thân chó.” Nên biết mắng người, mình tự bị tội. Kinh A Hàm nói: “Có một người khen ngợi sự thắng diệu thiện sự của người tu đạo, trong 500 đời thường được tướng mạo tốt đẹp đoan chính, hơi miệng thường có mùi thơm trong sạch như Ưu Bát La hoa, dù nghịch gió đến 40 dặm vẫn còn nghe hương.” Nên biết, khen ngợi người khác đều được quả báo tốt, người niệm Phật cần nên khen ngợi việc tốt của người. Kinh Pháp Hoa nói: “Không nên nói tốt xấu, ngắn dài của người khác, chỉ chuyên niệm Phật mau sanh tịnh độ, thoát khỏi trầm luân.”

Chương Tám – Thệ nguyện chứng nghiệm giáo pháp

Hỏi: Đã niệm Phật A Di Đà chắc sanh Tịnh độ, chắc được vô lượng công đức, không biết có gì chứng nghiệm, làm tăng trưởng lòng tin chăng?

Đáp: Có đại chứng nghiệm. Kinh A Di Đà nói: “Chư Phật trong 6 phương hằng hà sa số hiện tướng lưỡi rộng dài, trùm khắp cõi tam thiên đại thiên thế giới mà nói lời thành thật, không dối chúng sanh, khuyên phải tin Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đã nói, niệm Phật được vô lượng công đức, một ngày đến 7 ngày xưng danh hiệu Phật A Di Đà, chắc được vãng sanh Tịnh độ. Bất cứ người nào nói lời dạy này mà không được vãng sanh Tịnh độ, là lời nói dối, lưỡi họ sẽ bị hư hoại, không thể vào miệng. Đây là sáu phương Chư Phật lấy bản nguyện làm bằng chứng.

Kinh Đại Bảo Tích nói: Khi Phật A Di Đà lúc còn là Tỳ Kheo Pháp Tạng đã phát 48 nguyện lớn. Trong ấy nói: “Khi tôi thành Phật nhơn thiên trong 10 phương nghe danh tự tôi mà không được quả vị Bồ Tát vô sanh Pháp nhẫn, các pháp Tổng trì thì tôi không ở ngôi chánh giác.” Sanh về quốc độ tôi không được 32 tướng tốt thì tôi không ở ngôi chánh giác. Người niệm mười niệm thành tựu không được sanh về nước tôi thì tôi không ở ngôi Chánh Giác. Người sanh về nước tôi nếu còn bị đọa vào địa ngục và 3 đường dữ thì tôi không ở ngôi chánh giác. Người nào sanh về nước tôi mà hình mạo không đồng nhất, có tốt xấu, thì tôi không ở ngôi chánh giác. Người sanh về nước tôi, nếu không được thiên nhãn, thiên nhĩ, lục thông tự tại, thời tôi không ở ngôi chánh giác. Chúng sanh mười phương xưng niệm danh tự tôi, không được Chư Phật trong 10 phương khen ngợi tên tôi, thời tôi không ở ngôi chánh giác. Nếu người nữ chán nhàm nữ thân, nguyện sanh về nước tôi, khi lâm chung không chuyển nữ thân thành nam tử, lại thọ nữ thân, thời tôi không ở ngôi chánh giác. Nói chánh giác chính là chỉ quả vô thượng Bồ Đề. Nếu tất cả chúng sanh nương theo nguyện lực của tôi không được những quả báo như đã kể trên, thời tôi không chứng vô thượng Bồ Đề, nếu có lời gì dối trá chúng sanh, tôi thề sẽ ở trong ác đạo, không được vô thượng Bồ Đề. Đây là chỗ lập nguyện của Phật A Di Đà. Kinh A Di Đà nói: “Đức Phật A Di Đà thành Phật đến nay đã hơn mười kiếp.” Phật A Di Đà đã thành Phật lời nguyện đã tròn, người niệm Phật chắc được vãng sanh.

Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni trong Kinh A Di Đà nói người chuyên niệm Danh hiệu cũng là một việc khó, ta thực hành pháp niệm Phật này được vô thượng Bồ Đề. Kinh Pháp Hoa Đức Phật nói: “Ta vốn lập thệ nguyện muốn tất cả chúng sanh giống như ta không khác, như trước kia ta đã nguyện, nay đã đầy đủ hạnh nguyện độ tất cả chúng sanh, đều làm cho vào cõi Phật. Đó là điều lập nguyện của Phật Thích Ca.”

Kinh Quan Âm nói: “Thệ lớn sâu như bể, nhiều kiếp không nghĩ bàn, hầu nhiều ngàn ức Phật, phát nguyện thanh tịnh lớn.” Đây là chỗ phát nguyện của Đức Quan Thế Âm. Ngày xưa A Xà Lê Thiện Đạo ở trong chùa Tây Kinh cùng Pháp sư Kim Cang so sánh pháp môn Niệm Phật hơn kém. Ngài lên trên tòa cao liền phát nguyện: “Căn cứ vào các Kinh Thế Tôn đã nói về pháp môn Niệm Phật được sanh về Tịnh độ. Niệm một ngày cho đến 7 ngày, một niệm cho đến 10 niệm được sanh về Tịnh độ. Đây là lời chơn thật không dối gạt chúng sanh thì xin hai tượng trong Phật đường này đều phóng hào quang. Nếu pháp Niệm Phật này người niệm không được vãng sanh Tịnh độ, dối gạt chúng sanh, thì khiến Thiện Đạo này ở trên tòa cao rớt xuống, bị đọa vào Đại Địa ngục, chịu khổ thời gian dài vĩnh viễn không bao giờ ra khỏi. Nguyện xong ngài cầm cây gậy Như ý chỉ vào trong Phật đường, hai tượng liền phóng hào quang. Đây là lập nguyện của Xà Lê Thiện Đạo.

Đại Hạnh Hòa Thượng nói: “Nếu có người y theo Kinh A Di Đà, niệm Phật không giữ tướng ngạo, lòng chỉ tin Phật, miệng chỉ xưng danh hiệu Phật, thân chỉ kỉnh lễ Phật, có việc không vừa lòng liền nhẫn nhục, mặc áo thô rách, ăn cơm thô sơ, hiếu nghĩa và nhơn từ, chuyên tâm niệm Phật, gặp duyên chẳng lui sụt, đến chết niệm Phật không thay đổi, những tạp thiện và tội ác đều không làm, chuyên tâm niệm Phật, người được như vậy, nếu y kinh niệm Phật, không sanh tịnh độ, niệm một câu Phật không diệt tội 80 ức kiếp sanh tử, không được 80 ức kiếp vi diệu công đức; mê hoặc chúng sanh, Đại Hạnh nguyện sẽ bị quả báo, sáu căn tan biến, toàn thân ghẻ lở ai cũng đều thấy, khổ đau không kể xiết, tương lai vào thẳng Địa ngục, không có ngày ra. Đây là thệ nguyện của Hòa Thượng Đại Hạnh.

Thệ nguyện như những xe báu để chở những vật quí giá để dâng tặng quốc vương. Xe chở vật báu cần phải có đủ tư dây kiên cố mới có thể đến kinh đô khỏi mất vật quí giá và khỏi bị ngã nghiêng làm hư hại, khi đến nhà vua an toàn sẽ được phong quan chức. Niệm Phật cũng thế, cần phải có thệ nguyện trước tiên mới thành tựu được công đức niệm Phật, thẳng đến tịnh độ, mau chứng Bồ Đề. Nếu người không nguyện mà tu hành, thì không thể được thành tựu. Nên Kinh A Di Đà nói: “Nếu người có lòng tin, cần phải phát nguyện, nguyện sanh về nước kia.”

Chương Chín – Rộng nhiếp các giáo

Pháp môn niệm Phật tổng trì biện tài vô ngại, bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ và nguyện lực phương tiện trí huệ đều huệ đức đầy đủ, đều do niệm Phật. Niệm Phật như Bảo châu Như Ý, khi có trong tay, mong cầu việc gì cũng được toại nguyện.

Nếu tự mình niệm Phật bố thí cho người khác. Dạy người khác niệm Phật, đây chính là đang bố thí. Do niệm Phật nên diệt trừ các tội là trì giới, ác pháp không sanh là nhẫn nhục, đi đứng ngồi nằm niệm danh hiệu Phật không rời tâm miệng là tinh tấn, tin sâu không nghi, chí thành niệm Phật, được sanh Tịnh độ, không sanh thối chuyển là thiền định; do lâu dụng công niệm Phật danh hiệu, tất cả kinh giáo văn tự lần lược hiểu rõ là trí tuệ. Nên gọi niệm Phật là thu nhiếp lục độ biện tài vô ngại.

Căn cứ vào niệm Phật thu nhiếp lục độ có được quả báo tốt ở cõi Cực Lạc, nhờ có niệm Phật vãng sanh Tịnh độ được ăn mặc tự nhiên, tiền của đầy dẫy thuộc về bố thí độ. Nhờ niệm Phật nên được vãng sanh về Cực Lạc được liên hoa thân đủ sáu thần thông thuộc trì giới độ. Nhờ niệm Phật sanh về Tịnh Độ được thân đoan chánh có đủ 32 tướng tốt, 80 cách đẹp thuộc nhẫn nhục độ.

Nhờ niệm Phật được sanh về Tịnh độ được cây, nước, chim, rừng, Phật và Bồ Tát đều nói pháp, nghe tiếng ấy rồi đều tự nhiên sanh lòng niệm Phật Pháp Tăng thuộc Tinh Tấn độ. Nhờ niệm Phật nên được vãng sanh về Cực Lạc, lại không có duyên khác, thường ở trong Tam muội thuộc về Thiền Tịnh Độ. Sanh về cõi Cực Lạc tự nhiên hiểu rõ tất cả các pháp thuộc Trí Huệ Độ.

Vì thế pháp môn niệm Phật thu nhiếp lục độ quả báo hơn trăm ngàn muôn ức lợi, nên kinh Niết Bàn nói: “Niệm Phật một hơi phân làm 16 phần, nếu có người bố thí chúng sanh cả thế giới trải qua 3 tháng, so với 16 phần niệm Phật chỉ bằng 1 phần công đức, 1 phần còn trội hơn công Đức Bố Thí cả thế giới kể trên. Nên biết Niệm Phật vượt hẳn tài thí trăm ngàn ức bội phần.

Chương Mười – Giải thích các điều nghi hoặc

Hỏi: Kinh Bát Nhã nói: “Nếu dùng sắc mà thấy ta, dùng âm thanh tìm ta, người ấy làm theo đạo tà, không thể thấy Như Lai” Vì sao trong đây nói Niệm Phật A Di Đà, vãng sanh về tịnh độ, được thấy Đức Như Lai?

Đáp: Sở dĩ trong Kinh Bát Nhã ngăn không cho thấy Như Lai vì người cầu tướng mạo và âm thinh là tìm cầu nhơn và ngã mà không cầu vãng sanh hoặc cầu vô thượng Bồ Đề, nên chỉ hành theo tà đạo không thể thấy được Như Lai. Trong Quán Kinh và A Di Đà Kinh dạy cần khởi tưởng niệm hoặc chuyên xưng danh, không cầu nhơn ngã chi, chỉ cầu vãng sinh Tịnh Độ và vô thượng Bồ Đề gọi là chánh đạo được thấy Như Lai. Nếu vọng chấp pháp thân vô tướng làm sắc tướng âm thinh để được là tà, đây là đối với Bồ Tát Địa Thượng mà nói. Quán Kinh và A Di Đà Kinh nói: “Quán một tướng hảo hoặc dùng nghe danh mà thấy được Báo thân Như Lai là đối với phàm phu hay tiểu thừa, Bồ Tát sơ phát tâm mà nói. Nếu vọng chấp báo thân quán Phật hoặc xưng danh dùng đem làm chánh, vô tướng làm tà nếu đối với Pháp thân, chỗ câu hỏi là nghiêng về vô tướng. Căn cứ vào Bát Nhã Kinh: Lúc ấy Đức Thế Tôn trước hướng về cung trời Đao Lợi, vì mẹ mà thuyết pháp. Lúc ấy Đức Thế Tôn từ cõi trời Đâu Suất đến cõi Diêm Phù Đề. Ngài Tu Bồ Đề nhớ Đức Thế Tôn nhập định quán Phật, Phật liền ở trước mặt. Trong lúc ấy có 1 thiên nữ, không biết nguyên do thấy được Thế Tôn, đã thấy Phật rồi, Thiên nữ hỏi Phật: Bạch Thế Tôn con có phải là người trước tiên thấy Phật phải không? Thế Tôn đáp: ngươi là người thấy sau cùng. Thiên Nữ thưa: Con là người đầu tiên đến đây, không có người nào có thể đến thấy Phật trước, vì sao nói con thấy Phật sau cùng. Đức Thế Tôn bảo: Có ông Tu Bồ Đề trước nhập định, trừ sạch nhơn ngã, quán thấy được pháp thân, ở trước thiên nữ, còn Thiên nữ khởi tâm nhơn ngã, quán sắc thân của ta nên thấy sau cùng. Đức Thế Tôn vì đối với thiên nữ kia, nên nói tụng rằng: “Nếu dùng sắc mà thấy ta, dùng âm thinh tìm ta, người ấy làm theo đạo tà, không thể thấy Như Lai”. Bài tụng này đối với ngoại đạo vì đem lợi ích đương thời mà nói ra, không can hệ đến việc vị lai, nên không đồng với Quán Kinh. Lại nữa trong kinh Bát Nhã ngăn những người ngoại đạo, chấp tứ đại ngũ uẩn cho là thường còn, chấp sắc thân là ta, âm thinh là ta, lý do đó mà không thấy được Như Lai. Nay y theo Quán Kinh dạy, chán cõi Ta Bà, nguyện lìa sanh tử, mau sanh tịnh độ, mau chứng Bồ Đề, không cần thấy ngã tướng liền được Như Lai.

Hỏi: Trong Vãng Sanh Luận nói: Người nữ, căn khuyết và dòng nhị thừa không được vãng sanh. Vì sao trong Quán Kinh nói Bà Vi Đề Hy và 500 thị nữ đồng được vãng sanh và ở trong trung phẩm hàng nhị thừa đều đương vãng sanh là ý gì?

Đáp: Y theo Vãng Sanh Luận nói: Người nữ và hàng nhị thừa không được vãng sanh vì hai thành phần này không có tánh muốn vãng sanh. Như người nữ chỉ yêu thích thân nữ, không cầu vãng sanh Tịnh độ, không chịu niệm Phật nên luận ngăn cho là không được sanh. Hàng Nhị thừa vì căn khuyết cũng như thế, chỉ mong trụ ở trên quả, không nguyện sanh tịnh độ, không hiểu niệm Phật nên không được sanh. Quán Kinh và A Di Đà Kinh nói Hàng Nhị thừa, căn khuyết và nữ nhơn nếu hồi tâm niệm Phật, nhàm chán thân nữ, nhàm chán căn khuyết, không chấp trụ tiểu quả liền được vãng sanh. Đây là Luận Vãng Sanh đối với căn cơ và pháp mà luận. Để hiểu rõ toàn bộ chúng ta cần phải quán xuyến được 6 môn sau đây:

1- Người niệm Phật đối với Di Lặc môn.

Hỏi: Công đức niệm Phật A Di Đà so với công đức niệm Di Lăc nhiều ít thế nào?

Đáp: Niệm Phật A Di Đà công đức nhiều hơn gấp trăm ngàn muôn bội so với công đức niệm Di Lặc. Vì sao biết được? Y cứ vào Kinh nói: “Phật A Di Đà hiện tại ở địa vị giác viên quả mãn, vượt hẳn các địa, nên người xưng niệm công đức rất nhiều. Di Lặc hiện ở địa vị Bồ Tát, chưa vượt hẳn các Địa, quả vị chưa viên mãn nên xưng niệm công đức so sánh cũng ít rất nhiều.

Hỏi: Vì sao không niệm Di Lặc để sanh về cung trời Đâu Suất mà lại niệm Phật A Di Đà để vãng sanh về Cực lạc Tịnh độ?

Đáp: Vì Đâu Suất thiên không ra khỏi tam giới, khi báo thân thiên thượng đã hết, liền trở lại cõi Diêm Phù Đề, vì vậy nên không nguyện vãng sanh về cõi trời. Nếu vãng sanh về Tịnh độ là ra khỏi ba cõi, cắt đứt năm đường, một lần sanh về Cực lạc thẳng đến thành Phật, không còn bị đọa lạc, nên cần phải nguyện sanh. Lại nữa, cung trời Đâu Suất rất ít thời gian nhận được điều vui, còn Quốc độ của Phật A Di Đà toàn sự vui tối thắng nên gọi là Cực lạc, thời gian ở đây toàn nhận điều vui, không có hạn kỳ. Vì thế, sanh về cõi Cực lạc nhơn duyên thù thắng hơn cung trời Đâu Suất gấp trăm ngàn muôn lần. Vì sao biết được? Trong Kinh nói: “1- Thân tướng thù thắng: Chúng sanh sanh về cõi Phật A Di Đà đều có đủ 32 tướng như Phật. Người ở cung trời Đâu Suất không có tướng này. 2- Đồ chúng thù thắng: Đã sanh về cõi Tịnh độ rồi thì cùng Bồ Tát bất thối làm bạn lữ, thọ nam tử thân, không có nữ tướng. Trái lại trên cung trời Đâu Suất nam nữ ở chung lộn xộn. 3- Thọ mạng thù thắng: Chúng sanh quốc độ Phật A Di Đà tuổi thọ đồng Phật, một đời tiến đến Phật quả, không còn trở lại. Thọ mạng người ở cung trời Đâu Suất đến bốn ngàn tuổi, khi tuổi thọ đã mãn liền bị đọa lạc vào luân hồi. 4- Thần thông thù thắng: Nhơn dân cõi Phật A Di Đà đều có đủ 6 món thần thông. Người ở cung trời Đâu Suất không có thần thông. 5- Quả báo thù thắng: Chúng sanh cõi Phật A Di Đà y phục, ẩm thực, hương hoa, anh lạc, tất cả cung cụ tự nhiên hóa thành, không cần tạo tác, thọ dụng dài hạn không bao giờ dứt. Chư Thiên cung trời Đâu Suất phải tạo tái mới có, dù có y phục nhiên, hưởng không được lâu dài. Bốn ngàn tuổi đã qua, mạng sắp lâm chung có năm thứ tướng suy thoái. a- Hoa trên đỉnh héo. b- Thân toát mồ hôi. c- Đi đứng chẳng định. d- Khí lực suy nhược. e- Thân thể rung rẫy. So với Cực lạc, nhân dân gấp trăm nghìn muôn phần thù thắng.

Hỏi: Khi đương lai Đức Di Lăc hạ sanh, thuyết pháp ba hội độ các chúng sanh, được quả A La Hán vì sao không nguyện sanh về Đâu Suất nội viện mà cầu sanh về cõi Phật A Di Đà?

Đáp: Đức Di Lặc chưa hạ sanh, việc vị lai chưa thể đợi được. Vì sao được biết? Trong Kinh nói: “Sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni nhập Niết Bàn, trải qua 56 ức, 7 ngàn muôn năm. Lúc đó tuổi thọ của con người ở kiếp thành sống lâu 8 muôn bốn ngàn tuổi, khi đó Đức Di Lặc mới ra đời. Căn cứ vào Pháp Vương Bổn Ký thì Phật Thích Ca Mâu Ni vào Niết Bàn đến nay mới hơn 1700 năm. Vì vậy thời gian ở vị lai còn quá dài, không thể chờ đợi, chúng sanh mạng ngắn ngủi sợ phải đắm chìm trong bể khổ, nhiều kiếp chịu tai ương không thể chờ đợi Phật Di Lặc ra đời. Còn Phật A Di Đà hiện đang thuyết pháp trụ ở thế giới Cực lạc, rộng độ chúng sanh, về ở Tây phương là mau chứng đạo quả so với sự chờ đợi hạ sanh của Đức Di Lặc hơn trăm vạn bội phần.

Dù người gặp Phật Di Lặc ra đời thuyết pháp ba hội, rộng độ tất cả chúng sanh, được quả A La Hán, nếu hướng về đại thừa mới đến sơ địa. Ức ức chúng sanh không gặp Phật Di Lặc, niệm Phật A Di Đà cầu sanh Tịnh độ là Bồ Tát từ Bát địa trở lên. Mau thì một niệm, mười niệm, chậm thì một ngày đến bảy ngày xưng niệm Phật A Di Đà liền sanh Tịnh độ, thật vượt hơn gặp Phật Di Lặc trăm ngàn muôn ức bội phần.

Lại nữa, ngày Đức Bổn Sư nói Kinh A Di Đà thì Đức Bồ Tát Di Lặc cũng ở trong hội ấy tên là Bồ Tát A Dật Đa. Lúc ấy Bồ Tát Di Lặc còn niệm Phật A Di Đà, hà huống chúng sanh đời vị lai đâu chẳng chịu niệm Phật A Di Đà. Lại nữa, pháp môn niệm Phật làm tiêu chuẩn cho các kinh, nên Phật có lời huyền ký, thời mạt pháp cuối cùng, các pháp bị diệt hết, chỉ còn chánh pháp niệm Phật còn trụ được một trăm năm giáo hóa chúng sanh, nên biết pháp môn niệm Phật diệu dụng không thể nghĩ bàn.

2- Niệm Phật đối với Tọa Thiền Môn.

Hỏi: Niệm Phật A Di Đà sao bằng tọa thiền, khán tâm, dùng pháp quán vô sanh?

Đáp: Niệm Phật A Di Đà vãng sanh tịnh độ mau thành quả Phật thù thắng hơn môn Vô Sanh Quán trăm ngàn vạn bội. Vì sao được biết? Kinh Duy Ma Cật nói: “Ví như ở giữa hư không tạo lập cung thất, hoàn toàn không thể thành, ở trên đất mà xây dựng cung thất tùy ý không trở ngại.” Vô Sanh quán tâm cũng như vậy. Vì sao? Vì vô sanh là vô tướng, mà vô tướng tức là hư không, nên khó thành tựu. pháp môn Niệm Phật là sự lý song tu, giống như ở trên đất tạo lập cung điện, chắc chắn dễ thành. Vô sanh quán tâm như người nghèo khó chẳng có tiền bạc, học và muốn tạo lập ngôi nhà to lớn như cung điện của nhà vua, tuy cố gắng đốn cây từ nhỏ đến già chết, trọn không thành tựu, cuối cùng chỉ phí công vô ích mà thôi. Người tu Vô Sanh quán tâm vì công đức pháp dài không thể thành tựu, uổng dụng công phu không có lợi ích. Pháp môn niệm Phật không giống như thế vì niệm Phật một câu diệt trừ 80 ức kiếp tội trọng sanh tử, liền được 80 ức kiếp vi diệu công đức, như một công tử nhà giàu muốn tạo lập nhà cửa liền được thành tựu. Vì vậy, trong Quán Kinh nói: “Đức Như Lai A Di Đà có Đại Nguyện lực lâu đời, người nhớ tưởng chắc được thành tựu, chẳng đồng với vô sanh quán. Vì sao? Kinh Pháp Hoa nói: “Phật Đại Thông Trí Thắng, một đại kiếp tọa ở Đạo Tràng, Phật pháp chẳng hiện tiền, chẳng được thành Phật Đạo.” Nên biết tọa thiền quán tâm thành Phật chậm, còn niệm Phật chậm nhất bảy ngày, mau thì một ngày được sanh về Tịnh độ, liền chứng vào vị Bồ Tát Bát địa, vì nhờ vào nguyện lực của Phật.

Hỏi:Công đức khán tâm nhiều hay ít so với công đức niệm Phật?

Đáp: Khán tâm công đức ít so với niệm Phật công đức nhiều hơn trăm ngàn muôn bội phần. Vì sao được biết? Y theo Quán Kinh nói: “Niệm Phật một câu diệt được 80 ức kiếp tội trọng sanh tử, được 80 ức kiếp vi diệu công đức.” Một lần khán tâm chưa biết diệt được bao nhiêu tội, được bao nhiêu công đức, cũng không thấy nói diệt được bao nhiêu tội sanh tử, trái lại, niệm Phật dù tướng địa ngục hiện cũng đều tiêu diệt vãng sanh Tịnh độ. Nên biết khán tâm công đức ít hơn công đức niệm Phật.

Hỏi: Niệm Phật vãng sanh được quả báo gì, Quán vô sanh thành được quả báo gì? So hai thứ cái nào thù thắng hơn?

Đáp: Niệm Phật vãng sanh được 32 tướng, 6 thần thông, trường sanh bất tử, ra khỏi ba cõi, thẳng đến thành Phật, không có đọa lạc, Bồ Tát Thánh chúng là bạn lữ, Phật A Di Đà hiện tại thuyết pháp. Còn Quán Vô Sanh thành tựu sanh ở Trường Thọ Thiên, trải qua 8 muôn bốn ngàn kiếp, liền đọa vào ác đạo. Tu Vô Sanh quán, muôn người tu chưa có một người thành tựu. Dù may mắn được thành cao nhất cũng chỉ sanh về Trường Thọ thiên. So với niệm Phật thật cách xa ngàn muôn bội phần.

Hỏi: Y cứ vào Vô Sanh quán chỉ dạy khán tâm, tâm ấy là đỏ, là trắng, là xanh, là vàng, quán như vậy sẽ thành hay không thành?

Đáp:Vô Sanh khán tâm chẳng phải xanh, trắng, chẳng phải đỏ vàng, không nói thành hay không thành, Tâm không có tướng mạo lại không có thành tựu, hư phí công phu, nhọc nhằn có ích lợi gì? Có người vấn nạn rằng: Khi khán tâm liền được thành Phật. Người khán y thì được ấm, khán thực phẩm thì được no, khán vàng thì được đồ trân báu để dùng, khi khán tâm cũng đắc đạo. Thời nay người khán y cũng không được ấm, khán tâm cũng không chứng quả. Trong Tượng Pháp Quyết Nghi Kinh nói: Tọa Thiền không phải ở trong thời mạt pháp. Vì sao? Vì trong kinh ấy có nói rõ: “Sau khi Phật diệt độ là thời chấn pháp trong năm trăm năm trì giới kiên cố. Thời tượng pháp một ngàn năm kế tiếp tu thiền định được kiên cố. Thời mạt pháp một muôn năm niệm Phật kiên cố.” Y cứ vào Pháp Vương Bổn Ký thì thời này thuộc vào thời mạt pháp hơn mấy trăm năm. Vì vậy, thời này thuộc thời niệm Phật chứ không phải là thời Tọa Thiền. Vì thế, Đại Hạnh Hòa Thượng ở trước một số thiền sư, môn đồ dạy hồi tâm niệm Phật rất nhiều, đều có thành tựu vì hợp thời cơ.

3- Niệm Phật đối với Giảng Thuyết Môn.

Hỏi: Công đức niệm A Di Đà Phật nhiều hay ít so với công đức nghe kinh?

Đáp: Công đức niệm Phật nhiều hơn công đức nghe kinh gấp trăm ngàn vạn bội phần. Vì sao được biết? Trong Quán Kinh phần hạ phẩm hạ sanh dạy: “Có hạng người làm ác, do tạo nghiệp ác cực trọng, nên khi sắp lâm chung tướng lửa địa ngục đồng thời hiện ra. Người ấy may mắn gặp thiện tri thức vì người đó mà nói 12 bộ kinh. Người ấy nghe rồi, diệt trừ được một ngàn kiếp tội. Năng lực nghe kinh diệt tội ít, nên tướng địa ngục chưa mất. Người trí dạy niệm Nam Mô A Di Đà Phật mười niệm, diệt trừ được 80 ức kiếp trọng tội sanh tử. Tướng địa ngục mất, người ấy theo Phật vãng sanh.

Hỏi: Đọc kinh công đức nhiều hay niệm Phật công đức nhiều?

Đáp: Đọc kinh công đức ít hơn niệm Phật. Hòa Thượng Đại Hạnh nói: “Người không niệm Phật tu hành, đọc tụng kinh cũng như người đọc toa thuốc, người niệm Phật như người uống thuốc. Đọc toa thuốc thì bịnh không lành, uống thuốc vào bệnh mới thuyên giảm. Đọc kinh hành đạo công đức vẫn ít hơn niệm Phật.

Hỏi: Giảng kinh công đức nhiều ít so với công đức niệm Phật?

Đáp: Giảng kinh công đức cũng ít hơn công đức niệm Phật, trăm ngàn phần. Vì sao? Vì giảng kinh cũng như đếm châu báu, niệm Phật cũng như dùng châu báu, đếm của báu tuy nhiều không thể trừ được nghèo đói, không nói được diệt tội, không nói được công đức. Người dùng của báu tuy không được nhiều nhưng có thể cứu giúp thân mạng, được công đức vô lượng. So sánh thì niệm Phật vẫn nhiều hơn công đức giảng kinh trăm ngàn bội phần.

Lại nữa người giảng kinh như người mài đá, tuy được một phần lợi ích nhưng đều đáp lại cho người khác, làm tổn công đức của mình khi nhận người lễ bái cúng dường, tổn hại rất lớn. Vì vậy trong luận nói: “Như người nghèo ngày đêm đếm châu báu cho kẻ khác, tự mình không được nửa phân tiền, đa văn cũng như vậy.” Vì thế, biết rằng công đức giảng kinh so với công đức niệm Phật ít hơn gấp trăm nghìn phần. Vì sao được biết? Trong luận Duy Thức nói: “Người học Duy Thức phải phá ngã chấp và biến kế sở chấp. Người giảng luận phần nhiều miệng luôn nói pháp, tâm phần nhiều có ngã chấp và biến kế sở chấp. Người giảng pháp không khởi ngã chấp trong muôn người mới có một người.” Kinh Pháp Hoa nói: “Ngã mạn tự khoe cao, tâm siểm khúc không thật, trong ngàn muôn ức kiếp, không nghe được danh tự Phật, cũng không được nghe chánh pháp.” Người giảng luận muốn tránh tâm ngã mạn tự khoe thật khó, tuy giảng kinh luận vì động cơ độ người, nhưng không bằng công đức niệm Phật. Vì vậy có một số pháp sư như Hoài Cảm, Trí Nhơn đều bớt phần giảng kinh, luận, đồng quy tâm niệm Phật.

4- Niệm Phật đối với Giới Luật Môn.

Hỏi: Công đức niệm Phật nhiều hay ít đối với công đức trì 250 giới.

Đáp: Công Đức niệm Phật hơn công đức trì giới trăm ngàn muôn bội phần. Vì sao biết được? Y theo Kinh dạy: “Người Trì giới chứng được quả tiểu thừa chỉ vừa vào hàng sơ địa là cao lắm. Kinh A Di Đà nói: “Nếu người chấp trì danh hiệu từ 1 đến 7 ngày, lâm chung Phật và Thánh Chúng rước về cõi Tịnh độ. Người sanh về cõi ấy ở vị Bất thối mà vị này thuộc về Bồ Tát ở Bát địa sắp lên. Do đó, người niệm Phật công đức nhiều hơn người trì giới hơn trăm vạn bội.

Lại nữa, căn cứ vào kinh nói thì thời này không phải là thời trì giới, mà là thời niệm Phật. Y theo kinh Tượng Pháp Quyết Nghi nói: “Sau khi Đức Bổn Sư diệt độ, trong khoảng 500 năm trì giới được kiên cố là thời chánh pháp. Tượng Pháp 1000 năm kế Tọa thiền được kiên cố, mạt Pháp một vạn năm là thời niệm Phật kiên cố.” Tính đến nay đã vào thời mạt pháp khá lâu. Nên biết đây là thời thích hợp cho niệm Phật, không phải là thời trì giới nên chuyên trì giới khó thành công. Dù có người chuyên trì giới nhưng thường được danh dự lợi dưỡng, hiện ít người được A La Hán quả đa số chết rồi sanh về cõi trời, dù sanh được ở cõi trời vẫn còn ở trong nhà lửa. Đời nay, người trì giới, muôn người không có một người giữ giới trọn vẹn. Vì sao? Vì giới rất vi tế mà tâm người thời mạt pháp rất thô, giới nhiều khó giữ, người xưng danh hiệu Phật số ít dễ làm có nhiều công đức.

Hỏi: Niệm Phật được lợi ích nhiều hay ít so với trì giới?

Đáp: Niệm Phật được lợi ích nhiều, không bị tổn hại, trì giới bị tổn hại nhiều, ít có lợi ích. Vì sao được biết? Căn cứ vào Kinh Mục Liên Sở Vấn nói: “Trong giới văn có ngũ thiên thất tụ, người phá giới thiên thứ nhất bị sáu trăm muôn năm đọa địa ngục, Phạm thiên thứ hai gấp bội thiên thứ nhất, thứ ba gấp bội thứ hai, thứ tư gấp bội thứ ba, thứ năm gấp bội thứ tư. Thiên nhẹ nhất cũng Phạm Đột Kiết La bị chín trăm muôn năm đọa địa ngục. Vì vậy, trong muôn người không được một, nên biết bị tổn hại nhiều, lợi rất ít. Trái lại người niệm Phật một câu trừ được tội trọng tám mươi ức kiếp sanh tữ. Vì thế, người bị tội phá giới, niệm Phật A Di Đà tội liền được trừ dứt. Vì sao được biết? Căn cứ vào Quán kinh nói: “Hoặc có chúng sanh hủy phạm 5 giới, 8 giới và cụ túc giới, người như thế phải bị đọa địa ngục, thọ khổ nhiều kiếp. Khi sắp lâm chung gặp thiện tri thức vì người ấy nói 10 oai đức của Phật A Di Đà và khen ngợi thần lực ánh sáng của Đức Phật kia và dạy người ấy niệm Phật. Người kia nghe rồi diệt trừ 80 ức kiếp tội sanh tử, vãng sanh Tịnh độ, nên biết tội phá giới niệm Phật cũng được tiêu diệt. Do đó, niệm Phật thuần ích lợi không tổn hại. Vì thế, có rất nhiều luật sư đã chuyên tâm niệm Phật nguyện vãng sanh về Cực lạc thế giới. Trong Quán Kinh cũng dạy: “Ba phẩm Bậc trung là người học luật niệm Phật vãng sanh Tịnh độ. Nên biết trì giới khổ hạnh không bằng niệm Phật.

5- Niệm Phật đối với Lục Độ Môn

Hỏi: Công đức niệm Phật nhiều hay ít so với sáu thứ Ba La Mật?

Đáp: Công đức niệm Phật nhiều hơn lục Ba La Mật gấp trăm ngàn muôn bội phần. Vì sao được biết? Y theo Kinh Duy Ma nói: “Người niệm định tổng trì, tự cầu sanh tịnh độ đều được vãng sanh tất cả việc khác không cần hỏi đến.”

Hỏi: Có người cho rằng niệm Phật như đánh trống miệng, phải giải thích thế nào?

Đáp: Cũng như miệng đánh trống, vì miệng tụng tâm ghi là do đánh trống mà thành, nếu không có tâm niệm, miệng không đâu mà đánh trống được. Niệm Phật cũng vậy, tâm tin miệng xưng liền được sanh Tịnh độ, mau chứng vô thượng Bồ Đề. Nếu không có tâm miệng thì không nhờ vào đâu mà được vãng sanh. Vì thế, miệng đánh trống cũng không hại gì?

Hỏi: Vì sao không niệm Phật Thích Ca lại niệm Phật A Di Đà?

Đáp: Niệm Phật A Di Đà là do Bổn Sư Thích Ca dạy niệm, như cha mẹ sanh con phải đem giao cho thầy dạy, học vấn thành công là do thầy lập ra. Niệm Phật A Di Đà cũng vậy. Đức Bổn Sư nói kinh, ân cần khuyên niệm Phật A Di Đà để được sanh về Tịnh độ, mau chứng Bồ Đề. Đức Bổn Sư dạy niệm Phật A Di Đà như cha mẹ có nhiều con cái đang ở chỗ nguy hiểm, nhà lửa sắp cháy tan, con cái sắp bị chết thiêu, cần tìm cách cho con cái ra khỏi. Cũng vậy, Đức Bổn Sư vì Ta Bà trược ác không thể ở lâu, sợ e chúng sanh phải đắm chìm vào địa ngục, nên đem chúng sanh đồng về Tịnh độ, hưởng các điều vui, khỏi bị trầm luân, nên dạy nhớ niệm Phật A Di Đà, mà không niệm Bổn Sư. Phương pháp niệm Phật thành Phật không phải chỉ Đức Thích Ca niệm Phật Tam muội mà được thành Phật, mà Chư Phật ba đời trong mười phương đều nhơn niệm Phật tam muội mà được thành Phật. Kinh Nguyệt Đăng Tam Muội nói: “Chư Phật trong ba đời ở mười phương đều học niệm Phật tam muội, mau chứng vô thượng Bồ Đề.” Nên biết Chư Phật trong ba đời nhơn niệm Phật mà được thành Phật.

Hỏi: Vì sao không niệm 10 phương Chư Phật lại riêng niệm có Phật A Di Đà?

Đáp: Chư Phật trong mười phương hiện tại, Phật A Di Đà là bậc tối thắng tối tôn bậc nhất. Trong mười phương Phật, Phật A Di Đà cùng chúng sanh kết duyên rất sâu dầy. Hiện tại Chư Phật trong mười phương, Phật A Di Đà có nguyện lực nhiếp hóa chúng sanh rất nhiều. Trong mười phương Phật, Tịnh Độ Phật A Di Đà rất tuyệt hảo. Tịnh độ Chư Phật trong mười phương thì Tịnh độ Phật A Di Đà rất gần. Danh hiệu mười phương chư Phật, niệm danh hiệu Phật A Di Đà công đức rất lớn. Vì lý do trên nên niệm Phật A Di Đà mà không niệm Phật khác.

Hỏi: Vì sao nói pháp môn niệm Phật rộng nhiếp hết các môn?

Đáp: Niệm Phật tuy là một pháp nhưng có khả năng thu nhiếp rộng rãi các môn. Vì sao được biết? Xin cử thí dụ để giải thích. Niệm Phật như viên Như ý Bảo châu tuy chỉ có một viên, có thể nhiếp hết các châu báu khác. Nên Kinh Pháp Hoa nói: “Long nữ vì hiến bảo châu nên mau được thành Phật.” Niệm Phật tuy là một pháp nhưng có khả năng tăng trưởng tất cả công đức, dẫn chúng sanh về Tịnh độ, mau chứng vô thượng Bồ Đề, nên niệm Phật một pháp bao gồm tất cả pháp. Kinh Duy ma nói: “Niệm định là tổng trì, bao hàm tất cả pháp.” Nên một pháp Niệm Phật bao hàm các pháp.

Chương Mười Một – Niệm Phật ra khỏi Ba cõi

Hỏi: Cực lạc Tịnh độ là ở ngoài ba cõi hay ở trong ba cõi?

Đáp: Tịnh độ Cực lạc chắc chắn ở ngoài ba cõi. Nói ba cõi là cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc. Cõi dục từ Diêm Phù Đề này lên đến Lục dục thiên. Sắc giới từ Lục dục thiên lên đến Phạm chúng thiên gồm có 18 cõi gọi là sắc giới thiên. Vô sắc giới gồm bốn cõi trời từ Không vô biên xứ đến Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Lại nữa, tam giới hướng lên gồm có 28 cõi trời, hướng xuống đến vô gián địa ngục loài người ở giữa, như ở trong lao ngục, nên Kinh Pháp Hoa nói: “Ba cõi không yên cũng như nhà lửa.” Chúng sanh thường bị sanh già bệnh chết, lo lắng tai họa, thiêu đốt không dứt, cho nên Bà Vi Đề Hy nhàm chán Ta Bà cho là nơi ngũ trược ác xứ. Vì sao gọi là ngũ trược?

1- Kiếp trược chỉ dịch bệnh, cơ cẩn, đao binh hoành hành.

2- Phiền não trược chỉ tất cả chúng sanh đều bị phiền não bức bách.

3- Mạng trược chỉ cho nhơn mạng vô thường ngắn ngủi.

4- Kiến trược chỉ chúng sanh điên đảo chấp lầm bài báng không tin.

5- Chúng sanh trược chỉ chúng sanh say mê trong dục vọng xoay quanh trong sanh tử, lấy khổ làm vui không cầu ra khỏi. Lại có ác đạo như địa ngục ngạ quỷ súc sanh đầy dẫy, các việc ác chứa nhóm. Quả thật cõi Ta Bà này là cõi trược ác. Vì vậy Chư Phật rũ lòng thương dạy nhàm chán cõi ác trược, ưa mến điều vui ở cõi Cực lạc phương Tây, nên Kinh có bài tụng:

Phật từng ngục ba cõi

Dẫn chúng sanh ra ngoài

Đấng Đại Trí nhơn thiên

Thương xót chúng mê muội

Nên mở môn cam lộ

Rộng độ các chúng sanh.

Trong Luận nói:

Vượt khỏi ngục ba cõi

Mắt như hoa sen xanh

Chúng thanh văn vô số

Nên con cung kính lễ.

Vãng Sanh Luận nói:

Quán tướng của cõi kia

Vượt khỏi xa ba cõi

Cứu kính như hư không

Rộng lớn không ngăn mé.

Quần Nghi Luận nói:

Tịnh độ vượt ngang ba cõi

Thoát khỏi tất cả năm đường

Người được vãng sanh cực lạc,

Không có danh xưng ba cõi

Thẳng đến vô thượng Bồ Đề.

Qua những lời kệ tụng trên cho thấy Tịnh Độ Phật A Di Đà ở ngoài ba cõi, nên nói người tu niệm Phật mau ra khỏi ba cõi.

Nếu muốn niệm Phật A Di Đà mau sanh Tịnh độ cần phải thành tựu ba nghiệp, thứ nhất tâm chỉ có lòng tin kiên cố, thứ hai miệng chỉ có niệm danh hiệu Phật kiên cố, thứ ba thân chỉ có cung kính, không hỏi có người không người, cao thấp già trẻ, ngày đêm thường không giải đãi gọi là kỉnh thành tựu.

Không bàn về lỗi người tốt xấu, không nói suông như nói ăn, đếm của cho người, chỉ miệng niệm Phật, mỗi tiếng liên tục không dứt gọi là khẩu thành tựu. Không rơi vào tham sân phiền não, không náo loạn, đánh mắng náo loạn, oán hận, tật đố, sát, đạo, dâm, vọng là cái nhơn đọa tam đồ cùng pháp niệm Phật không tương ứng.

Vì thế, chỉ có người lòng tin chắc niệm Phật, không phân biệt kẻ đạo người tục, không hỏi nam nữ, giàu nghèo, không hỏi tạo tội có nặng nhẹ, chỉ cần có lòng tin làm gốc, nếu thành tựu thì vạn bệnh đều lành, không cần thuốc thang ở thế gian, muôn thiện đều tự thành; không nhờ vào kinh sách thế gian mà sớm thành tựu muôn thiện vì nó không phải là khả năng của mình là được, cũng không phải do sức tu hành của mình mà được.

Nếu y cứ vào kinh văn, người tu từ phàm phu đến sơ địa phải trải qua một Đại A Tăng kỳ kiếp. Nếu nhờ năng lực của Tam Bảo không phải trải qua nhiều kiếp. Y Kinh văn nói: Người nghe nói danh hiệu Phật A Di Đà cho đến một niệm một lòng hoan hỉ dũng mãnh, chí tâm hồi hướng liền được vãng sanh, ở vào vị Bất Thối.

Kinh Pháp Hoa nói: “Đối với người có trí, xin đem thí dụ để giải rõ: Ỏ trong thế gian chỉ có mẹ có thể làm cho thân con được yên ổn. Còn xuất thế gian chỉ có Chư Phật có thể làm cho chúng sanh thoát khỏi khổ ba cõi, được sanh về tịnh độ, thấy Phật, nghe pháp.” Y theo kinh thì Phật có lòng từ bi, hỉ xã.

Từ là ban vui, bi là cứu khổ. Chẳng luận người chịu khổ hay các loài địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thọ khổ đều cứu tế bình đẳng, nếu còn hỏi loài nào thì không gọi là Đại Bi. Như người mẹ ở thế gian đối với con có các thứ khổ đều không nài lao nhọc. Chư Phật là đấng Đại bi, không hỏi oán thân, đạo tục, nam nữ, bình đẳng đồng đều cứu khổ hết.

Những khổ đó là gì? Là khổ của thế gian và khổ của địa ngục. Dù khổ trăm ngàn muôn vạn bội, Chư Phật đều cứu hết huống là những khổ nhỏ trong con người, nếu các Ngài không đến cứu là cùng lời dạy trong kinh trái ngược nhau. Những người đang thọ khổ cần phát tâm sám hối, làm các hạnh giới, tạo các công đức, các khổ mau trừ thì lòng tin mới thành tựu, sanh tử từ đây chấm dứt.

Người không tin lời Phật dạy thì khổ không thể dứt. Trong các thứ tin, trước phải tin Tam Bảo, năng lực Tam Bảo rất bình đẳng và rộng lớn, trong thế gian không cần hỏi giàu nghèo, nam nữ chỉ có lòng cung kỉnh Tam Bảo thì tự nhiên dự được một phần giải thoát khổ đau. Muốn được giải thoát chỉ có lòng tin nơi Tam Bảo là then chốt, nếu không có lòng tin không khác gì người mù và điếc.

Nên biết người niệm Phật mỗi tiếng không dứt, không bệnh nào chẳng lành, không tội nào không dứt, chắc chắn khỏi lo sợ, cũng không thối chuyển, mỗi ngày trong tầm mắt tự nhiên mở tỏ, mỗi việc làm đều hợp với kinh giáo, đi đứng nằm ngồi tâm đức không tán loạn, cũng không mất oai nghi.

Người niệm Phật dù nghe nhiều Kinh Luận đều cùng tâm hạnh tương ưng tăng thêm lòng vui vẻ, tiếp dẫn những người có lòng tin, như mẹ cứu con không từ mệt nhọc. Người không có lòng tin cần nên ngậm miệng, không nên mở lời làm cho người khác chê bai chán pháp, chẳng những chê bai người mà còn chê bai Đức Phật. Trong kinh A Di Đà, khi Đức Thích Ca Mâu Ni nói pháp môn Tịnh Độ vì tất cả chúng sanh mà nói.

Sáu phương Chư Phật đều biết kinh này khó tin, e rằng chúng sanh đời sau nghi chê, nên hiện tướng lưỡi rộng dài để minh xác văn kinh này không dối trá. Gần đây, các hành giả sanh nhiều nghi hoặc và chê bai, chính vì việc ấy, nên Chư Phật có lời huyền ký, biết trong đời mạt pháp, chúng sanh không tin.

Nếu có người nào có lòng tin thì tất cả Chư Phật cùng nhau hộ niệm. Tự mình không tin lời Phật dạy, là tự mình không được căn lành và không thể ở vị bất thối. Đây là lời nói của Phật A Di Đà: “Nếu chúng sanh không tạo Tịnh Nghiệp là tự mình làm chướng ngại đường vào cõi Thánh.”

Tất cả các kinh đều do Phật nói ra, nếu người nào tự tu hành đúng theo giáo lý, thì Chư Thiện thần luôn luôn hộ trợ, làm cho người ấy sanh lòng kính tin, tu hành không bỏ, Chư Phật sẽ hộ trợ vị ấy theo bổn nguyện lực. Người nghe mà không tin bị đọa thẳng vào địa ngục, không có ngày ra, đâu chẳng phải điều lầm to cho cả một đời sao?

Nếu người đọc kinh văn Tịnh độ, lắng lòng xét kỹ chắc chắn sẽ cùng kinh giáo tương ưng, dùng pháp niệm Phật trì giới để đoạn trừ phiền não. Chỉ cần có lòng tin sâu chắc chí thành không lui sụt, mỗi niệm tiếng Phật không dứt, không cần hỏi kẻ đạo người tục, giàu có, bần hàn, xấu tốt, nam nữ, có tội nặng hay nhẹ, chỉ cầu làm cho lòng tin thành tựu chắc có kết quả mong muốn.

Nếu không có lòng tin, dù chư Phật có từ bi như cha mẹ cũng không thể cứu nổi, không thể vãng sanh. Chỉ có lòng tin thành tựu thì Chư Phật thường còn không mất, cũng không lui sụt. Tin Phật là bậc Đại Thánh tối tôn tối thượng, nên dù chúng sanh ở quá khứ hiện tại và vị lai, không cần hỏi tâm thiện ác nhiều ít Phật đều biết rõ. Nếu có người tin Phật Đại từ bi có thể cứu chúng sanh trong ba thời, dù có tạo nhiều ác nghiệp tội chướng mà phát lòng ăn năn chừa lỗi, Phật đều biết rõ và đều cứu độ đúng lúc, như người mẹ thấy con ở chỗ dơ bẩn đói lạnh quyết lòng cứu giúp chẳng bao giờ xa lìa. Dù đứa con không có lòng báo hiếu, mẹ vẫn không nài khó nhọc lo cho con cả cuộc đời, huống chi Đức Phật là bậc đầy lòng Đại Từ Bi thì lòng cứu khổ to lớn hơn cha mẹ ngàn muôn bội. Không phải chỉ có cứu khổ ở thế gian, mà còn cứu khổ lớn sanh tử. Cho nên, thế gian có lòng tin thì Phật liền cứu, cũng không hỏi tội nặng nhẹ.

Kinh Pháp Hoa nói: “Tất cả chúng sanh đều là con ta, ta là cha của chúng nó, các người nhiều kiếp bị các khổ thiêu đốt, ta đều cứu giúp ra khỏi ba cõi.” Đức Phật cứu độ không luận đạo tục, nam nữ, giàu nghèo, già trẻ, tốt xấu, sang hèn và tội nặng nhẹ, chỉ cần có lòng tin, có lòng hối lỗi, lòng tin thành tựu, niệm danh hiệu Phật không dứt là Phật đến cứu. Trong kinh nói: “Tất cả chư Phật đều đến hộ niệm, đều được chẳng thối chuyển. Pháp hy hữu khó tin này chỉ cần lòng tin, không luận người có tội, hoặc người nữ không được vãng sanh.

Chỉ luận có lòng tin hay không, nếu giới hạnh thành tựu đều được vãng sanh, chẳng phải là khó tin, chẳng phải là ít có. Thiện nam và thiện nữ nào có thể tin chẳng dối trá chẳng luận tội có nặng nhẹ, các bệnh đều trừ, các bệnh đều dứt, chẳng luận xa gần, chỉ giữ lòng tin, tâm mau dứt nghi hoặc, liền biết niệm Phật như mẹ cứu con nên gọi là pháp hy hữu khó tin.

Khi nói kinh này rồi hằng hà sa chư Phật ở sáu phương, mỗi vị đều hiện tướng lưỡi rộng dài, chứng minh cho biết chúng sanh trong ba đời nghe Phật dạy đều được vãng sanh. Nên gọi là pháp hy hữu khó tin. Kinh nói: “Niệm một câu Nam Mô A Di Đà Phật diệt được 80 ức kiếp tội sanh tử. Tất cả Chư Phật đều hộ niệm.”

Lòng Từ Bi của Chư Phật là bình đẳng cứu khắp chúng sanh chẳng luận kẻ đạo người tục biết hối lỗi hồi hướng phát nguyện chắc Phật cứu không hề sai sót, nên chúng sanh có lòng tin niệm Phật được thành tựu thì không có tội nào không diệt hết, không có bệnh nào là không lành, không có khổ nào là không trừ, không có nổi lo nào mà không vui mừng. Nếu có người nghe liền hối lỗi rồi học, thực hành niệm Phật thì năng lực của Phật sẽ gia hộ.

Người có lòng tin mới biết Thân nghiệp không được sát sanh trộm cướp, dâm dật, cũng không được đánh đập hại tất cả chúng sanh, cũng không được ăn mặc lòe loẹt, trang sức trau dồi, gấm vóc lụa là, muôn hồng nghìn tía, quần áo đẹp xinh, khêu gợi lòng người, làm chướng đạo nghiệp dễ bị chìm vào biển khổ. Cũng làm cho người khởi ái tâm. Người mặc áo đẹp trang sức lòe loẹt làm động lòng người. Người tu hành không nên trang điểm lòe loẹt, chỉ ăn mặc giản dị. Riêng thân có 3 điều phải giữ gìn không sát sanh, trộm cướp và tà dâm.

Về khẩu nghiệp, không được uống rượu, ăn thịt, ăn ngũ vị tân, không được nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác. Nếu giữ khẩu nghiệp thanh tịnh là đối với đạo Phật tương ưng, nếu gia tâm niệm Phật thì được sáu phương Chư Phật hộ niệm. Về ý nghiệp thì không được tham, sân, si vì nó là ba độc, bỏ tham sân si chuyên tâm niệm Phật chắc thoát khỏi tam giới./.

Lời Bạt

Trăng sáng đầy trời không qua phách quế (mặt trăn), sóng dậy đầy sông nguồn gốc bắc ở thương minh (nguồn sông), dùng muôn pháp là tâm công chỉ còn ở nhất niệm, ngàn xe họp bánh đường chẳng ngoài tổng trì, đủ diệu môn tối thắng để thoát luân hồi thật thẳng tắt, chỉ có pháp môn niệm Phật căn cứ từ cõi Phật A Di Đà hiện từ thuyền vớt chúng sanh vô lượng kiếp, pháp môn Tịnh độ mở tự tánh pháp giới kết vô giá hội, đồng về trong rừng cây báu cõi Cực lạc.

Thời Đông Tấn, Đại sư Huệ Viễn Kiết Bạch liên xã, 123 xã chúng đều được tam muội, đồng được vãng sanh, đặc biệt 18 vị cao hiền hiển bày chơn tôn, bi trí cùng làm, thánh phàm đều nhiếp hết, đem thuốc của Đại y vương chữa lành các bệnh chúng sanh,như mặt nhật huệ ở trên không, bóng tối ngàn năm mau dứt, biến thế giới thành hoàng kim, người được vãng sanh vị ở bất thối, ngồi hoa sen thấy Phật chứng quả vô sanh. Như cửu khúc minh châu tuy nhỏ bằng một tất tơ mà có thể biết mùi vị của dòng nước trăm sông, muốn khô bể nghiệp cần phải niệm Phật A Di Đà. Nếu tâm luôn luôn hệ niệm Đức Phật kia thì không nhọc khảy móng tay Tây Phương cũng đến.

Có bài kệ rằng:

Duy Tâm Tịnh độ phải thừa đương.

Tự tánh Di Đà mỗi chỗ thường

Không khổ không lo là Cực lạc.

Đừng thương đừng ghét ấy Tây phương

Hà sa công đức xưa nay đủ.

Diệu bửu trang nghiêm, chẳng thể lường

Chuyên niệm chủ nhân Vô Lượng Thọ

Thấy nghe thanh sắc lộ đường đường./.

The post Niệm Phật Kính appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/niem-phat-kinh.html/feed 0
An Lạc Tập https://bachhac.net/an-lac-tap.html https://bachhac.net/an-lac-tap.html#respond Tue, 27 Aug 2019 08:08:42 +0000 https://bachhac.net/?p=2281 Lời Giới Thiệu Phật là Tánh thể, Pháp là Sự lý, Tăng là hòa hợp chúng, trong chúng có đầy đủ tánh thể. Nhưng tâm, Phật, chúng sanh. ba thứ đều không sai khác, chúng là danh từ chung chỉ cho người tại gia và xuất gia, vi tánh lý không hai. Tánh thể mê …

The post An Lạc Tập appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
an lactap

Lời Giới Thiệu

Phật là Tánh thể, Pháp là Sự lý, Tăng là hòa hợp chúng, trong chúng có đầy đủ tánh thể. Nhưng tâm, Phật, chúng sanh. ba thứ đều không sai khác, chúng là danh từ chung chỉ cho người tại gia và xuất gia, vi tánh lý không hai. Tánh thể mê ở nơi sự lý thì gọi là uế, uế là chúng sanh, tánh thể giác ngộ sự lý gọi là tịnh, tịnh là Phật.

Vì thế, chúng cần phải trì uế để chuyển thành tịnh, không thanh tịnh thì không thể làm Phật, Phật là bậc thuần tịnh có thể biết được uế, biết uế mới có thể giác ngộ chúng. Quán Kinh nói: “Tâm này là Phật, Tâm này làm Phật”. Tổ cũng nói: “Tâm uế cõi uế, Tâm tịnh cõi tịnh”.

Nên biết Phật và chúng sanh tịnh hay uế đều ở trong tâm. Đây chính là pháp yếu của Tịnh tôn, cũng là cương lĩnh của toàn tạng.

Thiền Sư Đạo Xước ấu niên xuất gia học thông kinh luận, sau đắc pháp với Toản Thiền Sư, nhưng Ngài chuyên tu Tịnh độ. Ngài giảng dạy Quán Kinh và sau đó chứng được Quán Tưởng Tam Muội. Năm Trinh Quán thứ 2 nhà Đường, giữa lúc giảng kinh, cả chúng đều thấy Pháp Sư Đàm Loan ngồi trên tòa Thất Bảo gọi Thiền Sư Đạo Xước mà nói rằng: “Đền báu của ông ở Tịnh Độ đã hoàn thành, chỉ còn thân thừa chưa mãn đấy thôi.” Đồng thời mọi người cũng thấy Hóa Phật ngự trên hư không thiên hoa rưới xuống. Cả chúng đều hân ngưỡng và khen lạ. Năm 82 tuổi, Ngài thông báo ngày giờ trước; đúng giờ Ngài ngồi an nhiên viên tịch.

Thiền Sư Đạo Xước là một học giả và cũng là một hành giả xuất sắc. Vì thế, tác phẩm An Lạc Tập hoàn toàn được dẫn chứng từ các kinh điển để giải quyết những điều nghi hoặc và làm hành giả có một niềm tin vững chắc vì đây là những điều phù hợp với kinh giáo, tương ưng với bản nguyện của Phật A Di Đà, thuận theo lời Phật dạy, do đó, không có tạp duyên nên dễ được chánh niệm.

Đồng thời, những lời giải thích là do kết quả tu tập, Ngài đã chứng được Tam muội, nên lời nói ra không có gì đáng nghi ngờ. Chính vì thế, chúng tôi chân thành giới thiệu đến toàn thể liên hữu tác phẩm vô giá này.

Trọng Thu Quý Mùi

Hồng Nhơn Cẩn Bút.

An Lạc Tập

Nội dung toàn bộ An Lạc Tập gồm có 12 chương đều dẫn kinh luận chứng minh khuyên người khởi lòng tin cầu nguyện vãng sanh Cực Lạc.

Chương Một

1. Nguyên do lập giáo

Nói về thời gian và căn cơ thích hợp cho người tu Tịnh Độ. Bất cứ một việc làm gì, nếu hợp với thời cơ thì sẽ dễ dàng, người tu nếu giáo lý phù hợp với thời cơ sẽ dễ tu và dễ ngộ hơn.

Trái lại sẽ khó tu và khó ngộ nhập. Nên trong Chánh Pháp Niệm Kinh nói: “Khi hành giả nhất tâm cầu đạo cần phải quán sát thời cơ và phương tiện, nếu không đúng thời và không có phương tiện phù hợp thì mất tất cả lợi ích”.

Vì sao vậy? Vì lấy cây ướt để mồi lửa, lửa không thể cháy vì không đúng thời. Nếu đập cây khô để tìm nước, không thể có nước được, người không biết dùng đúng thời cơ là người không có trí tuệ.

Trong Đại Tập Nguyệt Tạng Kinh nói: “Phật có lời di chúc: Sau khi ta diệt độ chừng khoảng 500 năm thứ nhất các đệ tử của ta học huệ được kiên cố; khoảng 500 năm thứ hai sau, người học định được kiên cố; khoảng 500 năm thứ ba sau, nghe nhiều, đọc tụng kiên cố; khoảng 500 năm thứ tư, tạo lập tháp tượng, tu phước, sám hối được kiên cố; khoảng 500 năm thứ năm, thế pháp che ngăn, phần nhiều chú trọng đến việc tranh cãi, các việc lành nhỏ được kiên cố.

Cũng trong Đại Thập Nguyệt Tạng nói: “Chư Phật ra đời có 4 phương pháp độ chúng sanh:

1- Chính miệng các Ngài nói ra 12 bộ kinh là dùng pháp thí để độ sanh.

2- Chư Phật có vô lượng tướng hảo, ánh sáng, tất cả chúng sanh chỉ cần để tâm quán sát đều được lợi ích, đây là dùng thân nghiệp để độ sanh.

3- Có vô lượng đức dụng, thần thông, đạo lực, các thứ biến hóa, là dùng sức thần thông để độ chúng sanh.

4- Chư Phật Như Lai có vô lượng danh hiệu, hoặc danh hiệu chung, hoặc danh hiệu riêng, có chúng sanh nào trói tâm xưng niệm, đều có thể trừ các chướng và được lợi ích, đều được sanh trước Phật là dùng danh hiệu độ chúng sanh. Tính đến bây giờ, chúng sanh đã cách Phật hơn 2,000 năm, chính là lúc sám hối, tu phước, là lúc cần xưng danh hiệu Phật.

Nếu người nào một lòng xưng danh hiệu Phật A Di Đà là có thể trừ được 80 ức kiếp tội trọng sanh tử. Một niệm còn được như thế huống chi hành giả thường niệm, thường sám hối. Như thế, từ ngày Phật thị tịch đến 2 ngàn năm, giai đoạn đầu người tu lấy tu Định tu Huệ làm Chánh học, sau 2 ngàn năm, cách Phật đã xa, nên lấy việc Trì Danh làm Chánh tu, Chánh học. Vì sao? Vì sự thực do chúng sanh cách Phật đã xa, căn cơ và chỗ hiểu đều cạn cợt và ám độn. Vì thế, Bà Vi Đề Hy là một đại sĩ vì thương chúng sanh trong thời mạt pháp ngũ trược, luân hồi nhiều kiếp chịu nhiều thống khổ, nên mượn duyên khổ để mở ra con đường cầu xin, để Phật dủi lòng từ khuyên về Cực Lạc. Nếu muốn ở cõi này đoạn hoặc chứng chơn, tiến lên Phật quả, thật khó bước lên, chỉ có pháp môn Tịnh Độ có thể dùng cách “đạp gai lấy gai mà lể” để thẳng vào. Nếu muốn hiểu rõ, trong kinh nói đến rất nhiều, lời thực chỉ rành, giúp ích tu tập. Nếu muốn dứt vòng sanh tử, lưu chuyển không cùng, cần phải một lòng xưng dương Phật Vô Lượng Thọ.

2. Căn cứ vào các Kinh Đại Thừa về quy tắc nói và nghe

Kinh Đại Tập nói: “Đối người thuyết pháp, phải tưởng là y vương, tưởng người cứu khổ. Pháp nói ra phải tưởng là Cam lồ, tưởng là Đề hồ. Người phe pháp tưởng được tăng trưởng thắng giải, tưởng được lành bệnh. Nếu nói và nghe đều có tưởng như thế, người nói và người nghe đều có thể nối thạnh dòng Phật, thường sanh trước mặt Phật.

Đại Trí Độ Luận nói: Người nghe phải xem như mình đang khát được uống, một lòng thâm nhập vào nghĩa và lời, nghe pháp tâm mạnh mẻ vui mừng, những người như thế cần vì người đó mà nói pháp. Có 2 hạng người được phước vô lượng vô biên. 1- Người ưa nói pháp. 2- Người ưa nghe pháp. Vì thế A Nan bạch Phật: Ngài Xá Lợi Phất, Ngài Mục Kiền Liên vì sao được gọi là trí huệ thần thông thứ nhất và đệ tử thù thắng của Phật: Phật bảo A Nan vì 2 người này khi tu nhơn, vì nhơn duyên nói pháp mà đi xa ngàn dặm không nài khó nhọc, vì thế ngày nay có quả báo vô cùng thù thắng.

Kinh Vô Lượng Thọ nói: Nếu người không có cội gốc lành, không được nghe kinh này, người thanh tịnh, giữ giới mới được nghe chánh pháp. Người từng thấy Thế Tôn mới có thể tin việc này, phụng sự ức Như Lai, ưa nghe dạy như thế.

Vô Lượng Thanh Tịnh Giải Kinh: Người thiện nam kẻ thiện nữ nghe nói pháp môn Tịnh Độ sanh lòng vui mừng, lông trong thân đều dựng đứng, như được nhổ ra, nên biết người đó đời trước đã tu đạo Phật. Nếu có người nào nghe mở pháp môn Tịnh Độ đều không sanh lòng tin thì biết người này mới vừa 3 đường dữ đến, báo nạn chưa hết do đó nên không có lòng tin tưởng. Ta nói người này không thể được giải thoát. Nên Kinh Vô Lượng Thọ nói: người kiêu mạn, che ngăn, giải đải khó tin được pháp này.

3. Căn cứ vào Đại Thừa Kinh Giáo để biết chúng sanh phát tâm lâu mau, cúng dường nhiều ít.

Kinh Niết Bàn nói: Phật bảo Bồ Tát Ca Diếp: Nếu có chúng sanh ở trong Nửa hằng hà sa Phật mà phát tâm Bồ Đề, về sau này ở trong đời ác nghe kinh điển Đại Thừa mà không bài báng.

Nếu có chúng sanh nào ở trong Một hằng hà sa Phật phát tâm Bồ Đề, về sau mới có thể ở trong đời ác nghe kinh, mới không khởi lòng bài báng, sanh lòng vui ưa. Nếu có chúng sanh nào ở trong Hai hằng sa Phật phát tâm Bồ Đề, về sau mới ở trong đời ác không chê pháp môn Tịnh Độ này, hiểu rõ tin ưa, thọ trì đọc tụng.

Nếu có người ở trong Ba hằng hà sa Phật phát tâm Bồ Đề, sau đó mới ở trong đời ác không chê phương pháp này, biên chép kinh điển, tuy vì người nói chưa hiểu thâm nghĩa. Vì sao thế? Cần phải so lường vì hiển bày ngày hôm nay ở dưới tòa nghe kinh, từng đã phát tâm cúng dường nhiều vị Phật.

Lại hiển bày oai lực của kinh Đại Thừa không thể nghĩ bàn. Vì thế trong kinh nói: nếu có chúng sanh nghe kinh điển này trải qua ức trăm ngàn kiếp không bị đọa ác đạo. Vì sao? Chỗ kinh điển ấy lưu bố, nên biết đất ấy là kim cương, các người trong ấy đều cũng là kim cương. Nên biết, nghe kinh sanh lòng tin được lợi ích không thể nghĩ bàn.

4. Luận Tôn chỉ các Tôn chẳng đồng

Nếu y cứ vào kinh Niết Bàn lấy Phật tánh làm tôn, y cứ vào kinh Duy Ma lấy bất khả tư nghì giải thoát làm tôn, nghe kinh Bát Nhã lấy không huệ làm tôn, nghe vào Đại Tập Kinh lấy Đà la ni làm tôn, Quán kinh này lấy Quán Phật Tam muội làm tôn, nếu luận về cảnh sở quán là y cứ vào y báo và chánh báo, căn cứ vào các quán đều có giải rõ.

Kinh Quán Phật Tam muội nói: Phật bảo phụ vương: Chư Phật ra đời đem lại cho chúng sanh 3 thứ lợi ích.

1- Miệng nói ra 12 bộ kinh là lợi ích về pháp thí có thể trừ vô minh ám chướng cho chúng sanh, mở mắt trí huệ, sanh ở trước Phật, mau được Vô thượng Bồ đề.

2- Chư Phật Như Lai có thân tướng ánh sáng trang nghiêm, vô lượng diệu hảo, nếu có chúng sanh nào xưng niệm, quán sát, hoặc tổng tướng hoặc biệt tướng. Không quên Phật thân hiện tại, quá khứ đều có thể trừ diệt tội tứ trọng và ngũ nghịch của chúng sanh, vĩnh viễn thoát khỏi tam đồ, tùy ý mong muốn thường sanh về Tịnh Độ cho đến thành Phật.

3- Khuyên thực hành niệm Phật tam muội. Đức Phật khuyên phụ vương thực hành niệm Phật Tam muội. Vua Tịnh Phạn bạch Phật: Các phương pháp tu như: Quả Đức Phật Địa, Chơn Như Thật Tướng, Đệ Nhất Nghĩa Không, vì sao không dạy đệ tử thực hành. Phật bảo: Này phụ vương! Quả Đức Phật Địa có vô lượng cảnh giới thâm diệu, thần thông giải thoát, không phải là cảnh giới thực hành của người phàm, vì thế nên khuyên phụ vương thực hành niệm Phật Tam muội. Phụ vương bạch Phật: Công năng niệm Phật trạng thái nó như thế nào? Phật bảo: Này Phụ vương!

Trong rừng y lan chu vi 40 do tuần, khi ngưu đầu chiên đàn chưa xuất hiện, cả vùng ấy hôi hám không có mùi thơm, nếu người ăn nhằm hoa quả của cây y lan thì phát cuồng mà chết. Khi ngưu đầu chiên đàn xuất hiện, mùi hương xông khắp mạnh mẻ có thể cải biến cả rừng y lan này đều có mùi thơm ngào ngạt, mọi người gặp đó đều sanh lòng hi hữu ít có. Phật bảo: Này phụ vương!

Tất cả chúng sanh ở trong sanh tử có lòng niệm Phật, lại cũng như thế, chỉ cần nhớ niệm không dừng, chắc được sanh trước Phật. Một khi đã được vãng sanh, liền có thể cải biến tất cả các điều ác thành đại từ bi, như cây chiên đàn kia biến đổi rừng y lan. Rừng y lan thí dụ như trong thân chúng sanh có 3 độc, 3 chướng, vô biên tội trọng. Nói chiên đàn thí dụ như tâm chúng sanh niệm Phật. Nếu chúng sanh niệm Phật không gián đoạn, đạo nghiệp chắc được thành tựu.

Có người hỏi: Nếu tính công của tất cả chúng sanh niệm Phật cũng có thể tạm được, vì sao sức của 1 người niệm mà có thể đoạn trừ hết tất cả chướng như chiên đàn có thể cải biến rừng y lan 40 do tuần thơm tho được? Nếu căn cứ vào các kinh điển Đại thừa thì niệm Phật Tam muội công năng không thể nghĩ bàn được.

Kinh Hoa Nghiêm nói: Nếu có người dùng gân sư tử làm dây đàn, âm thanh khi khảy lên một tiếng, tất cả các dây đàn thẳng đều bị đứt đoạn, nếu người phát tâm Bồ đề thực hành niệm Phật tam muội, tất cả phiền não, tất cả chướng nạn đều đoạn diệt. Cũng như có người đem sữa của các thứ trâu, dê, lừa, ngựa để vào trong 1 cái bồn, nếu nhỏ 1 giọt sữa sư tử vào các sữa đều bị biến thành nước.

Như người phát tâm Bồ đề thực hành niệm Phật tam muội, tất cả ác ma, các chướng vượt qua không có vướng nạn. Như có người cầm thuốc che mình, dạo đi các chỗ, tất cả mọi người đều không thấy, nếu người phát tâm Bồ đề tu niệm Phật Tam muội, tất cả ác thần, tất cả oán tặc không thể thấy người ấy, người ấy tùy ý đi lại đều không bị tai họa, vì sao vậy? Vì niệm Phật tam muội là vua của các tam muội vậy.

5. Lược giải nghĩa Ba Thân và Ba Độ

Hỏi: Hiện tại Phật A Di Đà là thân gì và cõi nước Cực Lạc là cõi gì?

Đáp: Hiện tại Phật A Di Đà là báo thân Phật, cõi Cực Lạc trân bảo trang nghiêm là báo độ. Tuy vậy, ngày xưa tương truyền đều nói Phật A Di Đà là hóa thân, cõi Cực Lạc cũng là hóa độ. Đây là một điều lầm lớn! Nếu nói cõi uế là chỗ ở của hóa thân và tịnh độ cũng là chỗ ở của hóa thân, như vậy báo thân của Như Lai ở vào cõi nào.

Ở đây xin y theo Kinh Đại Thừa Đồng Tánh để phân định rõ báo thân và hóa thân, cõi tịnh và cõi uế rõ ràng. Kinh nói: “Trong cõi Tịnh người thành Phật là Báo thân, cõi uế người thành Phật đều là hóa thân”. Lại nói: “Các Đức Như Lai như: A Di Đà Như Lai, Liên Hoa Khai Phu Tinh Vương Như Lai, Long Chư Vương Như Lai, Bửu Đức Như Lai, Các Ngài ở trong cõi thanh tịnh thị hiện đắc đạo, tất cả các vị như thế đều là báo thân Phật.

Vì sao các Đức Như Lai gọi là hóa thân? Như hiện tại Như Lai Dũng Bộ, Như Lai Ma Khủng Bố, tất cả các Đức Như Lai này ở trong đời trược hiện tướng thành Phật, sẽ thành Phật hoặc từ cung trời Đâu Xuất giáng trần trụ thời chánh pháp, tượng pháp, mạt pháp, các hóa sự như thế đều là hóa thân Phật.

Còn Pháp thân của Như Lai là không sắc, không hình, không hiện, không trước, không thể thấy, không thể nói năng, không chỗ trụ, không sanh, không diệt gọi là chơn Pháp Thân.”

Hỏi: Báo thân của Như Lai là thường trụ vì sao trong Kinh Quan Âm Thọ Ký nói: Sau khi Phật A Di Đà nhập Niết Bàn, Bồ Tát Quán Thế Âm được bổ xứ làm Phật kế tiếp?

Đáp: Đây là tướng thị hiện hay tiềm ẩn chẳng phải là diệt độ. Kinh Đại Thừa Đồng Tánh nói: “Sau khi Phật A Di Đà nhập Niết bàn lại có những chúng sanh căn lành sâu dày vẫn thấy Phật như cũ.” Điều đó chứng minh rằng Phật không mất. Trong luận Bửu Tánh nói: “Báo thân có 5 thứ tướng là thuyết pháp, có thể thấy, các nghiệp chẳng dứt, tiềm ẩn và thị hiện không thật thể”. Điều đó có thể chứng minh khi Đại sư Trí Giả hoát nhiên đại ngộ thấy Phật còn đang thuyết pháp ở Linh Thứu Pháp hội vẫn chưa tan.

Hỏi: Báo thân và Báo độ của Phật Thích Ca ở phương nào?

Đáp: Kinh Niết Bàn nói: “Ở về phương Tây cách 42 hằng hà sa cõi Phật có thế giới tên là Vô Thắng, cõi ấy chỗ trang nghiêm cũng như thế giới Cực Lạc. Ta ở cõi kia xuất hiện nơi đời vì muốn hóa độ chúng sanh, nên phân thân đến cõi Ta Bà này, chẳng phải ta ra khỏi cõi ấy. Tất cả Như Lai lại cũng như vậy.”

Hỏi: Kinh Cổ Âm nói: “Phật A Di Đà có cha mẹ” điều đó chứng tỏ rằng chẳng phải báo Phật và báo độ?

Đáp: Ông chỉ nghe tên mà không tìm ý chỉ của Kinh, đặt ra điều nghi này thật là lầm lẫn, một sợi lông mà chạy xa ngàn dặm! Phật A Di Đà cũng đủ ba thân, xuất hiện ở cõi Cực Lạc là báo thân. Kinh nói có cha mẹ là nói cha mẹ của hóa thân thị hiện trong hóa độ. Cũng như Đức Thích Ca Mâu Ni thành tựu báo thân ở cõi Tịnh Độ Vô Thắng, ứng hiện đến cõi Ta bà này có cha mẹ thành vị Hóa Phật. Đức Phật A Di Đà lại cũng như thế. Như Kinh Cổ Âm Thinh nói: “Lúc bấy giờ Phật A Di Đà cùng chúng Thanh văn ở trong nước hiệu Thanh Thái, chỗ ở của vua Thánh. Thành ấy rộng đến 10 ngàn do tuần. Cha Phật A Di Đà là chuyển luân thánh vương. Vua tên Nguyệt Thượng. Mẹ tên Thù Thắng Diệu Nhan, Ma Vương tên Vô Thắng, con Phật tên Nguyệt Minh, Đề Bà Đạt Đa tên Tịch Ý, đệ tử hầu hạ tên Vô Cấu Xứng.” Tất cả điều dẫn ở trên đều là tướng của hóa thân. Nếu là Tịnh độ thì đâu có luân vương và nữ nhơn ở trong ấy. Trong văn nghĩa kinh đã nói rõ ràng, đâu cần phải phân biệt. Chỉ vì ông không khéo hiểu làm cho mê theo danh tự mà sanh chấp đấy thôi.

Hỏi: Nếu nói Báo thân có ẩn mất, thôi dứt thì Tịnh Độ cũng có thành hoại, việc ấy thế nào?

Đáp: Câu hỏi này cũng đã có nhiều người hỏi, ở đây xin dẫn kinh chứng minh, để từ đó chúng ta hiểu rõ. Như thân Phật thường trụ mà chúng sanh thấy Phật có vào Niết bàn, Tịnh độ cũng vậy, thể không có thành hoại tùy theo chỗ thấy của chúng sanh mà có thành hoại.

Hoa Nghiêm Kinh nói: “Như người thấy Đạo Sư , nhiều thứ sắc vô lượng, tùy theo tâm hạnh chúng sanh, thấy cõi Phật cũng vậy”. Tịnh Độ Luận nói: “Một chất chẳng thành được, tịnh, uế có khuyết đầy, khác chất không thành được, gốc xấu thì cành tối, không chất chẳng thành được, duyên khởi có muôn hình”. Nên biết, nếu căn cứ vào pháp tánh Tịnh Độ thì không luận trong hay đục. Nếu căn cứ vì lòng đại bi hiện ra báo độ và hóa độ, thì có tịnh có uế vậy. Cần nên biết, cõi Phật đối với căn cơ cảm ứng chẳng đồng, có ba thứ sai biệt:

1- Từ chơn còn để lại báo (kết quả) nên gọi là báo độ cũng như ánh sáng mặt nhật chiếu bốn châu thiên hạ. Pháp thân như mặt nhật, báo và hóa như ánh sáng.

2- Từ chỗ không mà bỗng nhiên có thì gọi là hóa. Như Tứ Phần Luật nói: “Như Lai Đỉnh Quang hóa thành Đề Bà và thành Bạt Đề gần nhau qua lại thân thiết, thời gian sau hóa lửa thiêu cháy sạch làm cho các chúng sanh thấy việc vô thường đều sanh lòng nhàm chán, quay về đạo Phật”. Trong Kinh nói: “Hoặc hiện kiếp hỏa, trời đất đều tiêu tan, chúng sanh tưởng trời đất hằng còn, thấy điều ấy làm cho biết được lý vô thường. Hoặc vì cứu nghèo đói, lập ra kho vô tận, tùy duyên mở rộng đạo, làm chúng sanh phát khởi tâm Bồ đề.”

3- Ẩn cõi Uế hiển bày cõi Tịnh: Như trong kinh Duy Ma, Phật dùng ngón chân bấm xuống đất, ba ngàn cõi nước đều thành Tịnh Độ. Quốc độ của Phật Vô Lượng Thọ ở đây là từ Chơn để lại báo độ. Vì sao được biết? Căn cứ vào Kinh Quán Âm Thọ Ký nói: “Đời vị lai Bồ Tát Quán Âm thành Phật, thế chỗ của Phật A Di Đà”. Do đó mà chúng ta biết cõi Cực Lạc là báo độ.

6. Cõi Cực Lạc phàm thánh đồng ở.

Nước Phật Vô Lượng Thọ này là báo độ do thành tựu Phật nguyện bao gồm cả bậc thượng và hạ. Bậc hạ những người hạ thiện phàm phu cũng được vãng sanh. Bậc thượng các bậc Địa Thượng Bồ Tát như Thiên Thân, Long Thọ cũng nguyện sanh về. Nếu trong Đại A Di Đà Kinh, Bồ Tát Di Lặc hỏi Phật: “Không biết cõi này có bao nhiêu Bồ Tát bất thối sanh về cõi ấy?” Phật dạy: “Thế giới Ta Bà này có sáu mươi bảy ức Bồ Tát bất thối đều được vãng sanh, nếu muốn nói rộng các phương đều như vậy.”

Hỏi: Tịnh Độ Phật A Di Đà bao gồm thượng và hạ không biết bậc thượng tu vô tướng mới được sanh, còn phàm phu theo hữu tướng tu thì thế nào?

Đáp: Phàm phu trí cạn phần nhiều y theo tướng mà cầu chắc được vãng sanh, tuy vậy vì thiện tướng sức yếu nên chỉ sanh về cõi có tướng. Chỉ thấy báo thân và hóa thân Phật. Cho nên trong Kinh Quán Phật Tam Muội, phẩm Bổn Hạnh Bồ Tát nói: “Văn Thù Sư Lợi bạch với Phật rằng: Con nhớ vô lượng kiếp về thời quá khứ lúc còn là phàm phu, cõi ấy có một Đức Phật tên Bảo Oai Đức Thượng Vương Như Lai, khi Phật ấy ra đời như bây giờ không khác, đức Phật kia cũng thân cao một trượng sáu thân màu vàng tía, nói pháp Ba Thừa như đức Thích Ca bây giờ. Lúc ấy, cõi nước kia có một Đại Trưởng giả tên Nhất Thiết Trí.

Trưởng giả có một người con tên Giới Hộ. Lúc người con còn ở trong thai mẹ, bà mẹ kính tin Tam bảo, nên dự cho người con thọ Tam qui y. Đứa con sanh ra được 8 tuổi, cha mẹ thỉnh Phật về nhà cúng dường. Đồng tử gặp Phật liền làm lễ, lòng rất cung kính, mắt chẳng tạm rời.

Nhờ được gặp Phật nhớ Phật, nên trừ được tội trọng sanh tử trăm vạn ức na do tha kiếp, từ đó về sau thường sanh Tịnh độ, nên được gặp chư Phật trăm ức na do tha hằng hà sa vị. Các Đức Thế Tôn này cũng dùng tướng hảo độ thoát chúng sanh. Khi ấy Đồng tử hết lòng hầu hạ, không có khuyết điểm, lễ bái cúng dường, chấp tay quán Phật, vì sức nhơn duyên này lại được gặp trăm muôn A Tăng Kỳ Phật.

Các Đức Phật kia cũng dùng sắc thân tướng hảo hóa độ chúng sanh, từ đó về sau được trăm ngàn ức niệm Phật tam muội, lại được A Tăng Kỳ Đà La Ni. Đã được việc này rồi chư Phật hiện ra trước mặt nói pháp vô tướng, chỉ trong giây lát được Thủ Lăng Nghiêm Tam muội. Lúc ấy, Đồng tử kia chỉ thọ Tam Qui và lễ Phật, quán chắc thân Phật, tâm không mệt mỏi, do nhơn duyên đó, gặp vô số Phật, hà huống hộ niệm, đầy đủ tư duy quán sắc thân Phật.

Đồng tử lúc ấy đâu phải người nào lạ, chính là thân tôi đây. Lúc ấy, Đức Thế Tôn khen Văn Thù rằng: Lành thay, lành thay, ông vì lễ Phật mà được gặp vô số Phật, huống chi đời sau các đệ tử ta, siêng năng quán Phật và niệm Phật. Phật bảo A Nan: Ông hãy nhớ lời Văn Thù Sư Lợi, phổ biến trong đại chúng, và chúng sanh đời vị lai, người nào hay lễ Phật, niệm Phật, quán Phật, phải biết người này cùng Văn Thù Sư Lợi công đức không khác. Khi bỏ thân này ở đời khác Văn Thù và các Bồ Tát vì người ấy mà làm Hòa Thượng”.

Đoạn văn trên chứng minh rằng Tịnh Độ gồm chung cả tướng độ, chắc vãng sanh không còn gì phải nghi.

Nếu biết vô tướng ly niệm làm thể mà duyên trong ấy cầu vãng sanh thì phần nhiều được thượng phẩm. Vì thế, Vãng Sanh Luận của ngài Thiên Thân dạy: “Nếu có thể quán 29 thứ trang nghiêm thanh tịnh liền vào nhất cú. Nhất pháp cú gọi là thanh tịnh cú; thanh tịnh cú là pháp thân thanh tịnh vô vi. Vì sao phải nói rõ về từ tướng mà vào? Bồ tát có hai thứ pháp thân.

1- Pháp tánh pháp thân.

2- Phương tiện pháp thân. Do Pháp tánh pháp thân nên sanh phương tiện pháp thân. Do Phương tiện pháp thân nên hiển bày ra Pháp tánh pháp thân. Hai thứ Pháp này tuy nói là khác nhưng không thể phân chia, tuy là một mà không đồng. Cho nên từ tướng tông mà vào, nếu không biết tướng rộng và hẹp thì không thể vào Pháp thân vô vi tự lợi và lợi tha được. Vô vi Pháp thân tức là Pháp tánh thân vậy. Pháp tánh tịch diệt nên Pháp thân không có tướng.

Pháp thân không tướng mà có tướng, nên tướng hảo trang nghiêm tức là Pháp thân vậy. Pháp thân vô tri mà có tri nên Nhất Thiết Chủng Trí là trí huệ chơn thật. Tuy nói có chung có riêng đều là thật tướng. Vì biết thật tướng là biết được tướng hư vọng của chúng sanh trong ba cõi. Vì biết chúng sanh trong ba cõi hư vọng là khởi lòng từ bi chơn thật, vì biết lòng từ bi chơn thật là khởi lòng qui y chơn thật”. Hôm nay hành giả không hỏi tại gia xuất gia chỉ cần biết sanh và vô sanh không rời hai đế lý phần nhiều được sanh vào thượng phẩm.

7. Tịnh Độ Phật A Di Đà ở trong hay ngoài ba cõi?

Hỏi: Cõi An Lạc ở trong ba cõi thuộc về cõi nào?

Đáp: Cõi Tịnh Độ thắng diệu, thể nó ra khỏi thế gian. Ba cõi này là nhà tối của hàng sanh tử phàm phu, tuy có khổ vui sai khác, xét chung tất cả đều ở trong vòng hữu lậu, luân chuyển xuống lên không có bờ mé, sanh tử lộn xộn chịu đựng không cùng, bốn thứ điên đảo vây quanh, từ nhơn đến quả, dối trá chứa nhóm thật là đáng chán, nên Tịnh Độ không thuộc ba cõi. Trí Độ Luận nói: “Quả báo ở Tịnh không có tham dục nên không phải Dục giới. Ở dưới đất nên không phải Sắc giới, có hình sắc nên không phải Vô Sắc giới.

Tuy nói ở trên đất nhưng cõi ấy thù thắng tuyệt vời”. Vãng Sanh Luận nói: “Quán tướng thế giới kia, vượt trội hơn ba cõi, cứu kính như hư không, rộng lớn không có bờ mé. Đại A Di Đà Kinh nói: “Diệu độ rộng lớn vượt hạn lượng, tự nhiên bảy báu hợp lại thành, do bổn nguyện Phật trang nghiêm tốt, cúi xin Thanh Tịnh nhiếp thọ cho, thế giới sáng chói, đẹp đẽ tuyệt, điều hòa an vui, không có bốn mùa, tư lợi lợi tha đều viên mãn, nương về Cực Lạc tối trang nghiêm.

Chương Hai

Chương này nhằm vào 3 chủ điểm là phát tâm Bồ đề, phá dị kiến, tà chấp và vấn đáp để giải nghi tình.

1. Phát tâm Bồ Đề:

Là phát khởi tâm hướng về mục tiêu cao cả nhất, đó là quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác, người tu hành có mục tiêu chắc chắn không phí uổng công sức.

Công dụng phát khởi tâm Bồ đề trong Đại Kinh nói: “Phàm muốn vãng sanh Tịnh Độ cần phải lấy việc phát khởi tâm Bồ đề làm gốc. Vì sao? Vì Bồ đề là tên của quả vị Phật đạo Vô Thượng, chính là muốn phát khởi tâm làm Phật, tâm này rộng lớn trùm khắp pháp giới, tâm này cứu cánh rộng lớn như hư không, tâm này dài rộng khắp đời vị lai, tâm này thể vốn đầy đủ xa lìa hai chướng. Nếu có thể phát khởi tâm này thì đoạn lìa dòng sanh tử từ vô thỉ, có các công đức hướng về Bồ đề đều có thể tiến đến quả Phật, không thể hư mất, ví như hái hoa ngũ tịnh dù gió cả ngày cũng không héo, ở nguồn nước sông linh thủy dù bị hạn cả đời cũng không khô cạn.

Danh thể của Bồ đề gồm có 3 thứ:

a- Pháp thân Bồ đề là nói về chơn như thật tướng, đệ nhất nghĩa không, tự tánh thanh tịnh, thể không ô nhiễm, lý ngoài thiên nhơn, không nhờ tu mà thành gọi là Pháp thân, bản thể đạo Phật gọi là Bồ Đề.

b- Báo thân Bồ đề là tu đủ muôn hạnh có thể cảm cái quả báo thành Phật, vì quả có ra là để đáp nhơn gọi là báo thân, viên thông vô ngại gọi là Bồ đề.

c- Hóa thân Bồ đề là từ báo thân khởi dụng biến hóa để độ hết muôn căn cơ nên gọi là hóa thân, lợi vật viên thông gọi là Bồ đề.

Hiển bày chỗ Phát tâm Bồ Đề có khác nhau, vì hành giả tu nhân Bồ Đề phải đủ ba thứ:

a- Cốt yếu phải biết rõ cái có và không, từ xưa đến nay tự tánh vốn thanh tịnh.

b- Duyên tu vạn hạnh và tám muôn bốn ngàn các môn Ba La Mật.

c- Lấy đại từ bi làm gốc thường tiếp dẫn độ người làm hoài bảo.

Ba món này có thể tương ưng với đại Bồ đề nên gọi Phát tâm Bồ Đề. Trong Tịnh Độ Luận nói: “Nay nói Phát tâm Bồ Đề là tâm nguyện làm Phật, tâm nguyện làm Phật là tâm độ chúng sanh, tâm độ chúng sanh là nhiếp thủ chúng sanh nào có tâm muốn sanh về cõi Phật.” Nay đã nguyện sanh về Tịnh Độ nên trước phải Phát tâm Bồ Đề.

Hỏi: Nếu tu đủ muôn hạnh có thể cảm quả Bồ đề được thành Phật, vì sao trong Kinh Chư Pháp Vô Hành nói: “Nếu người cầu Bồ đề tức không có Bồ đề, người ấy xa cách Bồ đề như trời đất.”?

Đáp: Chánh thể của Bồ đề lý cầu vô tướng, nay đem tướng mà cầu thì không phải là lý thật nên nói xa cách. Nên trong kinh nói: “Bồ đề không thể dùng tâm mà được, không thể dùng thân mà được.” Nay nói hành giả tuy biết tu hành qua sự cầu mà hiểu rõ lý thể không cầu nên không phá hoại giả danh, nên tu đủ vạn hạnh có thể cảm ứng được. Đại Trí Độ Luận nói: “Nếu người chấp có Bát Nhã thì bị trói buộc, nếu không chấp có Bát Nhã cũng bị trói buộc. Nếu người thấy Bát Nhã là giải thoát, hoặc không thấy Bát Nhã cũng là giải thoát.” Nên Bồ tát Long Thọ nói: “Trong ấy không lìa bốn câu là bị trói buộc, lìa bốn câu thì được giải thoát.”. Nay cầu Bồ đề chỉ nên tu như thế thì làm mà không làm, không làm mà làm là không trái với đạo lý nhị đế. Căn cứ vào Vãng Sanh Luận nói: “Phàm muốn phát tâm hợp với Vô thượng Bồ đề có 2 nghĩa: Trước phải lìa ba thứ trái nhau với Bồ đề và phải biết ba thứ thuận với Bồ đề.

Vì sao phải xa lìa 3 thứ trái với Bồ đề? Hành giả y theo trí huệ, không cầu vui cho mình, xa lìa tâm tham đắm của tự thân. Hành giả y theo Từ Bi, nhổ tất cả khổ cho chúng sanh, xa lìa những điều làm tâm chúng sanh không an và hành giả y theo phương tiện, tâm thương xót tất cả chúng sanh, xa lìa tâm ưa thích cung kính cúng dường cho tự thân. Đây gọi là 3 thứ trái với Bồ đề tâm.

Thế nào là thuận với Bồ đề? Bồ tát xa lìa ba thứ trái với Bồ đề vừa kể trên liền được 3 thứ thuận với Bồ đề. Thế nào là 3 thứ?

a- Tâm vô nhiễm thanh tịnh là không tự mình tìm cầu các thứ vui riêng. Bồ đề là chỗ vô nhiễm thanh tịnh, nếu vì tự thân tìm cầu các thứ vui là trái với Bồ đề, cho nên tâm không nhiễm, thanh tịnh là thuận với Bồ đề.

b- Tâm an thanh tịnh vì nhổ tất cả khổ chúng sanh, Bồ đề là chỗ thanh tịnh an ổn tất cả chúng sanh. Nếu không có lòng nhổ tất cả chúng sanh lìa khổ sanh tử, là trái với Bồ đề, cho nên nhổ tất cả khổ chúng sanh là thuận với Bồ Đề.

c- Tâm vui thanh tịnh là muốn làm cho chúng sanh được Đại Bồ đề, nhiếp thủ chúng sanh sanh về quốc độ Cực Lạc. Bồ đề là chỗ cứu kính thường lạc, nếu không làm cho tất cả chúng sanh được cứu kính thường lạc là trái với Bồ đề. Thường lạc cứu kính này, nương vào chỗ nào mà được, cần y vào Đại Nghĩa môn, Đại Nghĩa môn là nói về quốc độ an lạc kia, nên làm cho một lòng chuyên chú, nguyện sanh về nước kia, làm cho được sớm được Vô thượng Bồ đề.

2. Phá dị kiến tà chấp:

Nói đến Đại thừa thường vượt hẳn kiến thức phàm phu Nhị thừa, tuyệt cả đối đãi, vào thẳng lý trung đạo, mỗi câu mỗi lời đều có những thâm ý đặc thù. Vì vậy nên có nhiều người sanh ra tà chấp. Do đó chương này nêu những điểm then chốt dùng kinh chứng minh phá hết tình nghi. Nghi đã tan thì Tin sẽ tự nhiên đến.

a.- Phá về sự vọng chấp vô tướng của Đại thừa.

Hỏi: Hoặc có người nói Đại thừa vốn vô tướng, đừng niệm kia đây. Nếu nguyện sanh Tịnh Độ chính là thủ tướng, tăng thêm sự ràng buộc hữu lậu thì cầu để làm gì?

Đáp: Sự suy lường như thế là sai lầm vì tất cả Chư Phật nói pháp cốt yếu đủ hai thứ duyên. Thứ nhất là y thật lý của Pháp tánh. Thứ hai là thuận theo chơn đế và tục đế. Câu hỏi ở trên theo Đại thừa vô niệm chỉ y vào pháp tánh lại chê vô duyên cầu là không thuận với hai đế lý. Nếu có cái chấp này thì rơi vào cái không đoạn diệt. Cho nên Kinh Vô Thượng Y nói: “Phật bảo A Nan! Tất cả chúng sanh nếu khởi chấp ngã to như núi Tu Di, ta cũng không sợ. Vì sao? Vì người này tuy chưa được thoát ly, nhưng thường không phá hoại lý nhơn quả nên quả báo không mất. Nếu khởi chấp không nhỏ như hạt cải, ta cũng không cho. Vì sao? Vì cái chấp ấy là phá mất nhơn quả, nhiều kiếp bị đọa vào ác đạo, trong đời vị lai chỗ được sanh ra, chắc trái lời dạy của ta.” Vì thế, nay khuyên các hành giả, lý tuy vô sanh mà đạo lý Nhị đế cần phải duyên, cần tất cả đều được vãng sanh. Vì thế, Kinh Duy Ma Cật nói: “Tuy quán quốc độ Chư Phật cùng chúng sanh vốn không mà thường tu Tịnh Độ, giáo hóa quần sanh. Tuy hành vô tác mà hiện thọ thân, đó là hạnh Bồ Tát, tuy hành vô khởi mà khởi nhất thiết thiện hạnh, Bồ tát nầy thực hành đúng những đều chứng chơn thật.”

Hỏi: Ở thế gian có người thực hành Đại thừa vô tướng, không chấp kia đây toàn không gìn giữ giới tướng, việc ấy thế nào?

Đáp: Người chấp như thế bị hại rất lớn. Vì sao? Như Kinh Đại Phương Đẳng nói: “Phật vì Ưu Bà Tắc chế giới. Không được đến nhà quả phụ, nữ nhơn, không được đến nhà bán rượu, nhà nhuộm đồ, nhà ép dầu, nhà thuộc da, các chỗ như thế đều không được qua lại. Đức A Nan bạch Phật. Vì sao chế giới này? Phật bảo: A Nan! Hành giả có 2 hạng người, là người ở ngoài đời và người xuất gia, ta không chế những việc trên riêng cho người ở thế gian. Ta nay chế ra vì tất cả chúng sanh đều là con của ta, Phật là cha mẹ của tất cả chúng sanh, chế những điều ngăn cấm là muốn tất cả sớm ra khỏi thế gian được vào Niết bàn.

b- Giải rõ Bồ Tát có ái kiến đại bi:

Hỏi: Y theo Đại thừa thánh giáo, Bồ tát đối với các chúng sanh, nếu khởi ái kiến Đại Bi, liền phải xã ly, nay khuyên chúng sanh cùng sanh Tịnh độ. Đâu chẳng phải ái nhiễm thủ tướng làm sao khỏi trầm lụy được?

Đáp: Hành pháp của Bồ tát công dụng có hai thứ là chứng Không huệ Bát nhã và đầy đủ lòng đại bi. Thế nào là chứng Không huệ Bát nhã? Vì tu năng lực Không huệ Bát nhã, tuy vào sáu nẽo sanh tử vẫn không bị trần nhiễm làm hệ lụy. Thế nào là đầy đủ lòng đại bi? Bồ tát vì lòng đại bi nhớ thương chúng sanh nên không trụ Niết bàn. Bồ tát tuy ở hai đế lý, thường hay xã có và không một cách mầu nhiệm, đi vào con đường trung đạo của lấy và bỏ, không trái với giáo lý của đạo Phật. Cho nên Kinh Duy Ma nói: “Ví như có người ở chỗ đất trống tạo lập cung điện sẽ tùy theo ý không có trở ngại, nếu cất trên hư không trọn không thể thành tựu. Bồ tát cũng như vậy, vì muốn thành tựu chúng sanh nên nguyện về cõi Phật. Cõi Phật không phải trên hư không.

c- Phá ngoài tâm không pháp.

Hỏi: Hoặc có người nói Tịnh cảnh sở quán là từ nội tâm, tịnh độ dung thông, tâm tịnh là phải, ngoài tâm không pháp, đâu cầu về Tây phương làm gì?

Đáp: Nói về Pháp tánh Tịnh độ, lý lẽ rỗng thông, không có thiên lệch hay hạn cuộc. Đây là trạng thái sanh của vô sanh. Chỉ có bậc thượng sĩ mới có thể vào. Cho nên Kinh Vô Tự Bảo Phiệt nói: “Này thiện nam tử! Lại có một pháp là chỗ giác ngộ của Phật. Có thể nói các pháp không lui không tới, không nhơn không duyên, không sanh không diệt, không nghĩ không chẳng nghĩ, không tăng không giảm. Phật bảo La Hầu La rằng: Ông nay nên phải thọ trì những lời ta vừa nói nghĩa chánh pháp chăng?

Lúc ấy ở mười phương có chín ức Bồ Tát liền bạch Phật rằng: Chúng con đều có thể trì pháp môn ấy, sẽ vì chúng sanh lưu thông chẳng dứt. Đức Thế Tôn dạy: Những thiện nam tử này là những người gánh vác đạo Bồ Đề, người ấy liền được vô ngại biện tài, được đến thế giới thanh tịnh của chư Phật. Khi mạng chung liền được thấy Phật A Di Đà và các Thánh chúng ở trước mặt người ấy, được vãng sanh về thế giới Cực Lạc.”

Nếu những người biết mình bậc trung và hạ chưa có khả năng phá tướng, cần phải y theo nhơn duyên tin Phật cầu sanh Tịnh Độ. Tuy đến cõi kia ở vào cõi có tướng. Như thế, nếu nhiếp duyên theo gốc là ngoài tâm không có pháp, nếu chia hai đế ý nghĩa rõ ràng, người tu Tịnh Độ không ngại gì tâm này ngoài pháp.

Hỏi: Nói sanh của vô sanh chỉ có bậc Thượng sĩ có thể vào, bậc trung hạ không kham nỗi, nếu giáo pháp phán định như vậy thì kinh điển nào nói ra?

Đáp: Y theo luận Trí Độ nói: “Hàng Bồ tát mới phát ý, căn cơ và sự hiểu biết rất mềm yếu, tuy nói phát tâm, phần nhiều nguyện sanh về Tịnh Độ.” Ý ở đây giải rõ như đứa trẻ sơ sanh nếu không gần cha mẹ nuôi dưỡng chắc bị nạn rơi hầm, lọt giếng, chết cháy, rắn cắn, hoặc thiếu sửa mà chết, cần phải nhờ cha mẹ nuôi dưỡng mới có thể khôn lớn, mới có thể thừa kế nghiệp nhà.

Bồ tát cũng vậy, nếu phát Bồ đề tâm rồi, phần nhiều nguyện sanh về Tịnh Độ, gần gũi chư Phật, tăng trưởng pháp thân mới có thể tiếp nối gia nghiệp của Bồ tát. Các Bồ tát trong 10 phương vì muốn đem lợi ích cho chúng sanh nên phần nhiều nguyện sanh về Cực Lạc. Trong Luận cũng nói: “Ví như chim non, lông cánh chưa đủ, không thể bay xa, trước phải nương rừng chuyền cây, lông cánh đã đủ, sức khỏe đã dồi dào, mới có thể bỏ rừng bay dạo trong không.” Bồ tát mới phát ý cũng thế, trước phải nương theo nguyện lực cầu sanh trước Phật, Pháp thân đã to lớn, tùy theo chỗ cảm của chúng sanh mà đem cho nhiều lợi ích.

A Nan bạch Phật rằng: Vô tướng Ba La Mật này nói ở chỗ nào? Phật bảo: Pháp môn này nói trong thời gian nói A Tỳ Bạt Trí. Vì sao? Vì lúc ấy có một vị Bồ tát mới phát ý nghe Pháp Vô tướng Ba La Mật này, sáu căn liền thanh tịnh, phiền não đều tan mất.” Vì vậy người đã đến cõi Tịnh độ Cực lạc rồi, tất cả mọi việc đều xong hết, lần tiến đến Phật quả, đâu cần tranh biện lý cạn sâu làm gì!

d- Phá ý niệm nguyện sanh uế độ, không nguyện sanh tịnh độ.

Hỏi: Có người nói nguyện sanh về cõi uế giáo hóa chúng sanh, không nguyện vãng sanh tịnh độ, việc ấy như thế nào xin vui lòng giải thích?

Đáp: Các người này chấp như những người trước. Vì sao? Vì nếu thân mình ở vào vị bất thối rồi, dù dạy những chúng sanh tạp ác, dù ở chỗ uế nhiễm cũng không nhiễm, gặp ác không thay đỗi, như con vịt vào nước, nước không thể làm ướt được. Những người như thế có thể ở cõi uế để cứu khổ chúng sanh. Nếu là hạng phàm phu, chỉ e tự mình đi còn chưa vững, gặp khổ thì thay đổi, muốn cứu người khác nhưng không biết bơi, nhảy xuống ướt người thì cả hai đều bị chết chìm, như bắt con gà bỏ vào nước làm sao khỏi ướt.

Cho nên trong Luận Trí Độ có nói: “Nếu kẻ phàm phu vừa mới phát tâm liền nguyện ở cõi uế cứu tế chúng sanh, Phật không cho, vì sao vậy? Trong Thích Luận Bồ Tát Long Thọ nói: “Ví như tảng băng to 40 dặm, như có một người dùng một bó củi đốt, lúc ấy giống như có ít hơi ấm, nếu trải qua một đêm đến sáng dù có nhiều bó củi cũng biến thành băng.” Phàm phu phát tâm cứu khổ cũng như bó củi đốt trên tảng băng to kia không khác gì. Vì phàm phu ở cảnh giới tham sân, nghịch thuận rất nhiều, tự mình khởi phiền não rồi tự đọa vào ác đạo.

e- Phá nếu sanh tịnh độ phần nhiều tham vui.

Hỏi: Có người cho rằng ở cõi Cực lạc chỉ có điều vui, nếu ưa chấp vui, thì trở ngại việc tu, đâu cần nguyện vãng sanh làm gì?

Đáp: Đã nói Tịnh độ không có các uế, nếu nói chấp vui là tham ái phiền não làm sao gọi là Tịnh. Cho nên Đại Kinh nói: “Người trời ở cõi kia, tới lui, qua lại, không có lưu luyến tình cảm.” Trong 48 đại nguyện cũng nói: “Nhơn thiên trong mười phương đã đến nước tôi, nếu còn khởi tưởng niệm tham kể thân mạng, thì tôi không ở ngôi chánh giác.” Trong Đại Kinh cũng nói: “Nhơn thiên cõi nước kia không có thích mến.” Như vậy, người ở cõi Cực lạc đâu có lý gì lại chấp vui. Điều đó hoàn toàn không có.

f- Phá tư tưởng cho cầu sanh Tịnh độ là Tiểu thừa:

Hỏi: Có người cho rằng cầu sanh Tịnh độ là tiểu thừa có đúng không?

Đáp: Hoàn toàn sai lầm, vì trong giáo pháp Tiểu thừa, không nói và không tin sanh về Tịnh độ.

g- Giải rõ sanh về Đâu Suất, khuyên sanh Tịnh Độ:

Hỏi: Có người cho rằng nên sanh về Đâu Suất, không nguyện sanh về Tây Phương việc ấy thế nào?

Đáp: Đâu Suất nội viện của Đức Di Lặc cũng gọi là Tịnh Độ so với Cực lạc Tịnh độ có đôi chút tương tợ nhưng căn cứ vào thể thì khác nhau rất xa:

– Đức Thế Tôn Di Lặc vì Thiên chúng chuyển Pháp Luân Bất Thối, người nghe pháp sanh lòng tin là được lợi ích lớn, gọi là tin đồng hưởng vui, nhưng số người không tin cũng nhiều. Lại nữa, tuy sanh về Đâu Suất Tịnh độ nhưng vị là lui sụt, cho nên Kinh nói: “Ba cõi không yên cũng như nhà lửa.”

– Vãng sanh Đâu Suất thọ mạng được bốn ngàn năm, sau khi mạng chung không khỏi đọa lạc.

– Trên cõi trời Đâu Suất tuy có nước chim cây rừng hòa âm thanh nhã, chỉ làm cho chư thiên sanh vui, thuận theo ngũ dục, không hợp thánh đạo. Nếu so sánh với cõi Tịnh độ Phật A Di Đà, một khi được sanh về, liền được vị không lui sụt và không cùng với người lui sụt ở chung. Quả vị cõi Cực Lạc là vô lậu ra khỏi ba cõi, không trở lại luân hồi. Luận về thọ mạng người cõi Cực lạc sống lâu bằng Phật, không thể tính đếm. Ở cõi kia cũng có nước, chim, cây, rừng đều có thể thuyết pháp làm người nghe liễu ngộ chứng vị vô sanh.

– Căn cứ vào Đại Kinh chỉ dùng một thứ âm nhạc để so sánh. Kinh khen ngợi âm nhạc cõi Cực Lạc như thế này: “Nếu đem so sánh âm nhạc đế vương ở đời với âm nhạc cõi trời lục dục, thì âm nhạc cõi trời lục dục hay hơn ức vạn bội, nếu đem âm nhạc cõi trời lục dục so với âm nhạc của bảo thọ ở cõi Cực Lạc phát ra so với âm nhạc cõi trời lục dục thì hay hơn ức vạn bội. Lại có pháp âm kỷ nhạc mầu nhiệm thanh nhã vượt tất cả âm nhạc ở mười phương, nên phải chí thành huân tập.”

h- So sánh nguyện sanh các Tịnh độ và cực lạc Tịnh Độ: Hỏi: Có người cho rằng nguyện sanh 10 Phương Tịnh Độ hơn nguyẹn sanh về Tây Phương nghĩa ấy thế nào?

Đáp: Nghĩa ấy không đúng. Có 3 ý để giải thích.

– Cõi Phật 10 phương đều là Tịnh độ, nhưng cảnh rộng thì tâm tối, phân vân trước nhiều đường tẻ, cảnh hẹp thì ý chuyên. Nên Kinh nói: “Phổ Quảng Bồ Tát bạch Phật Thế Tôn: Cõi Phật 10 phương đều nghiêm tịnh, vì sao trong các Kinh riêng khen ngợi cõi Cực lạc của Phật A Di Đà, khuyên bảo vãng sanh? Phật bảo Phổ Quảng Bồ Tát: Tất cả chúng sanh trược loạn thì nhiều, chánh niệm thì ít, muốn làm cho chúng sanh chuyên chí một chỗ, nên khen ngợi cõi Cực Lạc kia là chỗ đặc biệt khác lạ, nếu người nào theo ý nguyện vãng sanh mà tu hành đều có kết quả.

– Tịnh độ trong 10 phương đều là Tịnh độ, nhưng chỗ cạn chỗ sâu khó hiểu. Cõi Tịnh độ Phật A Di Đà là cõi Tịnh độ do Đại nguyện hóa độ mới thành lập. Vì sao được biết? Y theo kinh Hoa Nghiêm nói: “Một kiếp ở thế giới Ta Bà bằng một ngày một đêm ở thế giới Cực lạc. Một kiếp ở thế giới Cực lạc bằng một ngày một đêm ở Ca Sa Tràng thế giới. Lại nữa, Đức Phật A Di Đà mới thành đạo đến nay hơn mười kiếp.” Vì cõi Tịnh độ Cực Lạc mới trang nghiêm, tổng hợp những cái hay của các Tịnh độ khác nên chư Phật mới đặc biệt khuyên chúng sanh nguyện sanh về. Tịnh độ các phương đều không bằng cõi Cực Lạc, nên người có lòng tin đều nguyện vãng sanh về Cực Lạc.

– Cõi Phật A Di Đà là cõi Tịnh độ mới trang nghiêm, còn cõi Ta Bà là cõi uế cuối cùng. Vì sao biết được? Trong Chánh Pháp Niệm Kinh nói: “Từ đây về phía đông bắc có một thế giới gọi là Tư Ha đất ruộng chỉ toàn cát trắng, một năm chỉ có 3 lần mưa, mỗi lần mưa thấm ướt chừng 45 tấc. Cõi ấy chúng sanh chỉ ăn trái cây, lấy vỏ cây làm áo, cầu sống không được, cầu chết không xong. Lại có thế giới, có các loài hổ lang, cầm thú cho đến rắn rết đều có thể bay đi, gặp người là ăn thịt, không phân biệt thiện ác.” Hai cõi này gọi là nơi ban đầu của cõi uế. Nhưng Ta Bà là y báo hiền thánh đồng ơ, điều đó cho thấy là uế độ thời cuối cùng. Cõi uế cuối cùng tiếp với cõi Tịnh mới trang nghiêm, hai cõi ấy liền nhau nên vãng sanh rất dễ. Vì sao không mau nguyện vãng sanh.

i- Khoa giản biệt thời ý.

Trong Quán Kinh Phật dạy: “Người sanh hạ phẩm, hiện tạo tội nặng, khi mạng lâm chung, gặp thiện tri thức, mười niệm thành tựu, liền được vãng sanh”. Y theo Nhiếp Đại Thừa Luận cho rằng: “Lời ấy là biệt thời ý.” Các nhà bình luận cho rằng: “Lâm chung 10 niệm chỉ là gieo nhơn vãng sanh, chưa được sanh liền. Vì sao? Vì trong Luận nói: “Như người dùng một đồng tiền muốn mua một vật có giá trị ngàn vàng, chẳng phải một ngày mà có được ngàn vàng. Nên biết mười niệm thành tựu vãng sanh chỉ được gieo nhơn, chưa được sanh liền, nên gọi là biệt thời ý. Cách giải đó chưa đúng. Vì sao? Phàm Bồ tát làm luận giải nghĩa kinh đều muốn giữ đúng ý Phật, khế hợp lòng Phật, nên có luận răn trái với kinh thật vô lý.

Nay giải về biệt thời ý là nói Phật thuyết pháp thông thường đều nói rõ trước nhơn sau quả, lý ấy rõ ràng, nay trong Quán Kinh này nói một đời tạo tội, khi lâm chung, mười niệm thành tựu liền được vãng sanh, không luận quá khứ có nhơn hay không nhơn. Họ đâu biết rằng: Đức Thế Tôn tiếp dẫn những người hiện đang tạo ác, làm cho người sắp lâm chung bỏ ác về lành, nhờ niệm Phật mà được vãng sanh, đây là ẩn dấu nhơn đời trước. Đây là Đức Thế Tôn muốn ẩn cái trước, hiển bày cái sau, dấu nhơn nói quả gọi là phát biệt thời ý. Vì sao được biết vì dạy người mười niệm thành tựu đều có cái nhơn quá khứ, như Kinh Niết Bàn nói: “Nếu người trong quá khứ đã từng cúng dường nửa hằng hà sa chư Phật và đã từng phát tâm Bồ đề, nên ở trong đời dữ nghe nói kinh giáo Đại thừa, chỉ không chê bai, chưa làm công đức nào khác. Nếu người cúng dường một hằng hà sa chư Phật và đã từng phát tâm Bồ đề, sau này nghe kinh giáo Đại thừa, chẳng phải không chê mà còn sanh lòng ưa thích”.

Qua kinh trên đủ nghiệm thấy rằng người niệm mười niệm mà thành tựu đều có cái nhơn quá khứ không sai. Nếu người ấy không có gieo nhơn quá khứ thì thiện tri thức còn khó gặp, hà huống gì mười niệm có thể thành tựu.

Trong luận nói: “Dùng một đồng vàng để mua vật có giá trị ngàn vàng, chẳng phải một ngày mà có được.” Nếu y vào ý Phật, muốn làm cho chúng sanh chứa nhiều nhơn lành, cần phải nương theo niệm Phật vãng sanh. Nếu theo luận chủ nói về nhơn quá khứ, lý cũng không sai, nếu hiểu nghĩa này thì trên thuận ý Phật, dưới hợp ý luận. Do đó Kinh và Luận giúp nhau, làm con đường vãng sanh thông suốt đâu có gì đáng nghi.

k- Giải bỏ các nghi.

Hỏi: Tất cả chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay tạo đủ các nghiệp hữu lậu hệ thuộc ba cõi, vì sao không đoạn nghiệp hệ ba cõi, chỉ thời gian ngắn, niệm Phật A Di Đà liền được vãng sanh ra khỏi ba cõi, như vậy hệ nghiệp ba cõi phải làm sao thoát?

Đáp: Để giải thích rõ câu này chúng ta cần phải dùng đem pháp để phá và mượn thí dụ để hiển bày.

– Đem Pháp để phá: Chư Phật Như Lai có trí không thể nghĩ bàn, trí lớn Đại thừa, trí vô đẳng luân tối thượng thắng. Vì trí lực không thể nghĩ bàn nên có thể lấy ít làm nhiều, lấy nhiều làm ít, lấy xa làm gần, lấy gần làm xa, lấy nhẹ làm nặng, lấy nặng làm nhẹ. Có những trí như thế vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn, sau đây xin mượn một số thí dụ để chứng minh:

– Ví như có 100 người lực lưỡng cùng đốn củi thời gian cả trăm năm, củi chứa cao ngàn gộp, chỉ cần châm một mồi lửa đốt trong vài ngày là cháy sạch, đâu có thể nói đống củi chứa trăm năm mà vài ngày không thể cháy hết sao?

– Như có người lái thuyền, trên thuyền có chở đồ nhờ có buồm căng, nước thuận nên một ngày vượt xa ngàn dặm. Đâu có thể nói anh chàng lái thuyền không thể đi ngàn dặm trong một ngày ư!

– Như có một người nghèo lượm được một vật của nhà vua, rồi đem vật ấy dâng cho vua, vua mừng được lại, trọng thưởng nhiều việc, chỉ trong khoảng khắc giàu có danh vọng, đâu có thể nói người học trò 10 năm đèn sách, chịu khổ còn không được danh vọng như thế, vội cho rằng việc giàu sang danh vọng không thể có và không bao giờ được vua ban ư!

– Có người đàn ông sức yếu, tự mình không thể leo lên lưng con lừa, nếu đi theo vị chuyển luân vương, bay trên hư không tự tại. Đâu có thể nói người sức yếu theo năng lực của chuyển luân mà không thể bay lên hư không ư!

– Có mười sợi dây thừng trói trăm người lại, trăm người này cố sức vẫy vùng đều vô ích. Có một cậu trẻ chỉ cầm kiếm chặt một nhát mười sợi dây bị đứt rời. Đâu có thể nói một đứa trẻ không có năng lực cắt đứt 10 sợi dây để cứu trăm người được ư!

Tất cả muôn pháp đều có tự lực tha lực, tự nhiếp tha nhiếp, ngàn mở muôn đóng, vô lượng vô biên. Ông đâu có thể dùng cái biết có trở ngại mà nghi các pháp vô ngại kia. Lại nữa, trong năm thứ không thể nghĩ bàn, Phật pháp là cái không thể nghĩ bàn cao nhất, ông coi hệ nghiệp ba cõi là nặng, nghi việc ít thời gian niệm Phật là nhẹ, không được vãng sanh về cõi Cực lạc, vào chánh định tụ là điều hoàn toàn không đúng.

Hỏi: Kinh Đại Thừa nói: “Nghiệp đạo như cái cân, chỗ nào nặng thì kéo về đó trước, vì sao chúng sanh từ trước đến nay hoặc trăm năm, hoặc mười năm cho đến chừng một ngày, không có việc ác nào mà không tạo. Vì sao nói khi lâm chung gặp thiện tri thức chỉ cần 10 niệm tương tục liền được vãng sanh, như vậy thì chỗ nào nặng thì kéo về đó trước làm sao tin được?

Đáp: Ông nói một đời tạo ác nghiệp là nặng và người hạ phẩm hạ sanh tạo thiện trong mười niệm là nhẹ. Ở đây tôi dùng ý nghĩa để giải thích chỗ nặng nhẹ. Thật ra chỗ nặng nhẹ đều căn cứ ở tâm ở duyên hoặc ở quyết định mà không phải thời gian dài ngắn nhiều ít. Vì sao gọi căn cứ ở tâm? Những người tạo tội kia chính họ đã y chỉ nội tâm hư vọng điên đảo mà sanh còn mười niệm này là y theo thiện tri thức, dùng phương tiện an ủi để nghe được Phát khởi thật tướng mà sanh, một thật một hư làm sao so sánh với nhau được. Vì sao? Ví như nhà tối ngàn năm, ánh sáng nếu chiếu đến liền sáng tỏ, đâu có thể nói bóng tối đã ngự trị đây ngàn năm mà không tan đi. Cho nên trong Kinh Di Nhật Ma Ni Bảo nói: “Phật bảo Bồ Tát Ca Diếp! Chúng sanh tuy chìm đắm cả ngàn ức kiếp ở trong ái dục bị tội nghiệp che đầy, nếu nghe được Kinh Phật, một khi đã niệm thiện, tội liền tiêu hết.” Vì thế, nên biết nặng nhẹ căn cứ vào tâm.

Vì sao gọi căn cứ vào duyên? Người kia khi tạo tội tự y chỉ vào vọng tưởng, y theo phiền não quả báo của chúng sanh mà sanh ra. Nay dùng 10 niệm này là y chỉ nơi vô thượng tín tâm, y theo danh hiệu công đức vô lượng thanh tịnh của Như Lai A Di Đà mà sanh ra. Ví như có người bị tên độc trúng xuyên gần thấu xương, nếu nghe tiếng trống thuốc diệt trừ độc, thì tên tự nhổ ra và độc tiêu trừ. Đâu có thể nói, vì tên độc kia cắm sâu và thuốc nhiều chất độc, nghe tiếng trống trừ độc mà tên không nhổ ra, độc không tiêu trừ. Nên gọi căn cứ vào duyên.

Vì sao gọi căn cứ vào quyết định? Người kia khi tạo tội là tự y chỉ tâm hữu lậu và tâm gián đoạn mà sanh. Người niệm 10 niệm này là y chỉ nơi tâm vô lậu và tâm không gián đoạn mà phát khởi, đó là sự quyết định rõ ràng. Trong Trí Độ Luận nói: “Tất cả chúng sanh trong lúc sắp lâm chung, đau nhức như gió đao đến lóc thịt, cái khổ của chết đến bức bách, lòng rất lo sợ, nên khi gặp thiện tri thức, tâm phát khởi tin tưởng mạnh mẽ, mỗi tâm tiếp nối mười niệm, tức là tăng thượng thiện căn liền được vãng sanh.” Như có người bị vây khổn, phải đối địch phá vòng vây, đem hết sức bình sanh một mình một đao liều chết công phá liền được thoát vòng, người dùng mười niệm tăng thượng căn lành lại cũng như vậy. Cũng thế, nếu người khi lâm chung sanh một niệm tà kiến làm ác tâm tăng thượng, liền bị nghiệp phước ở tam giới vào thẳng ác đạo.

Hỏi: Đã nói cái thiện thập niệm lúc lâm chung làm nghiêng lệch ác nghiệp một đời được sanh về Tịnh độ, chưa biết mười niệm là bao nhiêu thời gian?

Đáp: Như Kinh nói: “Một trăm sanh diệt làm một sát na, sáu mươi sát na dùng làm một niệm.” Đây là y Kinh luận để giải niệm. Hiện nay giải về niệm không chấp vào thời gian lâu mau. Chỉ nhớ niệm Phật A Di Đà hoặc tổng tướng hoặc biệt tướng, tùy theo chỗ duyên quán thẳng mười niệm không có tưởng niệm gián tạp khác gọi là mười niệm. Để dễ hiểu ta lấy câu niệm Hồng danh làm chuẩn, hành giả niệm Nam Mô A Di Đà Phật một hơi thở bất kể nhiều câu hay ít câu, cứ hết một hơi làm một niệm. Nói mười niệm tương tục là chỉ đánh số thực ra chỉ nhớ niệm không lo nghĩ, không duyên theo việc gì khác, làm cho nghiệp đạo thành tựu là đủ, cũng không cần ghi cho đủ số làm gì? Nếu người niệm đã lâu thì không cần ký số cũng được, nếu người mới làm ghi số cũng tốt vì y theo lời dạy của Phật.

Hỏi: Người muốn thực hành niệm Phật tam muội, không biết tướng tạng tĩnh niệm như thế nào?

Đáp: Như có người đang đi trên khoảng đất trống, chợt gặp một bọn oan gia theo đuổi, rút gươm lấy kiếm chạy đến định giết. Người này hốt hoảng chạy nhanh, thấy phía trước có một con sông lớn, tuy chưa đến bờ sông mà người ấy luôn luôn nghĩ ta phải làm sao qua sông, nếu để y phục lội qua, y phục sẽ nổi lên làm có người thấy, nếu cỗi y phục lội qua sẽ bị nguy hiểm vì gai đâm, cá cắn rất nguy hiểm. Lúc ấy, người bị rượt đuổi chỉ có nhất tâm tìm phương tiện để qua sông, không có tâm tưởng nào khác. Hành giả cũng thế, khi niệm Phật A Di Đà cũng như người kia chỉ có nhất niệm qua sông, mỗi niệm kế tiếp không có tưởng niệm hổn tạp nào xen vào. Lúc ấy hoặc niệm pháp thân Phật, hoặc niệm thần lực Phật, hoặc niệm trí huệ Phật, hoặc niệm tướng hảo Phật, hoặc niệm bổn nguyện Phật, hoặc niệm danh hiệu Phật, chỉ cần chuyên chú tương tục chẳng dứt, chắc sanh ở trước Phật. Nay xin khuyên các vị mới học, chưa có thể phá tướng, chỉ nên y theo tướng chuyên chú đều được vãng sanh chẳng còn gì để nghi.

Hỏi: Kinh Vô Lượng Thọ nói: “Chúng sanh trong 10 phương, hết lòng tin ưa, muốn sanh về nước tôi, cho đến 10 niệm, nếu không được sanh thì tôi không ở ngôi Chánh Giác.” Ngày nay có người ở đời nghe lời dạy này, suốt đời toàn không niệm Phật, nghĩ rằng sắp đến lâm chung mới tu hành niệm Phật việc ấy như thế nào?

Đáp: Việc ấy không đúng, Vì sao? Kinh dạy: “Mười niệm liên tục giống như không khó. Như hàng phàm phu tâm như ngựa hoang, thức như vượn chuyền, rong rủi sáu trần, chưa bao giờ dừng nghỉ. Vì vậy, mọi người phải nên phát lòng tin, tự mình khắc niệm, làm cho có thói quen thành tánh, thiện tâm kiên cố. Phật bảo: Này Đại Vương! Người chứa nghiệp lành, khi chết không có niệm ác, như cây trốc gốc, ngã theo phía đã nghiêng.” Nếu khi sắp chết, gió đao đã đến, trăm khổ trói mình, nếu những tập khí trước không ở trong lòng thì làm sao có thể niệm cho được, vì thế lúc lâm chung cần có 5, 3 đồng chi dự bị hộ niệm, đến lúc mạng chung, nói lời pháp ngữ, xưng niệm danh hiệu Phật A Di Đà, nguyện sanh về thế giới Cực lạc, mỗi tiếng tiếp nối liền thành mười niệm. Ví như lấy ấn bằng sáp ấn vào bùn, ấn hoại thì văn thành, mạng này khi đã dứt liền sanh về cõi nước An lạc, một khi đã vào chánh định tụ, lại còn lo gì nữa. Mọi người đã biết rõ việc lợi lớn như thế làm sao không dự bị niệm cho thuần thục, đợi đến lâm chung làm sao có đủ 10 niệm.

Hỏi: Trong Kinh Luận Đại Thừa thường nói, tất cả chúng sanh cứu kính là vô sanh, cũng như hư không, vì sao các Bồ Tát như Long Thọ, Thế Thân đều nguyện vãng sanh?

Đáp: Nói chúng sanh cứu kính vô sanh như hư không có 2 nghĩa

a- Hàng phàm phu chấp thật chúng sanh, thật sanh tử, nếu y cứ vào Bồ Tát vãng sanh cứu kính như hư không, như sừng thỏ.

b- Đây nói sanh là do nhân duyên sanh, mà nhân duyên sanh chỉ là tên giả, tên giả nói là sanh chính là vô sanh không trái với lý đạo, chẳng phải như phàm phu nói có thật chúng sanh, thật sanh tử.

Hỏi: Sanh là cội gốc của khổ lụy, nếu biết được lỗi lầm ấy bỏ sanh để cầu vô sanh mới mong có ngày giải thoát. Nay khuyên sanh về Tịnh độ là bỏ sanh để cầu sanh thì biết bao giờ cho hết?

Đáp: Ông thật không biết rằng cõi Tịnh độ kia là do bổn nguyện thanh tịnh của Như Lai A Di Đà tuy sanh mà vô sanh, không phải như chúng sanh trong ba cõi do ái nhiễm, hư vọng, chấp trước mà sanh. Vì sao? Vì pháp tánh thanh tịnh cứu kính vô sanh mà nói sanh là sanh theo tình chấp rồi.

Hỏi: Như trên đã nói sanh về Tịnh độ là sanh mà vô sanh là chỉ cho người bậc thượng, còn người bậc hạ nương theo 10 niệm vãng sanh đâu không chấp cho là thật sanh. Nếu nói thật sanh là bị rơi vào 2 chỗ nghi.

a- E không được sanh.

b- Cái tướng thiện này không thể làm nhơn của vô sanh. Không biết việc ấy thế nào?

Đáp: Giải thích câu hỏi này có 3 cách:

a- Ví như hạt châu Ma Ni trong lóng sạch đặt ở nước dơ, nhờ oai lực của châu làm cho nước đục thành trong. Chúng sanh tuy có vô lượng tội dơ sanh tử, nếu được nghe danh hiệu bảo châu thanh tịnh rốt ráo vô sanh của Như Lai A Di Đà, bỏ vào tâm trược, trong mỗi niệm, tội diệt tâm tịnh, liền được vãng sanh.

b- Như châu Ma Ni trong sạch đem vải đen đỏ gói lại, nhúng vào trong nước, nước liền có màu vàng hoặc đen, tuỳ theo vải gói. Cõi Phật thanh tịnh kia có danh hiệu vô thượng bảo châu là Như Lai A Di Đà, dùng vô lượng công đức trang nghiêm vãi bao bọc đặt vào chỗ vãng sanh, trong tâm thủy thì đâu không thể chuyển trí sanh thành trí vô sanh sao?

c- Cũng như trên băng nhóm lửa đốt, lửa nhiều thì băng tan, băng tan thì lửa tắt. Người hạ phẩm vãng sanh kia, tuy không biết pháp tánh vô sanh, chỉ dùng năng lực xưng danh hiệu Phật, tác ý vãng sanh, nguyện sanh cõi kia, đã đến cõi vô sanh rồi, thì cái lửa chấp còn sanh kia tự nhiên bị diệt.

Hỏi: Y theo thân mà nói vãng sanh?

Đáp: Ở trong thân giả danh làm người tu các pháp môn, niệm trước và niệm sau tạo nhơn thành người có thân giả danh ở uế độ không nói chắc là một, không nói chắc là khác, tâm trước tâm sau, đều cũng như vậy. Vì sao? Nếu quyết định một thì không nhơn quả, nếu quyết định khác thì không có tánh liên tục. Vì nghĩa nó như thế nên ngang dọc tuy khác, trước sau đồng một hạnh vậy.

Hỏi: Nếu người xưng niệm Phật danh hiệu có thể trừ các chướng nếu như vậy thì như người dùng ngón tay chỉ mặt nguyệt, thì ngón tay ấy có thể phá được đêm tối sao?

Đáp: Các pháp đều có sự sai khác không thể cho là một thứ. Vì sao? Có cái tên tức là pháp (như ấn vua) có cái tên khác với pháp. Vì sao nói tên là pháp? Như danh hiệu Chư Phật Bồ Tát, tiếng đọc câu chú, những câu chữ trong kinh điển. Như người đọc thần chú, như người bị chó cắn, người trì, miệng niệm chú, tay cầm xương cọp quơ ngang vết thương liền hết, khi không có mang xương cọp theo, lấy tay sờ vào, miệng nói cọp đến bịnh cũng lành, có người bị đau chân chuyển gân, người trì chú lấy móng hoặc thước gỗ chạm vào bệnh liền lành, hoặc không có móng hoặc cây, lấy tay sờ vào miệng nói cây móng, bệnh cũng lành. Người bệnh qua lời nói đến tên, mà tự thân có công hiệu. Như người học gồng chỉ cần niệm chú là dao chém không đứt. Vì sao vậy? Vì tên được nói ra là Pháp. Vì sao có tên khác với Pháp? Như người lấy ngón tay chỉ mặt trăng, hai tên khác nhau và không có hiệu lực gì?

Hỏi: Người niệm Phật thì trừ được vô minh và được vãng sanh, vì sao có người niệm Phật mà vô minh vẫn tồn tại, không đạt sở nguyện là ý làm sao?

Đáp: Do hành giả không đúng như thật tu hành nên không thể tương ứng. Vì sao? Nói không biết Như Lại là thật tướng thân hay phàm thân nên có 3 điều không tương ưng. a- Lòng tin không chắc, lúc mất lúc còn.

b- Lòng tin không nhất, làm việc gì không quyết định.

c- Lòng tin không liên tục để cho các niệm khác xen vào. Niệm Phật cần phải thu nhiếp thân tâm. Mỗi niệm được liên tục, không có niệm khác là tâm được nhất, tâm đã nhất thì lòng tin sâu chắc. Đủ ba thứ tâm này nếu không được vãng sanh thật không có lý đó.

Chương Ba

Chương này nhăm giải quyết những chủ đề sau đây. 1- Nói rõ con đường khó làm và dễ làm. 2- Nói về thời kiếp có lớn nhỏ chẳng đồng. 3- Nói về từ vô thỉ chúng sanh tạo nghiệp khổ thọ luân hồi. 4- Dẫn lời Phật dạy khuyên tin cầu vãng sanh.

1. Nói rõ con đường khó làm và dễ làm.

Tất cả chúng sanh đang ở trong nhà lửa, tưởng tới thật rất lo sợ. Vì thế, bậc Đại Thánh dùng 3 xe để quyến dụ ra khỏi nhà lửa. Xe dê và xe nai chở người ít, tạm gọi là chưa đạt đến kết quả cứu kính, Phật quở là tà chấp, làm chướng ngại cầu quả vô thượng Bồ Đề, dù muốn hướng về vẫn còn cách xa. Nếu chỉ thẳng xe trâu trắng chỉ sợ hiện ở địa vị lui sụt, đường đến còn xa, tự đức của mình chưa vững khó có thể thẳng tiến. Vì thế, Bồ Tát Long Thọ nói: “Bồ Tát muốn cầu vị không lui sụt có hai con đường là đường dễ đi và đường khó đi.

Thế nào là con đường khó đi? Con đường khó đi là hành giả ở trong đời dữ năm trược, lúc không có Phật muốn cầu vị chẳng lui sụt thật khó. Cái khó này có rất nhiều, lược thuật năm điều cốt yếu:

a- Ngoại đạo đầy dẫy làm loạn Pháp tu của Bồ Tát.

b- Hàng Thanh văn chuyên tự lợi làm chướng ngại lòng đại từ bi.

c- Người ác ngang nhiên phá hoại đức tốt của người khác.

d- Những hàng trời, người làm điên đảo thiện quả, phá phạm hạnh người.

e- Chỉ có tự sức mình, không có tha lực giúp.

Các việc như thế, chạm mặt có liền, ví như người đi trên bộ, mỗi bước đi nặng nhọc gian nan nên nói con đường khó đi.

Thế nào là con đường dễ đi? Người tin lời Phật dạy, nguyện vãng sanh về cõi Cực lạc, phát khởi lòng tin, làm các công đức, tu các hành nghiệp, nhờ năng lực đại nguyện của Phật, liền được vãng sanh. Nhờ vào năng lực Phật trụ trì, liền vào Đại thừa chánh định tu, đó là vị không lui sụt. Như người đi đường thủy, trên thuyền yên vui mau đến, nên gọi là đường dễ đi.

Hỏi: Quả Bồ Đề là một, nhơn tu cũng không hai, vì sao người tu nhơn này hướng về Phật quả lại gọi là khó làm, còn người vãng sanh tịnh độ gọi là điều dễ làm?

Đáp: Các Kinh Đại Thừa đều có phân định rõ ràng. Tất cả phương pháp thực hành đều có tự lực và tha lực hoặc tự nhiếp, tha nhiếp. Vì sao gọi là tự lực? Ví như có người sợ sinh tử, phát tâm xuất gia, phát khởi được thần thông, dạo chơi khắp bốn châu thiên hạ gọi là tự lực. Vì sao gọi là tha lực? Ví như có người yếu đuối, sức trói gà không chặt, nếu theo vị chuyển luân thánh vương, liền được bay lên hư không dạo chơi bốn châu thiên hạ, đều nhờ uy lực của Chuyển Luân Thánh Vương, gọi là tha lực. Chúng sanh cũng vậy, trong lúc khởi tâm, lập hạnh, nguyện sanh tịnh độ, đây gọi là tự lực. Khi người ấy sắp lâm chung Phật A Di Đà phóng quang tay cầm đài vàng tiếp dẫn người ấy liền được vãng sanh gọi là tha lực. Nên Kinh Đại A Di Đà nói: “Hàng nhơn thiên ở mười phương, muốn sanh về nước tôi, niệm danh hiệu tôi nhẫn đến 10 niệm mà tôi không tiếp dẫn người ấy về cõi nước tôi, thời tôi không ở ngôi Chánh Giác.” Như thế, người được vãng sanh kể trên đều nhờ vào đại nguyện lực của Như Lai A Di Đà làm tăng thượng duyên nên được vãng sanh. Hành giả tu Tịnh độ có tự lực chuyên niệm, lại có tha lực giúp đở. Nếu ỷ mình có đôi tay cứng, tự lội qua sông không cầu thuyền bè thì dễ dàng bị ở trong nhà lửa.

2. Nói rõ thời kiếp có lớn nhỏ chẳng đồng.

Nói về thời kiếp thì tùy theo nghiệp lực của chúng sanh mà có lớn nhỏ. Như một kiếp người so với con thiêu thân thì bằng ba vạn sáu ngàn kiếp. Trong Trí Độ luận nói: Kiếp có 3 thứ là tiểu kiếp, trung kiếp, đại kiếp. Một kiếp ở Trường Thọ thiên rất lâu có thể đem thí dụ như sau: như có một cái thành 40 dậm vuông chứa đầy hột cải, cứ 3 năm (tính theo năm cõi Ta Bà) thì bỏ ra một hột cải đến khi thành không còn hột cải nào thì gọi 1 Tiểu kiếp.

Có thành vuông 80 dậm chứa đầy hột cải, cứ 3 năm lấy một hột bỏ ra, đến khi thành không còn hạt cải nào thì gọi là Trung kiếp. Có thành 120 dậm vuông chứa đầy hạt cải, cứ 3 năm bỏ ra một hạt, khi hết không còn hạt nào trong thành thì gọi là Đại Kiếp.

Như có một khối đá vuông tám mươi dặm, có một vị Trường Thọ Thiên dùng thiên y nhẹ chừng ba thù, cứ 3 năm phất qua khối đá một lần đến khi khối đá mòn hết gọi là Trung kiếp. Khối đá nhỏ 40 dặm và lớn 120 dặm thiên y cũng phất như trùng kiếp ở trên. Vì vậy, thời kiếp không thể nào thuật hết.

3. Nói về từ vô thỉ chúng sanh tạo nghiệp khổ thọ luân hồi.

Trong Trí Độ luận nói: “Người đời từ vô thỉ kiếp đến nay luân hồi vô cùng, thọ thân vô số, ngay ở trong kiếp người hoặc ở gia đình họ Vương chết sanh vào nhà họ Trương, nhà họ Trương chết sanh vào nhà họ Lý, cứ như thế xoay quanh khắp cõi Diêm phù, hoặc sanh khác nhà hoặc sanh cùng nhà, hoặc ở Nam Diêm Phù Đề chết sanh về Tây Câu Da Ni, ba châu kia cũng lần lượt sanh đến sanh đi vô cùng. Rồi cõi người sanh về cõi trời Tứ Thiên Vương cũng như vậy. Hoặc Tứ thiên Vương thiên chết sanh về Đao Lợi thiên.

Đao Lợi thiên chết sanh về các Tứ thiên Vương khác. Sắc giới có 18 lớp cõi trời, vô sắc giới có 4 lớp cõi trời, cứ ở đây chết sanh ở kia, tất cả lần lượt như vậy cả, có khi sắc giới chết sanh về A Tỳ địa ngục. A Tỳ địa ngục chết sanh về các địa ngục nhẹ hơn, hoặc địa ngục chết sanh lên ngạ quỷ, ngạ quỷ chết sanh làm súc sanh, trong súc sanh chết sanh lên trời người.

Cứ như thế mà luân chuyển trong sáu nẽo chịu khổ, vui, quả báo vô cùng. Thai sanh đã vậy, loài noãn, thấp, hóa sanh kia cũng vậy.”

Kinh Chánh Pháp Niệm nói: “Bồ Tát hóa sanh dạy các Thiên chúng rằng:

“Con người trải qua mấy ngàn kiếp,

Mê vui buông lung chẳng tu đạo,

Không biết phước xưa nay đã hết,

Rơi vào ba đường chịu khổ đau.”

Kinh Niết Bàn cũng nói: “Thân do khổ chứa nhóm, tất cả đều không sạch, chứa nhóm đầy u thối, thật chẳng nghĩa lý chi, cho đến cả thân trời, đều cũng như thế cả. Vì vậy, muốn thoát khỏi thân ô trọc cần phải tu hạnh chẳng buông lung. Vì sao? Vì buông lung là gốc của các thứ ác, không buông lung là nguồn cội của việc lành, như làm tan bóng tối, ánh sáng mặt trời mặt trăng là sáng hơn hết; pháp chẳng buông lung là cao nhất của các pháp lành. Cũng như núi Tu Di là cao nhất hơn các núi khác, pháp chẳng buông lung lại cũng như thế, ở trong các pháp lành là cao nhất, vì sao? Vì các ác pháp do phóng dật mà sanh, tất cả pháp lành đều do không buông lung mà sanh ra.

Hỏi: Nói từ vô thỉ kiếp đến nay, sáu nẻo luân hồi không có ngăn mé, không biết trong một kiếp phải thọ bao nhiêu thân?

Đáp: Kinh Niết Bàn nói: “Lấy cỏ cây trong Tam thiên Đại Thiên thế giới, trồng cho lên cao rồi đếm từng cây đó là con số nhận thân từ cha mẹ của một kiếp, còn không đủ”. Có thể nói trẻ con, uống sửa mẹ nhiều hơn uống bốn bể gọi là một kiếp. Trong một kiếp thân cốt như núi Tỳ Phú La. Như thế, từ lâu xa đến nay chịu sanh tử làm thân phàm phu không thể kể xiết, thật đáng thương thay!

Hỏi: Từ khoáng đại kiếp thọ thân vô số, có kinh văn nào để chứng minh?

Đáp: Đều do kinh văn của Phật dạy. Kinh Pháp Hoa nói: Ở trong Đại Kiếp rất lâu xa thuở quá khứ không thể nói hết, có một Đức Phật ra đời hiệu là Như Lai Đại Thông Trí Thắng, có 16 vị vương tử, đều lên pháp tòa giáo hóa chúng sanh. Mỗi vị vương tử đều giáo hóa được sáu trăm muôn ức Na do tha hằng hà sa chúng sanh. Đức Phật ấy diệt độ đến nay rất lâu xa không thể dùng số đếm mà biết được.

Như có người lấy Đại địa trong tam thiên Đại thiên thế giới mài hết làm mực, rồi người này trải qua một ngàn quốc độ lấy mực chấm một chấm to như chừng hạt bụi, cứ như thế lần lượt chấm hết mực trái đất tam thiên đó. Người này trải qua các quốc độ hoặc có điểm vi trần hoặc không điểm chỗ hết sạch địa chủng làm mực vi trần đó, tính một vi trần là một kiếp thì Đức Như Lai Đại Thông Trí Thắng diệt độ đến nay còn hơn số mực vi trần đó. Tất cả chúng sanh thời nay đều là những người từng thọ giáo pháp của 16 vị vương tử kia. Cho nên kinh nói: Vì nhân duyên đó mà nói ra thời Pháp Hoa Niết Bàn. Trong 16 vị vương tử giáo hóa khắp 10 phương, vị thứ 16 là Đức Thích Ca Mâu Ni ngày nay, còn chúng sanh được 16 vị giáo hóa chính là chúng sanh đang nghe pháp ngày nay.

Hỏi: Trên nói chúng sanh lưu chuyển nhiều kiếp mà ở trong ba cõi nhỏ hẹp làm sao chứa được nhiều thân?

Đáp: Tuy nói lưu chuyển, nhưng ở trong ba đường dữ thọ thân rất nhiều như kinh nói: “Ở trong hư không lượng chứa từng ô vuông từ đất đến trời sắc cứu kính, ở trong khoảng ấy đối với chúng sanh tức có nhiều tam thiên đại thiên thế giới của thân trời người. Nên biết thân ác đạo nhiều. Vì sao? Vì ác pháp dễ khởi, lòng lành khó sanh. Thời nay chỉ thấy chúng sanh hiện tại nếu được giàu có chỉ chạy theo việc buông lung phá giới, chư thiên thì phần nhiều chạy theo những thú vui ngũ dục. Nên trong kinh nói: “Tất cả chúng sanh thường lưu chuyển, thường lấy ba đường dữ làm nhà, cõi trời, người tạm đến rồi đi, nên chỉ gọi là khách. Trong luận Đại Trang nghiêm, khuyên tất cả chúng sanh thường tu họ niệm hiện tiền có bài kệ:

Tuổi trẻ không bệnh hoạn

Giải đãi không tinh tấn,

Tham tạo các nghiệp vụ,

Chẳng tu Thí, Giới, Thiền.

Đến khi thần chết đến,

Hối hận vội tu Thiện,

Người trí nên quán sát

Dứt trừ tưởng ngũ dục.

Tinh cần gắng tu tâm,

Rốt cuộc khỏi hối hận,

Tâm ý đã chuyên chú,

Không có niệm lầm lẫn.

Người trí cần dụng tâm,

Lâm chung ý chẳng mất,

Không tập lòng chánh niệm

Lâm chung chắc tán loạn.

Tâm nếu bị tán loạn,

Như dùng roi luyện ngựa,

Khi chúng chạy lung tung,

Làm sao đi cho được.”

Hỏi: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, từ kiếp lâu xa đến nay lẽ ra đã gặp Phật rất nhiều, nguyên do gì đến nay vẫn bị luân hồi sanh tử, không ra khỏi nhà lửa?

Đáp: Y cứ vào Đại Thừa Thánh giáo có hai pháp thù thắng để ra khỏi nhà lửa đó là tu theo Thánh Đạo và tu theo vãng sanh Tịnh độ. Người tu Thánh đạo thời nay khó chứng, vì chúng ta cách Phật đã xa, mà Thánh lý thì tinh vi khó thể hội nhập, nên trong kinh Đại Tập Nguyệt Tạng, Phật nói: “Trong thời mạt pháp, ức ức chúng sanh khởi hạnh tu Thánh đạo, chưa có một người được Đạo.” Thời nay đúng là thời mạt, năm trược hoành hành chỉ có pháp môn tịnh độ là có thể thành công, vì thế, Đại kinh nói: “Nếu có chúng sanh dù một đời tạo ác, đến lúc lâm chung, mười niệm liên tục, xưng danh tự tôi, nếu không được sanh về nước tôi, thì tôi không ở ngôi Chánh Giác”.

Tất cả chúng sanh phần nhiều không biết tự lượng sức mình, y cứ theo kinh điển đại thừa nói chơn như thật tướng, đệ nhất nghĩa không, chưa từng để ý. Nếu luận tiểu thừa người tu theo tứ quả đoạn trừ kiến hoặc, tư hoặc, không luận kẻ đạo người tục mấy ai đã được dự phần. Dù được quả báo người trời đều nhờ ngũ giới, thập thiện chiêu cảm, người giữ được còn rất ít. Nếu nói về khởi ác tạo tội thì khác nào đốt củi khô mà thêm gió lớn. Chính vì thế, Chư Phật vì lòng Đại Bi, khuyên tu Tịnh độ, dù có một đời tạo ác, chỉ cần dốc ý chuyên tinh, thường hay niệm Phật, tất cả các chướng đều tiêu diệt, chắc được vãng sanh. Vì sao không suy nghĩ kỹ tìm cách thoát thân.

4. Dẫn kinh Phật khuyên tin cầu sanh Tịnh Độ.

Kinh Quán Phật Tam Muội nói: “Lúc bấy giờ trong hội có Bồ Tát Tài Thủ bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! con nhớ thuở quá khứ vô lượng kiếp về trước có đức Phật xuất thế cũng gọi là Thích Ca Mâu Ni Phật. Đức Phật kia sau khi diệt độ có một vương tử tên là Kim Tràng kiêu mạn tà kiến, không tin chánh pháp. Có vị tri thức là Tỳ Kheo Định Tự Tại bảo vương tử rằng: Trong đời có tượng Phật rất xinh đẹp dễ mến, Ngài có thể vào tháp quán hình tượng Phật. Lúc ấy vị vương tử kia nghe theo lời thiện hữu vào tháp quán Phật, thấy Phật tướng tốt bèn thưa với Tỳ Kheo rằng: Tượng Phật đoan nghiêm như thế huống là thân thật. Tỳ kheo bảo: Nay Ngài thấy Phật tượng không thể lễ bái, nên xưng Nam Mô Phật, rồi trở về cung hệ niệm, nhớ tượng trong tháp, vương tử về làm theo, giữa đêm hôm ấy thấy Phật tượng, trong lòng rất vui mừng, xa lìa tà kiến, quy y Tam Bảo.

Khi mạng chung, nhờ nhân duyên vào tháp xưng tán công đức Phật, liền được gặp 9 trăm ức na do tha Phật. Đối với chư Phật thường siêng năng tinh tấn, thường được sức Niệm Phật Tam Muội, nên chư Phật hiện tiền đều thọ ký cho. Từ đó đến nay trải qua trăm muôn A Tăng kỳ kiếp không bị đọa vào đường dữ, cho đến ngày nay được Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội. Vị vương tử thuở ấy không ai xa la, chính là tôi ngày hôm nay.

Lúc bấy giờ trong hội có chư Đại Bồ Tát ở mười phương, số nhiều vô lượng, đều nói rõ bổn duyên của mình, đều y theo Niệm Phật mà được Niệm Phật Tam Muội. Phật bảo: Này A Nan! Quán Phật Tam Muội này là thuốc chửa lành bệnh cho tất cả chúng sanh phạm tội, là giáp hộ giới cho người bị phá giới, là Đạo sư dẫn đường cho người lạc đường, là cặp mắt sáng cho người mù, là trí huệ cho kẻ ngu si, là đèn sáng cho đêm tối, là tướng dũng mãnh trừ giặc phiền não, là chỗ dạo chơi của chư Phật Thế Tôn, là chỗ sanh ra Đại Định Thủ Lăng Nghiêm và các Đại Tam Muội. Phật lại bảo này A Nan! Ông phải khéo giữ gìn, đừng cho quên mất. Chư Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai đều nói niệm Phật Tam Muội như thế. Ta cùng mười phương chư Phật và nghìn Phật ở tiền kiếp, lúc mới phát tâm đều nhờ năng lực Niệm Phật Tam Muội này mà được Nhất Thiết Chủng Trí.

Trong kinh Mục Liên sở vấn, Phật bảo Mục Liên: “Như muôn dòng sông chảy về bể, có cây, cỏ nổi trên mặt, trước chẳng ngó sau, sau chẳng ngó trước, đều về bể cả. Những người thế gian cũng vậy, tuy có người giàu sang, kẻ bần cùng, tất cả không ai khỏi sanh, già, bệnh, chết. Chỉ vì họ không tin kinh Phật, đời sau làm người, không chỗ y cứ, không được sanh vào quốc độ chư Phật. Nên ta nói vô lượng cõi Phật dễ đến, dễ làm, mà người không chịu tu hành vãng sanh, lại phụng thờ 95 thứ tà đạo, Ta nói người ấy là người không mắt, gọi là người không tai, kinh dạy rõ ràng, vì sao không bỏ cái khó, làm theo cái dễ.”

Chương Bốn

Chương này nhằm trình bày cho thấy các Đại Đức kiệt xuất ở bên giáo tông đều quy hướng Tịnh độ, Đồng thời giới thiệu đa số các kinh điển Đại thừa đều lấy Niệm Phật Tam Muội làm cốt yếu và cho thấy Niệm Phật có nhiều lợi ích.

1. Các Đại Đức ở giáo tông đền qui hướng Tịnh Độ:

Bản hoài của Đức Phật là muốn độ khắp tất cả chúng sanh, vì thế ngoài giáo môn chuyên tự lực đoạn hoặc chứng chơn ra, Ngài còn nói pháp môn tự lực cọng tha lực, chỉ nương vào Nguyện lực mà thoát luân hồi. Vì thế, các Tổ sư các tông, sau khi kế nghiệp tư thừa, lại hoằng dương Tịnh Độ, như Tổ Mã Minh, Long Thọ là tổ Thiền Tông mà cùng nguyện vãng sanh, khuyên người tu Tịnh độ, Tổ Thiên Thai Trí Giả Đại Sư, chứng tam muội Pháp Hoa mà hằng tu Diệu Quán.

Tổ Thiên Thân, tổ Duy Thức Tông mà làm kệ phát nguyện vãng sanh, y kinh Vô Lượng Thọ khuyên người vãng sanh Cực Lạc. Riêng bên Giáo tông có sáu Pháp sư được coi là nanh vuốt của giáo tông gồm có Đại Thừa Pháp sư thông suốt ba tạng kinh điển là Pháp Sư Lưu Chi; một vị Pháp sư đạo cao đức trọng, dứt hẳn lợi danh là Pháp Sư Huệ Lũng; một Đại Đức giảng kinh xuất chúng, mỗi lần giảng kinh cảm thánh chúng đến nghe là Pháp Sư Đạo Tràng; một Đại Đức hòa quang cùng khắp, hai nước mến mộ là Pháp Sư Đàm Loan; một Đại Đức thiền quán cao tột là Thiền Sư Đại Hải; một đại giới luật tinh nghiêm cả nước đều ca ngợi, triều đình cảm phục, đó là Luật sư Thông Tuệ.

Sáu vị Đại Đức này đều là những tấm gương thần bao trùm Nhị đế, là giềng mối của chánh pháp đương thời, chí khí và hạnh nguyện tuyệt luân xưa nay ít thấy, các Ngài quảng bá đại thừa nhưng luôn luôn quy hương Lạc Bang, xem Tịnh Độ là yếu môn vô thượng.

Hỏi: Chư Đại Đức xem Tịnh Độ là yếu môn vô thượng, không biết Chư Đại Đức khi lâm chung đều có linh nghiệm chăng?

Đáp: Có linh nghiệm đầy đủ không sai. Như Pháp Sư Đàm Loan hằng ngày thường tu Tịnh Độ. Có một ngày nọ có một học giả thế tục đến hỏi Pháp sư rằng: “Cõi Phật trong 10 phương đều là Tịnh Độ, Pháp sư cần gì chuyên chú hướng Tây, đâu chẳng phải khởi ra thiên kiến? Pháp sư đáp: Tôi là phàm phu, trí huệ cạn cợt, chưa vào vị thập địa, niệm lực cần phải huân tập, giống như lấy cỏ dẫn trâu, thường phải buộc tâm vào một chỗ, đâu được buông thỏng không có chỗ về.

Pháp sư giải quyết tất cả vấn nạn, đến gặp Pháp sư người chưa sanh chánh tín làm cho sanh tin chắc, đã có lòng tin khuyên hồi hướng về Cực Lạc. Khi Pháp sư sắp lâm chung, cả chùa kẻ đạo người tục đều thấy tràng phang, hoa trời đầy chùa, mùi hương lạ và âm nhạc tiếp rước về Tây Phương. Các Đại Đức kể trên khi mạng chung đều có thụy ứng vãng sanh có chép đủ trong Thánh Hiền Lục.

2. Các Kinh lấy niệm Phật Tam Muội làm Tông.

Kinh Hoa Thủ Phật bảo Bồ Tát Kiên Ý rằng: “Tam Muội có hai thứ là Nhất Tướng Tam Muội và Chúng Tướng Tam Muội.

Thế nào là Nhất Tướng Tam Muội? Có một Bồ Tát ở thế giới kia, có đức Phật hiện tại thuyết pháp, Bồ tát ấy giữ lấy tướng hảo của Phật tưởng như ở trước mắt, hoặc lúc đức Phật ngồi ở đạo tràng, hoặc lúc đức Phật chuyển luân, đại chúng vi nhiễu. Giữ tướng như thế, thu nhiếp các căn, tâm không chạy loạn, chuyên niệm một vị Phật, không bỏ nhân duyên đó.

Các Bồ tát ở trong tướng Như Lai và tướng thế giới hiểu rõ vô tướng, thường quán như thế, thực hành như thế, không rời duyên này, lúc ấy tượng Phật liền hiện ra trước mắt mà vì đó nói pháp. Bồ tát lúc bấy giờ sanh ra lòng cung kỉnh rất sâu xa, nghe nhận pháp này hoặc sâu hoặc cạn lần thêm tôn trọng.

Bồ tát ở trong Tam muội này, nghe nói các pháp đều có thể tướng hoại, nghe rồi gìn giữ, từ tam muội dậy, có thể vì bốn chúng diễn nói pháp này. Phật bảo: Này Kiên Ý! Đó gọi là Bồ tát vào Nhất Tướng Tam Muội.

Kinh Văn Thù Bát Nhã nói về Nhất Hạnh Tam Muội: “Lúc bấy giờ Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn vì sao gọi là Nhất hạnh Tam muội? Phật dạy: Người tu Nhất hạnh Tam muội, hoặc thiện nam tử, thiện nữ nhơn nên ở chỗ yên tĩnh vắng vẻ, bỏ các ý tán loạn, tùy theo hướng chỗ ở của Phật, ngồi ngay hướng về, không giữ tướng mạo, buộc tâm vào một vị Phật, chuyên xưng danh hiệu, niệm không thôi dứt, chính trong niệm này có thể thấy chư Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai. Vì sao? Vì niệm đức Phật này công đức vô lượng vô biên cùng với công đức vô lượng Chư Phật không hai không khác. Đây gọi là Bồ Tát Nhất Hạnh Tam Muội.

Kinh Niết Bàn Đức Phật dạy: “Nếu người chí tâm tu niệm Phật Tam Muội thì Chư Phật trong 10 phương thường thấy người ấy, như ở trước mặt, vì thế, Phật bảo: Này Bồ Tát Ca Diếp! Nếu có thiện nam tử và thiện nữ nhơn thường hay một lòng chuyên nhớ Phật, người ấy hoặc ở núi rừng hoặc ở tụ lạc, hoặc ngày hoặc đêm, hoặc ngồi hoặc nằm, chư Phật Thế Tôn thường thấy người ấy như ở trước mắt, thường cùng người này ở chung và thọ thí.

Quán Kinh dạy: “Người tu muôn hạnh hồi hướng đều được vãng sanh, vì môn niệm Phật là đường cốt yếu. Vì sao? xét về thánh giáo thì hành giả có hai thứ lợi ích trước và sau. Nếu muốn phát sanh việc thiện mà khởi hạnh thì bao gồm các độ, nếu muốn diệt ác tiêu tai chướng, thời trị hết các họa hại, nên phần sau của Quán Kinh nói: “Chúng sanh niệm Phật, chư Phật nhiếp thủ chẳng bỏ, khi dương số đã hết, liền được vãng sanh, gọi là thứ lợi ích trước tiên. Nói được lợi ích sau cùng là y cứ trong Kinh Quán Âm Thọ Ký nói: “Phật A Di Đà trụ thế rất lâu hằng tỉ kiếp, tuy có diệt độ, nhưng sau khi Niết bàn, có hai đại Bồ tát Quan Âm và Thế Chí trụ trì cõi An Lạc, tiếp dẫn chúng sanh 10 phương. Đức Phật A Di Đà tuy đã diệt độ cũng đồng như thời gian trụ thế! Nên tất cả chúng sanh cõi kia đều có thể thấy Phật. Vì vậy, người nào một lòng chuyên niệm Phật A Di Đà, nguyện vãng sanh về thế giới Cực Lạc, thì người ấy thường thấy Phật A Di Đà hiện tại chẳng diệt độ. Đây là sự lợi ích về sau. Người tu các hạnh khác hồi hướng đều có thể được vãng sanh và đức Thế Tôn diệt độ vẫn còn thấy mặt đó là những đặc điểm lợi ích to lớn, dám khuyên mọi người suy nghĩ kỹ!”

Kinh Bát Nhã nói: “Lúc ấy có Bồ Tát Bạt Đà Hòa đang ở quốc độ mình, nghe nói Phật A Di Đà, thường nhớ niệm, do sự nhớ niệm đó mà thấy được Phật A Di Đà. Khi đã thấy Phật rồi, Bồ Tát liền thưa với Phật A Di Đà rằng: Xin Đức Thế Tôn chỉ cho con nên tu theo pháp nào để được sanh về nước kia? Lúc ấy, đức Phật A Di Đà dạy: Này Bồ Tát! Nếu muốn sanh về nước ta, thường xưng niệm danh hiệu của ta, liên tục không dứt, liền được sanh về quốc độ của ta, hoặc thường niệm 32 tướng thân Phật được đầy đủ, ánh sáng rực rỡ, đoan chánh không thể so sánh cũng được vãng sanh.

Luận Đại Trí Độ nói: “Có ba lý do giải thích vì sao hành giả phải niệm Phật.

a- Phật là đấng Pháp vương Vô thượng, Bồ Tát là Pháp thần (tôi), chỗ đáng tôn kính chỉ có Phật Thế Tôn nên phải thường niệm Phật.

b- Có các Bồ Tát tự nghĩ: Ta từ khoáng kiếp đến nay được nhờ đức Thế Tôn nuôi lớn Pháp thân, Trí thân, Đại Từ Bi thân. Tất cả thiền định, trí huệ, vô lượng hạnh nguyện nhờ Phật mà được thành tựu. Vì để báo đáp ân sâu, nên thường nguyện gần Phật, cũng như đại thần nhờ ân sủng của vua nên thường niệm đến người chủ.

c- Có các Bồ tát thường nghĩ rằng: Ta trong thời tu nhơn, gặp ác tri thức, bài báng Bát Nhã đọa vào đường dữ, trải qua vô lượng kiếp, tuy tu nhiều hạnh vẫn chưa ra khỏi, Nhờ Phật chỉ dạy dẹp hết các chướng, mới được giải thoát, có lợi ích như thế nên nguyện không rời Phật, luôn luôn niệm Phật.

Kinh Hoa Nghiêm nói: “Thà ở trong vô lượng kiếp chịu khổ, cũng không dám rời khỏi Như Lai, không thấy được năng lực tự tại. Niệm Phật tam Muội chắc được thấy Phật, sau khi mạng chung sanh về trước Phật. Dám khuyên những người sắp lâm chung cần nên niệm Phật, cần chỉ vào tượng Phật bảo phải chí thành cung kính nguyện sanh. Lại có đoạn nói: Thiện Tài đồng tử cầu Thiện Tri Thức, đến chỗ Tỳ kheo Đức Vân bạch rằng: Bạch Đại sư làm sao tu Đạo Bồ Tát để viên mãn Hạnh Phổ Hiền. Lúc ấy Tỳ kheo Đức Vân dạy: “Ta ở trong bể Trí Huệ của Đức Thế Tôn chỉ thực hành và biết có một pháp gọi là Niệm Phật Tam Muội. Vì sao? Vì ở trong Tam Muội này có thể thấy được tất cả Chư Phật và các quyến thuộc trang nghiêm Tịnh Độ, có thể làm cho chúng sanh xa lìa điên đảo. Niệm Phật Tam Muội có công năng trong cảnh giới vi tế, thấy tất cả cảnh giới tự tại của Chư Phật, được nhiều kiếp không điên đảo. Niệm Phật Tam Muội có thể khởi tưởng tất cả các cõi Phật, không bị hoại diệt, được khắp thấy chư Phật, được ba đời không điên đảo. Khi ấy Tỳ kheo Đức Vân thưa với Thiện Tài rằng: Phật Pháp sâu như biển, rộng rãi không bờ mé, chỗ tôi được biết chỉ có niệm Phật Tam Muội này, ngoài ra các cảnh giới vi diệu khác, rất nhiều tôi chưa được biết.”

Kinh Hải Long Vương nói: “Lúc ấy Hải Long Vương bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Đệ tử cầu sanh về Tịnh độ của Phật A Di Đà phải tu hạnh gì để được sanh về cõi ấy? Phật bảo: “Này Long Vương! Nếu muốn sanh về nước kia phải thực hành 8 pháp. Thế nào là 8 pháp: a- Thường niệm Chư Phật. b- Cúng dường Như Lai. c- Khen ngợi Thế Tôn. d- Tạo hình tượng Phật, tu các công đức. e- Hồi nguyện vãng sanh. f- Tâm không khiếp nhược. g- Một lòng tinh tấn. h- Cầu Chánh Huệ của Phật. Phật bảo: Này Long Vương! Tất cả chúng sanh có đủ 8 pháp này, thường không rời Phật.

Hỏi: Người không đủ 8 pháp được sanh trước Phật chẳng ly Phật chăng?

Đáp: Được sanh không nghi. Vì sao được biết? Chư Kinh Phật Thuyết Bảo Vân nói: “Đức Phật nói rõ mười hạnh được sanh Tịnh độ, người thực hành đầy đủ thường không rời Phật. Lúc ấy có Bồ Tát Trừ Cái Chướng bạch Phật rằng: Nếu có người không thực hành đủ 10 pháp có được sanh chăng? Phật đáp: Được sanh. Chỉ cần trong 10 hạnh làm một hạnh được đầy đủ không thiếu sót, thì 9 hạnh kia đều gọi thanh tịnh, đừng có khởi lòng nghi.” Lại trong Kinh Đại Thọ, Khẩn Na La Vương nói: “Bồ Tát thực hành bốn pháp, thường được chẳng rời Phật. Vì sao gọi là 4 Pháp? a- Tự tu pháp lành và khuyên chúng sanh đều hết lòng nguyện vãng sanh để thấy Như Lai. b- Tự khuyên mình và khuyên người ưa nghe chánh pháp. c- Tự khuyên mình và khuyên người phát tâm Bồ đề. d- Chuyên chí thực hành niệm Phật tam muội. Thực hành 4 pháp này, tất cả các chỗ thường ở trước Phật, không rời chư Phật.

Kinh nói: “Bồ Tát hành pháp có ba mươi hai món tùy thân. Bố thí là món đại phú, nhẫn nhục là món đoan chánh, trì giới là món thánh thân, ngũ nghịch bất hiếu là món núi đao, cây kiếm, vạc than, phát Bồ Đề tâm là món thành Phật, thường niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ là món thấy Phật.” Lược cử sáu món tùy thân các món khác không thuật hết, Kinh đã nói rõ ràng, hành giả nguyện sanh, vì sao lại không thường niệm Phật!

Kinh Nguyệt Đăng Tam Muội nói: “Niệm tướng hảo Phật và đức hạnh Phật có thể làm cho các căn chẳng loạn động, lòng không mê hoặc, cùng với pháp hợp, được nghe là được trí huệ như bể cả, người trí ở trong tam muội này, nhiếp tâm chuyên niệm có thể thấy được ngàn ức các đức Như Lai, cũng gặp được vô lượng hằng hà sa chư Phật.

3- Giải đáp để hiển bày lợi ích tam muội.

Hỏi: Người thường tu niệm Phật tam muội thì không nên tu các tam muội khác có phải như thế không?

Đáp: Nói là thường niệm chớ không phải nói không nên tu các tam muội khác, mà chỉ nói thực hành Niệm Phật tam muội nhiều hơn mà thôi, nên nói là thường niệm. Không phải nói hoàn toàn không nên thực hành các tam muội khác.

Hỏi: Nếu khuyên thường tu niệm Phật tam muội, như vậy đối với tam muội khác có thể cao thấp khác nhau, xin cho biết rõ?

Đáp: Niệm Phật tam muội, tướng thù thắng không thể nghĩ bàn. Vì sao biết được?

Trong kinh điển Đại Thừa nói: “Tất cả tam muội đều gọi là tam muội, nhưng với Niệm Phật tam muội có chỗ khác nhau. Vì có Tam muội chỉ có công năng trừ tham mà không thể trừ sân si, hoặc có Tam muội có thể chỉ trừ sân mà không trừ si tham, hoặc có Tam muội chỉ có thể trừ si mà không thể trừ tham sân, hoặc có Tam muội chỉ có thể trừ hiện tại chướng mà không thể trừ tất cả các chướng thời quá khứ và vị lai. Nếu người thường tu Niệm Phật Tam muội tất cả các chướng hiện tại, quá khứ vị lai đều trừ sạch.

Hỏi: Niệm Phật tam muội có thể trừ chướng, được phước, không biết có thể làm lợi ích hành giả như diên niên lợi ích thọ được chăng?

Đáp: Chắc được. Vì sao biết được? Vì trong kinh Như Duy Vô Tam Muội nói: “Có hai anh em, người anh thì tin nhân quả tu hành, người em thì lòng không tin, nhưng có tài coi tướng số, khi anh ta nhìn mặt trong gương thấy tướng chết đã hiện, chỉ trong thời gian không qua khỏi bảy ngày. Lúc ấy may gặp một người trí bảo đến hỏi Phật. Phật đáp dương số đã tận bảy ngày sau ông sẽ chết. Nếu có thể một lòng niệm Phật giữ giới, có thể tăng thọ thoát khỏi mạng chết sớm. Người ấy nghe rồi y lời hệ niệm niệm Phật. Đến ngày thứ sáu có 2 con quỷ đến định dẫn đi, nhưng tiếng niệm Phật làm cản đường chúng, chúng trở về thưa với Diêm Vương, Diêm Vương đem bùa ra, trong bùa đã ghi chú, người này do trì giới niệm Phật được công đức sống lâu, sau khi mất sanh về cung trời Diệm Thiên thứ Ba.

Kinh Thí Dụ nói: “Có một trưởng giả, không tin tội phước, lúc 50 tuổi, một đêm nằm mộng thấy có một con quỷ cầm tử phù đến muốn bắt đi, và hẹn 10 ngày sau đến bắt. Ông trưởng giả rất lo sợ đến nhờ thầy xem tướng giải mộng. Thầy tướng số cho biết đó là triệu chứng sát quỷ đến muốn làm hại, không gần 10 ngày sau, dương số ông đã tận. Ông trưởng giả rất lo sợ đến gặp Phật, Phật bảo: Nếu ông muốn hiện trạng ấy không còn, sống lâu thêm tuổi, từ đây về sau ông phải niệm Phật trì giới cúng dường Tam Bảo, có thể thoát khỏi ngày chết này. Ông trưởng giả y theo lời Phật dạy, chuyên tâm tin hướng niệm Phật. Sát quỷ đúng 10 ngày sau đến cửa, nghe tiếng niệm Phật và cách tu công đức của ông, nên bỏ đi không thể làm hại. Ông Trưởng giả nhờ công đức tu tập niệm Phật ấy mà sống lâu đến trăm tuổi, sau khi chết được vãng sanh về cõi trời.

Hỏi: Niệm Phật tam muội có thể đối trị các chướng, có thể thay đổi thế báo, còn đối với Xuất thế gian Vô thượng Bồ Đề thế nào?

Đáp: Chắc chắn được kết quả. Vì sao? Như Kinh Hoa Nghiêm phẩm Thập Địa nói: “Ban đầu từ Sơ địa cho đến Thập địa, trong mỗi địa đều có nói pháp gia hạnh vào địa. Khi địa đã mãn, công đức lợi ích vẫn không dừng lại. Các Bồ tát này tuy tu các hạnh đều không lìa niệm Phật niệm Pháp niệm Tăng, dùng đồ nhạc thắng diệu cúng dường Tam Bảo.” Qua đoạn văn này cho biết các Bồ tát ở địa thượng thường học niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng mới có thể thành tựu hạnh nguyện vô thượng, đầy đủ bể công đức. Huống chi các hàng Nhị thừa, phàm phu cầu sanh Tịnh độ mà không chịu học niệm Phật.” Vì sao? vì Niệm Phật tam muội này có đủ tất cả các pháp như Tứ Nhiếp, Lục Độ, hạnh chung, hạnh riêng.

Hỏi: Bồ tát từ Sơ địa đến Thập địa cùng Phật đồng chứng lý chơn như gọi là sanh vào nhà Phật, tự mình hiện làm Phật, hóa độ chúng sanh, vì sao lại phải học niệm Phật tam muội nguyện thấy Phật?

Đáp: Luận về chơn như rất rộng lớn vô biên, đồng như hư không, lượng nó khó biết hết, ví như một ngôi nhà tối rộng lớn, nếu đốt một hoặc hai ngọn đèn, ánh sáng của nó tuy đến khắp nhưng chỉ sáng lờ mờ, dù đốt nhiều đèn cũng chỉ nói sáng lớn chứ đâu có thể so sánh với mặt nhật. Trí tuệ Bồ tát chứng được, tuy mỗi địa đều khá hơn chỉ có chừng mực, đâu có thể so sánh trí sáng của Phật như mặt nhật kia.

Chương Năm

Chương này nhằm giải quyết ba tiểu điểm 1. Phân định việc tu chậm mau, 2. So sánh thiền và quán khuyên làm, 3. So sánh lậu và vô lậu và dẫn thánh giáo chứng minh.

1. Phân định việc tu đạo chậm mau.

Tất cả chúng sanh ai cũng chán khổ, tìm vui, sợ trói, cầu mở, nên ai cũng muốn mau chứng vô thượng Bồ Đề. Vì vậy, hành giả trước phải phát khởi tâm Bồ Đề, tâm này khó biết, khó khởi vì là quả cao cùng tột, dù có phát khởi được tâm này, y theo kinh phải tu mười thứ hạnh là tin, tấn, niệm, giới, định, huệ, xã, hộ Pháp, phát nguyện, hồi hướng rồi lần lên tiến đến quả vị Bồ Đề. Vì vậy, thân người thực hành phải tiếp nối chẳng dứt, trải qua một muôn kiếp mới chứng được vị chẳng thối. Ngày nay, kẻ phàm phu lòng tin và tâm tưởng nhẹ như sợi lông, cũng gọi là giả danh, cũng gọi là nhóm định, cũng gọi là ngoại phàm phu chưa ra khỏi nhà lửa. Vì sao? Căn cứ theo Bồ Tát Anh Lạc Kinh nói đủ hạnh vị của người tu từ Sơ Tín đến Đẳng Giác, Diệu Giác phải trải qua ba A Tăng Kỳ kiếp nên gọi là con đường khó làm.

Lại nữa chỉ lấy trong một kiếp thọ thân mạng sống chết còn không thể đếm hết, huống là trong một muôn kiếp luống chịu khổ đau. Nếu người có thể tin theo kinh Phật, nguyện sanh Tịnh độ, tùy theo tuổi thọ có dài ngắn, chỉ một đời liền được đến kết quả, ở vị Bất Thối. So với người tu Thánh đạo phải tu một muôn kiếp bằng nhau. Vì sao các người con Phật không suy nghĩ kỹ, không chịu bỏ khó tìm dễ.

Trong Câu Xá Luận cũng nói về hạnh dễ làm và khó làm như sau: “Phương cách khó làm là phải tu hành trải qua ba A Tăng Kỳ kiếp, trong mỗi kiếp đều có đủ tư lương Phước Trí, Lục Độ Ba La Mật. Tất cả các hạnh, mỗi mỗi hạnh nghiệp đều có trăm ngàn việc khó làm mới hoàn thành được một vị, nên gọi là cách khó làm. Nếu người nào riêng có phương tiện có thể giải thoát gọi là cách dễ làm.” Pháp môn Tịnh độ khuyên người cầu sanh về Cực Lạc, tất cả hành nghiệp đều hồi hướng về cõi kia. Chỉ cần một lòng chuyên chú, thọ mạng đã dứt liền được vãng sanh về nước kia, được cứu kính thanh tịnh, đâu có thể nói đây không phải là pháp dễ làm ư!

Hỏi: Đã nói nguyện vãng sanh Tịnh Độ, thọ mạng vừa dứt liền được vãng sanh, điều ấy có kinh giáo nào làm bằng chứng?

Đáp: Xin dẫn 7 thứ Kinh Luận để xác minh điều đó.

Kinh Đại A Di Đà Phật dạy: “Này A Nan! Nếu có chúng sanh muốn được hiện đời thấy được Phật Vô Lượng Thọ, nên phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, tu hành các công đức, nguyện sinh về nước kia, liền được vãng sanh. Có bài tụng rằng:

“Nếu nghe đức hiệu A Di Đà

Hoan hỉ tán ngưỡng lòng nương về

Cho đến một niệm được lợi lớn

Là vì có được châu công đức.

Dù đầy đại thiên lửa cháy lớn

Cũng phải đi đến nghe Phật danh

Nghe A Di Đà chẳng lui sụt

Cho nên một lòng chí thành lễ”.

Quán Kinh dạy: “Trong chín phẩm, phẩm nào hành giả lâm chung chánh niệm, liền được vãng sanh.”

Luận Khởi Tín nói: “Dạy các chúng sanh khuyên quán chơn như thật tướng bình đẳng, cũng có Bồ Tát mới phát tâm, trong lòng mềm yếu, tự nói mình không thể thường gặp chư Phật trực tiếp cúng dường, trong lòng muốn lui sụt. Nên biết, đức Như Lai có phương tiện thù thắng nhiếp hộ lòng tin, dạy phải chuyên lòng niệm Phật, nhờ nhơn duyên đó, theo nguyện vãng sanh, vì thường gặp Phật, nên xa lìa đường ác.”

Kinh Cổ Âm Đà La Ni nói: “Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ Kheo rằng: Ta sẽ vì các ông mà diễn nói thế giới An Lạc ở phương Tây, hiện nay có Phật hiệu A Di Đà, nếu Tứ chúng có thể thọ trì danh hiệu Phật kia, giữ chắc trong lòng, nhớ tưởng không quên, trong 10 ngày 10 đêm trừ bỏ tán loạn, siêng năng tu tập niệm Phật tam muội. Nếu có thể làm cho mỗi niệm tiếp nối không dứt, trong 10 ngày chắc được thấy đức Phật A Di Đà liền được vãng sanh.”

Kinh Pháp Cổ nói: “Nếu người khi lâm chung, không thể niệm Phật, chỉ biết hướng kia có Phật ý muốn vãng sanh, cũng được vãng sanh.”

Kinh Thập Phương Tùy Nguyện Vãng Sanh nói: “Nếu có người đã lâm chung, hoặc chết đọa vào địa ngục. Quyến thuộc trong gia đình vì người mất mà niệm Phật, hoặc chuyển tụng cầu phước, người mất có thể ra khỏi địa ngục vãng sanh Tịnh độ. Huống chi người ấy hiện tại tự có thể tu niệm làm sao không được vãng sanh.

Kinh Đại Pháp Cổ nói: “Nếu thiện nam tử và thiện nữ nhơn nào thường hay buộc ý xưng niệm danh hiệu Chư Phật, thì mười phương chư Phật và tất cả Hiền Thánh thường thấy người này như luôn hiện trước mặt, nên biết người này tùy theo ý nguyện mà được vãng sanh Tịnh độ trong 10 phương.”

Kinh Đại Bi nói: “Vì sao gọi là đại bi? Nếu người chuyên niệm danh hiệu Phật không gián đoạn, người ấy mạng chung chắc sanh về cõi An Lạc. Nếu có thể lần lượt khuyên người cùng nhau niệm Phật, người ấy được gọi là người đại bi.”

Kinh Niết Bàn nói: “Phật bảo này Đại Vương! Giả sử nhà vua cứ mỗi nửa tháng, mở tất cả kho lớn đem bố thí cho tất cả chúng sanh, chỗ được công đức đó không bằng có người xưng danh hiệu Phật một lời, công đức người này hơn người kia không thể so lường.”

Kinh Tăng Nhất A Hàm nói: “Này A Nan! Có người cúng dường y phục, ngọa cụ, y dược cho chúng sanh khắp cõi Diêm Phù Đề này, công đức người ấy có nhiều chăng? A Nan thưa: Bạch Thế Tôn rất nhiều không thể kể xiết. Phật bảo: Này A Nan! Nếu có chúng sanh tâm lành tiếp nối xưng danh hiệu Phật nhỏ bằng hạt sửa, công đức người ấy hơn kẻ bố thí kia không thể so lường.”

Kinh Đại Phẩm nói: “Nếu người tâm tán loạn niệm Phật cũng được dứt khổ, phước đức không thể kể hết. Nếu người dâng hoa cúng Phật niệm Phật, cũng dứt hết khổ, phước đức không thể kể hết. Nên biết niệm Phật lợi ích rất lớn, không thể nghĩ bàn.”

2. So sánh Thiền quán khuyên nguyện vãng sanh.

Cõi này là cảnh uế ác loạn tưởng nên tu thiền quán khó được, dù có tu được cũng chỉ có định về sự, vui nhiều thêm nhiễm. Nếu có thể dẹp được hoặc nghiệp thì quả báo được sanh về các cõi trời, tuổi thọ hết rồi phần nhiều lui sụt. Nên Trí Độ Luận nói: “Thiền đa văn trì giới, chưa được pháp vô lậu, tuy có được công đức, việc này chưa tin được, nếu muốn hướng Tây tu tập, cảnh tu sáng sạch, quán định dễ thành, trừ tội nhiều kiếp, chỗ định mau tới, rốt ráo thanh lương, như kinh đã nói.”

Hỏi: Nếu Tây Phương cảnh giới thù thắng, có thể cảm được việc tu thiền, cõi này cảnh giới kém, không nên tu thiền định phải không?

Đáp: Nếu luận về cái nhơn tu định thì gồm cả cõi này và cõi kia. Nhưng cõi kia mọi người đều ở vị chẳng lui sụt và có sức Phật gia trì cho nên gọi là cảnh thù thắng. Còn cõi này có thể tu định, chỉ có sự cố gắng tu tập của chính mình, không nhờ ai giúp đở, khi nghiệp duyên đã tận, khó khỏi bị thối lui. Cần phải cẩn thận.

3. So sánh lậu và vô lậu.

Căn cứ vào 2 cảnh tịnh và uế để xét xem cảnh nào lậu và cảnh nào vô lậu. Cảnh giới cõi này chỉ có 3 đường gò nổng, núi khe, cát đất, gai gốc, nước lụt, hạn hán, gió cuốn, nước trôi, lôi điện nổ vang, cọp sói độc thú, giặc dữ, con ngỗ nghịch, hoang loạn phá tán, ba tai bại hoại. Nếu nói về chánh báo của cảnh này là ba độc, tám điên đảo. Lo buồn, hờn giận, nhiều bệnh, vắn số, đói khát, nóng nhiệt, thường bị quỷ ma theo đuổi làm hại, rất nhiều việc ô uế xấu xa, nên gọi là lậu, thật rất nhàm chán.

Người vãng sanh về Cực Lạc được gọi là cảnh giới thù thắng. Đại Kinh nói: “Nhơn thiên trong mười phương được vãng sanh về cõi kia đều được lợi ích. Vì sao? Vì được sanh về nước kia, khi đi có sen vàng đở gót, ngồi có bảo tọa dựa thân, ra ngoài có Đế Thích dẫn đường, đi vào có Phạm Vương nối gót, tất cả thánh chúng cùng ta làm bạn, Phật A Di Đà là bổn sư, dưới cây trong rừng tới lui tùy thích, ao bát công đức mặc tình tắm gội, thân màu vàng ròng, sống lâu bằng Phật, học thời các môn tiến tới, dừng thời hai đế dung thông, mười phương qua lại dùng đại thần thông, ngồi yên tạm thời vào 3 môn giải thoát, dạo chơi trên đường Bát Chánh, chỗ đến là Đại Niết Bàn. Tất cả chúng sanh đã đến cõi kia đều có đủ lợi ích. Vì sao không quyết mau đến cõi kia?

4. Dẫn Kinh giáo.

Kinh Quán Phật Tam Muội nói: “Lúc ấy, có chư Phật mười phương mỗi vị kiết già yên ngồi trên đài hoa hiện trên hư không. Như Lai Thiện Đức thưa Đại Chúng rằng, tất cả nên biết, ta nhớ vô lượng đời quá khứ, có đức Phật tên Bảo Oai Đức Thượng Vương Như Lai, Đức Như Lai kia ra đời nói pháp Tam Thừa cũng như ngày nay. Sau khi Đức Phật kia diệt độ, có một Tỳ kheo thâu 9 đệ tử, đến lễ bái Phật tháp. Lễ đến một tượng Phật thấy tướng hảo quang minh có thể quán.

Quán rồi kỉnh lễ, mắt thấy rõ chắc, mỗi người nói một bài kệ để tán thán. Các vị này lần lượt mạng chung, khi mạng chung rồi sanh ra trước Phật từ đấy về sau hằng được gặp Phật vô lượng, ở chỗ chư Phật, rộng tu phạm hạnh, được Niệm Phật Tam Muội. Được Tam muội rồi chư Phật hiện tiền cùng thọ ký cho, ở khắp mười phương, tùy ý thành Phật. Phương Đông có Phật Thiện Đức chính là thân ta, còn chín phương khác vốn xưa là đệ tử của ta.

Các Đức Thế Tôn ở mười phương do lễ tháp dùng kệ khen ngợi mà được thành Phật. Trong lúc ấy, mười đức Như Lai ở mười phương, phóng ánh sáng lớn, hiển thị sắc thân bạch hào tướng quan, mỗi vị đều đến ngồi bên Phật Thích Ca, bảo với A Nan rằng: “Ông nên biết Đức Thích Ca Văn Phật, đã nhiều đời tinh tấn, trăm ngàn kiếp khổ hạnh cầu Trí Huệ Phật mới được báo thân tốt đẹp này.

Nay ta vì ông mà nói, ông đem lời này nói lại cho Tứ chúng đệ tử của Phật thời vị lai, giảng nói về quán tướng hảo Phật và niệm Phật tam muội. Sau khi nói lời ấy rồi, thập phương Phật đến vấn an Phật Thích Ca Văn rồi trở về nước mình.”

Chương Sáu

Chương này nhằm khai triển 2 chủ điểm là so sánh Tịnh Độ ở mười phương và luận về sự trụ và diệt của các kinh.

1. So sánh tịnh độ ở 10 phương.

Kinh Tùy Nguyện Vãng Sanh nói: “Cõi nước Chư Phật trong 10 phương đều rất nghiêm tịnh, tùy theo bản nguyện đều được vãng sanh, tuy vậy tất cả tịnh độ đều không bằng quốc độ Cực Lạc của Phật Vô Lượng Thọ ở Phương Tây, vì Đức Phật A Di Đà cùng Quan Âm và Đại Thế Chí, khi mới phát tâm, từ cõi này mà đến cõi kia, vì thế các Ngài có đại duyên với chúng sanh cõi này. Vì thế, Đức Thích Ca Mâu Ni mỗi chỗ, mỗi thời đều khen ngợi chỉ về.

Kinh Đại A Di Đà nói: “Bồ tát Pháp Tạng trong lúc tu nhơn ở trước Phật Thế Tự Tại Vương, phát lời hoằng nguyện độ chúng sanh, xây dựng Tịnh độ, nhiếp thủ chúng sanh.

Đức Phật Thế Tự Tại Vương vì Bồ tát hiện 210 ức cõi Tịnh độ, tất cả người trời thiện ác, quốc độ thô, tịnh đều hiện ra hết. Lúc ấy, Bồ tát Phát Tạng nguyện xây dựng cõi Cực lạc ở Tây phương tiếp dẫn chúng sanh và nay đã thành Phật ở đó.

Trong Quán Kinh: “Phu Nhơn Vi Đề Hy xin vãng sanh về Tịnh độ. Trong Quang đài của Đức Thế Tôn hiện tất cả Tịnh độ trong 10 phương. Phu nhơn Vi Đề Hy bạch Phật: Tuy các cõi này đều thanh tịnh và có ánh sáng, con nay muốn sanh về thế giới Cực lạc của Phật A Di Đà.” Qua những dẫn trên cho biết trong các cõi Tịnh độ, thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà là thù thắng hơn cả.

Hỏi: Vì sao người niệm Phật phải mặt hướng về Tây trong khi tọa thiền, lễ niệm, hoặc quán tưởng?

Đáp: Cõi Diêm Phù Đề thường nói: “Mặt nhật mọc gọi là sống, mặt trời lặn gọi là chết”. Trong sanh tử thì giai đoạn tử là giai đoạn lo sợ và đau khổ nhất, cho nên Bồ tát Pháp Tạng nguyện thành Phật tại hướng Tây, vì lòng thương to lớn muốn tiếp dẫn chúng sanh. Khi ngồi quán, lễ niệm, mặt hướng về Tây là Phật A Di Đà nguyện tiếp dẫn không thôi nghỉ, hằng đưa tay tiếp dẫn chúng sanh về như mẹ đưa tay dắt con về quê, theo lễ nghi con phải hướng về mẹ. Nếu là bậc Thánh thì phương hướng không trở ngại, còn phàm phu thì thân tâm cùng hướng, nếu thân hướng phương khác, tâm muốn về Tây việc vãng sanh rất khó. Nên Luận Trí Độ nói: “Có một thầy Tỳ kheo lúc sinh tiền, tụng kinh A Di Đà và niệm Bát Nhã Ba La Mật, khi sắp lâm chung bảo đệ tử rằng: “Phật A Di Đà và Thánh Chúng hiện ra trước mặt ta, nói rồi chấp tay niệm Phật, chốc lát bỏ báo thân. Các đệ tử y pháp trà tỳ, khi lửa đã tắt, tất cả toàn thân cháy hết, chỉ còn lưỡi và cuốn lưỡi nguyên vẹn và tươi như lúc sống. Toàn thể đệ tử xây tháp cúng dường.”

Bồ Tát Long Thọ trong Thích Luận nói: “Tụng Kinh A Di Đà nên lâm chung Phật rước, niệm Bát Nhã Ba La Mật nên lưỡi vẫn còn tươi”. Qua đoạn văn trên chứng minh, nên biết tất cả hành nghiệp, chỉ hết lòng hồi hướng thì không có hạnh nào là chẳng được vãng sanh.”

2. Sự trụ và diệt của các kinh.

Kinh từ kim khẩu Phật Thích Ca Mâu Ni nói ra được chia làm 3 thời kỳ, năm trăm năm đầu từ khi Đức Phật thành Đạo gọi là thời kỳ Chánh Pháp, một ngàn năm kế tiếp theo đó gọi là thời Tượng Pháp, một muôn năm sau đó gọi là thời Mạt Pháp, sau thời kỳ đó các kinh lần bị diệt, Đức Như Lai thương xót chúng sanh bị thống khổ, đặc biệt lưu lại Đại Kinh này còn trụ ở đời 100 năm.

Qua chứng minh trên cho biết cõi Tịnh độ kia tuy là hoàn toàn thanh tịnh nhưng thể chung cho các bậc thượng, hạ, người biết tướng là không tướng sanh về phẩm thượng, phàm phu ở nhà lửa một lòng niệm Phật vẫn được vãng sanh vào phẩm hạ.

Chương Bảy

1. Vấn đề triền phược giải thoát.

Nếu người giữ tịnh tướng của Tây phương thì mau giải thoát, thuần nhận các điều vui, trí nhãn sáng tỏ, trái lại, người giữ uế tướng chỉ có vọng tưởng mê mờ, tai ách trói buộc thêm nhiều lo sợ. Hỏi: Y theo kinh Đại Thừa đều nói vô tướng là đường cốt yếu cho việc xa lìa, chấp tướng trói buộc không khỏi lụy theo tình trần nay khuyên chúng sanh bỏ uế ưa tịnh là nghĩa thế nào? Đáp: Nghĩa ấy chẳng định. Vì sao? Vì tướng có 2 thứ: a- Đối với tướng dục cảnh của ngũ trần, mê vọng ái nhiễm, theo cảnh chấp trước, các tướng ấy gọi là tướng trói buộc. b- Ưa thích công đức Phật, nguyện sanh về tịnh độ, tuy nói là tướng nhưng là tướng giải thoát.

Vì sao biết được? Trong kinh Thập Địa nói: “Hàng Bồ tát Sơ địa, tự mình riêng quán hai đế, chăm lòng tác ý, trước y tướng mà cầu, rốt cuộc tướng trở thành vô tướng, vì lần lần tăng tâm thể Đại Bồ Đề. Đến mãn Thất địa, chung tâm và tướng tâm mới dứt, vào thẳng Bát địa không còn cầu ở tướng nữa, mới gọi là công dụng.

Vì thế, Thất địa về trước ác tham chướng, dùng tướng thiện tham để trị, từ Bát địa sắp lên thiện tham là chướng thì không còn tham gì để trị.” Đó là Bậc Thánh huống là người cầu sanh Tịnh Độ là ngoại phàm, chỗ tạo ra căn lành đều từ yêu thích công đức Phật mà sanh đâu gọi là triền phược. Kinh Niết Bàn nói: “Tất cả chúng sanh có hai thứ ái là thiện ái và bất thiện ái. Cầu thiện ái pháp là việc cầu của các vị Bồ tát, cầu bất thiện ái chỉ có hàng phàm phu ngu dốt cầu đó.”

Trong Tịnh Độ Luận nói: “Quán quốc độ Phật là vị thanh tịnh, nhiếp thọ chúng sanh là vị đại thừa, phát khởi hạnh nguyện vãng sanh là vị cõi Phật. Các vị Phật đạo có vô lượng như thế nên tuy chấp tướng không phải là sự trói buộc. Cõi Tịnh độ kia chỗ nói tướng chính là tướng vô lậu, là tướng của thật tướng vậy.

2. Dụng công tu có nặng nhẹ.

Nếu muốn phát tâm vãng sanh về Tây Phương, phải dùng thời giờ để lễ, quán, niệm, tùy theo cuộc sống có ngắn dài khi mạng chung thì ánh sáng, đài hoa đến nghinh tiếp về đến cõi kia, chứng vị Bất thối, nên Đại Kinh nói: “Nhơn thiên trong 10 phương sanh về nước tôi, nếu không rốt ráo được thành Phật, còn bị thối chuyển thì tôi không ở ngôi chánh giác.” Ở cõi này hành giả phải dùng nhiều thì giờ tu đủ các hạnh của Bồ tát như thí, giới, nhẩn, tấn, định, huệ chưa mãn một muôn kiếp, thường không thoát khỏi nhà lửa, thường bị điên đảo mê lầm sa đọa, nên gọi dụng công rất nhiều mà được quả báo rất ít.

Đại kinh cũng nói: “Sanh về nước ta là vượt ra khỏi năm ác thú cõi Ta bà.” Nay đem so sánh với cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà thì cõi Ta Bà năm đường đều gọi là ác thú. Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, thuần tạo nghiệp ác, bị quả báo ác nên gọi là ác thú. Nhơn, thiên cõi Ta bà hướng về tạp nghiệp cũng gọi là ác thú.

Nếu y theo cõi này tu, trước đoạn trừ kiến hoặc, lìa được nhơn tam đồ, diệt được quả tam đồ. Kế đó đoạn tư hoặc, lìa cái nhơn trời người, dứt được quả của trời người, cứ như thế mà lần lượt đoạn trừ không thể gọi đục ngang ra, như con mọt muốn ra khỏi cây phải đục lần lượt từ dưới lên chót mới ra khỏi.

Nếu được vãng sanh về cõi Phật A Di Đà thì năm đường đồng thời thoát khỏi nên gọi là đục ngang, như con mọt đục ngang ra khỏi vỏ tre là thoát. Người tu theo Thánh Đạo phải trải qua 52 vị, như con mọt phải đục 52 mắt tre mới ra ngoài, nên thời gian rất dài, gọi là 3 A Tăng Kỳ Kiếp. Nếu người tác ý hồi nguyện Tây Phương, nếu dài lắm trọn một đời, ngắn lắm chỉ cần 10 niệm liền được vãng sanh đến cõi kia rồi liền vào chánh định tụ, ở vị bất thối chuyển, so với người tu Thánh đạo công bằng một muôn kiếp. So sánh như thế để chúng ta thấy con đường tu nào chậm, mau, khó, dễ thật rõ ràng.

Chương Tám

Chương này nhằm giải quyết ba chủ đề chính là căn cứ vào các kinh, khuyên bỏ đây ưa kia, năng lực độ khắp của Phật A Di Đà và giải thích ý vãng sanh.

1. Căn cứ vào các kinh khuyên bỏ đây ưa kia.

Tất cả kinh điển Đại thừa đều khuyên bỏ đây ưa kia, đặc biệt nhất ở núi Kỳ Xà Quật, Phật vì phu nhân Vi Đề Hy mà nói Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh, khuyên các hàng thượng thiện đến kẻ nghịch ác đều nguyện vãng sanh về Cực lạc. Bỏ cõi uế Ta Bà sanh về cõi Tịnh Độ. Kế đó, Phật nói Quán Vô Lượng Thọ Kinh và A Di Đà Kinh cũng đều khuyên bỏ cõi này sanh về cõi kia.

Ở Hội Hoa Nghiêm, Phổ Hiền Đại Bồ Tát phát 10 Đại nguyện, khuyên hải chúng Hoa Tạng vãng sanh. Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Bồ Tát Đại Thế Chí trình phương pháp niệm Phật viên thông, khuyên mọi người cầu vãng sanh.

Đồng thời có các kinh như Kinh Thập Phương Tùy Nguyện Vãng Sanh, Kinh Vô Lượng Thanh Tịnh Bình Đẳng giác, Kinh Thập Vãng Sanh. Riêng các luận thì khuyên bỏ đây về kia rất nhiều như luận Thập Trụ Tỳ Bà Sa, Luận Đại Thừa Khởi tín, Luận Vãng Sanh rất nhiều không thể kể xiết. Như thế, ý hướng bỏ cõi uế Ta Bà, cầu sanh về cõi tịnh Tây Phương là xu hướng lớn của kinh Luận Đại Thừa.

2. Năng lực độ khắp của Phật A Di Đà.

Các đức Như Lai đều có đầy đủ năng lực và diệu dụng độ sanh, nhưng tùy theo bản nguyện mà các Ngài có khi phát huy hoặc không phát huy năng lực độ sanh. Như ngày xưa trong Tỳ Xá Ly Quốc, nhân dân gặp năm thứ ác bịnh, đến cầu xin Phật ra tay cứu độ. Lúc ấy Đức Thích Ca Mâu Ni khởi vô lượng bi mẫn bảo các người bệnh rằng: “Ở Tây phương có Phật A Di Đà, Bồ Tát Quan Âm, Bồ Tát Thế Chí là bậc đại y vương.

Vì vậy, các ông phải một lòng chấp tay cầu thấy Phật A Di Đà sẽ được cứu độ.” Lúc bấy giờ, Phật A Di Đà phóng ánh sáng lớn, Bồ tát Quan Âm và Thế Chí đồng đến. Nói đại thần chú, tất cả bệnh khổ đều tiêu trừ.

Thần lực các đức Như Lai đều bằng nhau không hơn kém, đức Thích Ca muốn hạ bớt khả năng của mình để hiển bày khả năng của Phật A Di Đà. Vì muốn cho tất cả mọi người đều cùng hướng về. Nên Pháp sư Đàm Loan có làm bài kệ khen tán:

Chúng Bồ tát Thanh văn cõi An lạc

Người trời trí huệ đều đổng triệt

Thân tướng trang nghiêm đẹp lạ thường

Thuận theo chúng sanh mà lập tên

Dung nhan đoan chánh không thể sanh

Thân tướng vi diệu khác trời người

Thân chất hư vô không cực thể

Nên con quy mạng về đảnh lễ.

Hỏi: Người nguyện sanh về Tịnh độ không biết có dụng ý gì?

Đáp: Chỉ muốn mau thành Phật đạo, công hạnh tự lợi lợi tha viên mãn, nhiếp thọ chánh pháp, khế hợp tánh bất nhị, chứng được Phật tánh, thấu rõ thật tướng, quán sát tự tâm bao gồm Tam đế, Kim Cang vô ngại, chứng Đại Niết Bàn. Dùng lòng Đại bi trở lại biển sanh tử độ thoát vô lượng chúng sanh không có hạn lượng.

Hỏi: Nguyện sanh Tịnh độ là muốn cứu độ chúng sanh, chỉ nên ở cõi này cứu khổ, vì sao nguyện sanh tịnh độ giống như bỏ chúng sanh ưa vui tịnh độ?

Đáp: Nghĩa ấy không đúng. Như Luận Trí Độ nói: “Như có 2 người con đều thấy cha mẹ rớt ở nguồn sâu, một người chạy thẳng đến dùng hết năng lực để cứu lên, vì không đủ sức nên tất cả đều chết chìm. Một người con khác chạy tìm một chiếc thuyền, chèo đến vớt lên, tất cả đều được khỏi nạn.” Bồ tát cũng thế, khi chưa phát tâm, vẫn bị lưu chuyển trong sanh tử như chúng sanh không khác. Nhưng khi phát tâm Bồ đề rồi, trước nguyện vãng sanh Tịnh độ, chèo thuyền Đại bi, có vô ngại biện tài, vào bể sanh tử, cứu vớt chúng sanh.

Trong Luận Đại Trí Độ cùng nói: “Bồ tát sanh Tịnh độ đủ đại thần thông, biện tài vô ngại. Khi giáo hóa chúng sanh, còn không đủ khả năng làm họ tăng thiện diệt ác, tăng đạo tấn vị đúng với ý của Bồ tát, huống chi ở cõi uế nầy cứu tế chúng sanh sẽ không có lợi ích mong muốn. Giống như bắt gà bỏ vào nước đâu khỏi không bị ướt.”

Đại Kinh có bài tán rằng:

Các vị Bồ tát cõi An Lạc

Tự do tuyên thuyết toàn trí huệ

Nghe rồi vạn vật quên ngã sở

Sạch tợ hoa sen chẳng nhiễm trần

Qua lại tới lui vận thuyền từ

Đem nhiều lợi ích thoát biển khổ.

Các Ngài chứng không dứt 2 tưởng

Đem đuốc trí huệ chiếu đêm dài,

Ba minh, sáu thông đều đã đủ

Bồ tát vạn hạnh quán tâm nhãn

Công Đức như thế thật vô biên

Cho nên con nay nguyền được về.

Chương Chín

Chương này nhằm giải quyết hai chủ điểm là khổ và lạc tương đối; tuổi thọ dài ngắn.

1. Khổ và lạc đối nhau.

Xét về khổ và vui. Chúng ta thấy người ở cõi Ta Bà tuy có quả báo khổ và vui, nhưng thường khổ rất nhiều mà vui rất ít. Nặng như bị đọa vào ba đường, chịu đốt, chịu đau. Nhẹ như người trời thì đao binh, tật bệnh liên tục trói thân, vô số kiếp trước sau không bao giờ dứt.

Dù có người ở cõi trời, việc vui qua nhanh như điện chớp như bóng bọt. vừa khởi liền diệt, nên gọi cõi Ta Bà này chỉ có khổ. Còn cõi Tịnh lạc của Phật A Di Đà, nước cây chim rừng thường diễn pháp âm, diễn bày ý đạo, đầy đủ rõ ràng, có thể làm hành giả ngộ nhập vào tri kiến Phật.

Trong Tịnh độ luận nói: “Người trời 10 phương sanh về nước kia, vị ngang với Tịnh Tâm Bồ Tát không khác. Bồ tát Tịnh Tâm chính là Bồ Tát Địa Thượng, vị đồng Đẳng giác, được nhẫn Tịnh diệt, vị bất thối chuyển. Trong 48 nguyện ở Đại Kinh nói: “Người sanh về nước tôi có năm điều đại lợi ích:

1- Nếu có nhơn thiên trong 10 phương sanh về nước tôi không được thân sắc vàng ròng thì tôi không ở ngôi chánh giác.

2- Nếu có nhơn thiên trong 10 phương sanh về nước tôi, mà hình sắc thân thể không đồng thì không ở ngôi chánh giác.

3- Nhơn thiên10 phương sanh về nước tôi, không được túc mệnh thông, nhẫn đến không biết được mọi việc trong trăm ngàn ức Na do tha kiếp thời tôi không ở ngôi chánh giác.

4- Nhơn thiên 10 phương sanh về nước tôi, không được thiên nhỉ thông, cho đến không nghe chư Phật thuyết pháp trăm nghìn ức na do tha nói và thông thạo lời đầy đủ thời tôi không ở ngôi chánh giác.

5- Nhơn thiên trong 10 phương sanh về nước tôi, không được tha tâm thông, cho đến không biết được tâm niệm chúng sanh trong trăm ngàn ức na do tha các cõi nước chư Phật thời tôi không ở ngôi chánh giác.

Sự đại an lạc lợi ích cõi Cực lạc không thể nói hết, người sanh về cõi ấy, được lợi ích không thể nghĩ bàn. Nên nói cõi Cực lạc chỉ có vui, có thiện, không khổ, không ác.

2. Tuổi thọ hai cõi có dài ngắn.

Luận về tuổi thọ ngắn dài. Cõi này thọ mạng dài lắm là một trăm năm. Thời gian trăm năm này phần nhiều chết non, ít người sống thọ, có người chưa được 50, có kẻ còn là đồng tử cũng bị mất mạng, chưa kể có kẻ chết ra khỏi bào thai. Vì sao vậy? Vì chúng sanh lúc tạo nhơn nhiều cách, nên thọ quả báo cũng nhiều cách, không đồng đều.

Kinh Niết Bàn dạy: “Khi tạo nghiệp đen tối, quả báo cũng đen tối, khi tạo nghiệp trắng trong, quả báo cũng trắng trong. Tất cả quả báo đều do tạo nghiệp tịnh hay uế.”

Kinh Tịnh Độ Bồ Tát nói: “Người sống trăm tuổi, đêm đen đã chiếm 50 năm. Lúc nhỏ 15 năm chưa biết thiện ác, tuổi từ 80 trở về sau, cuộc sống hư liệt, toàn chịu cái khổ già chết. Trừ các việc kể trên, đời sống con người thực sự có 15 năm. Trong 15 năm đó, nếu hàng vua chúa quan quyền thì bức bách mọi mặt không có ngày yên. Nếu là quân nhân thì bị đánh giặc xa, giữ ngoài biên ải, có người bị giam ở lao ngục. Nếu người ở nhà bình thường thì việc tốt xấu trói buộc, thường không được vừa ý. Như thế, suy nghĩ kỹ ra, một kiếp có bao nhiêu thời gian yên ổn, có thể tu thiện nghiệp được. Thật đáng buồn thay!”.

Kinh trên cũng nói: Con người sống trong thế gian, mỗi ngày đêm có 8 ức, bốn ngàn muôn niệm. Một niệm khởi ác là nhận một thân ác, 10 niệm ác có 10 niệm thân ác sanh ra, trăm niệm ác có trăm thân ác sanh ra. Một đời một chúng sanh niệm một trăm năm ác, ác sẽ đầy khắp các quốc độ ở mười phương thọ ác thân. Ác pháp đã vậy, thiện pháp cũng như thế. Một niệm khởi thiện là thọ thân thiện, một trăm niệm thiện thọ 100 thiện thân. Nếu 1 đời làm thiện, cũng được thiện thân đồng ba ngàn quốc độ. Nếu được năm năm hoặc mười năm niệm Phật A Di Đà, hoặc đến nhiều năm, sau đó sanh về nước Cực lạc liền được Tịnh độ pháp thân, nhiều hằng hà sa không thể nghĩ bàn.

Trước đã nói quốc độ cõi uế, mạng căn ngắn ngủi báo thân chẳng dài lâu. Nếu người sanh về cõi Cực Lạc Phật A Di Đà thọ mạng lâu xa không thể nghĩ bàn, trải qua trăm ngàn kiếp đồng tuổi thọ với Phật A Di Đà.

Kinh Vô Lượng Thọ nói: “Phật bảo này Xá Lợi Phất! Đức Phật kia vì sao gọi là A Di Đà? Này Xá Lợi Phất! Mười phương trời người vãng sanh về nước kia sống lâu ức trăm ngàn kiếp đồng tuổi với Phật Vô Lượng Thọ nên gọi là A Di Đà. Vì vạy, các ông nên thấy lợi ích lớn như thế, mau nguyện vãng sanh.”

Kinh Thiện Vương Hoàng đế nói: “Có người học đạo muốn vãng sanh về quốc độ Phật A Di Đà, nhớ niệm một ngày đêm hoặc hai ngày đêm, hoặc ba, hoặc bốn, hoặc năm, hoặc sáu, hoặc bảy ngày đêm, khi mạng chung có 8 vị Bồ tát đến tiếp dẫn người ấy về cõi Tây Phương của Phật A Di Đà.” Có bài tụng rằng

Có một chúng sanh về An Lạc

Có đủ cả Ba mươi hai tướng

Trí huệ đầy đủ vào Diệu pháp

Diễn bày chánh pháp không chướng ngại

Tùy căn lợi độn nhẫn thành tựu

Ba nhẫn cho đến bất khả thuyết

Túc mạng, ngũ thông thường tự tại

Tiến đến thành Phật khỏi nẽo ác.

Những người ở cõi trược ác kia

Về đây thị hiện Đại Mâu Ni

Sanh cõi An lạc lợi ích lớn

Vì vạy một lòng nguyện vãng sanh.

Chương Mười

Chương này chỉ bày cách hồi hướng.

Pháp môn Tịnh độ mười phương chư Phật đều khen ngợi và khuyên chúng sanh nên nguyện vãng sanh về. Chư Bồ tát trong 10 phương đều nguyện vãng sanh. Người trời muốn lợi ích lớn đều cầu sanh về. Nên Đại kinh có bài tụng:

Thần lực A Di Đà vô cực

Chư Phật mười phương đều khen ngợi

Chư Phật hằng sa ở phương Đông

Vô số Bồ Tát đều nguyện đến!

Đồng để cúng dường nước An Lạc

Bồ tát, Thinh văn cùng Đại Chúng.

Nghe nhận kinh pháp lời dạy bảo

Chín phương các nơi đều hồi hướng.

Hồi hướng có nghĩa từ đây hướng đến kia như người tu tịnh nghiệp ở Ta Bà một lòng vãng sanh gọi là hồi đây hướng kia. Người tu Tịnh độ làm các công đức, hoặc tu tịnh nghiệp chánh nhơn hoặc tu tán thiện, nếu có lòng hồi hướng đều được vãng sanh. Vì thế, chúng ta thấy có người trọn đời tụng kinh Kim Cang không có niệm Phật, nhưng khi lâm chung được Phật đến rước là do sự hồi hướng này. Bởi vì tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, mọi người đều có tâm nguyện thành Phật, nhưng chỗ tu hành nếu căn cứ vào thánh giáo, nếu chưa đủ một muôn kiếp, tức qua một A Tăng Kỳ kiếp là chưa ra khỏi nhà lửa, thoát hẳn luân hồi. Đức Thế Tôn vì thương xót hàng chúng sanh đang trầm luân, chịu vô cùng khổ sở, nên chỉ bày pháp môn Tịnh độ, khuyên hồi hướng Tây Phương sẽ được lợi ích.

Công năng hồi hướng gồm có 6 thứ:

a. Đem các nghiệp thiện tu tập hồi hướng vãng sanh về cõi Phật A Di Đà. Đã đến nước kia liền được 6 thần thông trên thành Phật đạo dưới cứu độ chúng sanh.

b. Hồi nhơn hướng quả là từ lúc gây nhơn đều hướng về một kết quả, như người gây nhơn tịnh nghiệp cõi Ta bà hướng về quả vô thượng vãng sanh Cực lạc.

c. Hồi hạ hướng thượng: Từ địa vị phàm phu nguyện sanh Tịnh độ để viên mãn Phật quả.

d. Hồi trì hướng tốc. Không theo các pháp tu chậm mà thẳng hướng về cách tu mau, như con mọt muốn vượt ra khỏi thân tre, không phải chậm chạp đục thủng 52 mắt tre mới ra ngoài, chỉ cần dùng phương tiện đục ngang thân tre là ra ngoài rất nhanh. Năm mươi ba mắt tre chỉ cho cách tu thông thường phải qua 3 A tăng kỳ kiếp mới thoát khỏi tam giới, người Niệm Phật chỉ cần một đời được vãng sanh là nhất sanh bổ xứ cho đến thành Phật.

e. Hồi thí chúng sanh lòng từ hướng thiện. Người tu niệm Phật vãng sanh Tịnh độ không phải ham vui mà muốn thành Phật trở lại độ sanh.

g. Trở lại độ sanh: Hành giả về Cực lạc rồi trở lại Ta Bà phân thân độ tất cả chúng sanh. Đại Kinh nói: “Có chúng sanh nào được sanh về nước ta, tự nhiên thắng tấn vượt qua các địa cho đến thành Phật.” Đại Kinh có bài tụng:

Thanh văn Bồ tát cõi an lạc,

Ở trong cõi này không so sánh,

Thế Tôn vô ngại đại biện tài,

Lập nhiều phương tiện để độ sanh.

Chỉ về cõi kia được an ổn,

Bao nhiêu cảnh giới khó sánh bằng,

Đều do nguyện lực Pháp Tạng thành,

Hết lòng đảnh lễ Đại Từ Tôn.

Chương Mười Một

Nhằm giải thích về thiện tri thức và luận khi lâm chung tốt xấu.

1- Khuyên nương nhờ thiện tri thức.

Kinh Pháp Cú nói: “Bửu Minh Bồ Tát bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Vì sao gọi là Thiện Tri Thức. Phật dạy: “Thiện Tri Thức là những người có thể giảng dạy pháp mầu nhiệm. Nói pháp không, vô tướng, vô nguyện, các pháp bình đẳng, không nghiệp, không báo, không nhơn, không quả, cứu kính như như, trụ nơi thật tế. Tuy vậy ở chỗ cứu kính không đó, bỗng nhiên kiến lập tất cả các pháp, đó là thiện tri thức. Thiện tri thức này là cha mẹ nuôi dưõng thân Bồ đề của các ông. Thiện tri thức là con mắt huệ, có thể thấy tất cả thiện ác.

Thiện tri thức là thuyền từ lớn chở các ông qua khỏi biển sanh tử. Thiện tri thức là sợi dây kéo các ông ra khỏi sanh tử. Đặc biệt Thiện tri thức chơn chánh cần khuyên chúng sanh cầu sanh Tịnh Độ. Vì sao? Vì ở trong nhà lửa này, vì gặp toàn nghịch cảnh nên phần nhiều bị lui sụt không thể thoát ly. Cho nên, ông Xá Lợi Phất ở cõi này phát tâm tu Bồ Tát hạnh trải quá 60 kiếp, nhưng gặp ác tri thức xin cặp mắt để hủy hoại chơi, liền bị thối chuyển. Nên biết ở nhà lửa tu Bồ tát đạo vô cùng khó khăn. Nên đa số thiện tri thức đều khuyên phát nguyện vãng sanh Tây phương. Một khi được vãng sanh thì 3 học tự nhiên thắng tấn, muôn hạnh đều đầy đủ. Nên Đại kinh nói: “Tịnh độ Phật A Di Đà không tạo ác dù nhỏ bằng sợi tơ.”

2- Người sau khi chết.

– Cõi này chúng sanh dương số tận đều phải theo hai nghiệp thiện ác dẫn đi thọ sanh, tiếp nối như vậy từ vô số kiếp đến nay chưa hề thoát khỏi.

– Nếu người sanh lòng tin quy hướng về Tịnh độ, dốc lòng niệm Phật, khi mạng chung Phật A Di Đà cùng Bồ Tát Quan Âm và Thánh Chúng, phóng quang nghênh tiếp, hành giả hoan hỉ chấp tay theo Phật, ngồi trên đài sen, giây lát đến cõi Cực lạc, hưởng vô lượng sự vui, cho đến thành Phật.

– Tất cả chúng sanh cõi này tạo nghiệp không đồng, có ba thứ thượng trung hạ nên phải đến Diêm Vương phán định.

– Nếu người có duyên tin Phật nguyện sanh tịnh độ, chỉ tu các công đức, hành nghiệp đều hồi hướng nguyện vãng sanh. Khi mạng sắp lâm chung Phật tự đến đón về lại cố hương.

Người sợ sanh tử nên suy gẫm lời khuyên này.

Chương Mười Hai

Chương này nhằm khuyên vãng sanh.

Kinh Thập Vãng Sanh nói: “A Nan bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn tất cả chúng sanh phương pháp quán thân việc ấy thế nào? Xin Đức Thế Tôn vì con giảng nói. Phật bảo: Này A Nan! Nói về pháp quán thân là không quán Đông Tây Nam Bắc, không quán tứ vị thượng hạ, không quán hư không, không quán ngoại duyên, không quán nội duyên, không quán thân sắc, không quán sắc thinh, không quán sắc tượng, chỉ quán vô duyên (thật tướng) đó là pháp chánh quán chơn thân, trừ pháp quán thân này không có pháp nào khác mà được giải thoát. Phật lại bảo: A Nan! Người quán được thân (thật tướng) năng lực thiện tự nhiên khai phát chánh niệm tự nhiên giải thoát. Vì sao? Thí như có người tinh tấn trực tâm được giải thoát, những người như thế không cầu giải thoát mà giải thoát tự đến.

A Nan lại bạch Phật, bạch Thế Tôn, chúng sanh ở thế gian nếu có chánh niệm giải thoát, thì lẽ ra không đọa tam ác đạo địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh phải không? Phật bảo: Này A Nan! Sở dĩ chúng sanh trong thế gian không được giải thoát là vì tất cả thực hiện của họ phần nhiều dối trá, không có chơn thật, không có chánh niệm, vì nhơn duyên đó mà phần nhiều vào địa ngục, số giải thoát rất ít. Như có người đối với cha mẹ, sư trưởng bên ngoài hiện vẽ hiếu thuận, trong lòng ôm những điều bất hiếu, ngoài hiện tinh tấn, trong ôm ấp điều dối trá chẳng thật, những người ác như thế, quả báo tuy chưa đến mà cách ba đường ác chẳng xa, không có chánh niệm, không thể giải thoát.

Này A Nan! ông nay lắng nghe, ta vì ông mà nói mười pháp vãng sanh, có thể giải thoát. Thế nào là 10 pháp?

1. Quán thân chánh niệm, lòng thường hoan hỉ đem các đồ ăn uống, y phục cúng dường Phật và Tăng, được vãng sanh về cõi Phật A Di Đà.

2. Dùng tâm chánh niệm đem các thứ lương dược cúng dường bệnh Tỳ Kheo tăng và tất cả chúng sanh, được vãng sanh về cõi Phật A Di Đà.

3. Dùng tâm chánh niệm không hại một sanh mạng, lòng từ bi đối với tất cả, được vãng sanh về cõi Phật A Di Đà.

4. Dùng tâm chánh niệm, theo giới sư thọ giới, tịnh tu phạm hạnh, tâm thường hoan hỷ. Được vãng sanh về cõi Phật A Di Đà.

5. Dùng tâm chánh niệm, hiếu thuận cha mẹ tôn thờ sư trưởng, không khởi lòng kiêu mạn, được sanh về cõi Phật A Di Đà.

6. Dùng tâm chánh niệm, cung kỉnh khi đến Tăng phòng, cung kỉnh khi vào tháp, chùa, lúc nghe pháp, hiểu đệ nhất nghĩa đế, được sanh về cõi Phật A Di Đà.

7. Dùng tâm chánh niệm, trong một ngày một đêm thọ trì bát quan trai giới, không phạm giới nào, được sanh về cõi Phật A Di Đà.

8. Dùng tâm chánh niệm, trong 1 tháng trai, ngày trai, xa lìa ngũ dục ân ái, thường đến học hỏi ở bậc thiện tri thức đạo xuất thế, được sanh về cõi Phật A Di Đà.

9. Dùng tâm chánh niệm, thường trì tịnh giới, siêng tu các pháp thiền định, tịnh ba nghiệp, được định không khoe khoang, nếu người tu hành như thế, được sanh về cõi Phật A Di Đà.

10. Dùng tâm chánh niệm, ở đạo Vô thượng không có lòng chê bai, tinh tấn trì tịnh giới, lại dạy cho người khác, cùng nhau lưu bố kinh điển này, dạy bảo vô lượng chúng sanh. Tất cả những người như thế được vãng sanh về cõi Phật A Di Đà.

Lúc bấy giờ trong hội có Bồ Tát Sơn Hải Huệ bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Cõi nước của Phật A Di Đà kia có những việc thù thắng diệu lạc gì mà tất cả chúng sanh đều nguyện vãng sanh về cõi kia? Phật bảo: Này Sơn Hải Huệ! Ông nên đứng dậy chấp tay, chánh thân hướng về Tây Phương, chánh niệm quán cõi nước và Phật A Di Đà, nguyện được thấy Phật A Di Đà. Lúc ấy tất cả Đại chúng cũng đều đứng dậy chấp tay, cùng quán Phật A Di Đà. Lúc ấy Phật A Di Đà hiện đại thần thông, phóng ánh sáng lớn, chiếu vào thân Bồ Tát Sơn Hải Huệ. Lúc ấy Bồ tát Sơn Hải Huệ cùng đại chúng liền thấy cõi nước của Phật A Di Đà, thấy rõ các việc hiện hảo trang nghiêm. Tất cả đều bằng 7 báu: núi bảy báu, quốc độ bảy báu, nước, chim, cây, rừng, thường nói pháp âm, cõi kia hằng ngày thường chuyển pháp luân. Cõi kia nhân dân không tập ngoại sự, chánh tập nội sự, miệng nói lời Phương Đẳng, tai nghe tiếng Phương đẳng, tâm hiểu nghĩa phương đăng.

Lúc ấy, Bồ Tát Sơn Hải Huệ bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Hôm nay chúng con đã thấy cõi Cực lạc có nhiều thắng diệu và lợi ích không thể nghĩ bàn. Con nay nguyện tất cả chúng sanh đều nên phát nguyện vãng sanh và chúng con cũng nguyện vãng sanh về cõi ấy. Phật thọ ký cho và nói: Chánh quán, chánh niệm, được chánh giải thoát, tất cả đều được sanh về cõi kia.

Nếu có thiện nam tử thiện nữ nhơn nào có lòng tin chắc kinh này, ưa thích kinh này, dạy bảo chúng sanh cùng nói, cùng nghe đều được vãng sanh về cõi Phật A Di Đà. Nếu có những người như thế, từ ngày nay ta thường khiến 25 vị Đại Bồ tát hộ trì những người này, thường làm cho người này không có bệnh, không ưu não, nếu nhơn và phi nhơn không được tiện lợi đi đứng ngồi nằm, bất luận ngày đêm đều được an ổn.

Bồ tát Sơn Hải Huệ bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Con nay lãnh thọ lời dạy không dám có chút nghi. Nhưng ở đời có nhiều chúng sanh bài báng kinh này, không tin kinh này như thế người ấy bị quả báo về sau thế nào? Phật dạy: Này Sơn Hải Huệ! Đời sau trong cõi Diêm Phù Đề nếu có hàng Tỳ kheo, Tỳ Kheo ni, hoặc xem, hoặc đọc tụng kinh này sanh lòng sân hận, ôm lòng chê bai. Do sự chê bai chánh pháp này, người ấy hiện thân bị các thứ bệnh nặng, các căn không đủ, đui điếc câm ngọng, ma quỷ dựa nhập, ngồi đứng không yên, cầu sống không được, cầu chết không được. Hoặc khi chết đọa vào địa ngục tám muôn kiếp chịu khổ não lớn. Trăm ngàn muôn kiếp chưa từng nghe được tên ăn uống, nhiều kiếp sau này sanh vào súc sanh làm thân trâu ngựa heo dê để người giết ăn thịt, chịu nhiều điều cực khổ. Dù được làm người, thường sanh vào chỗ hạ tiện, trăm ngàn muôn kiếp không được tự tại. Vĩnh viễn không được nghe danh tự Tam Bảo. Vì thế, người không trí và người không tin đừng nói kinh này!”

Kệ hồi hướng

Đức lưu thông tuyển tập.

Khắp thí cho tất cả,

Trước phát tâm Bồ đề,

Đồng hướng về Tịnh độ,

Đều cùng thành Phật Đạo.

The post An Lạc Tập appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/an-lac-tap.html/feed 0
LUẬN VÃNG SANH https://bachhac.net/luan-vang-sanh.html https://bachhac.net/luan-vang-sanh.html#respond Tue, 27 Aug 2019 07:51:20 +0000 https://bachhac.net/?p=2277 Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Quyển 26, Thích Kinh Luận Bộ Hạ Số 1524, trang 230 LUẬN VÃNG SANH LUẬN BỘ 1 Hán dịch: Đại Sư BỒ ĐỀ LƯU CHI Soạn dịch: Hòa Thượng THÍCH PHƯỚC HUỆ Viện Phật Học Phước Huệ ấn hành. PL 2547 – DL 2003 VÃNG SANH TỊNH-ĐỘ LUẬN …

The post LUẬN VÃNG SANH appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
luận vãng sanh

Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh

Quyển 26, Thích Kinh Luận Bộ Hạ

Số 1524, trang 230

LUẬN VÃNG SANH

LUẬN BỘ 1

Hán dịch: Đại Sư BỒ ĐỀ LƯU CHI

Soạn dịch: Hòa Thượng THÍCH PHƯỚC HUỆ

Viện Phật Học Phước Huệ ấn hành.

PL 2547 – DL 2003

VÃNG SANH TỊNH-ĐỘ LUẬN

GIẢNG YẾU

Trước tác: Bồ Tát THIÊN THÂN

Giảng Yếu: Đại Sư THÁI HƯ

Dịch Việt: HỒNG NHƠN

VÃNG SANH TỊNH-ĐỘ LUẬN GIẢNG YẾU

KHỞI NGUỒN

Đức Phật ra đời vì muốn cho chúng sanh thoát khỏi “ Việc lớn Sanh tử ”, nên Ngài dạy diệu pháp vô thượng là pháp môn Tịnh-Độ. Có thể nói, Bản Hoài một đời thuyết giáo của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đều nằm trong Pháp Môn Tịnh Độ, vì Pháp Môn này độ hết các cơ, trùm khắp các giáo. Người Niệm Phật căn cơ thấp có thể dùng tin nguyện mà được mang nghiệp vãng sanh, còn Bậc Thượng căn nếu hồi hướng.

Lạc Bang mau được viên thành giác Đạo. Nương theo Từ lực của Phật so với Tự lực chỗ khó dễ thấy rõ ràng như một tảng đá lớn nhờ lên thuyền mà dễ qua sông, hạt cát tuy nhẹ rớt xuống đáy áo vẫn nằm nguyên tại chỗ.

Vì thế, Bồ Tát Thiên Thân, một Đại Luận Sư và cũng là Tổ Sư của Tông Pháp Tướng căn cứ vào Kinh Vô Lượng Thọ làm Nguyện Vãng Sanh Kệ Luận, chỉ rõ năm phương pháp Tu Hành chắc được vãng sanh để cho người Tu Tịnh Độ đời sau làm y cứ.

Trong Vãng Sanh Luận, Tổ Thiên Thân đã chỉ rõ phương pháp Lễ Bái, Tán Thán, Tác Nguyện, Quán sát và Hồi Hướng và Ngài Thái-Hư Đại Sư Giảng yếu chỉ thẳng Đại Thệ Nguyện của Phật A Di Đà và chỗ triệt để của Bồ Tát Thiên Thân, nếu không phải là bậc thấu triệt Tâm Phật, được vô ngại biện tài như Ngài Thái-Hư thì không ai có thể làm nỗi.

Pháp môn Tịnh Độ từ xưa nay vốn là nơi quy về của các pháp môn, vì thế, ở hội Hoa Nghiêm Các Bậc Đẳng Giác Bồ Tát còn lấy mười Đại Nguyện Hồi hướng vãng sanh. Các Bậc Tông Sư như Long Thọ, Mã Minh là Tổ Thiền Tông, Trí Giả Đại Sư là Thiên Thai Tông, Từ Ân Đại Sư là Tổ của Hoa Nghiêm Tông, Vĩnh Minh Thọ Thiền Sư Cháu Đích Tôn của dòng Pháp Nhãn, tất cả các vị đều dạy người thực hành và tự thực hành đồng nguyện sanh về thế giới Cực-Lạc.

Từ đó, chúng ta thấy những người chấp chuyên vào Tự lực không nhờ vào Phật lực sẽ mất nhiều lợi ích lớn, vì đây là phương tiện Tối Thắng của vị Trưởng giả muốn cho tất cả các con thoát khỏi nhà lửa ba cõi mà mở bày, vì người được vãng sanh là thoát ra nhà lửa được về cõi Cực-Lạc an vui.

Khi về được cõi ấy rồi thì đầy dẫy thắng duyên, chim nói pháp, nước reo kinh, bạn là Bồ Tát Bất Thối, thân gặp Phật A Di Đà, nghe Phật nói pháp chứng Quả Vô Sanh, viên mãn quả vị Vô Thượng Bồ Đề.

Với ngòi bút lưu lợi của Thái Hư Đại Sư đã làm những lời Kệ Nguyện của Bồ Tát Thiên Thân thêm sáng rực như một bó đuốc dẫn đường đến cõi Phật An Vui. Nhận thấy đây là một Phương Pháp Tu Tập để được Vãng sanh Vô cùng Quý Báu, thật dễ làm và chắc chắn đi đến thành công, nên dù thời gian có eo hẹp chúng tôi cũng cố gắng phiên dịch ra Việt Ngữ để Tịnh Độ pháp ngữ được lưu thông.

Chúng tôi Chân Thành giới thiệu đến Quý Phật Tử Phương Pháp Thiết yếu của người muốn Vãng sanh Cực-Lạc.

Hồng Nhơn Cẩn Bút.

A. THÍCH ĐỀ

1. Đề Luận

Vãng sanh Tịnh Độ Luận nguyên tên là Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Bà Đề Xá Nguyện Sanh Kệ. Luận có 2 loại: Tôn Kinh luận và Thích Kinh Luận. Tôn Kinh luận là Chư Tổ dựa vào ý kinh tự lập ra luận.

Thích Kinh luận là các Tổ y cứ theo Kinh văn giải thích thành luận. Bộ Luận Vãng Sanh Tịnh Độ này là Tôn Kinh Luận do đó luận cũng chính là Đề Kinh.

Kinh Vô Lượng Thọ là một trong 3 Bộ Kinh cốt yếu lập thành Tông Tịnh Độ là Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh A Di Đà và Quán Vô Lượng Thọ Kinh. Luận này dựa vào Kinh Vô Lượng Thọ lập nghĩa nên được gọi là Vô Lượng Thọ Kinh Luận. Vô Lượng Thọ là hồng danh của Đức Phật, tiếng Phạn là AMITABHA, dịch âm là A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang, nhưng chủ yếu là Vô Lượng Thọ, nên hầu hết các Kinh đều dịch là Vô Lượng Thọ.

Chữ VÔ có nghĩa là Không. Chữ LƯỢNG có nghĩa là số lượng. Riêng về chữ Lượng có 4 loại:

1. Không gian lượng là chỉ thể-tích trong không gian, những vật có chiều rộng, dài, cao chiếm một khoảng trong không gian. Toán Kỷ Hà Học đã tính được lượng này.

2. Thời lượng: Tính bằng thời gian lấy sát na làm đơn vị đến giây, phút, giờ, ngày, tháng, năm… gọi là thời lượng.

3. Trọng lượng: Tính sức nặng đơn vị nó là lượng, cân, ký, tấn…

4. Số lượng: Tính từ số 1 đến A Tăng Kỳ số. Thế nào gọi là vô lượng? Phàm cái gì có thể dùng lời mà nói được, dùng ý thức có thể suy nghĩ đều thuộc về 4 lượng tính toán trên.

Nếu vượt qua các lượng tức là hết tất cả tướng nói năng, lìa hết tướng tâm có thể duyên. Thực mà nói: Dứt cả lờì nói, tâm làm đều tịch diệt, tình cảnh không thể nghĩ bàn gọi là Vô Lượng.

THỌ là sống lâu. Nếu lấy trăm ngàn tuổi tính đến kiếp số của sự thọ mạng, bất cứ cái gì còn tính được đều không thể gọi là vô lượng. Cái gì không thể lấy ngôn ngữ, tư tưởng có thể suy đo gọi là vô lượng.

KINH: Phàm những lời Phật nói ra hoặc đệ tử nói ra mà Phật ấn khả gọi đó là Kinh. Kinh còn gọi là Khế Kinh tức là trên khế hợp với lý Phật, dưới khế hợp căn cơ chúng sanh. Các Bồ Tát y theo Tôn yếu mà sáng tác, hoặc chú thích thuật tác theo Kinh gọi là Luận. Lúc Phật còn ở trong đời, hằng ngày sinh hoạt với Đệ Tử, Quy định những điều luật để đệ tử thật hành gọi là Luật.

Vô Lượng Thọ là đề Kinh, Ưu Bà Đề Xá nghị luận nghĩa lý, mục đích phát huy hết yếu nghĩa của Kinh gọi là Luận. Trong luận này chia làm 2 phần. Trước tiên Ngài làm thành kệ để phát nguyện vãng sanh, kế đó Ngài làm Luận để Giải Thích rõ ràng văn kệ nên cũng gọi là Vô Lượng Thọ Kinh Nguyện Sanh Kệ Luận.

TỊNH ĐỘ: Trong kinh dạy: ‘Hư không vô biên, thế giới vô số’. Ngày nay, những nhà thiên văn đã xử dụng kính viễn vọng có thể thấy được Hỏa tinh, trong ấy có người đang sống và các hành tinh vô số trong vũ trụ. Trong vô số thế giới ấy, đương nhiên sẻ có thế giới khổ, vui, nhơ, sạch, tốt xấu nhiều thứ sai biệt. Những thế giới trong sạch an vui, tốt đẹp trang nghiêm được gọi là Tịnh Độ. Từ đó suy ra các nhà thiên văn học đều dễ dàng công nhận. Thế giới Ta Bà là thế giới đau khổ, người sanh trong cõi này không có một chút vui chơn thật luôn luôn bị khổ đau ép ngặt. Vì thế, Đức Thích Ca Mâu Ni đặc biệt chỉ dạy cho chúng sanh một thế giới thanh tịnh vô cùng an lạc và chỉ cho mọi người phương pháp tu để được vãng sanh về cõi tịnh ấy, vì nếu tu nghiệp nhơn tịnh độ sẽ có quả an lạc tịnh độ. Ngài dạy: Từ đây hướng về phía Tây, cách mười muôn ức cõi Phật, có một thế giới tên là Cực-Lạc. Bằng nhãn quang và trí tuệ, Ngài thấy chắc có thế giới này, nên dạy khuyên chúng sanh trong thế giới tai nạn khổ ách cõi Ta Bà này hãy phát tâm cầu sanh về thế giới Cực-Lạc, siêng tu tịnh nghiệp chắc chắn được vãng sanh về Tây Phương Tịnh Độ.

Căn cứ vào Đệ Nhất Nghĩa Đế mà nói, Cõi Phật cứu kính thanh tịnh là Chơn Pháp Giới lìa tất cả tướng, lìa tất cả phân biệt, ngôn thuyết. Chơn pháp giới này trùm khắp cả chỗ, mọi ngườì có đủ nhưng không hiển hiện được vì bị ngăn ngại phiền não nghiệp chướng. Dù nó có mặt khắp tất cả chỗ nhưng không tương ưng nên phải ở trong cuộc sống huyễn mộng sanh tử không dứt. Nếu có thể phá được nghiệp báo phiền não huyễn mộng, một niệm giác ngộ là một niệm Tịnh Độ tương ưng. Đó chính là ‘ Vãng không chỗ vãng và sanh không có chỗ sanh’. Đó là nghĩa của vãng sanh vậy.

Nếu căn cứ vào Tục Đế mà nói vãng sanh là ‘Vãng thì quyết định vãng, sanh thì quyết định sanh’. Do nhơn tu Tịnh nghiệp nên khi lâm chung lìa cõi Ta Bà này vãng sanh về thế giới Cực-Lạc. Nếu hợp Chơn Đế và Tục đế mà nói vãng là ‘Vãng thì không chỗ vãng, sanh thì quyết định sanh’ vì người vãng sanh căn cứ trên báo thể tức là A Lại Da thức. Năng lực A Lại Da thức trùm khắp tất cả chỗ, sanh vào cõi này là do nghiệp lực năng sanh thuần thục mà báo thể cõi này thành tựu. Như thế, được sanh tịnh độ là do tịnh nghiệp thành thục tức là Báo thể sanh Tịnh Độ thành thục. Nên nói: ‘Vãng thì không có chỗ vãng, sanh thì quyết định sanh’.

Lại nữa, chúng sanh nhận báo thân ở cõi Ta Bà khi chưa bỏ thân mạng, nếu bỏ thân này vãng sanh về cõi Cực-Lạc là ‘Vãng thì có chỗ vãng’. Nhưng năng sanh sở sanh không thực tại, xét cho kỹ thì từ chỗ nào sanh về cõi Ta Bà, từ chỗ nào sanh về Cực Lạc? Nếu từ Tự sanh, lúc chưa sanh tự thể nó là không làm sao có thể tự sanh? Nếu đó là tha sanh thì dối tự nói tha sanh vì tự mình đã không sanh người khác làm sao sanh?

Nếu không có cái nhơn sanh thì tất cả đều Vô-sanh. Trong Trung luận nói: ‘Các pháp không tự sanh, cũng không từ cái khác sanh, không cùng đều là nhơn nên nói vô sanh’, nên có thể nói: ‘Vãng thì có chỗ vãng mà sanh thì không có chỗ sanh’. Vì thế bốn trường hợp trên không nên thiên chấp. Quả nếu có thể lìa chấp thời có thể tùy cơ phương tiện mà nói đó.

2. Người tạo Luận

Luận này do Bồ Tát Thiên Thân tạo, Ngài có hai người anh là Bồ Tát Vô Trước và Tôn Giả Sư Tử đều là Bậc Luận Sư nổi tiếng đương thời. Ngài tạo rất nhiều Luận được người đời tôn xưng là ‘Thiên Bộ Luận Sự’.

Ban đầu Ngài học theo Tiểu thừa tạo ra 500 Bộ Luận Tiểu Thừa, sau bỏ Tiểu Thừa sang Đại Thừa cũng tạo ra 500 Bộ Luận Đại Thừa. Vãng Sanh Tịnh Độ Luận này là một trong 500 Bộ Luận Đại Thừa ấy.

BỒ TÁT nói cho đủ là Bồ Đề Tát Đỏa là Giác Hữu Tình, là những bậc đã chứng được quả chánh biến tri, quyết tâm độ thoát tất cả chúng hữu tình gọi là Bồ Tát. Công hạnh Bồ Tát có gần xa, công hạnh có sâu cạn. Vị Thập Tín là Sơ phát tâm Bồ Tát. Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh Vị gọi là Tam Hiền Bồ Tát. Bồ Tát Thiên Thân đã chứng Tứ Gia Hạnh Vị thuộc về Bồ Tát Tam Hiền.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra ở Xứ Ấn Độ, những lời thuyết giáo được ghi lại bằng Ấn văn. Đến đời Nguyên Ngụy, Ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch sang Hoa Văn và Ngài Thái-Hư Đại Sư giảng chỗ yếu nghĩa.

B. GIẢNG KỆ VĂN

Trong Luận này có chia làm hai phần là Kệ Văn và Luận Văn. Kệ văn là những Bài Kệ được Quy Định năm chữ một câu. Luận văn là thể văn xuôi không Quy định chữ và vần điệu. Trọng tâm của Kệ văn và Luận văn là dạy những cương lĩnh của năm môn tu để được vãng sanh về Cực Lạc. Vì thế, Luận này còn gọi là Luận Năm môn thực hành đề được vãng sanh Tịnh Độ.

1. Kỉnh Pháp Chủ Giải Ba Môn

KỆ VĂN: ĐỨC THẾ TÔN! CON MỘT LÒNG QUY MẠNG, VÔ NGẠI QUANG NHƯ LAI, KHẮP CẢ TRONG MƯỜI PHƯƠNG NGUYỆN SANH NƯỚC AN- DƯỠNG.

Con một lòng quy mạng là tỏ lòng cung kính với vị pháp chủ. Kinh là những lời kiết tập do chính Đệ Tử Phật nghe và ghi lại, còn luận là căn cứ vào kinh mà tạo ra. Vì kinh do Phật nói ra nên Nhà Tạo Luận trước phải Kỉnh Phật. Nói Quy mạng là diễn tả sự cung kính cùng tột hết lòng nương về Đức Phật.

Con Quy mạng Vô Ngại Quang Như Lai khắp mười phương thuộc về Lễ Bái Môn. Vô Ngại Quang Như tức là Phật A Di Đà. Nói đến Phật A DI Đà tức là tán thán công đức Quang Vô Lượng và Thọ Vô Lượng là Tán Thán Môn.Như Lai: như là Chơn như thật tánh, Bậc chứng Chơn Như Thật Tánh thành Vô Thượng giác. Lai là đến độ thoát tất cả chúng sanh. Từ chơn như thật tánh mà đến là không đến (lai) mà đến (lai) gọi là Như Lai.

Nguyện sanh Nước An Lạc là lòng phát nguyện mong cầu được vãng sanh về nước Cực Lạc. Đó là Tác Nguyện Môn. Lễ Bái thuộc về Thân Nghiệp, Tán Thán thuộc Khẩu nghiệp, Nguyện Sanh thuộc Ý nghiệp. Nếu Ba nghiệp được thanh tịnh, đồng Phật sang Tây phương.

2. Y Kinh Nói Về Quán Sát Môn

KỆ VĂN: CON Y THEO KINH GIÁO, TƯỚNG CÔNG ĐỨC CHƠN THẬT, NÓI TỔNG TRÌ KỆ NGUYỆN, CÙNG PHẬT GIÁO TƯƠNG ƯNG.

Nói về tướng công đức chơn thật không phải do chỗ mình thấy mà y theo lời nói của Phật để diễn đạt. Kinh nói cho đủ là khế kinh là những lời nói khế hợp với chơn lý và khế hợp với căn-cơ tức chỉ phần trường hàng trong 12 thời thuyết giáo. Tướng công đức chơn thật là chỉ công đức chơn thật của chư Phật. Ở đây Ngài Thiên Thân y trong Kinh nói công đức tướng của Phật A Di Đà, công đức này do trong Kinh, Đức Phật Thích Ca nói ra quả thật Phật A Di Đà có công đức chơn thật không hư dối, vì Phật Thích Ca luôn luôn nói đúng, nói thật, không hề giả dối. Như thế, ta biết chắc rằng cõi Tịnh Độ trang nghiêm do tướng công đức và Quả vô lậu chuyển thành. Vì lìa các tướng điên đảo nhiễm-ô là công đức vô lậu và lìa tất cả tướng tức tất cả tướng nên gọi là chơn thật tướng, trong Kệ nói tướng công đức là tương ưng với giáo pháp Phật không chút sai trái.

KỆ VĂN: XÉT TƯỚNG THẾ GIỚI KIA, VƯỢT XA HẲN BA CÕI

Quán sát môn chính là quán về công đức y báo, chánh báo trang nghiêm quốc độ Cực-Lạc của Phật A Di Đà. Trong đó, trước Quán sát tướng công đức y báo trang nghiêm của thế giới Cực Lạc gồm có 17 thứ công đức.

1. Thanh tịnh công đức thành tựu: là nói cõi Cực Lạc thế giới ở phương Tây tướng thanh tịnh của nó cứu cánh như hư không, rộng lớn vô biên, thanh tịnh cách xa tam giới không thể kể xiết.

KỆ VĂN: CỨU KÍNH NHƯ HƯ KHÔNG, RỘNG LỚN KHÔNG NGẰN MÉ.

2. Lượng Công đức thành tựu: Là nói vô lượng thành tựu của thế giới Cực Lạc như hư không, rộng lớn không ngằn mé

KỆ VĂN: CHÁNH ĐẠO LÀ TỪ BI, SANH THIỆN CĂN XUẤT THẾ.

3. Tánh công Đức thành tựu: nói về nhơn tánh của thế giới Cực Lạc là do công đức vô lậu thanh tịnh xuất thế gian thành tựu không phải năng lực hữu lậu bất thiện nhiễm ô mà thành.

KỆ VĂN: ÁNH SÁNG SẠCH ĐẦY KHẮP, NHƯ NHẬT NGUYỆT CÙNG SOI.

4. Hình tướng công đức thành tựu: Nói hình tướng của thế giới Cực -Lạc không có tướng tối tăm, luôn luôn có ánh sáng thanh tịnh như mặt Trăng mặt Trời cùng soi sáng.

KỆ VĂN: CÁC THỨ TÁNH TRÂN BỬU, ĐẦY ĐỦ DIỆU TRANG NGHIÊM.

5. Các thứ sự công đức thành tựu: Nói đầy đủ bảy báu như vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não cho đến trăm ngàn vô lượng trân bửu là thành tựu công đức trang nghiêm vô lượng vi diệu thanh tịnh.

KỆ VĂN: ÁNH VÔ CẤU RỰC RỠ, SOI SẠCH HẾT THẾ GIAN!

6. Công đức diệu sắc thành tựu: Ánh sáng vô cấu rực rỡ là nói ánh sáng sắc tướng vô cấu của thế giới Cực Lạc tây phương có thể chiếu khắp tất cả thế gian.

KỆ VĂN: CỎ TÁNH BÁU CÔNG ĐỨC, MỀM MẠI MỌC HAI BÊN, NGƯỜI CHẠM SANH VUI LỚN, HƠN CA THI LÂN ĐÀ.

7. Xúc công đức thành tựu: Ca Thi Lân Đà là một thứ cỏ rất mềm mại, mịn màn ở Ấn Độ, người khi chạm vào cỏ ấy sanh lòng vui vẻ êm dịu, khi va chạm vào cỏ bửu tánh công đức ở thế giới Cực Lạc Tây Phương sẽ sanh lòng vui vẻ êm dịu còn hơn nhiều khi va chạm vào cỏ Ca Thi Lân Đà.

KỆ VĂN: HOA BÁU NGÀN MUÔN THỨ, ĐẦY ĐỦ Ở TRONG AO, GIÓ NHẸ THỔI CÁNH HOA, ÁNH SÁNG CHIẾU CHÓI LỌI, CÁC CUNG ĐIỆN LẦU GÁC, THẤY

MƯỜI PHƯƠNG KHÔNG NGẠI, NHIỀU CÂY MÀU SẮC LẠ, HÀNG BÁU VÂY GIÁP VÒNG. BÁU VÔ LƯỢNG KẾT NHAU, THÀNH LƯỚI BỦA HƯ KHÔNG, CÁC THỨ RUNG THÀNH TIẾNG, VANG RA TIẾNG PHÁP MẦU.

8. Nói về công đức trang nghiêm thành tựu: bốn câu đầu công đức trang nghiêm thành tựu ở dưới nước, bốn câu giữa nói công đức trang nghiêm thành tựu ở trên đất, bốn câu cuối nói công đức trang nghiêm thành tựu ở trên không.

KỆ VĂN: MƯA HOA Y TRANG NGHIÊM, VÔ LƯỢNG HƯƠNG XÔNG KHẮP.

9. Nói công đức rưới hoa thành tựu: Nói ở trong không trung rưới vô lượng hoa y để trang nghiêm đồng thời có vô lượng hương xông khắp tất cả pháp giới.

KỆ VĂN: TRÍ PHẬT NHƯ MẶT NHẬT, TRỪ SI ÁM THẾ GIAN.

10. Nói công đức ánh sáng thành tựu: – đây nói trí huệ quang minh của Phật thanh tịnh như mặt nhật, không phải chỉ phá những hắc ám của thế gian mà còn có thể phá tất cả vô minh si ám của nội tâm tất cả chúng sanh.

KỆ VĂN: TIẾNG PHẠM VANG SÂU XA, MƯỜI PHƯƠNG NGHE LỜI MẦU.

11. Nói Thinh công đức thành tựu: ở đây chỉ lời nói của Phật rất vi diệu, khắp mười phương đều nghe, không tìm được ngằn mé.

KỆ VĂN: PHẬT DI ĐÀ CHÁNH GIÁC, CHÁNH PHÁP KHÉO GIỮ GÌN.

12. Nói chủ công đức thành tựu: Phật A Di Đà là Bậc đã thành tựu vô thượng chánh đẳng chánh giác. Phật Di Đà là Giáo chủ của Cực-Lạc thế giới là vua của Chánh pháp.

KỆ VĂN: CHÚNG TỊNH HOA NHƯ LAI, HOA CHÁNH GIÁC HÓA SANH.

13. Nói quyến thuộc công đức thành tựu: Có chủ tức có bạn, đây nói các Đại Bồ Tát và chúng sanh vãng sanh trong chín phẩm là bạn của Phật A Di Đà, đều do hoa chánh giác của Phật A Di Đà mà biến hóa ra.

KỆ VĂN: ƯA THÍCH PHÁP VỊ PHẬT, THỰC PHẨM THIỀN CHÁNH ĐỊNH.

14. Nói thọ dụng công đức thành tựu: Bình thường nói pháp hỉ sung mãn tức là nói đến sự ưa thích mùi vị Phật Pháp. Lấy việc vui Thiền làm thức ăn, tức chỉ trong lúc ngồi Thiền lấy Tam muội làm thức ăn là chỉ người ưa thích Phật pháp được nhiều thú vị, lấy pháp vị để nuôi dưỡng huệ mạng mình. Thiền tiếng Phạn là Thiền Na. Trung Hoa dịch là Tịnh Lự nghĩa là dẹp sạch hết suy nghĩ. Tam muội là tiếng Phạn, Trung Hoa là Đẳng Trì nghĩa là bình đẳng an giữ tâm mình làm cho xa lià hôn trầm, trạo cử, vọng tưởng, thông thường gọi là Chánh Định.

KỆ VĂN: LÌA PHIỀN NÃO THÂN TÂM, NHẬN VUI LUÔN KHÔNG DỨT.

15. Nói không có các nạn công đức thành tựu: Nói chỗ thọ của thân tâm không có tất cả khổ nạn, nên trong Kinh A Di Đà nói: ‘Chỉ nhận các điều vui không có các điều khổ nên gọi là Cực Lạc’.

KỆ VĂN: CÕI ĐẠI THỪA THIỆN CĂN, ĐỀU KHÔNG CÓ CHÊ BAI, NGƯỜI NỮ VÀ CĂN THIẾU, GIỐNG NHỊ THỪA CHẲNG SANH.

16. Công đức đại nghĩa môn thành tựu: Trong đây nói người nữ, căn thiếu và nhị thừa không được vãng sanh. Ý nói chúng sanh đã sanh về thế giới Cực Lạc Tây phương không có tướng người nữ, căn thiếu và nhị thừa. Người không hiểu nghĩa này giải sai nói các người nữ không được vãng sanh Tây-phương, như thế các người nữ niệm phật nhọc sức mà không có lợi ích gì? Nên biết phàm người sanh đến thế giới Cực Lạc Tây Phương đều có đủ 32 tướng của Bậc Đại Bồ tát nên không có tướng người Nữ, căn thiếu và Nhị Thừa không đủ Phước báo; chứ không phải nói người nữ, căn thiếu, nhị thừa ở cõi này hoặc ở phương khác không được vãng sanh về Cực-Lạc! Đã sanh về Cực-Lạc tuy có phàm phu, nhị thừa, căn thiếu khác nhau, nhưng tất cả đều tiến vào Đại thừa rốt ráo thành Phật. Vì thế, Thế giới Cực Lạc đều do vô lậu thiện căn Đại thừa mà thành tựu, vì đây là cảnh giới Thiện căn của Đại thừa, nên không thể có thể tánh người nữ, căn thiếu và nhị thừa, mà danh xưng người nữ, căn thiếu, Nhị thừa cũng không có, chỉ có danh xưng của Bồ Tát Bất Thối mà thôi.

Không phải chỉ có Phật A Di Đà có Tịnh Độ mà Chư phật Bồ Tát ở mười phương đều có tịnh độ. Như thế, Tịnh Độ là điểm cứu cánh của chư Phật. Vì cớ nào mà các Ngài an lập Tịnh Độ? Đức Phật Thích Ca đã căn cứ vào căn cơ nào để nói Pháp Môn Tịnh Độ? Đây là vấn đề người Tu Tịnh Độ cần phải biết.

Ở đời có người nhơn bị ác báo hiện tiền nên kinh hoàng sợ sệt mà cầu sanh Tịnh Độ; Có người nhơn bị bức bách vì sinh hoạt, cơ hàn khốn khổ mà cầu sanh tịnh độ; Có người nhơn bức não bởi các khổ già bịnh mà cầu sanh tịnh độ; Tất cả đều do tâm lý lánh khổ tìm vui làm động cơ cầu sanh tịnh độ. Nhưng xét cho kỹ chư Phật an lập Tịnh Độ, Đức Thế Tôn nói Tịnh Độ pháp môn, tuy có ý phụ là làm cho chúng sanh chán khổ thích vui, nhưng không phải là bản ý chính sáng lập và nói ra pháp môn Tịnh Độ.

Bản ý chính của Đức Phật là muốn an lập pháp môn chơn chánh phát tâm đại thừa của Bồ Tát mà nói ra. Chúng sanh phàm phu có tâm chán khổ tìm vui, lòng chỉ thích khoái lạc không muốn dứt trừ sinh tử, như nhàm chán khổ ở ba đường ác, muốn gìn giữ để được làm người không mất thân nầy, nhàm chán khổ ở cõi người muốn cầu sanh về cõi trời, nhàm chán khổ ở Dục giới cầu sanh về Sắc giới, nhàm chán Sắc giới cầu sanh về Vô sắc giới, chỉ dùng các pháp nhơn thiên thừa như Ngũ Giới, Thập Thiện, Bát Định.

Nguời giữ được năm giới có thể được sanh làm người không mất; tu Thập Thiện Bát Định được sanh về cõi trời, chư Phật cần gì an lập Tịnh-Độ? Đức Phật Thích Ca nói ra pháp môn Tịnh-Độ nầy vì Ngài thấy ba cõi như lao ngục, hàng nhị thừa như oan gia, sanh tử ở gần, muốn ra khỏi ba cõi dứt hẳn sanh tử, cần phải biết tam giới là khổ, chúng sanh bất tịnh, vô thường, vô ngã. Nếu y theo Tứ Niệm Xứ, khởi tu Tứ Chánh Cần, Bát Chánh Đạo, Ba Mươi Bảy Pháp Bồ Đề, tinh tấn cần tu, ở trong một đời tuy chưa được quả A La Hán cũng có thể được quả Tu Đà Hoàn, nhờ được quả Tu Đà Hoàn vĩnh viễn không thối chuyển tuy vẫn còn chịu các khổ sinh tử phiền não; cũng không cần y theo pháp môn Tịnh Độ cầu sanh về Tịnh-Độ, như các nước tiểu-thừa Phật giáo Miến-Điện Tích-Lan chỉ cần cầu được quả A La Hán, liễu sanh thoát tử, do đó các xứ Tích Lan, Miến-Điện không có pháp môn Tịnh-Độ nầy.

Từ đó suy ra, Chư Phật an lập tịnh độ và Đức Bổn Sư tuyên nói Tịnh độ không phải vì phàm phu, nhị thừa, thực vì chúng sanh có căn tánh Đại Thừa, người nghe Phật pháp không cầu có phước báu an lạc đời sau, không có ý muốn tự ra khỏi ba cõi khổ não sanh tử, mà vì người phát tâm Đại Thừa độ thoát tất cả chúng sanh mà Ngài nói pháp môn này.

Phát tâm Đại Thừa là người hiểu biết lý các pháp do nhân duyên sanh, biết tất cả pháp đều do nhân duyên sanh, vì pháp do các duyên sanh nên tất cả là tất cả pháp; Chúng sanh do các duyên mà sanh nên một chúng sanh tức là tất cả chúng sanh, lìa tất cả chúng sanh ra không có cái ta nào khác.

Nếu không làm cho tất cả chúng sanh đều thành Phật đạo, tức là không có ông Phật riêng ta có thể thành. Do đó mà phát đại nguyện rộng độ hết tất cả chúng sanh đều thành Phật đạo, quyết không lìa tất cả chúng sanh mà tự mình thoát khỏi sanh tử, vì chúng sanh tức là chính mình và chính mình tức chúng sanh, không có chúng sanh và ta khác nhau (sóng & nước) nên gọi: ‘Không ngã tướng, không chúng sanh tướng, không nhơn tướng, không thọ giả tướng’, không thể lìa ngoài chúng sanh mà mình được độ thoát.

Bồ Tát dùng đồng thể không khác không hai với tất cả chúng sanh mà phát từ nguyện phổ độ tất cả chúng sanh. Nhưng muốn thành mãn nguyện này nếu là người không chứng được quả vô thượng chánh đẳng chánh giác thì không làm được. Tuy người có nguyện này thực sự không có ngày thành tựu.

Dù có đại bi tâm muốn độ hết thảy chúng sanh trong pháp giới, muốn độ vô số chúng sanh cần phải đoạn vô biên phiền não, tu học vô lượng pháp môn, thành tựu vô lượng phước đức trí huệ trang nghiêm viên mãn Phật quả cần phải trải qua ba A-tăng-kỳ kiếp, vào vô lượng thế giới, độ vô số chúng sanh, thực không phải khả năng của một chúng sanh có thể làm được.

Trong Khởi Tín Luận nói: ‘Tín tâm đã thành tựu, vào Chánh Định Tụ, cần trải qua mười ngàn Đại Kiếp’. Đại Thừa Tín Tâm thành tựu còn khó như thế huống chi muốn chứng thành Phật Quả.

Thành Phật không phải là khả năng một đời, người đã phát tâm Đại Thừa cần tu Lục Độ. Khi tu Lục độ sẽ có nhiều nghịch duyên, nhiều thứ liên tục phá hoại Tâm Đại Thừa, vây quanh toàn là những hiểm ách phá hoại Tâm Đại Thừa mà mạng người thì ngắn ngủi, một khi vô thường đến, hoặc sanh lên cõi vui, hoặc đọa vào cõi khổ lại thêm bị ách nạn to lớn làm mê mất tâm đại thừa, tâm bồ đề.

Do nhiều thứ ác duyên như thế, Bồ-Tát tuy đã phát tâm đại thừa mà muốn gìn giữ cho không bị lui sụt thực không phải là chuyện dễ. Trong Kinh dạy: ‘Chư Phật lúc nào cũng có trách nhiệm bảo vệ cho Bồ Tát’. Kinh KIM CANG nói: ‘Như Lai khéo hộ niệm các Bồ- Tát’. Bồ-Tát đã phát Tâm Đại Thừa nhưng chưa có khả năng chẳng lui sụt, Chư Phật đã dùng pháp Từ Bi nào để hộ niệm làm cho các Bồ Tát phát tâm đại thừa thoát khỏi hiểm nạn lui sụt tan mất? Để hộ niệm Bồ Tát đã phát tâm Đại Thừa khỏi bị lui sụt, Chư Phật đã an lập quốc độ thanh tịnh trang nghiêm.

Chư Bồ Tát có duyên với Tịnh Độ nào liền phát tâm sanh về cõi Tịnh Độ ấy. Tùy theo chỗ phát nguyện, khởi lòng tin quyết định, tâm chuyên nhất thì khi lâm chung tùy theo nguyện mình mà vãng sanh về Tịnh Độ, nghe pháp được Bất thối, rồi trở lại khắp độ tất cả chúng sanh.

Nếu Chư Phật không an lập Tịnh Độ để các Bồ Tát mới phát tâm nương về, một khi tâm bị lui sụt thì những công đức tu bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ sẽ tiêu tan vô ích. Vì thế, Bồ Tát phải lấy Tịnh Độ làm chỗ an trụ mới không bị thối thất Tâm Đại Thừa Bồ Đề và khỏi uổng mất công trước.

Đó là bản ý của Phật A Di Đà và chư Phật trong mười phương thành lập Tịnh Độ và cũng là chơn nghĩa để Phật Thích Ca Mâu Ni nói Pháp Môn Tịnh Độ. Người Tu Tịnh Độ cần phải hiểu rõ yếu nghĩa này.

KỆ VĂN: CHÚNG SANH MUỐN AN VUI, TẤT CẢ ĐƯỢC ĐẦY ĐỦ, NÊN CON NGUYỆN VÃNG SANH, VỀ NƯỚC PHẬT DI ĐÀ.

17. Nói công đức tất cả chỗ cầu mong đều được thành tựu: Đây nói thế giới Cực Lạc Tây Phương muốn có là có đủ hết, nếu chúng sanh muốn được an vui, tất cả mong muốn đều có đầy đủ. Hai câu cuối tác giả kết luận bằng cách phát nguyện vãng sanh.

KỆ VĂN: VÔ LƯỢNG ĐẠI BỬU VƯƠNG, ĐÀI HOA TỊNH VI DIỆU.

Mười bảy công đức ở trên là quán về công đức Phật Độ, đó là Y-Báo trang nghiêm. Đoạn này quán sát về công đức Phật, công đức Bồ Tát là Chánh-báo trang nghiêm của cõi Cực- Lạc. Y theo luận văn sau, Quán công đức Phật gồm có 8 thứ:

1. Tòa Trang nghiêm: Đây nói về lấy vô lượng Đại Bảo Hoa Vương làm thành Đài Hoa vi diệu thanh tịnh.

KỆ VĂN: MỘT TẦM ÁNH TƯỚNG HẢO, SẮC TƯỢNG HƠN QUẦN SANH.

2. Thân trang nghiêm: Phật A Di Đà dịch là ánh sáng trùm khắp vô lượng. Trong đây nói một tầm (2m50) là tùy theo cõi này, chúng sanh quan sát ánh sáng của Đức Thích Ca mà nói đó.

KỆ VĂN: TƯỚNG NHƯ LAI VI DIỆU, TIẾNG PHẠM VANG MƯỜI PHƯƠNG.

3. Miệng trang nghiêm: Ý nói lời nói từ miệng của Như -lai Vô Lượng Thọ phát ra, tiếng vi diệu vang khắp 10 phương.

KỆ VĂN: ĐỒNG ĐẤT NƯỚC GIÓ LỬA, HƯ KHÔNG KHÓ PHÂN BIỆT.

4. Tâm Trang nghiêm: Ý nói Tâm Phật bình đẳng cũng như ngủ đại không có phân biệt.

KỆ VĂN: TRỜI NGƯỜI CHÚNG BẤT ĐỘNG, SANH BỂ TRÍ THANH TỊNH.

5. Chúng trang nghiêm: Ý nói tất cả chúng bất động trời người đến từ bể trí thanh tịnh của Phật A Di Đà mà sinh ra.

KỆ VĂN: NHƯ VUA NÚI TU DI, CAO TỘT KHÔNG GÌ HƠN.

6. Thượng thủ trang nghiêm: Ý nói những bậc thượng thủ bạn lữ của Phật A Di Đà đều cao tột thắng diệu như núi Tu Di, không một ai có thể hơn được.

KỆ VĂN: CHÚNG TRƯỢNG PHU TRỜI NGƯỜI, VI NHIỄU KÍNH CHIÊM NGƯỠNG.

7. Chủ trang nghiêm: Ở đây từ bạn chỉ rõ Chủ. Ý nói Phật A Di Đà tất cả nhơn thiên đều cung kính, vi nhiễu tán thán công đức của Pháp Chủ.

KỆ VĂN: QUÁN BỔN NGUYỆN LỰC PHẬT, AI GẶP ĐỀU LỢI ÍCH, LÀM CHO MAU ĐẦY ĐỦ, CÔNG ĐỨC BIỂN BÁU LỚN.

8. Không dối làm trụ trì trang nghiêm: Ý nói phàm người nào thấy ánh sáng Phật, nghe danh hiệu Phật đều có thể mau thành tựu đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Không có người nào gặp ánh sáng Phật, nghe danh hiệu Phật mà không được thành Phật.

KỆ VĂN: NƯỚC AN LẠC THANH TỊNH, THƯỜNG CHUYỂN XE VÔ CẤU, NHẬT HÓA PHẬT BỒ TÁT, TRỤ TRÌ NHƯ TU- DI. ÁNH TRANG NGHIÊM VÔ CẤU, MỘT NIỆM VÀ MỘT THỜI, CHIẾU KHẮP CÁC HỘI PHẬT, LỢI ÍCH CÁC QUẦN SANH. RƯỚI NHẠC TRỜI HOA Y, HƯƠNG MẦU ĐỂ CÚNG DƯỜNG, KHÔNG CÓ LÒNG PHÂN BIỆT. DÙ THẾ GIỚI KHÔNG CÓ, CÔNG ĐỨC BÁU PHẬT PHÁP, TA ĐỀU NGUYỆN VÃNG SANH, CHỈ PHẬT PHÁP NHƯ PHẬT.

Y theo luận văn ở sau nói: Bồ Tát có bốn thứ tu hành chính yếu để thành tựu các công đức. Bài Tụng đầu (4 câu) nói hóa thân của Bồ Tát trùm khắp mười phương mà báo thân như núi Tu Di thường trụ không lay động, có nghĩa là các Ngài ở trong một cõi Phật thân không lay động mà có thể độ khắp chúng sinh ở mười phương.

Bài Tụng 2 (4 câu) nói về ứng hóa thân của Bồ Tát ở trong tất cả thời gian chỉ dùng một tâm niệm phóng ra ánh sáng lớn, chiếu khắp mười phương lợi lạc hữu tình.

Bài Tụng 3 (4 câu) nói Bồ Tát dùng các Thiên nhạc, rưới hoa, hương, y phục cúng dường tất cả thế giới, tất cả chư phật không còn thừa, như sự rộng rãi cúng dường của Bồ-Tát Phổ-Hiền. Kinh A Di Đà cũng nói: ‘Đều dùng y kích, đựng các hoa báu cúng dường muôn ức Phật khắp trong mười phương, đúng giờ ăn lại trở về nước mình ăn cơm kinh hành’.

Bài Tụng thứ 4 (4 câu) Bài này nói không phải những thế giới có Phật, Bồ Tát mới trên cầu làm Phật, dưới dạy khắp chúng sanh, mà đến những thế giới không có Phật, các Ngài vẫn giác ngộ dẫn dắt chúng sanh như 32 ứng thân của Bồ Tát Quán Thế Âm. Ngẩu Ích Đại Sư dạy: ‘Có người hỏi Tu Hạnh Bồ Tát có những nguyện gì ?’. Ngài đáp: Có 2 điều Nguyện – 1) Nguyện đem công đức này hồi hướng vãng sanh Tịnh Độ; 2) Nguyện sanh Tịnh Độ rồi, thành tựu Vị Bất Thối liền vào Địa Ngục độ tất cả chúng sanh.

Theo những ý trên, người tu Tịnh Độ nếu dùng tâm địa phàm phu lánh khổ tìm vui, Tâm nhị thừa tự cho là đủ để cầu sanh Tịnh Độ thì không cùng pháp môn Tịnh Độ tương ưng. Tuy nói phàm phu có thể vãng sanh, nhưng phàm phu ấy tâm đã hướng về Đại Thừa mới đúng bản ý Phật nói Pháp Môn Tịnh Độ.

3. Thuật ý Kệ Tổng Kết Hồi Hướng

KỆ VĂN: CON LÀM LUẬN NÓI KỆ, NGUYỆN THẤY PHẬT DI ĐÀ, KHẮP VÌ CÁC CHÚNG SANH, VÃNG SANH NƯỚC AN LẠC.

Hai câu đầu thuyết minh tôn chỉ của việc làm kệ luận này, vì nguyện sanh Tịnh Độ mà làm Kệ, nên gọi là Nguyện Sanh Kệ. Hai câu sau nói về HỒI HƯỚNG MÔN: Ý nói Bồ Tát vì lòng Đại Bi mà tu Tịnh Độ, không phải muốn một mình được vãng sanh Tịnh Độ mà muốn tất cả chúng sanh đều được về thế giới An- Lạc kia. Vì thế có được công đức Niệm Phật, hồi hướng cho tất cả chúng sanh đều được vãng sanh về Tịnh Độ.

KỆ VĂN: LIỄU NGHĨA VÔ LƯỢNG THỌ, CON LÀM KỆ NGUYỆN XONG.

Đoạn này Tổng Kết Kệ Luận, Kinh Liễu Nghĩa Vô Lượng Thọ tức chỉ ba Kinh lập Tông Tịnh Độ viết bằng văn Trường hàng, nay Thiên Thân làm Kệ tổng nhiếp hết.

C. GIẢNG LUẬN

LUẬN VĂN: Luận là nghị luận, căn cứ vào Lý để nghiên cứu, chứng minh làm sáng tỏ ra. Mục đích kệ luận là quán thế giới Cực Lạc, thấy Phật A Di ĐÀ, nguyện sanh về nước Cực Lạc ấy.

1. Giải Tổng Quát Các Môn

LUẬN VĂN: LÀM SAO QUÁN? LÀM SAO SANH TÍN TÂM? NẾU NGƯỜI THIỆN NAM THIỆN NỮ TU NGŨ NIỆM MÔN THÀNH TỰU, CHẮC CHẮN ĐƯỢC SANH VỀ QUỐC ĐỘ AN-LẠC, THẤY ĐƯỢC PHẬT A DI ĐÀ. NGŨ NIỆM MÔN LÀ GÌ ? : 1) LỄ BÁI MÔN, 2) TÁN THÁN MÔN; 3) TÁC NGUYỆN MÔN; 4) QUÁN SÁT MÔN; 5) HỒI HƯỚNG MÔN.

Đoạn này kể chung năm môn. Làm sao Quán tức là ba thứ quán sát trong Quán Sát Môn. Làm sao tin ? Y theo quán sát công đức chơn thật cõi Tịnh Độ mà sanh lòng tin. Ngũ niệm môn là năm thứ hành môn để được vãng sanh Tịnh Độ. Bình thường giảng niệm Phật lấy việc xưng danh hiệu Phật đó là một trong nhiều nghĩa chữ niệm. Cần nên biết rằng đối với các tướng hão công đức của chư Phật ghi nhớ được rõ ràng không mờ gọi chung đó là niệm. Không phải chỉ chuyên dùng miệng ngâm lên cho là niệm Phật.

LUẬN VĂN: LỄ BÁI THẾ NÀO? THÂN NGHIỆP LỄ BÁI A DI ĐÀ NHƯ LAI, CHÁNH BIẾN TRI VÌ QUYẾT Ý SANH VỀ NƯỚC KIA.

Từ đây về sau giải thích riêng năm môn. Lễ Bái Môn: Phật có mười thông hiệu : Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri…. Chữ Như Lai đã giải ở trước. Ứng cúng: vì Phật đoạn hết tất cả phiền não, viên mãn tất cả công đức, nên nhận cho người trời cúng dường. Chánh biến tri: giản biệt với phàm phu bất tri, ngoại đạo tà tri, nhị thừa thiên tri, chỉ có Phật là bậc chánh biến tri. A Di Đà Như lai, A Di Đà ứng cúng, A Di Đà chánh biến tri đều chỉ Phật A Di Đà. Lấy thân nghiệp lễ bái Phật A Di Đà, thân này liền được vãng sanh về quốc độ Phật A Di Đà.

LUẬN VĂN: THẾ NÀO LÀ TÁN THÁN ? CA NGỢI DANH HIỆU NHƯ LAI KIA, NHƯ TRÍ TƯỚNG QUANG MINH CỦA NHƯ LAI KIA, DANH NGHĨA NHƯ THẾ, MUỐN ĐÚNG NHƯ THẾ, TU HÀNH HỢP NHAU GỌI LÀ TÁN THÁN.

Môn thứ hai là Tán Thán, dùng ngữ nghiệp ca ngợi tán thán Phật A Di Đà, tán thán ánh sáng vô lậu của Phật do trí tuệ vô lậu mà phát ra. Danh là cái hay nói (năng thuyên), Nghĩa là cái bị nói (sở thuyên). Nói về danh hiệu của Như Lai là tiêu-biểu tất cả công đức của Như Lai. Nói khen danh hiệu Như Lai là khen tất cả công đức. Nếu muốn nói đến cái nghĩa bị nói là công đức tu hành chơn thật hợp nhau, không tu hành chơn thật thì không thể có công đức được. Nên nói: Đúng như danh nghĩa kia, muốn được tu hành tương ưng, cần tán thán, chắc được vào chúng hội, thấy Phật nghe pháp.

LUẬN VĂN: THẾ NÀO LÀ PHÁT NGUYỆN? TÂM THƯỜNG CÓ NGUYỆN MỘT LÒNG CHUYÊN NIỆM, CHẮC CHẮN ĐƯỢC SANH VỀ THẾ GIỚI AN LẠC. MUỐN ĐƯỢC NHƯ THẾ PHẢI TU HÀNH PHÁP CHỈ.

Môn thứ ba là Phát Nguyện. Phát là phát khởi quyết lòng muốn được vãng sanh. Hành giả tu Tịnh Độ đã phát nguyện vãng sanh ước muốn tha thiết nên trong tâm chỉ còn một niệm rốt ráo vãng sanh về nước An Lạc, không có niệm khác, cần tu pháp CHỈ làm cho tâm chuyên chú nhớ tưởng quốc độ An Lạc, không còn nổi trôi trong cảnh giới ngũ dục nữa.

LUẬN VĂN: THẾ NÀO LÀ QUÁN SÁT? DÙNG TRÍ TUỆ QUÁN SÁT, DÙNG CHÁNH NIỆM ĐỂ QUÁN SÁT Y CHÁNH KIA, MUỐN TU HÀNH ĐÚNG CẦN DÙNG PHÁP QUÁN. QUÁN Y VÀ CHÁNH BÁO KIA CÓ BA THỨ: 1) QUÁN SÁT CÔNG ĐỨC TRANG NGHIÊM CỦA CÕI PHẬT KIA; 2) QUÁN SÁT CÔNG ĐỨC TRANG NGHIÊM CỦA PHẬT A DI ĐÀ; 3) QUÁN SÁT CÔNG ĐỨC TRANG NGHIÊM CỦA CHƯ BỒ TÁT Ở CÕI KIA.

Quán Sát Môn: Muốn dùng trí tuệ quán sát ba thứ công đức chơn thật, cần phải dùng pháp Quán, dùng chỉ quán quán sát được ba thứ công đức chơn thật, thì hành giả chắc được công đức chơn thật quyết định được vãng sanh.

LUẬN VĂN: THẾ NÀO LÀ HỒI HƯỚNG? KHÔNG BỎ TẤT CẢ CHÚNG SANH KHỔ NÃO, TÂM THƯỜNG PHÁT NGUYỆN. HỒI HƯỚNG LÀ BƯỚC ĐẦU THÀNH TỰU TÂM ĐẠI BI.

Hồi Hướng Môn: Người tu Tịnh Độ, biết rằng ta và chúng sanh đồng một thể không hai, nên không bỏ một khổ não nào của chúng sanh, mà dùng công đức niệm Phật đã tu, hồi hướng khắp tất cả chúng sanh, cùng chúng sanh đồng sanh về Cực Lạc, thành tựu tâm từ- bi rộng lớn.

2 – Giải Riêng Về Quán Sát

LUẬN VĂN :THẾ NÀO LÀ QUÁN SÁT CÔNG ĐỨC TRANG NGHIÊM CỦA QUỐC-ĐỘ ĐỨC PHẬT KIA ? VÌ THÀNH TỰU NĂNG LỰC KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN NHƯ HẠT CHÂU MA NI NHƯ -Ý BỬU TÁNH KIA, CÓ THỂ SO SÁNH TƯƠNG ĐỐI NHƯ THẾ.

Trước kia đã chỉ chung năm phương pháp tu hành, đoạn này chỉ giải thích một món quán sát thôi. Đoạn đầu đem thí dụ để nói rõ năng lực công đức cõi Phật không thể nghĩ bàn. Quán sát sự trang nghiêm của quốc độ Phật Vô Lượng Thọ, phần sau sẽ nói rõ có 17 thứ quán sát. Trước tiên nói tổng quát về tướng quán sát cõi Phật. Nói quán sát thành tựu quốc độ Cực- Lạc của Phật A Di Đà cần phải quán cả kiến và văn các thứ công đức ấy thành tựu, phải lấy năng lực công đức không thể nghĩ bàn mà quán đó.

Quốc độ An Lạc của Phật A Di Đà và thế giới này không đồng. Cõi này là do cọng nghiệp của chúng sanh mà thành, cõi Phật A Di Đà là do năng lực công đức bổn nguyện của Ngài tạo thành. Trong kinh Vô Lượng Thọ, Phật nói về nhân địa của Pháp- Tạng tỳ kheo đã từng phát 48 nguyện. Năng lực đại ngyuện của Phật A Di Đà đã làm thành cõi An-Lạc, có thể làm cho người thấy nghe đều được vãng sanh, nên không thể đem thế giới quốc độ này để quán sát mà phải dùng năng lực không thể nghĩ bàn để quán sát.

Phàm việc gì có thể nghĩ bàn đều là do lời nói, tư tưởng lập ra, như nói về một việc gì việc ấy có một phạm vi nhất định, giới hạn nhất định, cái đó là của người khác chứ không phải là chính mình, vật này không là vật kia. Phàm cái gì có ngôn ngữ tư tưởng là có tướng phân biệt, phải quấy, ta kia khác nhau. Nếu lìa ngôn ngữ tư tưởng thì không có tướng ta kia, phải quấy. Đã không có tướng ta kia, phải quấy tức là việc không thể nghĩ bàn.

Không thể nghĩ bàn là tất cả pháp đều không thể được, nếu pháp không thể được, làm sao có thể nói được? Nhưng vì chúng sinh, không thể không mượn lời nói để chỉ rõ cái không thể nghĩ bàn của Tịnh Độ, làm cho chúng sanh tin muốn vãng sanh, nên phải lấy thí dụ phương tiện để chỉ bày đó. Ma Ni Như Ý bửu tánh là Như Ý Bảo Châu, bảo châu này là của đại bàng kim xí điểu.

Hạt châu này là của các long vương giữ, là một vật quý không thể nghĩ bàn. Phàm người được hạt châu quý này, tất cả nhu cầu về thân như áo, cơm, chỗ ở đều có thể tùy ý từ nơi vật báu ấy mà có ra, nên nói rằng châu như ý. Báu vật này cao quý nhất, các châu báu khác không thể so sánh.

Những món quý báu khác nó chỉ có giá trị trong phạm vi chính nó, như vàng chỉ quý hơn loài châu báu thuộc về vàng mà không thể so sánh với lưu ly hay các thứ báu khác. Bảo châu như ý không phải thế, chúng sanh ý muốn món báu nào thì món báu ấy hiện ra, không có phạm vi quyết định.

So với các châu báu về vật chất thì Bảo Châu Như-Ý là tánh chất không thể nghĩ bàn. So sánh với tánh công đức của quốc độ An Lạc của Phật A Di Đà không được chút phần tương tợ, tuyệt đối không có chút tương đồng. Tại vì sao?

Vì Như-Ý Bảo Châu có thể đầy đủ nhu cầu của thân, mà tịnh độ của Phật A Di Đà không chỉ làm cho vô lượng chúng sanh, khi vãng sanh về cõi nước kia, sinh hoạt tự nhiên, muốn áo được áo, muốn ăn được ăn, mà còn làm cho chúng sanh thấy được đầy đủ đại nguyện Bồ Đề, làm cho chúng sanh cứu cánh được thành Phật, nên gọi là chỉ tương tợ, tương đối mà thôi.

Phần này nói tổng quát về năng lực công đức quán sát không thể nghĩ bàn, trong 17 thứ quán sát sau cùng hàm chứa năng lực bất khả tư nghĩ này.

LUẬN VĂN: QUÁN SÁT CÔNG ĐỨC TRANG NGHIÊM CỦA QUỐC ĐỘ PHẬT A DI ĐÀ CÓ 17 THỨ CẦN NÊN BIẾT: 1) THANH TỊNH CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU;

2) LƯỢNG CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU; 3) TÁNH CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU; 4) HÌNH TƯỚNG CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU; 5) CÁC THỨ VIỆC CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU; 6) DIỆU SẮC CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU; 7) XÚC CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU; 8) TRANG NGHIÊM CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU; 9) VŨ (MƯA) CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU; 10) QUANG MINH CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU; 11) THANH (TIẾNG) CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU; 12) CHỦ CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU; 13) QUYẾN THUỘC CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU; 14) THỌ DỤNG CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU; 15) VÔ NẠN CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU; 16) ĐẠI NGHĨA MÔN CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU; 17) NHẤT THIẾT SỞ CẦU CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU

1/THANH TỊNH CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU NHƯ KỆ NÓI; ‘QUÁN TƯỚNG THẾ GIỚI KIA, VƯỢT XA ĐƯỜNG BA CÕI’.

1)- Quán tưởng thế giới kia là quán các tướng thế giới Cực Lạc của đức Phật A Di Đà. Đường ba cõi: Đường phân biệt có hai thứ là hữu lậu và vô lậu. Đường phiền não là do phiền não làm thành, do chúng sanh tạo ra nghiệp và nghiệp ấy khi thành tựu rồi nó có khả năng mang theo tánh chất phiền não gọi là hữu lậu. Vì có phiền não hữu lậu nên trôi lăn trong sanh tử, bị trói buộc trong ba cõi gọi là đường ba cõi. Tướng công đức của thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà là do thiện căn thanh tịnh vô lậu xuất thế gian mà tạo thành, nên nói vượt xa đường ba cõi. Phật A Di Đà đem công đức trang nghiêm Tịnh Độ Cực Lạc để thực hiện diệu pháp độ thoát chúng sanh, như thuyền lớn chở người. Diệu pháp đó là thuyền Từ vớt người đưa khỏi bể sanh tử.

LUẬN VĂN: LƯỢNG CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU NHƯ KỆ NÓI: ‘CỨU CÁNH NHƯ HƯ KHÔNG, RỘNG LỚN KHÔNG NGẰN MÉ’.

2)- Thế giới Cực Lạc là bảo độ của Phật A Di Đà mà bảo độ cũng là pháp tánh độ. Pháp tánh trùm khắp tất cả, lìa tất cả tướng không có hạn lượng, chẳng qua tùy theo công đức cao thấp của chúng sanh không đồng mà có tướng lớn nhỏ khác nhau đối với tâm chúng sanh mà hiển hiện. Thực ra Cực Lạc quốc độ tùy theo chúng sanh trong mười phương thế giới vãng sanh, nhưng vẫn không có ngằn mé, nên lượng của thế giới Cực Lạc là vô lượng, rộng lớn như hư không, không có ngằn mé, không đồng như nhân khẩu thêm bớt trong thế giới này, có bờ mé và có tướng trạng khốn khổ.

LUẬN VĂN: TÁNH CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU NHƯ KỆ NÓI: ‘CHÁNH ĐẠO VÀ TỪ BI, SANH THIỆN CĂN XUẤT THẾ’.

3)- Nói về tướng công đức thành tựu là nhằm vào thể tướng mà nói. Nói Tánh công đức thành tựu: tánh tức là giới mà giới là chủng tử, chủng tử tức là nhơn tánh đó là cái nhơn trước tiên của quả tướng. Từ chỗ Chánh đạo đại từ bi và thiện căn xuất thế làm nhơn đó là nhơn cứu cánh, vì Tứ-Đế và 37 phẩm trợ đạo đều là chánh đạo. Hiểu thể của chánh đạo tức là vào được chánh đạo. Chánh đạo xuất thế này là tướng cọng pháp của ba thừa. Tâm từ bi là pháp xuất thế đại thừa bất cọng pháp. Dùng ba thừa cọng pháp, Đại thừa bất cọng pháp, thiện căn xuất thế làm chủng tử tánh của thế giới Cực Lạc. Đây chỉ nhơn và quả của thế giới An-Lạc đều là công đức thanh tịnh vô lậu.

LUẬN VĂN: HÌNH TƯỚNG CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU NHƯ KỆ NÓI: ‘ÁNH SÁNG SẠCH ĐẦY KHẮP, NHƯ NHẬT NGUYỆT CÙNG SOI’.

4)- Sắc pháp có 2 thứ là hiển sắc và hình sắc. Các thứ xanh vàng đỏ trắng là hiển sắc. Dài ngắn tròn vuông gọi là hình sắc. Trong đây nói hình tướng của ánh sáng là nói về hình sắc, ánh sáng của cõi Cực Lạc chiếu khắp tất cả chỗ trong chúng sanh, lầu gác, cây báu, tất cả đều có đủ ánh sáng thanh tịnh vô lậu như mặt trăng mặt trời chiếu vào gương sáng.

LUẬN VĂN: CHỦNG CHỦNG SỰ CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU NHƯ KỆ NÓI: ‘ĐỦ CÁC TÁNH TRÂN BỬU, ĐẦY ĐỦ DIỆU TRANG NGHIÊM.

5)- Bình thường nói có tám trân bảy báu, nay nói trân bửu ở Tây Phương Cực-Lạc hoặc nghìn hoặc muôn không có số lượng, không thể kể hết nên gọi là đầy đủ các thứ. Cõi ấy vì có vô số tánh chất trân bửu, nó đầy đủ thanh tịnh trân diệu trang nghiêm.

LUẬN VĂN: DIỆU SẮC CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU NHƯ KỆ NÓI: ‘ÁNH VÔ CẤU RỰC RỠ, SOI SẠCH HẾT THẾ GIAN’.

6)- Công đức diệu sắc là chỉ về hiển sắc mà nói. Hiển sắc ở trước đã giảng rõ. Cái gì rất sáng thì gọi là vô cấu, nếu căn cứ về tánh công đức mà giảng thì cái gì không còn

các cấu trược vô minh phiền não gọi là vô cấu. Vì ánh sáng vô cấu có khả năng mạnh mẽ thanh tịnh nên khi chiếu vào thế gian, nhiếp thủ hết tất cả chúng sanh.

LUẬN VĂN: XÚC CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU NHƯ KỆ NÓI: ‘CỎ TÁNH BÁU CÔNG ĐỨC, MỀM MẠI MỌC HAI BÊN, NGƯỜI CHẠM SANH VUI LỚN, HƠN CA- THI- LÂN- ĐÀ’.

7)- Xúc là tiếp xúc, y phục các vật đều có thể tiếp xúc với thân thể. Trong đây tuy nói về cỏ, nhưng là thứ cỏ báu tánh công đức. Nó rất mềm mại làm cho người khi chạm nhầm sanh nhiều cảm xúc vui vẻ nhận chịu. Người ở cõi này khi gặp những điều vui liền nhận, từ cảnh vui ấy sanh lòng tham, tăng trưởng phiền não. Cõi Tịnh độ Cực Lạc nếu có sự vui nhận, sự vui ấy làm cho chúng sanh dứt hết phiền não công đức tăng trưởng.

Ca -Thi- Lân- Đà là loại cỏ rất nhỏ nhiệm ở xứ Ấn-Độ, nếu va chạm vào cũng có thể cảm xúc êm – ả vui vẻ. Nhưng cỏ tánh công đức ở Tịnh Độ thù thắng và khác xa nên nói là bửu tánh công đức vượt xa hơn Ca-thi-lân-đà.

LUẬN VĂN: TRANG NGHIÊM CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU, CÓ BA THỨ CẦN NÊN BIẾT- 1) NƯỚC; 2) ĐẤT; 3) HƯ KHÔNG. TRANG NGHIÊM VỀ NƯỚC NHƯ KỆ NÓI: ‘HOA BÁU NGÀN MUÔN THỨ, ĐẦY DẨY Ở TRONG AO, GIÓ NHẸ THỔI CÁNH HOA, ÁNH SÁNG CHIẾU CHÓI LỌI’. TRANG NGHIÊM VỀ ĐẤT NHƯ KỆ NÓI:‘CÁC CUNG ĐIỆN LẦU GÁC, THẤY MƯỜI PHƯƠNG KHÔNG NGẠI, NHIỀU CÂY MÀU SẮC LẠ, HÀNG BÁU VÂY GIÁP VÒNG’. TRANG NGHIÊM HƯ KHÔNG KỆ NÓI: ‘BÁU VÔ LƯỢNG KẾT NHAU, THÀNH LƯỚI PHỦ HƯ KHÔNG, CÁC THỨ VANG THÀNH TIẾNG, VANG RA TIẾNG PHÁP MẦU.

8)- Ở đây nói ba thứ nước đất và hư không ở cõi Cực – Lạc đều trang nghiêm, không cõi nào vượt qua, văn nghĩa rõ ràng không cần giảng rộng.

LUẬN VĂN: VŨ CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU NHƯ KỆ NÓI: ‘MƯA HOA Y TRANG NGHIÊM, VÔ LƯỢNG HƯƠNG XÔNG KHẮP’.

9)- Từ hư không rơi xuống lần lượt gọi là mưa. Trong hư không có các hoa, y, như thế là do năng lực công đức của cõi Cực – Lạc mà thành tựu.

LUẬN VĂN: QUANG MINH CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU NHƯ KỆ NÓI: ‘TRÍ PHẬT NHƯ MẶT NHẬT, TRỪ SI ÁM THẾ GIAN’.

10)- Trước nói công đức hình tướng diệu sắc, tuy giảng về ánh sáng nhưng cốt yếu chỉ về ánh sáng của sắc pháp. Trong đây nói ánh sáng trí huệ Phật không phải là ánh sáng của sắc pháp. Ánh sáng sắc pháp có thể trừ tối tăm của thế gian, nhưng không thể trừ được những si mê tối tăm trong lòng chúng hữu tình. Những si mê của chúng sanh chỉ có ánh sáng trí tuệ Phật mới có khả năng trừ diệt, vì thế, ánh sáng của trí tuệ mới là ánh sáng của chơn lý. Những điều si ám trong tâm nhiều gấp muôn triệu lần sự si ám của bóng tối thế gian. Ở đời thường nói: ‘Mắt bị mù chứ Tâm không bị mù’. Vì mắt mù chỉ thống khổ có một đời, để cho tâm mù tạo nghiệp trôi lăn trong sanh tử đau khổ vô cùng.

LUẬN VĂN: DIỆU THINH CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU NHƯ KỆ NÓI: ‘TIẾNG PHẠM ÂM SÂU XA, MƯỜI PHƯƠNG NGHE LỜI MẦU’.

11)- Phạm là Phạm thiên, âm thinh của Phạm thiên rất vi- diệu thanh tịnh. Ở cõi Cực-Lạc tiếng Phật, tiếng Bồ Tát, tiếng Thinh Văn, cho đến tiếng gió mưa mỗi thứ đều là tiếng Phạm thiên thanh tịnh, sâu xa, vi diệu ở mười phương đều được nghe.

LUẬN VĂN: CHỦ CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU NHƯ KỆ NÓI: ‘PHẬT DI ĐÀ CHÁNH GIÁO, VUA PHÁP KHÉO TRỤ TRÌ’.

12)- Đây nói rõ trong cõi Cực-Lạc có chủ. Muốn nói một nước nào người ta chỉ cần nói nhơn dân và người lãnh đạo có quyền thống trị. Cõi Cực-Lạc cũng thế không chỉ có các thứ trang nghiêm của quốc độ, mà còn có Phật A Di Đà là chủ của cõi ấy. Chánh giác có nghĩa là Phật, nói A Di Đà chánh giác cũng như nói A Di Đà Phật. Vua pháp cũng là một đức hiệu của Phật, vì Phật ở trong tất cả pháp đều được tự tại nên gọi là vua của các pháp. Ngài là người Trụ Trì giỏi ở nước Cực-Lạc.

LUẬN VĂN: QUYẾN THUỘC CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU NHƯ KỆ NÓI: ‘CHÚNG TỊNH HOA NHƯ LAI, HOA CHÁNH GIÁC BIẾN HÓA’.

13)- Người đời nói quyến thuộc đều chỉ gia tộc mà nói; quyến thuộc của Phật A Di Đà là tất cả chúng sanh trong cõi Cực-Lạc và chúng sanh trong tất cả mười phương. Cõi này có 4 loại : Thai, trứng, thấp, hóa ; nếu sanh về Cực-Lạc đều là liên hoa hóa sanh, nên gọi các phàm phu, nhị thừa, bồ- tát của thế giới Cực-Lạc là tịnh hoa chúng. Các hoa chúng này do công đức của Phật A Di Đà mà hóa sanh nên gọi là Hoa Chánh Giác Hóa Sanh. Chánh giác hoa còn thêm một ý nghĩa từ hoa thành quả như thất giác chi gọi là thất giác hoa, do thất giác chi có thể thành chánh giác, như có hoa sẽ có quả thật.

LUẬN VĂN: THỌ DỤNG CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU NHƯ KỆ NÓI: ‘ƯA THÍCH PHÁP VỊ PHẬT, THỰC PHẨM THIỀN CHÁNH ĐỊNH’.

14)- Chúng sanh ở cõi này lấy thực phẩm làm đồ ăn để nuôi mạng sống, chúng sanh ở cõi Cực-Lạc lấy pháp vị và thiền định tam muội để nuôi dưỡng sinh mạng.

LUẬN VĂN: KHÔNG CÁC NẠN CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU NHƯ KỆ NÓI: ‘LÌA PHIỀN NÃO THÂN TÂM, NHẬN VUI LUÔN KHÔNG DỨT’.

15)- Thế giới Cực-Lạc ăn mặc tự nhiên nên xa lìa thân phiền não, không có ái biệt ly các ưu-sầu nên xa lìa tâm phiền não. Cõi này chịu khổ không dứt, cõi Cực-Lạc nhận điều vui vô cùng.

LUẬN VĂN: HAI NGHĨA CÔNG ĐỨC THÀNH TỰU NHƯ KỆ NÓI: ‘CÕI THIỆN CĂN ĐẠI THỪA, ĐỀU KHÔNG CÓ CHÊ BAI, NGƯỜI NỮ VÀ CĂN THIẾU, GIỐNG NHỊ THỪA CHẲNG SANH’. QUẢ BÁO CÕI TỊNH ĐỘ, LÌA HAI THỨ BỊ CHÊ BAI CẦN NÊN BIẾT: 1) THỂ; 2) DANH. THỂ CÓ BA THỨ LÀ HẠNG NHỊ THỪA, NGƯỜI NỮ VÀ CĂN THIẾU, CÕI CỰC LẠC KHÔNG CÓ BA LỖI NÀY. DANH CŨNG LÌA HẾT NHỮNG LỜI CHÊ BAI NÊN KHÔNG NGHE TÊN NHỊ THỪA, NGƯỜI NỮ VÀ CĂN THIẾU. ĐÓ LÀ HIỂN THỂ BÌNH ĐẲNG MỘT TƯỚNG VẬY.

16)- Văn nghĩa trong đây đã giải rõ ở trước, nhưng chúng ta cần chú ý đến 2 điểm:

a) Quả báo của cõi Tịnh Độ không có các tướng nhị thừa, người nữ, căn thiếu chứ không phải nói các bậc này không được gây nhơn tịnh độ. Như nàng Long Nữ ở hội Pháp Hoa, biến thành thân nam tử làm Phật ở nước Vô-Cấu, vì Phật có 32 tướng mà trượng phu tướng là một,vì thế Phật không thể có 31 tướng được;

b) Thân tướng cõi Cực-Lạc đều bình đẳng, dù phàm phu sanh ở hạ phẩm hạ sanh, người đã sanh về Cực-Lạc, thân tướng đều bình đẳng đồng với Đại Thừa Bồ Tát thân tướng.

Hiên tại, những bức họa Tây Phương Cực-Lạc, ta thấy có các tướng nam, nữ, nhị thừa, già, trẻ, đó chỉ là đối chiếu với cõi này làm cho mọi người thấy cũng có tướng nam, nữ, già trẻ như cõi mình mà phát nguyện vãng sanh, đây cũng chỉ là phương tiện hoằng pháp, kỳ thực khi sanh về tịnh độ rồi là lìa hẳn ngả tướng hiện tại, tất cả đều được 32 tướng của Bồ Tát.

LUẬN VĂN: TẤT CẢ SỞ CẦU CÔNG ĐỨC ĐẦY ĐỦ THÀNH TỰU NHƯ KỆ NÓI: ‘CHÚNG SANH MUỐN AN VUI, TẤT CẢ ĐƯỢC ĐẦY ĐỦ’.

17)- Chúng sanh sanh về thế giới Cực-Lạc, do năng lực đại nguyện của đức Phật A Di Đà, vì thế, có ai muốn được vui, sẽ thành tựu đầy đủ. Không những chỉ muốn thành tựu những sinh hoạt đầy đủ, mà người muốn đầy đủ tứ hoằng thệ nguyện như: ‘Chúng sanh khốn cùng thệ nguyện độ, phiền não không hết thệ nguyện dứt, pháp môn không lường thệ nguyện học, phật đạo cao tột thệ nguyện thành’ đều có thể thành tựu viên mãn.

LUẬN VĂN: ĐÃ LƯỢC NÓI 17 THỨ CÔNG ĐỨC TRANG NGHIÊM QUỐC ĐỘ PHẬT A DI ĐÀ LÀ CHỈ BÀY TỰ THÂN CỦA NHƯ LAI CÓ NĂNG LỰC ĐẠI CÔNG ĐỨC, LỢI ÍCH HỮU TÌNH THÀNH TỰU VÀ LỢI ÍCH CHO CÔNG ĐỨC NGƯỜI KHÁC CŨNG THÀNH TỰU. CÕI PHẬT VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHÊM, CẢNH GIỚI MẦU NHIỆM ĐỆ NHẤT NGHĨA ĐẾ, 16 CÂU VÀ THÊM 1 CÂU, NÓI THEO THỨ LỚP CẦN NÊN BIẾT.

Trên đây nói 17 thứ công đức chỉ là nói lược, nếu kể rõ không thể nào kể hết. – trước nói 17 thứ công đức là nhằm vào 2 điểm công đức tự lợi và lợi tha. Pháp môn Tịnh Độ có thể làm cho tất cả chúng sanh được sanh về cõi ấy, gặp Phật nghe pháp, chứng Vị Bất Thối, chứng vô thượng đạo hoàn thành công đức lợi tha chơn chánh. Nên nói Như Lai thị hiện tự thân sức đại công đức lợi ích thành tựu, tha công đức lợi ích thành tựu. Thế giới Cực-Lạc là hóa độ của Phật A Di Đà, nhưng hóa độ là báo độ, báo độ là pháp tánh độ, pháp tánh độ là chơn như phật tánh, nhất chơn pháp giới. Đó là tướng diệu cảnh giới của đệ nhất nghĩa đế. Nên gọi trang nghiêm cõi Phật Vô Lượng Thọ kia là cảnh giới của Đệ Nhất Nghĩa Đế. Ba thân Phật, hai Báo Y và Chánh vốn không thể phân chia, ba thân vốn một thân, ba độ tức một độ, mà người sau vọng chấp phân biệt cho đó là hóa Phật, chứ không phải báo thân phật, báo và hóa độ không phải là pháp tánh độ. Họ không biết rằng hóa phật y theo pháp của báo phật mà khởi, pháp của báo phật sẽ vì hóa phật làm chỗ y cứ. 16 câu và một câu, ý nói 16 thứ đầu là riêng rẽ, thứ chót là tổng hợp vậy.

LUẬN VĂN: LÀM THẾ NÀO QUÁN CÔNG ĐỨC TRANG NGHIÊM PHẬT THÀNH TỰU ? QUÁN CÔNG ĐỨC TRANG NGHIÊM PHẬT THÀNH TỰU CÓ 8 THỨ: 1) TÒA TRANG NGHIÊM; 2) THÂN TRANG NGHIÊM; 3) KHẨU TRANG NGHIÊM; 4) TÂM TRANG NGHIÊM; 5) CHÚNG TRANG NGHIÊM; 6) THƯỢNG THỦ TRANG NGHIÊM; 7) CHỦ TRANG NGHIÊM; 8) CHẲNG DỐI LÀM TRỤ TRÌ TRANG NGHIÊM.

Trước đã quán cõi Phật, tuy cũng có Quán Phật và Bồ – Tát nhưng chỉ quán sát tướng chung. – đây, riêng Quán tướng công đức Phật có 8 thứ như sau.

LUẬN VĂN: SAO GỌI LÀ TÒA TRANG NGHIÊM NHƯ KỆ NÓI: ‘ĐẠI BẢO VƯƠNG VÔ LƯỢNG, ĐÀI HOA TỊNH VI DIỆU’.

Trước Quán quốc độ cũng có Quán Phật, ở đây Quán Phật cũng có Quán quốc độ. Tòa Phật A Di Đà vốn dùng thế giới An-Lạc làm tòa như Phật Lô-Xá-Na dùng Thiên hoa đài làm tòa, Thiên Hoa Đài làm tòa tức là ngàn thế giới làm tòa. Tòa của Phật A Di Đà dùng vô lượng đại bửu hoa vương của vi diệu thanh tịnh liên hoa đài làm tòa. Đại bảo vương là lấy hoa lớn nhất dể làm tòa.

LUẬN VĂN: THẾ NÀO LÀ THÂN TRANG NGHIÊM NHƯ KỆ NÓI: ‘MỘT TẦM ÁNH TƯỚNG HẢO, SẮC TƯỢNG HƠN QUẦN SANH’.

Tán Phật kệ rằng: Thân Phật A Di Đà sắc vàng, tướng tốt ánh sáng không ai sánh, lông trắng năm non xây chất ngất, mắt xanh bốn bể rộng chơi vơi. Đó là nói thân phật trang nghiêm. Phật A Di Đà ánh sáng rộng vô lượng. Trong kệ nói ánh sáng một tầm, vì chúng sanh trong cõi này thấy Thích Ca Thế tôn ánh sáng rộng một tầm, do đó quán ánh sáng Phật A Di Đà cũng lấy một tầm làm tiêu chuẩn, nên nói ánh sáng tướng hảo của Phật A Di Đà một tầm.

LUẬN VĂN: THẾ NÀO LÀ MIỆNG TRANG NGHIÊM NHƯ KỆ NÓI: ‘TIẾNG NHƯ LAI VI DIỆU, PHẠM ÂM NGHE MƯỜI PHƯƠNG’.

Lời nói có ra là do môi, lưỡi, răng và hơi hòa hợp mà thành, không phải đơn độc có miệng mà có thể thành lời. – đây chỉ nói về cách phát âm để giảng. Vì lời nói trang nghiêm nên làm cho miệng trang nghiêm. Lời nói của Phật A Di Đà phát ra vi diệu như tiếng nói của Trời Phạm Thiên, có năng lực làm cho mười phương được nghe.

LUẬN VĂN: THẾ NÀO LÀ TÂM TRANG NGHIÊM NHƯ KỆ NÓI: ‘ĐỒNG ĐẤT NƯỚC GIÓ LỬA, HƯ KHÔNG KHÓ PHÂN BIỆT, KHÔNG PHÂN BIỆT ĐƯỢC NGƯỜI, KHÔNG CÓ TÂM PHÂN BIỆT’.

Phật Tâm là Tâm Ý của Phật. Các ý của Phật ở nơi ngũ đại: đất, nước, gió, lửa, không. Không có phân biệt: như đất không phân biệt người tốt xấu đi trên đất, đất vẫn không khởi phân biệt; Lữa không phân biệt: lửa có thể đốt tất cả vật, cỏ khô, cây chiên đàn khi đốt không có phân biệt; cho đến hư không dung nạp tất cả cũng không khởi phân biệt. Tâm ý của Phật lại cũng như thế. Do tâm Phật bình đẳng, khắp độ tất cả chúng sanh không phân biệt nghèo giàu hèn sang, có căn lành hay không có căn lành, tất cả đều được vãng sanh về Tịnh Độ, tiến đến quả vô thượng chánh đẳng chánh giác.

LUẬN VĂN: THẾ NÀO LÀ CHÚNG TRANG NGHIÊM NHƯ KỆ NÓI: ‘NGƯỜI TRỜI CHÚNG BẤT ĐỘNG, SANH BỂ TRÍ THANH TỊNH’.

Bình thường giảng ba nghiệp, người có phúc nghiệp sanh về cõi Trời, cõi người, người không có phúc nghiệp sanh về Ba ác đạo, người có Bất Động Nghiệp sanh về Sắc Cứu-Cánh Thiên. Các chúng nhơn thiên ở cõi Cực-Lạc, căn bản đều do sức công đức và biển trí tuệ của Phật A Di Đà mà được vãng sanh, như các nhà từ thiện lo lập cô nhi viện, các cô nhi tự mình có thể vào, nhưng căn bản là do tấm lòng từ bi của các nhà từ thiện, trước đã thiết lập cô nhi viện rồi, những cô nhi mới có chỗ vào. Chúng sanh được vãng sanh lại cũng như thế, nếu không có sức trí tuệ bổn nguyện của Phật A Di Đà thành lập Tây Phương Tịnh Độ, chúng sanh tuy muốn vãng sanh cũng không có chỗ đến.

LUẬN VĂN: THẾ NÀO LÀ THƯỢNG THỦ TRANG NGHIÊM NHƯ KỆ NÓI: ‘NHƯ VUA NÚI TU-DI, THẮNG DIỆU CHẲNG AI HƠN’.

Trong đây thượng thủ trang nghiêm là chỉ các bậc Đại Bồ Tát Đại Thừa Bất Thối chuyển, công hạnh của các ngài cao vọi như vua núi Tu-Di không có núi nào cao hơn. Đại Bồ Tát cũng thế, Các Ngài là vua trong chúng không có ai hơn.

LUẬN VĂN: THẾ NÀO LÀ CHỦ TRANG NGHIÊM NHƯ KỆ NÓI: ‘CHÚNG TRƯỢNG PHU TRỜI NGƯỜI, VI NHIỄU KÍNH CHIÊM NGƯỠNG’.

Trước đây từ chủ chỉ chúng, từ chúng nêu lên thượng thủ. Đây lại từ thượng thủ chỉ chủ tức là lấy chủ hiển bạn, lấy bạn hiển chủ cùng nhau chỉ rõ nghĩa chủ và bạn. Vì thế nói người trời, chúng trượng phu, cung kính vây quanh chiêm ngưỡng chủ. Đó là công đức của chủ cao vọi không nói ai cũng biết rõ.

LUẬN VĂN: THẾ NÀO KHÔNG DỐI LÀM TRỤ TRÌ TRANG NGHIÊM NHƯ KỆ NÓI: ‘QUÁN BỔN NGUYỆN LỰC PHẬT, AI CŨNG ĐỀU LỢI ÍCH, LÀM CHO MAU ĐẦY ĐỦ, CÔNG ĐỨC BIỂN BÁU LỚN’ TỨC LÀ BỒ TÁT GẶP PHẬT A DI ĐÀ, TUY CHƯA CHỨNG THANH TỊNH TÂM, RỐT RÁO CŨNG ĐƯỢC PHÁP THÂN BÌNH ĐẲNG, CÙNG VỚI BỒ TÁT THANH TỊNH TÂM KHÔNG KHÁC. BỒ TÁT TỊNH TÂM CÙNG BỒ TÁT Ở TRÊN THƯỢNG ĐỊA, CỨU KÍNH ĐỒNG ĐƯỢC TỊCH DIỆT BÌNH ĐẲNG.

Trong cõi Cực-Lạc do năng lực và bổn nguyện của Phật A Di Đà, nên người vãng sanh đều có đủ năng lực của Đại thừa Bồ Tát bất thối chuyển và sau đó có thể thị hiện mười phương, phổ độ chúng sanh, coi việc độ sanh như nhiệm vụ chính phải gánh vác, như người Viện-Trưởng Cô nhi viện cần phải dạy cô nhi đủ đức dục, thể dục, trí dục, sau đó mới cho vào đời, phục vụ xã hội, không chỉ làm người dân lương thiện mà phải làm người có tài hữu dụng cho quốc gia. Phật A Di Đà kiến lập Tịnh Độ lại cũng như thế. Phàm người sanh về nước Cực-Lạc, tùy theo nhơn tu có cạn sâu, thành Phật có mau có chậm khác nhau, nhưng rốt ráo đều được thành Phật, vì cõi Cực-Lạc có hoàn cảnh rất tốt, làm cho tâm bồ- đề chúng sanh mỗi ngày mỗi tăng, phiền não mỗi ngày mỗi ít, lại không thối thất, chắc chắn đến quả Phật, đây là lẽ thực chứ không phải nói suông.

Tịnh Tâm Bồ Tát có chỗ giảng là từ Bát địa trở lên, thông thường giảng Tịnh Tâm Bồ Tát là chỉ Sơ-Địa Bồ Tát, vì Bồ Tát Sơ Địa có trí huệ vô lậu tương ưng. Phàm phu, nhị thừa chưa chứng được tịnh tâm vì chưa chứng được Sơ- địa. Tuy không phải là Sơ Địa Bồ Tát nhưng họ có thể là Đăng-Địa Bồ Tát, tương lai chắc chắn đồng chứng được pháp thân bình đẳng không khác. Tuy là Bồ Tát Sơ-Địa song có thể cùng Thượng-Địa Bồ Tát đồng chứng được tịch diệt bình đẳng. Tịch diệt tướng là thật tướng của các pháp là pháp tánh thanh tịnh bình đẳng chỉ có Phật với Phật mới được rốt ráo. Có người cho rằng người niệm Phật sanh về Tịnh Độ liền được thành Phật. Cần nên biết rằng: sanh về Cực Lạc thế giới chưa chứng ngay quả Phật hoặc Đại-Bồ-Tát mà phải có thời gian tu tập. Có hạng phàm phu, nhị thừa chưa chứng tịnh tâm, cũng có người đã chứng tịnh tâm của Sơ-Địa Bồ Tát, nhưng tất cả đều chắc được lợi ích không thối chuyển đến khi thành Phật.

Lược nói 8 câu chỉ bày 8 công đức là chỉ bày công đức trang nghiêm tự lợi và lợi tha của Như Lai theo thứ lớp thành tựu nên biết.

LUẬN VĂN: THẾ NÀO QUÁN TRANG NGHIÊM CÔNG ĐỨC CỦA BỒ TÁT ĐƯỢC THÀNH TỰU ? QUÁN CÔNG ĐỨC TRANG NGHIÊM CỦA BỒ TÁT ĐƯỢC THÀNH TỰU LÀ QUÁN BỒ TÁT KIA CÓ BỐN THỨ CÔNG ĐỨC TU HÀNH CHÍNH ĐƯỢC THÀNH TỰU CẦN NÊN BIẾT.

Trước đã quán cõi Phật và công đức Phật, lại nói làm thế nào mà quán công đức của Bồ Tát ở thế giới kia là tổng quát quán bốn thứ chánh tu của Bồ-Tát thành tựu. Phật là quả, Bồ Tát là nhơn, Bồ Tát là nhơn, Bồ Tát ở trong nhơn tu hai lối là tự lợi và lợi tha. Vì Bồ Tát có bốn thứ Chánh Tu nên khác với ngoại đạo là Tà Tu.

LUẬN VĂN: BỐN MÓN CHÍNH TU LÀ GÌ ? 1) – TRONG MỘT CÕI PHẬT THÂN CHẲNG LAY ĐỘNG MÀ CÓ CÁC THỨ ỨNG THÂN VÀ HÓA THÂN KHẮP MƯỜI PHƯƠNG, ĐÚNG PHÁP TU HÀNH THƯỜNG LÀM CÁC PHẬT SỰ NHƯ KỆ NÓI: ‘NƯỚC AN – LẠC THANH TỊNH, THƯỜNG CHUYỂN XE VÔ CẤU, ẢNH HÓA PHẬT BỒ TÁT, TRỤ TRÌ NHƯ TU-DI, MỞ ĐƯỜNG CHO CHÚNG SANH, NHƯ HOA SEN TỪ BÙN NHƠ’.

Bồ Tát trong nước Cực-Lạc có thể thành tựu ở trong một cõi Phật, thân không qua lại mà ứng hóa khắp mười phương, có công đức thù thắng phổ độ khắp chúng sanh. Bồ Tát nếu lìa thế giới này qua các thế giới phương kia để ứng hóa thì không thù thắng, nếu ở thế giới này mà không ứng hóa khắp mười phương cũng không thù thắng. Nay Bồ Tát ở trong thế giới Cực-Lạc, có thể không rời Cực-Lạc mà ứng hóa mười phương phổ độ chúng sanh đó là điều thù thắng. Như người thật tu hành thường làm các phật sự là như Phật Bồ Tát làm các công đức thành tựu, thường qua lại trong mười phương, lấy việc giáo hóa chúng sanh làm sự nghiệp, Bồ Tát thường chuyển bánh xe pháp làm chúng sanh lìa tất cả phiền não cấu, tuy có hiện Phật thân, hiện Bồ Tát thân an trụ chẳng động. Nên kệ nói: ‘Thường chuyển xe vô cấu, ảnh hóa Phật, Bồ Tát, trụ trì như Tu-Di, mở đường cho chúng sanh, như hoa sen ở trong bùn không có ánh sáng tới, hoa sen không thể nở. Chúng sanh cũng thế, tuy có chủng tử lành, nhưng không có Bồ Tát ứng hóa để độ cũng không thành tựu’.

LUẬN VĂN: 2) ỨNG HÓA THÂN KIA, TẤT CẢ THỜI GIAN, KHÔNG TRƯỚC KHÔNG SAU, MỘT TÂM MỘT NIỆM, PHÓNG ÁNH SÁNG LỚN, ĐỀU CÓ THỂ ĐẾN KHẮP MƯỜI PHƯƠNG, GIÁO HÓA CHÚNG SANH, ĐỦ CÁC PHƯƠNG TIỆN, CHỖ LÀM TU HÀNH DIỆT HẾT KHỔ NÃO CHÚNG SANH, NHƯ KỆ NÓI: ‘ÁNH TRANG NGHIÊM VÔ CẤU, MỘT NIỆM VÀ MỘT THỜI, CHIẾU KHẮP CÁC HỘI PHẬT, LỢI ÍCH CÁC QUẦN SANH’.

Ứng hóa thân của Bồ Tát không phải lìa chỗ này mà ứng hóa nơi chỗ kia, các Ngài đều có thể phóng ánh sáng lớn khắp cả mười phương giáo hóa chúng sanh. Phương pháp giáo của Bồ Tát không những có nhiều thứ phương tiện mà khi dạy bảo phương pháp tu hành cũng có nhiều phương tiện, tùy theo căn cơ mà dạy bảo trao truyền. Chúng sanh nào hợp với pháp môn Niệm Phật thì dạy niệm Phật, người nào hợp với pháp môn Thiền Định dạy cho pháp tu Thiền Định, khiến cho chúng sanh đúng pháp mà tu hành, dứt hết vô minh phiền não, vĩnh viễn nhổ hết gốc khổ sanh tử, không phải như những nhà từ thiện ở thế gian chỉ có thể giúp tạm dừng những quả khổ của chúng sanh, nhưng không thể dứt vĩnh viễn cái nhơn (nguồn gốc) khổ của chúng sanh.

LUẬN VĂN: 3) – TRONG THẾ GIỚI CỦA NGÀI ĐỘ HẾT KHÔNG CÒN THỪA, ÁNH SÁNG CHIẾU HẾT CÁC ĐẠI CHÚNG TRONG HỘI PHẬT KHÔNG CÒN THỪA, CÚNG DƯỜNG CUNG KỈNH TÁN THÁN VÔ LƯỢNG CHƯ PHẬT NHƯ KỆ NÓI: ‘RƯỚI THIÊN NHẠC, HOA, Y, CÁC DIỆU HƯƠNG CÚNG DƯỜNG, TÁN CÔNG ĐỨC CHƯ PHẬT, KHÔNG CÓ LÒNG PHÂN BIỆT’.

Bồ Tát cõi Cực-Lạc hóa sanh trong thế giới mười phương, không có một thế giới nào không đi đến để hóa độ nên gọi là không còn thừa. Các ngài hóa sanh như thế và cũng phóng ánh sáng như thế. Trong đây nói các Bồ Tát ở cõi Cực-Lạc không chỉ đi đến mười phương phổ độ chúng sanh mà đến khắp mười phương cúng dường chư Phật nên gọi ‘trên cầu đạo phật, dưới cứu độ chúng sanh’ là thế. Vì sao Bồ Tát có thể qua đến mười phương cúng dường tán thán chư Phật? Vì Bồ Tát không có công dụng đạo và không khởi niệm phân biệt nên có thể qua lại tự nhiên.

LUẬN VĂN: 4) CÁC NGÀI Ở TRONG TẤT CẢ THẾ GIỚI KHÔNG CÓ TAM BẢO TRONG MƯỜI PHƯƠNG LÀM TRỤ TRÌ TRANG NGHIÊM PHẬT PHÁP TĂNG BẢO, CÔNG ĐỨC LỚN NHƯ BỂ CẢ, KHẮP CHỈ BÀY LÀM CHO MỌI NGƯỜI HIỂU RỎ ĐÚNG PHÁP TU HÀNH NHƯ KỆ NÓI: ‘Ở CÁC CHỖ THẾ GIỚI, KHÔNG CÔNG ĐỨC PHẬT PHÁP, TA ĐỀU NGUYỆN SANH ĐẾN, CHỈ PHẬT PHÁP NHƯ PHẬT’.

Trước đã nói Bồ Tát đến chỗ thế giới có Phật, ở đây nói Bồ Tát đến thế giới không Phật, như cõi Ta-Bà này có Thích-Ca thế tôn, hiện tại Ngài đã vào niết bàn, nhưng còn tượng Phật tồn tại, kinh điển lưu truyền, chúng sanh y theo giáo pháp Phật tu hành đến chứng quả đó là có Phật. Có thế giới nguồn gốc không có Phật Pháp, chúng sanh chưa hề có một ngày được nghe pháp, việc sanh tử chưa hề có ai thoát được, khổ ấy đồng với địa ngục! Bồ Tát có Đại Từ Bi Tâm, đã sanh về nước Cực-Lạc, dùng huệ nhãn biết được cõi không Phật pháp, phát nguyện sanh đến độ, hoằng truyền Phật pháp, kiến lập tam bảo, làm cho chúng sanh, trước chẳng được thấy nghe tam bảo, hiểu biết được pháp tánh chơn thực, sau đó theo chỗ hiểu biết mà tu hành, được chứng đạo quả. Phương pháp kiến lập khai thị của các ngài y như Phật đã kiến lập, nên nói: ‘Chỉ Phật Pháp như Phật’. Nếu Bồ Tát đã đầy đủ công đức mà không đi độ khắp chúng sanh, tuy có công đức cũng bằng không, nên Bồ Tát muốn có công đức phải giáo hóa chúng sanh. Nên Bồ Tát Địa-Tạng đã nói: ‘Ta không vào địa ngục thì ai vào địa ngục’ đó là ý nghĩa này.

LUẬN VĂN: NÓI CÔNG ĐỨC TRANG NGHIÊM PHẬT ĐỘ THÀNH TỰU, CÔNG ĐỨC TRANG NGHIÊM PHẬT THÀNH TỰU, CÔNG ĐỨC TRANG NGHIÊM BỒ TÁT THÀNH TỰU, ĐÂY LÀ THỨ THÀNH TỰU NGUYỆN TÂM TRANG NGHIÊM, LƯỢC NÓI MỘT CÂU LÀ PHÁP THÂN CHƠN PHẬT TRÍ HUỆ VÔ VI THANH TỊNH, NAY CÓ 2 THỨ CẦN NÊN BIẾT. THẾ NÀO LÀ HAI THỨ THANH TỊNH ? : 1) KHÍ THẾ GIAN THANH TỊNH; 2) CHÚNG SANH THẾ GIAN THANH TỊNH. KHÍ THẾ GIAN THANH TỊNH LÀ NHẰM VÀO 17 THỨ CÔNG ĐỨC TRANG NGHIÊM QUỐC ĐỘ PHẬT THÀNH TỰU GỌI LÀ THẾ GIAN THANH TỊNH. CHÚNG SANH THẾ GIAN THANH TỊNH LÀ NÓI VỀ 8 THỨ CÔNG ĐỨC PHẬT TRANG NGHIÊM THÀNH TỰU VÀ 4 THỨ CÔNG ĐỨC TRANG NGHIÊM THANH TỊNH CỦA BỒ TÁT THÀNH TỰU GỌI LÀ CHÚNG SANH KHÍ THẾ GIAN THÀNH TỰU. NHƯ THẾ MỘT CÂU PHÁP GỒM CẢ 2 THỨ CẦN NÊN BIẾT.

Trong Quán sát môn đã phân biệt rõ ba món công đức xong, ở đây lấy ba thứ quán sát trước làm một câu pháp. – trước nói ba thứ công đức trang nghiêm là chỉ chỗ thành tựu tâm nguyện trang nghiêm, vì cái nhơn của ba thứ công đức thành tựu là năng lực đại nguyện của Phật A Di Đà. Trong kinh Vô Lượng Thọ nói về nhơn thành tựu của Phật A Di Đà là do Pháp-Tạng Tỳ Kheo phát 48 đại nguyện, sau đó quyết lòng y theo thệ nguyện, tu các hạnh nguyện trang nghiêm mà thành tựu cái quả thệ nguyện là thế giới Cực-Lạc. Như Ma Ni Bảo Châu do tim của Đại-Bàng Kim Xí Điểu mà thành, thế giới Cực-Lạc này là do tâm nguyện của Phật A Di Đà mà thành. Phật A Di Đà tùy tâm nguyện thành tựu các phật sự ở nước Cực-Lạc, làm cho chúng sanh đoạn hết các phiền não, chứng vô thượng bồ đề.

Chư Phật dùng lòng đại từ bi phổ độ chúng sanh tuy đồng mà phương pháp độ sanh có khác. Như ở cõi này Đức Thích Ca Thế Tôn dùng ngôn ngữ âm thanh thuyết pháp độ sanh, nên nói: ‘Chơn Giáo thể cõi này, nhờ âm thinh thanh tịnh’. Chúng sanh ở Hương-Quốc dùng mùi hương mà thuyết pháp, cho đến có chổ dùng hoa và giấc mộng mà thuyết pháp độ sanh. Thế giới Cực-Lạc của Phật A Di Đà chính dùng sự thành tựu của thế giới An-Lạc mà làm pháp môn, phương tiện duy nhất để độ sanh.

Người muốn sanh về Tịnh Độ chỉ cần phát nguyện liền đặng vãng sanh, vì Cực-Lạc Tịnh Độ là do nguyện lực của Phật A Di Đà tạo thành, mà trong lời thệ nguyện đã có mong muốn tất cả chúng sanh trong mười phương đều được vãng sanh về nước kia. Nước kia đã hàm chứa năng lực nhiếp thọ chúng sanh các thế giới ở mười phương phát nguyện vãng sanh về, như viên đạn trong ống đồng bị sức ép của hơi thổi bắt buộc phải bay ra ngoài, nên người nguyện sanh về Tịnh Độ quyết định được sanh. Bình thường người được sanh về các Tịnh Độ khác cần phải tu đến Sơ-Địa BồTát mới có thể thành tựu tự tha thọ dụng của Tịnh Độ. Người muốn thành tựu Tịnh Độ khác đều do tu đến địa vị ấy thì tự nhiên thành, không phải chỉ một lần phát nguyện như người cầu sanh về Cực-Lạc liền được vãng sanh. Chúng ta muốn sanh về Tịnh Độ Cực-Lạc không phải tu đầy đủ cái NHƠN của Tịnh Độ mà chỉ cần phát nguyện vãng sanh là có thể đến được. Nếu giảng theo luật nhơn quả thông thường không tu nhơn thì không thể chứng quả có chổ trái ngược, nhưng trong Phật pháp có 5 việc không thể nghĩ bàn. Ở đây không cần tu nhơn mà được sanh Tịnh Độ là do khả năng nguyện lực Phật không thể nghĩ bàn trong năm điều không thể nghĩ bàn mà thành tựu.

Trước phân tích trong quán sát môn có 29 thứ công đức, nay gồm vào một câu pháp đó là thanh tịnh pháp. Thanh tịnh pháp này là Pháp Giới Thanh Tịnh, là pháp tánh vô lậu trí của Phật đã chứng được. Phật lấy pháp tánh làm thân, mà pháp tánh cũng là pháp thân vô vi của Phật. Trí tuệ chơn thực là bốn trí Bồ Đề. Bốn Trí là: Trí vô lậu, Trí vô hư vọng, Trí vô điên đảo và Trí bồ đề. Trí này có thể chứng ngộ và tương ưng, chổ chứng của trí này là thanh tịnh pháp giới. Pháp giới thanh tịnh này là pháp thân vô vi của Phật, vì không có trí phân biệt, nên chứng lý không phân biệt, trí và lý như như, lìa cả tướng năng và sở. Phạm vi của chúng sanh có rộng có hẹp. Nghĩa rộng: tất cả pháp sanh diệt của giống hữu tình và vô tình đều gọi là chúng sanh. Nghĩa hẹp: Các pháp thuộc hữu tình như Phật, Bồ Tát cho đến vi tế côn trùng đều gọi là chúng sanh. Tuy vậy, tương đối mà nói Phật không phải là chúng sanh vì Ngài nhiếp cả Bồ Tát và hữu tình. Nếu nói cho đúng vì chúng sanh tương đối với thánh nhơn, nên trong 10 pháp giới, bốn bậc thánh không phải là chúng sanh, chỉ có sáu bậc phàm là chúng sanh thôi. Trong đây chúng sanh thế gian là gồm nghĩa cả Phật và Bồ Tát.

Hoa Nghiêm tông nói: Thế gian có ba: 1) Khí thế gian; 2) Chúng sanh thế gian; 3) Chánh giác thế gian. Luận này nói có 2 thế gian so với Tông Hoa-nghiêm: Chánh giác thế gian tức là nhiếp về chúng sanh thế gian. Có tướng sai biệt ở thế gian đều là thế gian công đức. Nếu dứt cả ngôn ngữ, tâm thực hành đạo tịch diệt, không có tướng sai biệt là tướng vô lậu của thế gian. Trong ấy tuy nói thế gian, nhưng do công đức vô lậu thành tựu, cũng chính là thế gian mà xuất thế gian vậy.

LUẬN VĂN: CÁC BỒ TÁT TU HÀNH CHỈ QUÁN NHƯ THẾ, TÂM NHU NHUYẾN THÀNH TỰU, BIẾT ĐƯỢC NHƯ THẬT, RỘNG GIẢNG CÁC PHÁP NHƯ THẾ LÀ XẢO PHƯƠNG TIỆN HỒI HƯỚNG THÀNH TỰU.

Trong luận này gồm có năm môn, nói riêng Quán Sát là Quán Sát Môn, hiện tại giảng làm thế nào khéo léo hồi hướng tức là Hồi Hướng Môn. Trong năm môn: Tác Nguyện Môn tu CHỈ làm chính, Quán sát Môn tu QUÁN làm chính. Lễ Bái và Tán Thán môn là phương tiện trước tiên của Chỉ Quán, nên bốn môn của Bồ Tát tu hành như lễ bái, quán sát, tán thán, tác nguyện là tu CHỈ QUÁN. Trong năm môn, Tác Nguyện Môn vô cùng quan trọng, vì trước khi chưa làm công đức lễ bái, tán thán cần phải lập nguyện trước. Chính khi làm công đức cũng phải có nguyện, vì có nguyện nên công đức có chủ trương, tâm tu mới chuyên cần. Nếu công có chủ hướng là công không tản mát như tiền đã xỏ xâu không thể rơi được. Tâm có chuyên cần, khi phát nguyện vãng sanh thì tâm chuyên chú ởTây Phương Tịnh Độ, nhờ đó gom tán loạn về chổ an định, đó gọi là tâm định. Y theo Quán mà tu hành, do phát nguyện mà khởi ra quán sát. Quán sát cõi Phật y chánh trang nghiêm là trong Chỉ có Quán, trong Quán có Chỉ, Chỉ và Quán song hành. Ba Quán sát trên là nói rộng. Ba gồm lại làm một, chỉ có một pháp giới thanh tịnh trùm khắp.

Thành tựu Tâm Nhu Nhuyến: Tâm có phiền não thì không nhu nhuyến cũng như ngựa hoang; nếu tu Chỉ Quán thì có thể hàng phục hết tất cả phiền não. Nếu hàng phục được phiền não thì tâm trở nên nhu nhuyến, nếu không tu được tâm nhu nhuyến thì các cảnh tham trước ngũ dục hiện ra. Không căn cứ tu Chỉ để tâm định thì không thể quán sát được rõ ràng. Vì thế Chỉ và Quán làm cho tâm nhu nhuyến được thành tựu.

LUẬN VĂN: THẾ NÀO LÀ BỒ TÁT DÙNG XÃO PHƯƠNG TIỆN ĐỂ HỒI HƯỚNG ? BỒ TÁT DÙNG XÃO PHƯƠNG TIỆN HỒI HƯỚNG LÀ NÓI LỄ-BÁI NĂM MÔN TU HÀNH ĐÃ NHÓM TẤT CẢ CÔNG ĐỨC THIỆN CĂN, KHÔNG CẦU TỰ MÌNH CÓ ĐƯỢC AN VUI MÀ MUỐN NHỔ HẾT KHỔ CHO TẤT CẢ CHÚNG SANH, KHỞI NGUYỆN ĐƯA CHÚNG SANH ĐỒNG SANH VỀ CÕI PHẬT AN-LẠC KIA, ĐÓ GỌI LÀ BỒ TÁT DÙNG XÃO PHƯƠNG TIỆN HỒI HƯỚNG THÀNH TỰU.

Trước giảng tâm sở y của hồi hướng, giờ đây giảng về nghĩa chính của hồi hướng. Đã có công đức thành tựu mới có thể hồi hướng, vì nhờ Lễ bái Tán thán ở trước nhóm đủ thiện căn công đức sau mới hồi hướng. Công là công hạnh, đức là quả đức, phàm công thực hành đến khi thành tựu gọi là công đức.

Thông thường lấy năm thứ thiện căn: Tín, tấn, niệm, định, tuệ và ba vô lậu thiện căn: đương tri, dĩ tri, cụ tri là tổng tướng của thiện căn. Kỳ thực tất cả công đức đều gọi là thiện căn. Như niệm phật, niệm đến không còn tạp niệm tức là thành tựu một thứ công lực niệm Phật, do công lực niệm phật này lâu dần thành tựu thiện căn niệm phật. Như người ưa làm việc bố thí, làm việc bố thí lâu dần biến thành tập quán thành tựu bố thí công đức và thiện căn bố thí thành tựu.

Trái lại tạo ác cũng có ác căn thành tựu như tham sân si tam độc gọi là tam độc căn, nên nói căn tánh ác, căn tánh hạ liệt, các người này không có thiện xão để hồi hướng, vì tâm chấp ngã, chỗ công đức đều vì bản ngã mà làm, đó là công đức hữu lậu trước tướng, không phải là công đức xuất thế. Công đức hữu lậu này chỉ làm nhơn cho quả hữu lậu ở nhơn thiên, được sanh vào cõi nhơn thiên. Người thiện xão hồi hướng không cần gìn giữ cái vui riêng cho tự thân, mà làm cho tất cả chúng sanh lìa khổ được vui.

Như chúng ta niệm phật cầu vãng sanh Tịnh Độ không phải chỉ cầu tự mình đến chổ An-Lạc mà vì cứu bạt tất cả khổ của chúng sanh mà sanh về Tịnh Độ. Ở đời, những nhà từ thiện bố thí cơm ăn áo mặc tuy giúp tạm thời bớt khổ chứ không nhổ hết nguồn gốc khổ.

Chỉ có Phật pháp làm cho chúng sanh đoạn trừ phiền não chứng quả Bồ -đề mới có thể nhổ hết cội gốc khổ cho tất cả chúng sanh. Pháp môn Tịnh Độ khuyên người vãng sanh, tuy chưa dạy chúng sanh tức khắc diệt trừ phiền não, song sanh về Tây Phương Cực-Lạc có thể lìa khổ, lần lần diệt hết phiền não thành vô thượng giác.

LUẬN VĂN: BỒ TÁT KHÉO BIẾT HỒI HƯỚNG THÀNH TỰU NHƯ THẾ LÀ XA LÌA BA THỨ TRÁI VỚI PHÁP BỒ ĐỀ. THẾ NÀO LÀ BA THỨ ? 1) Y THEO TRÍ HUỆ MÔN KHÔNG CẦU TỰ LẠC, XA LÌA TÂM THAM TRƯỚC CỦA TỰ THÂN; 2) Y THEO TỪ BI MÔN NHỔ TẤT CẢ GỐC KHỔ CHO CHÚNG SANH, XA LÌA TÂM KHÔNG AN ỔN CỦA CHÚNG SANH; 3) Y THEO PHƯƠNG TIỆN MÔN, LÒNG THƯƠNG XÓT TẤT CẢ CHÚNG SANH, XA LÌA TÂM CUNG KÍNH CÚNG DƯỜNG TỰ THÂN. ĐÓ LÀ XA LÌA BA PHÁP TRÁI VỚI TÂM BỒ ĐỀ.

Trong đây nói Bồ Đề tức chỉ Đại Thừa Bồ Đề Tâm, nếu không đúng như thế mà hồi hướng tức là trái với ba thứ Tâm Bồ Đề, nếu trái với Tâm Bồ Đề là trái với bản ý thành lập Tịnh Độ của Phật A Di Đà. Người tu Phật cốt yếu lấy tâm mình làm điểm xuất phát, nếu có ngã chấp tức thành phàm phu. Vì thế hàng nhị thừa dùng phương tiện tiêu cực để diệt trừ ngã chấp chứng A La Hán, hàng Đại Thừa Bồ Tát lấy lòng Đại Bi Vô Ngã để viên thành Phật Quả.

Tiếng Phạn Tất Ca Da Kiên dịch là thân-kiến, vì ở thân kiến nên có ngã chấp, nếu có ngã chấp là có tham ái, si mê, ngã mạn. Trong Duy Thức Luận nói: Ngã chấp có hai thứ:

1) Do Mạt-Na Thức thứ bảy duyên theo kiến phần của thức A Lại Da thứ tám làm ngã là Câu Sanh Ngã chấp, Tâm ngã chấp này là căn bản.

2) Do ý thức thứ sáu duyên theo năm uẩn mà khởi ra ngã chấp là chung cả câu-sanh và phân biệt ngã chấp. Muốn phá ngã chấp cần phải dùng trí bác-nhã. Nhờ trí bác-nhã phá nhơn ngã chấp, diệt phiền não chướng, chứng lý sanh không. Phá pháp ngã đoạn sở tri chướng, chứng lý pháp không. Sanh không là hiểu thấu tâm chúng ta đều do ngũ uẩn hòa hợp mà có, không thật thể. Nó như một đoàn thể họp bởi nhiều phần tử mà thành, nếu bỏ các phần tử ra thì đoàn thể không thành. Chúng ta cũng thế, tất cả đều do các duyên hòa hợp nên giả có ngã tướng, không có ngã thực, nên cuộc sống con người thật mỏng manh không thực. Do hiểu được sanh không, tiến thêm một bước nữa ta thấy, người do năm uẩn hòa hợp mà thành, các duyên hòa hợp nên năm uẩn vốn không, thành tựu Quán Pháp Không. Biết rõ người và pháp đều không, nên không khởi lòng tham và không cầu riêng mình được an vui. Nên nói: Y theo môn trí tuệ, không cầu tự vui riêng, xa lìa tâm ngã tham trước của tự thân.

Từ Bi của Thế Gian và Từ Bi của Phật pháp không đồng. Từ Bi của thế gian là dùng tự-ngã để làm việc từ bi; Từ bi của Phật pháp lấy vô-ngã làm từ bi, nên gọi là Đại Bi. Từ Bi trong Phật Pháp có ba thứ: Sanh duyên từ, Pháp duyên từ và Vô duyên Từ. Duyên cái khổ của chúng sanh mà sanh lòng từ bi gọi là Sanh duyên Từ. Không thấy có mình và người mà khởi lòng từ bi là Pháp Duyên Từ.

Dùng cái không công dụng mà khởi từ bi gọi là Vô Duyên Bình Đẳng Từ. Chúng sanh vốn ở trong cái không khổ mà vọng khởi ra cái khổ, đó là điều rất cực khổ. Chúng sanh khổ não như thế, như ở trong nhà lửa cháy lớn. Bồ Tát có thể dùng lòng Đại từ bi làm cho chúng sanh xa lìa cội gốc khổ được an vui rốt ráo, nên nói: Y theo từ bi môn nhổ tất cả khổ cho chúng sanh, xa lìa tâm không an lạc của chúng sanh.

Người đời lập công, lập ngôn, lập đức đều không lìa tâm ngã chấp, nên khi thành công chỉ muốn một mình được nhận lợi ích. Bồ Tát không phải thế, Bồ Tát nguyện sanh về thế giới An-Lạc là vì thương xót tất cả chúng sanh, không phải đem thế giới Cực-Lạc để cung cấp an vui cho chính mình.

Nên Bồ Tát y theo trí huệ làm căn bản để khởi ra phương tiện làm hạnh hồi hướng lợi tha, thương tưởng tất cả chúng sanh xa lìa lòng cung cấp cho riêng mình. Có ba pháp trái với Bồ Đề làm Đại Bồ Đề không thành, xa lìa ba pháp trái Bồ Đề này thì Đại Thừa Bồ Đề Tâm và Đại Thừa Nghĩa Môn thành tựu.

LUẬN VĂN: BỒ TÁT XA LÌA ĐƯỢC BA THỨ TRÁI VỚI BỒ ĐỀ MÔN, ĐƯỢC ĐẦY ĐỦ BA THỨ THUẬN BỒ ĐỀ MÔN. BA THỨ ẤY THẾ NÀO ? 1) VÔ NHIỄM THANH TỊNH TÂM: KHÔNG VÌ TỰ THÂN MÀ CHẠY TÌM CÁC THỨ VUI RIÊNG.

2) AN THANH TỊNH TÂM: DÙNG HẾT NĂNG LỰC NHỔ TẤT CẢ GỐC KHỔ CHO CHÚNG SANH. 3) LẠC THANH TỊNH TÂM : DÙNG NĂNG LỰC MÌNH LÀM CHO CHÚNG SANH ĐƯỢC QUẢ ĐẠI BỒ ĐỀ. VÌ THẾ, NÊN BỒ TÁT ĐƯA CHÚNG SANH VỀ CÕI AN-LẠC CỦA PHẬT A DI ĐÀ. ĐÓ LÀ BA THỨ TÙY THUẬN ĐẦY ĐỦ BỒ ĐỀ MÔN CẦN NÊN BIẾT.

Phàm làm việc gì không vì tự lợi thì có thể không nhiễm.

Ở đời lập công nghiệp hoặc mọi việc đều vì mình, vì muốn nhận được cho riêng mình nên tâm bị nhiễm. Còn Bồ Tát không vì tự lợi cho bản thân, nên không có tâm nhiễm. Không vì tự thân nên thành tựu vô nhiễm thanh tịnh. Không phải tu thân thanh tịnh mà có thể nhổ tất cả gốc khổ cho chúng sanh, làm cho chúng sanh đều được thanh tịnh. Đó là thành tựu an thanh tịnh tâm.

Không phải chỉ làm cho chúng sanh lìa khổ mà còn làm cho họ chứng được pháp lạc vô thượng bồ đề. Đó là Lạc thanh tịnh Tâm. Nếu đem ba thanh tịnh tâm dùng ba đức đối nhau thì vô nhiễm thanh tịnh là đoạn đức; an thanh tịnh là an đức, lạc thanh tịnh là trí đức.

Ba pháp thanh tịnh cùng với tâm bồ đề tương ưng đầy đủ nên gọi là pháp môn tùy thuận Bồ Đề được đầy đủ.

LUẬN VĂN: NÓI ĐẾN BA MÔN TRÍ TUỆ, TỪ BI, PHƯƠNG TIỆN BÁT NHÃ, BÁT NHÃ CŨNG NHIẾP THỦ PHƯƠNG TIỆN CẦN NÊN BIẾT.

Ở trước ba môn nhiếp thủ phương tiện. Bát nhã có ba: 1) Văn tự Bát Nhã; 2) Quán chiếu Bát Nhã; 3) Thật tướng Bát Nhã. Phương tiện là tất cả hạnh tự lợi và lợi tha. Bát nhã là tiếng Phạn dịch là trí tuệ. Phương tiện là tiếng Trung-Hoa, Phạn ngữ là Au-Hoa. Tu tất cả hạnh phương tiện đều làm cho chứng nhập thật tướng, nên gọi phương tiện nhiếp thủ bát nhã. Y theo Bát Nhã tu tất cả hạnh, hiểu biết tất cả pháp không, không trụ trước, đó là bát nhã nhiếp thủ phương tiện. Bát nhã nhiếp thủ phương tiện và phương tiện cũng nhiếp thủ bát nhã. Phương tiện nếu rời Bát nhã là khởi ngã chấp, Bát nhã nếu lìa phương tiện là chấp không kiến. Kinh Duy Ma nói: ‘Có Trí huệ thì phương tiện cởi mở, không trí huệ bị phương tiện trói buộc, có phương tiện thì trí huệ mở, không phương tiện trí huệ bị trói buộc’. Thực hành trí huệ mà có phương tiện thì cái bất không cũng thành chơn không; thực hành phương tiện mà có trí huệ thì cái phi hữu cũng thành diệu hữu. Ở chỗ Mật Pháp của Mật Tông hiện bày kim cang Phật mẫu cũng tức là nghĩa chính yếu của Bát Nhã và phương tiện. Như con chim bay giữa hư không, Chim đủ phương tiện, hư không đủ bát nhã. Chim không có hư không thể bay, hư không không có chim bay qua sẽ không hiện bày được cái vô ngại dụng của hư không. Phương tiện không có bát nhã không đi, bát nhã không có phương tiện sẽ không có công dụng.

LUẬN VĂN: NÓI ĐẾN VÔ NHIỄM THANH TỊNH TÂM, AN THANH TỊNH TÂM, LẠC THANH TỊNH TÂM, BA THỨ TÂM NÀY TÓM LƯỢC VỀ MỘT CHỖ LIỀN THÀNH TỰU DIỆU LẠC THẮNG CHƠN NHƯ CẦN NÊN BIẾT.

Diệu Lạc Thắng chơn như trong Kinh Niết Bàn gọi là Đại Niết Bàn. Đại Niết Bàn này thành tựu ba đức: Pháp thân, bác nhã, giải thoát. Ba đức này không phải một, không rời nhau, không thiên, không lệch. Đó chính là Diệu Lạc Thắng Tâm. Như thế, ba tâm thành tựu được diệu lạc thắng tâm tức là thành tựu Đại Niết Bàn Tâm, là vô thượng bồ đề tâm và cũng là diệu tâm vô tướng thật tướng của Niết Bàn Phật Quả. Chư Tổ Thiền Tông lấy tâm truyền tâm, chính là truyền tâm này, chính là hiển rõ trong Thiền có Tịnh, trong Tịnh có Thiền, chính Thiền mà Tịnh, chính Tịnh mà Thiền.

LUẬN VĂN: BỒ TÁT NHƯ THẾ DÙNG TÂM TRÍ HUỆ LÀM PHƯƠNG TIỆN, TÂM VÔ CHƯỚNG, TÂM THẮNG CHƠN CÓ THỂ SANH VỀ QUỐC ĐỘ PHẬT THANH TỊNH CẦN NÊN BIẾT.

Ở trước tuy nói ba thứ: Trí huệ, từ bi, phương tiện nhưng tất cả đều nhiếp về tâm trí huệ và phương tiện. Tâm Viễn ly nhiếp về vô chướng tâm. Ba tâm vô nhiễm thanh tịnh nhiếp về Thắng Chơn Tâm. Bồ Tát do các tâm như thế mà có thể sanh về quốc độ thanh tịnh; do Bồ Tát y theo những thanh tịnh tâm như thế mà chứng được pháp giới thanh tịnh, thành pháp tánh độ. Y theo pháp tánh độ này thành tựu tự tha thọ dụng báo độ, do báo độ mà thành biến hóa độ, nên nói có thể sanh về quốc độ thanh tịnh.

LUẬN VĂN: ĐÓ GỌI LÀ BẬC ĐẠI BỒ TÁT TÙY THUẬN THEO NĂM THỨ PHÁP MÔN MÀ CHỖ LÀM ĐƯỢC TÙY Ý TỰ TẠI THÀNH TỰU, NHƯ ĐÃ NÓI THÂN NGHIỆP, Ý NGHIỆP, KHẨU NGHIỆP, TRÍ NGHIỆP, PHƯƠNG TIỆN TRÍ NGHIỆP ĐỀU TÙY THUẬN THEO PHÁP MÔN. LẠI CÓ NĂM MÔN LẦN LƯỢT THÀNH TỰU NĂM THỨ CÔNG ĐỨC CẦN NÊN BIẾT.

Trên Quán thành ba thứ Niết Bàn thành Đại Bồ Tát nên gọi là Ma Ha Tát. Tự tại nghĩa là tự do. Từ năm món trên lể bái thuộc thân nghiệp, tán thán thuộc khẩu nghiệp, tác nguyện thuộc ý nghiệp, quán sát thuộc trí nghiệp; trong Quán Sát tuy có sự tương ưng của tâm và tâm sở mà chính sự hay quán sát thuộc về trí tuệ. Hồi hướng thuộc về phương tiện trí nghiệp, vì không trước không tưởng mới có thể hồi hướng, nếu không có trí tuệ làm sao không chấp trước. Phổ thông mà nói nghiệp tham chướng nặng đều chỉ về nghiệp bất thiện, nhưng giảng ở phương diện sự nghiệp và hành nghiệp thì nghiệp có thiện nghiệp và bất thiện nghiệp, có hữu lậu có vô lậu không phải thuộc hoàn toàn về bất thiện, như Tu Pháp Môn Tịnh Độ là Tu Tịnh Nghiệp tức thuộc về thiện nghiệp.

LUẬN VĂN: THẾ NÀO LÀ NĂM MÔN? 1) CẬN MÔN; 2) ĐẠI HỘI MÔN; 3) TRẠCH MÔN; 4) ỐC MÔN; 5) VIÊN LÂM DU HÍ MÔN. TRONG NĂM MÔN NÀY BỐN MÔN ĐẦU THÀNH TỰU TÁM THỨ CÔNG ĐỨC, MÔN THỨ NĂM THÀNH TỰU XUẤT CÔNG ĐỨC.

Do năm môn ở trước lại tạm thành năm món công đức nầy. Lễ bái thuộc về thân nghiệp, do lễ bái một lần liền cùng Cực-Lạc gần thêm một bước, nên do lễ bái mà thành tựu Cận Môn tức là thêm gần cõi Cực-Lạc. Đem tâm cung kính chí thành ở bên trong biểu lộ trong lời nói gọi là tán thán. Vì xưng danh tán đức ắt có âm thanh, do âm thanh này làm cho người nghe được lợi nên thành Đại Hội Môn.

Lại nữa khi chúng ta tụng kinh A Di Đà là có các chúng trời người đến nghe pháp, đồng đến hộ trì thành đại pháp hội, nên do tán thán mà thành Đại Hội Chúng Môn. Phát nguyện tu CHỈ có thể làm cho tâm niệm hoàn toàn đổi hướng với Cực-Lạc thế giới, chuyên niệm như thế chắc được vãng sanh vào nhà Cực-Lạc nên do phát nguyện mà thành tựu Trạch Môn.

Quán sát tức là định sanh tuệ, do dùng trí tuệ quán sát công đức y chánh trang nghiêm cõi Cực-Lạc như người vào nhà, các việc trong nhà sẽ hiện trước mặt, thấy xét rõ ràng, nên do quán sát mà thành tựu Ốc Môn.

Trở vào cõi khổ Ta-Bà có nghĩa hồi hướng, như đã vào nhà lại vào vườn rừng làm các việc vui chơi, nên hồi hướng môn gọi là thành tựu Viên Lâm Du Hí Môn. Bốn thứ trước thành tựu là tám công đức thế giới Cực-Lạc, thứ chót là công đức Xuất Thế giới Cực-Lạc.

LUẬN VĂN: VÀO MÔN THỨ NHẤT LÀ LỄ BÁI PHẬT A DI ĐÀ ĐƯỢC SANH VỀ NƯỚC KIA, NGƯỜI ĐƯỢC SANH VỀ THẾ GIỚI AN-LẠC LÀ ĐƯỢC VÀO MÔN THỨ NHẤT.

Đem thâm mạng lễ bái Phật và Bồ Tát trên hội liên trì là nhơn, liền được vãng sanh là Quả. Khi lễ bái quán sát công đức y báo, nguyện đem thân mạng hướng về Cực-Lạc, nghĩ thân mình khi lễ bái dưới đất liền được vãng sanh Cực-Lạc, nên nói một lòng quy mạng thế gới Cực-Lạc là chính nghĩa này.

Ý nghĩa vãng sanh nếu từ ý thức mà giảng trong định cũng được vãng sanh. Như Huệ Viễn Đại Sư trong định ba lần thấy Tịnh Độ Cực-Lạc, không cần phải bỏ báo thân này mới được vãng sanh.

Nếu từ báo thể của A LẠI DA mà nói,A LẠI Da trùm khắp mười phương, nhưng chúng sanh bị nghiệp lực làm chướng ngại nên không thể thành tựu báo thân Cực-Lạc; nếu người tu tịnh nghiệp tức xa lìa được thân nghiệp báo phiền não, để nhận thanh tịnh báo thân Cực-Lạc.

Vãng sanh do báo thân nên do việc làm lễ bái của thân nghiệp mà được sanh ra quả Cực-Lạc.

LUẬN VĂN: VÀO MÔN THỨ HAI LÀ TÁN THÁN PHẬT A DI ĐÀ. TÙY THUẬN THEO NGHĨA, KHEN DANH NHƯ LAI, Y THEO TƯỚNG ÁNH SÁNG NHƯ LAI NÊN ĐƯỢC VÀO ĐẠI HỘI CHÚNG SỐ, NÊN GỌI VÀO ĐƯỢC MÔN THỨ HAI.

Trong việc tán thán rất giản tiện là xưng danh hiệu của Như Lai. Danh hiệu của Như Lai gồm có nhiều thứ công đức. Khen ngợi tên của Như Lai là khen ngợi công đức chơn thực của Như Lai. Nếu tụng Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ cũng có nghĩa khen ngợi xưng tán, nhưng không bằng xưng danh giản tiện hơn. A Di Đà Phật có nghĩa là Vô Lượng Quang. Xưng hiệu A Di Đà Phật là xưng dương ánh sáng vô lượng của Phật.

Từ ánh sáng của Phật có thể hiện rõ y chánh, chủ bạn, pháp hội, đại chúng, vô lượng pháp chủng của mình và người, nên nhớ xưng dương ánh sáng vô lượng của Phật mà được vào Đại Hội Chúng Số của Thế giới Cực-Lạc. Có người sanh về Cực-Lạc mà không được vào hội chúng là do nghi tâm niệm phật, tuy sanh về Cực-Lạc, song phải chịu 500 đại kiếp không có thể vào đại hội chúng nghe giảng phật pháp.

Y theo tướng ánh sáng của Như Lai mà tu hành là y theo tướng ánh sáng của Như Lai mà tu hành quán tưởng, có thể làm cho trang nghiêm công đức thế giới Cực-Lạc ở tự tâm hiện ra lòng tin chắc an vui.

LUẬN VĂN: VÀO MÔN THỨ BA LÀ MỘT LÒNG CHUYÊN NIỆM PHẬT NGUYỆN SANH VỀ NƯỚC KIA, TU HÀNH QUÁN TỊCH TỊNH TAM MUỘI, ĐƯỢC VÀO THẾ GIỚI LIÊN HOA TẠNG GỌI LÀ MÔN THỨ BA.

Bình thường lòng chúng ta luôn luôn tán loạn phù phiếm không thể chuyên nhất. Thấy nghe ngữi biết đối với sắc của năm trần luân chuyển không ngừng.

Nếu chuyên quy hướng thế giới Cực-Lạc, đem tất cả tâm tán loạn gội rửa hết sạch, đó gọi là nhất tâm. Người chuyên niệm không luận tâm định tâm tán đều từ trong sát na sanh diệt, chẳng qua là ở trong tâm định, tuy có sanh diệt vì duyên một cảnh tiếp nối mà không biết nó là sanh diệt.

Tâm tán loạn trong sát na sanh diệt cũng có lúc gián đoạn. Như trong sát na thứ nhất nhận thức duyên theo sắc cảnh, sát na thứ hai nhỉ thức duyên theo thinh cảnh làm cho nhận thức gián đoạn. Nếu được nhất tâm thì mọi sát na không gián đoạn gọi là chuyên niệm.

Một lòng chuyên niệm gọi là hành CHỈ, do Chỉ làm ngưng dứt tán loạn tạp tâm được liền tịch tịnh. Nên Cổ Đức nói: Biết dừng rồi sau mới định, Định rồi sau mới tịnh. Tam muội dịch là Chánh Định. Hai món lễ bái, tán thán trước là Tán Tâm Tu. Tác Nguyện là Định Tâm Tu nên gọi là Hành Tam Muội. Nhờ Hành Tam Muội mà vào được thế giới Liên Hoa Tạng. Liên Hoa Tạng Thế Giới là thế giới An-Lạc của Phật A Di Đà.

Thế giới Cực-Lạc là cảnh giới Tam Muội. Y theo việc công đức trang nghiêm y chánh của thế giới Cực-Lạc, một lòng chuyên niệm không xen hở sẽ thành hạnh tam muội thì cảnh tam muội của Cực-Lạc hiện tiền nên nói có thể vào thế giới Liên Hoa Tạng của Cực-Lạc.

Nếu vào được Thế giới Liên Hoa Tạng tức là vào được Thật Báo Trang Nghiêm Độ của Phật A Di Đà (cõi thọ dụng) Thường người Tu Tịnh độ chỉ có lễ bái và tán thán, nếu tu Phát Nguyện môn này liền được vào thế giới Hoa Tạng. Nếu y chính phẩm vãng sanh mà luận là thượng phẩm thượng sanh. Như Tổ Long-Thọ nói: Bồ Tát Sơ Địa vãng sanh Tịnh Độ.

LUẬN VĂN: VÀO MÔN THỨ TƯ LÀ CHUYÊN NIỆM QUÁN SÁT TRANG NGHIÊM VI DIỆU CÕI KIA NÊN TU QUÁN, ĐƯỢC ĐẾN CÕI ẤY THỌ DỤNG CÁC THỨ PHÁP VỊ AN VUI GỌI LÀ VÀO MÔN THỨ TƯ.

Quán là căn cứ vào Chỉ mà khởi, Lể Bái Tán Thán ở trước là tư lương của Chỉ, nếu thêm tinh tấn thì chính là Chỉ. Ở trong Chỉ trước phải tu Lễ bái Tán Thán, xa lìa nạn ma thì tu Chỉ dễ thành.

Quán cần phải ở sau Chỉ mới thành tựu nên nói: Vì chuyên niệm quán sát, cõi kia chính là cõi công đức trang nghiêm thành tựu của Phật. Pháp vị lạc là Giác pháp của Vô Thượng Bồ Đề.

Người tu Tịnh Độ chỉ tu Lễ Bái Môn tuy được sanh về Tịnh Độ biến hóa nhưng không được nghe Phật pháp. Y theo lễ bái tán thán mà tu, sanh vào biến hóa Tịnh Độ, cũng có thể vào trong đại hội thấy Phật nghe pháp. Tu theo ba môn lễ bái, tán thán, phát nguyện được vào thật báo trang nghiêm độ, cõi thọ dụng của Phật A Di Đà.

Tu bốn môn Lễ bái, Tán thán, Phát nguyện, Quán sát có thể ở trong Tịnh Độ thọ-dụng mà hiểu biết rõ ràng được thọ dụng chơn thực. Như người trong nhà không quán sát hiểu biết kỷ các vật, không thể thọ dụng được hết những vật dụng trong nhà, nếu quán sát kỷ được các vật thì tùy ý thọ dụng. Bồ Tát vãng sanh Tịnh Độ lại cũng như thế.

Người tu Tác Nguyện ở trên chứng vào Sơ – địa, nhờ Quán Sát mà từ Sơ – địa lần lượt tiến lên cho đến khi viên mãn quả vô thượng bồ đề. Thọ dụng các thứ pháp vị an-lạc.

LUẬN VĂN: MÔN THỨ NĂM LÀ DÙNG LÒNG ĐẠI TỪ BI QUÁN SÁT TẤT CẢ KHỔ NÃO CỦA CHÚNG SANH, BẰNG LÒNG HÓA THÂN TRỞ VÀO VƯỜN SANH TỬ, RỪNG PHIỀN NÃO, HIỄN LỘ THẦN THÔNG, ĐẾN CHỖ GIÁO HÓA, DÙNG SỨC BỔN NGUYỆN RA TAY NÊN GỌI LÀ MÔN THỨ NĂM.

Đại Thừa Bồ Tát phải có tâm khắp độ tất cả chúng sanh, ở đâu có nhu yếu cần là có Bồ Tát đến giúp đở. Kẻ phàm phu tâm cầu vui, tu các pháp nhơn thiên như Ngủ giới, Thập Thiện liền được thọ dụng an vui của trời người. Hàng Nhị Thừa lòng họ chỉ biết tự lợi, tu theo pháp Tứ Đế, Thập Nhị Nhơn Duyên chỉ mong tự lợi không cần phát Tâm Đại Bồ Đề. Pháp môn Tịnh -Độ là chủng tánh giới của Đại Thừa.

Vì thế người tu Tịnh-độ phải Phát Tâm Đại Thừa Bồ Tát. Đã có Tâm Đại Thừa, Bồ Tát sẳn sàng vào tất cả thế giới khổ não, phổ độ chúng sanh. Nên Bồ Tát trước tu bốn môn sau đó hồi hướng. Hồi hướng này là hạnh độ sanh. Bồ Tát phải đến địa vị thượng phẩm thượng sanh mới có thể làm nổi.

Vì Bồ Tát địa thượng mới có đủ năng lực trở về thế giới khổ, phổ độ chúng sanh. Còn Bồ Tát không ở địa vị Thượng Phẩm Thượng sanh cần phải ở lại thế giới Cực-Lạc, nghe Phật pháp, tự tu công đức đầy đủ mới Phát nguyện hồi hướng.

Tâm Từ Bi là vì việc chung, vì mỗi người mà làm, việc làm không có hạn lượng, không có ngằn mé, phục vụ công chúng đó là lòng từ bi. Đem lòng đại từ bi này mà phát nguyện vãng sanh, đã được vãng sanh rồi tu hạnh từ bi, như thầy thuốc đi học thuốc vì muốn trị bệnh cho người, nếu không có người bệnh để trị thì việc học thuốc

của thầy cũng trở thành vô ích. Bồ Tát cũng thế, nếu không độ chúng sanh thì diệu dụng của Bồ Tát cũng trở thành vô ích, dù có diệu dụng cũng chỉ bằng không.

Vì thế, Báo thân của Bồ Tát tuy thường bất động ở thế giới Liên Hoa Tạng, nhưng vẫn dùng ứng hóa thân vào vườn sanh tử, rừng phiền não, làm cho chúng sanh mau đoạn phiền não khỏi khổ sanh tử, đồng sanh Cực-Lạc đồng chứng Bồ Đề.

Các Ngài dùng thần thông dạo chơi, đến chổ giáo hóa, hiện tướng thành đạo, hiện tướng Phàm Phu, Nhị Thừa, Bồ Tát. Tóm lại tất cả chổ phiền não, sanh tử đều là nơi giáo hóa của Bồ Tát.

LUẬN VĂN: BỒ TÁT VÀO BỐN MÔN, HẠNH TỰ LỢI THÀNH TỰU, BỒ TÁT RA MÔN THỨ NĂM LÀM LỢI ÍCH CHO NGƯỜI KHÁC, HẠNH HỒI HƯỚNG THÀNH TỰU CẦN NÊN BIẾT.

Đây là nói bốn môn đầu thành tựu hạnh tự lợi, một môn cuối thành tựu hạnh lợi tha. Nhưng Bồ Tát tự lợi tức là lợi tha, vì có lợi tha nên thành tựu tự lợi, không thể riêng làm tự lợi mà thành tựu tự lợi được.

LUẬN VĂN: BỒ TÁT TU HÀNH NĂM MÔN NHƯ THẾ CÓ ĐỦ HẠNH TỰ LỢI VÀ LỢI THA, MAU ĐƯỢC THÀNH TỰU QUẢ A NẬU ĐA LA TAM MIỆU TAM BỒ ĐỀ.

A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề dịch là vô thượng chánh đẳng chánh giác. Tu đủ năm môn thì tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, nên chứng viên mãn Bồ Đề. Nói mau chứng là đứng về cận môn mà luận: So sánh với người lăn lộn trong sanh tử thì đã mau chóng thoát khỏi. Tu đến môn thứ tư, thứ năm không chỉ mau được mà phải nói thoát sanh tử ngay. Vì thế, người Tu Tịnh Độ đối với năm môn này phải cần tu tập, chắc chắn mau thành Phật Quả.

Mùa An-Cư Đinh Mão (1987)

ĐÔI DÒNG GỢI Ý

Chúng tôi kèm kinh BÁT ĐẠI NHƠN GIÁC vì nhận thấy các lợi ích như sau:

*/ Đối với Quý vị đang tầm đạo hoặc mới học đạo, kinh này giúp hiểu rõ sự thật của cõi đời này và phương hướng tu hành.

*/ Đối với Quý vị đang tu tập pháp môn Tịnh Độ, kinh này rất hữu ích giúp Tâm mau được an tịnh do thường quán thấy chán ngán cõi Ta-Bà.

*/ Đối với tất cả Quý vị đang tu hành đạo Giáo Ngộ, nói chung, kinh này là người bạn đồng hành quý báu nhắc nhở chúng ta phương hướng hành đạo khỏi bị sai lệch.

Trân trọng giới thiệu cùng quý vị.

The post LUẬN VÃNG SANH appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/luan-vang-sanh.html/feed 0