Bình Bát và Thiền Trượng – Bạch Hạc – Phật Giáo Việt Nam https://bachhac.net Thu, 01 Aug 2019 09:04:25 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=5.8.1 Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 4 ] – Thích Nữ Minh Tâm https://bachhac.net/binh-bat-va-thien-truong-phan-4-thich-nu-minh-tam.html https://bachhac.net/binh-bat-va-thien-truong-phan-4-thich-nu-minh-tam.html#respond Thu, 01 Aug 2019 08:54:34 +0000 https://bachhac.net/?p=1331 Thiền Sư Dori (Ô Sào Thiền Sư) Xưa kia, ở nước Trung Hoa, có một vị thiền sư pháp hiệu là Dori. Thiền sư này luôn tọa thiền tại một cành cây thông treo lơ lửng ở bờ vực và thiên hạ đã gọi ngài là Thiền Sư Tổ Chim (Ô Sào Thiền Sư). Một …

The post Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 4 ] – Thích Nữ Minh Tâm appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
bình bát và thiền trượng

Thiền Sư Dori (Ô Sào Thiền Sư)

Xưa kia, ở nước Trung Hoa, có một vị thiền sư pháp hiệu là Dori. Thiền sư này luôn tọa thiền tại một cành cây thông treo lơ lửng ở bờ vực và thiên hạ đã gọi ngài là Thiền Sư Tổ Chim (Ô Sào Thiền Sư).

Một hôm, Sakuraten, một đại thi hào, đến thăm Thiền sư và khi thấy Thiền sư tọa thiền trên cành cây, Sakuraten nói:

-“Cẩn thận đấy nhé, Thiền sư, nguy hiểm lắm đấy, ngài có thể bị rớt xuống vực đó.”

Thiền sư trả lời:

-“Không bao giờ. Chính ông mới là người đang bị nguy hiểm. Ở đây và bây giờ, ta tọa thiền, và tâm trí ta chú mục hoàn toàn vào một đối tượng. Ông, ông không bao giờ thiền định, và trong tâm ông chất chứa quá nhiều đam mê vì sáng tác thơ văn; thế cho nên đầu óc của ông luôn luôn nhậy cảm, dao động, lo âu, bồn chồn không ngừng nghỉ.”

Sakuraten ngẫm nghĩ:

-“Đúng vậy, tôi đã và đang là con mồi ngon của đam mê lãng mạn, đúng như là đang giỡn chơi với lửa vậy;” và Sakuraten hỏi Thiền sư: “Cốt tủy của Phật giáo là gì?”

Thiền sư Dori, nhắm mắt lại, nói:

“Không làm các điều ác,

Siêng tu các hạnh lành

Tự thanh tịnh tâm ý

Là cốt tủy Phật giáo.”

——————————-

Sống – Chết

Trong một cuộc bàn luận Phật Pháp với Bồ Tát Na Tiên, Vua Milinda hỏi:

-“Này Tỳ Khưu Na Tiên, luân hồi là gì?”

Na Tiên Tỳ Khưu đáp:

-“Tâu Đại Vương, đó làl ở nơi đây người ta sanh ra và chết đi, ở nơi kia người ta chết đi và tái sanh, rồi lại sanh ra và chết đi, chết đi và sanh ra . . . Tâu Đại Vương, đó là vòng tròn vô tận của luân hồi.”

Vua Milinda nói:

-“Trẫm vẫn không thể hiểu được, hãy giải thích rõ hơn nữa cho Trẫm.”

Na Tiên Tỳ Khưu giải thích:

-“Cũng giống như hột xoài mà ngươì ta trồng để ăn quả. Khi cây xoài lớn lên, nó trổ ra quả, người ta hái xoài, ăn nó và lại lấy cái hột xoài đem đi trồng lại. Rồi từ hột xoài đó, nó nẩy mầm, lớn lên thành cây và lại đơm bông kết trái, khi xoài chín, người ta lại hái xoài xuống ăn và lại gieo hột xoài xuống đất. Và cứ thế, cây xoài không bao giờ tận. Cũng vậy, tâu Đại Vương, con người sanh ra ở đây, chết nơi kia, cứ sanh ra rồi lại chết đi, chết đi và sanh ra . . . tâu Đại Vương, đó là luân hồi.”

Và cũng một đoạn kinh khác, Vua Milinda đã hỏi Na Tiên Tỳ Khưu:

-“Cái gì sẽ tái sanh sau khi con người chết đi?”

-“Sau cái chết, tên gọi, tâm thức và thể xác sanh lại.”

-“Có phải cũng cái tên gọi đó, cũng cái tâm thức đó, linh hồn đó, cũng cái thể xác đó trở lại không?

-“Không phải. Cái danh xưng, tâm thức, linh hồn và cái thể xác cũ đó đã tạo ra hành nghiệp. Từ cái hành nghiệp đó, một tên gọi khác, một linh hồn hay tâm thức khác, và một thể xác khác tái sanh.”

Và vua Milinda đã hiểu thế nào là luân hồi.

——————————-

Chuyện Một Con Chồn

Trong suốt những thời khóa giảng pháp của Thiền sư Hyakujo, người ta luôn luôn thấy sự có mặt đều đặn, tinh tấn của một lão già ngồi nghe rất chăm chú ở dãy ghế cuối giảng đường.

Một buổi chiều kia, khi thấy ông lão ngồi một mình, Thiền sư Hyakujo đến gặp lão và hỏi:

-“Ông là ai?”

Lão già trả lời:

-“À, Ngài thấy lạ, phải không? Tôi không phải là người thường. Xa xưa kia, lâu lắm rồi, trong thời Đức Phật tại thế, tôi là trụ trì một ngôi chùa lớn tọa lạc trên triền núi vùng này, và một hôm có một tăng sĩ đến hỏi tôi: “Bậc đại tu hành có rơi vào Nhân Qủa không?” và tôi đã trả lời: “Ta sẽ không rơi vào chuỗi xích Nhân Quả (bất lạc Nhân Quả).” Vì những lời nói đó, tôi đã bị đọa đến 500 kiếp, trôi lăn không biết bao nhiêu lần, tái sinh không biết bao nhiêu kiếp hình hài thay đổi, cho đến đời này, tôi mang kiếp loài chồn đây. Tôi van xin Ngài hãy giúp tôi giải thoát khỏi kiếp đọa đày. Hãy giải đáp cho tôi thế nào để tôi có thể liễu ngộ được câu hỏi kia!”

Thiền sư Hyakujo nói:

-“Ông hãy hỏi lại ta câu hỏi đó!”

Lão gìa (trong kiếp chồn) hỏi:

-“Bậc đại tu hành có rơi vào Nhân Quả không?”

Thiền sư Hyakujo đáp:

-“Không lầm Nhân Qủa (bất muội Nhân Qủa). Đừng che dấu lỗi lầm! Đừng tìm cách trốn tránh nghiệp qủa.”

Lão chồn già tỉnh ngộ, và thoát kiếp chồn. Trước khi giã biệt, lão nói với Thiền sư Hyakujo rằng: “Bây giờ, tôi sẽ sống sung sướng và tự do trong dãy núi xa tít kia, và tôi xin Ngài hãy từ bi an táng tôi như an táng một vị tu sĩ.”

Ngày mai, vào buổi xế trưa, Thiền sư Hyakujo hội họp tất cả tăng chúng lại và tuyên bố: “Hôm nay, chúng ta sẽ làm lễ cầu siêu cho một vị tăng sĩ mới tịch diệt ngày hôm qua.”

Tăng chúng ngạc nhiên nhìn nhau . . . ủa, có vị sư nào chết ngày hôm qua đâu nhỉ? Nhưng theo lời Sư Phụ, họ nối gót theo Thiền sư đi vào dãy núi xa kia, . . . và rồi họ thấy dưới một tảng đá, xác một con chồn gìa. Họ thiêu xác chồn và cùng nhau tụng chú cầu nguyện vãng sinh cho con chồn.

Trong một buổi thuyết pháp, Thiền sư Hyakujo đã kể lại tường tận chi tiết của câu truyện nhân quả của con chồn.

Thiền sinh Obaku hỏi lại Thiền sư:

-“Bạch Sư Phụ, ông lão đó, trong câu trả lời của ông ta, đã vấp phải một lỗi lầm lớn. Tuy nhiên, nếu ông ta không trả lời gì hết, thì ông ta sẽ tái sanh thế nào?”

Thiền sư Hyakujo nói:

-“Obaku, lại đây, lại gần đây, ta sẽ nói cho con nghe . . .”

Obaku tiến tới và kê sát mặt với Thầy. Thiền sư Hyakujo không nói gì hết, nhưng bỗng nhiên Obaku tát vào mặt Thầy một cái bốp, bởi vì Obaku nghĩ rằng Thầy sẽ tát mình như vậy.

Thiền sư Hyakujo cười lớn:

-“Haha, haha, ta tưỏng là chỉ có mình ta nắm được râu tóc của lão Tổ Đạt Ma, ai ngờ lại có thêm một tên nữa . . . tốt, tốt! Haha, haha!”

——————————-

Mẻ Cá và Cây Lê

Cuộc sống gia đình một lão chài bến sông kia thật vô cùng khốn khổ, vì từ mấy tháng nay, lão ta không vớ được mẻ cá nào khả dĩ có thể đánh đổi được một bữa cơm no đủ cho cả nhà cả.

Một buổi chiều mùa đông giá rét, có một vị du tăng đi ngang qua làng chài và gõ cửa nhà lão chài xin tá túc qua đêm. Lão chài vội vã dọn dẹp nhà cửa và nhường ngay cho vị du tăng đó cái giường và tấm chăn độc nhất của lão. Và lão chài còn co ro đi ra tận khu rừng dốc trên để chặt thêm mớ cây về đốt lửa sưởi ấm. Nhà không còn gì để ăn hết, lão chài năn nỉ người hàng xóm mượn đỡ ít gạo về nấu cháo cho vị du tăng no lòng. Sáng hôm sau, lão chài chào hỏi tử tế vị sư để giong buồm ra khơi như mọi ngày, hy vọng hôm nay sẽ kiếm được một chút cá. Vị sư nói: “Hôm nay ta đi với ông và ông hãy mang theo con cá hồi nhỏ bé này.”

Khi ra đến bờ sông, vị sư cầm con cá quăng xuống sông và nói với lão chài rằng:

-“Hãy giong buồm ra khơi đi, khi vớt lưới xong, trở về gặp ta.”

Lão chài vâng lời giong buồm ra khơi, và tung lưới . . . ồ, khi lão vớt lưới lên, thiệt quá sức tưởng tượng, cá tôm hàng trăm, hàng ngàn con đang búng nhẩy loi choi trong lưới. Lão chài mừng rỡ, trở về và từ đó về sau, lão chài cứ đến nơi mà vị sư quăng con cá hồi và giăng lưới ở đó. Mỗi ngày lão chài vác về mấy giỏ đầy ụ cá. Đúng là một câu truyện đẹp!

Và đây là một câu truyện khác, trái ngược với câu truyện trên. Một vị du tăng đi khất thực và giữa đường, khát nước quá. Vị sư trông thấy một cây lê mới có một trái và đến xin bà gìa chủ nhà trái lê đó để đỡ cơn khát. Nhưng bà chủ nhà này keo kiệt quá, chửi rủa xô đẩy nhà sư. Vị sư vội vã xin lỗi và bước ra đi. Nhưng câu truyện còn kể lại thêm rằng, bà già đó chỉ ăn được một trái lê độc nhất cứng như đá trên cành mà thôi. Và trong xóm làng đó, cho đến bây giờ, người ta vẫn thấy “trái lê khô queo” như lòng bủn xỉn keo kiệt ích kỷ thâm căn cố đế của con người.

——————————-

Cái Gì Ngon, Cái Gì Biết Ngon?

Có một thiền sư cho người đệ tử một miếng dưa hấu. Đệ tử ăn xong rồi, Thiền sư hỏi:

-“Sao, con thấy miếng dưa hấu có ngon không?”

-“Dạ, ngon, ngon lắm!”

-“Vậy cái gì ngon, miếng dưa hấu ngon hay cái lưỡi nếm thấy ngon?”

Người đệ tử đứng lặng, suy nghĩ một chặp rồi mới ngập ngừng nói:

-“Nước miếng chảy ra vì có sự tương quan liên hệ ở trong miệng, nhưng không phải chỉ có vị ngon của dưa hấu và khả năng nếm cái vị của cái lưỡi, mà còn có sự tương quan chằng chịt giữa . . .”

-“Đồ ngu! Ngu gấp ba!” Ông thầy giận quá hét lớn lên. “tại sao mi rắc rối lẩm cẩm vậy? Trái dưa hấu này ngon. Ngươi biết ngon là đủ rồi. Còn lẩm cẩm phân tách ra cái lưỡi, cái biết, cái miếng dưa hấu . . . đồ ngu, đại ngu!”

-!!!

Thực tình, ý nghĩ của con người phức tạp, chuyên môn phân loại nhưng hữu hạn quá!

——————————-

Sống Hay Chết

Thiền sư Dogo và đệ tử Zangei đi nhập liệm cho một người vừa chết. Đến nhà xác, thầy trò sửa soạn nhang đèn, v.v. và chuẩn bị làm lễ. Bỗng Zangei đập đập tay vào chiếc quan tài và hỏi Sư Phụ rằng:

-“Cái này sống hay chết?”

-“Ta không thể nói gì cả,” Thiền sư Dogo trả lời.

Zangei hét lên:

-“Nếu Thầy không nói, con sẽ đập Thầy đó . . .”

-“Được rồi, Zangei, cứ đánh ta đi . . . nhưng dù bằng mọi cách, ta cũng không thể nói cho ngươi rõ “sống hay chết” được.”

Thế là Dogo bị đệ tử Zangei, to khỏe như trâu đập túi bụi, và Dogo, ông thầy già không hề chống cự lại . . . Đó là một người thầy có tấm lòng rộng lượng, tràn đầy vị tha. Chiều hôm đó, về lại tu viện, Dogo hội họp tăng chúng lại, từ hoà nhẹ nhàng bảo Zangei:

-“Này Zangei, ngày hôm nay, ngươi đã đánh ta thật nặng. Ta đau đớn lắm. Ta có thể tha thứ cho ngươi, nhưng qui luật của tu viện thì không cho phép trò đánh thầy như vậy. Vì thế ngươi hãy nên rời khỏi tu viện trước khi những người khác tống cổ ngươi ra ngoài.”

Zangei ra đi và đến nương nhờ một vị thiền sư danh tiếng khác, Thiền sư Sekito. Và Zangei trình bày sự việc vừa qua cho Sekito.

Thiền sư Sekito ôn tồn trả lời:

-“Sư Phụ của ngươi đã giải thích tường tận rõ ràng cho ngươi mà ngươi không hiểu. Câu trả lời của ngài Dogo rất đúng. Chính ta đây, ta cũng không thể xác định “Sống hay Chết. . .” Không ai trả lời rõ ràng được cả.”

Ngay lúc đó, Zangei tỉnh ngộ.

Câu truyện đó trở thành một công án.

“Sống hay Chết.” Người ta không thể nói đúng được. Không phải cũng không trái.

Nếu sống thì không phải chết!

Nếu chết thì không phải sống!

——————————-

Món Súp Trộn Thịt Cùi

(Lời người dịch Albin Michel: “Khi tôi còn trẻ, tôi rất thích thú và say mê câu truyện Thiền sư Tosui. Cuộc đời của Thiền sư Tosui không mấy được thảnh thơi, nhàn hạ!

Lần đầu tiên, khi tôi được diện kiến Thiền sư Kodo Sawaki tại chùa Sojifi, vị này đã cho tôi mượn ba quyển sách: “Quyển thứ nhất là tiểu sử của Thiền sư Ăn Mày Tosui; quyển thứ hai viết về công phu tu tập; quyển thứ ba là Nhật Ký của Thiền sư Tosui với tựa đề: “Lỗ tai con lừa!”

Tôi cảm thấy bị hấp dẫn ngay bởi phong cách của Thiền sư Tosui.

“Nguyên xưa là trụ trì một ngôi chùa lớn danh tiếng, một ngày kia, Tosui bỏ trốn, ra đi và sống lăn lóc với đám hành khất cùi. Ngày xưa, những người mắc bịnh cùi đều bị thiên hạ sợ hãi, xa lánh và đi đến đâu cũng đều bị xua đuổi, ghê tởm. Những người cùi bị xã hội bỏ rơi, họ phải sống lây lất từng nhóm và nương thân tại những vùng hẻo lánh, ít người lui tới. Và theo chân Tosui, có một đệ tử . . . Tosui nói với đệ tử đó rằng: “Rất khó để theo con đường của ta! Hãy quăng bỏ hết . . . ngay cả tấm tọa cụ, bồ đoàn, hay vài bộ quần áo cũ rách của ngươi. Chỉ có chiếc đệm cỏ rơm này thôi là đủ cho ngươi ngủ rồi.

Người đệ tử đó vẫn nằng nặc đòi theo Thiền sư Tosui.

Một ngày kia, Thiền sư Tosui bảo đệ tử hãy đào một cái huyệt để chôn xác một người cùi đã chết từ lúc nào không biết. Người đệ tử vâng lời, hì hục đào cái huyệt.

Khi cái huyệt đã được đào xong, Tosui ra lệnh:

-“Này, bây giờ, ngươi cầm hai chân, ta nắm cái đầu xác chết này để chôn xuống!”

Cái xác chết người cùi đó đã bầy nhầy rửa thối ra vì bịnh cùi lở loét và người đệ tử đưa tay nắm chân xác chết đã dợm nôn mửa ra vì ghê tởm quá! Họ lấp đất chôn xác chết.

Độ một thời ngắn sau, vì muốn khôi phục lại tinh thần, người đệ tử xin Tosui một chút thức ăn. Tosui bảo:

-“Ngươi hãy ăn món cháo súp kia kìa!”

Đó là món cháo mà người chết đó để lại, nó lạnh tanh mốc meo và trong đó còn lẫn lộn vài miếng thịt rơi rụng của người cùi.

-“Đó là bữa ăn của ngươi . . . Ngươi đừng trông mong là sẽ được ăn rau hay thịt gì cả.”

Người đệ tử tự nhủ: “Nếu ta không ăn nổi thứ cháo này, có nghĩa là ta đã đầu hàng ý chí của ta! Ta phải nuốt, phải ăn!”

Nhưng muỗng cháo súp đầu tiên vừa đổ thốc vào miệng, đã nằm chết cứng trong họng, người đệ tử không tài nào nuốt xuống nổi cái thứ súp gớm ghiếc này, dù đã cố vận dụng ý chí, cố trợn mắt mà nuốt, và thế là người đệ tử nôn thốc nôn tháo ra.

Thiền sư Tosui nói: “Ta đã nói là rất khó để thành đệ tử của ta, nhà ngươi không có khả năng đó đâu!”

Người đệ tử òa khóc và Tosui tiếp tục nói:

-“Khuynh hướng tu hành của ta và ngươi không hợp nhau. Trình độ lẫn cơ hội, khả năng tu tập của chúng ta đều khác nhau. Ngươi không thể làm một người hành khất được. Ngươi không thể sống đời ẩn sĩ được. Ngươi nên trở về trụ trì một ngôi chùa.”

Người đệ tử lạy tạThiền sư và trở về. Đúng như vậy, vài năm sau, người đệ tử đó đã trụ trì một ngôi chùa lớn, và thành đạt trong sự hướng dẫn các tín đồ tu học. Riêng Tosui, vẫn sống đời khất sĩ, rày đây mai đó, sống không ràng buộc lệ thuộc; chuồng bò, chuồng ngựa hay nghĩa địa, rừng núi hoang vu đều là nhà ở chỗ ngủ của Tosui. Tosui chết vào năm 88 tuổi, gần ngôi chùa Antai-ji, ở Tokyo.

Người ta đã kể lại rằng “trong thời gian Tosui sống lang thang khất thực, đi đâu Tosui cũng mang theo tượng ảnh Phật và thường treo tượng Phật ở góc chuồng bò nào đó và cầu nguyện. Tosui đã viết hai câu thơ:

“Ở nơi đây, chật hẹp và dơ bẩn,

Nhưng con cho Ngài mượn cái chuồng bò này!”

Tôi (Albin Michel) vô cùng cảm hứng và hấp dẫn bởi câu truyện này.

Thực sự là rất khó mà hành đạo, sống đạo được như Tosui!

——————————-

Sự Giận Tức và Ghen Hờn, Ôi Nghiệp Báo!

Câu truyện này xảy ra nơi một làng mạc xứ Ấn xa xôi ngày xưa kia, trong một gia đình nọ, bà mẹ chồng rất cay cú ghét bỏ nàng dâu đến nỗi lúc nào bà ta cũng tìm đủ mọi cách moi móc từng lỗi nhỏ nhặt sơ ý của nàng con dâu để kiếm chuyện chửi rủa đay nghiến. Nàng con dâu cũng không vừa gì, biết bà mẹ chồng nhỏ mọn, đanh đá, cay nghiệt với mình nên cô ta cũng tìm cách xỏ xiên chọc tức.

Một hôm kia, khi cô con dâu đang đứng nấu cơm, bà mẹ chồng thấy trái tai gai mắt một cách vô cớ và bà quai miệng ra tìm tòi lời nói nào độc địa nhất để rủa xả bóng gió; cô con dâu cũng vờ như không để ý, nhưng bất thình lình cô ta hất một mẫu củi đang cháy vào lưng con cừu đang đứng vơ vẩn ở góc hàng rào cạnh bếp. Con cừu bị cháy lông, phỏng da, đau quá đâm đầu chạy thục mạng, vừa chạy vừa rống be be, và nó húc đại vào đụn rạ trong nhà kho, thế làđụn rạ bắt lửa phừng cháy, và gió nổi cơn thổi mạnh tung tóe đám tàn lửa bay vèo đến tận chuồng voi của nhà vua; những con voi này, vì bất ngờ quá, hốt hoảng rống lên và dùng vòi quật sập nóc chuồng và đàn voi băng rừng bỏ chạy qua nước láng giềng và quậy phá nước này đủ cỡ vì chúng nhớ lại đã bị dân chúng nước này bắt đem đi bán. Thế là hai nước đang yên vui bỗng khởi động chiến tranh chém giết lẫn nhau đến cả mười năm trời.

Thực tình, chỉ vì cơn giận tức vô duyên của một mụ đàn bà nhiều sân si ghen tỵ, mà mười năm chiến tranh tàn khốc xảy ra giữa con người và con người, giữa nước này và nước kia đưa đến sự hủy diệt tiêu trừ nhau!

Ôi, đúng là Nghiệp Báo!

——————————-

Lòng Kính Trọng

Trong Kinh Pháp Hoa, có ghi chép lại một tích truyện rằng:

“Xưa kia, có một vị Bồ Tát hành trì thiền định miên mật qua nhiều năm. Vị Bồ Tát đó không thông minh lắm, cũng không biết đọc, không biết viết nên không bao giờ vị đó tụng kinh cả, chỉ chuyên lễ lạy mà thôi. Tuy nhiên, mỗi lần vị Bồ Tát đó gặp bất cứ một người nào, vị đó cũng luôn chắp tay lễ lạy và cung kính vái chào nói rằng: “Tôi chẳng dám khinh qúi ngài, vì quí ngài đều là Phật sẽ thành!”

Nhưng một ngày kia, có một số người lòng bất tịnh giận hờn, đã cộc cằn nói lại rằng:

-“Ông Tỳ Khưu vô trí kia! Ông đang chế diễu chúng tôi đó à? Chúng tôi không tin vào lời nói hư dối kia của ông đâu!”

Và đám người đó đã lấy gậy đánh đập xua đuổi vị Tỳ Khưu đi. Vị Bồ Tát đó, dù bị đánh đập chửi mắng, vẫn không tức giận sân si gì, vừa chạy vừa nói lớn rằng: “Tôi chẳng dám khinh qúi ngài, vì quí ngài đều là Phật sẽ thành!”

Lúc gần chết, vị Bồ Tát thấy hình tượng trang nghiêm lộng lẫy của Phật và trong thinh không, rền vang tiếng tụng kinh niệm Phật thật oai thiêng! Vị Bồ Tát đó chắp tay, ngồi kiết già, an nhiên thanh thoát mỉm cười thị tịch.

Nếu chúng ta tôn trọng thực hành theo lời Phật dạy: “Đừng phê phán một ai, đừng khinh rẻ một ai thì đời sống chúng ta sẽ an vui hạnh phúc lâu dài biết mấy!”

——————————-

Viên Ngọc Quí

Long Nữ, con gái vua Rồng Ta Kiệt La, mới tám tuổi mà đã liễu ngộ được Phật tánh.

Khi thành Phật, Long Nữ xây dựng một thiên đường cực lạc ở phương Nam.

Ngài Xá Lợi Phất, khi biết được sự kiện ấy, không khỏi khởi tâm nghi ngờ. Xá Lợi Phất tự nhủ: “Long Nữ kia mới có tám tuổi . . . chỉ làmột đưá con nít mà thôi. Lẽ nào lại thành Phật?”

Và ngài Xá Lợi Phất đã đi đến hỏi Phật. Đức Phật chỉ cho Xá Lợi Phất thấy viên bảo châu vô giá mà Long Nữ đã dâng cúng kia, và Xá Lợi Phất đã gật gù, lẩm bẩm: “Bạch Thế Tôn, con đã hiểu, con đã hiểu . . .”

Viên bảo châu vô giá đó, chính là Trí Tuệ chân thật, là Phật tánh sẵn có của mỗi chúng ta.

——————————-

Nghĩa Lý Của Đạo

Koshi, một tên đạo tặc nổi tiếng, rất hâm mộ lý thuyết của Khổng Tử; và Khổng Tử cũng muốn khuyến dẫn tên đạo tặc Koshi vào đạo giáo của mình. Vì thế, Khổng Tử đã trèo lên ngọn núi cao kia, nơi tên trộm khét tiếng trú ẩn và bắt đầu thuyết phục hắn.

Trong lúc Khổng Tử say sưa nói về triết thuyết của mình, tên trộm ngủ gà ngủ gật và cuối cùng, không chịu nổi nữa, hắn ta lên tiếng:

-“Thôi thôi, nhà hiền triết ơi, lý thuyết của ông con nít nghe cũng phát chán! Tôi đây chẳng lọt vào tai chút nào cả! Nếu ông muốn tôi hiểu được lý thuyết “đạo” của ông, thì ông phải giảng cách khác đi! Thẳng thắn mà nói, tôi không tin rằng các đấng hiền triết như các ông đây lại có thể ngây thơ khờ khạo như vậy được!”

Đây là bài học thực tế cho Khổng Tử và ngay cả cho chúng ta. Không phải gặp lúc nào, người nào, chúng ta cũng thao thao bất tuyệt cả, mà “phải tùy thời, tùy duyên, tùy nhân.”

——————————-

Hạt Kim Cương Trong Chéo Ao

Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa có ghi chép lại rằng:

“ Ngày xưa, có hai người bạn rất thân, tình cờ gặp lại nhau sau những tháng năm dài xa cách. Một người đã trở thành giàu có, còn người kia thì vẫn cùng đinh khổ sở. Gặp lại cố nhân, họ cùng nhau uống rượu saké để mừng ngày đoàn viên hội ngộ. Chén tạc chén thù, say khướt, người bạn nghèo lăn quay ra ngủ và người giàu có kia, nhìn bạn xót thương, trước khi ra đi, đã buộc giấu vào trong chéo áo của bạn mình một hạt kim cương giá trị: “Nếu bạn mình gặp chuyện khó khăn gì, có thể bán hạt kim cương này đi mà sử dụng.”

Tỉnh giấc, thấy bạn mình đã ra đi, người nghèo khổ kia vẫn không hay biết là trong chéo áo của mình có hạt kim cương nên vẫn lây lất sống nghèo khó.

Một năm sau, trời xui đất khiến, hai người bạn lại gặp nhau.

-“Trời đất ơi! Sao anh lại vẫn sống nghèo khổ vậy?”

-“Tôi đã cố hết sức rồi mà vẫn không kiếm được bao nhiêu cả.”

-“ Anh thiệt là quá dại khờ đi, anh không thấy hạt châu tôi đã buộc trong chéo áo của anh ngày trước sao?”

Thiền sư Keisan cũng đã viết như thế này:

“Nếu ta cho ngươi một viên minh châu, ngươi phải trả lại cho ta ngay. Nếu ngươi không làm được như vậy ngay lúc này . . . thì bao giờ ngươi mới có thể làm nổi? Ngay bây giờ và ở đây, ngươi phải đạt được Chân Như Phật Tánh.” Có nhiều người luôn luôn hẹn lần hẹn lựa: “Khoan khoan, sau này tôi sẽ làm . . . sau này đã . . .” Cuối cùng, những kẻ đó đã lăn vào trong quan tài và vẫn cứ lập đi lập lại: “Khoan khoan, để sau này đã, sau này đã . . .”

——————————-

Giòi Bọ Trong Thi Hài

Có một đoạn kinh điển thuật về câu chuyện giữa Ngài Xá Lợi Phất và đệ tử.

Một hôm, người đệ tử theo hầu ngài Xá Lợi Phất, thầy trò đi ngang qua một khu nghĩa địa. Người đệ tử thấy một cái sọ người nằm lăn lóc bên đường. Từ cái đầu lâu đó, bay túa ra giòi bọ, ruồi muỗi, vàmùi nhơ nhớp hôi thối xông lên nồng nặc. Người đệ tử hỏi ngài Xá Lợi Phất:

-“Cái này là cái gì vậy, bạch Sư Phụ? Trông ghê tởm, kinh khiếp quá!”

Xá Lợi Phất trả lời:

-“Đám xương mà ngươi thấy kia, cái đầu lâu này là hài cốt của một người phụ nữ rất xinh đẹp. Lúc còn sống, nàng ta rất mê đắm chính sắc đẹp của mình và tối ngày chỉ lo trau chuốt chưng diện. Có rất nhiều người đàn ông đã say mê nhan sắc của nàng ta và chạy theo săn đuổi. Nhưng người phụ nữ này còn yêu chính mình và sắc đẹp của mình còn hơn cái gì hết trên cõi đời này. Ngay cả cho đến khi hấp hối gần chết, nàng ta cũng không sao buông xả được sự đắm nhiễm sắc đẹp đó; suốt cả cuộc đời, nàng ta đã dành hết thì giờ để chưng diện, và khao khát sau khi chết đi lại tái sanh làm người giàu có để chưng diện sắc đẹp nữa! Hành nghiệp xấu đó đã theo đuổi và phát sanh hậu quả thành những đám ruồi muỗi giòi bọ bu bám vào cái xác chết thối rửa này.

Chúng ta nghĩ gì về câu truyện này?

——————————-

Ngàn Tay, Ngàn Mắt

Thiên Thủ Thiên Nhãn (Ngàn Tay Ngàn Mắt) là thánh hiệu mà mọi người tôn vinh Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Người ta còn xưng tán Ngài là:

– Đức Quán Âm có mười một gương mặt.

– Đức Quán Âm của sự Tự Do.

– Đức Quán Âm với sáu thân hình, như một quái vật khổng lồ.

– Đức Quán Âm của nước và mặt trăng.

– Đức Quán Âm đầu rồng nhưng không có gương mặt v.v.

Tất cả những tôn tượng Quán Thế Am Bồ Tát đó được trưng bày tại các bảo tàng viện và người dân Nhật Bản rất tự hào về những kiệt tác nghệ thuật Phật Giáo đó. Nhưng, một ngày kia, có những phái đoàn du lịch ngoại quốc, và điển hình là người Hoa Kỳ, khi thăm viếng bảo tàng Phật Giáo và ngắm nhìn những bức tượng biểu trưng cho hạnh nguyện của Đức Quán Thế Am, đã bụm miệng cười, tỏ ý phê bình.

Bấy giờ, vị giám đốc bảo tàng viện Phật Giáo, rất tự nhiên, đến gần một phụ nữ Hoa Kỳ đang cười khinh dễ nhiều nhất và hỏi:

-“Thưa bà, bà có con cái chứ?”

-“ Ồ, có chứ, tôi có một người con.”

-“Vậy thì dám hỏi bà, khi bà giáo dục con của bà, bà có những phương pháp gì?”

-“Tôi đã sử dụng nhiều phương pháp thay đổi tùy trường hợp để dạy bảo con tôi.”

Lúc đó, vị giám đốc mỉm cười, nói:

-“Vậy thì thưa bà, bà chỉ có một đứa con thôi mà đã phải sử dụng nhiều phương pháp để giáo dục con mình, huống chi Đức Phật hay các đấng Bồ Tát muốn cứu độ tất cả chúng sanh khỏi đau khổ thì phải cần có cả hàng ngàn cánh tay, hàng ngàn con mắt mới có thể cứu giúp mọi loài được chứ, phải không?”

Đoàn người du lịch ngẩn ngơ, thấm ý, và gật gù, bắt đầu tìm hiểu kỹ hơn về biểu tượng Phật Giáo.

Lời kết:

——————————-

Bình Bát và Thiền Trượng

Ngày xưa, xưa thật là xưa, tại nước Trung Quốc, đã xảy ra một trận hạn hán vô cùng khắc nghiệt chưa từng thấy. Những con sông khô cạn, những cánh đồng vàng héo, đất đai nứt nẻ, nơi nơi hàng ngàn người lũ lượt kéo nhau bỏ xứ ra đi và lần lượt gục chết vì đói khát nơi đồng hoang cỏ cháy. Đâu đâu cũng thấy xác người, xác thú vật, mùi xú uế nồng nặc kinh khủng . . . Và rồi trong cơn thoi thóp hơi tàn đó, người ta thấy xuất hiện một bậc lão tăng anh minh quắc thước, Đại Sư Shoko.

Đại Sư Shoko, một bậc cao tăng thạc đức, rất nổi tiếng vì đã hiển bày những kỳ tích phép lạ cứu độ chúng sanh. Ngày đó, Đại sư Shoko, nghe tiếng kêu than cứu khổ của chúng sanh, nên đã động lòng từ bi, ngài đã rời bỏ chốn ẩn cư, chống thiền trượng đến tận nơi xảy ra thiên tai hạn hán. Và ngoài sức tưởng tượng của hạng người phàm tình, Đại Sư Shoko đã hô thiên hoán vũ, dộng thiền trượng xuống đất ba lần: trên trời mây đen xám vần vũ kéo về, sấm chớp liên hồi chấn động, bầu trời hiện rõ những rồng thiêng uốn mình, và một đầu rồng thật to, thật uy mãnh xuất hiện ở giữa phun nước ra như vũ bão. Đại Sư Shoko đã triệu tập được Thần Long, chúa của các loài rồng, và Đại Sư đã giữ Thần Long và các thiên long kia trong bình bát. Nước mưa như thác đổ trút xuống trái đất, sông biển dâng sóng ngập tràn, cây cối, đồng ruộng, đất đai . . . thấm nước, bung nở ra xanh mướt; con người, muông thú reo hò nhẩy múa, hân hoan ngửa cổ uống dòng nước ngọt lịm sau bao ngày cháy bỏng. Người ta dập đầu lạy tạ Ơn Đất Trời, và quay lại tìm Đại Sư thì Đại Sư Shoko đã đi mất từ bao giờ.

Bình Bát và Thiền Trượng của một vị Sư có uy đức thiêng liêng, hiển linh vượt ngoài tầm tri kiến hữu hạn của con người, vượt lên trên không và có, trong và ngoài, Sắc tức thị không, không tức thị sắc . . .

Trong một chuyến du hành ngang qua xứ Trung Quốc, Thiền Sư Chu bắt gặp giữa đường đèo núi rừng rú kia, hai con cọp hung dữ đang đấu tránh chết sống với nhau. Cả hai con đều đã bị thương nhưng không con nào chịu buông ra cả. Thiền sư Chu liền quăng vào giữa hai con cọp cây gậy thiền trượng, và lạ lùng thay, cây thiền trượng xoay tròn lơ lửng trên không và những khoen sắt tròn trên đầu gậy rung lên leng keng không ngừng; vừa nghe tiếng khoen sắt, hai con cọp tức khắc buông nhau ra và nằm phục xuống đất rất hiền hoà; trận chiến chấm dứt.

Cây thiền trượng tượng trưng cho sức mạnh tâm linh và một năng lực kỳ bí, mãnh liệt.

Bình bát và Thiền trượng thực ra không có năng lực huyền bí, những con rồng cũng không thể nào chui vào cái bình bát nhỏ xíu kia được, cây gậy gỗ cũng không thể nào khuất phục được hai con mãnh thú. Bình Bát và Thiền Trượng cũng không có phép lạ hiển linh gì cả, nhưng cả hai, “Bình Bát và Thiền Trượng tượng trưng cho sức mạnh tâm linh của Phật, tinh túy của đạo, cốt tủy của Thiền.”

Virginia, dịch xong ngày 21 tháng 11 năm 02

Tỳ Khưu Ni Thích nữ Minh Tâm

 

Xem tiếp:

Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 1 ] – Thích Nữ Minh Tâm

Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 2 ] – Thích Nữ Minh Tâm

Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 3 ] – Thích Nữ Minh Tâm

Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 4 ] – Thích Nữ Minh Tâm

The post Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 4 ] – Thích Nữ Minh Tâm appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/binh-bat-va-thien-truong-phan-4-thich-nu-minh-tam.html/feed 0
Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 3 ] – Thích Nữ Minh Tâm https://bachhac.net/binh-bat-va-thien-truong-phan-3-thich-nu-minh-tam.html https://bachhac.net/binh-bat-va-thien-truong-phan-3-thich-nu-minh-tam.html#respond Thu, 01 Aug 2019 08:47:34 +0000 https://bachhac.net/?p=1329 Đầu To, To Đầu Có một anh chàng thanh niên kia cứ mỗi buổi sáng là đứng ngắm vuốt mình trước gương. Một hôm, chàng ta vô ý để tấm gương lộn ngược, và khi soi vào ngắm vuốt, chàng ta không thấy mặt mình đâu cả. Thế là anh chàng hoảng hốt, thất kinh …

The post Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 3 ] – Thích Nữ Minh Tâm appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
bình bát và thiền trượng

Đầu To, To Đầu

Có một anh chàng thanh niên kia cứ mỗi buổi sáng là đứng ngắm vuốt mình trước gương. Một hôm, chàng ta vô ý để tấm gương lộn ngược, và khi soi vào ngắm vuốt, chàng ta không thấy mặt mình đâu cả. Thế là anh chàng hoảng hốt, thất kinh hồn vía lên, bổ nhào ra đường đi kiếm cái đầu.

Một người bạn nói rằng: “Tại sao anh lại đi kiếm cái đầu của anh? Cái đầu anh nó to đến nỗi tôi chỉ thấy có nó mà thôi đó!”

Nghe vậy, anh chàng này cho rằng cái đầu mình to lớn hơn đầu các người khác. Và thế là anh ta vênh váo tự đắc, đi kiếm cái “đầu to” của mình.

Câu truyện trên rất lý thú.

“Mất cái đầu” có nghĩa là “mất đi những ảo giác.” Nhưng niềm hãnh diện tự mãn về cái “đầu to” lại là chướng ngại của cái tự ngã ngu xuẩn và lố bịch.

———————-

Lòng Nhân Đạo Sợi Tơ Nhện, Sợi Tơ Bạc

Một ngày kia, Đức Phật đi dạo quanh bờ hồ hoa sen. Khi đứng lại nhìn sâu xuống mặt nước tĩnh lặng, Phật có thể thấy tận chín tầng địa ngục. Hôm đó, Phật thấy một người đàn ông tên Kantaka, vừa mới chết trước đó mấy hôm, đang kêu gào vật lộn đau đớn ở địa ngục.

Đức Phật Thíc Ca Mâu Ni, động lòng từ bi, muốn cứu vớt tất cả tội nhân đang chịu hình phạt dưới địa ngục kia và Ngài thiền định quán chiếu xem trong bọn chúng có ai đã làm được điều thiện gì khi còn sống không?

Phật thấy Kantakalúc sinh thời là một trên ăn trộm và hắn đã sống một đời sống bẩn thỉu. Vì thế hắn phải bị đọa vào địa ngục. Tuy nhiên, có một lần hắn ta đã làm được một điều lành: đó là có một ngày kia, đang trên đường đi lang thang vớ vẩn, hắn bắt gặp một con nhện thật to nằm cản đường; hắn muốn dơ chân nghiền nát con nhện, nhưng hắn chợt dừng lại và thôi không giết con nhện nữa, hắn đưa tay cầm con nhện lên và quăng qua một bên và tiếp tục đi.

Đức Phật quán thấy khi Kantaka làm việc thiện đó, tâm hắn rất hiền lành, quảng đại, thương con nhện, và Đức Phật muốn cứu hắn thoát khỏi địa ngục . . . và Ngài biến hoá ra một sợi giây tơ nhện thật dài xuyên suốt từ mặt hồ đến địa ngục trước mặt Kantaka.

Kantaka nhìn cái vật lạ đó, và nhận thấy rằng đó là một sợi giây bằng bạc rất chắc, nhưng hắn ta lại không muốn tin như vậy và tự nhủ đó là một sợi tơ nhện mong manh và rất khó mà leo bám vào sợi tơ đó; tuy nhiên hắn ta rất mong muốn được thoát khỏi địa ngục. Kantaka nắm sợi giây, do dự mãi là cái cầu thang bằng sợi tơ này thật mong manh, nguy hiểm quá vì nó có thể đứt ngay bất cứ lúc nào; nhưng rồi Kantaka bám vào và leo lên, leo lên . . . cẩn thận từng bước, bám chắc cả hai tay lẫn hai chân, Kantaka cố hết sức để đừng bị tuột tay và trèo lên.

Chiếc cầu thang giây này thật dài. Leo lên được nửa đường. Kantaka muốn ngoái nhìn xuống phía địa ngục rất sâu thẳm kia. Ngước nhìn lên, hắn thấy ánh sáng lóe lên cuối đường và chỉ mong muốn đến được vùng ánh sáng đó, nhưng khi cúi xuống nhìn về phía địa ngục một lần cuối, Kantaka bỗng thấy một đoàn người khổng lồ từ mọi cửa địa ngục chen chúc xô đẩy nhau bám leo lên sợi giây tơ đó. Kantaka chợt rúng động bấn loạn: cái sợi giây tơ này rất ư là mỏng manh, không chắc, may ra một mình hắn thôi thì còn hy vọng leo lên thoát được sống sót; nhưng giờ cả đám hàng trăm hàng ngàn người bám vào thế này thì chắc chắn đứt ngay thôi, và “un point final” tất cả sẽ rơi xuống địa ngục trở lại.

Thiệt đúng là xui xẻo quá mà, “xuống đây rồi mà cũng còn không yên nữa!”

Niệm xấu ác đó vừa dấy khởi lên trong tâm, Kantaka vọt miệng la lớn to xuống dưới rằng: “Nè nè, cái đám ngu xuẩn kia! Mấy người leo lên theo ta làm gì vậy? Mấy người đâu có cái phước ngon lành như vậy đâu. Sợi dây tơ này là của mình ta đó! Bỏ tay ra, ở lại địa ngục đi!”

Kantaka vừa dứt lời, sợi giây đứt phựt ngay và cả đám người và Kantaka đang xô đẩy chửi bới nhau để bám leo vào sợi giây bị hất tòm rơi trở xuống địa ngục tối đen như lòng họ.

Ngay lúc đó, ánh sáng rực rỡ của mặt trời tỏa sáng trên mặt hồ mà Đức Phật đang dạo quanh bờ.

Đó là một công án!

———————-

Một Mùa An Cư Kết Hạ

Vào một mùa hạ kia, thời Đức Phật còn tại thế, có một người Bà La Môn rất giàu có muốn phát tâm cúng dường thực phẩm cho chư Tăng trong ba tháng An Cư Kết Hạ.

Mùa An Cư bắt đầu. Nhưng một đêm kia, người Bà La Môn đó nằm mơ thấy một con rắn trắng thật to lớn đang quấn chặt lâu đài của ông ta. Thực ra, mộng thấy con rắn trắng là một điềm tốt lành; nhưng lão Bà La Môn không biết và đi đến hỏi một tên thầy bói phù thủy. Lão phù thủy này rất ganh ghét Đức Phật vì Đức Phật đã khuyến hóa mọi người đừng mê tín và hãy siêng năng tu tập giáo lý để phát sinh trí huệ cầu giải thoát.

Lão phù thủy bàn rằng:

-“Đó là một giấc mơ rất xấu. Ngươi sẽ bị một kẻ thù rất mạnh, tàn ác tấn công ngươi và ngươi sẽ chết!”

-“Vậy phải làm sao bây giờ?” lão già Bà La Môn hỏi.

-“Ngươi hãy trốn kỹ trong nhà suốt mùa hè này và không được ló mặt cho một ai thấy cả. Hãy ở kỹ trong nhà với những tên hầu cận tốt đẹp của ngươi!”

Lão Bà La Môn đó rối rít vâng dạ nghe lời và không hề ló mặt ra ngoài. Vì thế lão không thể giữ tròn lời nguyện cúng dường mùa Hạ cho Tăng đoàn của Phật được. Tất cả mọi người, kể cả Phật, đều chỉ ăn độc nhất có món cháo bột mì.

Vì thiếu thốn, có một người nào đó đã lén đi ăn cắp ít gạo dự trữ trong kho của lão nhà giàu Bà La Môn.

Biết được chuyện này, Đức Phật rất tức giận, xử phạt kẻ đó và quở trách nặng nề đệ tử:

-“Như Lai sẽ không sống chung với chúng Tăng nữa nếu có người nào dám tái phạm lỗi lầm như vậy.”

Ngài Mục Kiền Liên thưa rằng:

-“Bạch Thế Tôn, con sẽ thi triển thần thông để mang về dâng Đức Thế Tôn thực phẩm của chư Thiên.”

Đức Phật trả lời:

-“Điều đó không cần thiết. Nếu sau khi Như Lai tịch diệt, trong mùa An Cư Kết Hạ, không có đến một người nào có khả năng thần thông như ông, thì họ sẽ phải làm sao? Không cần thiết phải thi thố thần thông phép lạ để tìm kiếm thực phẩm nuôi dưỡng xác thân như thế!”

Ngài A Nan lại thưa rằng:

-“Bạch Thế Tôn, mỗi ngày chỉ ăn có cháo bột mì suốt mấy tháng như thế thật vô cùng khó chịu cho mọi người. Ngay làng bên cạnh kia là gia đình dòng họ của con, họ rất giàu có. Con sẽ đến khất thực nhà họ.”

Đức Phật nói:

-“Nếu ở tương lai, trong mùa An Cư Kết Ha, chúng Tăng không tìm được sự giúp đỡ của một thí chủ giàu có nào thì thử hỏi họ phải làm sao?”

Ngài Xá Lợi Phất trả lời:

-“Thưa Thế Tôn, con cũng biết nhiều tín đồ thuần thành, rất có đạo tâm và giàu có ở ngay làng này, con sẽ đến gặp họ.”

Đức Phật ngăn cản:

-“Không cần phải như vậy. Nếu sau này không có những người cư sĩ tại gia tín tâm mộ đạo thì các ông phải làm sao?”

Và như thế, Đức Phật và chúng Tăng đã cùng nhau tiếp tục thụ dụng cháo bột mì suốt cả mùa Hạ An Cư, không có đến một sự giúp đỡ cúng dường nào.

Câu truyện trên là một ví dụ khuyên răn các hàng đệ tử Như Lai đời đời về sau.

Khi chúng ta nghèo, chúng ta an phận trong cái nghèo, không mưu cầu lợi lộc, không than trách.

Khi chúng ta giàu, chúng ta an hưởng cảnh giàu và chia xẻ với mọi người.

Hãy bằng lòng với những điều kiện đang có, sẵn có!

Hãy biết tri túc! Người không biết tri túc thì dù sống ở thiên đường cũng không vừa ý.

Người biết tri túc thì dù nằm ở dưới đất cũng thấy an vui.

Nếu tâm chúng ta tịch lặng, không xao động, an nhiên tự tại, đời sống chúng ta sẽ giảm thiểu nhiều nhu cầu, khiến chúng ta không còn nô lệ cho vật dục, giản dị hóa mọi việc và chúng ta sẽ có được hạnh phúc thực sự.

———————-

Đại Hổ! Tiểu Hổ!

Đây là một mẫu truyện rất lý thú về Thiền sư Karin.

Thiền sư Karin trụ trì một ngôi cổ tự danh tiếng. Ngày kia, có một du tăng đi ngang qua vùng, gõ cửa ghé thăm. Sư Karin chạy ra mở cửa mời vào. Du tăng ngạc nhiên hỏi:

-“Bạch Thiền sư, ngài không có đệ tử sao?”

Vị du tăng đó rất ngạc nhiên vì luôn luôn các đệ tử phải ra mở cửa mời khách cho sư phụ mình chứ không phải đích thân vị trụ trì ra mở cửa như vậy. Thiền sư Karin nói:

-“Ồ, có chứ, có chứ! Tôi có hai đệ tử rất ngoan, rất giỏi, nhưng hơi nguy hiểm một chút nếu chúng nó ra đón khách.”

Vị tăng sĩ đó khăng khăng đòi gặp:

-“Không sao, không sao! Có gì đâu, tôi muốn gặp họ và tốt hơn là để họ mở cửa hơn là chính ngài.”

Sư Karin đồng ý, ngó ngoái vào trong chùa và gọi lớn: “O Zora! (Đại Hổ), Ko Zora! (Tiểu Hổ)”

Đáp lại lời gọi của Sư Karin, tức thì từ sau hậu liêu, hai con cọp lớn, nhỏ phóng nhanh ra trước mặt vị du tăng đang đứng như trời trồng.

Sư Karin vỗ đầu chúng, nói:

-“Thôi các con vào đi, các con to lớn quá và không cần thiết đối với vị khách này.”

Và quay qua vị du tăng, Sư Karin cười nói: “Đấy, ta đã bảo mà!”

Hai chú cọp đệ tử ngoan ngoãn vẫy đuôi lặng lẽ đi vào trong và nằm phủ phục dưới chân ghế của Thiền sư.

Vị du tăng, mãi một lúc lâu sau, vẫn chưa hoàn hồn, và đứng chết trân run lập cập, không bước đi nổi.

———————-

Ngọn Gió Mùa Thu Thổi Lá Vàng Rơi Rụng

Ngày xưa, có một thanh niên trẻ tuổi đem lòng yêu thương một cô gái đẹp giàu có. Mòn mõi kiên trì suốt hai năm, mỗi ngày chàng thanh niên đó đã viết và gởi đi không biết bao nhiêu lá thơ tình nồng đượm cho người đẹp nhưng không bao giờ đuợc hồi âm.

Hai năm, bẩy trăm ba mươi ngày, bẩy trăm ba mươi lá thơ đầy tình cảm vô vọng. Và rồi, chàng thanh niên bỏ nhà ra đi biệt tích. Chàng đã quyết chí xuất gia, và sống ẩn cư tại một chòi lá thô sơ vùng núi rừng hoang dã xa xôi.

Mấy năm trôi qua, vào một ngày kia, vị sơn tăng bỗng thấy người con gái ngày xưa đó đang tiến lên về tịnh cốc của mình.

Quì xuống khóc nức nở, nàng bộc lộ:

-“Em đã lầm lẫn rất lớn. Bây giờ em đã cảm nhận và thấu hiểu tình yêu anh dành cho em, và em đã lặn lội tìm kiếm anh suốt bao năm qua. Xin anh hãy tiếp nhận em.”

Nhưng vị sơn tăng đã điềm đạm ôn tồn trả lời:

-“Đã trễ quá rồi. Bây giờ, tôi đã là tu sĩ và tôi cũng đã dứt khoát được tình yêu của tôi cho cô rồi. Cô hãy đi về đi!”

Không lay động được tâm hồn vị sư, cô gái thất thểu trở về.

Vài ngày sau, vị sơn tăng xuống núi khất thực. Trong làng đang xôn xao bàn tán một chuyện – người ta đã vớt được xác một cô gái còn trẻ đẹp, có gương mặt khả ái qúi phái, quần áo và trang sức đắt tiền, dìm mình chết trong dòng suối bạc: “Chắc chắn đây là kết thúc của một mối tình bi thảm,” dân làng kháo nhau như vậy, “thật tội ngghiệp quá!”

Và người ta đã tử tế chôn xác nàng nơi ven đồi và đặt tên là “Ngôi Mộ Tình Yêu.”

Vị sơn tăng nghe chuyện, hiểu tất cả và đến ngôi mộ người thiếu nữ bất hạnh đó. Sư ngồi thật lâu, trầm ngâm trước mộ nàng và đọc lên một bài thơ cho người đã chết:

“Khi nàng đến trước tịnh cốc xa xôi,

Những chiếc lá đỏ mùa thu

Đang run rẩy chao mình rơi đầy đất lạnh.

Và ngọn gió buồn mùa thu

Đã thổi bay những chiếc lá tàn úa đó

Theo từng bước chân nàng ra đi.

Tất cả đều vô thường và,

Tịnh cốc nghèo nàn của ta

Còn đáng gía hơn gấp bội một lâu đài.

Tại sao duyên phận hai chúng ta

Không thể nào liên kết được?

Trước khi ta đau khổ,

Và nàng được sống bình yên.

Giờ đây,

Ta đang cất bước trên đường về cô tịch,

Lòng an nhiên thanh thoát,

Nhưng nàng thì chua xót trầm luân.

Tháng năm trôi qua như giấc mộng,

Có gì đâu một chút tình si?

Khi chúng ta xuôi tay về cõi vắng,

Không một ai theo chúng ta đến tận cỗ quan tài.

Chẳng còn gì, những ảo vọng mê lầm tan biến.

Thống trách bi thương nào có ích lợi gì,

Và xin cũng đừng tuyệt vọng, oán hờn.

Bây giờ nàng đã yên nghỉ ngàn thu,

Thôi hãy như ta, cùng ta

Lắng nghe gió thổi dài trong cành thông xanh lá,

Điệu nhạc thiền muôn thuở an nhiên.”

———————-

Thính Chúng Búp Bê

Đây là câu truyện của thiền sư Hotan.

Ngày xưa khi còn đi tham vấn mọi nơi, Hotan luôn luôn rất chăm chú nghe lời giảng pháp của các thiền sư.

Một ngày kia, Hotan đến một giảng đường. Ngày đầu tiên, khi vị pháp sư thăng tòa, cử tọa thính chúng rất đông, nhưng từ từ, vài ngày, một tuần lễ trôi qua . . . thính chúng đã lần lượt thưa thớt và cuối cùng, chỉ còn lại một mình Hotan và vị pháp sư đó.

Vị pháp sư này nói với Hotan:

-“Ta không thể tổ chức một buổi pháp thoại chỉ cho một mình ngươi, vả lại ta cũng đã mệt mỏi lắm rồi!”

Hotan hứa là ngày hôm sau sẽ trở lại với đông người. Nhưng ngày hôm sau, Hotan cũng trở lại chỉ có một mình, và nói với vị pháp sư kia rằng: “ Ngài có thể ra giảng pháp được rồi, tôi đã mang theo nhiều thính chúng!”

Vị pháp sư kia ra giảng đường và chỉ thấy những con búp bê ngồi ngay ngắn trên ghế. Ông ta qúa đỗi ngạc nhiên nói: “Nhưng đây chỉ là những con búp bê thôi mà!” “Qủa đúng vậy,” Hotan trả lời. “Nhưng tất cả những người đến đây nghe pháp cũng đâu có khác gì những con búp bê nhồi bông này. Họ không hiểu gì hết và cũng quan tâm gì đến lời ngài giảng đâu. Riêng tôi đây, tôi đã thấu hiểu thật sâu xa những lời ngài nói. Tôi đã hiểu triệt để đến tận cùng sự thật. Bởi vậy, dù có đông thính chúng mà không một ai quan tâm hay hiểu gì cả, họ cũng chỉ là những con búp bê để trang trí, chất đầy phòng, và cũng rỗng tuếch vô hồn thôi.”

———————-

Năm Trăm Bộ Sách – Vỏn Vẹn Ba Câu

Người ta kể lại rằng ở cái xứ Ba Tư xa xưa kia có một ông vua tên là Zémin. Lên ngôi khi còn rất trẻ, nên nhà vua rất hăng say tìm hiểu đủ thứ, và vua Zémin này đã tập họp lại một số đông các vị bác học thông thái đến từ khắp mọi nơi và yêu cầu các nhà học giả này hãy biên soạn cho nhà vua một bộ sách lịch sử nhân loại.

Hai mươi năm sau, những nhà bác học này hẹn gặp nhau tại triều đình để cùng dâng lên vua công trình nghiên cứu của họ. Tất cả công trình đó của họ chứa đựng trong 500 bộ sách và chất đầy trên lưng mười hai con lạc đà.

Nhà vua Zémin lúc đó đã hơn bốn mươi tuổi.

-“Trẫm đã già rồi và đâu có thì giờ để đọc hết 500 bộ sách này của chư khanh, vậy chư khanh hãy nên tóm tắt lại nữa đi để trẫm có thể đọc được.”

Các học giả lục tục trở về và hai mươi năm sau, họ lại đến yết kiến vua Zémin và chỉ có ba con lạc đà chở sách mà thôi. Nhưng vua Zémin đã sáu mươi tuổi hơn và yếu đuối lắm rồi.

-“Chư khanh cố rút ngắn nữa đi. Trẫm không còn hơi sức nào để đọc được nữa.”

Mười năm sau, các học giả trở lại và chỉ có một con voi chở sách. Vua Zémin giờ đã bẩy mươi tuổi hơn và mắt đã mờ loà, ông ta không thể đọc được một chữ nào. Zémin đòi tóm tắt nữa. Các học giả cũng đã quá già yếu rồi như vua và cố gắng tóm tắt cuộc thế nhân sinh một lần nữa và năm năm sau, họ lụm khụm qùi trước bệ rồng và dâng lên chỉ một pho sách mà thôi.

Vua Zémin thều thào nói qua hơi thở yếu ớt:

-“Ta đây sắp chết rồi mà vẫn chưa thấu triệt được chủ đích cuộc đời và con người.”

Qùi trước bệ rồng, vị bác học gìa nua nhất tâu rằng:

-“Bệ hạ, thần đây sẽ giải thích cho Bệ hạ cuộc phù thế nhân sinh chỉ vỏn vẹn gồm trong ba câu mà thôi; đó là: con người sanh ra, chịu đau khổ và cuối cùng chết.”

Ngay lúc đó, nhà vua mỉm một nụ cười và băng hà.

———————-

Đốm Lửa Dưới Tro Tàn

Isan được thâu nhận làm đệ tử của thiền sư Hyakujo lúc 23 tuổi.

Khi Hyakujo thấy anh chàng thanh niên trẻ tuổi này, Thiền sư cho phép anh ta làm thị gỉa hầu cận mình.

Một ngày kia, Hyakujo hỏi Isan:

-“Còn tí lửa nào ở đống tro tàn lò sưởi kia không?”

Isan lui cui moi tro tàn ra nhưng không tìm thấy chút lửa nào.

-“Bạch Sư Phụ, không còn gì cả.”

Thiền sư Hyakujo đi đến lò sưởi, lấy que gắp than săm soi tận cùng đống tro, và moi ra một cục than nhỏ xíu còn đỏ.

-“Thế nào, đây là cục than đỏ chứ?”

-“Vâng, vâng, đúng là cục than còn cháy,” Isan trả lời.

-“Ta không quan tâm đến cục than cháy,” Hyakujo nói, “nhưng nếu con muốn thấy Phật tánh của con, quan trọng nhất là con hãy kiên tâm bền chí tìm ra cơ hội, một cơ duyên hi hữu để nhận chân được Phật tánh. Bản tâm vô trụ, vô phân biệt, và tâm thức đối đãi nhị nguyên kia là hai bộ mặt quan trọng. Con phải hiểu toàn triệt Có – Không thì con mới liễu đạt được Phật tánh.”

 

Xem tiếp:

Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 1 ] – Thích Nữ Minh Tâm

Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 2 ] – Thích Nữ Minh Tâm

Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 3 ] – Thích Nữ Minh Tâm

Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 4 ] – Thích Nữ Minh Tâm

The post Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 3 ] – Thích Nữ Minh Tâm appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/binh-bat-va-thien-truong-phan-3-thich-nu-minh-tam.html/feed 0
Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 2 ] – Thích Nữ Minh Tâm https://bachhac.net/binh-bat-va-thien-truong-phan-2-thich-nu-minh-tam.html https://bachhac.net/binh-bat-va-thien-truong-phan-2-thich-nu-minh-tam.html#respond Thu, 01 Aug 2019 08:39:34 +0000 https://bachhac.net/?p=1327 Đừng Chạy Trốn Xá Lợi Phất, đại đệ tử của Đức Phật, đang tọa thiền bên cạnh một bờ hồ, nhưng trên mặt nứơc, cá tôm . . . bung mình nhẩy lung tung đùa giỡn khiến mặt hồ xao động, nước kêu lỏm bỏm. Xá Lợi Phất không yên, thay đổi chỗ ngồi thiền …

The post Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 2 ] – Thích Nữ Minh Tâm appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>

bình bát và thiền trượng

Đừng Chạy Trốn

Xá Lợi Phất, đại đệ tử của Đức Phật, đang tọa thiền bên cạnh một bờ hồ, nhưng trên mặt nứơc, cá tôm . . . bung mình nhẩy lung tung đùa giỡn khiến mặt hồ xao động, nước kêu lỏm bỏm. Xá Lợi Phất không yên, thay đổi chỗ ngồi thiền xa hơn, vắng vẻ hơn. Nhưng lần này, thì tiếng chim chóc kêu chiêm chiếp ríu rít nhức cả tai. Những tư tưởng trong tâm Xá Lợi Phất xao động, trỗi dậy, sinh khởi liên tục . . .

Những con cá và bọn chim chóc này thiệt quá đáng, chúng khuấy động tâm hành giả khiến Xá Lợi Phất phát bực muốn giết bọn này ăn thịt cho rồi. Nhưng vừakhởi tâm như thế, Xá Lợi Phất bỗng thấy bao tử mình đau dữ dội.

Câu truyện trên xảy ra khi Xá Lợi Phất còn trẻ tuổi. Thực ra, thiệt vô ích khi tìm cách trốn tránh âm thanh của chim, của gió, của cá. Sự xáo động đó phát xuất từ tâm chúng ta mà thôi.

Phiền não tức Bồ Đề,

Niết Bàn thị Sanh Tử.

———————————-

Ba Chiếc Cầu

Ở một làng nọ, có một ông bố già tối ngày khổ sở, bực mình vì đứa con ma men của ông ta. Không ngày nào, hắn ta mò về nhà mà không say khướt bí tỉ. Chịu không nổi nữa, ông bố cau có quát mắng dữ dội, và lần này, ông ta không thể tha thứ cho hắn được nữa.

Hắn ta cười lè nhè và đưa tay thề rằng: “Bố yên tâm, con hứa từ ngày hôm nay, con sẽ bớt rượu chè đi.”

Và ngay chiều hôm đó, ông bố ngồi chờ mãi mà không thấy bóng dáng thằng con yêu qúi đâu cả. Đến tối, ông ta đành phải đi tìm con. Đến cây cầu giữa làng, ông bắt gặp con trai mình nửa người dưới nước, sắp chết đuối, tay đang bám chặt vào chân cầu.

Cố hết sức để lôi được đứa con lên bờ, ông bố già vừa tức, vừa thương, quát lên:

-“Tại sao mày lại rớt xuống sông thế kia, hả thằng ngợm? Mày mới hứa với tao là sẽ bớt uống rượu đi, thế mà giờ này mày đã bí tỉ đến nỗi lọt tòm xuống sông thế này?”

-“Bố à, đây là hậu quả của sự bớt uống rượu của con đó. Thông thường, con nốc cạn c cả ba chai saké (rượu Nhật), và mỗi chiều, khi về nhà, băng qua cầu, con đều thấy có ba chiếc cầu; con luôn luôn bước ngay vào cây cầu ở giữa, và mọi chuyện đều ngon lành, con về nhà an toàn! Hôm nay, con uống chỉ có hai chai thôi cho nên con thấy chỉ có hai cây cầu, chẳng biết làm sao, con bước đại qua cây cầu bên trái, thế là con rơi tòm nó xuống sông!”

-“Thôi được rồi, bây giờ theo tao về nhà.”

-“Ồ chưa, chưa được đâu! Bố cho con đi uống chai thứ ba đi, rồi Bố sẽ thấy con về nhà ngon lành cho Bố coi!”

Và quả đúng vậy, đưá con đã về nhà an toàn bằng con đường tự nhiên đó.

Thực ra, câu chuyện trên chỉ là một thí dụ điển hình vui, vậy thôi; chứ không phải say rượu là một việc hay ho, đáng làm. Tuy nhiên, chúng ta sống ở đời, đôi khi phải biết thuận theo tự nhiên, tùy duyên mà hành xử.

———————————-

Im Lặng Hoàn Toàn

Trong một ngôi chùa hẻo lánh vùng núi cao kia, có bốn vị thiền sinh đang tọa thiền. Họ đã thỏa thuận với nhau là tọa thiền trong im lặng tuyệt đối.

Buổi chiều thứ nhất, khi đang tọa thiền, ánh nến trong phòng lao chao theo ngọn gió và tắt phụt, phòng thiền chìm trong bóng tối dầy dặc.

Chàng thiền sinh trẻ tuổi nhất, mới nhập môn, thì thầm: “Ngọn nến vừa tắt rồi!”

Chàng thiền sinh thứ hai, ngồi kề bên, đáp: “Này sư đệ, không được nói đấy nhé, đây là buổi tọa thiền trong “im lặng hoàn toàn đấy!”

Chàng thiền sinh thứ ba suỵt suỵt: “Tại sao hai người lại nói chuyện vậy? Tất cả chúng ta phải im lặng, im lặng!”

Người thứ tư, cũng là người đề xướng và chịu trách nhiệm của buổi tọa thiền “Im Lặng” này, kết luận:

-“Cả ba sư đệ thiệt tệ quá, chỉ có ta là người không nói gì cả!” Hãy tập trung hành thiền đi! Chỉ có ta là ngon lành nhất, ta có nói gì đâu!”

———————————-

Tội Lỗi Ở Đâu?

Thiền sư Tăng Xán, đệ tử của Nhị Tổ Huệ Khả, trước kia có triệu chứng bị mắc bệnh cùi.

Lần đầu tiên khi Tăng Xán gặp Nhị Tổ, Tăng Xán đã xin Nhị Tổ rằng:

-“Sư Phụ, xin giúp đỡ con, cho con được thú tội. Xin Sư Phụ rửa sạch nghiệp báo và tội lỗi này của con!”

Tổ Huệ Khả trả lời:

-“Hãy đem tội lỗi của ngươi ra đây, ta sẽ rửa sạch cho!”

Ngay lúc đó, Tăng Xán hoát nhiên tỉnh ngộ.

Tội lỗi là gì? Cái gì là cái xấu? Cái gì là cái tốt?

Sau đó, Tăng Xán được truyền phép Tam Qui, xuất gia, tinh tấn thiền định và tự chữa lành bệnh cùi của mình.

 

———————————-

Rong Chơi Trên Núi

Một thiền sư hay đi rong chơi trên núi. Khi trở về thiền viện, có một đệ tử hỏi:

-“Sư Phụ, Sư Phụ đi dạo ở đâu vậy?”

-“Rong chơi trên núi,” Thiền sư trả lời.

-“Nhưng Sư Phụ đi đường nào, Sư Phụ đã thấy gì?”

-“Ta theo hương thơm của lá, của hoa, và ta lướt theo ngọn cỏ đùa trong gió.”

Hãy nghe theo lời dạy của Phật, hãy nhìn vào những ngọn cỏ và hoa lá kia tự nhiên nẩy nở sinh trưởng không mục đích tầm cầu gì cả, không bản ngã, thật tự nhiên, như bốn mùa thời tiết đổi thay, xuân đến vạn vật tốt tươi, thu sang cỏ cây tàn úa.

Câu trả lời của thiền sư là một câu trả lời đầy trí tuệ của một bậc đạt đạo – và trí tuệ chân thực đó vượt qua phần tri thức luận lý tầm thường.

———————————-

Anh Trăng Soi Cửa Sổ

Thiền sư Ryokan là vị thiền sư nổi tiếng đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Nhật Bản. Thực ra, sự nổi tiếng của Thiền sư còn lan rộng đến tận các quốc gia khác, và những bút tích của ngài còn qúi giá và hiếm có hơn.

Thiền sư Ryokan không phải là hạng người thích nổi danh hào nhoáng bên ngoài: với tinh thần tự tại vô úy, can trường, khí phách, không lo âu, ngây thơ thánh thiện như một đứa bé con, Thiền sư không sở hữu một vật gì, không lệ thuộc vào bất cứ một cái gì cả . . .không chùa chiền, không tiền bạc, Thiền sư sống an nhiên trọn vẹn tự do tuyệt đối, hoàn toàn.

Thiền sư Ryokan rất thích chơi đùa với trẻ con, ngài rất thương trẻ con và hay chơi ú tìm với chúng. Có một lần, ngài chơi đùa với trẻ con và nấp trốn ở trong một chuồng bò. Chiều xuống lâu rồi, đêm đến, mấy đưá nhỏ đã về nhà hết rồi mà Thiền sư cứ vui đùa, không nhớ đến thời gian, và cứ nấp trốn mãi ở chuồng bò, chờ mấy đứa bé đến kiếm được ra mình.

Khi ông chủ trại lùa bò vào chuồng, Thiền sư nói khẽ: “Suỵt suỵt, đừng gây động. Con chó sói tới bây giờ đó!”

Một ngày kia, Thiền sư mệt và ngủ say trong căn chòi lá của ngài. Một tên trộm lẻn vào chòi . . . không có đến một cái gì cả . . . chỉ có Thiền sư và mảnh chăn đắp trên người. Tên trộm liền ra tay cuỗm luôn mảnh chăn đó và lỉnh mất. Đêm xuống lạnh làm Thiền sư Ryokan tỉnh giấc, mới biết là mảnh chăn đắp không còn. Thiền sư ngồi dậy, nhìn qua cửa sổ: trăng đẹp quá, thơ mộng quá, ánh trăng rạng ngời chiếu sáng qua song cửa sổ, cảnh vật lung linh huyền ảo dưới ánh trăng. Đẹp, đẹp tuyệt vời!

Thiền sư Ryokan cảm xúc thốt lên những vần thơ bất tuyệt:

“Lung linh huyền ảo ánh trăng treo

Tỏa sáng nơi nơi đẹp tuyệt vời,

Tại sao tên trộm vô minh thế?

Đoạt chăn sao chẳng lấy trăng treo?”

Qủa thực, không một sự cố gì có thể lay động được bản tâm như như bất động của Thiền sư.

———————————-

Trái Bóng Tròn Quay

Seppo Gisen có một trò chơi giải trí cá nhân gây tò mò cho đồ đệ là Gessha: đó là trò chơi quay bóng.

Ngày kia, khi ông thầy Gisen đang chơi quay bóng, Gessha hỏi thầy:

-“Sư Phụ, sao trái bóng lại quay tròn như vậy?”

Seppo Gisen trả lời:

-“Vì trái bóng tự do. Trái bóng là sự Tự Do thực sự.”

-“Tại sao?”

-“Bởi vì trái bóng tròn. Nó có thể quay lăn đi khắp nơi, bất cứ hướng nào, không bị ngăn ngại gì cả – tự do – tự do hoàn toàn.

Thật sâu sắc, thật tự nhiên, thật an nhiên

Một vòng tròn viên mãn!

———————————-

Hai Linh Hồn Của Senjo

Vào thế kỷ thứ 11, ở Trung Hoa, có một gia đình giàu có kia chỉ có một người con gái xinh đẹp duy nhất là Senjo. Ngày nọ, cha của cô ta, ông Cheyo-Ken, nói với Senjo và Wanchu (đứa cháu họ của ông) là khi hai trẻ thành nhân, ông sẽ tác hợp cho hai người thành vợ chồng vì đã hứa gả Senjo cho Wanchu từ lúc cô ta còn nằm trong bụng mẹ. Từ đó, hai trẻ quấn quít bên nhau, thương yêu nhau và chờ đợi ngày thành lập gia thất.

Nhưng, một vương hầu trong điạ hạt đã nghe biết đến nhan sắc của Senjo và cậy người đến mai mối. Ông phú hộ Cheyo-Ken, quá ngạc nhiên và hãnh diện, đã quên mất lời hứa năm xưa và hứa gả Senjo cho vương hầu kia.

Hai kẻ yêu nhau, quá đau buồn tuyệt vọng, không còn biết phải làm gì nữa. Và Wanchu, đau đớn bi ai, quyết định rời xa cái nơi đã gây vết thương lòng cho mình. Một ngày kia, Wanchu leo lên chiếc thuyền câu nhỏ bé và phó mặc đời mình trôi theo dòng nước. Khoảng nửa đêm, dưới ánh trăng rằm vằng vặc soi sáng không trung, Wanchu thấy như có một bóng người từ bờ sông chạy về phía mình và gọi: “Wanchu, Wanchu, đợi em, đợi em!” Wanchu tưởng lầm, bóng ma chăng? Không, rõ ràng là tiếng gọi của Senjo: chiếc bóng tiến lại gần, quả nhiên đó là Senjo. “Wanchu, em đi theo anh.”

Thế là hai kẻ tình nhân dắt nhau bỏ xứ ra đi vô định và trôi dạt vào một phố thị đông đúc xa lạ. Năm năm sau, Senjo hạ sanh hai đứa trẻ kháu khỉnh và Wanchu, rất khéo léo giỏi giang, kiếm việc làm rất dễ dàng để nuôi sống gia đình.

Một ngày kia, Senjo nói với chồng:

-“Cha mẹ em có lẽ rất buồn đau về sự ra đi của em. Thời gian đã qua. Chắc ông bà cũng đã nguôi ngoai nhiều rồi. Chúng ta hãy trở về thăm cha mẹ.”

Wanchu bằng lòng và họ bế con trở về chốn cũ. Wanchu về nhà ông Cheyo-Ken trước để tìm hiểu tình hình xem sao.

Thật quá đỗi ngạc nhiên, ông bà Cheyo-Ken la lên vui mừng và nói rằng: “Ồ, cháu về rồi đấy à? Từ ngày cháu bỏ nhà ra đi, Senjo nằm liệt giường, câm lặng, bất động như xác chết vậy. Cháu về kịp để cứu nó đấy, nếu không sẽ không còn cơ hội nữa!”

Wanchu, như rớt từ trên trời xuống, lắp bắp: “Nhưng mà Senjo còn sống mà. Senjo bỏ đi với con và chúng con đã có hai đứa con với nhau.”

Mọi người sửng sốt, cùng chạy vào phòng riêng của Senjo: người thiếu nữ xanh xao như tàu lá uá kia, khi thấy Wanchu thì mỉm miệng cười và ngồi dậy được. Wanchu hết hồn, chạy bổ ra đường tìm Senjo. Khi cả hai người con gái gặp nhau, họ giống nhau như hai giọt nước và bất ngờ . . . quá sức tưởng tượng, họ biến mất vào trong nhau và trở lại nguyên vẹn hình hài của một người là Senjo, vợ của Wanchu.

Ông bố Cheyo-Ken liền nói:

-“Như vậy là linh hồn của Senjo đã theo con suốt mấy năm qua, con đã ăn ở với một bóng ma.”

-“Không,” Senjo trả lời, “linh hồn mới là ở đây. Con đã bỏ đi với thể xác này để theo Wanchu và chính hai đưá con này là bằng chứng xác thực về thể xác của con.”

Ai nói sự thực đây?

Câu truyện nổi tiếng này đã trở thành một công án: trong đời sống thường nhật của chúng ta, chúng ta luôn luôn sống hai mặt, một trong cõi mộng và một ở thực tế.

Cái “Tôi” thật là cái nào?

Có phải chăng có một linh hồn ngoài thể xác?

Trời và Đất có chung một cội nguồn, cùng một thể, vô hạn, vô tận, bất tử vĩnh hằng trong vạn hữu hàm linh.

———————————-

Lòng Tin Chân Xác

Ở Trung Hoa, tại một căn nhà nọ, có một bà mẹ hết lòng thương yêu và tin tưởng con mình, đang ngồi yên lặng quay tơ dệt vải.

Bỗng nhiên, vài người đàn ông hàng xóm hớt hãi chạy tới, nói với người mẹ rằng: “Con bà là một kẻ sát nhân! Nó vừa mới giết người nào đó, bà chạy trốn mau đi!” Bà mẹ vẫn lặng thinh, không nói một lời nào, tay vẫn không ngừng se chỉ. Lát sau, lại có một người đàn ông khác chạy đến, la lớn lên: “Đúng, đúng rồi, con bà giết người đó!” Nhưng bà mẹ vẫn tiếp tục lặng yên ngồi dệt tơ se chỉ.

Bà ta tự nhủ:

-“Không, tôi tin con tôi, tôi tin tưởng con tôi.”

Và sau đó, qủa nhiên người ta khám phá ra đó là những tin đồn thất thiệt.

Đúng vậy, khi chúng ta có niềm tin chân thực về nhau, cha mẹ tin con, chồng vợ tin nhau, thầy trò tin nhau, bạn bè tin nhau . . . thì ma qủy hay bọn xấu ác làm sao tấn công chia rẽ họ được? Nhưng nếu chúng ta khởi tâm nghi ngờ thì ác qủy rình rập ngay.

Lòng tin chân xác không bao giờ hiển lộ, không bao giờ bày tỏ ra, không cần phải chứng thực, xác nhận gì cả. Niềm tin đó không cần phải xác chứng và cũng không bao giờ có sự hối tiếc giữa hai người tin nhau. Tuy nhiên, ở thời đại nhiễu loạn ngày nay, sự chân thực đã vắng bóng.

———————————-

Bóng Trăng Đáy Nước

Sư Yuse là một người đàn ông rất đẹp trai, và có một phụ nữ đã đem lòng thương yêu Sư. Người đàn bà này đã có chồng nhưng bà ta không thể nào chống cự nổi tình yêu cuồng nhiệt, đam mê đó. Bà ta vô cùng đau khổ, dằn vặt, và cũng đã bao nhiêu lần tự xỉ vả, thống trách ăn năn.

Mẹ của người phụ nữ này cũng đã hết lời can gián khuyên lơn, nhưng như một định nghiệp quả báo, bà ta vẫn không chiến thắng nổi con tim mình, và cuối cùng, bà ta đã ngã qụi, lâm trọng bệnh vì tình yêu oái oăm đó.

Bà về nhà cha mẹ mình dưỡng bệnh, và người mẹ thương con đành phải chạy đến chùa tìm Sư Yuse kể rõ sự tình và năn nỉ Sư đến nhà thăm con gái mình, mong là Sư sẽ khuyên giải để con mình hết bệnh và lành lại vết thương lòng. Sư Yuse động lòng trắc ẩn và đồng ý đến nhà khuyên giải, giảng pháp để cảnh tỉnh người phụ nữ đam mê này. Và mỗi ngày, Sư Yuse đều đặn đến thăm bịnh nhân.

Dần dần, người đàn bà đa tình đó bình phục nhưng khốn nạn thay, hai tâm hồn họ đã khắng khít vào nhau. Sư Yuse đã phạm giới và gây tạo đến hai lỗi lầm nghiêm trọng là: Sư đã yêu một người đàn bà có chồng, và vì tình yêu này, Sư đã ra tay giết chồng họ.

Một thời gian sau, không thể chịu đựng nổi sự dày vò cắn rứt của lương tâm, của trừng phạt tội lỗi . . . Sư Yuse đã đến thú tội với Đức Phật. Đức Phật đã an ủi và hoá độ cho người đàn ông này.

Đức Phật đã thị hiện ra nhiều hình tượng, nhiều cảnh giới: tất cả những hiện tượng đó giống như những bóng phản chiếu trên mặt gương trong như bóng trăng đáy nước.

Những kẻ đau khổ mê muội vì tâm thức họ chứa đầy ảo ảnh, hỗn loạn và sợ hãi; nhưng tất cả những thứ đó chỉ là những bóng phản chiếu trên mặt gương, bóng trăng đáy nước. Đó là những ảo ảnh của tâm thức, chúng không thực tế. Và theo lời khuyên dạy của Phật, Yuse hành trì thiền định miên mật.

Ông ta hiểu thấu rằng từ bấy lâu nay, cuộc đời ông ta chỉ là một cơn mộng, và ông ta hiện diện, trôi lăn theo dòng đời đó, không nhận thức được rằng ông ta và tất cả chúng sanh còn có một đời sống tâm linh chân thực, sâu xa, bền vững vượt ngoài cơn mộng ảo đó.

Phải khám phá dòng sống tâm linh đó như người ta đi rửa một cuộn phim ảnh vậy. Yuse thấu triệt được và nhập vào cảnh giới thiền định của vô sanh, bất tử. Yuse đã đi về được tận nguồn.

Yuse an nhiên nhập định và sẵn sàng trả quả về những hành nghiệp của mình nhưng với một tâm hồn tự tại, vô úy – vì Yuse đã thực sự đạt đến cảnh giới vô thượng của Tâm – Hiện hữu bây giờ và ở đây.

 

Xem tiếp:

Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 1 ] – Thích Nữ Minh Tâm

Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 2 ] – Thích Nữ Minh Tâm

Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 3 ] – Thích Nữ Minh Tâm

Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 4 ] – Thích Nữ Minh Tâm

 

The post Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 2 ] – Thích Nữ Minh Tâm appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/binh-bat-va-thien-truong-phan-2-thich-nu-minh-tam.html/feed 0
Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 1 ] – Thích Nữ Minh Tâm https://bachhac.net/binh-bat-va-thien-truong-phan-1-thich-nu-minh-tam.html https://bachhac.net/binh-bat-va-thien-truong-phan-1-thich-nu-minh-tam.html#respond Thu, 01 Aug 2019 08:00:24 +0000 https://bachhac.net/?p=1323 Chân thành cảm niệm công đức của tất cả qúi Phật tử xa gần đã ủng hộ công tác Pháp thí này trong suốt mấy năm qua và đặc biệt công đức của Đạo hữu Trần mạnh Hùng (pd Tuệ Cường) đã tận tâm giúp đỡ tôi rất nhiều về mọi mặt để hoàn thành …

The post Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 1 ] – Thích Nữ Minh Tâm appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
bình bát và thiền trượng

Chân thành cảm niệm công đức của tất cả qúi Phật tử xa gần đã ủng hộ công tác Pháp thí này trong suốt mấy năm qua và đặc biệt công đức của Đạo hữu Trần mạnh Hùng (pd Tuệ Cường) đã tận tâm giúp đỡ tôi rất nhiều về mọi mặt để hoàn thành những tác phẩm dịch thuật của tôi từ bao năm qua và phổ biến lên mạng lưới toàn cầu trang nhà www.bachhac.net.

Nguyện cầu Tam Bảo gia hộ cho quí đạo hữu bồ đề tâm kiên cố, tinh tấn tu hành, vạn sự viên thông.

Nguyện hồi hướng công đức Pháp thí này đến pháp giới chúng sanh đều tròn thành Phật đạo.

Tỳ khưu Ni Thích nữ Minh Tâm cẩn bút

Nhất bát thiên gia phạn

Cô thân vạn lý du

Kỳ vi sanh tử sự

Giáo hóa độ thiên thu.

Tạm dịch:

Một bát cơm vạn nhà

Cô đơn dặm đường xa

Sống chết tiêu đề chính

Kiếp kiếp độ quần sinh.

———

Kho Tàng Tâm

Tổ Bồ Đề Đạt Ma, sanh khoảng năm 500 trước Công Nguyên, là đệ tam Thái Tử của Quốc Vương xứ Tích Lan. Khi Ngài mới lên 8 tuổi, người ta đã sớm xác nhận sự thông minh vượt bực và đạt ngộ nơi Ngài.

Một ngày kia, Sư Phụ của Bồ Đề Đạt Ma là Đại Lão Hòa Thượng Hannya Tara được Quốc Vương Tích Lan ban thưởng cho một hạt trân châu vô giá.

Thiền Sư Tara hỏi ba vị hoàng tử:

-“Các trò có biết vật gì còn qúi giá hơn hạt ngọc này không?”

Đại Thái Tử trả lời:

-“Đó chính là Sư Phụ, vì Sư Phụ là người được Vua Cha trọng vọng ban thưởng hạt ngọc này, Sư Phụ là người sở hữu nó, vậy Sư Phụ là người qúi giá hơn nó rất nhiều.”

Nhị Thái Tử cũng trả lời:

-“Ngay cả chúng ta đi tìm suốt cả cuộc đời đi chăng nữa, cũng không thể kiếm được hạt ngọc nào có thể so sánh với hạt ngọc vô giá này.”

Bồ Đề Đạt Ma, lúc đó mới 8 tuổi, chậm rãi trả lời:

-“Thực sự nó là một kho tàng đáng kể, một kho tàng qúi báu, nhưng dù là kho tàng đi chăng nữa, nó cũng chỉ là kho tàng thế gian, một kho tàng vật chất vô thường, không chắc thực. Sư Phụ, theo con nghĩ, Kho Tàng Tâm mới chính là vô giá.

Tầm tri kiến con người giúp chúng ta nhận định được những giá trị vất chất tương đối, và tri kiến đó chỉ có bề mặt, không có chiều sâu; hơn nữa, dù có nhận thức rằng viên bảo châu này là viên minh châu giá trị tột bực đi chăng nữa, nó cũng phát xuất từ đá mà thôi; sự thông thái đó của con người cũng chỉ là bác học tổng quan xã hội mà thôi.”

Tổ Bồ Đề Đạt Ma nói tiếp: “Kho tàng thực sự chính là ta phải hiểu được chính mình, đó là Kho Tàng Tâm vô giá.”

—————————–

Âm Thanh Hòn Cuội – Âm Thanh Rặng Tre

Một ngày kia, thiền sinh Kyogen đang quét lá vườn hoa trước cửa thiền thất, bỗng một hòn cuội từ triền núi rơi xuống và lăn va vào rặng tre một cái “cốc.” Từ tiếng động hòn đá cuội ấy, Kyogen đạt ngộ.

Trong nhà thiền, người ta nói: “Sự đạt ngộ đến rất bất ngờ, chớp nhoáng.” Nhưng đạt ngộ là cái gì vậy? Trước khi liễu triệt được kinh nghiệm này, Kyogen luôn ôm ấp mối nghi ngờ này trong tâm như một công án. Ngày qua ngày, Kyogen không hề thỏa mãn hài lòng. Sư Phụ của ông, Issan, bảo ông rằng:

-“Ngươi rất thông minh nhưng ngươi đọc nhiều sách quá. Sự thông minh hiểu biết về thiền của ngươi phát xuất từ ký ức kinh nghiệm của ngươi. Ngươi không thể đạt được sự chuyển hóa nếu ngươi ôm ấp nhiều kiến thức như vậy. Ngươi hãy trở về cái thời kỳ ngươi mới sanh ra, lúc ngươi chưa hiểu hướng nào là hướng Đông, hướng nào là hướng Tây, rồi ngươi hãy đến Ta hỏi chuyện.”

Lập tức Kyogen đốt hết sách vở và kinh điển. Kyogen vừa đốt vừa khóc. Kyogen rời khỏi thiền viện của Thầy, đi vào một động núi và ẩn cư trong đó. Một năm, hai năm . . . Ngày nọ, âm thanh một hòn đá va vào rặng tre và Kyogen liễu ngộ. Những nghi ngờ trong tâm đột nhiên tan biến.

-“Ta đã ngu xuẩn từ bấy lâu nay, ngày hôm nay ta đã tỉnh ngộ.”

Kyogen làm một bài thơ:

“Đột nhiên nhờ vào

Âm thanh một hòn cuội

Âm thanh của rặng tre

Tôi đã rủ sạch

Những tư tưởng chất đầy trong trí óc

Những phức tạp rối ren đã chấm dứt.”

Kyogen gởi bài thơ ngắn đó về Sư Phụ và Thiền Sư Issan đã gật gù: “Rốt cuộc, người thanh niên đó, đệ tử của Ta, đã giác ngộ.”

Không còn gì lưu lại. Hoàn toàn là Không. Nhưng sự giác ngộ của Kyogen không phải tùy thuộc vào tri thức cũng không phải là bất chợt; cũng không phải Kyogen giác ngộ vì rặng tre hay ngọn gió hay chỉ đạt ngộ trong giây phút đó mà thôi. Không có gì là chuyện tình cờ, bất chợt hay ngẫu nhiên cả!

—————————–

Ăn xong rồi thì rửa chén đi!

Có một câu truyện nổi tiếng về Thiền sư Josshu.

Ngày kia, một thiền sinh hỏi Ngài:

-“Sư Phụ, xin Thầy chỉ cho con biết Chân Lý Phật Pháp thế nào?”

Thiền Sư Josshu trả lời:

-“Ngươi đã ăn cơm xong chưa?”

-“Dạ xong rồi.”

-“Vậy thì rửa chén đi!”

Thiền là thế đó. Đừng tìm kiếm xa xôi, hay khúc mắc, sâu thẳm, cao siêu tận đâu đâu.

Thiền là những công việc bình thường, bình thường đến độ tầm thường như ăn cơm, quét nhà, rửa chén, v.v.. .

Hãy lặng yên nghe tiếng gió thổi qua rặng cây kia!

—————————–

Đời Chỉ Là Cơn Mộng!

Có một người đàn ông kia mơ ước được giàu có, và mỗi ngày, ông ta cứ chắp tay cầu nguyện Ơn Trên hãy ban bố phép lành cho ông ta được trọn vẹn ứơc mơ.

Một ngày mùa Đông giá rét, khắp nơi tuyết đóng băng lạnh cóng, người đàn ông này, từ nhà nguyện bứơc ra, bắt gặp một cái bóp tiền dầy cộm của ai đánh rơi. Ông ta mừng rơn, cúi xuống nhặt lên – nhưng tuyết đóng dính cứng, không tài nào nhắc cái bóp lên nổi. Ông ta bèn tiểu lên trên cái bóp để chảy tan tuyết ra. Và rồi thì . . . ông ta chợt tỉnh giấc trên giường . . . quần áo ông ta ướt mèm nứơc tiểu.

Cuộc đời chúng ta cũng giống vậy.

Sự giác ngộ không phải là một điều kiện đặc biệt của ý thức, cũng không phải là trạng thái của tâm thức chuyển hoá, mà chính là hãy thức tỉnh giấc mê đời.

Thiền Sư Takuan sắp chết; một đệ tử lại gần và hỏi: “Di chúc cuối cùng của Sư Phụ là gì?” Thiền Sư Takuan trả lời: “Ta không có gì để lại cả.” Nhưng người đệ tử cứng đầu cứ khăng khăng hỏi: “Sư Phụ không có gì thiệt sao? Không có gì để nói à?”

-“Đời chỉ là cơn mộng!” Takuan thở dài một hơi, ra đi.

—————————–

Cái Đầu và Cái Đuôi

Xưa kia, có một con rắn mà cái đầu và cái đuôi cứ tối ngày cãi lộn tưng bừng.

Cái đuôi phàn nàn rằng:

-“Tao cứ phải tò tò đi sau mày thôi, mày đằng trứơc, còn tao cứ phải theo mày. Tao phải cách mạng mới được.”

Thế là cái đuôi không thèm theo cái đầu nữa. Nó quấn chặt vào thân cây. Nó không muốn tiến tới. Cái đầu thì bắt gặp một con ếch nhái thiệt mập, thiệt ngon lành. Nó muốn đớp con mồi nhưng cái đuôi không chịu nới thân cây ra. Cái đầu đành chấp nhận cho cái đuôi đi trước nó. Nhưng khổ thay, cái đuôi không có mắt, thế là nó lăn tòm xuống hố và cái đầu ngu xuẩn bị dập mạnh vào đá chết tươi!

Chúng ta, ai là đầu, ai là đuôi?

—————————–

Ai Yêu Ai Nhiều Hơn?

Trong một phẩm kinh Phật giáo, có truyện : Nhà vua Hashinoku hỏi Hoàng hậu:

-“Ái khanh à, thế giới thì mênh mông, nàng yêu ai hơn cả yêu chính nàng?”

-“Tâu Bệ hạ, thần thiếp yêu Bệ hạ nhiều nhất, nhưng nếu Ngài cho phép thiếp nói thật lòng thì thiếp yêu thần thiếp nhiều nhất.”

Nhà Vua cũng trả lời:

-“ Ta là người quan trọng bậc nhất, tất cả mọi người phải tùng phục ta, nàng phải yêu ta nhiều nhất.”

Lời nói của họ phản ảnh cái bản ngã to lớn của họ, nhưng cả hai, nhà Vua lẫn Hoàng hậu không ai chịu thuần phục ý kiến của ai cả. Thế là họ dẫn nhau đến bạch Phật, nhờ Phật phân xử. Phật dạy:

-“Lời nói của hai vị không sai. Mỗi người đều yêu lấy chính mình và chính mỗi người quan trọng với tự chính mình. Vì thế, không ai muốn người khác làm phiền mình – nhưng chính vì yêu cái bản ngã cá nhân của mình mà mọi người làm khổ nhau.”

Bản Ngã là gì? Đó là một công án cho chúng ta.

—————————–

Nước Sạch, Nước Dơ

Đây là một câu truyện cổ Trung Hoa.

Một vị Hoàng Đế hỏi Kyogu:

-“Tiên sinh là một bậc đại nhân, Trẫm đây muốn nhường ngai vàng cho Tiên sinh. Tiên sinh có nhận chăng?”

Kyogu cảm thấy khó chịu, trả lời giản dị với nhà vua rằng:

-“Những lời nói đó làm bẩn tai tôi.”

Và ông ta đi ra dòng suối gần đó, cúi xuống rửa lỗ tai, “Ngày hôm nay, ta đã nghe những lời thực rơm rác.”

Một người bạn của Kyogu đang dắt trâu đến suối uống nứơc, thấy vậy hỏi:

-“Sao hôm nay Tiên sinh lại rửa tai thế?”

-“Hôm nay ta đã nghe những lời làm bẩn cả lỗ tai ta. Nhà vua muốn ta là người kế vị ngai vàng; lỗ tai ta đã nghe những lời rơm rác đó nên ta phải rửa tai cho sạch.”

Người bạn của Kyogu liền dắt trâu đi nơi khác và nói: “Tôi muốn trâu tôi uống dòng nước sạch! Nước suối ở đây đã dơ bẩn rồi!”

Động tâm hay không động tâm?

Nếu không động tâm cần gì phải rửa lỗ tai?

—————————–

Củ Cà Rốt

Ngày xưa ở Nhật Bản, những người nông dân dùng ngựa để kéo cối xay bột mì. Muốn cho ngựa hùng hục kéo cối xay, họ buộc một củ cà rốt to trứơc mắt con ngựa, và con ngựa ngu xuẩn háu ăn cứ gồng mình, rứơn cổ lên để táp cho bằng được củ cà rốt và thế là không mệt mỏi, nó cứ kéo cái cối xay nặng nề, kéo mãi mà vẫn chưa táp được củ cà rốt. Và chỉ đến đêm tối, mệt lả thân xác, khi người chủ ngừng xay bột, con ngựa mới được họ ném cho củ cà rốt đã héo queo đó.

Đó chính là hình ảnh đáng thương xót của chúng ta, những con ngừơi văn minh thời đại!

Một sự xót xa, đau thật đau, xâm chiếm hồn tôi khi dịch đoạn văn này. Buồn cho kiếp chúng sinh!)

—————————–

Dưới Chân Cầu, Không Có Kẻ Cắp

Dưới gầm một chiếc cầu bắc ngang một con sông kia, có gia đình một người hành khất sống lây lất qua ngày ở đó. Gia đình đó gồm có một người cha, một người mẹ và một đứa con trai.

Một ngày kia, bà vợ đi ăn xin suốt ngày về, nói chuyện với ông chồng rằng: “Này ông, sáng nay tôi không xin được một đồng xèng nào cả. Trên phố, đã có nhiều nhà bị ăn trộm viếng thăm cho nên người ta đóng chặt cửa, không dám mở ra bố thí gì cả!”

Nghe nói vậy, đứa con góp chuyện:

-“Cha à, kể ra chúng ta thật hạnh phúc đấy, chẳng bao giờ có tên ăn trộm nào thèm vào “nhà” của chúng ta cả.”

Ông bố trả lời:

-“Đúng vậy. Chúng ta phải cám ơn cái “nghèo,” đó là gia tài cha mẹ để lại cho con đấy. Không có một ai chui vào cái gầm cầu này đâu!”

(Tùy quan niệm của mỗi ngừơi hiểu ý ngghĩa câu truyện thiền trên. Nghèo là hạnh phúc hay Giàu là hạnh phúc? Theo thiển ý của Minh Tâm, nghèo không hẳn là hạnh phúc mà giàu cũng chưa chắc là sung sướng; chỉ cần Biết Sống là tự tại!)

—————————–

Ai Là Người Chịu Trách Nhiệm?

Có hai vợ chồng nhà kia suốt ngày cãi lộn ỏm toi với nhau, có khi lại còn đánh nhau đến bươu đầu sứt trán. Chẳng ai chịu nhường ai, chẳng ai chấp nhận ai cả. Người nào người nấy gân cổ lên bảo vệ ý kiến của mình. Cuối cùng, họ đưa nhau ra tòa.

Quan Tòa hỏi đứa con trai của họ:

-“Này bé, con hãy cho ta biết ai là ngừơi gây chuyện trước? Cha con hay mẹ con?”

Đứa bé trả lời:

-“Con không thể xác định là chỉ là mẹ con hay chỉ là cha con.”

Qúi độc giả nghĩ sao? Cuộc sống con người tương quan với nhau chằng chịt – nếu “sanh sự là sự sanh” đấy!

—————————–

Cái Đuôi Con Voi

Xưa kia, ở Ấn Độ, trong hoàng cung, có một con voi cái bị đau đớn kinh khiếp vì đã đến ngày sanh mà không sanh con ra được. Nó rống lên điên cuồng và chà đạp cây cỏ hay dùng vòi quật ngã những chướng ngại trước mắt nó vì quá đau đớn.

Thấy vậy, nhà Vua hạ lịnh cho ai giúp được con voi cái khó sanh đó thì sẽ được trọng thưởng. Các quan ngự y bó tay và một cận thần nhiều kinh nghiệm tâu lên Vua rằng: “Phải tìm cho bằng được một người đàn bà nào hoàn toàn chân thực, không hề dấu diếm, không hề vọng tưởng một điều gì để đỡ đẻ cho con voi.”

Cuối cùng, chỉ có một người đàn bà đứng tuổi, một phụ nữ duy nhất, dám đứng ra yết kiến Vua:

-“Tâu Bệ Hạ, từ ngày thảo dân lập gia đình cho đến giờ, thảo dân chỉ có một người chồng duy nhất. Thảo dân tuyệt đối trung thành từ ý nghĩ đến hành động, không lừa dối, không mơ tưởng đến ai. Thảo dân nghĩ là thảo dân có thể sẽ giúp được con voi.”

Khi người đàn bà chân thực kia sờ đến bụng voi cái, con voi sanh được ngay, nhưng chỉ có cái đuôi của chú voi con là không chịu ló ra.

Nhà Vua và các quan nghi ngờ: “Sao vậy?”

Người đàn bà kia nói:

-“Có lẽ thảo dân đã có nói dối.”

-“Về chuyện gì?”

-“Thảo dân nhớ lại, khi thảo dân còn là một bé gái độ 12, 13 tuổi, thảo dân có bồng ẵm một đứa bé trai và ngay lúc đó, thảo dân đã thương yêu đứa bé đó vô cùng. Đứa bé không biết gì nhưng quả thực là thảo dân rất thương nó.”

Khi người đàn bà dứt lời, cái đuôi chú voi con lọt ra lập tức.

Đọc câu truyện này, qúi độc giả đừng vội “kết án” là phụ nữ hay gian dối” đấy nhé. Hãy nghĩ sâu hơn một tí là “Ai dám vỗ ngực tự xưng là ta hoàn toàn chân thật, không tội lỗi? Ngoại trừ Đức Phật!

—————————–

Nhanh Như Là . . .

Một người thanh niên gan dạ, dũng cảm và cường tráng, lịch thiệp, một ngày kia, đến thăm viếng bốn tay xạ thủ cung tiễn khét tiếng đang chung ẩn cư ở một chốn hoang sơ.

Chàng thanh niên này nói:

-“Qúi vị có bốn người, vậy thì tôi chấp cả bốn vị, mỗi người đi một hướng và cùng một lúc giương cung bắn tôi. Tôi sẽ bẽ gẫy hết cả bốn trứơc khi mũi tên chạm được vào người tôi.”

Bốn người xạ thủ đồng thanh la lớn:

-“Ồ, đừng có khoác lác, chúng ta không tin đâu.”

Những đệ tử của Phật, khi nghe kể câu truyện này, cũng la lên:

-“Đúng đó, làm sao mà tin được, chắc chắn anh chàng thanh niên đó phải nhanh nhẹn ghê lắm! Chụp được một mũi tên do một xạ thủ bắn kể ra đã khó lắm rồi, huống chi là cả bốn người. Không thể tin được. Chắc phải có ảo thuật gì đây!”

Đức Phật trả lời:

-“Có cái còn nhanh hơn anh chàng gan dạ can đảm kia nữa: đó là dòng ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, và cả năng lượng của tia chớp. Tuy nhiên, còn có một thứ nữa còn nhanh hơn điện chớp, nhanh hơn tốc độ quang niên ánh sáng mặt trời, mặt trăng, đó là . . . .

-“Đó là cái gì?”

Qúi độc giả thử nghĩ xem đó là cái gì?

 

Xem tiếp:

Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 1 ] – Thích Nữ Minh Tâm

Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 2 ] – Thích Nữ Minh Tâm

Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 3 ] – Thích Nữ Minh Tâm

Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 4 ] – Thích Nữ Minh Tâm

The post Bình Bát và Thiền Trượng [ Phần 1 ] – Thích Nữ Minh Tâm appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/binh-bat-va-thien-truong-phan-1-thich-nu-minh-tam.html/feed 0