Thư Viện Tỳ Khưu Ni Thích Nữ Minh Tâm – Bạch Hạc – Phật Giáo Việt Nam https://bachhac.net Thu, 23 Apr 2020 02:14:42 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=5.8.1 Hạt Giống Bồ Đề – Nguyên nhân và mục đích Xuất Gia https://bachhac.net/hat-giong-bo-de-nguyen-nhan-va-muc-dich-xuat-gia.html Thu, 23 Apr 2020 02:14:42 +0000 https://bachhac.net/?p=3189 Một người khi sinh ra đời, không phải ngẫu nhiên mà họ trở thành người tốt hay kẻ xấu. Chính sự tiếp xúc và tác động trực tiếp hoặc gián tiếp từ gia đình, người thân hay bạn bè xung quanh có ảnh hưởng rất lớn đối với người ấy. Việc hình thành nền tảng …

The post Hạt Giống Bồ Đề – Nguyên nhân và mục đích Xuất Gia appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
HẠT GIỐNG BỒ ĐỀ

Một người khi sinh ra đời, không phải ngẫu nhiên mà họ trở thành người tốt hay kẻ xấu. Chính sự tiếp xúc và tác động trực tiếp hoặc gián tiếp từ gia đình, người thân hay bạn bè xung quanh có ảnh hưởng rất lớn đối với người ấy. Việc hình thành nền tảng nhân cách đạo đức cũng như tâm tính của người này phụ thuộc phần nhiều vào các yếu tố khách quan tồn tại. Nói khác đi, chính hoàn cảnh sống và môi trường cộng trú chung đã phôi thai gần như toàn bộ nhận thức, tâm tư và tình cảm của họ. Sau này, họ có chững chạc, trưởng thành và tốt đẹp hay không, có bị xấu xa, lầm lỗi, tai tiếng hay không, môi trường tiếp xúc xung quanh ít nhiều vẫn là nguyên nhân quyết định.

Môi trường xuất gia là một môi trường tốt, có thể nói là nơi giáo dục nhân cách, đào tạo con người tốt đẹp và tuyệt vời. Đó là cách nhìn nhận và thẩm quyết chung. Bởi giản đơn, đời sống xuất gia bao giờ cũng thanh thoát, nhẹ nhàng, hạnh phúc và an lạc hơn người thế tục. Không phải người thế tục không có hạnh phúc, bình an, song dường như những điều này chỉ thoáng qua trong ngắn ngủi, tạm thời, còn lại là chuỗi ngày dài của bao âu lo, khổ đau lúc nào vẫn cứ như song hành, tiếp bước. Rất hiếm khi hạnh phúc đến với người ta miên viễn trọn đời, đa phần là ngược lại. Riêng người xuất gia không hẳn hoàn toàn khác xa với người thế tục, nghĩa là họ cũng có những lúc buồn khổ, âu lo. Nhưng những khi rơi vào trạng huống như thế, người xuất gia biết khôn ngoan tỉnh táo, chánh niệm và bình tâm để nhận diện, chuyển hóa não phiền. Do vậy, khổ đau kia sẽ vơi đi rất chóng. Ngay đây, sự an tĩnh nội tâm kịp thời được thiết lập, khả năng cân bằng trạng thái được củng cố, người xuất gia sẽ tìm lại sự bình an, thanh thản cho thân tâm.

Có nhiều nguyên nhân để khiến người ta phải xuất gia, từ bỏ gia đình để sống một đời không buộc ràng, vướng bận. Dù người ấy nhỏ tuổi hay lớn khôn, đã thành đạt huy hoàng hay chưa có danh vọng, địa vị gì trong xã hội; dù là người thuộc mọi giai tầng, thứ bậc nào hay dù người ấy có là gì đi chăng nữa; dẫu rất khác xa nhau trên tất cả phương diện, nhưng trong họ vẫn tồn tại ở một điểm chung: họ đã thẩm thấu, giác ngộ được một sự thật, một chân lý đích thực gì đó của cuộc đời. Sự thật, chân lý đó có thể là một yếu tố khổ đau, có thể là những nghĩ suy về sự phù du, tạm bợ của kiếp người, hay cũng có thể là một thoáng vô thường mong manh nơi cõi thế. Từ đó, trong họ chợt nảy nở tình thương. Tự nhiên, họ biết thương cho những đau khổ của bản thân, biết thương và bắt đầu biết quan tâm đến sự khổ đau của nhiều người xung quanh họ. Bởi có thương nên họ muốn làm một điều gì đó để đánh thức, kêu gọi yêu thương, hầu xoa dịu phần nào những đau khổ dẫy đầy mà con người đang ngày đêm đối mặt. Họ biết chỉ có xuất gia là con đường duy nhất giúp họ có cơ hội ấy, để họ có thể bước lên trên đỉnh yêu thương, có thể mở rộng vòng tay để sẵn sàng hiến dâng, ban tặng. Tình thương ấy, vì thế, thật vô cùng thanh cao và đẹp đẽ; tâm như thế, quả là những nhân tố đầu tiên của hạt giống Bồ-đề.

Ai xuất gia cũng có hạt giống Bồ-đề. Bởi hạt giống Bồ-đề là hạt giống của thương yêu và hiểu biết. Do thấu hiểu con người và cuộc đời đau khổ, trong tâm người ấy mới phát khởi tình thương. Hun đúc lớn mạnh tình thương, người xuất gia khao khát và trông mong chính mình sẽ trực tiếp hoặc trung gian giúp con người và cuộc đời vơi đi đau khổ. Hạt giống Bồ-đề do đó, rất cần thiết phải được thường xuyên vun bồi, tưới tẩm; phải biết chăm sóc làm sao để mỗi ngày đi qua, hạt giống Bồ-đề trong tâm người xuất gia phải mỗi ngày thêm lớn. Đến một lúc, hạt giống Bồ-đề ấy sẽ đâm chồi nảy lộc, phát triển thành cây và dâng hoa trái cho đời.

Mỗi người xuất gia được ví như một hạt giống Bồ-đề. Trong họ luôn tồn tại chất liệu của yêu thương và hiểu biết. Nếu người làm vườn chỉ đơn thuần gieo hạt mà không biết chăm sóc, tưới nước, bón phân v.v… thì sớm muộn gì, hạt giống kia sẽ héo khô, tàn úa. Không thể nói rằng chỉ gieo hạt vào lòng đất lạnh, cứ để tự nhiên hạt giống sẽ phát triển, nảy mầm. Người làm vườn không thể bỏ mặc cho hạt trơ trọi một mình, càng không thể phó thác hoàn toàn vào các yếu tố xung quanh tác động! Hạt giống Bồ-đề của người xuất gia cũng vậy, phải được sự yểm trợ, soi sáng và dìu dắt của đoàn thể chúng tăng!

Chúng ta có suy nghĩ gì không khi ai đó nói rằng, thực trạng hạt giống Bồ-đề ngày nay của người xuất gia đang dần bị tiêu mòn và thoái hóa? Người xuất gia sống trong một môi trường mà nơi đó, sự tu tập cũng như tình thương yêu của đại chúng không được những vị lãnh đạo có trách nhiệm nhắc nhở, bảo bọc, quan tâm. Họ sống trong chùa mà cứ như một quán trọ ở tạm, dừng chân, thoạt đến thoạt đi không cần phải oai nghi, phép tắc. Ngày mới thế phát xuất gia, người ấy luôn ấp ủ trong tim một hoài bão lớn, một tình thương yêu rộng mở vô bờ. Họ khao khát và tự ý thức cần phải có trách nhiệm hướng tới bờ giác ngộ xa kia, nơi chân trời của những khổ đau vắng bóng. Họ hăm hở như một chiến sĩ ra sa trường diệt giặc, sẵn sàng đối mặt và đương đầu với bao thử thách, gian nguy. Bởi trong họ có tình thương. Yếu tố này như chất xúc tác có hiệu năng giúp họ thực thi được nhiều lý tưởng. Và họ đã xuất gia. Song, thực tế từ khi xuất gia, chính vì không được tu học trong một môi trường tốt đẹp; không được thầy thương, bạn mến; sự tương thân tương ái quá yếu, ai ai cũng biết lo cho mình; không được sự chỉ dạy, nhắc nhở v.v… nói chung là những năng lượng bảo bọc của tăng đoàn, yếu tố sơ tâm hay hạt giống Bồ-đề trước kia sẽ không chuyển mình phát triển được. Bao hoài bão xanh trong của buổi ban sơ đã trôi theo sự giận hờn, vị kỉ. Rồi họ sẽ nhanh chóng quên bẵng đi họ là một vị xuất gia, quên đi trách nhiệm lớn lao mà những người thân, bè bạn cũng như tất cả mọi người đang tin tưởng và đặt nhiều kỳ vọng. Trong trường hợp này, vị ấy đã dần chết lịm, cũng như người làm vườn kia không biết chăm sóc hạt, cứ gieo mầm trên những mảnh đất cằn khô.

Nhưng có đúng không khi chúng ta quy kết mọi trách nhiệm và lỗi lầm lên người lãnh đạo, hay người lãnh đạo trách cứ ngược lại các vị xuất gia? Và có đúng không khi ai đó lại nói rằng, tất cả sự việc trên đều do môi trường và hoàn cảnh sống xung quanh tác động? Nếu vậy, cần thiết chăng chúng ta phải cải tạo môi trường sống ngay từ bây giờ? Cũng có rất nhiều vị thầy thương yêu, chăm lo cho đệ tử, thầm lặng một đời hy sinh cho đồ chúng rất nhiều. Nhưng những người đệ tử ấy lại vô phép, bướng bỉnh, coi sự quan tâm này như là một rào cản buộc ràng. Thế nên, vị đệ tử ấy nhanh chóng tìm cách thoát ra, sống riêng mình trong một thất nhỏ, một am tranh để được tự do, thoải mái. Rơi rớt đối với người xuất gia này, ngang đây có thể thấy được. Bởi người xuất gia ấy ở riêng, không còn nhận được năng lượng tiếp trợ và soi đường của toàn thể đại chúng, không chóng thì chầy, hạt giống Bồ-đề của vị ấy sẽ tàn phai, biết mất, tình thương yêu sẽ xóa dấu trong tâm. Khi đó, sức mạnh thế gian và sự quyến rũ của dục trần sẽ dễ dàng kéo lôi vị ấy quay về cuộc đời thế tục.

Vậy nên, trước khi xuất gia, người ấy phải sáng suốt khôn ngoan, tìm hiểu và lựa chọn cho mình một bậc minh sư để nương tựa trọn đời, một môi trường tốt, một đại chúng an hòa, trang nghiêm thanh tịnh. Chính điều này là những yếu tố tương quan căn bản, giúp hạt giống Bồ-đề trong tâm vị ấy nảy nở và lớn mạnh thêm lên. Vị ấy rồi sẽ tìm được hạnh phúc, an vui; lý tưởng và hoài bão xuất gia của vị này sẽ dựa vào nền tảng trên làm bệ phóng vững chắc. Họ sẽ sống đích thực với đời sống của một vị xuất gia, sẽ nói và làm với tư cách của một bậc xuất trần thượng sĩ.

Tập sách “Hạt giống Bồ-đề” này được hình thành xuất phát từ bao lý tưởng, khao khát, trông mong của những người xuất gia, nhất là những người xuất gia trẻ. Tập sách là một tập hợp vỏn vẹn chỉ có mười hai bài viết của mười hai sư chú còn rất thơ, rất trẻ. Mỗi bài viết như một trang màu chưa hoen ố, trên ấy hằn in những hoàn cảnh, nỗi niềm, tâm sự khác nhau. Có sư chú đi xuất gia để bệnh được mau lành, có sư chú xuất gia vì muốn gia đình không còn theo nghiệp sát; cũng có sư chú xuất gia bởi từ nhỏ đã được sinh hoạt, học tập theo Gia đình Phật tử, và cũng có sư chú xuất gia vì cảm thấy cuộc đời có một điều gì thật ngắn ngủi, vô thường. Lời lẽ mỗi bài dù rất bình dị, mộc mạc, đơn sơ, nhưng bàng bạc trong đó chất trẻ trung, trong sáng, chân thành và rất hồn nhiên dễ làm cho người xem cảm thông và đồng điệu. Làm sao không thể đồng điệu và cảm thông khi qua mỗi bài, mỗi sư chú đều nói lên tiếng nói trung thực xuất phát từ tận nguyện vọng, tâm tư cũng như nguyên nhân và mục đích xuất gia của mình! Tất cả đều có cùng một điểm chung: nguyện xuất gia để giúp mình, giúp người thêm vui, bớt khổ.

Chúng ta trân trọng và thương quý biết bao trước những tâm hồn trong sáng, tinh khôi, hiền lành của những người xuất gia trẻ ấy. Bởi chúng ta tin nhờ vào môi trường tốt đẹp, hạt giống Bồ-đề trong tâm những vị ấy sẽ mau chóng nảy mầm. Chúng ta cũng tin tưởng những hạt giống Bồ-đề này sẽ nhận được nhiều và thật nhiều hơn sự yểm trợ, dắt dìu từ bạn, từ thầy để mỗi ngày đi qua, hạt giống Bồ-đề sẽ được vun bồi, trưởng dưỡng. Chúng ta biết chắc rồi đây, sẽ có một sớm bình minh kia, những hạt giống Bồ-đề này sẽ vươn thân đâm nhánh, tỏa bóng bình yên che mát cho chúng sinh.

Xin trân trọng kính ghi vài dòng cho tập sách này như một lời chúc phúc tốt lành, nguyện cầu đạo tâm tôi luôn vững bền, kiên cố, cũng như hướng nguyện điều này đến mười hai hạt giống Bồ-đề huynh đệ của chúng tôi!

Cầu chúc cho những ai có duyên đọc được tập sách nhỏ bé này, nếu đã xuất gia, sẽ tưới tẩm mạnh hơn hạt giống Bồ-đề; còn chưa xuất gia, sẽ phát khởi Bồ-đề tâm xuất gia tu học!

Tâm Khánh

Con nghĩ đạo Phật là nơi nương tựa cho chúng sinh, đem lại an vui và hạnh phúc đến mọi lồi. Cách phát tâm xuất gia của mỗi người tuy cĩ nhiều trường hợp khác nhau nhưng mục đích chung vẫn là hướng đến con đường giác ngộ, giải thốt…

Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật!

Bạch thầy! Con xin trình bày về nguyên nhân và mục đích xuất gia của con.

Sống trên cõi đời này, mỗi người đều có những ước mơ và nguyện vọng riêng của mình. Người thì thích đi học để làm kỹ sư, bác sĩ; người không có khả năng thì chọn cho mình một nghề thích hợp. Dù có làm ngành nghề nào đi nữa, mục đích cũng chỉ là để nuôi sống bản thân và gia đình. Duy chỉ có con đường xuất gia của đạo Phật là con đường đi đến sự giác ngộ giải thoát, làm lợi lạc cho tất cả chúng sinh, giúp mình và mọi loài được an vui hết khổ. Riêng con xuất gia là điều con mong muốn.

Hồi còn học trường tiểu học ở miền quê, con có tham gia vào Gia đình Phật tử. Mỗi tuần vào ngày chủ nhật, con đều đến chùa tụng kinh và sinh hoạt.
Khi lên trung học, mỗi ngày đi học một buổi, buổi còn lại theo cha phụ việc. Vì thế, đối với nghề nghiệp của cha mình, con cũng học được đôi chút.

Lên cấp ba, con vào thành phố để học vì ở miền quê không đủ điều kiện. Tốt nghiệp lớp 12 xong, con đăng ký thi vào đại học nhưng bị hỏng. Sau đó, con tiếp tục ôn tập để thi lại. Học được nửa năm, con lại về nhà vì gia đình khó khăn kinh tế. Ở nhà, vừa phụ gia đình vừa học lại nghề, trong vòng một năm con đã làm được việc. Làm việc hai năm, con bị bệnh. Tuy không nặng lắm nhưng lại thường xuyên. Con vào thành phố để chữa bệnh. Người ta chỉ cho con nên đến chùa để trị, vì ở đó có quý thầy chữa bệnh rất giỏi.

Tìm đến chùa, con xin ở lại một thời gian để chữa bệnh. Trong thời gian này, con mượn những quyển sách giáo lý nhà Phật để đọc. Khi biết được chút ít nhân quả, con hiểu rằng sở dĩ mình bệnh nhiều là do đời trước sát sinh hại vật, đời này phải trả quả báo. Lúc đó, con nghĩ nếu đời này không lo tu thì đời sau sẽ càng đau khổ hơn nữa, sẽ đọa vào ba đường ác, chịu trăm nghìn khổ não… Nghĩ đến đó, con liền muốn tu hành để được giải thoát. Chữa trị được thời gian, bệnh tình thuyên giảm, thầy hỏi con có muốn xuất gia không, con thưa rằng phải về xin phép ba mẹ. Sau khi trình bày sự việc, ba mẹ con liền đồng ý cho xuất gia.

Ở chùa công quả một thời gian, thầy mới thế phát. Sau khi xuất gia, thầy thử con bằng nhiều cách xem thử con có những tánh tham lam, lười biếng hay không… Sau đó, con phải xin thầy về chùa quê để tu học vì thầy là người theo phái Cổ Sơn môn, chỉ chuyên đi cúng.

Về chùa quê được một năm, con lại chuyển đến chùa Hoằng Pháp. Con đến được nơi đây là nhờ người chị giới thiệu. Con cũng biết được thầy là vị thầy chân chính, chùa tu pháp môn Tịnh độ hợp với tâm niệm của con. Mục đích xuất gia của con là cố gắng học giáo lý Phật pháp, đem những điều đã học áp dụng vào đời sống hằng ngày, sau sẽ chia sẻ với nhiều người để cùng nhau tu tập và làm cho đạo Phật ngày càng phát triển.

Tóm lại, vì bệnh khổ mà con phát tâm xuất gia. Đó là cách phát tâm không chân thật. Nhưng con nghĩ nếu cõi đời này không có những nỗi khổ về sinh, già, bệnh… thì việc phát tâm xuất gia giải thoát là điều rất khó. Con nghĩ đạo Phật là nơi nương tựa cho chúng sinh, đem lại an vui và hạnh phúc đến mọi loài. Cách phát tâm xuất gia của mỗi người tuy có nhiều trường hợp khác nhau nhưng mục đích chung vẫn là hướng đến con đường giác ngộ, giải thoát.

Tâm Đại

Hôm nay xuất gia, do thương xót chúng sinh chưa hiểu đạo, chưa biết đến con đường giải thoát nên phải sống trong thất tình ngũ dục, bị luân hồi đau khổ nhiều kiếp, nhiều đời. Lại xuất gia bởi nhớ ơn Phật đã thị hiện vì con đường thoát khổ của chúng sinh…

Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Kính bạch thầy!

Sáng nay, nghe thầy nói về đề tài “Vì sao xuất gia”, con mới sực nhớ lại quãng thời gian khó khăn, gian khó khi chưa được xuất gia. Lòng con tự nhiên bồn chồn, xúc động và xao xuyến. Con tự nghĩ vì sao mình lại có cảm giác đó?

Hồi tưởng lại những tháng năm quá khứ, mọi việc hiện ra dường như mới hôm qua. Con xuất thân trong một gia đình nghèo, ba mẹ đau ốm liên miên, nhưng con chẳng biết gì cả, cứ mê mờ một cách điên đảo, rất vô tư trước hoàn cảnh gia đình. Còn ba mẹ ngày đêm làm việc cật lực nuôi bốn người con.

Thời gian trôi đi rất nhanh, con đã lớn và vô tình gặp được chân lý đạo Phật, đó là một luồng sáng mãnh liệt sáng chói đời con. Con nhớ nhà thơ Tố Hữu có bài thơ Từ Ấy:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lý chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim.

Đây là chân lý cách mạng. Còn ánh sáng đã chói xuyên tim con là ánh sáng của trí tuệ – từ bi và giải thoát…

Từ đó con bắt đầu hành Tứ niệm xứ. Ngày đi học, đêm về ngồi thiền, không biết mệt mỏi. Sau hai năm thực hành, sức chánh niệm đã phát khởi. Lúc đó, con nhìn cuộc đời với con mắt khác thường, như là khổ mọi bề mà không biết là khổ… Có nhiều lúc, tâm lý con tràn ngập lòng từ bi, nhìn ai cũng thương xót, kể cả con vật.

Tình thương của con không có giới hạn và không phân biệt. Có thể nói con thương tất cả mọi người, mọi vật như “con đỏ” vậy. Rồi có khi ngồi một mình, tự nhiên nhìn mọi người mà nước mắt chảy ra. Nhìn Phật con cũng chảy nước mắt vì Phật thương chúng sinh lắm, mà chúng sinh không biết được. Tình thương của con lúc đó vừa nồng ấm, da diết, vừa đậm đà, bao la. Con biết lúc đó con bị “ma bi” xâm nhập rồi nhưng con chưa xả ngay được.

Hoàn cảnh nhà nghèo nên con cũng dần hiểu ra và biết thương ba mẹ. Ba mẹ thức khuya dậy sớm để lo miếng cơm cho con no bụng, tạo dựng cho đời con mảnh áo ấm thân. Ngày con còn bé, ba mẹ dắt tay con đến trường tìm thầy, hỏi bạn, rồi lo cho con học chữ, học nghề. Bao nhiêu tinh hoa của ba mẹ thể như đã truyền hết cho đời con. Rồi ngày qua tháng lại thân con đau bệnh, ba mẹ thường hay khấn hứa cầu vái ông bà tổ tiên, miệng luôn lâm râm cầu nguyện, làm sao cho con khỏi bệnh. Tình thương này không thể diễn tả bằng lời được. Nhưng rồi đến khi cả ba mẹ bệnh nặng, con cũng chẳng biết làm gì, bao nhiêu của cải tích góp đều dùng vào tiền thuốc thang. Con định bỏ học nhưng nhờ thầy cô, bạn bè giúp đỡ mới học hết cấp ba. Sau con vào miền Nam, tự nhiên lại phát tâm muốn xuất gia, không đi theo con đường của ba mẹ và mọi người, nên con đã viết thư gởi về nhà để trình bày ý nguyện. Sau ba ngày điện thoại hỏi ba thì nghe ba khóc khan cả tiếng, nói không ra lời. Đầu tiên, con nghe ba khóc và mẹ bỏ ăn hai ngày, chỉ ngồi mà khóc thôi. Con cảm động đến rơi nước mắt, liền nói lời xin lỗi ba mẹ và lên xe về nhà luôn.

Thời gian sau, ông nội con sắp mất vì bệnh nặng, con rất buồn vì với con, ông nội như một người bạn thời thơ ấu. Con thấy ông nội tái mặt và không thở, các ngón tay còn hơi động đậy. Thế là lát sau, ông đã ra đi về cõi vĩnh hằng.

Sau mười ngày ông mất, con đã bỏ nhà ra đi vào đêm khuya khoảng 1h10 phút và để lại một tờ giấy cho ba mẹ: “Xin ba mẹ hãy yên tâm…”. Đi dọc bờ biển gió rất lạnh, sóng xô vào bờ bọt trắng xóa. Trên thì cây cối đen xì và cao như những người khổng lồ, dưới con bước nhanh thoăn thoắt. Không hiểu sao lúc đó, con lại không sợ ma? Hình như có một sức mạnh vô hình trong lòng con trỗi dậy, “đó chính là Bồ-đề tâm”. Đêm đó, ngủ ngoài biển rất lạnh, lạnh đến thấu xương nhưng con vẫn cố gắng giữ ấm cơ thể. Hôm sau, con đến một ngôi chùa và ở đó gần bốn tháng để làm công quả. Thời gian sau, con về nhà và mọi người đều biết con đi tu. Thế là làng xóm bàn tán chê bai, nhưng con vẫn im lặng. Song, người gánh nặng niềm đau lớn nhất chính là ba mẹ của con. Dù ba mẹ nói cho con đi tu, nhưng trong lòng không nỡ.

Ít lâu sau, vì muốn vào chùa Hoằng Pháp (một người bạn giới thiệu cho con biết) làm công quả, nên con đã ba lần đi bán máu để lấy tiền trốn đi nhưng cả ba lần không biết vì sao không được.

Khi ba mẹ thấy không thể cản được ý nguyện của con nên mới miễn cưỡng đồng ý. Lúc đó, mẹ nhìn con với hai dòng lệ nhỏ. Con cũng khóc, tự nhiên thấy thương ba mẹ vô cùng.

Hôm nay xuất gia, do thương xót chúng sinh chưa hiểu đạo, chưa biết đến con đường giải thoát nên phải sống trong thất tình ngũ dục, bị luân hồi đau khổ nhiều kiếp, nhiều đời. Lại xuất gia bởi nhớ ơn Phật đã thị hiện vì con đường thoát khổ của chúng sinh. Hơn nữa, tận mắt chứng kiến sự ra đi của ông nội con nên đã thức tỉnh và thương lấy chính mình rồi cũng sẽ có ngày như vậy. Mà nhất là, con xuất gia vì thương ba mẹ con chưa biết đạo và con đường giải thoát lìa khổ được vui.
Nam mô A-di-đà Phật.

Tâm Huy

Con nguyện tu hành với mục đích là có điều kiện tinh tấn, siêng năng trau dồi đạo đức, rửa sạch tham, sân, si để rồi mai đây sẽ có một ngày, con dùng chính sự hiểu biết, đức độ và trí tuệ của mình để giúp nhiều người chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau, đạt được giá trị hạnh phúc chân thật bằng cách phổ biến giáo lý của Phật để ai ai cũng được an vui, giải thoát…

Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật!

Kính bạch trên thầy!

Con là Phạm Quốc Việt, pháp danh Tâm Huy, năm nay 22 tuổi. Là Phật tử tại gia có lòng ngưỡng mộ đạo pháp, đặc biệt lại tin sâu về luật nhân quả. Thay vì cầm tấm bằng “kế toán” vào công ty, doanh nghiệp làm việc thì con lại chọn con đường xuất gia tìm cầu giải thoát sinh tử.

Có lẽ là một duyên lành thật lớn của con, được may mắn sớm gần ngôi Tam Bảo, tiếp cận chùa chiền, kết duyên với Phật. Vào những ngày lễ được theo họ hàng, anh em, bạn bè đến chùa tham quan, lễ bái, làm công quả hay nhiều lần cùng quý thầy, quý sư cô làm bánh chưng, nấu cơm, quét rác… con được nghe và tiếp chuyện cùng với quý thầy, quý sư cô ít nhiều về giáo pháp của đức Phật. Trong con đã nhận thức được đời sống tu hành vốn đạo đức và cao thượng. Thế nhưng, những ngày ấy con chỉ muốn làm một cư sĩ tu tại gia vì tuổi còn nhỏ, còn phải đi học. Giả như muốn xuất gia thì chắc chắn ông bà, bố mẹ không đồng ý, cũng có thể là vì sợ con không chịu nổi sự thiếu thốn và bao quy củ nơi chốn tòng lâm. Nhưng những ý nghĩ ấy đã thay đổi hẳn khi con đã tốt nghiệp 12 và đi học “kế toán”. Trong thời gian này, vì nhà xa nên phải ở trọ. May mắn thay, con được ở trong nhà Phật tử có ba người đi tu. Ở đây, con đã thật sự phát tâm Bồ-đề, có ý nguyện xuất gia tu học.

Được nghe và biết ít nhiều giáo lý, con thật sự hiểu đời là vô thường, không biết thân này già, bệnh rồi chết lúc nào. Có sinh phải có tử, có hợp phải có tan, có thành ắt có bại. Đó là sự thật. Hiểu rằng nếu đem cả cuộc đời này để tìm cầu tiền bạc, danh dự, sắc đẹp của trần tục thì cả đời cứ mãi bôn ba chẳng giải thoát được. Vì thế, con nghĩ chỉ có con đường xuất gia đi theo đức Phật mới hết khổ, mới có thể đền đáp được công ơn của ông bà, ba mẹ nhiều kiếp nhiều đời. Các bậc thánh, tổ cũng từ hai chữ xuất gia mà được. Nhìn lại thân phận của con có gì để vướng bận đâu. “Vợ còn chưa có lấy đâu con”. Vì thế, thời gian này là thời gian tốt nhất để con xuất gia nương tựa quý thầy tu học.

Nếu có ai đó hỏi con rằng: ở nhà tu cũng được đấy thôi? Xin được thưa rằng: Con không muốn tu mù, con không thể tự lực được mà con cần có thầy, cần bạn để nương tựa. Nếu con ở ngoài đời thì nơi đây có đầy ngũ dục lôi kéo, rồi dính mắc gia đình, tài sản, bao nhiêu thứ ràng buộc hết sức nặng nề. Với lại, việc tu hành đâu là chuyện của một ngày, hai ngày, đâu phải là vấn đề của cá nhân. Con nghĩ, muốn giải thoát sinh tử thì chỉ có một phương pháp duy nhất là xuất gia. Và con đã lựa chọn.

Sau khi xuất gia rồi, con sẽ được đại chúng dạy bảo, hướng dẫn, đỡ nâng, khuyến khích con trên bước đường tu học. Con nguyện tu hành với mục đích là có điều kiện tinh tấn, siêng năng trau dồi đạo đức, rửa sạch tham, sân, si để rồi mai đây sẽ có một ngày, con dùng chính sự hiểu biết, đức độ và trí tuệ của mình để giúp nhiều người chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau, đạt được giá trị hạnh phúc chân thật bằng cách phổ biến giáo lý của Phật để ai ai cũng được an vui, giải thoát.

Kính bạch thầy!

Trên đây là những tâm tư, suy nghĩ, ý nguyện từ đáy lòng con. Con biết để ý nguyện đó trở thành hiện thực thì con phải cố gắng rất nhiều. Mong thầy cùng quý thầy dang rộng cánh tay từ bi chỉ dạy để con được trọn đời tu học. Nguyện sẽ noi gương và vâng theo lời dạy của thầy, đoàn kết lẫn nhau, tiếp nối và kế thừa đạo hạnh của chư Phật, chư tổ.

Nam mô A-di-đà Phật!

Tâm Luân

Con biết mỗi người đều có một chí nguyện khác nhau nhưng đối với bản thân, con xuất gia trước hết vì mong cầu giải thoát. Trước độ mình sau mới độ người; trên cầu giáo pháp Như Lai, dưới độ chúng sinh hết khổ…

Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Kính bạch thầy!

Con xin trình bày nguyên nhân và mục đích xuất gia.
Nói đến hai chữ “xuất gia” là lòng con nao nức bồi hồi, mãi nhớ đến giây phút thiêng liêng cao quý ấy được thầy làm lễ thế phát. Đó là ngày 15/ 03/ 2006, là ngày mà cuộc đời con dường như thay đổi hẳn, từ một người phàm tục nay đã tìm ra con người phạm hạnh thanh cao, tìm đến một chân trời an lạc và giải thoát.

Trong cuộc sống có biết bao nhiêu điều mới mẻ. Sự hấp dẫn của chúng luôn khiến người ta phải lao mình vào để hưởng thụ, tìm cầu. Do thế, họ phải tranh đua, giành giật lẫn nhau. Và những điều này chính là nguyên nhân sâu xa làm cho họ phải rơi vào đau khổ. Con cũng là một trong những người như vậy.

Gia đình con có bảy anh em, con thứ năm. Hồi nhỏ, con rất thích đi chùa. Đi thì cứ đi nhưng con không biết gì hết, ngay cả Phật như thế nào con cũng không rõ. Con chỉ là một đứa bé hồn nhiên, ngây thơ. Đến năm 13, 14 tuổi, khả năng nhận thức của con bắt đầu thay đổi. Cũng nhờ nhân duyên tiếp cận gần chùa, được học giáo lý do Gia đình Phật tử dạy nên càng ngày con càng yêu thích. Mỗi khi rảnh rỗi, con thường mượn sách của một số cô trong xóm đọc. Sách do các cô thỉnh được từ chùa, như: Lịch sử đức Phật, Nhân quả ba đời, Tu nhà… mới biết rằng Phật là một con người vĩ đại. Ngài đã vì chúng sinh gánh chịu biết bao khổ đau. Cũng chính vì nhân duyên đọc được những cuốn sách đó nên con dần hiểu ra cuộc đời là vô thường, thân người giả tạm, kiếp sống mong manh. Bởi hiểu được phần nào giáo lý ấy mà ý định xuất gia trong con bắt đầu nhen nhúm. Và để khởi đầu cho ý định này, con được các cô trong xóm dẫn đi tu ba ngày tại chùa Bửu Thắng. Tại đây, con đã gặp được quý thầy ở chùa Hoằng Pháp đến hướng dẫn niệm Phật và thuyết pháp.

Lần đầu tiên được gặp quý thầy, một cảm giác hạnh phúc lạ thường như cứ nhẹ nhàng len lỏi trong con. Lúc đó, chí nguyện xuất gia của con càng tăng trưởng mạnh. Con nghĩ, giá mà được như quý thầy thì hạnh phúc biết mấy!

Sau đó, con được nghe một người bạn của mẹ giới thiệu chùa Hoằng Pháp có tổ chức khóa tu bảy ngày. Con bèn xin đi tu Phật thất và được mẹ đồng ý. Con gom góp số tiền dành dụm được bấy lâu nay cùng đi với các cô trong xóm.

Chùa Hoằng Pháp là chốn thiền môn thanh tịnh, là nơi con ấp ủ muốn thực hiện lý tưởng. Con được vào tu Phật thất bảy ngày. Bảy ngày trôi qua rất nhanh nhưng đối với con, đó là một khoảng thời gian dài vì lần đầu tiên xa nhà, khiến con cảm thấy nhớ nhung, luyến tiếc. Con bèn gọi điện về nhà xin ở lại chùa để làm công quả nhưng mẹ không cho. Con năn nỉ mãi. Cuối cùng mẹ mới đồng ý. Con rất vui và hạnh phúc khi được ở lại chùa làm công quả cùng quý thầy.

Thời gian lặng lẽ trôi qua, bỗng một ngày kia, con tự nhận ra rằng tại sao mình không xuất gia với chí nguyện bấy lâu ấp ủ? Con liền quyết định đăng ký tập sự xuất gia và được chú chúng trưởng Tâm Pháp dẫn lên chào thầy trụ trì để trình bày ý nguyện. Thầy trụ trì khuyên con phải gắng học kinh cho thuộc. Nghe thầy nói vậy, con mừng rỡ vô cùng. Lúc đó, con liền nỗ lực học kinh, nhưng khó nhất là chú Lăng-nghiêm, học hoài không thuộc. Tuy vậy, con vẫn cố gắng vừa học vừa làm công quả.

Thời gian tập sự của con trên sáu tháng. Nhưng rồi thời gian trôi qua rất nhanh, chỉ còn hai tháng nữa là đến ngày xuất gia, song kinh kệ chưa thuộc bao nhiêu nên con lại càng cố gắng hơn nữa.

Con nhớ, mỗi lần đi dùng bữa sáng, thầy luôn nhín chút ít thời gian để nhắc nhở, bảo ban những oai nghi, tế hạnh trong nếp sinh hoạt, tu tập thường ngày của đại chúng. Lúc ấy, con lại điện về nhà xin được xuất gia. Bởi mẹ con vốn là Phật tử, hiểu được chút ít Phật pháp nên Người đồng ý cho con ngay.

Trước ngày xuất gia, thầy trụ trì gọi chúng con lên để hỏi nguyên nhân và mục đích xuất gia. Con biết mỗi người đều có một chí nguyện khác nhau nhưng đối với bản thân, con xuất gia trước hết vì mong cầu giải thoát. Trước độ mình sau mới độ người; trên cầu giáo pháp Như Lai, dưới độ chúng sinh hết khổ.

Nhưng để được vậy, cần thiết phải có một đạo lực, một trình độ hiểu biết nhất định mới có thể dễ dàng thực hiện. Tuy con chưa làm được việc gì nhưng con cũng cố gắng dành trọn đời mình vào việc tu học, nghiên cứu kinh sách để phục vụ cho đạo pháp, đem lại sự an lạc, hạnh phúc cho mình và người. Đối với con, sự hưởng thụ cao nhất của đời người không gì hơn là được học và hành theo Phật pháp.

Nam mô Hoan Hỷ Tạng Bồ-tát Ma-ha-tát!

Tâm Việt

Mặc dầu chí nguyện xuất gia là vậy nhưng sự thực hành của con vẫn chưa như sở nguyện, cúi đầu xin sám hối với thầy. Xin đem thân này ra cúng dường chư Phật, làm lợi lạc chúng sinh…

Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật!

Kính bạch thầy!

Con sinh ra và lớn lên trong một gia đình truyền thống theo đạo Cao Đài (Đại Đạo Tam Kỳ). Vì vậy, nên đối với chân lý và giáo pháp của đạo Phật, con chưa từng có được cái nhìn và hiểu biết sâu sắc.

Vì là tín đồ của đạo Cao Đài, nên hằng năm, con cùng gia đình thường hành hương lên núi Bà Đen.

Tuy con chưa từng hiểu về đạo Phật, nhưng không biết tại sao, mỗi lần trông thấy tôn tượng của đức Quán Thế Âm Bồ-tát là trong tâm con có cảm xúc lạ kỳ, tràn đầy sự cung kính và hoan hỷ, liền dừng lại chiêm ngưỡng lễ lạy Ngài rồi mới đi.

Có một ngày, con cùng với mẹ đi đến làng nọ để thăm người quen. Trên đường đi, con chợt trông thấy một vị thầy với dáng vẻ trang nghiêm, từng bước chân chậm rãi, thanh thoát. Hình ảnh ấy đã phát sinh trong con một cảm giác tôn kính đặc biệt. Bỗng dưng, những phiền não trong người dường như nhẹ biến tan.

Con liền đến gần thầy xá chào. Trông nét mặt thầy đầy từ bi và an lạc, tự dưng, một ý niệm xuất gia len lỏi lên trong con. Con liền trình bày với thầy về ý niệm đó.

Thầy bảo:

– Con xuất gia được thì tốt. Điều đó rất đáng trân trọng. Theo thầy biết thì ở Hóc Môn có nhiều chùa, con hãy nên đến đó. Khi đi, hãy nhớ niệm Quán Âm!

Mấy tháng trôi qua, ý niệm xuất gia trong con vẫn không phai nhạt. Sáng một ngày hè, chợt nghĩ nhất định phải xin ba mẹ đi tu. Lại nghĩ nếu xin chưa chắc gì ba mẹ cho, thôi thì hãy bỏ nhà trốn đi vậy.

Ngồi xe đến thẳng ngã tư Hoóc Môn. Tới nơi vẫn chưa tìm được chùa. Phần thì trời nắng, phần lại mệt, nên ngồi nghỉ một lát. Chợt nhớ đến lời thầy dạy, liền niệm “Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát”. Lát sau, tiếp tục đi và lần này gặp được một ngôi chùa. Hỏi thăm bác xe ôm và được bác chỉ: “Chú muốn đi tu hả? Ở đây có chùa Hoằng Pháp lớn lắm, để tôi dẫn chú đến đó!”.

Và khi đọc cuốn “Tu nhà”, trong đó có đoạn thơ của ngài Thanh Sỹ làm cho con càng thêm dõng mãnh hơn trong sự lựa chọn con đường đi của mình, đoạn viết:

“Tu một thuở cứu thân vĩnh kiếp

Độ mình còn cứu vớt mẹ cha

Thuyền to một chiếc sắm ra

Tất nhiên chở hết cả nhà cùng đi”.

Một con đường thật cao thượng, con đường mà chỉ có những người đầy trí tuệ mới chỉ ra được, chắc là nhờ nhân duyên phước đức nhiều đời nên hôm nay con mới thấy được ánh sáng chân lý của đạo Phật.

Mặc dầu chí nguyện xuất gia là vậy nhưng sự thực hành của con vẫn chưa như sở nguyện, cúi đầu xin sám hối với thầy. Xin đem thân này ra cúng dường chư Phật, làm lợi lạc chúng sinh.

Nam mô A-di-đà Phật!

Nguyên Minh

Mục đích con xuất gia, không dám nghĩ tưởng đến những chuyện lớn lao, bởi theo con, khi thật sự có khả năng vững mạnh rồi mới có thể xông pha đảm đang, gánh vác Phật sự. Còn hiện tại, con là người nhỏ, chỉ biết cố gắng tu, học và làm một ít việc gì thầy giao sao cho vẹn toàn bổn phận và trách nhiệm. Chuyện ngày mai, để ngày mai sẽ tính!…

Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật!

Kính bạch thầy!

Con biết đạo khi vừa 16 tuổi. Lúc đó, con có một người em cô cậu đi xuất gia. Những lần chú ấy về thăm gia đình, thấy hình tướng người tu sao sáng sủa hiền lành, ăn nói nhỏ nhẹ trang nghiêm, tự nhiên con muốn xuất gia như chú ấy.

Rồi con cũng đủ duyên vào đạo, biết thực tập nếp sống an hòa. Nhưng ngày ấy, bởi sơ tâm non kém, lại ở nhằm vào môi trường không tốt đẹp, cho nên chỉ xuất gia được một thời gian, lại vội vàng cuốn gói về đời. Từ đó, con đi làm nhiều nơi, chỗ nào cũng đi, việc nào cũng làm. Nhưng con thấy làm vậy cũng chỉ vì nuôi nấng, bồi bổ cho tấm thân mỏng manh, giả tạm, có gì là vui sướng dài lâu! Đi làm có bao nhiêu tiền bạc, con đều đem ra để mua trọn những đêm vui. Rong chơi như thế một thời gian, lại bình tâm nhìn nhận vấn đề, con thấy mọi thứ dường như quá ê chề, tội lỗi!

Vào một đêm tháng ba, con ngồi một mình trên lầu của nhà trọ, nhìn xuống một quán cốc bên đường, thấy mấy người thanh niên ngồi nhậu. Trong số đó, có một anh độ khoảng hai mươi mấy tuổi, đang ngồi chọc ghẹo một cô gái. Không biết cô gái đó hận thù, bực bội ra sao, điện thoại như thế nào, nhưng lát sau có một nhóm giang hồ khoảng năm sáu người xuất hiện và chém chết anh ta ngay tại chỗ. Từ chuyện tình yêu đến những chuyện về vợ chồng, con cái, anh em trong gia đình và những gia đình khác, con thấy đều xảy ra chuyện gây gỗ, bất hòa. Trong đêm đó, con cứ suy nghĩ mãi về con người và cuộc đời, nhớ lại lời Phật dạy trong kinh sao đúng quá. Phật dạy con người sở dĩ khổ đau, nguyên nhân dù nhiều, nhưng chung quy vẫn do người ta ái luyến và chấp thủ. Cái này là “tôi”, là của “tôi”. Vì tất cả đều là của “tôi”, nên có ai cố ý hay vô tình xúc phạm đến “tôi”, bản thân “tôi”, gia đình “tôi”, thế hệ “tôi” v.v… sẽ sinh muôn vàn chuyện khổ. Thế là sáng hôm sau, con xin nghỉ việc, lần nữa lại tính chuyện xuất gia.

Rồi có lẽ cũng bởi nhân duyên, con được đến đây nương vào chúng, vào thầy tu học. Ở nơi này, con thật sự sống trọn vẹn trong những ngày tháng an lành, hạnh phúc. Như tất cả huynh đệ đồng môn khác, con may mắn được thầy thường xuyên quan tâm, động viên và nhắc nhở, từ những việc nhỏ nhiệm thường ngày nơi tác phong, oai nghi, tư cách cho đến những hoài bão lợi lạc cho đời to lớn và vĩ đại hơn.

Mục đích con xuất gia, không dám nghĩ tưởng đến những chuyện lớn lao, bởi theo con, khi thật sự có khả năng vững mạnh rồi mới có thể xông pha đảm đang, gánh vác Phật sự. Còn hiện tại, con còn kém cỏi, chỉ biết cố gắng tu, học và làm một ít việc gì thầy giao sao cho vẹn toàn bổn phận và trách nhiệm. Chuyện ngày mai, để ngày mai sẽ tính!

Nam mô Hoan Hỷ Tạng Bồ-tát Ma-ha-tát!

Tâm Nguyên

Hôm nay con chọn lý tưởng xuất gia, trước là báo hiếu mẹ cha, sau cầu thoát ly sinh tử, hóa độ mọi người, để mong mỏi ai ai cũng xa dần si mê lầm lạc, tìm cầu chân lý sáng suốt cho bản thân…

Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật!

Kính bạch thầy!

Con xuất thân từ một gia đình không mấy khá, nhưng lại có truyền thống theo đạo Phật từ lâu. Thuở nhỏ, được ba mẹ chăm sóc dắt dìu, luôn hướng con theo những điều hay lẽ phải. Tuy vậy, số phận trớ trêu đã cướp mất đi người cha thân yêu khi con còn quá nhỏ (5 tuổi). Mẹ con lúc ấy đồng thời lại làm trách vụ của người cha, phải nuôi nấng, dạy bảo con từng li từng tí.
Việc làm đầu tiên của mẹ là cho con mình đến chùa sinh hoạt Gia đình Phật tử, không ngoài mục đích viết lên trang giấy trắng những ý đẹp lời hay. Và từ đó, như đã trở thành thói quen, cứ mùng một, ngày rằm là con đến chùa cùng mẹ.

Ban đầu, trong nhận thức của một đứa con nít, thì đến chùa chỉ để ham vui nô đùa cùng chúng bạn. Rồi thời gian được tiếp xúc với những bài hát, những bài giáo lý cơ bản về Phật pháp, trong tâm hồn non nớt của con như dần thấm đượm một điều gì. Nhất là vào những ngày lễ Phật đản, khi thấy quý thầy với áo Ca-sa vàng rực, dung tướng trang nghiêm đã gây cho con một ấn tượng mạnh mẽ. Một sự yêu thích lạ thường của đứa trẻ non nớt bỗng xuất hiện trong con. Âu đây cũng là hạt giống giúp cho con xuất gia tu đạo.

Nhưng một thời gian sau (đến khi học lớp 10) con càng xao lãng việc đến chùa, có khi lại còn nghi ngờ Phật pháp. Từ đó, khái niệm chùa chiền trong con bắt đầu phai nhạt hẳn, bởi chạy theo những đua đòi cùng chúng bạn, tham gia vào những trò chơi vô bổ, mất thời giờ.

Rồi 12 năm đèn sách cũng đi qua. Vào dịp hè, con được gia đình cho đi chơi Đà Lạt. Có thể nói, đây là chuyến đi mang lại sự chuyển biến rất lớn trong đời con. Đến Đà Lạt, được tham quan chùa Quán Thế Âm. Tình cờ, thấy quý thầy, quý cô đang xem bộ phim nói về Tổ Đạt-ma. Và không hiểu sao, có một câu nói trong phim làm con suy nghĩ mãi: “Khi chưa sinh ra, ai là ta? Khi ta sinh ra rồi, ta là ai?”.

Trở về nhà, sau nửa tháng, câu nói ấy không khi nào rời khỏi suy nghĩ của con. Lại tự hỏi rằng: “Ta là ai? Ta từ đâu đến? Ta sinh ra trên đời này để làm gì?”. Rồi nghĩ đến mẹ, cả đời làm lụng vất vả nuôi con. Có lúc đến cùng cực trong bao nỗi lo toan, song Người vẫn chẳng có một lời oán than, trách móc. Sự hy sinh ấy quả thật không gì có thể so sánh được.

Lại nghĩ về mình, tự nhiên thấy hổ thẹn vô cùng. Con có làm được gì để phụ giúp cho mẹ đâu, mà cứ mãi chạy theo những hoài bão viển vông, đua đòi đủ thứ mà quên đi việc đền ơn đáp nghĩa. Con thấy mình lầm lỗi quá, đáng trách quá. Nhìn rộng ra ngoài kia, cũng có không ít những kẻ như mình, vẫn ngày đêm lặn hụp trong si mê, đắm nhiễm. Chính đây là những nguyên nhân trọng yếu thôi thúc con phải xuất gia, bởi chỉ có con đường xuất gia mới có thể cứu con người ra khỏi vòng si mê, tham đắm.

Đọc qua lược sử đức Phật Thích-ca, con lại càng thấy hổ thẹn hơn nữa. Ngày xưa, Ngài ra đi cầu đạo với ý chí mãnh liệt, sẵn sàng bỏ lại sau lưng cung điện, tiền tài, vợ đẹp, con ngoan, trăm thứ vui thú của cuộc đời mà không hề luyến tiếc. Ngày nay, con ra đi chẳng có một xu dính túi. Thử hỏi, con có gì để mất, có gì để tiếc mà không theo gương đức Từ phụ Bổn sư? Với lại, ý thức được sự vô thường sinh tử của kiếp người, vui trong cảnh khổ, quanh quẩn đau thương. Cho nên, hôm nay con chọn lý tưởng xuất gia, trước là báo hiếu mẹ cha, sau cầu thoát ly sinh tử, hóa độ mọi người, để mong mỏi ai ai cũng xa dần si mê lầm lạc, tìm cầu chân lý sáng suốt cho bản thân.

Ngưỡng mong trên đức thầy, quý thầy cùng chư huynh đệ từ bi dạy dỗ, dìu dắt con hoàn thành ý nguyện của mình: “Thượng cầu hạ hoá”. Lấy trí tuệ làm sự nghiệp, lấy từ bi làm lẽ sống.

Nam mô A-di-đà Phật!

Tâm Thảo

Những lời của chúng con viết đây đều là lời chân thật tận đáy lòng, với niềm tin vào A-di-đà Phật. Lại nguyện đem niềm tin này khiến cho người còn chưa tin được tin và nguyện cùng nhau sinh về thế giới của A-di-đà Phật…

Kính bạch thầy!

“Xuất gia quả thật là việc mà không phải kẻ phàm phu, kẻ bình thường có thể làm được, cũng chẳng phải có chút ít phước lành mà được xuất gia”. Ấy vậy mà nay con có đủ duyên lành được trên thầy cùng chư đại đức tăng đồng ý cho con được thế phát xuất gia. Với con, đó là niềm hạnh phúc lớn.

Nhớ lại thời còn nhỏ, mỗi khi được mẹ dắt đi chùa lễ Phật vào dịp tết, con cảm thấy rất sung sướng! Đây có lẽ cũng là thiện căn ban đầu của con. Điều mà con cảm nhận về chùa lúc bấy giờ chỉ là hình ảnh của những chú tiểu. Các chú ấy cũng cùng tuổi thơ như con nhưng sao dễ thương quá! Những cái vá tóc trên đầu rất ngộ nghĩnh và con muốn được như vậy! Những pho tượng Phật, Bồ-tát với gương mặt từ bi hình như luôn mỉm cười, làm con cảm thấy rất gần gũi.

Sau lớn lên chút nữa, vì kinh tế gia đình hơi khó khăn nên con phải ra chợ để giúp mẹ vài việc. Thời gian đầu, bởi chưa quen nên rất khó chịu, song lại nghĩ là cố gắng hết mình để phụ mẹ buôn bán nhằm bớt gánh nặng phần nào nên lâu dần cũng thành quen. Rồi con đậu vào đại học, gia đình rất vui nên quyết định sắm cho con chiếc xe máy để được nở mặt với bạn bè.

Có được xe, ngoài giờ học, những khi rỗi rảnh con thường đi chơi. Nhưng chẳng hiểu sao con lại thích đi chùa. Bấy giờ, con tham gia vào công tác từ thiện ở các chùa, cho nên thỉnh thoảng vẫn qua đêm vài ngày ở ngoài vì đi xa. Chính điều này khiến gia đình hiểu lầm là con mê chơi không lo học (vì con đi chùa không cho nhà biết).

Thời gian đi chùa tụng kinh, công quả và làm từ thiện khiến con biết được việc buôn bán đang làm là không đúng, cho nên mới tập ăn chay dù chỉ ăn được nửa buổi, nửa buổi còn lại vẫn thèm ăn mặn. Cứ vậy kéo dài hơn một năm, cho đến khi quyết định phải xuất gia vì thấy mình nghiệp sát quá nặng, lại không muốn thấy mẹ vì tiền mà lao theo công việc tội lỗi, nên con muốn đi tu để mẹ nghỉ bán hầu giảm bớt sát nghiệp.

Ngôi chùa con được biết đến cũng như tạo duyên cho con với A-di-đà Phật là ngôi chùa Xá Lợi. Lúc vào phòng kinh sách chùa, đập vào mắt con là những tranh, tượng đủ loại về A-di-đà Phật, cho nên quyết định mua một bức tranh Tam Thánh và một quyển sách về Tịnh độ để tìm hiểu. Khi thật sự rõ ràng rồi mới biết thì ra A-di-đà Phật mà mình thắc mắc tại sao chùa nào hay tôn phái nào cũng đều hồi hướng về Ngài thật vĩ đại đến thế, chỉ có Ngài, chỉ có nguyện lực vô cùng từ bi của Ngài mới có thể khiến chúng sinh thời mạt pháp vượt khỏi sinh tử đến bờ an vui. Điều này làm con vui sướng và quyết định hướng về A-di-đà Phật mặc dù trước đó mỗi lần đi chùa con đều ngồi thiền, rồi tụng kinh, thậm chí nghe nói Mật tông hay cũng bắt chước mà trì chú, lòng vòng như vậy chẳng có kết quả gì, mà phiền não vẫn không sao giảm bớt.

Con đã tin A-di-đà Phật, đã thật sự niệm Phật và phần nào thấy được an lạc, nhưng còn vị thầy để mình nương tựa hay một ngôi chùa mà mình luôn mơ ước (có tượng Phật với các vị La-hán) thì chẳng sao tìm ra. Hơn nửa năm trời đi đó đây để tìm thầy, tìm chùa chuyên tu Tịnh độ thì tìm không được, con cảm thấy nản lòng, nghĩ mình phước mỏng nghiệp dày nên mới như vậy. Thậm chí tìm được vị thầy mà bên ngoài thấy có vẻ đĩnh đạc, cũng có nhiều Phật tử, nhưng khi tiếp cận thì hoàn toàn làm con thất vọng bởi đa phần những vị đó chẳng đáng làm người nam bình thường huống chi là một vị thầy, một vị thiện tri thức để con nương tựa.

Thất vọng, con quyết định thôi thì ở tại nhà tu và quyết định ăn chay trường, đóng cửa niệm Phật. Thói thường mẹ hay la mắng con sau mỗi lần đi như vậy nhưng từ dạo đóng cửa lo tu thì thấy mẹ không nói gì nữa. Tuy nhiên cũng có trở ngại là từ đó mẹ không mua thêm bó rau dư nào để lại tủ lạnh – hầu hết thức ăn chay của con chỉ là mớ rau sót lại của gia đình – nay bị cúp lương thực nên đành mở cửa ra tiệm chay gần nhà để mua. Vậy mà cũng kéo dài hơn hai tháng trời, cho đến lúc đồng tiền cuối cùng trong nhà cũng không còn đủ để dùng nữa. Suy đi nghĩ lại nên quyết định đi làm gì đó để kiếm sống, rồi lại nghĩ nếu như A-di-đà Phật phù hộ thì khiến cho mẹ đừng giận con nữa, và nếu như mẹ tiếp tục la mắng hay bắt đi làm lại nghề cũ chắc con trốn nhà đi luôn quá.

Nhưng rồi nghĩ sao thì nghĩ! Nửa đêm hôm đó mẹ con lại la mắng và bắt con phải trở lại làm nghề cũ nếu không thì tịch thu tài sản (bấy giờ con là người duy nhất trong gia đình được ngủ phòng riêng với đầy đủ tiện nghi và xe cộ). Sự việc xảy ra quá bất ngờ khiến cho con cảm thấy mình trống vắng, lúc bấy giờ mới thấm thía được sự vô thường của cuộc sống làm ý chí xuất gia của con càng thêm lớn mạnh vì mình còn gì đâu nữa để mà luyến tiếc! Nhưng vẫn chưa tin ở mình lắm, lại nghĩ đến A-di-đà Phật.

Sau khi tắm gội sạch sẽ con thắp ba nén nhang và làm hai lá thăm với chữ DI và chữ ĐÀ, nguyện với A-di-đà Phật nếu con ba lần được chữ DI thì con phải rời nhà mà đi xuất gia còn ngược lại thì ở nhà cho dù phải làm lại công việc xưa. Cả ba lần sau khi niệm danh hiệu Phật, con đều có lá thăm có chữ “Di”…. Đã gần 5 giờ sáng rồi, mới thu xếp áo quần cùng chiếc xe mà ra đi, đi lòng vòng cho đến vào khoảng 4 giờ chiều. Hôm đó là thứ bảy, con chạy xe hướng về hướng Tây Ninh gần ngã ba Lam Sơn thì gặp bà cụ mặc đồ tu đi về hướng chùa.

Con theo thói quen hễ thấy người ta đi đường không có xe là đều ngỏ ý chở giùm đến nơi mà vị ấy muốn. Cho nên, sau khi được bà cụ đồng ý, con giúp ngay. Nhờ nhân duyên đó mà con đến được chùa Hoằng Pháp và được xuất gia tu học.

Những lời của con viết đây đều là lời chân thật tận đáy lòng, với niềm tin vào A-di-đà Phật. Lại nguyện đem niềm tin này khiến cho người còn chưa tin được tin và nguyện cùng nhau sinh về thế giới của A-di-đà Phật.

Tâm Trung

Trong cuộc sống, ai cũng có nhiều ước mơ, hoài bão. Hoài bão xuất gia của con không vì hưởng thụ, không phải vì danh, vì lợi mà vì thấy được giá trị của đạo Phật, chân lý của đạo Phật, muốn đi theo con đường mà đức Phật đã đi, muốn thừa kế gia sản trí tuệ của Phật, giữ gìn và phát triển những tinh hoa của đạo Phật…

Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật!

Kính bạch thầy!

Con sinh ra trong gia đình mà ba mẹ, ông bà đều theo đạo Phật. Do vậy, ít nhiều gì con cũng hấp thu được những giá trị đạo lý, tinh hoa của đạo Phật. Đó cũng là một trong những nguyên nhân thúc đẩy con đến chùa xuất gia học đạo sau này.

Trong gia đình thì mẹ thường dùng những lời của đức Phật, những mẩu chuyện mang tính giáo dục để khuyên răn, dạy dỗ con cái. Cách thức ấy đã hoán chuyển con từ một người thiếu nhân cách thành một con người có nhân cách; từ một người học trò yếu kém phẩm hạnh thành người học trò có đạo đức. Chân lý đầu tiên mà con học được, hiểu được từ mẹ con, đó là “phàm làm việc gì phải xét kỹ đến hậu quả của nó”.

Khi chưa biết nhân quả, con đã từng làm cho mọi người đau khổ, từng làm cho bố mẹ con phải khóc suốt bao đêm dài. Nhờ biết chút ít về nhân quả rồi, tâm hồn con đã được lau sạch bằng những lời Phật dạy. Kể từ đó, con biết lên chùa lễ Phật sám hối (một điều mà từ trước con chưa từng làm). Cho nên, ranh giới mảnh đất thiện tâm được nới rộng ra, và con bắt đầu biết làm nhiều việc thiện nho nhỏ.

Vào một đêm nọ, con được nghe câu chuyện về tiểu sử của đức Phật từ mẹ con. Nằm suy nghĩ về Ngài và trong con tự nhiên đặt ra hàng loạt câu hỏi: vì sao Tất Đạt Đa sống trong hoàng cung quyền quý cao sang nhưng Ngài không cảm thấy hạnh phúc thật sự? Vì sao Ngài lại dám từ bỏ gia đình, từ bỏ hoàng cung, từ bỏ vợ con để đi tìm chân lý? Vì sao? Vì sao?…

Ngay trong đêm ấy, con đã tìm ra cho mình câu trả lời: “Ngài dám từ bỏ những thứ giả tạm của thế gian để hướng tới cái xuất thế gian. Thế tại sao ta không làm như vậy, không đi theo dấu chân của Ngài?”. Và trong lòng con dần hình thành ý nghĩ xuất gia… Đây chính là nguyên nhân, động lực mạnh nhất khiến con đến chùa học đạo.

Khi tất cả người thân biết được ý nguyện của con, họ rất vui mừng và đồng tình ủng hộ. Thế là con đã bỏ lại sau lưng bạn bè, người thân, mái ấm gia đình và tất cả. Con đến chùa Hoằng Pháp tập sự và được xuất gia.

Trong cuộc sống, ai cũng có nhiều ước mơ, hoài bão. Ý nguyện xuất gia của con không vì hưởng thụ, không vì danh, vì lợi mà vì thấy được giá trị của đạo Phật, chân lý của đạo Phật, muốn đi theo con đường mà đức Phật đã đi, muốn thừa kế gia sản trí tuệ của Phật, giữ gìn và phát triển những tinh hoa của đạo Phật.

Ai đó đã từng nói: “Bạn có thể ngủ nửa giờ đồng hồ, ăn nửa bữa nhưng đừng bao giờ đi nửa đường chân lý”. Vì đi nửa đường chân lý sẽ không bao giờ nhìn thấy chân lý.

Trên đường học Phật có rất nhiều gian lao thử thách, nhưng đã làm đệ tử Phật thì phải cố gắng tiến bước, tiến bước về tâm linh, tiến bước về trí tuệ. Có như thế mới đền đáp được phần nào công ơn của Phật, sự dạy bảo nuôi dưỡng của thầy, của ba mẹ, của đàn na thí chủ và đem lại lợi ích cho mình, cho xã hội, cho đời này lẫn đời sau.

Tâm Lạc

Nay nhờ trên ân đức Thầy được thế phát xuất gia, chí nguyện đã viên thành. Nguyện dụng công tu tập, trước nuôi lớn lý tưởng, sau gìn giữ và phát huy bản hoài của chư Phật, chư Tổ…

Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật!

Kính bạch thầy!

Theo con, việc xuất gia có nhiều lý do, nhưng vì sở học của con không được bao nhiêu nên việc trình bày chắc sẽ có nhiều trở ngại. Dù sao, con cũng cố gắng sơ lược vài ý chính, ngưỡng kính trình lên thầy.

Cách đây gần 5 năm, con không hề biết gì về chùa chiền, về Tam Bảo hay Phật pháp gì cả. Lúc nhỏ con chỉ biết đi học, lớn lên lại lo đi làm, miễn sao có tiền là được.

Sự đời trong cái rủi lại có cái may. Nhờ công việc làm ăn bị trắc trở, lại do thói đời đổi trắng thay đen mà hôm nay, con được xuất gia và biết tu học Phật pháp.

Vào năm 2001, cũng vì sân si mà công sức làm lụng vất vả tích góp trong 20 năm trời tan thành mây khói. Con bắt đầu chán nản cuộc đời, không còn nghị lực để có thể tiếp tục, lại lang thang như đứa trẻ mồ côi không cha không mẹ, bữa đói bữa no. Một hôm, trong cảnh chán chường tột độ, vô tình con đọc được cuốn sách cũ “Vô minh từ đâu có” của một người bạn cho mượn. Đọc xong, con cảm thấy thích lắm. Tiếp đến, có người chị quen cho mượn cuốn “Thập đại đệ tử truyện”. Xem xong, thấy lòng như nhẹ nhàng, cởi mở.

Từ đấy, con bắt đầu đọc và nghiên cứu sách của các thánh hiền. Ấn tượng nhất là phẩm Công đức xuất gia trong kinh Hiền Ngu. Do đây, hạt giống Bồ-đề trong con đã được gieo mầm nơi tâm thức.

Có một lần về quê chơi, vô tình dự đám tang của người em hàng xóm, chỉ mới có 25, 27 tuổi đời không đau không bệnh mà tự nhiên ngủ qua một đêm, sáng ra người nhà phát hiện đã chết.

Một bữa, con vào quán uống cà phê, thấy một người đàn ông cũng thuộc dạng giàu có ngồi ăn phở mà hai tay run lẩy bẩy, miệng nhai phều phào.

Lại một chuyện nữa. Có một người quen mới hồi xế ngồi uống trà nói chuyện vậy mà chiều tối đi dự đám cưới, nhậu say. Trên đường về, bị xe tông chết tại chỗ.

Rồi thêm một sự kiện nữa. Con chứng kiến có một thanh niên nọ mới hồi sáng đi hỏi vợ. 12 giờ trưa ăn nhậu xong, lấy xe máy chở ba chạy đi đâu chẳng biết, lại đâm thẳng vào cột điện chết tức tưởi.

Những cảnh ấy cứ liên tiếp đập vào mắt, tự nhiên con cảm nhận phần nào đó sự giả tạm, mong manh, ngắn ngủi của cuộc đời. Dường như định luật vô thường đã bao trùm lên tất cả. Trong lòng con, bắt đầu khởi lên tâm niệm xuất gia. Hơn nữa, con nghĩ mình đã ngoài tuổi 40, liệu có còn sống được bao lâu mà chần chừ, ngần ngại! Quỷ vô thường sẽ đến bất cứ lúc nào, tấn công bất cứ ai ở bất kỳ địa vị gì trong xã hội.

Lòng thì muốn đi tu, nhưng ngặt nỗi, hồi nào đến giờ có biết chùa chiền gì đâu? Không biết xin đi tu có chùa nào nhận hay không? Hơn nữa, lòng cứ nghĩ lớn tuổi rồi có tu được hay không, có lẽ phải tu từ nhỏ mới được, như các chú tiểu ở chùa tóc còn để chỏm. Vả lại, tu nơi nào phải xa gia đình chứ tu chùa gần nhà thì không hay. Nhưng rồi, việc gì đến sẽ đến…

Tháng 04 năm 2002, con có đến Thủ Dầu Một, Bình Dương chơi. Một đêm nọ, vô tình thả bộ dọc theo công viên, bất chợt con nhìn bên phải thấy một tịnh xá có tượng Quán Thế Âm, tượng thiên thủ 48 tay lộ thiên cao khoảng 3 mét. Tự nhiên thâm tâm con muốn được chiêm ngưỡng, lễ bái. Thế là con vào đó đi quanh mấy vòng. Nào giờ có biết lễ lạy gì đâu, song con vẫn lạy liền bốn lạy. Không hiểu sao, lễ xong, thấy lòng thanh thản kỳ lạ.

Đêm về, con không sao ngủ được, cứ mãi nghĩ nên hay không nên đi tu? Mà đi tu là phải xa gia đình, từ bỏ tất cả, việc trần gian không màng tới, liệu mình có làm nổi hay không? Con xem quyển truyện “Thoát vòng tục lụy”, thấy có đoạn viết: “Chỉ có kẻ đại trượng phu, tâm đại hùng đại lực mới thoát tục làm tăng, chứ chẳng phải ai ai cũng làm được”. Nghĩ lại thì con có gì đâu mà không tu được: vợ đẹp cũng không, tài sản cũng không! Đức Phật là một vị thái tử sống trong nhung lụa, vợ đẹp con xinh, quyền uy thế lực mà tại sao Ngài lại bỏ hết để vào rừng tìm chân lý? Hôm nay, chân lý Phật đã chỉ rõ, mình chỉ việc thực hành, không được cũng phải gắng cho được. Có lẽ vì đời trước vụng tu nên hôm nay ta mới như thế này đây. Nếu đời này không tu, không chừng đời sau ta sẽ trở thành ngạ quỷ hay súc sinh, cũng có thể vào địa ngục nữa…

Hôm sau, con quyết định đến gặp sư trụ trì tịnh xá mà hồi đêm con chiêm ngưỡng tượng Quán Thế Âm để xin tu. Thật bất ngờ, sư đồng ý liền. Thế là sư thu giấy chứng minh nhân dân và con được cạo tóc liền, nếu không chịu cạo tóc thì sư không cho ở đó tu, buộc lòng con phải cho sư cạo tóc. Con tập sự cũng được nửa năm. Ở đó, ngoài thời gian quét dọn, con chỉ học thôi, không có gì để làm, cho nên con thuộc gần hết luật Nghi sĩ. Sư rất thương con, nhưng ngặt nỗi tịnh xá của sư không có tên trong giáo hội nên chỉ tu tự do chứ không phải chính thức. Do vậy, việc thọ giới tu hành càng không hợp lệ. Vì biết không thể thọ giới, nên con mới xin thầy ra đi. Thế là con ra ngoài lên Sài Gòn ở nhà người quen đi làm. Vì trong thâm tâm đã muốn đi tu, nên con làm việc một cách rất miễn cưỡng.

Một hôm, tình cờ có người nói: “Mày muốn đi tu thì lên chùa Hoằng Pháp ở Hoóc Môn!”. Rồi con hỏi thăm và đến bổn tự (Hoằng Pháp). Lên đây công quả cũng được năm bảy lần, mới xin thầy tập sự xuất gia, trong lòng nửa mừng, nửa lo…

Hôm nọ, về thăm nhà, gia đình cũng ngỏ ý ở nhà cưới vợ làm ăn. Nhưng con nghĩ: “Vợ con chính là cái nợ oan gia”, gieo mầm quả khổ. Mình khổ, con mình khổ rồi đến lượt cháu mình khổ, cứ xoay vần mãi cái sinh, già, bệnh, chết…

Nhận thấy thân người khó được, Phật pháp khó gặp, cuộc sống vô thường. Hôm nay, dây ràng buộc đứt, cơ hội ngàn vàng đã tới; giờ đây danh vọng như hư vô, tiền tài như bọt nước, vợ đẹp con thơ là xiềng xích của tử sinh. Vậy thì bám víu vào chúng thật là tai họa! Dẫu biết rằng “tu đâu cho bằng tu nhà” nhưng chỉ e “đêm dài lắm mộng”. Chi bằng ta giẫm đạp lên nó mà thẳng tiến vào chốn thiền môn tu tập.

Nay nhờ trên ân đức thầy được thế phát xuất gia, chí nguyện đã viên thành. Nguyện dụng công tu tập, trước nuôi lớn lý tưởng, sau gìn giữ và phát huy bản hoài của chư Phật, chư tổ. Và con kính xin kết lại:

Công phu sớm tối chuyên cần

Đừng ham cuộc sống vô thường thế gian

Tin sâu pháp Phật nhiệm mầu,

Cứu mình, cứu thế, liễu sầu được an,

Nhất tâm niệm tiếng Di-đà,

Cầu về nước Phật ngồi đài liên hoa.

Cầu xin hồng ân Tam Bảo gia bị phò hộ độ trì cho thầy đạo hạnh tăng trưởng, lòng từ rộng khắp, trải tình thương đến muôn loài. Thứ nữa, ngưỡng mong thầy dìu dắt con trên bước đường tu học, sớm hoàn thành chí nguyện.

Thành kính tri ân thầy!

Nam mô A-di-đà Phật!

Tâm Mẫn

Khoác lên mình manh áo nâu sòng để bắt đầu cuộc sống tịnh hạnh, học theo giáo lý Như Lai, lấy trí tuệ làm ngọn đuốc soi đường. Xin nguyện mang ngọn đuốc ấy thắp sáng giáo lý vị nhân sinh của chư Phật để cứu độ mọi người vượt thoát sông mê, nguyện hết chúng sinh dứt bỏ não phiền quay về cõi tịnh…

Xa quê hương, con khăn gói vào thành phố với bao toan tính tìm kiếm một cuộc sống mới nơi chốn đô thành. Vào đến nơi, con chọn ngành Đông Y để học và tạo dựng sự nghiệp cho mình. Trong thời gian đi học, con may mắn được anh của một người bạn cho phép về thực tập ở phòng chẩn trị Đông y Vạn Ân Đường thuộc quận 12. Nơi đây, con có duyên lành được tiếp xúc với rất nhiều tăng sĩ khắp nơi đến chữa bệnh, trong số đó có thầy Nhuận Nghi – bấy giờ là tăng chúng ở chùa Hoằng Pháp. Nhờ sự hướng dẫn của thầy, con có đến viếng chùa vài lần. Vì là người cùng quê, thầy hay nhờ con mang kinh sách về quê giúp.

Nhân duyên là vậy! Đến đầu năm Giáp Thân (2004), sau khi về quê ăn Tết, con trở lại thành phố tìm đến chùa Hoằng Pháp để tu học và làm công quả. Ban đầu, mục đích của con khi về chùa chỉ là những danh lợi cá nhân, chí nguyện xuất gia chỉ hình thành sau thời gian tu học ở đây.

Qua tiếp xúc với thầy Nhuận Nghi, con biết rằng chùa Hoằng Pháp có một phòng Đông Y nhưng chưa có ai đủ khả năng để chịu trách nhiệm chữa trị ở đó. Suy đi tính lại, con thấy rằng về đó làm công quả cũng là một cơ hội cho mình. Vì trước nhất, đây là môi trường khá tốt cho con góp nhặt kinh nghiệm nhằm nâng cao tay nghề. Không chỉ thế, nếu có điều kiện thuận lợi con sẽ kiếm được vài bệnh nhân để điều trị ngoài giờ nhằm tăng thu nhập. Thế nên, quyết định về chùa làm công quả đã được con thực hiện bằng những dự tính mưu danh, cầu lợi.

Thời gian khi mới về chùa, con chỉ quét rác, sau đó thì xuống bếp nấu cơm. Dịp may lại đến, vì nhà bếp lại gần khu dưỡng lão nên con có cơ hội tiếp xúc và làm quen với các bác ở đây. Đa số họ đã lớn tuổi, nên bệnh tật là điều không thể tránh khỏi. Nắm bắt cơ hội, con mua sắm y cụ và những thứ cần thiết khác để điều trị cho họ. Vừa nấu cơm, vừa trị bệnh, con đã phải rất tranh thủ thời gian. Ngày nào cũng vậy, cơm vừa chín là con đã có mặt ở khu dưỡng lão để châm cứu cho mấy cụ già, châm cứu được một chút thì phải về xới cơm. Thời gian hạn hẹp, ban đầu con chỉ làm được chừng ba mươi phút mỗi ngày.

Cứ thế, công việc êm ả trôi đi một cách thuận lợi. Bệnh của các cụ cũng có phần thuyên giảm, do đó họ rất quý con. Được lòng mọi người, lại chữa được bệnh nên lúc này tiền cũng bắt đầu rót vào túi con đều đều. Song vì ở trong chùa, nhận tiền cũng không tiện, bởi vậy con thường từ chối hoặc có nhận thì cũng chẳng dám lấy nhiều. Con thầm nghĩ: “Lùi một bước, tiến ba bước, giờ gắng làm cho tốt để có danh tiếng, sau này muốn nhận thù lao cũng không muộn”.

Hai ba tháng sau, bệnh nhân mỗi ngày một nhiều, con vẫn vừa nấu cơm, vừa chữa bệnh, thời gian ngày càng hạn hẹp. Thế là, con tính đến chuyện nghỉ nấu cơm để dành thời gian chữa bệnh kiếm tiền. Con có hỏi qua ý kiến của thầy Giác Trí, là người chịu trách nhiệm dưới bếp, nhưng dường như thầy không thật bằng lòng. Nhưng may lúc đó có chú Lân cũng về chùa để tập sự xuất gia. Làm quen một thời gian, con rủ Lân đi nấu cơm rồi dần dần giao phó hết cho chú. Thấy mọi việc đã đâu vào đấy, con bắt đầu suy tính để chuẩn bị tìm kiếm một tương lai tốt hơn. Rồi theo cách làm thường tình của người chưa thật sự hiểu đạo, con nghĩ rằng: muốn cho tương lai được thành tựu thì nên đi tụng kinh, lễ Phật để cầu phước. Mà việc tụng kinh, lễ Phật lại là thời khóa tu học hằng ngày, ai về chùa làm công quả cũng phải công phu tu tập. Đây là việc làm chính lẽ nhưng do chưa thật chú tâm nên từ hôm về chùa đến nay con chỉ làm qua loa cho xong. Bấy giờ, vì có chủ đích nên con tinh tấn thực hành. Chính điều này đã giúp con có điều kiện tìm đến với những giáo lý vi diệu của kinh Phật. Đặc biệt, ở chùa Hoằng Pháp, các kinh tụng hằng ngày hầu hết đã được dịch nghĩa rõ ràng, dễ hiểu nên cũng rất dễ nhớ. Nhất là kinh Tám Điều và kinh Từ Tâm, nội dung hàm chứa trong đó thật gần gũi với cuộc sống. Đây là hai bản kinh con thích nhất và cũng từ đó đã nhen nhóm trong lòng những ý nghĩ thật cao đẹp chứa đựng trong từng câu từ của giáo pháp Phật.

Dần dần, con hình thành cho mình một tư tưởng thánh thiện hơn. Thêm vào đó là sự tác động của thầy Giác Trí, thầy Minh Thới… Qua vài lần trò chuyện với các thầy, trong lòng con đã có được ý niệm xuất gia. Chí nguyện ấy được vun bồi mỗi ngày một lớn. Thế là, trong con bắt đầu tồn tại hai dòng tư tưởng trái ngược nhau: một bên là những giáo lý cao đẹp thâm sâu của đức Phật, một bên lại là những mưu tính cho danh lợi bất thiện của xã hội đồng tiền.

Lúc này, con vẫn làm công quả, vẫn chữa bệnh nhưng với các khoản thù lao dần dần con đã từ chối một cách cứng rắn hơn. Thậm chí, con còn muốn đóng góp một phần chi phí để giúp đỡ cho những người bệnh. Ý niệm xuất gia ngày một lớn như chồi non giữa mùa xuân ấm áp. Và khi đọc được những dòng chữ trong cuốn sách “Phát tâm Bồ-đề” của chú Lân ở cùng phòng, ý niệm xuất gia của con trở nên thật mạnh mẽ như làn sóng ào ạt của biển khơi, dồn dập dứt khoát như thác ghềnh tuôn chảy. Sách đã cũ, chữ đã nhòa nhưng mỗi câu từ lại chứa đựng biết bao ý nghĩa như ánh sáng rọi vào tâm hồn con. Từ đây, con đã hiểu thế nào là sự thanh cao của đời sống phạm hạnh, thoát tục của người xuất gia. Quyển sách ấy đã trả lời những câu hỏi mà ai cũng sẽ đặt ra khi có ý niệm xuất gia: xuất gia để làm gì, mục đích ra sao? Người xuất gia phải sống như thế nào, phải làm những việc gì?… Dù không may mắn được đọc trọn vẹn quyển sách, nhưng từng câu từng chữ đã để lại trong con một cảm xúc thật đặc biệt.

Trong những tháng ngày đó, sống ở chùa, ăn cơm chùa, lại được gần quý thầy, con đã tìm thấy cho mình nhiều niềm vui mang đầy ý nghĩa cao đẹp. Những cảnh xô bồ, tranh danh đoạt lợi, tình tiền cờ bạc, rượu chè trai gái… mọi thứ như không còn tồn tại trong môi trường tăng hạnh thanh cao. Vào mỗi buổi sáng, sau khi dùng điểm tâm, thầy trụ trì thường kể chuyện, giảng giải những điều cần yếu để sách tấn mọi người tu tập. Từng câu, từng lời của thầy mang đến cho con những bài học đầy ý nghĩa thiết thực với cuộc sống, phù hợp với tâm tư của mọi người. Thầy giúp con hiểu được giá trị của việc xuất gia đối với xã hội. Chính điều đó đã củng cố niềm tin, làm cho ý niệm xuất gia càng thêm vững chắc.

Và rồi, khóa tu Phật thất lần thứ 27 đã đến. Thời gian này thầy trụ trì nhập thất để dưỡng bệnh. Trong những ngày đó, Phật tử về tu học khá đông. Con được quý thầy trong ban tổ chức phân công nấu cơm. Công việc thật bận rộn, mọi người làm việc đêm ngày với một tinh thần tích cực mà những năm qua con chưa thật sự để tâm. Con cũng bị cuốn vào nhịp độ làm việc cũng với tinh thần và khí thế đó để hòa nhập cùng mọi người. Nhìn quý thầy lưng áo ướt đẫm mồ hôi, tất bật với công việc, con không khỏi xúc động cảm mến, quý trọng vô cùng.

Cũng nhờ tinh thần đó, ý niệm xuất gia của con lại càng thêm tăng trưởng. Mỗi khi đêm về, ngả lưng chợp mắt để nghỉ ngơi, những ý niệm xuất gia vẫn cứ canh cánh bên lòng. Trằn trọc thao thức suy tư mãi, có lúc con như muốn vùng dậy chạy thật nhanh vào trong thất để gặp thầy trụ trì xin được xuống tóc đi tu. Suy nghĩ này cứ lặp đi lặp lại không biết bao nhiều lần. Từ ngày thầy vào thất, rồi khóa tu Phật thất kết thúc, mong muốn xuất gia ngày một thêm mạnh mẽ thôi thúc mãi không ngừng. Nhiều đêm, con như muốn đến bên thầy, quỳ dưới chân thầy để được nói lên tâm nguyện của mình. Dù cho những mệt nhọc của công việc làm con thiếp đi, nhưng khi bừng tỉnh, ý niệm xuất gia như sống lại và ngày càng lớn mạnh. Nhưng lúc này, con chưa đủ can đảm để đến gặp thầy.

Ngày Phật thất cuối cùng cũng đã trôi qua, thầy trụ trì cũng đã rời thất trở về tu học và sinh hoạt với tăng chúng. Lúc này, con quyết định đến xin thầy xuất gia. Thầy hiền từ khuyên nhủ: “Vậy thì tốt rồi, về lo học kinh cho thuộc!”. Nghe thầy nói vậy, con mừng không thể tả, trở về nỗ lực chăm học các kinh chú mà thầy đã dạy. Khó thuộc nhất là chú Lăng-nghiêm, còn các kinh khác, nhờ chuyên cần đọc tụng hằng ngày trong các thời khóa công phu nên con gần như đã thuộc làu.

Tính từ khi lên gặp thầy đến ngày xuất gia chỉ hơn hai tháng, con sống với một tinh thần mới mang nhiều hương vị hiền thiện, thấy mình như được tắm mát trong ánh hào quang của chư Phật. Những lời dạy bảo hằng ngày của thầy trụ trì cùng những lời khuyên nhủ mà các bậc thiện tri thức trong chùa trao dạy đã giúp con định hình cho mình một con đường chánh đạo tươi đẹp và cao thượng, giúp cho con biết được mình phải làm gì để mang lại an vui và hạnh phúc cho bản thân và cho mọi người xung quanh. Hạnh phúc đó rất mới, rất khác với những cái đang tồn tại ở cuộc sống ngoài đời. Đây không phải là hạnh phúc giả tạo có rồi lại mất, lẩn quẩn đâu bên trong những tội lỗi của con người. Những hạnh phúc như vậy thật sự quá mong manh và tầm thường! Nó không thể sánh được với những hạnh phúc mà con đang cố gắng kiếm tìm trong chánh đạo.

Bằng những tâm tư suy nghĩ như thế, con quyết định viết thư gửi về gia đình để xin ba mẹ chấp thuận cho mình được xuất gia. Thế là, lá thư đầu tiên cũng đã được gửi đi và theo đó là tâm trạng khắc khoải mong chờ hồi âm. Một ngày, hai ngày, ba ngày… sao thời gian trở nên dài quá! Chẳng biết có chuyện gì xảy ra không? Rồi kết quả cũng đã có sau hai tuần chờ đợi, những dòng chữ nơi quê nhà cũng đã đến tay con. Vừa đọc chỉ mới vài dòng, lòng con như thắt lại khi biết gia đình không đồng ý. Và lá thư thứ hai cũng chẳng mang lại tin tức gì khả quan hơn. Dù vậy, con vẫn một lòng quyết tâm đi hết con đường mà mình đã chọn. Con viết lá thư thứ ba thật dài, như muốn trút cạn cả lòng mình với hy vọng sẽ có sự chuyển biến trong suy nghĩ từ gia đình. Nhưng khi gởi đi rồi, tâm con vẫn còn bất an, con đã nghĩ đến chuyện táo bạo hơn: trường hợp nếu ba mẹ không cho nữa, thì con sẽ vẫn cứ xuất gia, chuyện gì đến sẽ tính sau!

Cũng trong thời gian này, có vài người bạn đến thăm con. Hầu hết khi đến đây, trong người họ đều đã có hơi men. Khi trò chuyện với họ, chuyện gì con cũng đề cập đến, chỉ mỗi ý định xuất gia vẫn giữ kín, không cho họ biết. Sau mỗi lần gặp gỡ, mỗi đêm về con lại trăn trở suy nghĩ rất nhiều. Nghĩ đến những lạc thú ở đời, nhớ đến hơi men của rượu, vị đắng của cà phê, và những lời nói ngọt ngào yêu thương…, con nghĩ đến những thú vui giả tạm mà bạn con đang tận hưởng ngoài cuộc sống đời thường. Đôi lúc cái ma lực ấy như muốn nuốt chửng ý định xuất gia, con muốn vứt bỏ tất cả để chạy theo nó, ôm chầm lấy nó, tận hưởng cảm giác được vui, được yêu mà nó mang đến. Nhưng con cũng không khỏi xót xa khi nhớ đến những điều bất thiện của cuộc sống ấy, rồi con lại đem cái cuộc sống tầm thường đó để so sánh với cuộc sống thanh cao của người xuất gia. Con nhớ đến quê hương, gia đình, bè bạn, ở quê nhà. Đa số mọi người đều chìm đắm trong lối sống mang nhiều ô tục: sáng ra kiếm vài ba miếng bỏ bụng rồi lao vào công việc, tranh danh đoạt lợi…, chiều về lại tụ tập làm bạn cùng ma men, vui cái vui chung với ma men, rồi sau đó không biết bao nhiêu điều sai quấy cũng xảy ra bởi ma men. Con nhớ đến ba, đến ông, đến bác, đến anh em dòng họ rồi cả những người ngoài xã hội ai ai cũng vướng vào cảnh đó không ít thì nhiều. Cái cảnh vui cũng rượu, buồn cũng rượu, chuyện lớn, chuyện nhỏ, đình đám, hội họp… tất tần tật đều mời ông ma men ghé thăm. Vì ông ta mà đánh nhau, vì ông ta mà tai nạn, cũng vì ông ta mà anh em bạn bè trở mặt thành thù hận… Ấy vậy mà ma men vẫn hiện hữu khắp nơi, người đời vẫn chìm đắm trong cái lạc thú suy bại đó. Dưới con mắt của người tỉnh táo, người ta say nhiều lắm. Say nhiều thì khổ nhiều, thế mà vẫn cứ say. Con lại nghĩ: ba mình ma men, anh mình ma men, chú bác anh em bà con… cũng là ma men, không khéo mai này không sớm thì muộn mình sẽ lại giống như họ. Cho nên, con quyết định dù gia đình không cho hay bất kỳ ai ngăn cản, thì con cũng phải xuất gia, không thể khác hơn được.

Rồi lần này con lại nhận được thư của gia đình. Lá thư rất ngắn, chữ viết lại ngoằn ngoèo, nhưng lại chứa đựng một nội dung thật quý báu, như tháo gỡ cho con bao trăn trở trong lòng. Ba viết: “Minh à! Thôi số con rứa thì con ráng tu học cho tốt!”. Chính nhờ câu nói này mà con đã được xuất gia. Trong lòng con tràn ngập niềm vui, vui vì mình sắp được xuất gia, vì vậy nên phải ráng “tu học cho tốt”.

Trong niềm hân hoan đó, hôm khảo các bài kinh phải học thuộc, con đã hoàn thành một cách trọn vẹn. Vậy là chỉ bảy ngày nữa thôi, lễ xuất gia sẽ được tổ chức và sau buổi lễ này, con sẽ bước vào hàng ngũ của tăng đoàn. Một cuộc sống mới thanh cao, tốt đẹp như đang mở ra phía trước, lòng con tràn ngập niềm vui và hạnh phúc.

Trước ngày xuất gia, sau khi họp chúng, thầy trụ trì gọi các chú đến để hỏi nguyện vọng và mục đích của từng người. Mỗi người một ý kiến khác nhau nhưng tựu trung lại, ai ai cũng cho rằng cuộc sống đời thường có gì đấy làm cho họ chưa thật toại nguyện. Thế nên, họ tìm đến cuộc sống mới có ý nghĩa hơn. Bằng tâm thành chí thiết với đạo, với đời, từng người đã nói lên lời phát nguyện của riêng mình. Còn con, đã bạch cùng thầy: “Qua một thời gian tìm hiểu Phật giáo, con thấy đây là con đường cứu cánh cho đời mình nên xin nguyện xuất gia tu học”. Vâng! Phật pháp không chỉ “cứu cánh cho đời mình” mà trong suy nghĩ của con, đó còn là “con đường cứu cánh” cho tất cả những ai giác ngộ khổ đau, muốn tìm về bến bờ giải thoát.

Đúng 04 giờ sáng ngày 19 tháng 06 năm Giáp Thân, lễ xuất gia chính thức được tổ chức. Con và các bạn đồng tu như được sinh ra lần thứ hai. Lần này cũng có cái đầu trọc gần giống như lần trước, chỉ có điều, cái đầu này cao hơn, đẹp hơn và sáng hơn. Cái đầu trọc trước kia là do bẩm thụ tinh cha huyết mẹ mà thành nên không khỏi nhiễm đắm trần tục. Lần này, cái đầu trọc ấy đã dần gột bỏ bụi trần, con khoác lên mình manh áo nâu sòng, bắt đầu cuộc sống tịnh hạnh, học theo giáo lý Như Lai, lấy trí tuệ làm ngọn đuốc soi đường. Xin nguyện mang ngọn đuốc ấy thắp sáng giáo lý vị nhân sinh của chư Phật để cứu độ mọi người vượt thoát sông mê; nguyện hết thảy chúng sinh dứt bỏ não phiền quay về cõi tịnh!

Tâm Hòa

Giờ đây, con mới biết xuất gia là để có thêm cơ hội nhìn lại chính mình. Khi biết nhìn lại và sửa mình cho tốt rồi thì con mới có điều kiện giúp đỡ mọi người cùng tốt, cùng hướng đến quả vị an lành, hạnh phúc…

Những cánh mai cuối cùng trên cành đã rơi, báo hiệu một mùa xuân sắp hết. Vậy là con đã xa nhà được năm năm, khoảng thời gian không dài với một đời người, nhưng cũng không thể gọi là quá ngắn đối với một người mới bắt đầu học đạo. Đôi lúc, con tự hỏi tại sao mình đi tu? Tu để làm gì? Thành Phật, thành hiền hay thành thánh?

Ngày đó, khi còn là cậu học trò cấp một, sau giờ tan trường, con thường hay đến ngồi trước cổng đình. Nhìn những hàng chữ Tàu ngay ngắn vuông vức trông cũng hay hay, hoặc những bức hoành phi sơn son thếp vàng… tất cả đều gợi lên trong con một nỗi niềm nhớ nhung, hoài cổ. Và con như thả hồn vào trong ấy…

Mỗi ngày, sau khi dùng cơm chiều xong, con thường đạp xe một mình lên chùa tụng kinh. Vì chùa trong gia tộc nên ít Phật tử đến, thỉnh thoảng chỉ có vài vị ở gần. Với con, tụng kinh như một nhiệm vụ hơn là sở thích. Khi nào có thầy thì tụng chậm một tí, không có thì 15 phút là xong. Con không biết tụng kinh như vậy để làm gì? Chỉ biết đến chùa tụng kinh sẽ được sống lâu và học giỏi!

Khi lớn lên một chút, con bắt đầu biết tìm hiểu vào ý nghĩa của kinh hơn là ngồi tụng suông. Con thấy Phật dạy cuộc đời là khổ, và Ngài chỉ ra con đường diệt khổ. Bởi chưa từng trải nghiệm lần nào nên đối với con, khổ đau của cuộc đời dường như chỉ là một khái niệm xa xôi, trừu tượng. Cho đến ngày kia, gia đình chợt xảy ra biến cố: cha mẹ bất hòa, cãi vã; những lời chỉ trích, những cú va đập cứ liên tục diễn ra trong căn nhà đầm ấm mà bấy lâu con luôn tự hào. Cuộc sống những tưởng là hạnh phúc dài lâu, song chỉ sau một chữ ký trên tờ giấy ly hôn, trong phút giây thôi, tất cả bỗng hóa thành hư ảo! Khác với mọi người, đứng trước hoàn cảnh ấy con rất bình tĩnh. Bao nhiêu nghi vấn giờ đây đã được tháo gỡ, chân lý Phật dạy là đây, ngay tại ngôi nhà này, ngay chính người thân của mình và ngay cả bản thân con nữa!

Từ đó, con về sống với mẹ. Ngoài những buổi đi học, còn lại con đều dành trọn thời gian tìm đọc thật nhiều những quyển kinh sách cũ nát mà con góp nhặt được. Thông qua nghĩa lý của kinh, dần con mới hiểu ra, dường như khổ và vui luôn là hai mặt tồn tại song đôi của mọi vấn đề. Trong niềm vui lúc nào cũng hàm chứa những mầm tang thương, đau khổ; buổi hội ngộ, tương phùng ắt sẽ có cảnh buồn bã, phân ly. Và con thấm thía thêm một điều, giản đơn thôi: cuộc đời vốn dĩ là thế!

Vậy là con bắt đầu nuôi lớn trong mình ý nguyện xuất gia, mong muốn tìm đâu giữa cuộc đời những gì được gọi là hạnh phúc chân thật, cũng như để minh định bản chất thật sự của chúng là gì?

Hàng ngày, trên đường đi học, con thường thấy các vị tu sĩ khoác y vàng, tay ôm bình bát khất thực, phong thái, dáng vẻ thật điềm đạm, thảnh thơi. Chỉ thấy vậy thôi, nhưng ngày lại ngày qua, hình ảnh trang nghiêm ấy như đã in sâu vào tâm thức, và thi thoảng trong giấc ngủ, lại nhẹ nhàng thoang thoảng hiện về. Con đem chuyện này bạch với thầy nhưng thầy không nói, chỉ cười; thưa với mẹ thì mẹ chỉ nhìn, đôi mắt xa xăm héo hắt. Con biết mẹ chỉ còn có con là niềm tin trong cuộc sống, nhưng con sẽ làm thế nào để mẹ vững tin và chấp thuận cho con xuất gia? Không phải mẹ không đồng ý với tâm nguyện của con, song mẹ chỉ lo con sẽ không chịu được những gian khổ khó khăn trong chốn tòng lâm quy củ, rồi sẽ thất vọng, chán chường…
Sau cùng, con quyết định ra đi theo con đường đã chọn, dù không biết cuộc sống mai này rồi sẽ ra sao…

Ấy thế mà đã năm năm, thời gian vụt nhanh như tên bắn. Trong tình thương thầy trò, huynh đệ, con thấy mình đã lớn lên thêm và chững chạc rất nhiều. Con cũng đã hiểu phần nào về những lời Phật dạy. Ngài nói đây là khổ thì không có gì là khổ hơn, Ngài nói đây là phương pháp để diệt khổ thì không còn phương pháp nào khác hơn nữa. Lần hồi suy ngẫm, con thấy rằng hạnh phúc chân thật chỉ có khi con người biết sống chân thật với tự thân và với mọi người. Thông điệp của tình thương luôn là chất liệu để hóa giải những nỗi khổ, niềm đau trong cuộc sống. Sở dĩ con người đau khổ là vì họ có quá nhiều nghi kỵ, tranh chấp. Nếu biết buông bỏ và tha thứ, thì cuộc sống sẽ an hòa và tốt đẹp hơn lên.

Phép mầu mà con có được là sự sẻ chia, thương yêu trong tình huynh đệ. Một ngày làm điều thiện, một ngày giúp mọi người tu đạo hiểu đạo là một ngày con an trú trong hạnh phúc của bản thân.

Hiện tại, vẫn chưa thể khẳng định mọi việc rồi sẽ ra sao, song trong tâm trí, con vẫn thừa nhận một điều: “Con đang hạnh phúc trong sự bảo bọc của đoàn thể tăng-già phạm hạnh, trong chân lý tối thượng của đức Từ phụ Thế Tôn”. Con cũng sẽ không quên chia sẻ hạnh phúc ấy với mẹ con, với tất cả mọi người. Giờ đây, con mới biết xuất gia là để có thêm cơ hội nhìn lại chính mình. Khi biết nhìn lại và sửa mình cho tốt rồi thì con mới có điều kiện giúp đỡ mọi người cùng tốt, cùng hướng đến quả vị an lành, hạnh phúc.

The post Hạt Giống Bồ Đề – Nguyên nhân và mục đích Xuất Gia appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Đắp Y Đội Mão – Trong Giới Đàn Phật Giáo Bắc Truyền https://bachhac.net/dap-y-doi-mao-trong-gioi-dan-phat-giao-bac-truyen.html https://bachhac.net/dap-y-doi-mao-trong-gioi-dan-phat-giao-bac-truyen.html#respond Mon, 18 Nov 2019 07:18:12 +0000 https://bachhac.net/?p=2578 Từ thuở năm vị Tỳ Kheo nơi vườn Nai đắc pháp, Tăng già Đạo Phật nơi trần thế ứng thân. Phật thuyết “Thiện Lai Tỳ Kheo” bậc cụ duyên đại đức liền thọ tâm giới đủ tướng Tỳ Kheo, còn trần thế chúng sanh tùy theo nghiệp cảnh nên ứng trí, lượng tâm nên có …

The post Đắp Y Đội Mão – Trong Giới Đàn Phật Giáo Bắc Truyền appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
ý nghĩa đắp y đội mão

Từ thuở năm vị Tỳ Kheo nơi vườn Nai đắc pháp, Tăng già Đạo Phật nơi trần thế ứng thân. Phật thuyết “Thiện Lai Tỳ Kheo” bậc cụ duyên đại đức liền thọ tâm giới đủ tướng Tỳ Kheo, còn trần thế chúng sanh tùy theo nghiệp cảnh nên ứng trí, lượng tâm nên có chổ không đồng. Tùy theo phước lực nên hiện báo, tướng thân ấy vậy mà có sự sai khác. Tăng đoàn Thánh phàm đồng cư nên cần tùy duyên độ chúng, Đức Phật tùy cơ thuyết giới dạy lập giới đàn nơi Kỳ Viên Tinh Xá để cho Tăng thọ giới Tỳ Kheo. Sách Thích Thị Yếu Lãm chép: “Tại Kỳ Viên ở Tây Thiên có Tỳ Kheo Lâu Chí thỉnh Phật lập giới đàn vì Tỳ Kheo mà truyền giới. Đức Như Lai cho lập đàn ở ngoài vườn phía đông nam của Tinh Xá, đây là giới đàn đầu tiên của Phật Giáo vậy.”

Chư Giới Sư truyền giới trong Đại Giới Đàn Cam Lộ

Giới Đàn từ thuở ban xưa được Phật thiết lập nơi Kỳ Viên Tinh Xá, Phật Pháp Đông truyền Ngài Cầu Na Bạc Ma Nơi vườn Trúc chùa Nam Lâm lập Giới Đài truyền Giới độ Tăng. Phật Giáo Bắc tiến đại thừa chuyển vô lượng pháp, Nam truyền nguyên vẹn thuở Phật ban sơ, cho nên giới đàn của Đạo Phật Nam Bắc Truyền có sự khác biệt. Nếu như nói Giới Đàn Nam Truyền Phật Giáo là sự nguyên vẹn của nguồn gốc Đạo Phật thì Giới Đàn Phật Giáo Bắc Truyền là sự đơm hoa kết trái của Phật Giáo. Ông bà ta có câu: “Cây có cội mới trỗ cành sanh lá, nước có nguồn mới bủa khắp rạch sông” mỗi phương một ý, mỗi xứ tùy duyên trong một tâm niệm làm sao ngôi nhà Phật Pháp ngày thêm hưng thạnh, mạng mạch Tăng nối tiếp vươn lên.

Y Hồng, Tăng Mão là Pháp vật của Phật Giáo Bắc Truyền có nguồn gốc từ Tây Thiên được hình thành ở Đông Độ. Thuở các Phạm Tăng lìa xa Tây Trúc một bát ba y đem đạo mầu thấm nhuần Đông Độ với tâm niệm tùy duyên hóa đạo, nhập gia tùy tục, vay mượn văn hóa tôn giáo bản địa để diễn nghĩa Đại Thừa, tùy theo tập tục của địa phương để hiển bày Đạo Thánh, thế nên việc vua phong cho áo mão để tỏ lòng cung kính, đúng theo tục lệ của xứ lễ nghĩa nho gia. Xét việc thọ phong áo mão không ảnh hưởng đến con đường hoằng pháp, lại thuận chiều cho đại pháp Đông lai, thế nên không vì cớ gì lại chối từ, không có nghĩa nào cho là không tốt.

Hòa Thượng Đàn Đầu Thượng Tắc Hạ An trong Đại Giới Đàn Cam Lộ

Một đời dấn thân vì đạo, trọn kiếp hưng giáo Đại Thừa. Khi quảy dép về Tây không lưu vết tích, còn lại chăng Hồng Y vua ban thuở nọ, Tăng Mão thọ chức Tăng Cang, Tăng Y thể hiện đầy đủ công hạnh một đời Đại Sĩ, Pháp Mão hiển bày đạo hạnh bậc trượng phu, hậu học tứ chúng phụng Y Pháp thờ nơi Trượng Thất để học theo hạnh đại sĩ xuất trần,Tăng mão nghiêm phong yết nơi Tổ Đường làm gia phong Tòng Lâm cương kỷ. Chính vì vậy Y Hồng, Tăng Mão trở thành pháp vật trong truyền thống Tòng Lâm Phật Giáo Bắc Truyền.

Giới Đàn nơi tục Phật huệ mạng, nối tiếp mạng mạch Tăng già, khởi nguyên từ Ấn Độ truyền qua Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc. Đến đời nhà Đường thì được Ngài Đạo Tuyên Luật Sư tập thành định chế ra các nghi thức truyền giới và hình thức của giới đàn, ngày nay Phật Giáo Bắc Truyền, truyền giới đều dùng theo nghi thức của Ngài Đạo Tuyên biên soạn, còn vấn đề Giới Sư đội mão truyền giới có nguồn gốc từ Ngài Trí Khải Đại Sư đời nhà Tùy.

Chư Giới Sư Đắp Y gấm đội mão Hiệp Chưởng trong nghi thức Cung An Chức Sự

Trong Sách Tông Phụng Tạp Tập chép: “Tùy Dưỡng Đế thỉnh Thiên Đài Tông Trí Khải Đại Sư đăng đàn truyền thọ Bồ Tát Giới, hôm ấy trời lạnh, vua lấy khăn lụa trong tay áo long bào ra ban cho Đại Sư làm mão đội lên đàn…” từ đó truyền thống đội mão đăng đàn truyền Bồ tát giới được truyền cho đời sau thành nghi lễ trong giới đàn truyền Bồ tát Giới Phật Giáo Bắc Truyền. Sách Yên Nam Kỷ Đàm chép: “ Vua Nhật Bản là Hoàn Vũ Đế cũng thỉnh Ngài Duệ Sơn Truyền Giao Đại Sư truyền thọ viên đốn Bồ tát giới, Vua cũng theo tích xưa của vua Tùy Dưỡng Đế mà ban mão lụa cho Ngài Truyền Giáo Đại Sư. Từ đó có lệ đội mão lụa khi truyền giới Bồ tát.”

Mão Lụa mà chư vị giới sư đội khi truyền Bồ tát giới được gọi là Bồ Tát Cân ( khăn bồ tát), Việt Nam gọi là mão Quan Âm, theo sách Thiền Lâm Tượng Khí Tiên chép: “Khăn Bồ tát thường gọi là mão Quan Âm.” Trong sách Pháp Uyển Châu Lâm chép: “Pháp Sư Huệ Chấn ở núi phía sau chùa lập thất hai gian tu hạnh đầu đà, thường có thiện thần hộ vệ, đến niên hiệu Đại Đồng thứ nhất, vị thần hộ trì trên núi hiện hình, đầu đội mũ Bồ tát, thân đắp y ca sa, hình tướng vô cùng trang nghiêm.” Mão Quan Âm là mão truyền thống của Phật Giáo Bắc Truyền được đội để truyền Bồ tát giới.

Hòa Thượng Đàn Đầu đội Mão Quan Âm ( Bồ tát cân) và chư Giới Sư đội Mão Hiệp Chưởng

trong nghi thức cung an chức sự và truyền giới Bồ Tát

Giới đàn Phật Giáo Bắc Truyền có nghi lễ đội mão truyền giới cách đây hơn 1000 năm vào thời đại Tùy, Đường Phật Giáo Đại Thừa hưng thạnh nhất và Đại Thừa Bồ Tát Giới đạt đến cực thạnh và phổ cập vào dân gian. Cho nên mão Quan Âm là mão của các bậc Đại Sư truyền giới đội khi đăng đàn, thứ nữa trong Tam Đàn Truyền Bồ Tát Giới, giới sư trên cương vị đại Phật tuyên dương vì ở đàn nầy Thập Sư Hòa Thượng là chư Phật và Bồ tát cho nên đội mão này có ý nghĩa cung thỉnh Phật Bồ tát lâm đàn truyền giới. Ở Việt Nam thường thấy các Hòa Thượng chứng minh đội trong các nghi lễ quan trọng của Phật Giáo, với ý nghĩa đội mão Quan Âm Bồ Tát cũng là tượng trưng cho hàm ý cung thỉnh chư Phật Bồ Tát quang giáng đạo tràng chứng minh công đức.

Mão Hiệp chưởng được đội trong giới đàn đây là nét đặc trưng nhất của Giới Đàn Phật Giáo Việt Nam, vì mão Hiêp chưởng là mão của Phật Giáo Việt Nam do triều đình Nhà Nguyễn chế ra để tấn phong cho chức vị Tăng Cang triều đình Huế cho các vị Tôn Đức Tăng. Trong sách Tăng Sử Lược chép: “Tăng Cang là danh xưng của chức quan do triều đình phong tặng cho các vị cao Tăng trong Phật Giáo, chưởng quản thống lãnh toàn bộ Tăng Ni trong cả nước. Vị Tăng Cang đầu tiên của Triều Đình Huế là Thiền Sư Tổ Ấn Mật Hoằng (1735-588) theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí chép: “Năm Gia Long thứ 13. Vua triệu Hoằng về Kinh phong cho chức Tăng Cang, trụ trì chùa Thiên Mụ, quán thống Tăng chúng..”.

Mão Hiệp Chưởng thường được đội trong hai nghi lễ chính của Giới Đàn là lễ Cung An Chức Sự Giới Đàn và lễ Đăng Đàn Truyền Bồ Tát Giới. Sơ Đàn truyền Sa Di Giới và nhị Đàn truyền Tỳ Kheo Giới, hai đàn này thuộc Thanh Văn Giới là Giới Đàn nguyên thủy của Phật Giáo. Theo truyền thống từ thời Phật còn tại thế nên hai đàn này thường không có đội mão. Theo nghi lễ truyền thống của giới đàn, lễ cung an chức sự Giới Đàn thuộc về nghi lễ hành chánh (ngày nay thay thế bằng lễ khai mạc giới đàn) vì là hành chánh nên các bậc Tôn Đức ngày xưa được cung thỉnh vào ban Chứng Minh, Thập Sư Phương Trượng, ban kiến đàn đều là các bậc Tòng Lâm Thạc Đức hay Tăng Thống, Tăng Cang có chức vụ của triều đình hoặc là danh đức cho nên đều mặc sắc phục Y Mão Đại Tăng, vì vậy Y hồng, mão Hiệp Chưởng thường được sử dụng trong nghi lễ cung an chức sự Đại Giới Đàn.

Chư Giới Sư đắp Y Gấm và đội Mão Hiệp Chưởng trong nghi thức Cung An Chức Sự

Mão Hiệp Chưởng còn được đội trong Đàn truyền Bồ tát Giới với ý nghĩa: Hiêp Chưởng là chắp tay lễ Phật, Mão Quy Mạng, Mão Đãnh Lễ. Sách Thích Thị Yếu Lãm chép: “Hiệp Chưởng là chắp tay quy mạng vậy” Mão Hiệp Chưởng hình chế như hai bàn tay chắp lại, nền mão dùng vải gấm có ba màu hợp lại tạo thành, ba màu tượng trưng cho Tam Thân Phật: Thanh Tịnh Pháp Thân Phật, Viên Mãn Báo Thân Phật, Thiên Bá ức Hóa Thân Phật. Tam Đàn truyền Bồ Tát Giới xưng là Thiên Phật Đại Giới, Đại Thừa Phương Đẳng Giới, Đại Cam Lộ Giới, thứ nữa truyền Bồ Tát giới, đàn đầu Hòa Thượng là Đức Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na Phât, cho nên khi đăng đàn truyền Bồ tát Giới, Giới sư đội mão Hiệp Chưởng truyền giới là bao hàm đầy đủ ý nghĩa Tam Thân truyền giới vậy.

Mão Tỳ Lô hay còn gọi là mão Ngũ Phật. Trong kinh Chư Phật Cảnh Giới Nhiếp Chân Thật quyển trung chép: “Ngũ Phật Bảo Quan cò gọi là mão Ngũ Phật, Mão Ngũ Trí, Mão Ngũ Bảo Thiên Quan hay là Mão Quyền Đảnh Bảo quan, đây là mão báu của Đức Đại Nhựt Như Lai, Bồ tát Kim Cang Tát Đỏa, Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát đội trên đầu, trên chính giữa mão báu có để hình tượng Ngũ Phương Ngũ Phật dùng để biểu thị đức tướng của Ngũ Trí Viên Mãn.” Khi làm pháp gia trì, đội mão Tỳ Lô tức tự thân người đội là Tỳ Lô Phật. Trong Kinh Đại Lạc Tát Đỏa Tu Hành Nghi Quỹ chép: “Khi tu pháp nhập đạo tràng Mạn Đà La thọ Pháp quyền đảnh, A Xà Lê (thầy Gia Trì) kết ấn Ngũ Phât tụng Quyền Đảnh Chân Ngôn…đầu đội mão Ngũ Phật Bảo Quan, tức thọ Ngũ Phật quyền đảnh, ý tức tự thân tức thành Tỳ Lô Phật..”. Vì là nghĩa như vậy nên trong Tòng Lâm có câu Tỳ Lô bất bái ( đội mão Tỳ Lô lên rồi không còn lạy nữa).

Chư Đại Đức Tăng trong ban Dẫn Lễ đội Mão Tỳ Lô cung nghinh

Chư Giới Sư đăng đàn truyền giới Thập Thiện và Bồ tát tại gia

Trong Giới Đàn duy chỉ có đàn truyền Bồ Tát Giới mới được đội mão Tỳ Lô nhưng không được gắn Ngũ Phật Quan. Mão Tỳ Lô có hai phần: 1 là mão Liên Hoa, 2 là Phật Quan, mão được hình dạng như hai cánh sen lớn hợp thành nên còn gọi là mão Liên Hoa tượng trưng cho Thai Tạng Giới và Kim Cang Giới, Phật Quan là hình tượng Ngũ Phương Như Lai được kết lên hình 5 lá sen khi gia trì xong gắn lên mão Liên Hoa lúc này mới đầy đủ ý nghĩa là mão Tỳ Lô, vì vậy khi thỉnh sư đăng đàn truyền Bồ Tát Giới các vị dẫn thỉnh đội mão Liên Hoa với hàm ý thiết lập thế giới Liên Hoa thanh tịnh để cung nghinh chư Phật Bồ Tát giáng lâm đạo tràng để truyền giới. Cho nên không phải là đội mão Tỳ Lô.

Trong Giới Đàn chư Tôn Túc Chứng Minh và Thập Sư Hòa Thượng còn đắp Đại Y may bằng gấm màu Vàng hoặc màu Đỏ khi đăng đàn truyền Giới. Y gấm màu vàng có kim tuyến được gọi là Kim Lâu Ca Sa, trong Kinh Trung A Hàm chép: “Một thời Đức Phật tai thành Ca Tỳ La Vệ vườn cây Ni Câu Loại, bấy giờ Ma Ha Ba Xà Ba Đề Cù Đàn Di đem một chiếc y thêu chỉ kim tuyến màu vàng đến chổ đức Phật, cuối đầu lễ Phật bạch rằng: Thế Tôn Y Kim Lâu Ca Sa màu vàng này là do chính con may, Thế Tôn từ mẫn thương xót nạp thọ…”.

Trong sách Truyền Đăng Lục chương Thích Ca Mâu Ni Phật chép: “Thế Tôn bảo ngài Ca Diếp: Nay ta đem Y Kim lâu Tăng Già Lê truyền phó lại cho ông để trao lại cho vị Phật bổ xứ sau này là Từ Thị Bồ Tát, vì Ca Sa này dệt bằng kim tuyến nên không hề hư mục..”. Giới Đàn là Tuyển Phật Trường, chọn người làm Phật trong tương lai, ý nghĩa và mục đích này cùng chung với diệu ý truyền y của Đức Thế Tôn cho ngài Ca diếp, cho nên việc đắp y vàng có kim tuyến để truyền giới là sự truyền thừa có nguồn gốc từ thời Phật còn tại thế, vì Y Kim Lâu Ca Sa là Tổ Y là Y truyền thừa của Đạo Phật và chính được Đức Phật chọn để truyền cho Bồ Tát Di Lặc.

Y Hồng còn gọi là Tử Sắc Ca Sa cũng được gọi là Tổ Y, Đại Y, vì màu sắc ca sa có màu đỏ tía. Trong Sách Thích Thị Yếu Lãm chép: “Y màu đỏ tía không thuộc trong 5 sắc màu chánh là ca sa của triều đình phong tặng cho các bậc cao Tăng.” Trong Giới Đàn sơ đàn truyền Sa Di Giới, nhị đàn truyền Tỳ Kheo Giới, hai đàn này thuộc về Giới Thanh Văn, Giới sư Là Tăng Già và Giới tử nương theo chư Tôn Đức Tăng Già để được thọ giới, các bậc trưởng thượng cao Tăng phần nhiều ngày xưa đều là Tăng Cang nên khi lâm đàn truyền giới thường đắp Tử Sắc Ca Sa, lâu ngày trổ thành truyền thống trong giới Đàn Phật Giáo Bắc Truyền, đồng thời cũng nói lên ý nghĩa nối tiếp truyền thừa nét đặc trưng tiêu biểu của Tăng Già Phật Giáo Bắc Truyền.

Hội Đồng Thập Sư Đắp Y Gấm trong Nghi Thức Truyền Giới

Trong Luật định 5 hạ trở lên đều có thể làm Giới Sư hay Tôn Chứng Tôn Già, nhưng đối với Giới Đàn Phật Giáo Bắc Truyền việc đắp y đội mão đăng đàn truyền giới hầu như đều do các Bậc Tịnh Minh Cao Tăng Thạc Đức đảm trách, cho nên ý nghĩa việc đắp y đội mão đăng đàn truyền giới của Giới Đàn Phật Giáo Bắc Truyền thâm ý rất sâu xa, hàm chứa vô lượng Đại Thừa giáo nghĩa, không mang tính hình thức cũng chẳng có nghĩa uy quyền mà tất cả chỉ duy nhất một tâm niệm: “Giới Luật còn là Phật Pháp còn, Giới Luật mất là Phật Pháp mất.”

Thích Tâm Mãn

The post Đắp Y Đội Mão – Trong Giới Đàn Phật Giáo Bắc Truyền appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/dap-y-doi-mao-trong-gioi-dan-phat-giao-bac-truyen.html/feed 0
Bốn Giới Ba La Di – Mười Ba Giới Tăng Già Bà Thi Sa Trong Tỳ Kheo Giới  https://bachhac.net/bon-gioi-ba-la-di-muoi-ba-gioi-tang-gia-ba-thi-sa-trong-ty-kheo-gioi.html https://bachhac.net/bon-gioi-ba-la-di-muoi-ba-gioi-tang-gia-ba-thi-sa-trong-ty-kheo-gioi.html#respond Mon, 18 Nov 2019 07:14:44 +0000 https://bachhac.net/?p=2575 1. Bốn Giới Khí Bạch chư đại đức, 4 giới Ba la di (12) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong giới kinh. Thứ 1 giới đại dâm dục. Nếu Tỳ kheo đồng giới pháp với Tỳ kheo khác (12b), không xả giới, nhưng giới kém …

The post Bốn Giới Ba La Di – Mười Ba Giới Tăng Già Bà Thi Sa Trong Tỳ Kheo Giới  appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
bốn giới bà la ni

1. Bốn Giới Khí

Bạch chư đại đức, 4 giới Ba la di (12) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong giới kinh.

Thứ 1 giới đại dâm dục. Nếu Tỳ kheo đồng giới pháp với Tỳ kheo khác (12b), không xả giới, nhưng giới kém mà không tự hối, phạm vào sự bất tịnh (13) cho đến cùng với súc vật, thì phạm Ba la di của Tỳ kheo, không còn được sống chung (14) với chư tăng.

Thứ 2 giới đại trộm cắp. Nếu Tỳ kheo ở trong xóm làng hay nơi vắng vẻ, lấy của người ta không cho với ý thức ăn trộm; tùy tội lấy của không cho mà bị vua, hay đại thần của vua, bắt, giết, trói, đuổi ra khỏi xứ, mắng rằng anh là giặc, anh ngu si, anh không biết gì, thì phạm Ba la di của Tỳ kheo, không còn được sống chung với chư tăng.

Thứ 3 giới đại sát hại. Nếu Tỳ kheo cố ý tự tay sát hại mạng người, hoặc cầm dao đưa cho người, hoặc khen ngợi sự chết, khuyến khích sự chết, rằng quái lạ, anh kia, sống khốn nạn như vậy làm gì, thà chết, đừng sống; với ý thức như vậy mà nghĩ mọi cách để khen ngợi sự chết, khuyến khích sự chết, thì phạm Ba la di của Tỳ kheo, không còn được sống chung với chư tăng.

Thứ 4 giới đại vọng ngữ. Nếu Tỳ kheo thật không biết gì mà tự xưng tôi được pháp của bậc thượng nhân, tôi đã nhập vào pháp siêu việt của thánh trí, tôi biết như vậy, tôi thấy như vậy; qua thì gian khác, hoặc được hỏi hoặc không được hỏi, mà muốn tự thanh tịnh nên nói rằng tôi thật không thấy không biết gì mà nói biết nói thấy, thì, trừ tăng thượng mạn (15), phạm Ba la di của Tỳ kheo, không còn được sống chung với chư tăng.

Bạch chư đại đức, tôi đã nói 4 giới Ba la di. Nếu Tỳ kheo phạm vào mỗi một Ba la di, thì không còn được sống chung với chư tăng. Như khi chưa thọ đại giới, thọ đại giới rồi mà vi phạm thì cũng vậy. Nên Tỳ kheo bị tội Ba la di thì không nên sống chung với chư tăng. Vậy nay xin hỏi chư đại đức, trong 4 giới ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại đức, trong 4 giới ấy các vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.

2. Mười Ba Giới Tăng Đàn

Bạch chư đại đức, 13 giới Tăng già bà thi sa (16) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh.

Thứ 1 giới cố làm xuất tinh. Nếu Tỳ kheo cố ý lộng âm xuất tinh (17) thì, trừ chiêm bao, phạm Tăng già bà thi sa.

Thứ 2 giới chạm thân nữ nhân. Nếu Tỳ kheo với ý thức dâm dục mà chạm nhau với thân nữ nhân, hoặc nắm tay, hoặc nắm tóc, hoặc chạm vào mỗi một thân phần, thì phạm Tăng già bà thi sa.

Thứ 3 giới nói năng thô tục (18). Nếu Tỳ kheo với ý thức dâm dục mà nói năng thô tục dâm đãng với nữ nhân; nói năng thô tục dâm đãng thì phạm Tăng già bà thi sa.

Thứ 4 giới đòi hiến dâm dục (19). Nếu Tỳ kheo với ý thức dâm dục mà đối diện với nữ nhân tự ca tụng mình, rằng cô em, tôi tu phạm hạnh, giữ giới, tinh tiến, tu các thiện pháp; cô em hãy đem sự dâm dục mà hiến cho tôi, hiến như vậy là hơn hết, thì phạm Tăng già bà thi sa.

Thứ 5 giới làm người mai mối. Nếu Tỳ kheo qua lại đôi bên để làm mai mối, đem ý người nam nói với người nữ, đem ý người nữ nói với người nam, để làm cho họ lấy nhau hay tư thông với nhau, thì dầu chỉ chốc lát cũng phạm Tăng già bà thi sa.

Thứ 6 giới làm nhà (20) quá mức. Nếu Tỳ kheo tự tìm cách làm nhà chứ không có thí chủ, tự làm cho mình, thì phải làm đúng mức. Mức ở đây là dài bằng 12 gang tay của Phật, rộng bằng 7 gang tay của Ngài. Lại phải thỉnh chư Tỳ kheo chỉ định nơi chỗ. Chư Tỳ kheo chỉ định nơi chỗ không tai nạn và không chướng ngại. Nếu Tỳ kheo nơi chỗ tai nạn và chướng ngại mà tự tìm cách làm nhà chứ không có thí chủ, tự làm cho mình, không thỉnh chư Tỳ kheo chỉ định nơi chỗ, lại làm quá mức, thì phạm Tăng già bà thi sa.

Thứ 7 giới không thỉnh chỉ định (21). Nếu Tỳ kheo muốn làm nhà lớn mà có thí chủ, làm cho mình, thì phải thỉnh chư Tỳ kheo đến chỉ định nơi chỗ. Chư Tỳ kheo nên chỉ định nơi chỗ không tai nạn và không chướng ngại. Nếu Tỳ kheo nơi chỗ tai nạn và chướng ngại mà làm nhà lớn, có thí chủ, làm cho mình, nhưng không thỉnh chư Tỳ kheo đến chỉ định nơi chỗ, thì phạm Tăng già bà thi sa.

Thứ 8 giới vu khống phỉ báng (22). Nếu Tỳ kheo vì tức giận, đối với vị Tỳ kheo không phạm tội Ba la di mà, một cách vô căn cứ, phỉ báng vị ấy phạm tội Ba la di, phỉ báng với ý thức muốn phá hoại sự thanh tịnh của vị ấy; rồi trong thì gian khác, được hỏi hay không được hỏi, Tỳ kheo biết đó là sự phỉ báng vô căn cứ, và nói rằng vì tôi tức giận nên phỉ báng như vậy. Tỳ kheo phỉ báng như vậy thì phạm Tăng già bà thi sa.

Thứ 9 giới xuyên tạc phỉ báng (23). Nếu Tỳ kheo vì tức giận nên lấy một cạnh khía của việc khác, đối với vị Tỳ kheo không phạm Ba la di mà, một cách vô căn cứ, phỉ báng rằng phạm tội Ba la di, với ý thức phá hoại sự thanh tịnh của vị ấy; đến thì gian khác, được hỏi hay không được hỏi, Tỳ kheo ấy biết mình lấy một cạnh khía của việc khác, tự nói vì tôi tức giận nên phỉ báng như vậy, thì phạm Tăng già bà thi sa.

Thứ 10 giới phá tăng hòa hợp (24). Nếu Tỳ kheo muốn phá hoại tăng hòa hợp (25) nên hành động mọi cách phá hoại tăng hòa hợp, chấp nhận mọi cách phá hoại tăng hòa hợp mà kiên trì không bỏ. Các vị Tỳ kheo nên can gián Tỳ kheo ấy, rằng đại đức, đừng phá hoại tăng hòa hợp, đừng hành động mọi cách phá hoại tăng hòa hợp, đừng chấp nhận mọi cách phá hoại tăng hòa hợp mà kiên trì không bỏ. Đại đức, hãy cùng tăng hòa hợp, hoan hỷ, không tranh chấp, cùng học một thầy, như nước với sữa hòa nhau, thì trong Phật pháp sẽ có đời sống tăng ích, yên vui. Tỳ kheo ấy khi được can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các vị Tỳ kheo nên can gián đến lần thứ 3, vì để Tỳ kheo ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì phạm Tăng già ba thi sa.

Thứ 11 giới hỗ trợ phá tăng (26). Nếu Tỳ kheo ấy có phe cánh, một Tỳ kheo, hai Tỳ kheo, ba Tỳ kheo cho đến vô số Tỳ kheo; những Tỳ kheo phe cánh này nói với các vị Tỳ kheo, rằng chư đại đức, xin đừng can gián Tỳ kheo ấy, Tỳ kheo ấy là Tỳ kheo nói đúng giáo pháp, Tỳ kheo nói đúng giới luật, Tỳ kheo ấy nói chúng tôi ưa thích, Tỳ kheo ấy nói chúng tôi chấp nhận. Các vị Tỳ kheo trả lời: các đại đức, đừng nói như vậy, rằng Tỳ kheo ấy là Tỳ kheo nói đúng giáo pháp, Tỳ kheo nói đúng giới luật, Tỳ kheo ấy nói chúng tôi ưa thích, Tỳ kheo ấy nói chúng tôi chấp nhận. Bởi vì Tỳ kheo ấy không phải là Tỳ kheo nói đúng giáo pháp, không phải là Tỳ kheo nói đúng giới luật. Các đại đức, đừng có ý muốn phá hoại tăng hòa hợp; các đại đức, hãy thích thú tăng hòa hợp. Các đại đức, hãy cùng tăng hòa hợp, hoan hỷ, không tranh chấp, cùng học một thầy, như nước với sữa hòa nhau, thì trong Phật pháp sẽ có đời sống tăng ích, yên vui. Những Tỳ kheo ấy khi được can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các vị Tỳ kheo nên can gián đến lần thứ 3, vì để những Tỳ kheo ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì phạm Tăng già bà thi sa.

Thứ 12 giới hoen ố tín đồ (27). Nếu Tỳ kheo sống trong xóm làng hay thành thị mà làm hoen ố tín đồ và làm những việc xấu (28), làm hoen ố tín đồ ai cũng thấy nghe, làm những việc xấu ai cũng thấy nghe. Các vị Tỳ kheo nói với Tỳ kheo ấy, rằng đại đức, đại đức đã làm hoen ố tín đồ và làm những việc xấu, làm hoen ố tín đồ ai cũng thấy nghe, làm những việc xấu ai cũng thấy nghe; đại đức đã làm hoen ố tín đồ và làm những việc xấu thì nay hãy đi xa khỏi xóm làng này, đừng nên ở đây nữa. Tỳ kheo ấy nói với các vị Tỳ kheo, với lời nói như vầy: chư đại đức, các vị có tham, có sân, có si, có sợ; có cái việc những Tỳ kheo đồng tội mà người bị đuổi người không bị đuổi. Các vị Tỳ kheo can rằng, đại đức, đừng nói như vậy, rằng chư Tỳ kheo có tham, có sân, có si, có sợ, có cái việc những Tỳ kheo đồng tội mà người bị đuổi người không bị đuổi. Bởi vì chư Tỳ kheo không tham, không sân, không si, không sợ. Đại đức đã làm hoen ố tín đồ và làm những việc xấu, làm hoen ố tín đồ ai cũng thấy nghe, làm những việc xấu ai cũng thấy nghe. Tỳ kheo ấy khi được can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các vị Tỳ kheo nên can gián đến lần thứ 3, vì để Tỳ kheo ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì phạm Tăng già bà thi sa.

Thứ 13 giới ngoan cố chống cự (29). Nếu Tỳ kheo tính tình ngoan cố, không nghe ai hết; trong giới luật, các vị Tỳ kheo đã can gián đúng phép mà bản thân Tỳ kheo ấy không chịu sự can gián ấy, bằng cách nói rằng, chư đại đức, đừng hướng về tôi mà nói tôi tốt hay tôi xấu, tôi cũng không hướng về chư đại đức mà nói các ngài tốt hay các ngài xấu. Chư đại đức hãy thôi đi, đừng luôn luôn can gián tôi. Các vị Tỳ kheo can gián Tỳ kheo ấy, rằng đại đức, đừng nên chính mình không chịu ai can gián. Đại đức nên chính mình chịu can gián. Đại đức hãy can gián chư Tỳ kheo một cách đúng phép, chư Tỳ kheo cũng can gián đại đức một cách đúng phép. Làm như vậy thì đệ tử của Phật được tăng ích nhờ can gián cho nhau, chỉ dạy cho nhau, sám hối với nhau. Tỳ kheo ấy khi được can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các vị Tỳ kheo nên can gián đến lần thứ 3, vì để Tỳ kheo ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì phạm Tăng già bà thi sa.

Bạch chư đại đức, tôi đã nói 13 giới Tăng già bà thi sa mà 9 giới trước thì mới phạm là thành tội, 4 giới sau thì sau lần can gián thứ 3 mới thành tội. Nếu Tỳ kheo phạm mỗi một giới, biết mình phạm mà cố che giấu, thì chư tăng phải buộc Tỳ kheo ấy thi hành phép sống riêng (30). Thi hành phép sống riêng rồi phải thi hành thêm phép hoan hỷ (31) trong 6 đêm ngày. Thi hành phép hoan hỷ rồi chư tăng giải tội cho. Phải giữa 20 vị Tỳ kheo mà giải tội cho Tỳ kheo ấy; nếu thiếu 1 vị, không đủ 20 vị Tỳ kheo, thì có giải tội đi nữa, tội của Tỳ kheo ấy cũng không giải được, mà chư tăng cũng đáng khiển trách. Đó là trường hợp (32) này. Nay xin hỏi chư đại đức, trong 13 giới Tăng già bà thi sa ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại đức, trong 13 giới ấy các vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.

Ghi Chú (12)

Dịch nghĩa là khí (bị bỏ ra ngoài tăng chúng), nhưng chính nghĩa là tha thắng (bị chiến thắng).

Ghi Chú (12b)

Tăng kỳ luật nói Tỳ kheo thọ cụ túc giới trong tăng hòa hợp. Thập tụng luật nói Tỳ kheo nhập vào trong giới pháp. Ngũ phần luật nói Tỳ kheo đồng được giới pháp. Hữu bộ luật nói đồng được học xứ.

Ghi Chú (13)

Sự dâm dục, Luật gọi là phi phạm hạnh, là bất tịnh hạnh.

Ghi Chú (14)

Không được cùng tăng chúng Yết ma và thuyết giới.

Ghi Chú (15)

Tăng thượng mạn là chưa được mà tự cho đã được. Nhưng rồi có người sau đó được thật. Ở đây trừ là trừ người này.

Ghi Chú (16)

Dịch nghĩa là tăng tàn, là phạm những tội này còn có thể cứu vãn được nếu biết sám hối trước 20 vị Tỳ kheo, không thì cũng như phạm tội Ba la di.

Ghi Chú (17)

Là thủ dâm.

Ghi Chú (18)

Dịch đủ là nói năng thô tục dâm đãng, tức nói về sự dâm dục, nói về những bộ phận sinh dục.

Ghi Chú (19)

Dịch đủ là khen mình để đòi nữ nhân hiến dâng sự dâm dục.

Ghi Chú (20)

Tức làm cốc, tịnh thất.

Ghi Chú (21)

Dịch đủ là làm nhà có thí chủ, làm cho mình, nhưng không thỉnh chư Tỳ kheo chỉ định nơi chỗ.

Ghi Chú (22)

Dịch đủ và sát là một cách không có căn cứ mà phỉ báng người khác phạm tội Ba la di.

Ghi Chú (23)

Dịch sát và đủ là mượn căn cứ khác mà phỉ báng phạm tội Ba la di.

Ghi Chú (24)

Dịch sát và đủ là phá hoại tăng hòa hợp mà chống lại sự can gián.

Ghi Chú (25)

Tăng hòa hợp là 4 vị Tỳ kheo sắp lên, cùng Yết ma và cùng tụng giới.

Ghi Chú (26)

Dịch đủ là hỗ trợ sự phá hoại tăng hòa hợp mà còn chống đối can gián.

Ghi Chú (27)

Dịch sát và đủ là làm hoen ố tín đồ, bị đuổi thì phỉ báng, chống đối can gián.

Ghi Chú (28)

Làm hoen ố tín đồ, chính văn là ô tha gia (làm bẩn người khác). Ô tha gia có 4 hình thức mà đứng đầu là đem vật của người này cho mà cho lại người khác, làm cho tâm lý người nào cũng không còn bình thường. Làm những việc xấu là những việc xấu dẫn ra từ sự ô tha gia.

Ghi Chú (29)

Dịch đủ là ngoan cố, chống cự chư tăng, chống đối can gián. Ngoan cố, chính văn là ác tính (tính tình ngang bướng).

Ghi Chú (30)

Sống riêng, chính văn là ba lị bà sa, dịch nghĩa là biệt trú. Biệt trú là ở riêng một mình trong 1 phòng xấu, với giường nằm xấu, trong thì gian bằng thì gian che giấu (kể từ khi phạm cho đến khi phát giác).

Ghi Chú (31)

Hoan hỷ, chính văn là ma na đỏa, dịch nghĩa là ý hỷ. Ý hỷ là ở sát cạnh chư tăng, chân thành ân hận, làm cho chư tăng hoan hỷ mà mình cũng hoan hỷ.

Ghi Chú (32)

Trường hợp, chính văn là thời. Chính văn trọn câu này là thử thị thời (đó là thời). Tra các bộ luật khác thì Ngũ phần và Thập tụng là thị pháp ưng nhĩ (giới này phải thế), Tăng kỳ là thị sự pháp nhĩ (việc này là thế), Hữu bộ là thử thị xuất tội pháp (ấy là cách giải tội). Như vậy chữ thời ở đây có thể hiểu và dịch là trường hợp. Sau đây có tất cả 9 chữ thời như vậy nữa.

HT. Thích Trí Quang

The post Bốn Giới Ba La Di – Mười Ba Giới Tăng Già Bà Thi Sa Trong Tỳ Kheo Giới  appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/bon-gioi-ba-la-di-muoi-ba-gioi-tang-gia-ba-thi-sa-trong-ty-kheo-gioi.html/feed 0
Hai Giới Bất Định – Ba Mươi Giới Ni Tát Kỳ Ba Dật Đề Trong Tỳ Kheo Giới https://bachhac.net/hai-gioi-bat-dinh-ba-muoi-gioi-ni-tat-ky-ba-dat-de-trong-ty-kheo-gioi.html https://bachhac.net/hai-gioi-bat-dinh-ba-muoi-gioi-ni-tat-ky-ba-dat-de-trong-ty-kheo-gioi.html#respond Mon, 18 Nov 2019 07:12:04 +0000 https://bachhac.net/?p=2572 1. Hai Giới Bất Định : Bạch chư đại đức, 2 giới bất định (33) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh. Thứ 1 giới ngồi ở chỗ khuất. Nếu Tỳ kheo cùng nữ nhân ngồi riêng ở chỗ khuất, chỗ che, chỗ ngăn, …

The post Hai Giới Bất Định – Ba Mươi Giới Ni Tát Kỳ Ba Dật Đề Trong Tỳ Kheo Giới appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
hai gioi bat dinh

1. Hai Giới Bất Định :

Bạch chư đại đức, 2 giới bất định (33) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh.

Thứ 1 giới ngồi ở chỗ khuất. Nếu Tỳ kheo cùng nữ nhân ngồi riêng ở chỗ khuất, chỗ che, chỗ ngăn, chỗ có thể hành dâm, mà nói những lời phi giới pháp. Có người nữ tín đồ đầy đủ tín tâm (34), nói Tỳ kheo ấy phạm 1 trong 3 tội sau đây, tội Ba la di, tội Tăng già bà thi sa, tội Ba dật đề; Tỳ kheo ấy cũng tự nói tôi phạm tội ấy. Như vậy thì phải trị theo 1 trong 3 tội sau đây, tội Ba la di, tội Tăng già bà thi sa, tội Ba dật đề. Phải đúng như người nữ tín đồ đầy đủ tín tâm nói mà trị tội Tỳ kheo ấy một cách đúng phép. Như thế gọi là sự bất định.

Thứ 2 giới ngồi ở chỗ trống. Nếu Tỳ kheo cùng nữ nhân ngồi ở chỗ trống, chỗ không thể hành dâm, mà nói thô tục. Có người nữ tín đồ đầy đủ tín tâm nói Tỳ kheo ấy phạm 1 trong 2 tội sau đây, tội Tăng già bà thi sa, tội Ba dật đề; Tỳ kheo ấy cũng tự nói tôi phạm tội ấy. Như vậy thì phải trị theo 1 trong 2 tội sau đây, tội Tăng già bà thi sa, tội Ba dật đề. Phải đúng như người nữ tín đồ đầy đủ tín tâm nói mà trị tội Tỳ kheo ấy một cách đúng phép. Như thế gọi là sự bất định.

Bạch chư đại đức, tôi đã nói 2 giới bất định. Nay xin hỏi chư đại đức, trong 2 giới ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại đức, trong 2 giới ấy các vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.

2. Ba Mươi Giới Xả Đọa :

Bạch chư đại đức, 30 giới Ni tát kỳ Ba dật đề (35) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh.

Thứ 1 giới cất y quá hạn. Nếu Tỳ kheo 3 y (36) đã hoàn chỉnh, y công đức (37) đã xả, mà cất giữ trường y (38), thì không làm tịnh thí (39) cũng được cất giữ, nhưng quá 10 ngày thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 2 giới rời y mà ngủ. Nếu Tỳ kheo 3 y hoàn chỉnh, y công đức đã xả, mà trong 3 y rời 1 y ngủ khác chỗ (39b), thì, trừ được tăng Yết ma (40) cho phép, phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 3 giới cất vải quá hạn. Nếu Tỳ kheo 3 y hoàn chỉnh (41), y công đức đã xả, nhưng Tỳ kheo ấy được vải phi thời, vậy cần thì cứ nhận, nhận rồi may y cho mau thành. Nếu vải đủ thì tốt, nếu vải không đủ thì được phép cất lại 1 tháng, chờ cho đủ vải. Nếu cất lại quá hạn ấy thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 4 giới lấy y không thân (42). Nếu Tỳ kheo lấy y của Tỳ kheo ni không phải thân quyến của mình, thì, trừ sự trao đổi, phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 5 giới bảo giặt y cũ (43). Nếu Tỳ kheo bảo Tỳ kheo ni không phải thân quyến của mình giặt y cũ, hoặc nhuộm hoặc vỗ, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 6 giới xin người y mới (44). Nếu Tỳ kheo xin y mới nơi cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến của mình, thì, trừ trường hợp khác, phạm Ni tát kỳ Ba dật đề. Trường hợp khác là nếu y bị cướp, bị mất, bị cháy, bị trôi, như vậy gọi là trường hợp khác.

Thứ 7 giới lấy vải quá phận. Nếu Tỳ kheo y bị mất, bị cướp, bị cháy, bị trôi, và nếu cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến của mình tự ý xin cho nhiều vải, thì Tỳ kheo ấy nên nhận vải ấy theo sự biết vừa đủ. Nếu nhận nhiều hơn thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 8 giới xin thêm tiền y (45). Nếu Tỳ kheo có cư sĩ và vợ cư sĩ sắm tiền may y cho Tỳ kheo ấy, nói rằng sắm số tiền may y như vậy để cúng cho Tỳ kheo tên như vậy. Tỳ kheo ấy trước không có nhận lời xin tùy ý (45b) vậy mà vì muốn được y tốt nên đến nhà cư sĩ, nói như thế này: tốt lắm, cư sĩ, hãy vì tôi mà mua sắm cái y như vậy cho tôi. Như vậy mà được y thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 9 giới khuyên chung tiền lại (46). Nếu Tỳ kheo có 2 cư sĩ và vợ cư sĩ sắm tiền may y cho Tỳ kheo ấy, nói rằng mua y như vậy để cúng cho Tỳ kheo tên như vậy. Tỳ kheo ấy trước không có nhận lời xin tùy ý, vậy mà vì muốn được y tốt nên đến 2 nhà cư sĩ nói như vầy: tốt lắm, cư sĩ, hãy sắm tiền mua y như vậy, chung nhau mà mua cho tôi 1 cái y. Như vậy mà được y thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 10 giới đòi y quá hạn. Nếu Tỳ kheo có vua, đại thần, bà la môn, cư sĩ và vợ cư sĩ, phái người đưa số tiền sắm y đến cho Tỳ kheo ấy, nói rằng hãy cầm tiền sắm y này đến đưa cho vị Tỳ kheo tên như vậy. Người được phái đến chỗ Tỳ kheo ấy, nói với Tỳ kheo ấy, rằng bạch đại đức, nay con đem tiền sắm y đến cho ngài, xin ngài nhận lấy. Tỳ kheo ấy nói như thế này với người được phái, rằng tôi không nên nhận số tiền sắm y này; nếu khi tôi cần y thì phải đúng và thanh tịnh mới nhận được. Người được phái nói với Tỳ kheo ấy, rằng bạch đại đức, ngài có người giúp việc không? Tỳ kheo ấy nói có; có người ở trong chùa kia, có người nam cư sĩ kia, họ là những người giúp việc của các Tỳ kheo, thường giúp việc cho các ngài. Bấy giờ người được phái đi đến nơi người giúp việc, giao số tiền sắm y, rồi trở lại chỗ Tỳ kheo ấy, nói như vầy: bạch đại đức, người giúp việc tên như vậy, mà ngài đã chỉ, con đã giao cho người ấy số tiền sắm y. Khi nào đại đức thấy đúng lúc thì xin ngài đến người ấy, sẽ sắm được y. Tỳ kheo ấy khi cần y thì nên đến người giúp việc mà, lần thứ hai và lần thứ ba, nhắc cho người ấy nhớ, bằng cách nói rằng tôi cần y; nếu lần thứ hai và lần thứ ba nhắc cho người ấy nhớ mà được y thì tốt. Nếu không được y thì lần thứ tư, lần thứ năm, lần thứ sáu, hãy yên lặng đứng trước người ấy; nếu lần thứ tư, lần thứ năm, lần thứ sáu, yên lặng đứng trước người ấy mà được y thì tốt. Nếu không được y mà đòi quá giới hạn nói trên để cho được y, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề. Nếu không được y thì tự mình đi hay phái người đi, đến nơi người cho tiền sắm y mà nói, rằng trước đây người phái người đem tiền sắm y đến cho tôi, Tỳ kheo tên như vậy; nhưng rốt cuộc tôi không được y, vậy người hãy đi lấy về, đừng để mất đi. Đó là trường hợp có thể làm.

Thứ 11 giới ngọa cụ tơ tằm. Nếu Tỳ kheo kiếm tơ tằm xen với tơ lụa mà làm ngọa cụ mới, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 12 giới ngọa cụ lông đen. Nếu Tỳ kheo lấy lông dê mới và toàn đen mà làm ngọa cụ mới, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 13 giới ngọa cụ lông trắng. Nếu Tỳ kheo làm ngọa cụ mới thì nên dùng lông dê mà 2 phần màu đen, 3 phần màu trắng, và 4 phần màu lẫn lộn; nếu Tỳ kheo ấy không dùng 2 phần màu đen, 3 phần màu trắng, và 4 phần màu lẫn lộn (46b) mà làm ngọa cụ mới, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 14 giới ngọa cụ còn mới (47). Nếu Tỳ kheo thì làm ngọa cụ mới, phải dùng đến 6 năm. Nếu dưới 6 năm, không xả bỏ cái cũ mà thay vào đó làm cái mới, thì, trừ tăng Yết ma cho phép, phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 15 giới tọa cụ toàn mới (48). Nếu Tỳ kheo làm tọa cụ mới thì phải lấy 1 miếng tọa cụ cũ vuông vức 1 gang tay, may chồng lên trên tọa cụ mới để làm cho hỏng màu sắc đi. Nếu làm tọa cụ mới mà không lấy 1 miếng tọa cụ cũ vuông vức 1 gang tay, may chồng lên trên tọa cụ mới để làm cho hỏng màu sắc đi, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 16 giới cầm lông quá hạn (49). Nếu Tỳ kheo đi đường được lông dê, không có ai cầm giúp, thì mình được phép cầm lấy, nhưng cầm đi cho đến 3 do tuần mà thôi. Nếu không có ai cầm giúp, mình tự cầm lấy mà đi quá 3 do tuần, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 17 giới nhờ giặt lông dê (50). Nếu Tỳ kheo bảo Tỳ kheo ni không phải thân quyến giặt, nhuộm và vỗ giúp lông dê, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 18 giới cầm lấy tiền của (51). Nếu Tỳ kheo tự tay cầm lấy tiền, cầm lấy bạc vàng, hoặc bảo người cầm lấy, hoặc nhận lấy bằng cách bảo để xuống mặt đất, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 19 giới đổi chác tiền của (52). Nếu Tỳ kheo mà đổi chác (53) các thứ tiền và của báu, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 20 giới buôn bán các thứ. Nếu Tỳ kheo mà mua rẻ bán đắt mọi thứ, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 21 giới cất bát quá hạn. Nếu Tỳ kheo cất giữ trường bát (53b) mà không tịnh thí, thì chỉ được phép cất giữ 10 ngày. Quá thì hạn ấy thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 22 giới kiếm bát quá phận. Nếu Tỳ kheo dùng cái bát chưa đủ 5 chỗ hàn bịt, bát ấy cũng chưa rỉ nước, vậy mà thay vào đó đi tìm bát mới cho đẹp, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề. Tỳ kheo ấy nên đến giữa chư tăng mà xả bỏ bát mới ấy, và chư tăng tuần tự lấy cái bát của người thấp nhất (53c) đưa cho Tỳ kheo ấy dùng, và dùng cho đến bể. Đó là đúng trường hợp.

Thứ 23 giới kiếm chỉ dệt y (54). Nếu Tỳ kheo tự xin chỉ dệt, bảo thợ dệt không phải thân quyến của mình dệt y giúp, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 24 giới bảo thợ dệt thêm (55). Nếu Tỳ kheo có cư sĩ và vợ cư sĩ bảo thợ dệt dệt y cho Tỳ kheo ấy. Tỳ kheo ấy trước không có nhận lời xin tùy ý, lại đi đến chỗ thợ dệt, bảo rằng y này là dệt cho tôi, vậy anh dệt giúp cho thật đẹp, dệt cho rộng và bền, tốn thêm nhiều ít gì tôi cũng sẽ trả cho anh. Tỳ kheo ấy trả thêm tiền dầu chỉ đáng giá một bữa ăn mà được y, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 25 giới đoạt lấy y lại. Nếu Tỳ kheo trước cho y Tỳ kheo khác, sau vì tức giâển nên tự đoạt lại, hay bảo người đoạt, và rằng hãy trả y lại cho tôi, tôi không cho ông nữa. Tỳ kheo kia trả y, mà Tỳ kheo ấy lấy y, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 26 giới cất thuốc quá hạn (56). Nếu Tỳ kheo có bịnh, thì thuốc dư như sữa tô, dầu, sữa tô tươi, mật ong, đường phèn, được dùng trong thì hạn 7 ngày. Nếu quá 7 ngày mà còn dùng thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 27 giới khăn tắm trước hạn (57). Nếu Tỳ kheo thì mùa xuân còn 1 tháng nên kiếm khăn tắm mưa, còn nửa tháng nên dùng mà tắm. Nếu Tỳ kheo mà trước kiết hạ hơn 1 tháng đã kiếm khăn tắm mưa, trước kiết hạ hơn nửa tháng đã dùng mà tắm (58), thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 28 giới cất y cúng gấp (59). Nếu Tỳ kheo còn 10 ngày nữa thì hết kiết hạ 3 tháng (60), chư Tỳ kheo được phép nhận y cúng vội vàng. Tỳ kheo ấy biết là y cúng vội vàng thì nên nhận, nhận rồi được cất giữ trong thì hạn của y ấy (61). Nếu cất giữ quá thì hạn ấy thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 29 giới rời y quá hạn (62). Nếu Tỳ kheo kiết hạ 3 tháng đã xong, sau đó 1 tháng ca đề (63) cũng hết, đến ở chỗ a lan nhã (64), mà là chỗ có sự nghi ngại, khiếp sợ. Tỳ kheo ấy ở chỗ như vậy, thì trong 3 y, muốn thì gửi để 1 y trong nhà thôn xóm. Tỳ kheo ấy có lý do như vậy thì được phép rời y mà ngủ đến 6 đêm. Rời quá thì hạn ấy thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Thứ 30 giới xoay vật chư tăng (65). Nếu Tỳ kheo biết đó là vật người ta muốn hiến cúng cho chư tăng, mà mình tìm cách xoay lại hiến cúng cho mình, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.

Bạch chư đại đức, tôi đã nói 30 giới Ni tát kỳ Ba dật đề. Nay xin hỏi chư đại đức, trong 30 giới ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại đức, trong 30 giới ấy các vị thanh tịnh cả, vì các vị im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.

————————–

Ghi Chú (33)

Bất định là tùy sự tố giác mà định tội danh và xử trị theo 1 trong 3 tội (Ba la di, Tăng già bà thi sa, Ba dật đề) hay theo 1 trong 2 tội (trừ Ba la di).

Ghi Chú (34)

Nữ tín đồ chánh tín Tam bảo, chấp trì ngũ giới, trí nhớ tốt và nói chắc thật.

Ghi Chú (35)

Dịch nghĩa là xả đọa, là xả thí những vật dụng dư thừa rồi sám hối, nếu không thì sẽ bị đọa lạc ác đạo.

Ghi Chú (36)

Là Tăng già lê, uất đa la tăng, an đà hội.

Ghi Chú (37)

Y công đức (ca hy na y) là y được xét thưởng sau 3 tháng an cư thanh tịnh. Ai được xét thưởng thì có 5 tháng (16/7 đến 15/12) được hưởng 5 điều Luật định.

Ghi Chú (38)

Trường y (y dài) là dài bằng 8 ngón tay và rộng bằng 4 ngón tay của Phật. Danh nghĩa (Vạn 70/346) nói trường y là y dư thừa; hễ vải dài 1 thước 6, rộng 8 tấc, thì đã gọi là trường y.

Ghi Chú (39)

Tịnh thí nghĩa là cho một cách trong sạch. Tịnh thí ở đây là Tỳ kheo có thừa những vật dụng (như y bát v/v) thì phải thí xả. Có 2 cách tịnh thí. Một là chân thật tịnh thí, là đem vật dụng thừa ra giữa chư tăng mà thí xả cho người khác. Hai là triển chuyển tịnh thí, là thí xả giữa chư tăng mà nói tên người mình muốn cho. Nếu người ấy vắng mặt thì chư tăng nói: Đại đức đã cho người ấy rồi thì đó là vật của người ấy; đại đức nên cất giữ giúp người ấy, và nếu cần thì mượn mà dùng.

Ghi Chú (39b)

Có bản chép: ngủ khác chỗ trong 1 đêm. Nhưng tra Tứ phần luật (Chính 22/603d) thì đúng như bản Đạo Tuyên chép: không có những chữ trong 1 đêm.

Ghi Chú (40)

Yết ma, dịch nghĩa là tác pháp biện sự. Việc gì của tăng cũng phải do chư tăng quyết định mới thành tựu, đó gọi là Yết ma. Yết ma có đan bạch, bạch nhị và bạch tứ. Đan bạch là gặp những việc quá thường xuyên thì chỉ cần 1 lần tuyên cáo (tác bạch) mà thôi, không cần hỏi lại. Bạch nhị là gặp những việc hơi quan trọng, sợ xảy bất đồng ý về sau, nên phải 1 lần tuyên cáo rồi hỏi lại 1 lần. Bạch tứ là gặp những việc quan trọng thì phải 1 lần tuyên cáo rồi hỏi lại 3 lần. Tăng Yết ma có 4 loại, đó là 4 vị cho đan bạch, 5 vị cho bạch nhị, 10 vị cho bạch tứ, 20 vị cho sự xử tội tăng tàn. Số lượng này nhiều hơn thì được, thiếu đi thì không được.

Ghi Chú (41)

Đáng lẽ phải nói 3 y có cái cũ và hỏng. Nguyên do của giới này là vì có Tỳ kheo y Tăng già lê bị cũ và hỏng.

Ghi Chú (42)

Dịch sát và đủ, là nhận y của Tỳ kheo ni không phải thân quyến của mình.

Ghi Chú (43)

Dịch sát và đủ, là bảo Tỳ kheo ni không phải thân quyến của mình giặt giúp y cũ. Y cũ là y dầu mới mặc 1 lần.

Ghi Chú (44)

Dịch sát và đủ, là xin y nơi người cư sĩ không phải thân quyến.

Ghi Chú (45)

Dịch đủ và sát, là khuyên cư sĩ thêm giá tiền may y.

Ghi Chú (45b)

Lời xin tùy ý là thí chủ có lời xin nói trước rằng người lãnh nhận muốn sao cũng được.

Ghi Chú (46)

Dịch sát và đủ, là khuyên 2 nhà tăng thêm số tiền sắm y.

Ghi Chú (46b)

Có người hiểu và dịch 2/4 màu đen, 1/4 màu trắng, 1/4 màu lẫn lộn, nhưng không thể đồng ý là vì có chữ trái chính văn, và trộn lẫn lông dê như vậy thì cũng gần như đen. Dịch đúng chính văn là như đã dịch, và trộn lẫn lông dê như vậy thì sẽ ra hoại sắc hơn.

Ghi Chú (47)

Dịch sát và đủ, là ngọa cụ dùng dưới 6 năm.

Ghi Chú (48)

Dịch sát là tọa cụ không may chồng.

Ghi Chú (49)

Dịch sát là cầm lông dê quá hạn.

Ghi Chú (50)

Dịch sát và đủ là bảo Tỳ kheo ni không phải thân quyến giặt giúp lông dê.

Ghi Chú (51)

Dịch sát là cất giữ tiền, của báu.

Ghi Chú (52)

Dịch đủ là đổi chác tiền, của báu.

Ghi Chú (53)

Chính văn là mại mãi (bán mua) thì không chỉnh.

Ghi Chú (53b)

Trường bát, có ý kiến nói là bát dư thừa.

Ghi Chú (53c)

Chính văn là tối hạ, có người hiểu là bát cuối cùng, tức cái bát không ai muốn lấy, muốn đổi, nên cái bát ấy có thể chính là cái bát mới, được đem ra xả bỏ đó. Hiểu như vậy không đúng, bởi vì giới này bên Tỳ kheo ni nói rõ là hạ tọa (người dưới).

Ghi Chú (54)

Dịch đủ là xin chỉ sợi, bảo thợ dệt không phải thân quyến của mình dệt giúp.

Ghi Chú (55)

Dịch đủ là bảo thợ dệt dệt thêm chỉ sợi.

Ghi Chú (56)

Dịch sát và đủ là cất thuốc 7 ngày dùng quá thì hạn.

Ghi Chú (57)

Dịch sát và đủ, là kiếm khăn tắm mưa trước thì hạn, dùng khăn tắm mưa trước thì hạn. Khăn tắm mưa, chính văn là vũ y hay vũ dục y (khăn tắm mưa). Chữ y trong Luật có chỗ là y, có chỗ là vải, có chỗ là khăn. Ở đây là khăn.

Ghi Chú (58)

Mùa xuân còn 1 tháng là từ 16/3 đến 15/4. Mùa xuân còn nửa tháng là 1/4 đến 15/4. Trước kiết hạ hơn 1 tháng là trước 16/3. Trước kiết hạ hơn nửa tháng là trước 1/4. Tất cả đều là âm lịch.

Ghi Chú (59)

Dịch đủ và sát là trước ngày hết kiết hạ nhận y cúng gấp mà cất quá sau ngày hết kiết hạ.

Ghi Chú (60)

Dịch sát là 10 ngày chưa hết của 3 tháng kiết hạ; 10 ngày ấy là từ 6/7 đến 15/7.

Ghi Chú (61)

Thì hạn của y ấy, y ấy là y cúng vội vàng nói trên; thì hạn của y ấy là 1 tháng (16/7 đến 15/8) nếu không thọ công đức y, hoặc 5 tháng (16/7 đến 15/12) nếu có thọ công đức y.

Ghi Chú (62)

Dịch sát và đủ là ở chỗ a lan nhã có sự nghi ngại mà rời y quá thì hạn.

Ghi Chú (63)

Là rằm tháng 7 đến rằm tháng 8.

Ghi Chú (64)

A lan nhã là chỗ thanh vắng, xa làng xóm.

Ghi Chú (65)

Nói rõ là xoay vật người ta muốn cúng cho chư tăng mà cúng cho mình.

The post Hai Giới Bất Định – Ba Mươi Giới Ni Tát Kỳ Ba Dật Đề Trong Tỳ Kheo Giới appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/hai-gioi-bat-dinh-ba-muoi-gioi-ni-tat-ky-ba-dat-de-trong-ty-kheo-gioi.html/feed 0
Cội Nguồn Lễ Vu Lan Báo Hiếu Và Tập Tục Cúng Cô Hồn Tháng 7 Tại Việt Nam https://bachhac.net/coi-nguon-le-vu-lan-bao-hieu-va-tap-tuc-cung-co-hon-thang-7-tai-viet-nam.html https://bachhac.net/coi-nguon-le-vu-lan-bao-hieu-va-tap-tuc-cung-co-hon-thang-7-tai-viet-nam.html#respond Mon, 28 Oct 2019 07:53:19 +0000 https://bachhac.net/?p=2534 Ngày Vu Lan các chùa thường thiết lễ rất trọng thể và các Phật tử đến để cầu nguyện cho cha mẹ được an lạc, tịnh độ Vào độ trăng tròn tháng Bảy âm lịch, là ngày lễ Vu Lan. Ngày này các chùa thường thiết lễ rất trọng thể và các Phật tử đến …

The post Cội Nguồn Lễ Vu Lan Báo Hiếu Và Tập Tục Cúng Cô Hồn Tháng 7 Tại Việt Nam appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
vu lan mùa hiếu hạnh

Ngày Vu Lan các chùa thường thiết lễ rất trọng thể và các Phật tử đến để cầu nguyện cho cha mẹ được an lạc, tịnh độ

Vào độ trăng tròn tháng Bảy âm lịch, là ngày lễ Vu Lan. Ngày này các chùa thường thiết lễ rất trọng thể và các Phật tử đến tham dự rất đông đảo để cầu nguyện cho cha mẹ hiện tiền được an lạc, cha mẹ quá vãng được siêu sanh tịnh độ.

Vào ngày này các chùa Việt Nam và Trung Hoa thường thiết lễ rất trọng thể và các Phật tử đến tham dự rất đông đảo để cầu nguyện cho cha mẹ hiện tiền được an lạc, cha mẹ quá vãng được siêu sanh tịnh độ, cùng là được nghe các thầy giảng về ý nghĩa lễ Vu Lan và đạo hiếu của người con đối với các bậc sinh thành.

Lễ Vu Lan chính thức được bắt nguồn từ một bản kinh ngắn của Phật Giáo Đại Thừa “Phật Thuyết Kinh Vu Lan Bồn”, do ngài Trúc Pháp Hộ dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Hán vào đời Tây Tấn, năm 750-801 sau Công Nguyên và được truyền từ Trung Hoa vào Việt Nam.

Chữ Vu Lan, vốn phiên âm từ tiếng Sanscrit: Ullambana, Hán dịch là giải đảo huyền, có nghĩa là “cứu nạn treo ngược”. Giải có nghĩa là gỡ ra cho khỏi vướng mắc, cởi trói buộc, giải mê lầm.

Kinh Vu Lan kể rằng: sau khi đắc quả A La Hán, đạt được tâm bất sinh, Bồ Tát Mục Kiền Liên muốn độ cho mẹ là bà Thanh Ðề, bèn dùng thần thông kiếm tìm mẫu thân, thì thấy bà đang ở cõi ngạ quỷ vô cùng đói khổ.
Ngài đem cơm đến dâng mẹ, nhưng mẹ ngài khi được cơm thì lòng tham nổi lên, sợ người khác trông thấy mà đến giành giựt hay xin bớt, cho nên bà một tay che bát cơm lại, một tay bốc ăn. Bởi lòng tham lam độc ác trong tiền kiếp nổi bừng lên, nên cơm đưa vào miệng liền biến thành than hồng không ăn được.

Ngài vô cùng thương xót mà không biết làm sao cứu, bèn trở về thưa với Phật, xin ngài từ bi chỉ dạy phương pháp cứu độ mẹ. Phật dạy rằng vào ngày trăng tròn tháng bảy, tức là ngày lễ Tự Tứ của chư Tăng, sau ba tháng an cư kết hạ thanh tịnh, hãy sắm lễ vật và thỉnh chúng Tăng để cúng dường, nhờ sự chú nguyện của chúng Tăng thì mẹ Ngài sẽ được giải thoát. Ngài Mục Kiền Liên tuân theo lời Phật dạy, thỉnh chúng Tăng chú nguyện và nhờ đó mẹ ngài, bà Thanh Ðề đã được sanh về cõi trời.

Ngày xá tội vong nhân được dân gian gọi một cách nôm na là ngày cúng cô hồn. Lễ cúng cô hồn được truyền từ Ấn Độ vào Trung Hoa vào thời Đường và được truyền sang nước Việt từ năm 1302, sau đó lễ này rất thịnh hành vào thời đại Phật Giáo nhà Trần qua việc tổ chức các trai đàn chẩn tế, gọi là “diệm khẩu phổ thí pháp hội” có nghĩa là những đại hội về Phật Pháp để bố thí thức ăn cho loài quỷ đói.

Lễ cúng cô hồn khác với lễ Vu Lan dù được cử hành trong cùng Ngày Rằm. Một đằng là để cầu siêu cho cha mẹ nhiều đời được siêu thoát, một đằng là để bố thí thức ăn cho những vong hồn chưa được siêu thoát, những vong hồn không nơi nương tựa, không người cúng kiếng.

Dần dà về sau tại miền Nam Việt Nam, tập tục cúng cô hồn này biến thể từ hình thức đến nội dung, chuyển từ khuôn viên chùa ra ngoài dân gian và được lan rộng tổ chức tại các xí nghiệp thương mại và tại các công ty tư lập theo truyền tụng rằng, ngày này cửa địa ngục rộng mở, ngạ quỷ được phóng thích, nên cúng tế chúng để được buôn may bán đắt, tai qua nạn khỏi.

Ngày xưa cúng cháo hoa và vàng mã cho cô hồn, canh ốc nhồi nấu với chuối xanh cho người sống; ngày nay giết gà, mổ bò, mổ heo làm cỗ linh đình gọi là cúng cô hồn nhưng thực là cúng cho người sống. Là Phật tử chúng ta không nên đi theo vết mòn xưa cũ, chỉ nên cúng chay theo truyền thống mà không nên giết hại súc vật và nên phát tâm bố thí đến những người nghèo khổ cùng là phóng sinh để báo hiếu cho cha mẹ ông bà quá vãng.

Theo Tuvienhuequang

The post Cội Nguồn Lễ Vu Lan Báo Hiếu Và Tập Tục Cúng Cô Hồn Tháng 7 Tại Việt Nam appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/coi-nguon-le-vu-lan-bao-hieu-va-tap-tuc-cung-co-hon-thang-7-tai-viet-nam.html/feed 0
Bốn Dịp May Để Thực Chứng Pháp https://bachhac.net/bon-dip-may-de-thuc-chung-phap.html https://bachhac.net/bon-dip-may-de-thuc-chung-phap.html#respond Tue, 08 Oct 2019 03:37:46 +0000 https://bachhac.net/?p=2356 Vì Phật lịch đã qua hai mươi lăm thế kỷ, một số người nghĩ rằng không phải thời cho con người trở thành những thánh nhân (ariya puggala) như những bậc dự lưu (sotāpanna) v.v… và chứng thánh pháp. Tuy nhiên nhóm khác tin rằng mặc dù Phật lịch đã qua hai mươi lăm thế …

The post Bốn Dịp May Để Thực Chứng Pháp appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
thực chứng pháp

Vì Phật lịch đã qua hai mươi lăm thế kỷ, một số người nghĩ rằng không phải thời cho con người trở thành những thánh nhân (ariya puggala) như những bậc dự lưu (sotāpanna) v.v… và chứng thánh pháp. Tuy nhiên nhóm khác tin rằng mặc dù Phật lịch đã qua hai mươi lăm thế kỷ, có thể có bậc thánh nhân như (dự lưu) v.v… và sẽ chứng thánh pháp. Trường phái tư tưởng nào đúng đã được soi sáng trong những tác phẩm của các nhà chú giải.

Những nhà chú giải này do biết tâm nguyện của Đức Phật đã nêu ra bốn dịp may để thực chứng pháp.

(1) Buddhuppādakkhaṇo – Sống vào thời gian giác ngộ của Đức Phật, có dịp may tiếp cận giáo pháp.

(2) Majjhimadeseuppattikhaṇo – được sanh làm loài người ở trung quốc độ ( majjhimadesa) là nơi giáo pháp hưng thịnh.

(3) Sammādiṭṭhiyāpatiladdhakhaṇo – dịp may có chánh kiến.

(4) Channaṃāyatanānaṃavekallakhaṇo – dịp may có các căn tròn đủ không khuyết tật, như căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.

Đây là bốn dịp may để thực chứng thánh pháp mà các nhà chú giải đã nói đến. (Dhammapadaṭṭha 2 / 304)

1. Khi không có sự giác ngộ của Đức Phật và không có giáo pháp, nếu mọi người muốn thực hành pháp, họ không thể thực hiện bởi vì hoàn toàn không có sự thực hành thiền quán niệm xứ để chứng thánh pháp. Do vậy, họ không thể thực hành và chứng thánh pháp.

Những ai sanh làm loài người, khi có sự giác ngộ của Đức Phật và giáo pháp họ có thể lắng nghe những bài giảng pháp và có cơ hội để thực hành thiền quán niệm xứ, họ sẽ trở thành thánh nhân như sotāpanna ( dự lưu), v.v… và thực chứng thánh pháp theo pāramī (ba la mật) của họ. Đó là lý do tại sao, vào thời giác ngộ của Đức Phật và giáo pháp này là một dịp may để thực chứng thánh pháp.

Châm ngôn: Gặp thời giác ngộ của Đức phật và giáo pháp này là một dịp may.

2. Mặc dù có sự giác ngộ của một vị Phật và giáo pháp của ngài, những ai sanh ở một nơi giáo pháp không hưng thịnh, họ không thể nghe pháp và không thể thực hành thiền quán niệm xứ. Do đó họ không thể chứng thánh pháp.

Những ai sanh vào nơi giáo pháp hưng thịnh, họ có thể làm các công đức liên hệ với lời dạy của Đức Phật. Họ có thể lắng nghe và thực hành thiền quán niệm xứ để chứng thánh pháp. Nhờ vậy, họ có thể trở thành thánh nhân như sotāpanna, v.v… và thực chứng thánh pháp. Do đó, được sanh làm loài người ở một nơi giáo pháp hưng thịnh là một dịp may để thành tựu thánh pháp.

Thuở Đức Phật còn tại tiền, người ta gọi Ấn độ là Majjhimadesa là nơi mà giáo pháp hưng thịnh. Ngày nay một xứ như Myanmar [1] sẽ được coi như là một nơi giáo pháp hưng thịnh.

Châm ngôn: Sống nơi nào giáo pháp hưng thịnh là một dịp may.

3. Những ai không tin rằng việc tạo các thiện nghiệp như bố thí có thể khiến ta thịnh vượng và cho nhiều loại lợi ích trong mỗi kiếp; các bất thiện nghiệp như sát sanh, trộm cắp v.v… sẽ dẫn ta đến apāya (đọa xứ) và sẽ phải thọ khổ – họ nghĩ rằng chỉ có một kiếp, không có đời sống tương lai. Những người tà kiến này (micchādiṭṭhi) sẽ không bố thí hoặc tạo bất cứ thiện nghiệp nào. Họ sẽ không thực hành thiền quán niệm xứ là nền tảng có thể giúp họ chứng thánh pháp. Như vậy họ sẽ không bao giờ chứng thánh pháp.

Những ai tin rằng việc tạo các thiện nghiệp như bố thí sẽ khiến họ thịnh vượng và cho nhiều loại lợi ích trong mỗi kiếp cho đến khi chứng đạt niết bàn; ai sát sanh, trộm cắp và phạm những tà hạnh khác sẽ dẫn đến đọa xứ (apāya) và sẽ phải thọ tất cả nổi khốn khổ. Họ sẽ làm các thiện nghiệp bởi vì họ có chánh kiến. Để chứng thánh pháp, họ sẽ thực hành thiền quán niệm xứ. Như vậy, theo ba la mật hạnh đã tạo họ sẽ trở thành thánh nhân như dự lưu v.v… và chứng thánh pháp. Vì thế , có chánh kiến là một dịp may để thực chứng pháp.

Châm ngôn: Có chánh kiến là một dịp may.

4. Những ai mù lòa, không thể thờ tượng Phật và không thể có tâm niệm bằng cách ghi nhận ‘ thấy, thấy’. Những ai điếc, không thể nghe những bài giảng pháp và không thể có tâm niệm bằng cách ghi nhận ‘ nghe, nghe’. Những ai mà tỷ căn, thiệt căn và thân căn của họ bị khuyết tật và những kẻ tâm trí rối loạn không thể thực hành thiền. Vì thế, họ không thể thành đạt thánh pháp.

Những ai mà sáu căn như nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn và thân căn lành lặn và những kẻ không bị thương tổn tâm thần có thể thờ tượng Phật, nghe pháp, thực hành thiền quán niệm xứ và theo ba la mật hạnh của họ sẽ thành bậc thánh như dự lưu, v.v… và tỏ ngộ thánh pháp. Đó là lý do tại sao, có tất cả sáu căn không bị thương tổn là một dịp may để thành tựu thánh pháp.

Châm ngôn: Có sáu quan năng lành lặn thật sự là một dịp may.

Nếu những ai khi có bốn dịp may này thực hành thiền quán niệm xứ đúng đắn chắc chắn sẽ chứng thánh pháp.

Những ai thực hành thiền quán niệm xứ đúng phương pháp, mặc dù họ không thể thực hành toàn thời gian nhưng chỉ thực hành bán thời gian cũng sẽ biết bản chất của pháp. Những ai biết bản chất của pháp sẽ trở nên quan tâm về việc thực hành pháp. Họ sẽ có sự tin tưởng nhiều hơn trước rằng họ có thể thành đạt pháp y theo ba la mật hạnh.

Vì sự tin tưởng rằng họ có thể tỏ ngộ pháp trong chính đời sống này, họ sẽ có quyết tâm, nỗ lực và chuyên cần nhiều hơn, những điều này lại sẽ đưa đến niệm lực. Vì niệm lực được củng cố, định (samādhi) sẽ được củng cố. Nếu định sâu sắc thì tuệ quán (vipassanā) sẽ được chứng đắc. Khi tuệ quán trở nên vững mạnh và (các duyên thiết yếu) được tròn đủ, họ sẽ chứng đạo và quả trí (magga phala ñāṇa) và thực chứng tối thượng pháp niết bàn.


[1] (Lời người dịch) Majjhimadesa (Trung quốc độ) là Ấn độ vào thời Đức Phật, Phật pháp nơi đó hưng thịnh. Ngày nay không riêng gì Myanmar, những nơi khác như Việt Nam v.v… Phật Pháp cũng hưng thịnh. Nơi nào chánh pháp được truyền đến và có nhiều người thực hành theo thì giáo pháp (lời dạy của Đức Phật) sẽ hưng thịnh.
Apr 14, 2005

The post Bốn Dịp May Để Thực Chứng Pháp appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/bon-dip-may-de-thuc-chung-phap.html/feed 0
Ái Dục – HT Tuyên Hóa – Trích trong “Khai Thị 1” https://bachhac.net/ai-duc-ht-tuyen-hoa-trich-trong-khai-thi-1.html https://bachhac.net/ai-duc-ht-tuyen-hoa-trich-trong-khai-thi-1.html#respond Tue, 08 Oct 2019 02:43:18 +0000 https://bachhac.net/?p=2347 Ái dục là tảng đá trở ngại sự tu hành, là khối đá cột chân người tu đạo. Trong nghiệp sinh tử, ái dục là cái gốc chướng đạo. Làm người tu đạo, bất luận đối với người khác hoặc đối với đồ vật sinh ra cái lòng ái dục thì sẽ chướng ngại sự …

The post Ái Dục – HT Tuyên Hóa – Trích trong “Khai Thị 1” appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
ái dục

Ái dục là tảng đá trở ngại sự tu hành, là khối đá cột chân người tu đạo. Trong nghiệp sinh tử, ái dục là cái gốc chướng đạo. Làm người tu đạo, bất luận đối với người khác hoặc đối với đồ vật sinh ra cái lòng ái dục thì sẽ chướng ngại sự tu hành làm mình không phát triển được. Một cách rõ hơn, ái dục là sinh tử, sinh tử chính là ái dục. Ái dục là nguồn gốc của sinh tử. Nếu mình không phá sự vô minh đó, ái dục đó thì mình không thể ra khỏi cái nghiệp sinh tử. Làm sao…? Rất giản dị: “đoạn dục khử ái.” Chẳng có cách nào khác hơn.

Người tu đạo đừng nên có tư tưởng ái dục, cũng đừng nên có hành vi tình ái. Đối với bất cứ mọi người đều sinh ra cái lòng yêu đương; có lòng yêu đương rồi thì gốc khổ không thể tránh được. Có tình ái thì sinh tử không có cách gì trụ được. Có người nói: “Con người là động vật có linh cảm nên phải có tình ái.” Chính bởi vì nhân duyên đó, tức là có tình ái nên phải tu đạo.

Trong Tứ Thập Nhị Chương kinh có nói rằng: “Mình coi những người già như mẹ mình, những người lớn tuổi như chị mình, những cô trẻ là em của mình và những đứa nhỏ là con của mình.” Sinh ra lòng độ thoát chúng và diệt trừ những niềm ác. Mình là kẻ tu đạo phải luôn luôn quán tưởng như vậy.

Nếu quả không có tình, không có ái thì gặp người khác mình cứ ngậm miệng lại chẳng để ý gì đến kẻ khác, phải chăng? Cái này cũng không đúng. Mình không chấp trước vào tình ái, không khinh cái lòng yêu đương nhưng mình cũng không sinh cái lòng ruồng ghét kẻ khác. Không thể nói rằng, bởi vì tôi không thương người ta nên tôi phải ghét người ta. Đó là điều sai lầm.

Như vậy thì thế nào là đúng? Tức là không thương ai mà cũng không ghét ai. Không thương, không ghét chính là Trung đạo. Tu hành là tu cái gì, chính là tu cái Trung đạo. Đối đãi với người ta mình luôn luôn bình đẳng, dùng tâm từ bi, trong hành động luôn luôn cẩn thận. Không rớt vào cái bẫy tình yêu.

Các vị chú ý, đừng nên bị tình ái làm cho mê hoặc. Nếu một người gửi cho bạn phong thơ tình, bạn cảm thấy lòng mình giống như có con thỏ nhảy lên nhảy xuống, con tim hết sức hoan hỷ, vui sướng, bồn chồn cho rằng có kẻ yêu mình đó là chuyện tốt. Sự thật là người yêu bạn chỉ muốn kéo bạn đọa lạc mà thôi. Các vị thiện trí thức tựa vào chỗ này mà dụng công phu, phải chân thật hiểu nó, ái tình là thứ phiền hà vô cùng. Từ vô lượng kiếp cho tới ngày hôm nay, sở dĩ sanh tử không thể chấm dứt được là bởi vì sao? Chính là bị tình ái làm hại.

Nếu như mình có thể đoạn dục khử ái thì mình có thể siêu thoát ra tam giới, không còn sanh tử nữa. Thích thì mình yêu, không thích thì mình ghét bỏ. Cả hai thứ, yêu, ghét đều là tình cảm cả. Nên người tu hành xử lý sự việc không dựa đến tình cảm, không dựa đến lòng thương hay ghét. Tuy nhiên mình cũng không muốn giống như ông Quan Công, ông ngồi chễm chệ trên bàn xử lý, người ta lạy ông cũng không thèm nhìn tới. Đối với người, mình phải có sự hòa nhã, lễ mạo, đừng do sự cung kính từ kẻ khác mà sinh ra cống cao, ngạo mạn, coi thường kẻ khác.

Tóm lại, đối với người khác mình phải có lòng từ bi, tìm phương tiện giúp đỡ họ. Lúc nào cũng làm kẻ khác hoan hỷ, luôn luôn đối xử tốt với mọi người nhưng đừng sinh lòng yêu đương tình cảm khi xử lý các chuyện. Các vị nhớ đó. Đó là pháp môn vô cùng trọng yếu.

Trích trong “Khai Thị 1” Jan 2, 2005
Vi Tính: Giác Pháp

HT Tuyên Hóa
Ái Dục
HT Tuyên Hóa

Ái dục là tảng đá trở ngại sự tu hành, là khối đá cột chân người tu đạo. Trong nghiệp sinh tử, ái dục là cái gốc chướng đạo. Làm người tu đạo, bất luận đối với người khác hoặc đối với đồ vật sinh ra cái lòng ái dục thì sẽ chướng ngại sự tu hành làm mình không phát triển được. Một cách rõ hơn, ái dục là sinh tử, sinh tử chính là ái dục. Ái dục là nguồn gốc của sinh tử. Nếu mình không phá sự vô minh đó, ái dục đó thì mình không thể ra khỏi cái nghiệp sinh tử. Làm sao…? Rất giản dị: “đoạn dục khử ái.” Chẳng có cách nào khác hơn.

Người tu đạo đừng nên có tư tưởng ái dục, cũng đừng nên có hành vi tình ái. Đối với bất cứ mọi người đều sinh ra cái lòng yêu đương; có lòng yêu đương rồi thì gốc khổ không thể tránh được. Có tình ái thì sinh tử không có cách gì trụ được. Có người nói: “Con người là động vật có linh cảm nên phải có tình ái.” Chính bởi vì nhân duyên đó, tức là có tình ái nên phải tu đạo.

Trong Tứ Thập Nhị Chương kinh có nói rằng: “Mình coi những người già như mẹ mình, những người lớn tuổi như chị mình, những cô trẻ là em của mình và những đứa nhỏ là con của mình.” Sinh ra lòng độ thoát chúng và diệt trừ những niềm ác. Mình là kẻ tu đạo phải luôn luôn quán tưởng như vậy.

Nếu quả không có tình, không có ái thì gặp người khác mình cứ ngậm miệng lại chẳng để ý gì đến kẻ khác, phải chăng? Cái này cũng không đúng. Mình không chấp trước vào tình ái, không khinh cái lòng yêu đương nhưng mình cũng không sinh cái lòng ruồng ghét kẻ khác. Không thể nói rằng, bởi vì tôi không thương người ta nên tôi phải ghét người ta. Đó là điều sai lầm.

Như vậy thì thế nào là đúng? Tức là không thương ai mà cũng không ghét ai. Không thương, không ghét chính là Trung đạo. Tu hành là tu cái gì, chính là tu cái Trung đạo. Đối đãi với người ta mình luôn luôn bình đẳng, dùng tâm từ bi, trong hành động luôn luôn cẩn thận. Không rớt vào cái bẫy tình yêu.

Các vị chú ý, đừng nên bị tình ái làm cho mê hoặc. Nếu một người gửi cho bạn phong thơ tình, bạn cảm thấy lòng mình giống như có con thỏ nhảy lên nhảy xuống, con tim hết sức hoan hỷ, vui sướng, bồn chồn cho rằng có kẻ yêu mình đó là chuyện tốt. Sự thật là người yêu bạn chỉ muốn kéo bạn đọa lạc mà thôi. Các vị thiện trí thức tựa vào chỗ này mà dụng công phu, phải chân thật hiểu nó, ái tình là thứ phiền hà vô cùng. Từ vô lượng kiếp cho tới ngày hôm nay, sở dĩ sanh tử không thể chấm dứt được là bởi vì sao? Chính là bị tình ái làm hại.

Nếu như mình có thể đoạn dục khử ái thì mình có thể siêu thoát ra tam giới, không còn sanh tử nữa. Thích thì mình yêu, không thích thì mình ghét bỏ. Cả hai thứ, yêu, ghét đều là tình cảm cả. Nên người tu hành xử lý sự việc không dựa đến tình cảm, không dựa đến lòng thương hay ghét. Tuy nhiên mình cũng không muốn giống như ông Quan Công, ông ngồi chễm chệ trên bàn xử lý, người ta lạy ông cũng không thèm nhìn tới. Đối với người, mình phải có sự hòa nhã, lễ mạo, đừng do sự cung kính từ kẻ khác mà sinh ra cống cao, ngạo mạn, coi thường kẻ khác.

Tóm lại, đối với người khác mình phải có lòng từ bi, tìm phương tiện giúp đỡ họ. Lúc nào cũng làm kẻ khác hoan hỷ, luôn luôn đối xử tốt với mọi người nhưng đừng sinh lòng yêu đương tình cảm khi xử lý các chuyện. Các vị nhớ đó. Đó là pháp môn vô cùng trọng yếu.

Jan 2, 2005 – HT Tuyên Hóa

The post Ái Dục – HT Tuyên Hóa – Trích trong “Khai Thị 1” appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/ai-duc-ht-tuyen-hoa-trich-trong-khai-thi-1.html/feed 0
Duyên Tu – (Trích Chương 27, truyện dài Tu Bụi) https://bachhac.net/duyen-tu-trich-chuong-27-truyen-dai-tu-bui.html https://bachhac.net/duyen-tu-trich-chuong-27-truyen-dai-tu-bui.html#respond Tue, 08 Oct 2019 02:05:50 +0000 https://bachhac.net/?p=2344 Càng lớn tuổi, càng được nhiều tiếng tăm và danh vọng, con người càng dễ làm quen nhưng khó làm bạn. Thời son trẻ, khi hai người làm bạn, cả hai đều mở rộng hai tay, hai mắt và tấm lòng của mình để đến với bên kia dễ dãi, vô tư, không tính toán. …

The post Duyên Tu – (Trích Chương 27, truyện dài Tu Bụi) appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
duyen tu

Càng lớn tuổi, càng được nhiều tiếng tăm và danh vọng, con người càng dễ làm quen nhưng khó làm bạn. Thời son trẻ, khi hai người làm bạn, cả hai đều mở rộng hai tay, hai mắt và tấm lòng của mình để đến với bên kia dễ dãi, vô tư, không tính toán. Nhưng càng về già, trong mỗi nụ cười và trong từng cái bắt tay hình như có ẩn chứa vài mảnh hoài nghi và dăm ba câu hỏi. Hoài nghi và câu hỏi làm cho tình người và tình thân đeo nhiều lăng kính.

Rồi từ đó, nhìn nhau qua những cặp kính màu nên càng khó trãi rộng giao tình thân thương và chân thật để đón lấy nhau. Người ta tự quấn mình trong nhiều lớp vỏ lẩn quẩn từ ta đến tôi, tới mình, sang tớ… rồi cảm thấy cô đơn. Trí Hải nhận ra sự trống vắng khi Phạm Xảo không còn nữa. Phạm Xảo là chiếc bóng của Trí Hải. Chiếc bóng là người bạn không nói nhưng luôn luôn có mặt bên mình. Khi sống một mình không có chiếc bóng Phạm Xảo, Trí Hải cảm thấy như nguồn sáng lơ lửng vẫn treo đâu đó nhưng không chiếu xuống đời mình, nên bóng mình bỗng khuất.

Tình cảm nhớ thương là ý hướng đi tìm một sự thiết thân bị mất. Trí Hải nhớ Phạm Xảo trong nỗi thèm muốn đi tìm một dáng xưa, một nguồn tình cảm quen thuộc. Khi nhớ một người đã mất thường gặp nỗi hụt hẫng của kẻ đi tìm mà chẳng biết tìm ai. Nỗi nhớ mịt mù, rồi bỏ cuộc, chẳng còn tha thiết đi tìm để chỉ còn đối diện với trống vắng, hư không.

Tuổi trẻ lấy thương làm nhớ. Tuổi già lấy nhớ làm thương. Từ ngày Phạm Xảo mất, đêm đêm, sau khi mọi người đi ngủ, Trí Hải vẫn còn thức một mình. Giữa đêm khuya thanh vắng, mang chén cơm để dành trong bữa ăn chiều, đặt trên bệ đá dựng ở bồn hoa trước sân, Trí Hải thắp một cây nhang và ngồi tưởng nhớ Phạm Xảo. Ông ngồi nhìn đốm sáng cháy đỏ theo gió trên đầu cây nhang cho đến khi nhang cháy hết.

Đêm rằm tháng Bảy, trăng sáng mênh mông. Trí Hải định quay bước trở vào thì bỗng nghe tiếng chân rón rén của ai bước lào xào trên lá. Ba Gấm. Tiếng nói rất nhẹ mà cũng làm chao đọng ánh trăng:

– Mới đó mà Phạm huynh đã ra đi vừa đúng 49 ngày.
Không quay lui, Trí Hải nhắc thêm:

– Và cũng vừa hết thân trung ấm.
Tiếng Ba Gấm ngập ngừng:

– Làm sao mà biết được hết hay còn, hở huynh?
Trí Hải hỏi Ba Gấm:

– Thế Ba Muội có bao giờ nghe ai nói về thân trung ấm là gì không?
– Dạ có, huynh ạ. Hồi còn ở trong cung, muội có đọc một số sách vở nhà Phật bàn về sự sống chết. Muội chỉ nhớ mang máng rằng, người ta gọi “Thân trung ấm” là sự sống còn tồn tại và chuyển tiếp sau khi chết. Nhưng muội không ngờ mà cũng chẳng tin.

– Tin thì có mà không tin thì không có thôi.
– Muội nửa tin nửa ngờ là không biết có còn hay không một trạng thái sống sau khi chết. Trong khi sách vở nói rằng, linh thức (linh hồn và tâm thức) của con người còn kéo dài đời sống đến 49 ngày, rồi tùy theo nghiệp lực mà đầu thai. Thời đó, mỗi khi bị sai vào dọn dẹp phòng trống của một cung nữ già vừa mới chết, muội cứ mường tượng cái “thân trung ấm” là con ma mới còn lẩn quẩn đâu đó chờ tái sinh mà sợ hết hồn. Ơ, mà tại sao lại 49 ngày hở huynh?

Trí Hải giải thích một cách ngập ngừng:
– Vì chẳng phải là hành giả phát nguyện tu theo đạo Phật, nên tôi chỉ có chút hiểu biết giới hạn qua sách vở về ý nghĩa của con số “linh tính”. Số lớn nhất của dân Trung Hoa là số 9, trong khi đó số lớn nhất của dân Ấn Độ là số 7. Theo quan niệm triết học Ấn Độ, số 7 là con số biểu trưng cho sự hoàn hảo của vũ trụ. Nó được xác lập trên 7 nguyên lý tổng hợp của thời gian 3 thời (quá khứ, hiện tại, vị lai) và không gian 4 hướng (Đông, Tây, Nam, Bắc).

Theo tư tưởng kinh Hoa Nghiêm, toàn thể vũ trụ nhân sinh từ vật nhỏ như vi trần đến vật to lớn như núi Tu Di, tất cả không ngoài con số 7. Phật cũng có 7 ngôi vị (thất Phật). Người tu theo Phật cũng có 7 hạng (thất chúng). Bởi vậy con số lớn nhất, tròn trịa nhất và gần gũi nhất của truyền thống Ấn Độ là 7 lần của 7 tức là 49.

Muội đọc sách Phật mà có nhớ hình ảnh thái tử Tất Đạt Đa sinh ra bước 7 bước, mỗi bước nở một hoa sen. Hoàng hậu Ma Gia sinh thái tử Tất Đạt Đa được 7 ngày thì mất. Hành giả Tất Đạt Đa nhập định 49 ngày dưới cội Bồ Đề hốt nhiên đại ngộ thành Phật và thuyết pháp trong 49 năm không? Có chăng con số 49 này cũng có gốc rễ từ số 7?

– Ô, phải rồi đó huynh ạ. Muội được đọc một ít sách cổ của Phật giáo Ấn Độ và cứ bị con số 7 ám ảnh hoài trong trí. Tại sao lại là 7 mà không 6 hay 8? Rồi phải chăng 12 nhân duyên khi sinh sôi nẩy nở tối đa đến 7 lần, nhân lên 7 lần 12 sẽ đạt tới mức 84 là cao nhất. Và 84 thiên biến vạn hóa thành ra 84 nghìn hoàn cảnh và mỗi cảnh đều có một cách riêng, nên có đến 8 vạn 4 nghìn pháp môn để tùy cảnh và tùy duyên mà đối trị.

Trăng khuya càng sáng vằng vặc. Lại có tiếng chân ai bước tới. Một người vừa đến, nổi lên tràng cười thoải mái. Thì ra, tiếng thầy Tiều:

– Đúng hôm nay là thất tuần của tướng quân Phạm Xảo.
Vớ được thầy Tiều, Ba Gấm reo lên:

– Thật là buồn ngủ mà gặp chiếu manh! Thầy ơi, xin Thầy giải thích cho ra con số 49 đầy ám ảnh nầy.

Thầy Tiều đằng hắng giọng như để cân nhắc về một con số chính xác nào đó rồi lên tiếng:

– Với nhà Phật, tất cả những con số chỉ có ý nghĩa tượng trưng. Vì con số tròn đầy nhất của đạo Phật mà quý hữu thường nghe là “vô lượng vô biên”, “hằng hà sa số” không có giới hạn. Rồi những dòng số vô tận đó cũng chỉ là không.

Ba Gấm lại thắc mắc:
– Không có số đếm thì làm sao để tính toán, thưa thầy? Vẫn còn số đếm tam quy, ngũ giới, tứ diệu đế, bát chánh đạo, mười hai nhân duyên kia mà.

– Tất cả chỉ là phương tiện tạm thời. Con thuyền cũng phải có ván đóng kín ba mặt trong một giới hạn nào đó mới nổi được trên mặt nước để chèo qua sông chứ.

– Vậy thì thưa thầy, thời gian 49 ngày có phải là phương tiện cần thiết để cho một linh hồn mới lìa khỏi xác chuẩn bị đầu thai không?

-Quý hữu đã biết là thân trung ấm hay còn gọi là thân trung hữu. Trong tín lý nhà Phật, thời gian tồn tại của thân trung ấm cũng có nhiều lý thuyết khác nhau. Có bốn nhà luận sư được nhắc đến nhiều nhất là: Luận sư Tỳ Bà Sư cho rằng nó chỉ có trong khoảnh khắc sau khi chết, liền sau đó đầu thai. Luận sư Thế Hữu cho rằng nó tồn tại lâu nhất được bảy ngày.

-Luận sư Thiết Mặc Đạt Đa cho rằng nó có thể tồn tại trong bảy lần bảy là bốn mươi chín ngày. Riêng luận sư Pháp Cứu thì cho rằng thời gian tồn tại của thân trung ấm sau khi chết không nhất định. Tùy theo nhân duyên mà thọ sanh. Do nghiệp lực rất mạnh thúc đẩy, nếu trung ấm đáng thọ sanh vào loài người thì khi hội đủ duyên liền sanh vào loài người; trung ấm đáng thọ sanh vào loài súc vật thì khi hội đủ duyên, liền sanh vào loài súc vật. Như Hoàng thân quý hữu vừa nhắc lại đó, “Linh tại ngã, bất linh tại ngã”, có hay không là do mình tin hay không mà thôi.

Ba Gấm hỏi một cách hồn nhiên:
– Thế Phạm huynh bây giờ ở đâu? Chết là hết hay còn?

Thầy Tiều với giọng bông đùa:
– Biết làm gì cho vội. Cứ chờ cho đến khi chết hẵng hay tín hữu à.

Nương theo lối nói đầy hài tính của thầy Tiều, Ba Gấm hỏi tiếp:
– Đúng quá! Nếu thế thì thầy cũng phải chờ cho đến khi biết đích xác “hương linh” có hay không mới đọc kinh cầu nguyện vãng sanh nước Cực lạc chứ.

Thầy Tiều hỏi lại Ba Gấm:
– Thí chủ Ba Gấm khuyên thật chí lý về cái còn và hết. Thí chủ nổi tiếng là người giàu có trong thiên hạ. Vậy gia sản của thí chủ bây giờ ở đâu hết?

Bị hỏi một cách đột ngột Ba Gấm lúng túng:
– À, dạ. Ở khắp nơi thầy ạ.

– Nếu ngay bây giờ không may Ba Gấm lăn đùng ra chết thì tiền của đó có còn không?
– Dạ vẫn còn chứ.

– Còn ở đâu?
– Đâu đó giữa cuộc đời nầy.

– Không, tôi muốn nói tiền của mà Ba Gấm mang theo kìa.
– Chẳng còn gì cả ngoài hai bàn tay trắng thầy ơi.

– Không đúng, còn! Xưa nay sách vở đời thường dạy sai cả khi cứ đua nhau “dọa” rằng, chết là hết, là chỉ còn hai bàn tay trắng, chẳng mang theo được gì. Cái gì của riêng mình đều được mang theo hay phải mang theo.

Ba Gấm reo lên thú vị:
– Thiện tai! Thiện tai! Chết rồi mà vẫn còn mang sự giàu sang theo được. Nào, thầy phát tâm từ bi dạy cho con cách mang tiền của theo khi đã hết thở rồi đi. Thích quá thầy hỉ.

Thầy Tiều cười hỉ hả theo sự kích động trẻ thơ của Ba Gấm. Thầy nói:
– Người ta có thể giúp đỡ hay chỉ dạy cách làm ăn cho kẻ có chí, có tài trở nên giàu có khi còn sống. Nhưng không ai dạy được cách mang theo tài sản sau khi chết được cả.

– Coi kìa! Thầy vừa nói “còn” tài sản mang theo được sau khi chết mà.

– Phải, phải. Cái nghiệp trong tâm, trong trí, trong đời đã tạo ra khi còn sống đều phải mang theo sau khi chết. Nghiệp lành như trí tuệ, tình thương được bồi dưỡng hay nghiệp dữ như hận thù, ngu dốt của mình trong lúc còn sống, khi chết phải mang theo.

Không ai có quyền hưởng phước lành hay chia nghiệp dữ của người khác sau khi người đó qua đời. Như tướng quân Phạm Xảo không còn nữa, nhưng những tài sản mà Phạm hữu giúp nuôi Trần Minh nên người vẫn còn mãi mãi trong dòng sống của Trần Minh hiện tại hay những Trần Minh nầy, Trần Minh nọ, Trần Minh kia… trong dòng sinh diệt và biến tướng không ngưng nghỉ về sau nầy.

Cũng vậy, tài sản mà thí chủ Ba Gấm tiêu dùng vào việc đúng hay việc sai vẫn còn mãi trong dòng sống của những người tiếp nhận nó bằng lúc nầy hay lúc khác; cách nầy hay cách nọ. Tất cả sự sống quá khứ, hiện tại, vị lai là một vũ trụ nhỏ, tạm tách ra, rồi lại trở về vũ trụ Đại Nguồn nên gia tài của mỗi chúng ta chẳng bao giờ mất đi một mảy.

– Thầy ơi! Thầy nói nghe thì hay nhưng mơ hồ quá. Làm sao ta biết được mình đã tạo phước; mình mắc nợ hay ban ơn cho ai đó trong chuỗi dài sinh diệt hở Thầy?

Vẫn với dáng điệu vui vui mà đầy suy tưởng, thầy Tiều cười cười giải thích:

– Mới gặp một người ta thích ngay hay ghét ngay. Có khi gặp một người từ đâu tận chân trời góc biển lù lù hiện đến rồi kết tình, kết nghĩa sống gần gũi và san sẻ một đời.

Có những sự giúp đỡ bất ngờ mà ta gọi là “may”; hay sự phá phách làm hại mà ta gọi là “rủi”… Tất cả những sự tác động qua lại đó, thường ngỡ như xa xôi và cách trở, nhưng chỉ là chuyện “trong nhà”, là sự tương tác trong một dòng chung của Suối Nguồn Vũ Trụ. Cảm giác ta thương ghét khi gặp một người chỉ là tác động đến sau, là kết quả của “gia tài” đã ban phát hay lấy đi; cho hay mắc nợ giữa ta và người đó.

– Như vậy thì con thấy mình còn quá nghèo Thầy ạ.

– Sự giàu nghèo tự chúng nó tính toán với nhau, tự nhiên và công bằng như nước chảy về chỗ thấp; như nồng độ mặn nhạt, nóng lạnh phải hòa nhau. Cái “thấy” của thí chủ Ba Gấm là một ấn tượng chủ quan. Như kẻ nghèo thì sung sướng với cảm giác giàu có khi kiếm được dăm ba đồng. Nhưng người giàu thì thất vọng với cảm giác nghèo nàn khi có được bạc vạn mà không lên tới bạc triệu.

– Nếu đã có một sự tự điều hòa và san sẻ công bằng như thế thì cần làm việc tốt là đủ, cần gì phải đi tu nữa, phải không Thầy.

– Đi tu là phương tiện. Chiếc thuyền chưa phải là sự đảm bảo cho việc qua sông, qua biển mà cần phải có phương hướng đúng, tay chèo hay.

– Một người đi tu so với một người thường sống giữa thế gian, thì ai hơn ai kém nhau về mặt nào, thưa Thầy?

– Mặt nào là mặt nào?

Ba Gấm xác định:
– Như về mặt đạo cao đức trọng; mặt tiếp xúc với đời sống tâm linh; mặt giá trị làm người; mặt tu hành đắc đạo… chẳng hạn thì ai hơn ai kém?

– Không ai hơn mà cũng chẳng ai kém.

– Lạ quá. Sao lại như thế được?
– Vì khi đánh giá hơn và kém là phải dựa vào một tiêu chuẩn hay thước đo nào đó có giá trị đúng tuyệt đối. Nhưng chẳng có một giá trị nào tuyệt đối cả. Người đi tu và kẻ ở đời thường chỉ khác nhau về nề nếp sinh hoạt, nghĩa là khác nhau về phương tiện, hình tướng. Dùng phương tiện, hình tướng để gột rửa vô minh, đi tìm ánh sáng. Tu là sửa đổi, là chuyển hóa từ thấp đến cao, từ xấu sang tốt, từ tối tăm sang sáng suốt. Bất luận người xuất gia hay kẻ tại gia hễ một khắc dừng lại và thỏa mãn với cái mình đang có là đang chìm đắm; ngược lại khi chuyển mình cải hóa là tu.

– Như thế thì với thiện tâm cầu đạo, xuất gia đi tu chẳng có lợi gì hơn là ở nhà sống cuộc đời thường để tự mình tu sao Thầy?

– Người đi tu có giới luật và hình tướng thường xuyên nhắc nhở nên biết mình đang tu và phải tu. Còn người đời thường hoàn toàn tự do nên thường quên là mình cần phải chiến đấu với lòng ham muốn của mình từng khắc một để vươn lên; lại có khi hẹn rày, hẹn mai “sẽ tu” và thường hóa ra quá muộn. Giữa cõi vô thường nầy, ai biết được đôi khi chỉ trong một nhấp nháy mở mắt ra là còn sống mà nhắm mắt lại là đã chết.

– Có phải đi chùa, cầu nguyện để cầu xin giải thoát là cách tu tốt nhất không?

– Cầu xin ai? Muốn khấm khá thì phải siêng năng làm ăn. Mình mắc nợ thì mình phải trả. Chỉ biết nhắm mắt trông cậy vào người thương hại và tìm người tốt bụng đứng ra để rước nợ cho mình tha hồ tiêu xài thỏa thích là mơ mộng viễn vông. Đi chùa, cầu nguyện là phương tiện thấy và nghe. Đọc kinh để thấm hiểu lời nhắc nhở của các bậc hiền thánh cho mình chứ thật ra chẳng có ai đang đợi mình ở tượng, ở đài, ở chùa, ở tháp, ở tận đâu đâu chờ khi mình gọi, mình kêu để đến dắt mình đi về cõi hạnh phúc, giải thoát cả.

– Thế thì tại sao muốn cho thân tâm an lạc lại phải đi chùa Thầy nhỉ?

– Đôi mắt nhìn, cảm giác riêng và tác động của âm thanh, hương vị là cửa ngõ đi vào tâm. Đặt chợ trước cửa ngõ thì tâm dao động ồn ào, náo nhiệt. Đặt vầng trăng thanh trước ngõ thì tâm vắng lặng, thảnh thơi. Đặt cảnh chùa, mùi trầm hương và tiếng kinh như lời thơ trước ngõ thì tâm an lạc.

– Có người đến chùa thường xuyên mà tâm vẫn loạn động là tại sao?

-Chỉ vì người đó thân thì ở chùa mà tâm thì ở chợ. Chân bước vào chùa mà tâm hướng thiện không mang theo thì dẫu có ở cả đời trong chùa tâm vẫn là tâm loạn.

Ba Gấm lặng lẽ nhìn thầy Tiều. Vị tu sĩ nầy thật kỳ lạ. Ông nói chuyện đạo mà chẳng bao giờ thuyết phục người nghe đi vào thế giới thần bí hay mầu nhiệm của tôn giáo. Ông nói chuyện đi tu cũng thản nhiên và rạch ròi như chuyện đốn củi, làm ăn. Chính vì đã được đọc quá nhiều sách vở tôn giáo, nên Ba Gấm có cảm tưởng như thầy Tiều vừa là một tu sĩ đơn giản chẳng có gì đáng học hỏi; vừa là một ngọn núi Linh Sơn, có một suối nguồn tâm linh phong phú, ẩn dấu phía bên kia sườn núi mà ánh nắng mặt trời không bao giờ chiếu tới.

Ba Gấm càng hỏi tới:
– Thưa thầy, nếu tự mình tìm đường giải thoát cho mình thì những người theo đạo Phật niệm danh hiệu Phật, cầu xin chư bồ tát và long thần hộ pháp cứu khổ, cứu nạn thì có ích gì đâu?

– Kêu cứu để được vớt lên khi sắp bị chết đuối, chứ không phải kêu cứu để nhờ người tập bơi. Muốn biết bơi cho khỏi bị chết đuối thì tự mình phải tập bơi trước đã.

Tôn Ngộ Không theo phò Tam Tạng để cứu nguy chứ không phải để thỉnh kinh thay cho vị Đường Tăng đó.

– Nói vậy thì Thầy có tin hay không tin lời cầu nguyện?
Không do dự, thầy Tiều đáp ngay:
– Tin lắm chứ.

– Như vậy là Thầy cũng phải dựa vào một nhân vật khác rồi.
– Nói đúng hơn là dựa vào sức mạnh chứ không dựa vào nhân vật.
– Đức Quán Thế Âm là một nhân vật hay một sức mạnh?
– Cả hai thí chủ Ba Gấm ạ.
– Thầy trả lời khó hiểu quá, thưa Thầy.

– Có một sức mạnh vô hình của trời đất, vũ trụ. Ta có thể gọi đó là “Năng Lực Vũ Trụ” hay gọi gì tùy thích. Năng lực đó ẩn chứa trong Suối Nguồn Vũ Trụ. Con người sinh ra là đã có khuynh hướng nối kết với Suối Nguồn Vũ Trụ đó rồi. Cầu nguyện là gởi năng lực nhỏ bé và yếu ớt của cá nhân mình vào năng lực suối nguồn vũ trụ to lớn vô biên đó. Khi nguy biến, dốc tâm nguyện cầu là mở rộng cửa để lấy lại năng lực đó. Sự thành tâm cầu nguyện cũng ví như hình thức “giải mã” để năng lực vũ trụ bắt gặp cửa ngõ của cá nhân mà hút vào và biến tướng dưới vô số hình thức.

Quán Thế Âm là Nghe Tiếng Trần Gian. Đó là trạm chuyển tiếp năng lực vũ trụ vào nhu cầu của hoàn cảnh con người trần gian một cách kịp thời và chính xác nhất. Đức Quán Thế Âm là một vị đại Bồ Tát, nhưng đồng thời cũng là một Năng Lực Siêu Nhiên Tuyệt Đối nên không bao giờ suy suyển, vắng mặt hay thiếu hụt bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu có nhu cầu trong vũ trụ, càn khôn nầy. Có thể cùng lúc biến thành vô số nhân vật khác nhau tùy theo nhu cầu của hoàn cảnh: Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi. Phật giáo có đức Quán Thế Âm.

Dân gian Việt Nam có ông Trời, ông Bụt và mọi dân tộc, mọi tôn giáo xưa nay và bất cứ nơi đâu, đều có một đấng cứu khổ tương tự như ngài Quán Thế Âm. Người tiến hóa có một hình ảnh thánh linh để cầu. Người cổ sơ cầu đá, cầu cây, cầu mưa, cầu gió… đều là một hình thức giống nhau để tiếp cận với năng lực thường hằng trong Suối Nguồn Vũ Trụ đó.

– Thật là thú vị khi nghe Thầy giải thích một hình thức tâm linh, tôn giáo bằng lời lẽ “như thật” mà chỉ có những đầu óc quen lối lý luận Tây dương mới thường nói đến. Nếu vậy, thì điều Thầy nghĩ có trái với nội dung kinh sách của nhà Phật mà Thầy đang theo không ạ?

– Nếu ai cho trái thì đó là vì họ nghĩ trái. Đức Phật đã nói rằng vạn pháp đều là Phật Pháp. Cách suy nghĩ dẫu có trái với kinh điển cũng là Phật Pháp nhìn theo một lăng kính khác. Cái đúng chẳng qua là một cách nhìn khác của cái sai mà thôi.

Ba Gấm vừa cười vui, vừa ôm đầu nói lớn:
– Ôi! Thầy ơi. Nếu lỡ con vào chùa mà nhìn sai tượng Phật với một vị hộ pháp thần thông nào đó thì chắc là sẽ bị các thầy trụ trì cho ăn đòn liền…

Khoác tay như để trấn an Ba Gấm, thầy Tiều nói bằng giọng phóng khoáng, thân mật:

– Thí chủ Ba Gấm chớ lo. Chính đức Phật đã liệu trước điều nầy nên ngài dặn dò:
“Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã. Thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai”.

Ba Gấm vui theo niềm vui của cả nhóm và dịch ngay ra bằng thơ:
– Ai đem sắc tuớng nhìn ta,
Lấy âm thanh bảo Phật Đà là đây.
Theo tà đạo chính người nầy,
Làm sao thấy được bóng thầy Như Lai.

Có tiếng cười vui tán thưởng và tiếng vỗ tay bôm bốp. Dưới ánh trăng khuya vằng vặc, cả nhóm Vườn Thuốc ngồi quanh thầy Tiều và Trí Hải, theo dõi câu chuyện giữa thầy Tiều và Ba Gấm trong im lặng. Cùng trong nỗi nhớ Phạm Xảo, những người cùng nhóm Trí Hải có tấm lòng với đời, với đạo, với bạn, với mình còn bắt gặp niềm vui chung về một lối suy nghĩ không rời nếp cũ xa xưa; nhưng cũng đầy suy tư và khai phá vào những chân trời sáng tạo riêng mình.

Thiện Giả xích gần lại thầy Tiều, lên tiếng:
– Thưa Thầy, có phải vì không xem trọng việc xuất gia tu hành, trì trai, giữ giới nên mới có hiện tượng “đồ tể quăng dao thành Phật” không ạ?

Thầy Tiều không trả lời mà hỏi lại Thiện Giả:
– Quý hữu có tin như vậy không?
– Dạ không, tin làm sao được mà tin. Thành Phật là một đại sự, đâu có dễ dàng như thế được.

– Sao là dễ, sao là khó?
– Đức Phật Thích Ca đã tu vô lượng kiếp mới đạt được kiếp sau cùng làm thân thái tử. Sau đó xuất gia, đại ngộ thành Phật.

– Thì người đồ tể kia cũng đã tu vô lượng kiếp và kiếp sau cùng phải qua nghiệp đồ tể. Thái tử Tất Đạt Đa là thái tử đông cung bỏ ngôi đi tu và đi đến giác ngộ thành Phật; người đồ tể quăng dao để tu theo cách của mình và cũng giác ngộ thành Phật thì có gì khác nhau đâu. Làm vua hay làm đồ tể cũng chỉ là cái nghiệp nhân sinh mà thôi. Bỏ ngôi hay bỏ dao đồ tể để giải nghiệp và hành đạo, tuy hình thức khác nhau nhưng ý hướng thâm sâu cũng chỉ là một.

Thiện Giả nhìn Ba Gấm mỉm cười, nói giễu:
– Tỷ tỷ Ba Gấm với tóc mây, má hồng, xiêm áo đẹp đẽ thế kia mà cũng có thể là đang tu sao?

Thầy Tiều nghiêm nét mặt, gật đầu:
– Bất kỳ ai đang làm việc tốt là đang tu.

Trăng sáng mênh mông. Trong xóm đêm lại nổi lên tiếng mõ cầm canh đổi phiên. Nhóm vườn thuốc vẫn chưa ai muốn chia tay về ngủ. Thiện Giả nói với thầy Tiều:
– Đã qua ngày thứ 49, Phạm huynh hết làm thân “trung ấm” quanh quẩn với chúng ta rồi. Phạm huynh vừa bước vào một kiếp khác. Thưa thầy, với cuộc đời của tướng quân Phạm Xảo, kẻ thường làm việc tốt cho đời như thế, thì sẽ được về đâu trong 6 nẽo luân hồi?

Thầy Tiều lắc đầu, trả lời:
– Nghiệp lực đưa Phạm hương linh về đâu thì về đó, làm sao biết được.
– Nghiệp lực là gì?

– Là tổng kết mọi việc làm của một người từ vô số kiếp. Gồm cả việc thiện, việc ác, tốt, xấu, hay, dở, sáng, tối, cao, thấp, công, tư… không một mảy may khuấp lấp. Tất cả mọi việc làm lớn nhỏ, tự chúng tác động qua lại chi li và chính xác như phép tính toán cộng, trừ, nhân, chia để đưa ra kết quả sau cùng không sai một ly, không đi một mảy. Đạo Phật gọi đó là nghiệp lực, đạo Chúa xem đó là sự phán xét cuối cùng của Thượng Đế và dân gian cho đó là lưới Trời, không ai thoát khỏi.

– Như thế thì con người cũng chỉ là một tên nô lệ buông tay, bất lực để cho nghiệp dẫn đi đâu thì đi hay sao, thưa Thầy?
– Nghiệp do mình tạo chứ có ai khiêng nghiệp đến để trên vai mình bắt gánh đâu.

– Nếu thế thì con người có thể chuyển nghiệp được hay không?
– Nghiệp do thân, miệng, ý phát sinh ra. Muốn chuyển nghiệp thì phải biết làm chủ hành động, lời nói và ý nghĩ.

– Bằng cách nào vậy, thưa Thầy?
– Hành động lương thiện và ngay thẳng; nói lời chân thành và nhân ái; nghĩ điều chính đáng và hướng thượng ấy là đang tự mình giải nghiệp, chuyển nghiệp ác sang nghiệp lành.

– Cuộc chuyển nghiệp đó bao giờ mới xong?
– Không bao giờ ngừng nghỉ. Cứ tiếp tục duyên nghiệp trùng trùng cho đến khi dứt nghiệp.

– Làm sao dứt nghiệp?
– Đừng tạo nghiệp.

– Nhưng sống là tạo nghiệp mà.
– Cũng có nhiều lối sống. Sống buông thả cho lòng ham muốn làm chủ thì nghiệp chướng chồng chất. Sống đời trong sạch trong chánh niệm thì nghiệp chướng sẽ lui dần. Sống trong giác ngộ thì nghiệp chướng sẽ được dứt sạch.

– Vậy, sống đời tu hành như Thầy thì nghiệp có còn tạo ra cho Thầy nữa không?
Ngửa cả hai bàn tay với nụ cười mở rộng, thầy Tiều hỏi lại như nói đùa:
– Này Thiện Giả, quý hữu có thấy tôi làm đúng như lớp áo cà sa tôi đang mặc, suy nghĩ trơn tru như chiếc đầu tròn và nói năng thích hợp như kẻ tu hành không?

– Dạ thưa thầy, hoàn toàn thích hợp.
Tỏ vẻ thích chí, thầy Tiều trả lời:
– Nếu như thế thì nghiệp chướng trên tôi đang nhẹ dần.

– Và khi nào thì hết nghiệp?
– Làm sao tôi biết được những nghiệp chướng do chính mình gây ra trong bao nhiêu đời kiếp trước.

– Thì tu hành là hết nghiệp. Khi chết sẽ lên ngay chốn Niết Bàn.
– Không đơn giản thế đâu quý hữu ơi! Như ngài Mục Kiền Liên là đại đệ tử của đức Phật có thần thông bậc nhất, thế mà vẫn bị bọn cướp hung hãn tầm thường đâm chém giết chết.

Thiện Giả kêu lên:
– Ôi! Đau quá! Tại sao lại có thể như thế được? Tu hành một đời đạo cao, đức trọng thế kia mà vẫn bị đọa sao thầy?

– Nói “bị đọa” cũng đúng mà không đúng. Ngài Mục Kiền Liên phải trả cho cái nghiệp báo vì sợ vợ mà bỏ đói cha mẹ giữa rừng sâu từ trong một kiếp trước xa xưa.

– Nhưng ngài là bậc tu hành đắc đạo lại không chuyển nghiệp hết sao?
– Không mà có; có mà không. Nghiệp là món nợ chung thân, không thừa trừ ai cả. Tu hành nghiêm cẩn hay sống đời đức hạnh có thể giải hết nghiệp trong đời nầy. Nhưng có những nghiệp quá nặng còn đeo đẳng chưa dứt sạch thì người mang nghiệp phải trả cho hết sạch, ít nhất cũng trả lần cuối trước khi hoàn toàn đoạn nghiệp.

Thiện Giả thắc mắc:
– Thế sao ông Mục Kiền Liên trong chuyện kể nhà Phật có thể nhìn thấy được hóa thân bà mẹ độc ác của mình đang ở địa ngục A Tỳ sau khi bà ấy chết mà lại không thấy được lũ cướp vây quanh?

– Đứng ở đỉnh núi cao thì nhìn thấy hết cảnh đồng bằng phía dưới nên cũng thấy được căn nhà riêng nhỏ bé của mình đang ở đâu. Chúng ta không biết, không thấy Phạm huynh ở đâu vì chỉ có đôi mắt trần. Muốn thấy thiên thâu phải có huệ nhãn. Huệ nhãn là con mắt thật, mắt trần của tuệ giác. Khi bị ác nghiệp bao vây thì tầm nhìn cũng bị bao vây bởi mây mờ của cảnh trần khi tạo nghiệp. Sự bao vây của nghiệp báo có khi thoáng qua rồi đoạn diệt như trường hợp ngài Mục Kiền Liên; có khi kéo dài một đời như kẻ mù lòa, câm điếc từ khi lọt lòng mẹ; có khi kéo dài đời đời kiếp kiếp như hàng ngạ quỷ súc sanh… cho đến khi trả hết nghiệp.

– Làm sao để có huệ nhãn?
– Tu!

– Thì thầy cũng đang tu đó mà.
Nói như để chế nhạo chính mình, thầy Tiều trả lời Thiện Giả:
– Có lẽ cũng cần phải tu vài ba tiểu kiếp mới mong có huệ nhãn.

– Thế Thầy tu đã được bao lâu rồi ạ?
– Chừng năm chục năm.

– Một tiểu kiếp dài bao nhiêu năm?
– Mười sáu triệu năm.

– Đại kiếp thì dài bao lâu.
– Có khi là 20 có khi là 1000 tiểu kiếp.
Bày tỏ một sự thất vọng não nề về cái khung thời gian mà thầy Tiều vừa nói, Thiện Giả chỉ còn biết kêu lên:
– Chao ơi!

– Sao vậy?
– Chỉ cần nghe cũng đủ ngộp thở mất rồi!
– Vì kiếp người cho dẫu 100 năm thì vẫn chưa bằng nửa hạt cát trong sa mạc thời gian bao la vô cùng tận phải không?

– Dạ, quả đúng như thế Thầy ạ.
– Tại sao quý hữu lại không tự thắp sáng lên một niềm tin rằng, trong kiếp nầy quý hữu chỉ cần tu thêm một khắc nữa thôi là đủ vài tiểu kiếp mà quý hữu đã tu trong muôn vàn kiếp trước?

– Ồ, dạ. Hay lắm, hay lắm. Tại sao ta lại không có quyền nghĩ về ta một cách tích cực như thế đã chứ. Ôi, mẹ ơi! Hạnh phúc quá. Nếu con đã từng tu 32 triệu năm, đã trải qua vài tiểu kiếp làm việc tốt. Với từng ấy thời gian, con đủ tự hào vươn lên như bất cứ ai. Con cũng đang có chân tâm, có Phật tánh trong con như các sư ông, sư bác, sư huynh, sư đệ trên chùa, như mọi người sống đời lương thiện đang làm việc tốt quanh đây. Con cũng sẽ có huệ nhãn, có thần thông để biết tôn huynh Phạm Xảo, biết mọi người và biết con đang ở đâu.

Thầy Tiều, Trí Hải, Ba Gấm, Tâm An đều cười chan hòa với niềm vui vô tư gần như trẻ thơ của Thiện Giả. Lòng tri ân ơn cứu tử của Thiện Giả đối với Phạm Xảo thật sâu bền. Không hẹn mà gặp, trí tưởng của mọi người trong nhóm đều hướng về Phạm Xảo.

Từ ngày về lại với nhóm vườn thuốc, Tâm An trở nên dễ dãi, nhu hòa và ít nói. Mắt nhìn phân biệt sắc sảo và lời nói đầy thuyết phục càng có lợi cho việc làm ăn buôn bán chừng nào thì lại càng bất lợi cho việc tu dưỡng định tâm chừng đó. Khi dáng vẻ đời sống trụ lên đôi mắt; ý nghĩa giao tình gắn chặt vào lời nói thì chân dung cuộc sống chỉ còn là lớp sơn màu tô trét bên ngoài. Ngày trước, Tâm An đã nhìn Trí Hải và thầy Tiều như nhìn những cây cổ mộc trong khu vườn thiền kiểng. Dáng trang đài kỳ tú mà vô hồn. Tâm An hôm nay lắng xuống bề sâu. Cảm nhận sâu xa nhiều hơn là nhìn nói vội vàng.

Tâm An hỏi trống không, chẳng biết câu hỏi hướng về thầy Tiều hay là về ai trong nhóm:
– Hiền huynh Phạm Xảo không phải là thầy tu, cũng chẳng phải là cư sĩ Phật tử, tại sao lại đi tìm cái chết ngay trên những dòng kinh Bát Nhã vậy kìa?

Im lặng hồi lâu không ai lên tiếng. Thầy Tiều tự nói lên ý nghĩ của mình:
– Vì khi còn sống, Phạm hữu đã sống đời Bát Nhã.
Câu trả lời hơi lạ lùng của thầy Tiều gây sự chú ý cho mọi người. Không nghe ai nói gì, thầy Tiều dẫn giải:

Ba Gấm hỏi thầy Tiều:
– Bát Nhã Ba La Mật Đa là trái tim của lý thuyết nhà Phật. Chỉ có các bậc cao tăng thượng trí mới thực hành Bát Nhã thôi, phải không ạ? Nếu vậy thì tướng quân Phạm Xảo chứ đâu có phải là một vị đại thiền sư mà dám sống đời Bát Nhã, thưa Thầy?

Lắc lư đầu như vừa phủ nhận và vừa xua tay đùa vui, nhưng bằng vẻ mặt trầm tư sâu lắng, thầy Tiều nói về cái lý Bát Nhã trong suy tư của Thầy:
– Bát Nhã là mắt sáng nhìn đời đúng như sự thật đang diễn ra chứ có gì ghê gớm lắm đâu mà không dám sống.

– Mắt sáng đó có phải là con mắt của trí tuệ ở bên trong không Thầy. Người thường làm sao có được?
– Con mắt trí tuệ khởi từ cái nhìn bình thường của nhục nhãn; tiến lên cái nhìn thiên nhãn và đạt tới tuệ nhãn của hàng Bồ Tát, Thanh văn, Duyên giác là một vòng chuyển hóa nội tại mà mọi chúng sanh đều có khả năng vươn tới được. Bát Nhã là sự chối bỏ toàn triệt những biên giới phân biệt của thân, tâm, ý, thức. Đó là những biên giới, rào chắn, ý niệm chủ quan được dựng lên do ảo tưởng sai lạc của con người.

– Ảo tưởng sai lạc đó do đâu mà có?
– Tâm, tưởng sai lạc do lớp lớp bụi trần trong nhiều kiếp đóng thành núi, thành đồi cố chấp có khi được gọi đầy vẻ tự hào si mê là… kinh nghiệm. Chính thói quen tích tụ nầy đã dẫn dắt con người mang mộng tưởng điên đảo đi đào bới để tìm cho bằng được cái búa của “ông Thiên Lôi” sau cơn sét đánh làm cây đổ, người chết. Ai cũng lý sự được rằng, nếu không có một “ông Thiên Lôi” với sức mạnh ghê hồn vác búa từ Thiên Đình xuống đánh thì làm sao có ánh sáng chói lòa từ trên trời cao xẹt xuống đất; rồi có tiếng nổ long trời; rồi có cây đổ, người chết… cháy đen thui? Ai dám nói “không” khi có nó. Ai dám nói “có” khi nó là không.

Và nếu cứ đi mãi, rồi đi mãi tìm ngọn nguồn và nguyên nhân của cơn sấm sét thì ai dám bảo là có, ai dám bảo là không? Muốn nói gì thì nói nhưng chắc chắn cái ông Thiên Lôi mạnh vô song đó là… “đồ giả thật”! Nó có thật đó mà lại không có thật. Cái giả, cái không cuối cùng của sự thật ông Thiên Lôi đó không thể thấy, không thể tính, không thể bàn mà chỉ có thể hiểu ra và cảm nhận qua ý niệm “tri kiến” trong vô hình vắng lặng. Chỉ có cái nhìn của tuệ giác mới thấy được đó là lý Bát Nhã. Chẳng có một ông Thiên Lôi thật sự nào cả mà chỉ có tánh điên đảo hợp lại thành sấm sét và mộng tưởng điên đảo hợp lại thành ông Thiên Lôi.

– A! Thầy ạ. Thuở nhỏ, Ba Gấm con từng biết một ông thầy pháp có được cái búa thiên lôi để trừ ma diệt quỷ đó mà.
– Thế ngày đó Ba Gấm có tin đó là búa thiên lôi thật không?

– Dạ, tin lắm thầy ơi! Cả làng, cả xã đều tin như vậy vì ông thầy pháp có cái búa Thiên Lôi bỏ trong túi xách thật mà.
– Nếu đó chỉ là cái búa thợ rèn giả thì làm sao biết được?

– Ơ! Mà… ơ! Thật tình là không biết vì có ai ngoài ông thầy pháp đó có “búa Thiên Lôi” đâu.
– Thì Bát Nhã cũng chỉ là lời xác định một cách quả quyết rằng, không có cái búa Thiên Lôi thật; mà cũng chẳng có gì thật cả. Nên đừng sợ sấm chớp, đừng sợ tiếng nổ, đừng sợ Thiên Lôi vì thật ra mọi hình tướng đều là sự va chạm hay kết hợp của âm dương, ngũ hành mà sinh ra, rồi tan biến và về lại với Suối Nguồn Vũ Trụ mà thôi. Ngay cả tam thiên, đại thiên thế giới cũng chỉ là một trường sinh diệt liên tục. Cái gọi là Ta Bà thế giới hôm nay biết đâu sẽ tan thành đám bụi mờ bay tỏa trong không gian vô cùng và thời gian vô tận.

Ba Gấm hồi tưởng lại những cuốn sách bàn về yếu lý nhà Phật quá cao siêu đến độ mơ hồ và tối tăm khó hiểu mà mình đã đọc, liền hỏi thầy Tiều:

– Thưa Thầy, như thế có loại kinh sách nào bàn về kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật đơn giản và dễ hiểu với tất cả mọi người, ngay với cả người mù chữ không?

Thầy Tiều giải thích:
– Bát Nhã là sự thật của thể lý, là cội nguồn của ý thức, là tính không của vạn pháp. Đó là một ý niệm hoàn toàn tự tại, an nhiên và rỗng lặng, không đào bới hồi ức từ quá khứ, không chạy đuổi theo ước mơ về tương lai. Quán tự tại nơi ta và trong chính ta ngay trong lúc nầy. Bát Nhã đơn giản như hơi thở và gần gũi thật thà như máu của ta. Tâm vắng lặng, trí thản nhiên trước tất cả những mảnh đời đang trôi theo dòng sống là đang sống đời Bát Nhã. “Từng trang nghĩa lý phân minh. Kim Cang kinh thật là kinh không lời”! Vì kinh thật không lời nên khi đem “xích tử chi tâm”, nghĩa là cái tâm nguyên sơ, hồn nhiên, trong suốt của đứa bé sơ sinh và một đầu óc không vướng bận nhị nguyên đối đãi (như khen chê, tốt xấu, có không… ) thì dòng Bát Nhã có sẵn trong mỗi người tự nhiên hiển lộ.

Ba Gấm cúi đầu lẩm bẩm:
– Kim Cang kinh thật là kinh không lời. Kim Cang vô tự thị chân kinh!
Tâm An không nhịn được, liền hỏi:

– Thầy ơi! Nếu Bát Nhã mà gần gũi và đơn giản như thế thì tôi đâu có bỏ chùa ra đi trôi nổi đến hai lần như thế.

Đặt một bàn tay nhè nhẹ lên vai áo của Tâm An, thầy Tiều nói như an ủi:
– Tâm An vẫn còn tiếc nuối những năm tháng sống xa chùa à?

Giọng ấm lại đầy vẻ cảm động và chân tình, Tâm An nói nhỏ:
– Dạ, tiếc lắm Thầy ạ.

– Lại vướng mắc hình tướng nữa rồi. Sao quý hữu không xem thế gian nầy là một ngôi chùa rộng lớn.
– Tam Bảo nơi đâu?
– Phật là Tâm thương người, thương đời. Pháp là Trí tỉnh táo, sáng suốt. Tăng là việc tốt đang nghĩ, đang làm.

– Tìm ở đâu?
– Tất cả đều có sẵn trong ta. Không cần tìm. Chỉ cần thấy.
– Tôi chưa nghe ai nói đơn giản như vậy bao giờ.

– Bởi vì người ta đua nhau nói những điều cao siêu về Bát Nhã nên chẳng ai hiểu Bát Nhã như Bát Nhã mà cứ hiểu Bát Nhã theo những điều cao tột nằm tận đâu đâu bên ngoài Bát Nhã. Dần dần, vọng tưởng Bát Nhã trở thành cung tên của ngôn ngữ khải đạo và tư tưởng ngự trị. Hễ người xạ thủ vô minh bắn ảo ảnh Bát Nhã vào đâu là ý nghĩa thâm sâu của Bát Nhã ấy sẽ mất sự hồn nhiên trong sáng và biến thành vọng tưởng. Bát nhã, tánh không, chân như… không có gì xa hơn là sự thật.

Nó là nó chứ không phải ai khác, cái gì khác, hay thể tính khác. Quán tưởng, suy niệm về sự thật để tiến tới một đối tượng không phải là chính nó mà cao hơn hay thấp hơn nó; đẹp đẽ hay xấu xa khác nó là phi Bát Nhã.

Người hiểu Phạm Xảo nhất là Trí Hải, chỉ im lặng theo dõi , bây giờ mới lên tiếng:
– Quả thật là Phạm huynh đã có “duyên tu”.

Trước sự im lặng đợi chờ, Trí Hải không nói gì thêm. Thầy Tiều giục:
– Chẳng hay Phạm quý hữu có duyên tu như thế nào, hoàng thân?

– Để có thể trả lời Thầy, có lẽ tôi phải mượn ý kinh nhà Phật. Hình như là Kinh Đại Pháp Cú thì phải, đại ý có nói đến Duyên Tu rằng: Dẫu cho tụng kinh ngàn lời mà không thực hành, tu dưỡng thì ích gì? Chẳng bằng nghe một lần, rồi tự mình siêng năng lặng lẽ chuyên tu cho chính mình sẽ được ích lợi hơn. Tụng kinh ngàn lời, không hiểu thì ích gì?

Chẳng bằng hiểu một lời kinh, rồi áp dụng, tất sẽ đắc độ. Tụng kinh ngàn lời, mà lòng bất kính, thì ích gì? Chi bằng thực hành, vui vẻ, phụng tu đầy tin tưởng. Tụng kinh ngàn lời, mà cái tôi không bớt, chi bằng theo tu một lời, mà bỏ kiêu mạn, buông lung. Tụng kinh ngàn lời, cầu danh thêm chấp, chi bằng nghe một lần, rời bỏ chấp trước. Nếu tu vì hình tướng, vì danh vị, vì tiếng tăm, vì lợi lộc, vì đối đãi phân biệt phe ta, phái người thì đấy là “nghiệp tu”, càng tu nghiệp chướng càng nặng nề.

– Phải. Phạm Xảo quý hữu đã sống thật với chính mình trước khi sống thật với người khác trong mọi tình huống, trước mọi hoàn cảnh. Tu không hình tướng là duyên tu và cũng là một cách sống đời Bát Nhã. Dẫu cho đấy chỉ là một trong tám vạn tư lối về bến Giác thì khi đi trọn đường cũng sẽ đến được bờ bên kia thôi.

Cả nhóm nhìn ánh trăng nhạt dần để đón một bình minh đang về. Một sớm mai bình thường, nhưng sẽ trở thành đến muộn với những người thức trắng đêm và đến sớm với người nông dân đang ngủ say sau màn sương mỏng dưới chân đồi Thái ấp.

Aug 2, 2006

The post Duyên Tu – (Trích Chương 27, truyện dài Tu Bụi) appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/duyen-tu-trich-chuong-27-truyen-dai-tu-bui.html/feed 0
Chuyện Bình Thường – Thích Chân Tính https://bachhac.net/chuyen-binh-thuong-thich-chan-tinh.html https://bachhac.net/chuyen-binh-thuong-thich-chan-tinh.html#respond Tue, 08 Oct 2019 01:58:31 +0000 https://bachhac.net/?p=2341 Giới Sát Sau buổi thuyết pháp của giảng sư, một cô Phật tử đứng dậy nêu thắc mắc: Kính bạch Đại Đức, vừa qua con nghe Đại Đức giảng về giới sát mà con khổ tâm vô cùng. Giảng sư hỏi: -Có điều gì thắc mắc thì cô cứ nêu. -Bạch Đại Đức, cái giường …

The post Chuyện Bình Thường – Thích Chân Tính appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
chuyện bình thường - thích chân tính

Giới Sát

Sau buổi thuyết pháp của giảng sư, một cô Phật tử đứng dậy nêu thắc mắc:

Kính bạch Đại Đức, vừa qua con nghe Đại Đức giảng về giới sát mà con khổ tâm vô cùng.

Giảng sư hỏi:
-Có điều gì thắc mắc thì cô cứ nêu.

-Bạch Đại Đức, cái giường của mẹ con nằm ngủ có rất nhiều rệp,
chúng cắn mẹ con đến phát sinh bệnh tật. Bây giờ con phải biết làm sao với lũ rệp đó?

Giảng sư hỏi:
-Mạng sống của mẹ cô quý hay con rệp quý?

-Dạ, dĩ nhiên mạng sống của mẹ con phải quý hơn.

-Vậy thì hãy bắt những con rệp ấy quẳng chúng đi.

Cô trợn mắt nhìn vị giảng sư:

-Nếu thế chúng sẽ chết và như vậy con sẽ phạm vào giới sát.

Vị giảng sư đáp:

-Vậy thì cô để cho những con rệp ấy sống, để cho mẹ cô chết.

***
Đúng Sai

Thầy Thiện Phước đi nghe thuyết kinh Kim Cang Bát Nhã. Sau khi về chùa, thầy trở nên hoang mang trong việc hành trì tu tập. Nếu có chấp tác thì chỉ là miễn cưỡng chứ không còn nhiệt tâm như trước. Để giải tỏa thắc mắc của mình, thầy đến bạch với sư phụ.

Kính bạch thầy, theo lời vị giảng sư dạy thì việc tụng kinh, lễ bái, ngồi thiền chỉ là hình thức chứ chưa phải là tu. Vậy xin thầy chỉ cho con được rõ đúng hay sai.

Sư phụ đáp:

-Cũng đúng mà cũng sai.

-Thưa thầy con chưa hiểu.

-Ở vào hoàn cảnh địa vị giảng sư là đúng. Ở vào hoàn cảnh địa vị của con là sai.

Đệ tử vẫn chưa hiểu rõ lời dạy.

Một thời gian sau, thầy Thiện Phước được sư phụ cử đi trụ trì một ngôi chùa và hướng dẫn đồ chúng. Đến lúc này thầy mới nhận ra được lời dạy của sư phụ thật là đúng.

***
Thương Ghét Bất Đồng

Hòa thượng Ngộ Đạo là một vị chân tu khả kính, đệ tử xuất gia và tại gia có đến hơn vạn người. Cuộc đời của ngài ngoài việc tu hành nghiêm trì giới luật và giáo hóa đồ chúng ra còn làm rất nhiều việc từ thiện khác. Nói chung cả cuộc đời ngài tận tụy vì sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh.

Một hôm ngài an nhiên thị tịch. Tin này nhanh chóng được truyền khẩu đến tai các đệ tử của ngài. Có người đã vui mừng thốt lên:

-Thế là thoát nợ.

Cũng có những vị thương tiếc than thở:

-Ôi! Một ngôi sao sáng vừa lịm tắt.

***
Không Ăn Lộc Chuột

Một hôm chú tiểu đem chuối dâng lên cúng dường thầy. Thầy hỏi:

-Chuối ở đâu vậy con?

-Dạ bạch thầy, chuối này con lấy ở bàn thờ cửu huyền.

-Ấy từ nay con không được lấy thức ăn cúng vong dâng cúng quý thầy nghe chưa.

Chú tiểu dạ nhưng thắc mắc hỏi lại:

-Bạch thầy, tại sao không được? Con thấy nải chuối này Phật tử cúng ngon quá nên con mới dâng cúng thầy.

-Vì quý thầy độ cho vong linh nên không ăn thừa lộc của vong.

Một hôm chú tiểu thấy quả chuối để trên bàn bị chuột ăn hết một phần định quăng bỏ. Thầy thấy vậy vội ngăn:

-Con không nên phung phí thực phẩm như vậy. Hãy cắt bỏ phần chuột ăn đi, phần còn lại mình ăn cũng được, có chết chóc gì đâu mà sợ.

Chú tiểu thưa:
-Bạch thầy con không sợ chết mà sợ ăn lộc chuột không độ được chuột thôi ạ.

Thầy!?!
***

Làm Con Mới Đúng

Một bà vãi đến bạch với thầy trụ trì:

-Kính bạch thầy, chú tiểu Lam không chịu làm công việc phụ giúp con.

Thầy nhỏ nhẹ:

-Thôi, mình lớn tuổi rồi ráng hy sinh làm để cho giới trẻ có thời gian tu học. Mai này chú ấy tu được thì phước của vãi rất lớn.

-Dạ bạch thầy, rủi chú ấy không tu được thì sao?

-Thì kiếp sau chú làm mẹ của vãi.

Bà trợn mắt:
-Trời đất! Vậy tội gì con phải hầu chú để rồi kiếp sau chú ấy lại làm mẹ mình.

-Vậy vãi muốn chú ấy làm con hả?

-Mô Phật! Làm con mới đúng chứ. Ngu sao chịu chú làm mẹ.

-Vậy thì vãi lại phải hầu nó tiếp nữa à?

Bà vãi !?!
***

Khỏi Mất Phần

Theo quy định tại nghĩa trang chùa Vân Thê, những Phật tử khi mất được an táng theo thứ tự, chết trước chôn trước, chết sau chôn sau, không ai được giành phần trước. Một hôm có các Phật tứ đến thưa với thấy quản lý nghĩa trang:

Bạch thầy chúng con đi chùa đã lâu, chỉ mong sau này mất được an táng tại đất chùa. Vừa rồi chúng con ra thăm nghĩa trang thấy mộ phần quá nhiều, đất sắp hết, không biết sau này tới lượt chúng con sẽ yên nghỉ nơi đâu?

Thầy hỏi lại:

-Quý vị sợ mất quyền lợi phải không?

-Mô Phật, phải.

-Vậy thì quý vị tranh thủ chết sớm để khỏi mất phần.

-!?!
***

Không Cầu Phật Ngoài

Hôm nay là buổi giảng pháp của Pháp sư Thông Minh. Trước khi giảng Pháp sư nói:

-Xin mời quý Phật tử chắp tay cùng chúng tôi niệm Phật cầu gia bị. Sau khi niệm danh hiệu Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ba lần xong, thầy mời đại chúng an tọa.

Trong buổi nói pháp hôm nay. Pháp sư Thông Minh giảng về đề tài tự lực. Ngài nhấn mạnh tinh thần tự giác tự lực của người tu Phật học Phật. Đại ý khuyên Phật tử không nên cầu Phật bên ngoài.

Kết thúc bài giảng, vị Pháp sư nói:

-Trước khi hồi hướng và chấm dứt buổi nói pháp hôm nay, tôi xin thành tâm cầu nguyện Tam bảo gia hộ cho toàn thể quý Phật tử thân tâm thường lạc, vạn sự cát tường như ý.

Thính chúng!?!
***

Tha Lực Là Yếu Hèn

Một vị Pháp sư học rất giỏi và thuyết pháp rất hay được nhiều người ái mộ. Do học nhiều nên sư bị cận thị nặng phải đeo kính thường xuyên.

Một hôm sư thuyết pháp về đề tài tự lực và tha lực. Trước khi kết thúc, sư nói:

Người tu học mà nhờ tha lực là yếu hèn.

Sau đó sư hỏi tiếp:

-Có ai thắc mắc điều chi cứ hỏi.

Trong giảng đường có một vị sư đứng lên hỏi.

-Thưa thầy, tại sao thầy đeo mắt kiếng?

-Tôi bị cận nặng.

-Đeo mắt kiếng là tự lực hay tha lực?

Vị pháp sư không trả lời.
***

Luyến Ái Ràng Buộc

Diệu Hòa là một Phật tử thuần thành của chùa Liên Hoa. Bà rất có tín tâm đối với Tam bảo và chuyên tu pháp môn Tịnh độ. Bà thường qua chùa tụng kinh niệm Phật, chí thành tha thiết nguyện một đời vãng sinh Tây phương Cực lạc, thoát khỏi luân hồi sinh tử. Một hôm bà đến bạch với thầy trụ trì chùa Liên Hoa.

Kính bạch thầy, con đi chùa này đã hơn 30 năm rồi, con rất mến chùa, mến cảnh và kính quý thầy. Nay tuổi con đã lớn, gần đất xa trời, con có một ước mong nho nhỏ xin thầy từ bi hứa khả cho.

Thầy đáp:

-A Di Đà Phật, bà có việc gì thì cứ nói.

-Kính bạch thầy, con mong ước sau khi qua đời, xin thầy cho con được nghỉ tại nghĩa trang chùa, để hằng ngày con được gần gũi quý thầy nghe kinh thính pháp.

Thầy hỏi:

-Vậy bà không về Tây phương Cực lạc sao?

Bà!?!

Trích trong “Chuyện Bình Thường” Sep 24, 2006

The post Chuyện Bình Thường – Thích Chân Tính appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/chuyen-binh-thuong-thich-chan-tinh.html/feed 0
CÁC NGÀY LỄ PHẬT GIÁO TRONG NĂM https://bachhac.net/cac-ngay-le-phat-giao-trong-nam.html https://bachhac.net/cac-ngay-le-phat-giao-trong-nam.html#respond Tue, 27 Aug 2019 03:46:57 +0000 https://bachhac.net/?p=2248 Trong quá trình phát triển, tuy Phật giáo được phân chia thành nhiều hệ phái và tông phái khác nhau, nhưng những ngày lễ lớn của Phật giáo vẫn được duy trì, được tổ chức trọng thể trong từng quốc gia theo đạo Phật, đặc biệt là một số quốc gia xem Phật giáo là …

The post CÁC NGÀY LỄ PHẬT GIÁO TRONG NĂM appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Trong quá trình phát triển, tuy Phật giáo được phân chia thành nhiều hệ phái và tông phái khác nhau, nhưng những ngày lễ lớn của Phật giáo vẫn được duy trì, được tổ chức trọng thể trong từng quốc gia theo đạo Phật, đặc biệt là một số quốc gia xem Phật giáo là quốc giáo.

nhừng ngày lễ phật trong năm

Ngày Lễ Phật theo Âm Lịch

Ngày 8/12 âm lịch (ngày 19/1 dương lịch): Vía Phật Thích-Ca thành đạo.

Ngày 1/1 âm lịch (ngày 10/2 dương lịch): Vía Đức Bồ-Tát Di Lặc.

Ngày 15/1 âm lịch (ngày 24/2 dương lịch): Lễ cầu an đầu năm.

Ngày 8/2 âm lịch (ngày 19/3 dương lịch): Vía Phật Thích-Ca xuất gia.

Ngày 15/2 âm lịch (ngày 26/3 dương lịch): Vía Phật Thích-Ca nhập diệt (nhập Niết Bàn).

Ngày 19/2 âm lịch (ngày 30/3 dương lịch): Vía Đức Quán-Thế-Âm Bồ-Tát.

Ngày 21/2 âm lịch (ngày 1/4 dương lịch): Vía Đức Phổ-Hiền Bồ-Tát.

Ngày 16/3 âm lịch (ngày 25/4 dương lịch): Vía Đức Chuẩn Đề Bồ-Tát.

Ngày 4/4 âm lịch (ngày 13/5 dương lịch): Vía Đức Văn-Thù Bồ-Tát.

Ngày 15/4 âm lịch (ngày 24/5 dương lịch): Vía Phật Thích-Ca Đản sanh (giáng sanh).

Ngày 20/4 âm lịch (ngày 29/5 dương lịch): Bồ-Tát Thích Quảng Đức vị Pháp thiêu thân.

Ngày 19/6 âm lịch (ngày 26/7 dương lịch): Vía Đức Quán-Thế-Âm Bồ-Tát.

Ngày 13/7 âm lịch (ngày 19/8 dương lịch): Vía Đức Đại Thế Chí Bồ-Tát.

Ngày 15/7 âm lịch (ngày 21/8 dương lịch): Đại Lễ Vu-Lan (rằm Trung Ngươn).

Ngày 29/7 âm lịch (ngày 4/9 dương lịch): Vía Đức Địa-Tạng Bồ-Tát.

Ngày 19/9 âm lịch (ngày 23/10 dương lịch): Vía Đức Quán-Thế-Âm Bồ-Tát.

Ngày 30/9 âm lịch (ngày 13/11 dương lịch): Vía Đức Phật Dược-Sư.

Ngày 16/10 âm lịch (ngày 18/11 dương lịch): Lễ giỗ Tổ.

Ngày 17/11 âm lịch (ngày 19/12 dương lịch, năm 2011): Vía Đức Phật A-Di-Đà.

The post CÁC NGÀY LỄ PHẬT GIÁO TRONG NĂM appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/cac-ngay-le-phat-giao-trong-nam.html/feed 0