Lời Phật Dạy Archives - Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam Sat, 22 Feb 2020 02:49:40 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.0.2 BA HẠNG NGƯỜI NÓNG GIẬN https://bachhac.net/ba-hang-nguoi-nong-gian.html https://bachhac.net/ba-hang-nguoi-nong-gian.html#respond Sat, 22 Feb 2020 02:49:40 +0000 https://bachhac.net/?p=2774 Một thời Thế Tôn trú ở Bàrànasi, tại vườn Nai, dạy các Tỷ kheo : Này các Tỷ kheo, có ba hạng người này xuất hiện ở đời. Thế nào là ba ? Hạng người như chữ viết trên đá, Thế nào là hạng người như chữ viết trên đá ? Này các Tỷ kheo, …

The post BA HẠNG NGƯỜI NÓNG GIẬN appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
ba hạng người nóng giận

Một thời Thế Tôn trú ở Bàrànasi, tại vườn Nai, dạy các Tỷ kheo :

Này các Tỷ kheo, có ba hạng người này xuất hiện ở đời. Thế nào là ba ?

  • Hạng người như chữ viết trên đá,

Thế nào là hạng người như chữ viết trên đá ?

Này các Tỷ kheo, có người luôn luôn phẫn nộ và phẫn nộ của người này tiếp tục lâu dài. Ví như chữ viết trên đá không bị gió hay nước tẩy xóa nhanh chóng, được tồn tại lâu dài.

  • Hạng người như chữ viết trên đất,

Và này các Tỷ kheo, thế nào là hạng người như chữ viết trên đất ? Ở đây, này các Tỷ kheo, có người luôn luôn phẫn nộ và phẫn nộ của người này không có tiếp tục lâu dài. Ví như chữ được viết trên đất bị gió hay nước tẩy xoá mau chóng, không tồn tại lâu dài.

  • Hạng người như chữ viết trên nước.

Thế nào là hạng người như chữ viết trên nước ? Này các Tỷ kheo, có người dẫu bị nói một cách kịch liệt, bị nói một cách ác độc, bị nói một cách thô lỗ, tuy vậy, vẫn dễ dàng hòa hợp, thân thiện và hoan hỷ. Ví như chữ viết trên nước được mau chóng biết, không tồn tại lâu dài.

LỜI BÀN – Giải thích: BA HẠNG NGƯỜI NÓNG GIẬN – Quảng Tánh

(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ I, chương 3, phẩm Kusinàra, phần Chữ viết trên đá-trên đất-trên nước, VNCPHVN ấn hành, 1996, tr 517)

Con người sống ở đời thường hân hoan khi gặp những điều gì vừa ý đồng thời phản ứng giận dữ, gay gắt lúc gặp cảnh chẳng đẹp lòng. Phẫn nộ, sân hận với những điều trái ý là tâm lý bình thường của chúng sanh. Tuy nhiên, tùy theo nghiệp lực nặng nhẹ của mỗi người mà biểu lộ sự giận dữ với những sắc thái và cấp độ khác nhau.

Có hạng người rất dễ bị sân hận, chỉ cần nghịch ý thì lập tức đùng đùng nổi giận. Người dễ giận mà khó nguôi thì gần như vô phương cứu chữa, chẳng mấy ai dám gần gũi và thân thiết với hạng người này. Bởi giận thì mất khôn, không thể làm chủ lời nói cũng như hành vi một khi đã nổi giận. Sự phẫn nộ tồn tại lâu dài sẽ thiêu đốt thân tâm, làm cho ai ôm ấp nó phải héo hon, cằn cỗi.

Nếu như mau giận mà chóng quên, nóng nảy chỉ vì trực tính, có chuyện liền nói ra không để bụng thì vẫn còn được cảm thông. Một người có nóng giận nhưng rồi sau đó biết lỗi, nhận thức được sự nguy hiểm mà tìm cách khắc phục, rất đáng được ca ngợi. Bởi chúng sanh thì ai cũng có nóng giận nhưng phải biết kiềm chế và nhẫn nhịn để điều phục. Người có giận cũng không nên giận lâu, nhanh chóng chuyển hóa cho thân tâm nhẹ nhàng, mát mẻ.

Không giận là trường hợp hiếm có ở trên đời, một người thành tựu tuệ giác vô ngã mới đạt đến khả năng này. Bậc Thánh giả luôn hoan hỷ với những nghịch cảnh nhờ có đầy đủ trí tuệ và từ bi, chẳng có gì có thể làm lay động tâm tư của những vị này. Người con Phật trong quá trình hướng đến không sân hận của bậc Thánh trước phải biết nhẫn nhịn đồng thời phát huy bi và trí để từng bước điều phục, chuyển hóa nóng giận của chính mình.

QUẢNG TÁNH

The post BA HẠNG NGƯỜI NÓNG GIẬN appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/ba-hang-nguoi-nong-gian.html/feed 0
Địa Tạng Bồ Tát Thánh Đức Vấn Đáp https://bachhac.net/dia-tang-bo-tat-thanh-duc-van-dap.html https://bachhac.net/dia-tang-bo-tat-thanh-duc-van-dap.html#respond Fri, 18 Oct 2019 08:38:40 +0000 https://bachhac.net/?p=2435 Do Lý Viên Tịnh Cư Sĩ Biên Thuật Hỏi: Địa Tạng Bồ Tát Thánh đản là ngày nào? Đáp: Ngày 30 tháng 7 hạ lịch. Hỏi: Lấy gì làm căn cứ ? Đáp: Năm Vĩnh Huy thứ 4 đời nhà Đường, ở Đông Phương có nước Tân La (tức là nước Cao Ly hiện nay), …

The post Địa Tạng Bồ Tát Thánh Đức Vấn Đáp appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
dia tang bo tat

Do Lý Viên Tịnh Cư Sĩ Biên Thuật

Hỏi: Địa Tạng Bồ Tát Thánh đản là ngày nào?

Đáp: Ngày 30 tháng 7 hạ lịch.

Hỏi: Lấy gì làm căn cứ ?

Đáp: Năm Vĩnh Huy thứ 4 đời nhà Đường, ở Đông Phương có nước Tân La (tức là nước Cao Ly hiện nay), Thái Tử Kim Kiều Giác sau khi xuất gia, dùng thuyền đến Trung Quốc, đến ngọn núi Cửu Chỉ Sơn trên núi Cửu Hoa Sơn ở tỉnh An Huy, tu hành 75 năm.

Đến đời Đường Huyền Tông khai nguyên, năm thứ 16 ngày 30 tháng 7 thành đạo, sau lại nhập định 20 năm. Đến ngày 30 tháng 7 Đường Chính Đức năm thứ 2, nhà Đường hiển thánh dựng tháp, cho nên Địa Tạng Thánh đản tức là ngày đó.

Hỏi: Cửu Hoa Sơn có phải là đạo tràng ứng hóa của Bồ Tát?

Đáp: Phải, Cửu Hoa Sơn đạo tràng ở huyện Thanh Dương tỉnh An Huy. Hằng năm vào tháng 7, những người đến hành hương trên Cửu Hoa Sơn rất đông, giao thông tiện lợi (Khởi hành từ Thượng Hải, đi thuyền đến huyện Đại Thông tỉnh An Huy, rồi đi đò đến Tiền Gia Cung, rồi ngồi ghế có mấy người khiêng lên Cửu Hoa Sơn).

Hỏi: Tại sao khi niệm Thánh hiệu thường xưng là Đại Nguyện Địa Tạng Bồ Tát?

Đáp: Hai chữ Đại Nguyện rất là có lai lịch, trong Địa Tạng Bản Nguyện Kinh có nói. Bồ Tát kiếp trước từng là con gái của Bà La Môn, từng là con một trưởng giả, từng là Quang Mục Thánh Nữ, từng là Quốc Vương. Khi còn là con gái Bà la môn, Ngài ở trước Tháp Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, phát đại nguyện rằng: “Ta nguyện tận vị lai kiếp, độ những chúng sinh có tội, mở mọi phương tiện, để chúng được giải thoát”.

Khi là con trưởng giả, Ngài ở trước Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai, phát đại nguyện rằng: “Ta tận vị lai chẳng kể kiếp số, vì tội khổ của lục đạo chúng sinh, mở rộng phương tiện, là cho giải thoát hết, thì bản thân ta mới thành Phật”.

Khi là Quang Mục Thánh Nữ, Ngài phát đại thề nguyện rằng: “Ta thề từ nay về sau, trước tượng của Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, từ sau trong trăm nghìn vạn ức kiếp, trong mọi thế giới. Tất cả địa ngục và tam ác đạo, mọi tội khổ của chúng sinh thề nguyện cứu bạt, để họ rời khỏi địa ngục, ác thú, súc sinh, ngạ quỷ v.v…, như là người có tội ác đều thành Phật rồi ta mới thành Chánh Giác”.

Lúc là Quốc Vương, Ngài phát đại nguyện rằng: “Nếu không độ hết tội khổ chúng sinh để họ được an lạc, đến nơi Bồ Đề, tôi vẫn chưa thành Phật”. Cho nên Địa Tạng Bồ Tát, không biết rằng đã trải qua bao nhiêu vô lượng đại kiếp, độ không biết bao nhiêu chúng sinh vô biên, đến bây giờ cũng vẫn là Bồ Tát, chưa chịu thành Phật. Nguyện lực của Bồ Tát, đơn chẳng thành Phật.

Ta thử nghĩ xem, nguyện lực của Bồ Tát lớn lao biết bao! Làm sao mà nói cho hết được. Trong các Đại Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát biểu hiện Đại Trí, Phổ Hiền Bồ Tát biểu hiện Đại Hạnh, Quan Âm Bồ Tát biểu hiện Đại Bi, còn Địa Tạng Bồ Tát biểu hiện Đại Nguyện.

Trong Pháp Hội Đức Thích Ca, thề điều phục cang cường chúng sinh, và thề độ thoát cực khổ ác của chúng sinh, phải công nhận đó là Đại Nguyện của Địa Tạng Bồ Tát vậy.

Hỏi: Nghe nói Địa Tạng Bồ Tát chỉ độ chúng sinh dưới địa ngục, có phải vậy không?

Đáp: Trong Bản Nguyện Kinh, Phật nói: “Địa Tạng Bồ Tát với cõi Diêm Phù có nhân duyên lớn, nếu nói đến mọi sự Kiến Văn Lợi Ích của chúng sinh thì trăm ngàn vạn kiếp cũng kể không hết được”.

Trong Chiêm Sát Kinh, Phật tuyên bố rõ ràng là: “Địa Tạng Bồ Tát từ khi phát tâm đến nay qua vô lượng vô biên trải qua không biết bao nhiêu A Tăng Kỳ kiếp, đã lâu đã từng độ Tát Bà Nhược Hải.

Công đức đầy đủ rồi, dựa vào bản nguyện tự tại lực, ảnh hiện thập phương. Tuy đi đến nhiều quốc độ nhưng thường khởi công nghiệp. Ở tại ngũ trược ác thế, tạo ra sự lợi ích sâu dày trong tư hội, thân tướng đoan nghiêm, uy đức thù thắng, chỉ trừ Như Lai ra, không ai sánh bằng.

Lại tất cả sở hữu hóa nghiệp trên thế giới, ngoài trừ Biên Cát, Quan Thế Âm, tất cả đại Bồ Tát cũng không bì kịp”. Bản nguyện thề lực của Bồ Tát, đủ để thành tựu mọi sở cầu của chúng sinh. Có thể diệt mọi trọng tội của chúng sinh, trừ mọi nghiệp chướng, sẽ được yên ổn”.

Thế nhân cho rằng Bồ Tát chỉ độ chúng sinh dưới cõi địa ngục, mà không nghĩ đến cõi người, đó là một sự hiểu lầm rất lớn. Trong kinh sách có nói: “Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả”. Cứu quả cố nhiên là cần, cứu nhân lại càng cần gấp.

Trong cõi người, chúng sinh tạo thập ác tội nghiệp là nhân, kiếp sau này phải xuống địa ngục đó là quả. Địa Tạng Bồ Tát đối với những kẻ ở dưới địa ngục còn cứu bạt, huống hồ với những kẻ chưa xuống địa ngục.

Hỏi: Tôi còn nghe Địa Tạng Bồ Tát công đức lợi ích vượt khỏi các Đại Bồ Tát, có phải hay không?

Đáp: Các Đại Bồ Tát phần lớn là các vị cổ Phật tái lai, không ai hơn ai, nhưng chúng sinh từ nhiều kiếp đến nay hay kết pháp duyên có sâu có nông, tránh sao cho khỏi.

Nhưng Địa Tạng Bồ Tát đối với thế giới này có đại nhân duyên, cho nên Thế Tôn khen là tối thắng, chúng sinh nào vững niềm tin thì được lợi ích. Trong Thập Luân Kinh, Đức Phật có nói: “Giả sử có người nào cho rằng Di Lặc Bồ Tát Diệu Cát Tường và Quán Tự Tại Bồ Tát, Ngài Phổ Hiền Bồ Tát là thượng thủ Khắc Ca Sa Đại Bồ Tát và Ma Ha Diễn ở trong trăm kiếp chí tâm quy y, xưng niệm danh hiệu, đọc tụng, lễ bái, thờ cúng mọi điều sở cầu.

Không bằng có một người trong một bữa ăn, mà chí tâm quy y, xưng danh, niệm tụng, lễ bái, thờ cúng Địa Tạng Bồ Tát, thì những sự cầu xin sẽ sớm được y nguyện. Vị Đại Sĩ có mối nhiệt tình quen với lòai hữu tình từ lâu vững tin đại nguyện, đại bi dũng mãnh vượt các Đại Bồ Tát.

Cho nên các ngươi nên cúng dường.” Trong Kinh Bổn Nguyện cũng có nói: “ Địa Tạng Bồ Tát Diêm Phù Đề có đại nhân duyên như Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Âm, Di Lặc cũng hóa muôn thân hình để độ lục đạo.

Còn có điều chưa hết, như Địa Tạng giáo hóa mọi chúng sanh trong lục đạo, phát ra những thệ nguyện kiếp số như hàng vạn ức hằng hà sa số.

Hỏi: Chúng ta thờ cúng Địa Tạng Bồ Tát có công đức lợi ích gì?

Đáp: Thờ cúng Địa Tạng Bồ Tát thì công đức lợi ích nói không hết.

Hỏi: Có những công đức và lợi ích gì rất rõ rệt?

Đáp: Nếu muốn cầu phước đức và trí tuệ, không thể không được nơi hiện thế, mà sự hiển linh như việc cầu xin như xuất ngoại lữ hành, sanh con trai hay gái, bệnh nặng hay mắc bệnh khó chữa, đều rất linh nghiệm.

Hỏi: Khi đi du lịch cung phụng Địa Tạng Bồ Tát có ích lợi gì?

Đáp: Trong Bản Nguyện Kinh có nói rằng nếu có chúng sinh nào vào rừng, vượt biển, gặp phải sóng gió, hay qua các đường nguy hiểm, thì niệm đọc danh hiệu Bồ Tát vạn lần, trên đường nguy hiểm sẽ có thổ công và quỷ thần hộ vệ tránh mọi nguy hại.

Hỏi: Mới sinh con trai hay gái thì cúng Địa Tạng Bồ Tát có lợi ích gì?

Đáp: Kinh nói: Nếu có sinh con trai hay gái, thì trong 7 ngày, tụng đọc Bản Nguyện Kinh và niệm danh hiệu Bồ Tát vạn lần, đứa trẻ sẽ được hết mọi tai ương kiếp trước, được an lạc, trưởng thành tăng thêm phúc thọ.

Hỏi: Nếu mắc bệnh nặng, cung phụng Địa Tạng Bồ Tát có ích lợi gì?

Đáp: Trong Kinh có nói nếu có chúng sinh nào khi lâm chung được nghe tiếng tên Bồ Tát bên tai. Sau khi chết, xa lìa vĩnh viễn ba đường ác. Lúc đó Cha Mẹ hay quyến thuộc đem nhà cửa, hay đồ quý báu và quần áo đem bán mà tạc tượng hay họa hình Bồ Tát, để người bệnh trước khi chết được mắt thấy tai nghe, thì túc nghiệp báo hay kẻ bị bệnh nặng sẽ được khỏi và tăng thọ. Nếu có nghiệp báo hay mạng đã tận, hoặc có tội nghiệp phải xuống địa ngục, thì cũng được tiêu trừ nghiệp chướng, siêu sinh nhân thiên mà hưởng lạc.

Hỏi: Mắc chứng ác bệnh, cung phụng Địa Tạng Bồ Tát có ích lợi gì?

Đáp: Trong Kinh sách nói: “ Nếu có chúng sinh nào nằm triền miên trên giường bệnh đã lâu năm, cầu sống không được, cầu chết cũng không được, đêm nằm thường mơ thấy ác quỷ, hoặc đi đường hiểm nghèo và cùng quỷ đi chơi, bệnh tình ngày càng thêm nặng, kêu khổ trong khi ngủ.

Đó là do nghiệp đạo thảo luận, chưa định tội là nặng hay nhẹ, cho nên bệnh tạm thời chưa khỏi. Nhưng đối trước tượng chư Phật và Bồ Tát lớn tiếng đọc Bản Nguyện Kinh một biến, hay lấy thứ vật gì mà bệnh nhân yêu quý nhất, như quần áo bảo vật, trang viện hay nhà ở, đối trước bệnh nhân nói rằng: Tôi là XX vì bệnh nhân mà bỏ đi mọi vật này, thờ phụng Kinh tượng hoặc tạc hình Bồ Tát và tượng Phật, hoặc xây tháp và cất Chùa, hoặc quyên dầu đèn, và làm việc thiện thường xuyên.

Nói trước bệnh nhân 3 lần, để bệnh nhân nghe cho rõ. Nếu bệnh nhân khó sống, từ 1 đến 7 ngày lớn tiếng đọc Kinh, thì bệnh nhân sau khi chết được giải thoát hết mọi tội.

Hỏi: Cứ gặp 10 ngày chay cung phụng Địa Tạng Bồ Tát có lợi ích gì hay không?

Đáp: Có, trong Kinh có nói, các cử chỉ hay ý nghĩ của Nam Diêm Phù Đề chúng sinh đều là nghiệp. Nếu có thể trong 10 ngày chay, tức là những ngày mùng 1, mùng 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29 và ngày 30, đến trước tượng Phật và Bồ Tát đọc Địa Tạng Bản Nguyện Kinh một lượt, thì bốn bên chỗ ở của mình không có tai nạn, người trong nhà này bất luận già hay trẻ, hiện nay và sau này, vĩnh viễn lìa khỏi tội ác, không sinh bệnh tật, ăn mặc phong phú.

Hỏi: Nghe nói Địa Tạng Bồ Tát tu địa đại Viên Thông chứng Như Lai Tạng tánh. Trong Thập Luân Kinh có nói Địa Tạng Bồ Tát khi đến Pháp Hội, mọi người cảm thấy địa đại tăng cường, thấy mình nặng khó cử động. Nếu vậy những nhà ở và kẻ làm nông cung phụng Địa Tạng Bồ Tát có phải là có ích hay không?

Đáp: Đúng, Bản Nguyện Kinh có nói: “Ở phía Nam đất đai thanh khiết, lấy đất, đá, tre, gỗ làm cái thất để thờ, bên trong tạc hay vẽ tượng Bồ Tát, phụng thờ, thắp hương, chiêm lễ và tán thán, thì người ở khu đó được 10 điều lợi ích:

Là Đất đai thu hoạch gặt hái phong phú.
Là Gia đạo bình an.
Là Tiên vong sinh thiên.
Là Hiện tồn phúc thọ.
Là Sở cầu toại ý.
Là Vô tai nạn thủy hỏa.
Là Tránh mọi hư hao.
Là Đoạn tuyệt ác mộng.
Là Sớm chiều ra vào có thần phù hộ.
Là Gặp nhiều Thánh ân.

Hỏi: Xin nói lại kẻ làm ruộng cung phụng Bồ Tát có ích lợi gì?

Đáp: Thập Luân Kinh có nói: “Tùy ở nơi đó, nếu các hữu tình gieo các hạt giống ở ruộng hoang hoặc ruộng tốt, hoặc siêng năng làm việc, hoặc không làm việc mà có thể chí tâm xưng niệm danh hiệu, đọc tụng, quy kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, kẻ thiện nam này công đức, diệu định, uy thần lực cố. Tất cả mọi cây trái đều được nhiều hơn. Sở dĩ được như vậy, người thiện nam này đã từng trải qua vô lượng vô số đại kiếp bởi vô số lượng cõi Phật Thế Tôn, sở phát đại tinh tấn, kiên cố thệ nguyện. Do sức của thiện nguyện đó, vì muốn thành các lọai hữu tình. Thường phổ nhiệm trì mọi đại địa. Thường phổ nhiệm trì mọi hạt giống, khiến cho mọi hữu tình đều tùy ý thọ dụng. Đó là vị thiện nam nầy do thần lực mà ra. Có thể làm cho gốc rễ mọi thảo mộc, cây cối, lá, hoa, đều được sanh trưởng. Mọi thuốc mầm non của cây đều nẩy nở thành thục và nhuận trạch thanh khiết đẹp đẽ.

Hỏi: Xin nói rộng lớn hơn lợi ích của Địa Tạng Bồ Tát?

Đáp: Bản Nguyện Kinh có nói: Nếu chúng sinh nào được thấy hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát và nghe Bản Nguyện Kinh, và đọc tụng hay dùng hương hoa, ẩm thực, y phục và châu báu cung phụng cúng dường, hay tán thán chiêm lễ, sẽ được 28 thứ lợi ích:

Là Được Thiên Long hộ niệm.
Là Thiện Quả càng ngày càng tăng.
Là Tập Thánh Thượng ân nhân.
Là Bồ Đề không phai.
Là Y thực phong phú.
Là Bệnh tật không đến.
Là Khỏi thủy hỏa tai.
Là Vô đạo tặc nguy.
Là Mọi người kính nể.
Là Thần Quỷ hộ trì.
Là Nữ chuyển nam thân.
Là Làm Vua thần nữ.
Là Tướng tốt đoan chính.
Là Đa sinh Thiên thượng.
Là Có thể là đế vương.
Là Túc trí mệnh thông.
Là Hữu cầu giai toại.
Là Quyến thuộc vui vẻ.
Là Mọi ngang trái đều tiêu diệt.
Là Nghiệp đạo vĩnh trừ.
Là Nơi đi tận thông.
Là Đêm nằm an lạc.
Là Chết trước lìa khổ.
Là Sống trong phúc đức.
Là Chư Thánh tán thán.
Là Thông minh lợi căn.
Là Có lòng từ bi.
Là Cuối cùng thành Phật.

Hỏi: Phát Đạo Tâm, phụng thờ Địa Tạng Bồ Tát, có phải được lợi ích lớn hơn không?

Đáp: Phải! Trong Kinh nói: Nếu có chúng sinh nào phát Đại Từ Tâm, cứu độ mọi chúng sinh, muốn tu vô thượng Bồ Đề, muốn thoát khỏi tam giới, người này nếu thấy hình Bồ Tát, hoặc nghe danh Bồ Tát, chí tâm quy y cung phụng chiêm lễ, thì sở nguyện tốc thành và sở cầu tất thành.

Hỏi: Ngoài ra còn có điều gì mà cung phụng Bồ Tát, còn lợi ích gì không?

Đáp: Còn rất nhiều, có thể đọc Địa Tạng Bản Nguyện Kinh, Phẩm thứ 6 và cùng 11 đến phẩm 13.

Hỏi: Địa Tạng Bồ Tát có những sự tích linh cảm?

Đáp: Rất nhiều, đời nhà Tống thường Cẩn Tập, có Tượng Bồ Tát Linh Nghiệm Ký và trong Tục Tạng Kinh. Tôi chỉ thu thập được, đã liệt kê vào Địa Tạng Bồ Tát Bản Tích Linh Cảm Lục, đây không thể kể là ghi sự chép đầy đủ.

Hỏi: Xưng niệm Địa Tạng Bồ Tát, và xưng niệm Địa Tạng Vương Bồ Tát có phân biệt không?

Đáp: Không phân biệt gì! đều có thể niệm. Các Kinh sách phần nhiều xưng là Địa Tạng Bồ Tát, Duy có Đại Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán Kinh thì xưng là Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Hỏi: Những Kinh sách nào nói về Địa Tạng Bồ Tát?

Đáp: Có Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh, Thập Luân Kinh, Chiêm Sát Kinh, còn Kim Cang Tam Muội Kinh và Đại Tạp Tu Di Tạng Kinh cũng có nói đến. Những Kinh sách có liệt tên Địa Tạng Bồ Tát thì rất nhiều. Bình thường phần nhiều đọc Địa Tạng Bản Nguyện Kinh, Linh Thừa Đại Sư Tuyển lựa ra chú thích. Gần đây người ở Hồ Trạch Phạn có cuốn Bạch Thoại giải thích cũng khá tốt. Chiêm Sát Kinh là của Bồ Tát Địa Tạng nói, Ngẫu Ích Đại Sư tuyển cuốn nghĩa sớ, mọi người nên đọc.

Hỏi: Những sách chú thuật về Địa Tạng Bồ Tát, loại nào ta nên đọc?

Đáp: Cuốn Ngẫu Ích Đại Sư viết khen ngợi Địa Tạng Bồ Tát Sám Nguyện nghi quỹ, và Chiêm Sát Hành Pháp là cuốn sách tốt. Và gần đây Hoằng Nhất Pháp Sư biên soạn cuốn Địa Tạng Bồ Tát Thánh Đức Đại Quan, Lư Thế Hầu vẽ Địa Tạng Bồ Tát Cửu Hoa thùy tích đồ tán, Ấn Quang Pháp Sư giám tu cuốn Cửu Hoa Sơn Chí,( khỏang Dân Quốc thứ 26) Nông Phụng Trì viết cuốn Địa Tạng Bồ Tát Vãng Kiếp Cứu Mẫu Ký, và tác phẩm của tôi biên soạn cuốn Địa Tạng Bồ Tát Bản Tích Linh Cảm Lục cũng là những sách đáng đọc.

Hỏi: Cư Sĩ cũng thường tụng niệm Địa Tạng Bản Nguyện Kinh, xin cho biết cảm tưởng đối với cuốn Kinh đó ra sao?

Đáp: Tôi đọc Bản Nguyện Kinh và Chúng Sinh Nghiệp Duyên phẩm mới biết chúng sinh nghiệp duyên quá nặng, đọc Chúc Lụy Thiên Nhân Chi phẩm mới biết Phật và Bồ Tát lòng từ bi rất sâu rộng, đọc Đao Lợi Thiên Cung Thần Thông Chi phẩm mới biết Địa Tạng Bồ Tát phát nguyện lớn lao. Chúng ta sống trong kiếp vận giữa lục đại nạn lâm đầu, chỉ còn cách chí thành quy kính Đại Nguyện Bồ Tát mà thôi.

Hỏi: Địa Tạng Bồ Tát có dạy chúng ta pháp môn tu hành hay không?

Đáp: Có ! Địa Tạng Bồ Tát dạy chúng ta niệm Phật, sống trong thời đại mạt pháp. Pháp môn niệm Phật là chắc chắn hơn cả. Bản Nguyện Kinh xưng danh hiệu Phật là phẩm Trung. Cố nhiên là tường tận liệt kê danh hiệu Chư Phật. Trong Thập Luân Kinh có nói rõ, sẽ sinh nước Tịnh Độ, nơi Đạo Sư ở đấy”. Chiêm Sát Kinh cũng nói: “Nếu có người muốn sống tha phương, hiệu là Tịnh Độ, nên theo danh xưng thế giới Phật mà tụng niệm, nhất tâm bất loạn, như kẻ quan sát trên, nhất định được sống ở nước của Phật. Cho nên Ngẫu Ích Pháp Sư ở trong Chiêm Sát Hành Pháp phát nguyện rằng: “Xả thân tha thế, sinh tại Phật tiền, gặp được Di Đà, cận kề Chư Phật, sẽ được thọ ký, hồi nhập trần lao, phổ hội quần mê, đồng quy bí tạng.”

Hỏi: Sự phát nguyện lớn lao của Địa Tạng Bồ Tát ta đã biết rồi, sao lại còn thấy nghiệp duyên chúng sinh còn nặng như vậy?

Đáp: Đã từng thấy trong Bản Nguyện Kinh, từ Phẩm thứ 3 đến thứ 5 có nói rõ. Trong đó, Địa Tạng Bồ Tát từng đem sự việc nhân quả báo ứng, sự quả báo của chúng sinh ở dưới địa ngục nói rõ tường tận. Mọi tội của tội nhân, Bồ Tát đã nói với họ về quả báo của từng tội, nhưng họ vẫn chưa tỉnh ngộ sám hối, nên còn phải xuống địa ngục để chịu khổ. Ở trong các địa ngục, khổ nhất là ở Vô Gián địa ngục. Vì sự khổ không hề gián đoạn, chứa chất tội nhân cũng không gián đoạn và tội nhân chịu khổ cũng không gián đoạn.

Hỏi: Những loại người nào đáng xuống địa ngục Vô Gián?

Đáp: Một là những người bất hiếu với Cha Mẹ, hoặc giết người. Hai là làm thân Phật chảy máu, phỉ báng Tam Bảo, bất kính tôn Kinh. Ba là xâm tổn hại của thường trú, làm ô uế Tăng Ni hay dâm dục trong chốn Già Lam, hoặc sát hoặc hại. Bốn là giả làm Thầy tu. Trong lòng không phải Thầy tu, phá của thường trụ, lừa dối bạch y. Năm là trộm cướp tài vật, gạo thóc, đồ ăn và quần áo, cho đến không cho mà lấy của người. Những loại người này đáng xuống địa ngục, khó mong kỳ hạn được thoát ra.

Hỏi: Làm sao thấy được lòng từ bi rất lớn của chư Phật và Bồ Tát?

Đáp: Đức Phật Thích Ca khi ở Đao Lợi Thiên Cung đã giơ cánh tay vàng ngàn vạn ức hóa thân Địa Tạng Bồ Tát và nói rằng: “Ta từ lũy kiếp cần khổ, độ thoát những kẻ tội khổ cang cường khó cảm hóa tội khổ chúng sinh. Còn những kẻ chưa điều phục, tùy nghiệp mà báo ứng. Nếu xuống địa ngục, lúc chịu cực khổ. Người nên nghĩ đến lời Ta ở Đao Lợi Thiên Cung ân cần dặn dò, những chúng sinh từ Ta Bà thế giới đến Di Lặc xuất thế đến nay dù cho có được giải thoát, vĩnh lìa đau khổ, ngẫu nhiên gặp Phật thọ ký. Thường căn dặn trong phẩm Chúc Lũy Nhân Thiên phẩm “Phật lại sờ đầu Bồ Tát, khen thần lực Bồ Tát thật không thể nghĩ bàn được. Từ Bi cũng không thể nghĩ bàn. Biện tài cũng không thể nghĩ bàn, và ân cần đem mọi chúng sinh nhân thiên chưa ra khỏi tam giới, còn ở trong nhà lửa giao phó cho Địa Tạng Bồ Tát, và dặn nếu có nhân thiên nào ở trong Phật pháp còn thiếu thiện căn thì cần phải ủng hộ, dạy cho họ tăng trưởng đừng để cho thoái thất. Nếu có chúng sinh nào bị đọa vào chỗ tội ác, nếu có thể niệm danh hiệu Đức Phật, một vị Bồ Tát, một câu một kệ kinh điển Đại Thừa, ông nên dùng thần lực mà cứu vớt họ, để họ được sinh lên cõi trời hưởng những sự vui”. Địa Tạng Bồ Tát nhất nhất nhận lời và mong Thế Tôn đừng lo. Đó cho thấy rõ lòng từ bi của Phật và Bồ Tát rất là rộng lớn bao la.

Hỏi: Phó chúc ý nghĩa là thế nào?

Đáp: Phó Chúc Ý nghĩa mười phần trọng đại. Vì hiện tại, vị lai, mọi tội khổ chúng sinh đều do phó chúc của Thế Tôn. Mọi điều đều ở trong Địa Tạng bi nguyện. Tất cả mọi chúng sinh đã biết mà quy ngưỡng. Thế Tôn độ chưa tận, thì nên độ chúng sinh là ở Địa Tạng Bồ Tát, là không còn nghi ngờ gì nữa. Hạnh nguyện của Thế Tôn tức là hạnh nguyện của Địa Tạng Bồ Tát, từ hộ của Bồ Tát tức là từ hộ của Thế Tôn. Cho nên nếu được Bồ Tát cứu hộ thì có thể coi Địa Tạng như là Phật vậy.

Hỏi: Còn ý nghĩa gì khác nữa không?

Đáp: Còn! Phàm phát Đại Bồ Đề tâm thì không khác gì Địa Tạng Bồ Tát nhận sự phó chúc ở Thiên cung.

Hỏi: Hiện nay tôi nên làm cách gì , về việc hoan hỷ cảm ơn ? Từ nay tôi biết rằng nên làm thế nào rồi. Mỗi ngày kính lễ Địa Tạng Bồ Tát, ông có thể giúp tôi viết một bản văn hồi hướng chăng?

Đáp: Tốt lắm! Tôi đã từng biên soạn một bài Địa Tạng Bồ Tát phát nguyện hồi hướng, ai ai cũng có thể đọc như sau:

Một lòng quy y

Đại từ bi phụ

Công đức lớn lao

Cùng kiếp nan tuyên

An nhẫn bất động

Do như đại địa

Tĩnh lũy thâm mật

Do như bí tàng

Thường hành huệ thí

Như xe hằng chuyển

Trì giới kiên cố

Như Diệu Cao sơn

Tinh tiến nan hoại

Như kim cương bảo

Trí huệ sâu xa

Giống như đại hải

Chúng sinh chướng dày

Thật nặng thật sâu

Địa Tạng hoằng từ

Chẳng sợ chẳng bỏ

Gíup sự sợ hãi

Như thân như hữu

Phòng chưa oán địch

Như khảm như thành

Giết giặc phiền não

Giống như thần kiếm

Cứu các chúng sanh

Giống như phụ mẫu

Con nếu yếu đuối

Phụ ái biện cường

Nhi bất tiêu hề

Mẫu lân phiên trọng

Đệ tử XX

Ân thâm duyên thâm

Thề dĩ thân tâm

Phụng Địa Tạng Chủ

Phục nguyện hoằng tu

Thường giác ngộ con

Khiến con hằng nhớ

Ức Bồ Đề tâm

Quyết định sinh Tây

Được gần Di Đà

Thừa bản nguyện lực

Hóa độ hữu tình

Tùy nơi trần kiếp

Ở trong xứ khổ

Thay chúng sanh khổ

Làm thành Phật trước

Mới chứng Bồ Đề

Địa ngục chưa trống

Thề chẳng thành Phật

Tận đời vị lai

Không có mệt nhọc

Kiếp đá hóa được

Nguyện này chẳng đổi

Sở tu phúc nghiệp

Sám hối phát nguyện

Đảo loại thiện căn

Thể đồng pháp giới

Mỗi mỗi hồi hướng

Phổ thí hàm thức

Tất chứng chân thường

Quy Tịch Quang độ.

Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Hiệu đính xong ngày 28.6.2012

Nhân sinh nhật lần thứ 64

Thích Như Điển

Đức Quốc Viên Gíac Tự Phương Trượng Hòa Thượng.

The post Địa Tạng Bồ Tát Thánh Đức Vấn Đáp appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/dia-tang-bo-tat-thanh-duc-van-dap.html/feed 0
Sanh Tử Như Ngủ Thức https://bachhac.net/sanh-tu-nhu-ngu-thuc.html https://bachhac.net/sanh-tu-nhu-ngu-thuc.html#respond Fri, 18 Oct 2019 08:27:54 +0000 https://bachhac.net/?p=2432 Từ vô lượng kiếp đến nay chúng ta sinh ra rồi tử, tử rồi lại sinh giống như con người tỉnh rồi lại ngủ, ngủ rồi lại tỉnh. Tối đến đi ngủ giống như hình thức chết, sáng lại tỉnh ra xem như người mới sanh, chẳng qua đối với sanh tử nầy thời gian …

The post Sanh Tử Như Ngủ Thức appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
sanh tử như ngủ thức

Từ vô lượng kiếp đến nay chúng ta sinh ra rồi tử, tử rồi lại sinh giống như con người tỉnh rồi lại ngủ, ngủ rồi lại tỉnh. Tối đến đi ngủ giống như hình thức chết, sáng lại tỉnh ra xem như người mới sanh, chẳng qua đối với sanh tử nầy thời gian ngắn ngủi thôi.

Thọ mạng của chúng ta, thời gian so ra dài hơn một chút, song chuyện sanh tử giống như chuyện ngủ thức mà thôi. Vì sao thế? Vì chúng ta có lúc mê mờ, có lúc minh bạch. Minh bạch tức là sinh, mê mờ tức là tử. Cho nên một niệm minh bạch, niệm đó mình sống; một niệm mê mờ, niệm đó mình chết.

Ðó là một thời gian ngắn tạm bợ của cuộc sanh tử, vô luận thời gian sanh tử ngắn cũng vậy, dài cũng vậy, đều là trong vòng sanh tử luân hồi, trôi lăn chìm hụm vô tận. Có lúc được sanh vào nhà giàu có, có lúc sanh vào nhà bần tiện, có lúc sanh làm trâu, làm ngựa, có lúc làm ngạ quỷ, súc sanh, hoặc xuống địa ngục.

Ðó là kiếp sống sanh tử luân hồi trong biển khổ nổi trôi bất định, vì sanh tử tuần hoàn không bao giờ dứt. Ðức Phật Thích Ca thấy kiếp sống của chúng sanh thật lả thảm hại, cho nên Ngài chờ không nổi mà “vô vấn tự thuyết”, không ai hỏi mà Ngài tự nói ra Pháp Môn Tịnh Ðộ. Pháp Môn Tịnh Ðộ là pháp môn phương tiện rất dễ tu hành. Ðường đi rất ngay thẳng, chỉ cần quý vị niệm Nam Mô A Di Ðà Phật với lòng tin, lòng phát nguyện, và tâm thực hành là đủ rồi.

Cho nên tín, nguyện, hạnh là ba chất liệu cần thiết để vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, đó là ba loại lộ phí. Thứ nhất phải tin Ðức A Di Ðà Phật, tin Thế Giới Cực Lạc, tin pháp môn niệm Phật nhất định sẽ đến được cảnh giới Cực Lạc diện kiến Ðức A Di Ðà. Phải có lòng tin, chớ nói chưa thấy chưa tin, hay điều nầy không căn cứ nên không thể nào tin được. Chỉ cần quý vị có lòng tin, ngoài ra không cần gì khác. Kế đến là phát nguyện gặp đức A Di Ðà, nguyện sanh vào thế giới Cực Lạc, nguyện tu pháp môn niệm Phật. Sau khi đã phát nguyện, cứ y chiếu theo pháp môn Tịnh độ niệm Phật tu hành, phải thật thà niệm Phật, phải chân thật niệm Phật. Niệm thật nhiều rồi, mới có thể trở thành một khối (đả thành nhất phiến), mà nhất tâm bất loạn, đạt được Niệm Phật Tam Muội, thời nhất định sẽ sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc.

Thế giới Ta Bà muôn cảnh khổ giao qua xắn lại, đầy rẫy muôn điều ác, cấu xé tranh giành, không có một lúc nào bình an. Ở thế giới Tây phương chẳng có phiền não và không có vấn đề gì phát sanh, cho nên chúng ta phải cầu sanh về cõi Cực Lạc thế giới, diện kiến đức Phật A Di Ðà, liên hoa hóa sanh, đắc không thối chuyển.

Không thối chuyển là vị không thối chuyển, niệm không chuyển, và hành không thối chuyển. Vị không thối lùi là quả vị chứng được không thối đọa. Niệm không thối chuyển tức là tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng thời khắc nào tâm cũng không thay đổi. Hành không thối chuyển tức tu hành theo pháp môn nầy không thối lùi.

Quý vị chứng đắc tam bất thối, tương lai nhất định thành Phật. Có đủ ba tư lương: tín, nguyện, hạnh rồi, thời đường đến thế giới Cực Lạc, diện kiến đức Phật A Di Ðà rất dễ dàng, bởi vì đây là nguyện lực của Ngài.

Tại mười phương thế giới, nếu có chúng sanh nào thành tâm niệm danh hiệu Nam Mô A Di Ðà Phật, thời lúc lâm chung, người đó được đức Phật A Di Ðà đến tiếp dẫn thành Phật.

Khi niệm Phật tức là đánh điện tín đến Thế Giới Cực Lạc. Một lần niệm Phật là một lần đánh điện tín, niệm Phật hai lần là đánh điện tín hai lần. Mỗi ngày đều đánh điện đến đức A Di Ðà, đức A Di Ðà ở thế giới Cực Lạc, cũng có ra-đa, có máy nhận điện tín. Máy ra-đa, máy nhận điện tín là cái gì? Ðó là ao sen thất bảo đó quý vị. Quý vị niệm Phật một câu, hoa sen lớn lên một chút. Quý vị niệm liên tục A Di Ðà Phật, hoa sen sẽ lớn lên to như bánh xe, chờ quý vị đến thế giới Cực Lạc. Phật tánh của quý vị, nhất linh chơn tánh của quý vị sẽ đến hoa sen nầy hóa sanh. Khi hoa nở, Phật tánh của quý vị sẽ hiển hiện. Nên nói:

“Nguyện sanh Tây Phương Tịnh độ trung,

Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu,

Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,

Bất thối Bồ Tát vi bạn lữ.”

Chúng ta nguyện ý đắc được thượng phẩm thượng sanh, hoa sen là cha mẹ, hoa nở thấy được đức Phật A Di Ðà, ngộ nhập Vô sanh pháp nhẫn, bấy giờ tức là chứng đắc bất sanh bất diệt, thoát khỏi sanh tử, cùng làm bạn với chư bất thối Bồ Tát. Khi chúng ta đến Thế Giới Cực Lạc, bạn bè quyến thuộc của chúng ta đều là Ðại Bồ Tát, ngày ngày cùng nhau giảng kinh thuyết pháp, cùng hướng về phía trước mà tiến.

Giảng ngày 17 tháng 12 năm 1985
Hòa thượng Tuyên Hóa

The post Sanh Tử Như Ngủ Thức appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/sanh-tu-nhu-ngu-thuc.html/feed 0
Pháp Môn Tịnh Độ Theo Kim Cang Thừa https://bachhac.net/phap-mon-tinh-do-theo-kim-cang-thua.html https://bachhac.net/phap-mon-tinh-do-theo-kim-cang-thua.html#respond Fri, 18 Oct 2019 08:25:03 +0000 https://bachhac.net/?p=2429 Pháp Môn Tịnh Độ Theo Kim Cang Thừa . Trong hoàn cảnh của chúng con hiện nay, căn cơ yếu kém và không được gần gũi các vị chân sư, chúng con có nên hướng tâm về một cõi tịnh độ không và nếu có thì nên hướng tâm đến cõi tịnh độ nào cho …

The post Pháp Môn Tịnh Độ Theo Kim Cang Thừa appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
pháp môn tịnh độ theo kim cang thừa

Pháp Môn Tịnh Độ Theo Kim Cang Thừa .

Trong hoàn cảnh của chúng con hiện nay, căn cơ yếu kém và không được gần gũi các vị chân sư, chúng con có nên hướng tâm về một cõi tịnh độ không và nếu có thì nên hướng tâm đến cõi tịnh độ nào cho thích hợp?

Tulku Nyima Rinpocher: Không nhất thiết là vì căn cơ yếu kém, không đủ trí huệ hay phước đức mới hướng tâm về một cõi Tịnh Độ.

Tuy nhiên nếu muốn hiểu cho đơn giản thì khi muốn đến được một cõi Tịnh Độ, điều quan yếu hơn cả là phải có tín tâm tuyệt đối, sau đó phải nhất tâm phát nguyện cầu vãng sanh về cõi ấy và phải miên mật tu tập theo pháp môn Tịnh Độ bất kể ngày đêm cho đến khi tâm bất loạn.

Cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà là cõi gần gũi với chúng ta hơn hết cả. Các con nên hướng tâm về cõi Tịnh Độ của Ngài vì cõi Cực Lạc của Đức A Di Đà bao gồm đủ hết tất cả những yếu tố cực kỳ tốt đẹp của tất cả những cảnh giới Tịnh Độ khác.

Tiếp theo sau đây là tóm lược bài thuyết giảng của Tulku Nyima Riponche về pháp môn vãng sinh Tịnh Độ theo truyền thống Kim Cang Thừa để bổ túc cho câu vấn ở trên. Bài giảng này được Tâm Bảo Đàn chuyển Việt ngữ dựa trên những ghi chép trong buổi thuyết pháp tại ni viện Quan Âm Phổ Chiếu, Maryland, Hoa Kỳ vào ngày 25/03/2005, theo lời thông dịch từ Tạng ngữ qua Anh ngữ của Khenpo Sonam.

Theo truyền thống Đại Thừa thì kinh điển nhắc đến cõi Tịnh Độ của Đức A Di Đà như một cõi giới ngoại tại, là một cõi giới do Đức Phật A Di Đà tạo dựng nương nơi đại nguyện của Ngài để cứu độ chúng sinh. Cõi giới này nằm bên ngoài ta.

Nhưng nếu đi sâu vào những giáo lý Kim Cang thì có thể thấy rằng Đức Phật A Di Đà hiện hữu trong ta; thân sắc này của ta chính là mạn đà la, là pháp giới A Di Đà! Đi sâu hơn nữa vào đến các giáo lý Dzogchen thì tinh hoa tâm thức siêu việt và tự tánh vô sanh của tâm chính là A Di Đà!

Có nhiều phương pháp vãng sinh Tịnh Độ nhưng tựu chung, kết quả cuối cùng là làm sao để đến được cõi giới đó. Đến được cõi Tịnh Độ rồi thì không còn lo lắng phải rơi trở lại xuống một trong sáu nẻo luân hồi nữa.

Vậy thì chúng ta nên nhìn thấy cõi Tịnh Độ như thế nào, bên ngoài ta, bên trong ta, hay chính là tự tánh chân tâm? Đối với những hành giả sơ căn thì các con có thể nhìn cõi Tịnh Độ như là một cõi giới bên ngoài ta do Đức A Di Đà tạo dựng nương nơi đại nguyện của Ngài.

Để thực hành pháp tu A Di Đà, các hành giả sơ căn cần phải biết:

(I) Quán tưởng cõi giới Tịnh Độ của Đức A Di Đà

(II) Vun bồi công đức

(III) Phát khởi Bồ Đề Tâm

(IV) Phát nguyện vãnh sanh Tịnh Độ

(I) Quán tưởng cõi giới Tịnh Độ của Đức A Di Đà

Khởi đầu, các con cần dụng công quán tưởng cõi giới đó cho thuần thục như trong kinh sách đã tả. Đây là một cõi Tây Phương Cực Lạc cực kỳ thuần khiết, thanh tịnh, đẹp đẽ, sáng ngời, với những đặc tính tối hảo, trang nghiêm nhiệm mầu. Nơi đó không có sáu nẻo luân hồi, không già, không chết, không khổ não, không đau đớn, không sân hận, không kẻ thù. Đó là cõi của Phật, của Pháp. Nương nơi nguyện lực, ta sẽ được đản sanh ra từ trong một hoa sen ngàn cánh. Chim ca-lăng-tầng-già hót cho ta nghe Pháp âm vi diệu. Ở cõi này, hương thơm ngào ngạt, châu báu rạng ngời, nước tịnh có đến tám đặc tính nhiệm mầu có thể chữa lành bệnh tật ngay tức khắc. Chúng sinh ở cõi này được diện kiến Đức A Di Đà và nghe Ngài thuyết Pháp, nhờ đó mà đạt được giác ngộ viên mãn. Ngoài ra, phải quán tưởng Đức A Di Đà thật linh động, rõ ràng từng chi tiết một, thân ngời sắc màu hồng ngọc (ruby) ra sao, y áo ra sao, hào quang rực sáng ra sao, v.v.

Việc dụng công quán tưởng cõi Cực Lạc là một chuyện đòi hỏi rất nhiều cố gắng. Ngay cả nếu thầy bảo các con hãy ngồi xuống quán tưởng chỉ một con mắt của Đức A Di Đà cho ra một con mắt thôi thì cũng là chuyện khó khăn rồi, huống chi cả một cảnh giới! Nhưng đối với kẻ sơ cơ tu thì việc dụng công quán tưởng cõi giới này là một việc cần thiết.

Riêng đối với các bậc chứng đắc thì cõi A Di Đà hay Niết Bàn Tịnh Độ chính là tự tánh vô sanh của tâm!

(II) Vun Bồi Công Đức

Kế đến, nếu muốn vun bồi công đức thì các con cần phải thực hành Thất Chi Hành hay Bảy Pháp Hành Trì (Thất Chi Hành hay Bảy Pháp Hành Trì là tổng hợp bảy pháp môn phổ thông được coi là căn bản và cần thiết cho con đường tu để đối trị với các tâm ô nhiễm. Trong bài giảng này, Thất Chi Hành được giảng dạy dựa trên nhu cầu hành trì theo pháp môn Tịnh Độ của Đức A Di Đà, chú trọng vào việc liên kết các pháp hành trì với cõi giới A Di Đà và với nguyện vãng sanh Cực Lạc).

Các con phải nghĩ rằng, khi xưa, chư Phật, chư Bồ Tát cũng đã từng vun bồi công đức qua vô lượng kiếp, tạo được vô lượng công đức, đem lại lợi lạc cho vô lượng chúng sinh. Những chúng sinh đã đắc quả Cực Lạc trong qua khứ, chắc chắn là khi còn sống trong thế giới Ta Bà, cũng đã từng vun bồi công đức qua vô lượng kiếp, tạo được vô lượng công đức, đem lại lợi lạc cho vô lượng chúng sinh. Nay nếu ta muốn đắc quả Cực Lạc thì chính bản thân ta cũng phải noi theo gương sáng của chư Phật, chư Bồ Tát, và các vị đã đắc quả trong quá khứ và vun bồi vô lượng công đức y như thế.

Thất Chi Hành hay Bảy Pháp Hành Trì gồm có:
1. Lễ lạy
2. Cúng dường
3. Sám hối
4. Hoan hỉ công đức của chư Phật và tất cả các chúng sinh khác
5. Thỉnh cầu chư Phật và chư đạo sư chuyển pháp luân
6. Thỉnh cầu chư Phật và chư đạo sư trụ thế cho đến ngày cõi luân hồi tuyệt dứt
7. Hồi hướng công đức đến tất cả chúng sinh

Bảy Pháp Hành Trì này là để đối trị với các tâm mê mờ, ô nhiễm. Lễ lạy là để đối trị tâm cao ngạo; lễ lạy giúp hành giả biết hạ mình, khiêm cung hơn. Cúng dường là để đối trị tâm bỏn sẻn, ích kỷ, tham luyến. Sám hối là để đối trị tham sân si, gốc rễ gây ra ác nghiệp. Hoan hỉ là để đối trị tâm ganh tị. Thỉnh cầu chư Phật chuyển pháp luân là để đối trị với vô minh, tâm ngu si, mê muội. Thỉnh cầu chư Phật trụ thế là để đối trị với hiểu biết sai lầm của ta về lẽ vô thường; tuy là đối với những vị đã chứng đắc thì chỉ có hiện tượng chết chứ không thật có cái chết nhưng khi nhìn thấy các Ngài ra đi, đó là khi chúng ta được nhắc nhở về luật vô thường một cách rõ ràng nhất. Hồi hướng công đức là để đối trị với tâm nghi ngại khi ta thiếu lòng tin rằng công đức là một phần rất lớn trên con đường đi đến giác ngộ; hồi hướng hết tất cả công đức trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai – là làm cho công đức trở nên rộng lớn hơn lên, không bao giờ cạn kiệt!

Trong mỗi một pháp hành trì đều bao gồm tất cả sáu ba la mật trong đó! Ví dụ khi lễ lạy…Đừng nghĩ rằng trong khi đang lễ lạy thì các con lại thiếu sót không được có cơ hội tụng kinh hay ngồi thiền. Phải nghĩ rằng tất cả đạo pháp của Đức Thế Tôn điều hiện diện đầy đủ trong từng cái lạy! Lễ lạy chính là một hình thức thiền định, không hơn, không kém. Nếu các con có thể dung hợp được tất cả Bảy Pháp Hành Trì vào trong một cái lạy, thì chỉ duy một cái lạy đó thôi mà tất cả đạo pháp và toàn thể thân khẩu ý thanh tịnh thảy đều có mặt!

Thầy đưa ra những ví dụ như sau… Khi lễ lạy, các con phát tâm hoan hỉ quán tưởng vô lượng chúng sinh cũng lễ lạy với con để hồi hướng cho họ cùng vãng sanh Cực Lạc, đó là bố thí ba la mật. Khi ngày đêm miên mật hành trì lễ lạy, thân khẩu ý thanh tịnh, lại phải chịu đựng những lao nhọc thân xác trong khi lễ lạy thì đó là tổng hợp của trì giới, nhẫn nhục và tinh tấn ba la mật. Khi lễ lạy, nếu tâm không vọng động, ngữ và ý đều thanh tịnh, lại hết sức nhất tâm chuyên chú vào động tác lễ lạy thì đó là định ba la mật. Hiểu được rằng lễ lạy là một pháp môn thâm diệu, là một trong những pháp sám hối, đối trị với tâm cao ngạo, lễ lạy mà không chấp ngã, không tự hào là ta đang làm công việc lễ lạy thì đó chính là tuệ ba la mật!

Những điều này các con phải ghi nhớ cho kỹ! Trong mỗi một pháp hành trì, nếu biết cách hành trì cho thật đúng đắn và rốt ráo thì tất cả sáu ba la mật sẽ được nuôi dưỡng và lớn mạnh trong từng pháp một.

Pháp hành trì thứ nhất – Lễ lạy:

Trong khi lễ lạy, phải quán tưởng là thân mình chia ra nhiều như vô lượng vi trần để làm động tác lễ lạy, và quán chúng sinh nhiều như vô lượng vi trần cũng đang lễ lạy cùng với mình. Trong khi đang lễ lạy trước tôn tượng hay linh ảnh của Đức Phật A Di Đà, phải một lòng ghi nhớ tâm nguyện cầu vãng sanh về cõi Cực Lac. Tâm nguyện này phải luôn luôn hiện diện trong mỗi một giây phút! Ngay cả khi sụp xuống lạy một cái lạy duy nhất thì trong chỉ một lạy đó thôi, tất cả bao nhiêu tâm nguyện cầu vãng sanh Cực Lạc cũng phải hiện hiện hết sức mãnh liệt trong cái lạy đó.

Trong khi lạy, thầm khấn rằng, nương vào công phu lễ lạy này, con xin hồi hướng công đức hết cho tất cả chúng sinh, cầu xin cho con và họ cùng được vãng sanh Cực Lạc và đắc quả Vô Thượng Bồ Đề.

Pháp hành trì thứ nhì – Cúng dường:

Có tất cả là 5 hình thức cúng dường để dâng lên Đức Phật A Di Đà và chư Bồ Tát trong thánh hội của Ngài. Một là cúng dường phẩm vật. Hai là cúng dường nương nơi tâm nguyện. Ba là cúng dường những bài tán thán hay đạo ca. Bốn là cúng dường tâm kiến thuần tịnh. Năm là cúng dường đại nguyện Phổ Hiền vĩ đại vô song.

(1) Cúng dường phẩm vật như nước tịnh, hương, hoa, trái cây, đèn bơ, nước thơm, nhã nhạc, v.v. là những phẩm vật đẹp đẽ, thuần khiết.

(2) Cúng dường nương nơi tâm nguyện là khi các con phát khởi tâm cúng dường rộng lớn trùm khắp. Các con có thể khấn nguyện rằng không những con xin cúng dường tất cả những phẩm vật đẹp đẽ thuần khiết trong tầm tay và khả năng của con, mà tất cả sông ngòi, biển cả, hoa trái, núi đồi, v.v., tất cả những gì đẹp đẽ thanh tịnh mà con được tiếp xúc hằng ngày, trong mỗi phút giây, bất cứ khi nào có cơ hội chiêm ngưỡng hay thọ hưởng, con cũng đều xin hướng tâm đến Đức A Di Đà, đến chư Phật và xin cúng dường hết thảy.

(3) Cúng dường những bài tán thán hay đạo ca, để tán thán hạnh nguyện vĩ đại của Đức A Di Đà muốn cứu độ chúng sinh.

(4) Cúng dường tâm kiến thuần tịnh là khi các con cúng dường lên Đức A Di Đà một tấm lòng trong sáng thanh tịnh, hoàn toàn bình đẳng đối với tất cả mọi chúng sinh và tất cả mọi cảnh giới. Không thấy người xấu, không thấy cảnh xấu, không thấy hiện tượng xấu, vấn đề xấu, trở ngại xấu. Đó chính là tâm kiến thuần tịnh, và do đó mà bất kỳ ở đâu, các con cũng có thể quán tưởng đó chính là cõi giới đẹp đẽ trang nghiêm của Đức A Di Đà, mọi người chung quanh con đều là những chúng sinh đản sanh ra từ hoa sen ngàn cánh, chim muôn đều biến thành chim ca-lăng-tầng-già, âm thanh con nghe thấy cũng đều biến thành pháp âm vi diệu, v.v.

(5) Cúng dường đại nguyện Phổ Hiền vĩ đại vô song là khi các con theo chân của đại hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, phát khởi một tấm lòng vị tha vô biên, thực hành tất cả những thiện hạnh với tâm không ngăn ngại, miễn sao việc đó đem lại lợi lạc cho chúng sinh.

Lẽ dĩ nhiên chư Phật hay Đức A Di Đà không có nhu cầu mà cũng không chờ đợi sự cúng dường của bất kỳ ai! Nhưng các con vẫn phải thực hành cúng dường tự đáy tim mình, với tất cả tấm lòng thành kính. Nhờ đó mà các con có thể hồi hướng phước đức và nguyện rằng, xin cho tất công đức gặt hái được qua hạnh cúng dường sẽ được hồi hướng đến cho tất cả chúng sinh, cầu xin cho con và chúng sinh cùng được vãng sanh Cực Lạc và đắc quả Vô Thượng Bồ Đề.

Pháp hành trì thứ Ba – Sám hối:

Sám hối phải đi kèm với những hiểu biết chánh đáng về (1) nguyên nhân và tác ý (tham sân si) dẫn đến ác nghiệp, (2) không gian và thời gian (vô thỉ vô chung vô lượng kiếp) mà ta đã tạo ra ác nghiệp, (3) những cánh cửa phương tiện (thân ngữ ý) dẫn ta đến việc hoàn thành ác nghiệp, và (4) bản chất và những hành vi cụ thể của ác nghiệp (sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói đâm thọc, nói lời thô bạo, nói tầm phào, tâm tham, dã tâm và tà kiến).

Ngoài ra, sám hối phải đi kèm với (1) thành tâm nhận lỗi, (2) thành tâm thú lỗi, và (3) quyết tâm không tái phạm dù dưới bất cứ hình thức nào hay với bất cứ giá nào. Không phải chỉ lễ lạy hay tụng kinh sám hối là đủ mà phải sám hối ngay trong từng tư tưởng, lời nói và hành động!

Muốn sám hối dưới sự chứng giám của Đức A Di Đà thì các con có thể hành trì như sau:

(1) Quán tưởng đối tượng chứng giám là Đức A Di Đà cùng thánh chúng trong pháp hội của Ngài

(2) Thực hành pháp sám hối trước linh ảnh hay tôn tượng của Đức A Di Đà, chẳng hạn như lạy sám hối hay tụng kinh sám hối, v.v.

(3) Thực hành các thiện hạnh để hóa giải nghiệp xấu đã tạo từ vô thỉ vô chung, chẳng hạn như bố thí cúng dường để hóa giải nghiệp trộm cắp, nói lời yêu thương từ ái để hóa giải lời thô bạo, v.v.

(4) Thành tâm tự hứa và cam kết là sẽ không bao giờ tái phạm

(5) Giữ trọn lời cam kết với bất cứ giá nào!

Trong khi thực hành các pháp môn sám hối, hãy khấn rằng, nương vào công phu sám hối này, con xin hồi hướng công đức hết cho tất cả chúng sinh, cầu xin cho con và chung sinh cùng được vãng sanh Cực Lạc và đắc quả Vô Thượng Bồ Đề.

Pháp hành trì thứ Tư – Hoan hỉ công đức của chư Phật và chúng sanh:

Chẳng những các con tán thán và hoan hỉ với công đức của Đức A Di Đà và chư Phật đã đành, mà còn phải hoan hỉ với những việc làm tốt đẹp của tất cả mọi người khác nữa. Tâm hoan hỉ và bình đẳng này cũng sẽ giúp cho con đễ phát khởi và nuôi dưỡng tâm kiến thuần tịnh. Trong Kim Cang Thừa có dạy, khi ta thành tâm hoan hỉ công đức và tán thán công đức của chư Phật, chư Bồ Tát và của các chúng sinh khác thì công đức mà ta tạo được qua hạnh hoan hỉ sẽ ngang bằng với công đức của người đã tạo.

Khi chúng sinh tạo công đức, làm các việc thiện thì những công đức này ít nhiều bị vẩn đục vì chúng sinh còn chấp ngã, còn cho rằng ta là người làm việc thiện, việc này là việc thiện, v.v. Ngay cả chúng sinh có thể tranh đua nhau làm việc thiện cũng vì chấp ngã và ganh tỵ khi người khác làm được nhiều việc thiện hơn mình cũng do chấp ngã.

Trong Tạng ngữ, ganh tỵ có nghĩ đen là một nơi chốn hẹp hòi. Công đức do chúng sinh tạo có thể cạn kiệt bất cứ lúc nào chính vì căn bệnh chấp ngã. Thay vì ganh tỵ hay chấp ngã thì hãy mở lòng hoan hỷ với công đức của người khác, đừng để cho mình bị kẹt trong cái nơi chốn hẹp hòi của tâm. Ngược lại, chư Phật, chư vị A-la-hán, chư Bồ Tát vì không còn chấp ngã nữa nên công đức do các ngài tạo hoàn toàn vị tha, hoàn toàn thuần khiết, sẽ không bao giờ cạn kiệt.

Trong khi thực hành hạnh hoan hỉ, hãy tạm nguyện rằng, nương vào hạnh hoan hỉ này, con xin hồi hướng công đức hết tất cả chúng sinh, cầu xin cho con và chúng sinh cùng được vãng sanh Cực Lạc và đắc quả Vô Thượng Bồ Đề.

Pháp hành trì thứ Năm – Thỉnh cầu chư Phật và chư đạo sư chuyển pháp luân:

Các con có thể khẩn nguyện để giáo pháp của Đức Phật tổ Thích Ca và Đức A Di Đà luôn luôn trường tồn, nguyện cho pháp môn Tịnh Độ sẽ được nhiều người biết đến và theo đó mà hành trì. Khi xưa, sau khi Đức Phật Thích Ca thành đạo, cũng nhờ do vị trời Vishnus mà Đức Thích Ca đã chuyển bánh xe Pháp và giảng dạy về giáo lý siêu việt mà chính Ngài đã chứng đắc.

Do đó, việc thỉnh cầu chư Phật và chư đạo sư chuyển pháp luân, thuyết giảng về chánh pháp hay về pháp môn Tịnh Độ sẽ đem đến lợi lạc không thể nghĩ bàn, chẳng những cho chính cá nhân các con mà con cho tất cả các chúng sinh khác. Đây là pháp hành trì vô cùng quan trọng trong Thất Chi Hành, có năng lực gia trì vô cùng rộng lớn. Khi thỉnh cầu, hãy khẩn nguyện tự đáy tim mình.

Trong khi thực hành việc thỉnh cầu, hãy tâm nguyện rằng, nương vào việc làm này, con xin hồi hướng công đức cho tất cả chúng sinh, cầu xin cho con và chúng sinh cùng được vãng sanh Cực Lạc và đắc quả Vô Thượng Bồ Đề.

Pháp hành trì thứ Sáu – Thỉnh cầu chư Phật và chư đạo sư trụ thế:

Việc Đức Phật nhập diệt là một trong mười hai sự kiện giác ngộ trong cuộc đời Đức Phật. Nhưng nếu chư Phật, chư Bồ Tát, chư đạo sư không tiếp tục trụ thế để giáo hóa chúng sinh thì con đường giác ngộ sẽ không được khai mở và chúng sinh sẽ không thể tự giải thoát ra khỏi màn đêm luân hồi.

Ngay cả các vị đại Bồ Tát đã chứng đến địa thứ chín cũng còn muốn lựa chọn để tái sinh trở lại hầu có thể đem lại lợi lạc cho chúng sinh. Nếu chư Bồ Tát, chư vị A-la-hán, hay chư đạo sư trụ thế, cho dù chỉ trong một thời gian cực kỳ ngắn ngủi thôi thì các Ngài cũng đã có thể hóa độ được vô lượng chúng sinh rồi! Đo đó, các con nên thường xuyên tụng đọc những bài nguyện trường thọ cho các Ngài, cho những bậc thầy vĩ đại, và tụng những bài nguyện đó cho cả những bậc thiện tri thức, những anh chị em, đạo hữu Kim Cang của các con!

Trong khi thực hành việc thỉnh cầu các Ngài trụ thế, hãy tâm nguyện rằng, nương vào việc làm này, con xin hồi hướng công đức hết cho tất cả chúng sinh, cầu xin cho con và chúng sinh cùng được vãng sanh Cực Lạc và đắc quả Vô Thượng Bồ Đề.

Pháp hành trì thứ Bảy – Hồi hướng công đức đến tất cả chúng sinh

Khi hồi hướng công đức, không chỉ hồi hướng công đức cho cha mẹ, gia đình, người thân, bạn bè…mà hồi hướng công đức cho cả kẻ thù, cho những kẻ đã tạo ra chướng ngại trong đời ta hay trên cong đường tu tập của ta, kể cả cho những cô hồn, vong linh ác dữ, v.v. vì nếu không có kẻ thù, hay những kẻ ganh ghét bạc đãi ta và vong linh quấy nhiễu thì ta dựa vào đâu để mà tu tập? Họ chính là những đối tượng giúp cho ta thực tập từ bi hỷ xả, thực tập nhẫn nhục, nên ta phải biết ơn họ, và hồi hướng cho họ trước tiên!

Hơn thế nữa, các con không chỉ hồi hướng công đức để cầu xin cho chúng sinh được hưởng giàu sang an lạc trong hiện tại hay trong những kiếp vị lai, cũng không cầu xin cho chúng sinh được tái sinh trong các cõi trời, không cầu xin cho họ đắc quả A-la-hán hay trở thành Bồ Tát, mà các con hồi hướng công đức để nguyện cho tất cả chúng sinh đắc quả Cực Lạc, và đạt được Phật quả trong đời này hoặc trong các đời sau! Điều quan trọng cần ghi nhớ là phải phát được đại nguyện cao cả nhất trong tất cả các nguyện, đó là nguyện cho ‘đệ tử cùng tất cả chúng sinh đồng trọn thành Phật đạo’, đắc quả Vô Thượng Bồ Đề.

Như thầy đã nói ở trên, hồi hướng công đức cho tất cả pháp giới chúng sinh là một trong những pháp hành trì cao sâu và nhiệm mầu trong việc vun bồi công đức. Đó là con đường của Bồ Tát. Lẽ dĩ nhiên, việc hồi hướng công đức sẽ rất cao sâu và nhiệm mầu nếu các con không nghĩ rằng chính ta đang là người làm công việc hồi hướng công đức cho tất cả chúng sinh! Cứ an nhiên, thành tâm hồi hướng. Nhưng phải làm sao để không nhìn thấy mình trong đó. Đừng để cái ta hiện ra quá rõ, quá to trong ta!

(III) Phát khởi Bồ Đề Tâm

Không có một pháp tu nào có thể dẫn các con đến đạo quả giác ngộ nếu thiếu Bồ Đề Tâm! Bồ Đề Tâm gồm có hai khía cạnh. Khía cạnh thứ nhất là tâm từ bi và ước nguyệngiải thoát chúng sinh ra khỏi biển khổ luân hồi; như đã nói ở trên, chúng sinh và các con đồng thành Phật đạo! Khía cạnh thứ nhì là trí tuệ và phương tiện thiện xảo.

Càng tu cao, càng đi sâu vào các pháp tu tối mật thượng thừa thì Bồ Đề Tâm lại càng phải sâu dày, không gì lay chuyển nổi! Đừng tưởng rằng tu thiền Dzogchen thì không cần Bồ Đề Tâm! Không có Bồ Đề Tâm thì các pháp tu đều sẽ đi đến chỗ bế tắc. Có Bồ Đề Tâm thì các pháp tu để sẽ trở nên vô cùng mạnh mẽ, và tất cả những pháp tu khác của các con cũng tự nhiên sẽ được hỗ trợ và có được uy lực vô biên.

Bồ Đề Tâm tương đối là khi các con nguyện phát khởi và nuôi dưỡng tâm từ bi nhưng vẫn còn ở trong vòng nhị nguyên đối đãi của thế gian. Bồ Đề Tâm viên mãn là khi các con đã lìa được tâm đối đãi, không còn phân biệt chủ thể đối tượng, chứng nhập tánh Không, vô sanh của vạn pháp. Cho dù chư đạt đến được Bồ Đề Tâm viên mãn thì Bồ Đề Tâm tương đối cũng vẫn là một khởi đầu tột yếu và quý báu!

Trong pháp tu Tịnh Độ A Di Đà cũng thế, các con phải luôn luôn nuôi dưỡng Bồ Đề Tâm (cho dù khởi đầu chỉ là Bồ Đề Tâm tương đối trong vòng đối đãi nhị nguyên). Hãy luôn quán tưởng chúng sinh đều đã từng là cha mẹ của mình từ vô lượng kiếp, họ cũng đều mong cầu được hạnh phúc, được thoát khổ như mình. Ngay cả những kẻ đã ganh tỵ với các con, gây khó chịu cho các con, hay hãm hại các con, hay tệ mạt với các con, nếu các con lại cầu cho họ một điều gì đó khác với điều các con đang cầu cho chính mình, là nguyện vãng sanh Cực Lạc và đắc quả Vô Thượng Bồ Đề, thì kể như là các con đã không làm tròn bổn phận với tất cả chúng sinh cha mẹ nhiều đời của mình rồi.

(IV) Phát nguyện vãng sanh Tịnh Độ

Toàn bài giảng vừa qua, cho dù thầy nói rất nhiều và rất chi tiết về việc vun bồi công đức qua Thất Chi Hành hay Bảy Pháp Hành Trì nhưng tựu chung, trong việc miên mật hành trì các pháp môn cần thiết để vun bồi công đức này, các con đang xây đắp cho ước nguyện vãng sanh Tịnh Độ được thêm vạn phần vững chắc!

Như thầy đã nói lúc đầu, ngay cả trong một cái lạy hay trong một câu trì chú, ước nguyện vãng sanh Tịnh Độ phải hiện diện hoàn toàn trọn vẹn, mãnh liệt trong đó. Thân, khẩu, ý đều phải sáng bừng lên ước nguyện này!

Có thể lúc đầu, tuy là đã có ít nhiều tín tâm nhưng đôi khi các con cũng bị dao động hoặc sanh tâm nghi hoặc về cõi giới Tịnh Độ. Nhưng điều này cũng không có gì đáng lo ngại cho lắm. Nếu các con cứ tiếp tục tinh tấn, miên mật trì tụng mật chú A Di Đà, hoặc quán tưởng cõi giới Cực Lạc và quán tưởng A Di Đà, hoặc hành trì Bảy Pháp Hành Trì, v.v. bất kể lúc nào, bất kể ngày đêm (không nhất thiết phải là trong một thời công phu) thì dần dà, tâm nghi hoặc sẽ phai nhạt dần đi, và dần dà, tâm các con sẽ trở nên vô cùng vững chãi, dòng tâm thức A Di Đà của các con sẽ chan hòa, chẳng còn gì phải nghi ngại nữa!

Nếu ngày đêm chuyên chú hướng tâm, thực hành miên mật và phát nguyện vãng sanh Tịnh Độ thì đến giờ phút lâm chung, các con có thể hướng tâm đến cõi Tịnh Độ một cách hết sức tự nhiên, nhanh chóng, dễ dàng, và nương vào ân phúc và nguyện lực của Đức A Di Đà mà các con sẽ được Ngài tiếp dẫn để tái sinh vào Niết Bàn Tịnh Độ!

Trích: Gọi Thầy Từ Chốn Ngàn Xa và Sơ Lược Pháp Môn Vãng Sanh Tịnh Độ Theo Truyền Thống Kim Cang Thừa

Thuyết giảng: Đại Sư Tulku Nyima Riponche

Việt dịch: Tâm Bảo Đàn

The post Pháp Môn Tịnh Độ Theo Kim Cang Thừa appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/phap-mon-tinh-do-theo-kim-cang-thua.html/feed 0
Niệm Phật Tông Yếu https://bachhac.net/niem-phat-tong-yeu.html https://bachhac.net/niem-phat-tong-yeu.html#respond Fri, 18 Oct 2019 08:20:43 +0000 https://bachhac.net/?p=2426 Bổn Nguyện của Đức Phật A Di Đà là dùng danh hiệu của Ngài để cứu độ tất cả chúng sanh. Không hiểu rõ lý nầy, người ta thường cho rằng xưng danh là để cho hạng hạ căn không đủ căn-cơ để tu những pháp môn như Quán thật tướng, Quán tưởng, Quán tượng, …

The post Niệm Phật Tông Yếu appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
niem phat tong yeu

Bổn Nguyện của Đức Phật A Di Đà là dùng danh hiệu của Ngài để cứu độ tất cả chúng sanh. Không hiểu rõ lý nầy, người ta thường cho rằng xưng danh là để cho hạng hạ căn không đủ căn-cơ để tu những pháp môn như Quán thật tướng, Quán tưởng, Quán tượng, v.v…

Và khi tu Niệm Phật thì phần nhiều đều mang tâm niệm tự lực, vẫn cứ trông cậy vào sức mình để được vãng sinh.

Đó là Tự Lực Niệm Phật. Bởi thế, tu rất nhọc nhằn mà cũng không chắc là mình có được vãng sinh hay không. Những ngộ nhận nầy chính dịch giả cũng mắc phải. Hơn một năm trước đây, may mắn thay, gặp được tác phẩm Pháp Nhiên Ngữ Đăng Lục. Như kẻ mù được sáng, người sắp chết đuối gặp phao. Hốt nhiên tín tâm phát khởi, nhận ra lý Tha Lực Niệm Phật…

Lời mở đầu

Trong thời đại hiện nay và nhất là đối với hàng cư sĩ tại gia, Niệm Phật có thể nói là con đường tất yếu để ra khỏi sinh tử. Đây là Pháp Môn Tha Lực duy nhất trong Phật Pháp mà điểm then chốt là tin tưởng tuyệt đối vào Bổn Nguyện của Đức Phật A Di Đà.

Bổn Nguyện của Đức Phật A Di Đà là dùng Danh Hiệu của Ngài để cứu độ tất cả chúng sanh. Không hiểu rõ lý nầy, người ta thường cho rằng Xưng Danh là để cho hạng hạ căn không đủ căn cơ để tu những pháp môn như Quán Thật Tướng, Quán Tưởng, Quán Tượng, v.v… Và khi tu Niệm Phật thì phần nhiều đều mang tâm niệm tự lực, vẫn cứ trông cậy vào sức mình để được vãng sinh. Đó là Tự Lực Niệm Phật. Bởi thế, tu rất nhọc nhằn mà cũng không chắc là mình có được vãng sinh hay không. Những ngộ nhận nầy chính dịch giả cũng mắc phải. Hơn một năm trước đây, may mắn thay, gặp được tác phẩm Pháp Nhiên Ngữ Đăng Lục. Như kẻ mù được sáng, người sắp chết đuối gặp phao. Hốt nhiên tín tâm phát khởi, nhận ra lý Tha Lực Niệm Phật. Từ đây, Niệm Phật trở thành một niềm vui không thể nghĩ bàn, vãng sinh Cực Lạc là điều chắc chắn chứ không cần đến lúc lâm chung. Do đó, xin chọn những pháp ngữ tinh yếu của Ngài để dâng tặng người hữu duyên.

Xin nguyện rằng hễ ai đọc đến, đều phát khởi tín tâm, niệm Phật mà được vãng sinh Cực Lạc.

TIỂU SỬ NGÀI PHÁP NHIÊN THƯỢNG NHÂN

Pháp Nhiên Thượng Nhân là Khai Tổ của Tông Tịnh Độ Nhật Bản. Ngài sinh năm 1133. Thân phụ của ngài là một vị quan thời đó. Do đã quá tứ tuần mà vẫn chưa có con nối dõi, nên cha mẹ Ngài đã trai giới thanh tịnh rồi vào chùa tụng kinh 7 ngày đêm để xin Phật gia hộ. Đến đêm thứ bảy, trong lúc nửa tỉnh nửa mê, mẹ Ngài thấy một lão tăng đưa cho bà một con dao dùng để cạo đầu người xuất gia, bảo bà nuốt. Sau đó bà hoài thai. Cha Ngài đã đoán rằng sẽ sinh con trai và sau này xuất gia làm một Đại sư lỗi lạc. Từ khi mang thai Ngài, thân tâm của mẹ ngài trở nên an lạc lạ thường, bà phát tâm ăn chay trường và thâm tín Tam Bảo.

Khi đản sinh Ngài, có hai luồng hào quang ở trên không chiếu xuống, tiếng chuông lảnh lót. Đầu Ngài vuông vắn có góc, mắt hai tròng, tướng mạo phi phàm.

Năm Ngài lên chín, phụ thân ngài bị địch quân sát hại. Trước khi qua đời kêu Ngài đến và dạy rằng : “Nầy con! Đây là túc nghiệp của cha, tuyệt đối không nên ôm hận báo thù. Hãy nhớ rằng oán không thể diệt oán. Nếu mang cái tâm báo thù thì đời đời kiếp kiếp sẽ giết hại lẫn nhau không bao giờ dứt. Mình biết đau thì người khác cũng biết tiếc mạng sống. Con sau này thành nhân hãy cầu vãng sanh Cực Lạc, lợi lạc bình đẳng cho người và mình!”. Dặn dò xong xuôi cha ngài lớn tiếng niệm Phật mà an ổn qua đời.

Năm 14 tuổi, tuân theo di ngôn của thân phụ, ngài xuất gia với Pháp sư Giác Quán ở chùa Bồ Đề tại quê nhà. Ngài huệ giải mẫn tiệp, nhất văn thiên ngộ. Pháp sư Giác Quán thấy Ngài khí lượng bất phàm, không nỡ đề Ngài bị mai một, nên đưa Ngài lên Tỷ Duệ Sơn một tự viện nổi tiếng ở kinh đô để tham học với Pháp sư Nguyên Quang.

Đến ở Tỷ Duệ Sơn không bao lâu thì Pháp sư Nguyên Quang bảo rằng: “Đây là tuấn mã. Không thể để uống phí ở đây!” Rồi đưa ngài đến A xà lê Hoàng viên, một bậc Tông sư của Tông Thiên Thai thời đó. Vừa thấy Ngài Tổ Hoàng Viên đã nói rằng: “Hồi hôm ta nằm mộng, thấy một vầng trăng tròn chiếu vào chùa. Phải chăng đây là điềm lành báo trước”. Rồi thu nhận Ngài làm đệ tử, bấy giờ Ngài mới 15 tuổi. Chưa đầy 3 năm sau, Ngài đã thấu triệt tất cả những áo diệu của giáo pháp Thiên Thai. Tổ Hoàng Viên đã có ý trao truyền Tổ vị cho Ngài. Nhưng Ngài không muốn bị ràng buộc bởi danh lợi nên quyết tâm ra đi. Năm 18 tuổi, Ngài ẩn tu ở núi Hắc Cốc, tham học với Hòa Thượng Duệ Không, một bậc Tông Tượng của Mật Tông thời bấy giờ. Thấy Ngài khí độ phi phàm, dù rằng tuổi còn nhỏ mà không cần phải sách lệ, nên đặt pháp hiệu cho Ngài là Pháp Nhiên (có nghĩa là “Pháp vốn như vậy”), và pháp danh là Nguyên Không (lấy chữ “Nguyên” của Đại sư Nguyên Quang và chữ “Không” của Đại sư Duệ Không). Tại đây Ngài được truyền thụ Viên Thừa Đại Giới và Du Già Bí Pháp.

Không những thông tuệ, Ngài còn rất hiếu học. Tất cả Kinh, Luật, Luận đều được Ngài duyệt đọc cẩn thận. Ngài còn nghiên cứu tường tận về mọi tông phái. Không những thế, Ngài lại đọc khắp bách gia của cả Trung Hoa lẫn Nhật Bản. Ngài từng nói rằng: “Bất cứ kinh điển hay sách vở gì, hễ tôi đọc qua vài lần là tự nhiên thấu triệt, không cần phải suy nghĩ”. Bởi thế, Ngài tinh thông mọi Tông pháp mà không cần phải học với ai cả. Ngài duyệt đọc Đại Tạng cả thảy 5 lần và được đương thời tôn xưng là Trí Huệ Đệ Nhất.

Về phương diện tu hành, Ngài cũng có rất nhiều chứng nghiệm. Có lần Ngài nhập thất 21 ngày tu Pháp Hoa Tam Muội, cảm đức Phổ Hiền cưỡi voi trắng đến chứng minh, Sơn Vương Thần Tướng hiện hình thủ hộ. Khi Ngài duyệt đọc kinh Hoa Nghiêm, có con rắn nhỏ màu xanh nằm khoanh trên bàn. Thị giả Tín Không thấy vậy rất sợ hãi, dùng cây đem rắn ra ngoài. Khi trở vào lại thấy nằm nguyên ở chỗ cũ. Đêm đó Tín Không nằm mộng thấy một con rồng lớn đến bảo rằng: “Tôi là Long Thần thủ hộ kinh Hoa Nghiêm, xin đừng sợ hãi”.

Mỗi lần Ngài nhập thất tu Chân ngôn Mật quán là cảm ứng các điềm lành như liên hoa, bảo châu, yết ma và v.v… hiện ra. Rất nhiều lần Ngài đọc kinh ban đêm mà không cần đốt đèn. Ánh sánh phát ra từ trán của Ngài hoặc từ trong thất. Những điều lạ thường như trên, kể ra không xiết. Nhưng dù vậy Ngài vẫn còn băn khoăn chưa thật sự an tâm. Trong cả Đại Tạng Kinh, Ngài hâm mộ nhất là Bộ “Quán Kinh Sớ” của Tổ Thiện Đạo. Ngài đọc đi đọc lại nhiều lần và bỗng nhiên ngộ được ý chỉ DI ĐÀ SIÊU THẾ NGUYỆN. Ngài vô cùng hoan hỷ, chẳng khác gì trong đêm tối mà gặp được minh đăng. Ngài lập tức xả bỏ tất cả những pháp môn đã và đang tu, rồi nhập thất chuyên tu Tịnh Độ, Niệm Phật, có đêm Ngài nằm mộng thấy Đại sư Thiện Đạo đến bảo với Ngài rằng: “Tôi là sư Thiện Đạo đời Đường. Ông có thể hoằng dương Chuyên tu Niệm Phật, nên tôi đến để chứng minh. Từ nay ông có thể hoằng pháp thịnh hóa khắp cả bốn phương”.

Năm 43 tuổi, Ngài rời Hắc Cốc đến trụ tích ở Đông Cát Thủy và khai sáng Tông Tịnh Độ. Trước đó tuy có không ít người Niệm Phật, nhưng không có Tông Tịnh Độ riêng biệt. Từ đây Tông Tịnh Độ xuất hiện và liên tục truyền thừa cho đến thời hiện đại ở Nhật Bản. Đây là một điểm đặc sắc cần lưu ý, vì ở Trung Hoa không hề có Tông Tịnh Độ, và dĩ nhiên không có sự kế thừa. Các Đại sư hoằng dương Tịnh Độ ở Trung Hoa có tính cách tự phát và chỉ ở trong đời của các Ngài mà thôi. Từ khi Ngài khai xướng Tông Tịnh Độ, những cảm ứng linh dị cũng nhiều không kể xiết. Xin kể đôi điều để tăng lòng kính tín.

Đương thời Tể tướng Đằng Nguyên Kiêm Thực rất ngưỡng mộ Thượng Nhân. Có lần thỉnh ngài vào điện Nguyệt Luân để tham vấn về Tịnh Tông Yếu nghĩa, giảng xong Ngài từ biệt ra về, khi đi đến cây cầu ở trước điện, tể tướng quỳ lạy dưới đất không cầm được nước mắt, giây lâu mới quay lại hỏi các người tùy tùng: “Vừa rồi các người có thấy Thượng Nhân trên đầu có hào quang, dưới chân có hoa sen đỡ rời khỏi mặt đất, hình dáng giống như Đức Đại Thế Chí hay không?”. Có người thấy, có người không. Từ đó cầu này được đặt tên là cầu Viên Quang.

Có lần cử hành Niệm Phật thất 21 ngày ở Chùa Linh Sơn. Vào nửa đêm ngày thứ 5, có vài người thấy Đức Đại Thế Chí cùng với đại chúng kinh hành Niệm Phật nên vội đảnh lễ. Giây lát ngước lên thì hình Đức Đại Thế Chí biến thành hình Thượng Nhân. Do đó mới biết rằng ngài là hóa thân của Đức Đại Thế Chí.

Từ khi Thượng Nhân sáng lập Tông Tịnh Độ thì cơ hóa độ thịnh hành vô cùng. Từ vua chúa công khanh cho đến hạng dân giả đều qui ngưỡng Ngài. Và hẳn nhiên cũng không thiếu kẻ ganh ghét Ngài. Do lỗi lầm của đệ tử, Ngài bị vu cáo và phải bị đi đày một thời gian ngắn. Nhưng Ngài vẫn an nhiên dạy Đạo cho bất cứ ai đến tham vấn mà không hề phân biệt. Cũng nhờ lần đi đày này mà nhiều người có dịp gặp Ngài và được vãng sanh.

Ngài vãng sanh vào lúc giữa trưa ngày 25 tháng 2 năm 80 tuổi (1212). Trước đó vài ngày, ngài nói với các đệ tử:

“Tiền thân của Thầy là một vị tăng ở bên Thiên Trúc (Ấn độ cổ thời), thường tu hạnh đầu đà. Nay đến chốn này học Thiên Thai Tông, sau rốt mở Tịnh Độ Tông, hoằng dương Niệm Phật.”

Đệ tử Thế Quán hỏi: Thưa Thầy! Là vị nào?
Ngài đáp: Là ông Xá Lợi Phất.
Lại có đệ tử khác hỏi: Thầy nay có vãng sanh về Thế giới Cực Lạc không?
Ngài đáp: Thầy vốn là người của Cực Lạc thì dĩ nhiên trở về Cực Lạc.

Các đệ tử thiết trí tượng Đức Phật A Di Đà và xin Ngài chiêm ngưỡng. Ngài lấy tay chỉ lên không mà nói rằng: “Phật hiện Chân thân kìa, các con có thấy không? Thầy mười mấy năm nay thường thấy Chân thân của Phật, Bồ Tát và Cực Lạc Trang Nghiêm, nhưng tuyệt đối không nói với ai. Nay sắp lâm chung, nên không ngại gì mà không nói cho các con biết”.

Ngày 22 các đệ tử đều đi nghỉ hết, chỉ còn một mình Thế Quán hầu Ngài. Có một người đàn bà đi xe đến và xin được gặp riêng Thượng Nhân. Hai người đàm đạo rất lâu. Khi bà ra về, Thế Quán rất lấy làm lạ nên mới đi theo sau, nhưng chẳng bao xa thì bà đột nhiên biến mất. Thế Quán vào hỏi Thượng Nhân. Ngài đáp: “Bà đó là phu nhân Vi Đề Hy!”.

Từ ngày 23 cho đến ngày 25, Ngài lớn tiếng Niệm Phật cùng với đại chúng để kết duyên lần cuối. Đến giữa trưa ngày 25, ngài đắp y Tăng già lê, đầu Bắc diện Tây (nằm nghiêng bên phải, mặt quay về phía Tây) tụng bài kệ sau rồi an nhiên thị tịch, thế thọ 80, tăng lạp 66.

“Quang minh biến chiếu,
Niệm Phật chúng sanh
Nhiếp thu bất xả”.

(Tạm dịch: Ánh sáng chiếu khắp mười phương thế giới.
Thu nhiếp chẳng rời chúng sanh Niệm Phật).

Trước khi Ngài thị tịch 5 ngày (ngày 20) mây ngũ sắc giống như tranh Phật che phủ chùa, khiến cho tất cả đại chúng được thấy đều rơi lệ. Các đệ tử nói rằng: “Đã có mây lành hiện ra thì Thầy sắp vãng sinh rồi”. Ngài bảo: “Lành thay! Những người được thấy nghe hẳn sẽ tăng trưởng tín tâm!”.

Sau khi Ngài vãng sinh 16 năm, các đệ tử mở kháp đá đựng di thể của Ngài thì toàn thân vẫn như cũ, dung mạo từ hòa. Đệ tử tăng tục hơn ngàn người hộ tống di hài Ngài về Tây Giao làm lễ trà tỳ. Trong khi làm lễ, mây lành hiện ra, hương thơm phảng phất trên các cây tùng nên từ đó nơi này có tên là “Tử Vân Tùng”, hiện nay là chùa Quang Minh. Tác phẩm quan trọng nhất của ngài là TUYỂN TRẠCH BỔN NGUYỆN NIỆM PHẬT TẬP 4 đang được chuyển dịch sang Việt ngữ.

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

CÁC HẠNH VÃNG SANH, NIỆM PHẬT ĐỆ NHẤT

1) Thánh Đạo Môn tuy thâm diệu, nhưng thời điểm và căn cơ chẳng tương ứng. Tịnh Độ Môn hình như là nông cạn, nhưng thời điểm và căn cơ đều tương ứng. Thời Mạt Pháp một vạn năm, các kinh điển khác đều tiêu diệt, chỉ còn pháp môn niệm Phật A Di Đà để cứu độ chúng sanh.

2) Tông Tịnh Độ siêu hơn các tông. Hạnh Niệm Phật siêu hơn các hạnh. Bởi vì thâu nhiếp tất cả các cơ vậy.

3) Chẳng luận có tội hay vô tội, chẳng kể là trì giới hay phá giới, nếu căn cứ vào thời điểm và căn cơ thì chỉ có pháp môn Tịnh Độ (Hạnh Niệm Phật) là yếu pháp để thoát khỏi sinh tử trong đời này.

4) Để đời này thoát khỏi sinh tử, không gì hơn vãng sinh Tịnh Độ. Để được vãng sinh Tịnh Độ, không gì hơn Niệm Phật.

5) Tu Niệm Phật để cầu vãng sinh Tịnh Độ, thì tương ứng với tâm của Đức Thích Ca, Đức A Di Đà. Tu các hạnh khác để cầu vãng sanh Tịnh Độ thì mâu thuẫn với tâm của Đức Thích Ca, Đức A Di Đà.

6) Để được vãng sinh cõi Cực Lạc, thì dù diệu hạnh gì chăng nữa cũng không hơn niệm Phật. Vì sao thế? Vì niệm Phật là hạnh tương ưng với Bổn Nguyện của Đức Phật A Di Đà vậy.

7) Ngoài niệm Phật, tất cả hạnh khác đều chẳng tương ưng với Bổn Nguyện của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, tuy là diệu hạnh cũng không bằng niệm Phật. Muốn được sinh sang cõi nước đó, nên thuận theo Bổn Nguyện của Đức Phật A Di Đà.

8) Niệm Phật là hạnh tương ưng với Bổn Nguyện của Đức Phật A Di Đà, nên mười phương hằng sa chư Phật đều chứng thành. Các hạnh khác chẳng tương ưng Bổn Nguyện, nên chư Phật chẳng chứng thành. Bởi thế nên thường niệm Phật để mười phương chư Phật hộ niệm.

9) Kinh QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ chép rằng: “Quang minh soi chiếu khắp mười phương thế giới, thâu nhiếp không rời các chúng sinh niệm Phật”. Quang minh của Đức A Di Đà chỉ soi chiếu người niệm Phật, chẳng soi chiếu người tu các hạnh khác. Bởi thế người cầu sinh sang cõi Cực Lạc phải biết Niệm Phật là trọng yếu.

10) Bổn Nguyện thâm trọng sau năm kiếp tư duy chép trong kinh PHẬT THUYẾT VÔ LƯỢNG THỌ là: “Chẳng kể thiện hay ác, chẳng quản trì giới hay phá giới, chẳng tính tại gia hay xuất gia, chẳng luận có trí hay không có trí. Chỉ pháp Đại Bi Bình Đẳng, nay đã thành Phật”. Trụ vào cái Tâm Tha Lực ( nguyện lực của Đức A Di Đà) mà Niệm Phật thì chỉ trong khoảnh khắc, đã được dự vào sự nhiếp thọ của Đức Phật A Di Đà.

11) Niệm Phật không có hình thức. Ngoài việc xưng Danh hiệu, không có hình thức. Ngoài việc xưng Danh hiệu, không có hình thức gì cả.

12) Niệm Phật hoàn toàn không có hình thức. Chỉ cần biết rằng: “Hễ xưng Danh hiệu Đức Phật A Di Đà thì được sinh sang cõi Cực Lạc”, do đó chí tâm niệm Phật để cầu vãng sinh.

13) Niệm Phật lấy không hình thức làm hình thức. Chỉ biết rằng thường niệm Phật thì đến lúc lâm chung nhất định Phật lai nghinh mà vãng sinh sang cõi Cực Lạc.

14) Vấn đề niệm Phật tuy có nhiều ý nghĩa, nhưng xưng Lục Tự Hồng Danh ( NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT ) thì đã bao hàm tất cả.

15) Niệm Phật chẳng phải là quán Pháp Thân Phật, chẳng phải là quán tướng hảo của Phật. Chỉ một lòng chuyên xưng danh hiệu Đức A Di Đà, đó là niệm Phật.

16) Chỉ biết rằng: “Bổn Nguyện của Đức A Di Đà chẳng hư dối, hễ xưng niệm danh hiệu của Ngài thì nhất định được vãng sinh”. Ngoài ra không cần nghĩ gì khác.

17) Tất cả căn cơ cứ tùy theo thiên tính mà niệm Phật để vãng sinh. Cái thân hiện nay do túc nghiệp đời trước mà có, nên trong đời này không thể thay đổi. Như người nữ mà muốn đổi thành người nam trong đời này thì không thể được.

Cứ tùy theo thiên tính mà niệm Phật. Người trí thì lấy trí mà niệm Phật vãng sinh. Người ngu thì dùng ngu mà niệm Phật vãng sinh. Có đạo tâm cũng niệm Phật vãng sinh. Không đạo tâm cũng niệm Phật vãng sinh. Người có tà kiến cũng niệm Phật vãng sinh.

Hàng phú quý, hạng bần cùng, người tham lam, kẻ tánh nóng, bậc có từ bi, hạng không có từ bi, do BỔN NGUYỆN KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN CỦA ĐỨC A DI ĐÀ, hễ niệm Phật thì đều được vãng sinh.

18) Hỏi: Người xuất gia niệm Phật với người tại gia niệm Phật hơn kém ra sao?

Đáp: Người xuất gia niệm Phật với người tại gia niệm Phật công đức bằng nhau không có hơn kém.

Hỏi: Chỗ này quả thật tôi không hiểu. Vì sao người xuất gia không gần đàn bà, ăn chay trường mà niệm Phật, do đó rất đáng quý. Người tại gia thường hay nghĩ đến sắc dục, ăn thịt uống rượu mà niệm Phật, hẳn nhiên là thấp kém. Làm sao mà bằng nhau được?

Đáp: Công đức bằng nhau không có hơn kém. Vì sao vậy? Người không biết BỔN NGUYỆN CỦA ĐỨC A DI ĐÀ mới có nghi vấn này!

19) Anh Cát Đằng (một đệ tử tại gia thuộc hạng hạ lưu của Ngài) cũng mong Phật cứu độ mà niệm NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT. Pháp Nhiên nầy cũng mong Phật cứu độ mà niệm NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT. Hai bên hoàn toàn không khác gì nhau.

20) Niệm Phật của Pháp Nhiên nầy với niệm Phật của anh Cát Đằng hoàn toàn như nhau. Nếu cho rằng không giống nhau, là hoàn toàn không biết ý nghĩa của niệm Phật vậy. Như lấy gấm vóc mà gói vàng ròng, hoặc lấy vải dơ mà gói vàng thì cũng là vàng ròng cả.

21) Hỏi: Niệm Phật khi tâm thanh tịnh với niệm Phật khi tâm động hơn kém ra sao?

Đáp: Công Đức bằng nhau, không có gì sai khác!

22) Hỏi: Tôi tuy niệm Phật mà tâm cứ tán loạn không biết làm sao đây?

Đáp: Chuyện đó thì Pháp Nhiên nầy cũng làm không nổi!

23) Tâm của hạng phàm phu làm sao mà không tán loạn được. Cũng chính vì thế mới gọi là Pháp Môn Dễ Tu.

24) Đã sinh làm người trong cõi dục giới tâm địa nầy thì tâm đều tán loạn cả. Nếu bảo rằng phải bỏ cái tâm tán loạn mới vãng sinh được thì thật là vô lý.

Tán tâm niệm Phật mà được vãng sinh, đó là chỗ đáng quý của BỔN NGUYỆN vậy.

25) Chẳng phải thanh tịnh cái tâm của mình, trừ đi nghiệp chướng nầy rồi mới niệm Phật, mà do thường niệm Phật thì tội chướng tiêu diệt.

26) Dù trọng tội vô gián (ngũ nghịch) cũng không thể thắng công đức xưng Danh. Thanh bảo kiếm là Danh hiệu Đức A Di Đà, hễ trì niệm thì ma duyên không gần được. Thường xưng niệm Danh hiệu Ngài thì tội chướng tiêu diệt.

27) Trong khi niệm Phật mà tâm vọng động là thông bệnh của tất cả hạng phàm phu. Nhưng hễ có chí nguyện vãng sinh mà Niệm Phật thì tuyệt đối không chướng ngại. Ví như chỗ thâm tình của cha con, dù có bất hòa đôi chút, thì chỗ thâm tình đó vẫn không thay đổi, vẫn là cha con.

28) Lấy người Niệm Phật mà thí dụ cho hoa sen, vì hoa sen là nghĩa không ô nhiễm. Đối với Danh hiệu của Bổn Nguyện Thanh Tịnh (NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT) thì sự dơ bẩn của thập ác, ngũ nghịch không thể làm ô nhiễm được nên mới thí dụ như thế.

29) Không cần để ý đến vọng niệm, tán loạn… mà chỉ chuyên cần xưng Danh hiệu. Nếu thường xưng Danh hiệu thì do công đức của Phật Danh, vọng niệm tự dừng, tán loạn tự yên, tam nghiệp (thân, khẩu, ý) tự điều hòa, nguyện tâm tự phát. Bởi thế:

“Khi nguyện tâm còn yếu, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
Khi tâm tán loạn nhiều, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
Khi vọng niệm sinh khởi, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
Khi thiện tâm phát sinh, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
Khi bất tịnh, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
Khi thanh tịnh, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
Khi tam tâm còn thiếu kém, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
Khi tam tâm hiện khởi, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
Khi tam tâm thành tựu, cũng Nam Mô A Di Đà Phật”.

Đây là phương tiện để chắc chắn được vãng sinh, xin ghi khắc vào tâm can chớ quên.

30) Trong nhãn quan của Pháp Nhiên thì:

“Tam tâm cũng là NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
Ngũ niệm cũng là NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
Tứ tu cũng là NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT”.

31) Người làm biếng Niệm Phật là người đánh mất đi vô lượng châu báu.

Người siêng năng Niệm Phật là người khai mở vô biên sáng suốt.

Nên dùng cái tâm cầu vãng sinh mà tương tục Niệm Phật.

32) Danh lợi là dây trói của sinh tử, là lưới sắt để vướng vào ba đường dữ. Xưng Danh là đôi cánh của vãng sinh để lên chín phẩm liên đài.

33) Chúng ta là người bị kẻ thù “tham, sân, phiền não” cột trói mà giam hãm trong lồng chậu tam giới. Hãy nghĩ đến lòng từ bi của Cha Lành A Di Đà, dùng thanh bảo kiếm Danh hiệu mà chặt đứt dây trói sinh tử, lên con thuyền Bổn Nguyện để vượt biển luân hồi, đến bờ Giác Ngộ.

Nước mắt hoan hỷ rơi ướt áo, lòng mong mỏi không nguôi.

34) Đã được thân người khó được, nếu tương lai để rơi vào ba đường dữ thì đáng buồn, đáng tiếc vô cùng.

Chán cõi dơ, ưa Tịnh Độ, bỏ ác tâm, phát thiện tâm thì được tam thế Chư Phật tùy hỷ.

Con đường để ra khỏi sinh tử tuy chẳng giống nhau, nhưng trong thời mạt pháp thì Xưng Danh Đức Phật A Di Đà là hơn cả.

Hạng tội chướng nặng nề ngu si ám độn đi nữa, nếu chịu trì Danh thì sẽ được vãng sinh, vì tương ưng Bổn Nguyện nhiếp thọ của Đức Phật A Di Đà vậy.

Tội chướng nặng nề hãy đừng mặc cảm, vì ngũ nghịch; thập ác cũng được vãng sinh. Dù mười niệm hay một niệm đi nữa, hễ chí tâm thì Phật lai nghinh.

35) Hạnh Trì giới (mà không xưng Danh Hiệu A DI ĐÀ PHẬT cầu sinh Tịnh Độ) chẳng phải là hạnh mà Bổn Nguyện của Đức Phật A Di Đà nhiếp thọ, do đó cứ theo khả năng của mình mà giữ là được rồi. Điều quan trọng là chuyên cần Niệm Phật.

36) Chẳng kể là phá giới hay giữ giới, giàu hay nghèo, căn cơ cao hay thấp. Hễ xưng niệm Danh hiệu Ngài thì như gạch ngói biến thành vàng ròng. Ngài nhất định lai nghinh.

Đó là thệ nguyện của Đức Phật A Di Đà.

37) Người Niệm Phật dù không có chút thiện căn gì khác đi nữa, vẫn chắc chắn được vãng sinh.

Hỏi: Niệm Phật mà không phát bồ đề tâm thì làm sao được vãng sinh? Niệm Phật mà không giữ giới thì làm sao được vãng sinh? Niệm Phật mà không có trí tuệ thì làm sao được vãng sinh? Niệm Phật mà vọng niệm không ngừng thì làm sao được vãng sinh?

Đáp: Hỏi như vậy là vì không biết và hiểu kinh PHẬT THUYẾT VÔ LƯỢNG THỌ.

38) Phật có đại nguyện tiếp dẫn, chúng ta có lòng muốn sinh sang đó, làm sao mà chẳng toại nguyện vãng sinh?

39) Nếu đi bằng thuyền thì người sáng mắt hay kẻ đui mù đều có thể đến bờ bên kia.

Tuy có con mắt trí tuệ mà không Niệm Phật thì không phù hợp với Nguyện Lực.

Tuy ngu si ám độn mà có thể Niệm Phật xin được nương vào Nguyện Lực của Phật để được vãng sinh.

40) Không để ý đến thiện ác của bản thân, chỉ một lòng cầu vãng sinh mà Niệm Phật. Đó gọi là Tha Lực Niệm Phật. Cho rằng bản thân bị tội chướng khó được vãng sinh là điều sai lầm rất lớn.

41) Chẳng cần để ý là tâm mình thiện hay ác, tội chướng nặng hay nhẹ, mà chỉ nên dùng miệng xưng NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT và phát khởi cái tâm quyết định! Nương Phật Thệ Nguyện chắc chắn vãng sinh!!!

42) Hạng vô trí, tội chướng Niệm Phật mà vãng sinh là ý chánh (mục đích chính) của Bổn Nguyện.

43) Thâm tâm tức là cái tâm tin sâu. Tin sâu điều gì? Tin rằng: Hạng phàm phu phiền não sâu dày, nghiệp chướng nặng nề, thiện căn thiếu kém, nhờ tin vào Nguyện Lực Đại Bi của Đức Phật A Di Đà, rồi chấp trì danh hiệu, hoặc 100 năm, hoặc 45 năm, 20 năm, 10 năm, cho đến một hai năm. Từ khi phát tâm cho đến lúc lâm chung không thối chuyển. Hoặc 7 ngày, hoặc 1 ngày, cho đến 10 niệm, 1 niệm. Dù nhiều hay ít, người xưng danh Niệm Phật chắc chắn được vãng sinh.

Tóm lại, đối với chuyện vãng sinh mà không nghi ngờ thì gọi là “Thâm Tâm”.

44) Tuy được nghe Danh Hiệu mà không tin thì cũng như không được nghe. Tuy có tín tâm mà không xưng niệm thì cũng như không tin. Bởi thế nên một lòng Niệm Phật.

45) Bổn Nguyện của Đức Phật A Di Đà là thệ nguyện dùng Danh Hiệu của Ngài để tiếp chúng sanh tội chướng. Do đó, người Niệm Phật (xưng danh hiệu Ngài) thì sẽ được lai nghinh. Đạo lý này tuyệt đối không thể nghi ngờ.

46) Hỏi: Chỉ xưng Danh một niệm mà có thể diệt được trọng tội ngũ nghịch, thập ác ư?

Đáp: Đừng nghi!

47) Khi tạo ngũ nghịch mà được nghe Danh Hiệu của Đức Phật A Di Đà thì hỏa xa (cảnh địa ngục) tự nhiên biến mất, liên đài hiện đến lai nghinh.

Người tội chướng nặng nề không có phương tiện gì khác để giải thoát, do xưng Danh Hiệu được vãng sinh Cực Lạc. Đó là nhờ vào Nguyện Lực của Đức Phật A Di Đà.

48) Hỏi: Niệm Phật lúc lâm chung với Niệm Phật lúc bình thường, bên nào thù thắng hơn?

Đáp: Giống nhau!

49) Phút lâm chung, nỗi khổ của cái chết bức bách, thân thể chịu vô lượng thống khổ, giống như trăm nghìn lưỡi dao đâm vào. Mắt mũi bỗng nhiên mờ mịt, muốn thấy cũng không thể thấy. Miệng lưỡi co cứng, muốn nói cũng không nói được.

Đây là tứ khổ trong tám sự khổ của kiếp người, dù người tu Niệm Phật, tin Bổn Nguyện, cầu vãng sinh chăng nữa cũng khó tránh khỏi nỗi khổ nầy. Nhưng dù mờ mịt, đến khi tắt thở, do Nguyện Lực của Đức Phật A Di Đà, sẽ thành chánh niệm mà vãng sinh.

Sát na lâm chung dễ như cắt sợi tơ, điều nầy người khác không biết được, chỉ có Phật và người tu Niệm Phật biết được mà thôi.

50) Người Niệm Phật mà có lòng cầu vãng sinh và không nghi A Di Đà Phật Bổn Nguyện thì khi lâm chung không bị điên đảo. Sở dĩ được như vậy là nhờ Phật lai nghinh.

Phật lai nghinh là để người tu Niệm Phật lúc lâm chung được chánh niệm, chứ không phải lúc lâm chung cần phải chánh niệm thì Phật mới lai nghinh.

Người không biết nghĩa nầy đều cho rằng lúc lâm chung cần phải chân chánh niệm Phật, Phật mới lai nghinh. Kiến giải như vậy là không tin vào Phật Nguyện và cũng không hiểu kinh văn nữa.

51) Vì người chết mà niệm Phật hồi hướng thì Phật A Di Đà phóng quang minh soi chiếu địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Kẻ bị chìm trong ba đường dữ mà chịu khổ thì hết khổ. Người chết sau khi lâm chung được giải thoát.

52) Tuy biết rằng: “Dù tội ngũ nghịch cũng không chướng ngại vãng sinh” nhưng phải cẩn thận ngay cả tội nhỏ cũng chớ phạm.

Tuy biết rằng “một niệm cũng đủ” nhưng gắng niệm cho nhiều. Tin rằng một niệm cũng vãng sinh mà niệm suốt một đời.

53) Hỏi: Vì Bổn Nguyện không loại trừ kẻ ác, nên người ta đều muốn tạo ác nghiệp, làm sao đây?

Đáp: Phật A Di Đà tuy không bỏ rơi kẻ ác, nhưng người tạo ác nghiệp thì chẳng phải là đệ tử của Phật.

Tất cả Phật Pháp là để chế phục điều ác, vì hạng ngu si phàm phu không dễ gì làm được, nên khuyên Niệm Phật để diệt tội.

54) Đức Phật A Di Đà thương xót tất cả chúng sinh, dù thiện hay ác Ngài đều cứu độ. Nhưng thấy người lành thì Ngài vui, thấy kẻ ác thì Ngài thương xót.

55) Đáng thương thay! Thiện tâm tùy năm mà giảm, ác tâm theo ngày mà tăng!

Người xưa nói: “Phiền não như ảnh tùy thân, muốn bỏ mà không xong. Bồ Đề như trăng trong nước, muốn lấy mà không được”.

56) Hễ có tín tâm thì tội lớn cũng diệt, không có tín tâm thì tội nhỏ vẫn còn. Nên hổ thẹn là mình không có tín tâm!

57) Người tu Tịnh Độ trước hết nên biết hai điều nầy:

“Vì người có duyên dù phải bỏ thân mệnh, tài sản cũng nên vì họ mà nói pháp môn Tịnh Độ.
Vì sự vãng sinh của mình, nên xa lìa mọi phiền nhiễu mà chuyên tu hạnh Niệm Phật”.

Ngoài hai điều trên không tính toán gì khác.

58) Đã tu Tịnh Độ thì mọi chuyện trong đời đều y theo Niệm Phật mà quyết định. Tất cả đều là trợ duyên cho Niệm Phật, hễ làm chướng ngại thì nên từ bỏ.

Sống một mình không Niệm Phật được thì ở chung mà Niệm Phật. Sống chung không Niệm Phật được thì ở một mình mà Niệm Phật. Tại gia mà không Niệm Phật được thì xuất gia mà Niệm Phật. Xuất gia mà không Niệm Phật được thì tại gia mà Niệm Phật. Sống giữa đời không Niệm Phật được thì trốn đời mà Niệm Phật. Trốn đời không Niệm Phật được thì sống giữa đời mà Niệm Phật.

59) Nguyện rằng người tu Tịnh Độ gặp bệnh hoạn nên vui!

60) Thành Phật tuy khó nhưng cầu vãng sinh thì dễ được. Nhờ sức Bổn Nguyện làm cường duyên, nên tuy là phàm phu mà được vãng sinh Báo Độ (Thực Báo Trang Nghiêm Tịnh Độ).

61) Một vị tăng ở Trấn Tây đi hành cước, khi đi ngang Cát Thủy Lư, ra mắt Pháp Nhiên Thượng Nhân, gặp lúc ngài đang Niệm Phật ở đạo trường nên thị giả tiếp khách.

Vị tăng hỏi: Trong khi xưng Danh hiệu, có nên để tâm mình vào tướng hảo của Phật hay không?

Thị giả đáp: Quả thật là nên.

Vừa lúc ấy ngài mở cửa đạo trường và nói: “Nguyên Không nầy (một pháp danh khác của Ngài) thì chẳng vậy”. Hãy nhớ rằng kinh dạy: “Khi tôi thành Phật, mười phương chúng sinh xưng Danh hiệu của tôi dù chỉ có mười lần, nếu chẳng được vãng sinh, tôi sẽ không ở ngôi Chánh Giác”. ( Kinh PHẬT THUYẾT VÔ LƯỢNG THỌ).

Và Tổ Thiện Đạo dạy: “Đức Phật kia (Đức A Di Đà) nay đang tại thế thành Phật. Bởi thế nên biết rằng Bổn Nguyện Trọng Thệ chẳng hư dối. Chúng sinh xưng niệm thì tức nhiên được vãng sinh”. Theo thiển ý, dù quán tướng hảo của Phật chăng nữa cũng chẳng phải như thuyết quán.

Chẳng bằng nương tựa Bổn Nguyện, miệng xưng Danh hiệu là hơn cả, vì đó là hạnh chân thực ( hạnh tương ưng với Bổn Nguyện).

62) Có người hỏi rằng: Nhật khóa xưng danh sáu vạn, mười vạn lần mà chẳng như pháp: so với xưng danh hai vạn, ba vạn lần mà như pháp. Bên nào tốt hơn?

Ngài đáp: Hạng phàm phu loạn tưởng xưng danh ít lần mà như pháp tu hành, sự thật rất là khó. Chẳng bằng nhật khóa xưng danh cho nhiều. Chỗ trọng yếu của xưng danh là để tâm niệm tương tục, Niệm Phật không ngớt miệng là đủ, cần gì phải cho là như pháp hay chẳng như pháp ư!

63) Hỏi: Thường nghĩ đến chuyện “Bỏ ác tu thiện” mà Niệm Phật, so với thường nghĩ đến ý chỉ của Bổn Nguyện mà Niệm Phật. Điều nào hay hơn?

Đáp: Bỏ ác tu thiện tuy là lời răn chung của chư Phật, nhưng hạng phàm phu thời mạt pháp như chúng ta thường làm ngược lại!

Nếu chỉ tự mình mà chẳng nương vào Bổn Nguyện thì e rằng khó mà ra khỏi sinh tử.

64) Hỏi: Thiện Đạo Hòa Thượng cho rằng Thánh Đạo môn là giáo pháp phương tiện, xuất phát từ đâu?

Đáp: Cuốn PHÁP SỰ TÁN chép:

“Như Lai xuất hiện nơi ngũ trược.
Tùy nghi phương tiện dạy chúng sanh.
Hoặc nói “đa văn” mà được độ.
Hoặc thuyết “tiểu giải” chứng tam minh.
Hoặc dạy “phước huệ” cùng trừ chướng.
Hoặc giáp “thiền niệm” ngồi tư duy.
Tất cả pháp môn đều giải thoát.
Không hơn Niệm Phật vãng Tây Phương”.

Hỏi: Đã nói rằng: “Tất cả pháp môn đều giải thoát”, sao lại lấy đoạn văn nầy làm chứng cứ?

Đáp: Ở trên nói: “Tùy nghi phương tiện dạy chúng sanh”, kế đến là “Tất cả pháp môn đều giải thoát”, và cuối cùng là “Không hơn Niệm Phật vãng Tây Phương”. Rõ ràng là ngoài Niệm Phật vãng sinh ra, tất cả đều là phương tiện.

65) Thánh Đạo Môn (các tông phái khác) đều tu cái “nhân” của tam thừa, tứ thừa để được cái “quả” của tam thừa, tứ thừa. Do đó không thể so sánh với hạnh Niệm Phật. Còn trong Tịnh Độ Môn thì các hạnh (đọc tụng kinh điển, lễ bái, quán tưởng, quán tượng…) và hạnh Niệm Phật đều là “nhân” để vãng sinh nên có thể so sánh.

Nhưng các hạnh đều chẳng phải tương ưng với A Di Đà Phật Bổn Nguyện, do đó quang minh của Đức A Di Đà chẳng thu nhiếp, mà Đức Thích Ca cũng chẳng phó chúc. Bởi thế Thiện Đạo Đại Sư dạy: “Tất cả các hạnh khác tuy gọi là thiện, nhưng nếu so với Niệm Phật thì hoàn toàn không thể so sánh nổi”.

66) Các Đại sư hoằng dương Pháp môn Tịnh Độ thời nào cũng có nhiều, tất cả đều khuyên người tu Tịnh Độ phát Bồ Đề Tâm và đều lấy hạnh “Quán Tưởng” làm chánh. Chỉ duy một mình Đại sư Thiện Đạo cho rằng không phát Bồ Đề Tâm cũng được vãng sinh và nhận định rằng hạnh “Quán Tưởng” chỉ là trợ nghiệp cho hạnh “Xưng Danh” mà thôi. Theo thiển ý, người tu Tịnh Độ nếu không tuân theo ý của Ngài Thiện Đạo thì e rằng khó được vãng sinh. Hãy ghi nhớ!

67) Một đệ tử hỏi: Nếu trí tuệ là điều cần yếu để vãng sinh thì con người minh mẫn theo thầy học. Còn nếu chỉ cần xưng danh là đủ thì không mong gì khác. Xin Thầy từ bi khai thị cho, con sẽ tuyệt đối vâng theo như lời Phật dạy vậy.

Ngài đáp: Chánh nghiệp vãng sinh thì trọng yếu là xưng danh. Rõ ràng là chẳng phân biệt có trí tuệ hay không có trí tuệ, cần gì phải học hành cho lắm! Chi bằng cứ lo Niệm Phật, thì sẽ mau được vãng sinh Tịnh Độ, gặp mặt Thánh chúng, được nghe pháp môn. Hơn nữa cõi kia trang nghiêm, ngày đêm thuyết pháp sâu xa, do đó sẽ tự nhiên khai phát thắng giải mà chứng Vô Sinh Nhẫn. Nếu chưa biết ý nghĩa của Niệm Phật vãng sinh thì học cho biết, đơn sơ là đủ. Nếu ham học rộng, biết bao nhiêu cho cùng. Hãy siêng năng Niệm Phật là hơn cả.

68) Thọ giáo và phát tâm không hẳn là cùng lúc, vì phát tâm thì gặp duyên mà phát khởi. Trước đây có một vị sơn tăng hỏi tôi rằng: “Tôi học pháp môn Tịnh Độ đã lâu, hiểu được đôi chút nhưng chưa phát khởi được tín tâm. Phải dùng phương tiện gì để thành lập tín tâm?”.

Tôi đáp: “Hãy cầu nguyện Tam Bảo gia bị”. Vị tăng kia tuân theo lời dạy. Một hôm ông ấy đến chùa Đại Đông, gặp lúc đang gác cây đòn dông ở chánh điện. Ông bèn đứng xem, bỗng nhiên tín tâm phát khởi rồi tự nhủ rằng: “Nếu không có sự tính toán khéo của người thợ thì làm sao cây đòn dông lên đó được?! Người thợ tầm thường còn vậy huống gì sức thiện xảo không thể nghĩ bàn của Như Lai! Mình có cái chí nguyện vãng sinh, Phật có lời thề tiếp dẫn. Vãng sinh Tịnh Độ hẳn nhiên là tương ứng!”

Từ đó không còn tâm nghi ngờ nữa. Sau nầy ông có đến cho tôi biết. Ba năm sau thì được vãng sinh, điềm lành rất nhiều. Bởi thế nên thường cầu nguyện Tam Bảo gia bị.

69) Yếu đạo để hạng phàm phu thoát khỏi sinh tử không gì hơn Môn Tịnh Độ, hạnh Niệm Phật. Nói về căn cơ thì bao gồm thập ác, ngũ nghịch, tứ trọng, báng pháp, xiển đề, phá giới, v.v… Nói về hạnh thì mười tiếng hay một tiếng, ngay cả trẻ con cũng xưng được.

Nói về tín thì một niệm hay mười niệm, kẻ ngu cũng làm được. Bổn Nguyện vốn vì “mười phương chúng sinh” mà có, không để sót bất cứ căn cơ nào, không bỏ rơi bất kỳ ai. Trong mười phương chúng sinh, thì có trí hay vô trí, có tội hay vô tội, phàm phu hay Thánh nhân, trì giới hay phá giới, người nam hay người nữ, ông già hay trẻ con… cho đến căn cơ của thời Tam Bảo đã diệt đều bao gồm cả. Hễ gặp được Bổn Nguyện, được nghe Danh Hiệu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT và tin theo mà Niệm Phật thì Đức Phật A Di Đà dùng Quang Minh Biến Chiếu thu nhiếp chẳng rời.

Hạng tội nặng nghiệp dày, u minh ám chướng lại càng nên nương vào A Di Đà Phật Bổn Nguyện. Vì sao vậy? Lý do là vì A Di Đà Bổn Nguyện vốn vì phàm phu, chớ không phải vì Thánh nhân.

70) Năm điều quyết định chuyện vãng sinh:

1) Bổn Nguyện của Đức A Di Đà quyết định.
2) Lời dạy của Đức Thích Ca quyết định.
3) Sự chứng minh của Chư Phật quyết định.
4) Giáo thích của Tổ Thiện Đạo quyết định.
5) Tín tâm của chúng ta quyết định.

Do năm nghĩa trên quyết định vãng sinh.

71) Niệm Phật là chuyện mình làm. Vãng sinh là chuyện Phật làm. Vãng sinh là do Phật Lực ban cho, lại cứ tính toán trong tâm mình thì đó là tự lực. Chỉ nên xưng danh để chờ Phật lai nghinh.

72) Tuy tam học “Giới, Định, Huệ” hoàn toàn đầy đủ, nhưng nếu không nương Bổn Nguyện của Đức Phật A Di Đà mà xưng Danh hiệu Ngài thì không được vãng sinh. Tuy không có “Giới, Định, Huệ”, mà một mực xưng Danh thì chắc chắn được vãng sinh.

73) Hỏi: Vấn đề tự lực và tha lực nên hiểu như thế nào?

Đáp: Pháp Nhiên nầy, tuy không phải là loại căn khí, có thể ra mắt Điện Hạ (Thiên Hoàng) nhưng do Điện Hạ triệu vào. Hai lần vào ra mắt không phải là do khả năng của tôi, mà do sức của Thiên Hoàng, huống gì là sức của Đức Phật A Di Đà!

Chuyện Ngài lai nghinh để tiếp dẫn người xưng Danh là Bổn Nguyện của Ngài, điều nầy thật dễ hiểu.

Những người tội chướng vô trí, không nên hoài nghi vãng sinh. Nếu mà nghi ngờ là hoàn toàn không biết gì về Phật Nguyện cả. Bổn Nguyện được phát ra là để cứu những người tội chướng vậy. Bởi thế hãy nỗ lực xưng Danh chớ khá nghi ngờ. Chỉ sợ không ưa cõi Cực Lạc, không tin Niệm Phật thì sẽ chướng ngại vãng sinh.

Vì vậy gọi là “Tha Lực Nguyện”, là “Siêu Thế Nguyện”.

74) A Di Đà Bổn Nguyện phát ra không phải vì hạng thiện nhân có phương tiện, có thể dùng tự lực để thoát ly sinh tử mà là vì hạng ác nhân tội chướng không có phương tiện để giải thoát.

Những hàng Bồ Tát, Thánh Hiền cũng có thể nương vào đó mà cầu vãng sinh. Hạng thiện nhân phàm phu cũng hướng về lời nguyện nầy mà được vãng sinh, huống gì hạng ác nhân phàm phu lại càng nên nương vào Tha Lực nầy chớ nên hiểu sai lầm mà bám chấp vào tà kiến. Hãy nhớ A Di Đà Bổn Nguyện căn bản là vì hạng phàm phu mà gồm luôn cả Thánh Nhân nữa. Xin hiểu rõ lý nầy.

75) Tu Thánh Đạo Môn thì tột cùng trí tuệ để lìa sinh tử. Tu Tịnh Độ Môn thì trở lại ngu si để vãng sinh. Bởi thế khi hướng về Thánh Đạo Môn thì trau dồi trí tuệ, giữ cấm giới, rèn luyện tâm tánh làm tông chỉ.

Còn bước vào Tịnh Độ Môn thì chẳng dựa vào trí tuệ, chẳng lo tròn đạo hạnh, chẳng cần điều hòa tâm tánh, mà chỉ tự thấy mình là người vô năng, vô trí; cần nương vào Bổn Nguyện mà Niệm Phật mà cầu vãng sinh.

1) Muốn mau lìa sinh tử: Trong hai loại thắng pháp; Bỏ qua Thánh Đạo Môn, mà vào Tịnh Độ Môn.
2) Muốn vào Tịnh Độ Môn; Trong hai hạnh Chánh, Tạp; Hãy bỏ các Tạp hạnh, mà quay về Chánh Hạnh.
3) Muốn tu nơi Chánh Hạnh; Trong hai Chánh; Trợ Nghiệp; Chớ dính nơi Trợ Nghiệp; Hãy nên chuyên Chánh Định.
4) Chuyên tu Chánh Định Nghiệp; Tức là Xưng Phật Danh; Xưng Danh tất vãng sinh; Bởi do Phật Bổn Nguyện.

77) Yếu đạo để ra khỏi sinh tử, không gì hơn vãng sinh Tịnh Độ. Hạnh tu để vãng sinh Tịnh Độ tuy nhiều, không gì hơn Xưng Danh. Vì xưng Danh là hạnh tương ưng với A Di Đà Bổn Nguyện. Bởi vậy Hòa Thượng Thiện Đạo dạy rằng:

“Kinh VÔ LƯỢNG THỌ” chép: “Khi tôi thành Phật, nếu mười phương chúng sinh xưng Danh hiệu của tôi, dù chỉ mười lần mà không được vãng sinh thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác. Đức Phật kia hiện tại thế thành Phật. Nên biết rằng Bổn Nguyện Trọng Thệ chẳng hư dối. Chúng sinh xưng niệm, tất nhiên được vãng sinh”. Do đó ngoài xưng Danh không cần quán tưởng gì khác.

Hiểu và tin như trên, lâm chung chắc chắn Phật lai nghinh. Nếu bình thường đã xưng Danh tích lũy công đức thì dù cho lúc lâm chung không xưng được Phật Danh vẫn quyết định vãng sinh.

78) Đệ tử Nhất Hiền Chân hỏi: Thưa Thầy! Để mau chóng lìa khỏi sinh tử, thì Chân Ngôn (Mật Tông), Chỉ Quán (Thiên Thai), Hoa Nghiêm, Phật Tâm (Thiền Tông) phải thâm diệu hơn Tịnh Độ chứ?

Ngài đáp: Pháp môn thì vô lượng nhưng luận về chỗ cấp yếu, thì tối thượng là Tịnh Độ. Các giáo pháp tuy nhiều nhưng xét đến chỗ cương yếu, thì Tha Lực Đốn Giáo thù thắng hơn cả. Vì dễ tu mà công cao, dễ hành mà lý thâm. Bởi thế Tổ Huệ Viễn nói rằng: “Các môn Tam Muội tuy nhiều nhưng công cao mà dễ tu thì Niệm Phật là hơn cả”.

Ngài Nguyên Chiếu nói rằng: “Niệm Phật Tam Muội là pháp để hạng phàm phu ngu độn trong sát na siêu việt thành Phật. Cho thấy rằng Tịnh Độ Giáo Pháp, Niệm Phật Tam Muội là Đại Thừa, Chí Cực, Tốc Tật, Giải Thoát”.

79) Khai thị của Pháp Nhiên Thượng Nhân cho đệ tử lúc lâm chung: “Thầy mấy chục năm nay, công phu Niệm Phật tích lũy, được bái kiến Cực Lạc trang nghiêm và Chân Thân của Phật, Bồ Tát là chuyện bình thường. Nhưng nhiều năm giữ kín mà không nói ra, nay đã đến lúc tối hậu nên bày tỏ đôi chút. Thầy nếu đoan tọa (ngồi kiết già) mà vãng sinh, người đời hẳn nhiên bắt chước. Mà cái thân người bệnh, cử động khó khăn, e rằng họ sẽ mất chánh niệm. Vì vậy nay Thầy nằm thẳng mà ra đi. Bổn Sư Thích Tôn đã thị hiện đầu Bắc, diện Tây (nằm nghiêng bên phải, đầu hướng Bắc, mặt hướng Tây) mà viên tịch, đó cũng là vì chúng sinh vậy. Thầy làm sao hơn Đức Thích Tôn được!”

LỜI BẠT

Theo thiển ý của dịch giả, có thể nói Pháp Nhiên Thượng Nhân là người đầu tiên chỉ rõ chân diện mục của Tông Tịnh Độ, vạch ra một đường sáng cho tất cả những ai muốn thật sự liễu thoát sinh tử trong một đời. Điều đáng buồn là những lời dạy vàng ngọc nầy chưa hề được giới thiệu với người tu Tịnh Độ ở Việt Nam, dù rằng toàn bộ tác phẩm của Ngài đã được thâu nhập vào Đại Tạng Kinh qua bao thế kỷ.

Dịch giả xin nguyện rằng hễ ai được đọc pháp ngữ nầy đều phát khởi tha lực tín tâm, hoan hỷ Niệm Phật, tin sâu rằng mình đã được dự vào A Di Đà Bổn Nguyện Hải Hội và tương lai chắc chắn được sinh về cõi Cực Lạc bất thối chuyển.

Nam Mô A Di Đà Phật
Mùa đông năm 1997
Người dịch: Viên Thông Nguyễn Văn Nhàn

The post Niệm Phật Tông Yếu appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/niem-phat-tong-yeu.html/feed 0
Niệm Phật tam muội https://bachhac.net/niem-phat-tam-muoi.html https://bachhac.net/niem-phat-tam-muoi.html#respond Fri, 18 Oct 2019 08:16:40 +0000 https://bachhac.net/?p=2422 Tâm tịnh trăng hiện nước Ý định trời không mây Khi bạn niệm Phật đạt đến mức độ niệm Phật tam muội, tiếng gió thổi qua bạn cũng nghe là âm thanh “Nam Mô A Di Đà Phật”. Bạn nghe tiếng mưa rơi, cũng là âm thanh “Nam Mô A Di Đà Phật”. Bạn nghe …

The post Niệm Phật tam muội appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Niệm phật tam muội

Tâm tịnh trăng hiện nước

Ý định trời không mây

Khi bạn niệm Phật đạt đến mức độ niệm Phật tam muội, tiếng gió thổi qua bạn cũng nghe là âm thanh “Nam Mô A Di Đà Phật”. Bạn nghe tiếng mưa rơi, cũng là âm thanh “Nam Mô A Di Đà Phật”. Bạn nghe tất cả âm thanh, đều là tiếng niệm Phật đó!

Cho nên nói “nước chảy, gió lay đều diễn nói Kinh điển”. Tiếng nước chảy cũng là “Nam Mô A Di Đà Phật”. Tiếng gió thổi cũng là “Nam Mô A Di Đà Phật”. Nước chảy, gió thổi đều là “Nam Mô A Di Đà Phật”. Cho nên Tô Đông Pha nói: “Khê thanh tận thị quảng trường thiệt, sơn sắc vô phi thanh tịnh thân”, nghĩa là âm thanh của suối chảy, đều là tướng lưỡi rộng dài của Phật để diễn nói diệu pháp, màu sắc dáng núi cũng đều là pháp thân thanh tịnh của Như Lai, đây chính là đắc được niệm Phật tam muội. Lúc trước tôi có làm một bài kệ niệm Phật:

Năng niệm năng niệm vô gián đoạn

Niệm Di Đà đã thành phiến

Tạp niệm bất sanh đắc tam muội

Vãng sanh Tịnh độ định hữu phán

Chung nhật yểm phiền Ta bà khổ

Tài tương hồng trần tâm niệm đoạn

Cầu sanh Tịnh độ ý niệm trọng

Phóng hạ nhiễm niệm quy tịnh niệm.

Câu này nói: “Khẩu niệm năng niệm vô gián đoạn”, bạn niệm Phật niệm đến chỗ không gián đoạn, từ sáng cho đến tối chỉ âm thanh niệm Phật, không có thời gian ngừng nghỉ. “Khẩu niệm Di Đà đã thành phiến”, là miệng luôn niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” thường niệm như thế, kết thành một khối.

“Tạp niệm bất sanh đắc tam muội”, là bạn không bị các vọng niệm loạn tưởng lăng xăng khác, đây chính là đạt đến định niệm Phật, người niệm Phật nên nhận ra chỗ này. “Vãng sanh Tịnh độ định hữu phán”, hy vọng bạn vãng sanh về thế giới Tây phương Cực lạc, nhất định đạt được!

“Chung nhật yểm phiền Ta bà khổ”. Từ sáng đến tối nhàm chán những nỗi thống khổ ở thế giới Ta bà này. “Tài tương hồng trần tâm niệm đoạn”. Bởi vì bạn biết ở thế giới Ta bà này là khổ, cho nên mau mau dứt bỏ những thú vui thế gian. Khi các tâm niệm thế gian đoạn rồi, không còn tâm dâm dục, tâm thích đẹp ghét xấu không có, tâm tranh danh, tâm đoạt lợi, cũng không còn. Buông bỏ tất cả các duyên thế gian xuống, phải thấy tất cả những thứ đó đều là giả, cho nên các niệm hồng trần đều đoạn dứt.

“Cầu sanh Tịnh độ ý niệm trọng”. Cầu sanh về thế giới Cực lạc ý niệm người đó vô cùng trọng yếu!

“Phóng hạ nhiễm niệm quy tịnh niệm”. Buông bỏ niệm ô nhiễm ngay từ niệm đầu. Ngay đó được niệm thanh tịnh rồi.

Bài kệ nói rõ về đạo lý niệm Phật. Tám câu kệ này tuy rất ngắn gọn, nhưng sẽ giúp ích cho các bạn rất nhiều. Bạn nên tư duy suy ngẫm, nhất là đối với người tu pháp môn niệm Phật.

Trong khóa tu Phật thất, mỗi hôm niệm Phật để làm gì vậy? Đó là gieo chủng tử Phật. Bạn niệm một câu Phật hiệu thì gieo một hạt giống Phật, niệm mười câu Phật hiệu thì gieo mười hạt giống Phật. Chúng ta mỗi ngày niệm trăm, ngàn, vạn câu Phật hiệu, chính là gieo hàng trăm, ngàn, vạn hạt giống Phật như thế. Khi bạn gieo hạt giống đó xuống, tương lai nhất định sẽ nảy mầm, bất kể là niệm Phật tán tâm hay định tâm. Có một câu kệ rất hay:

Thanh châu đầu ư trọc thủy

Trọc thủy bất đắc bất thanh

Niệm Phật nhập ư loạn tâm

Loạn tâm bất đắc bất Phật.

Có một hạt minh châu, xưa nay bỏ trong nước “trọc thủy bất đắc bất thanh”, dù nước có đục thế nào đi nữa, cũng đều thanh tịnh trong sáng cả. Người trì danh hiệu Phật, cũng giống như hạt minh châu vậy, bỏ vào trong nước thì nước sẽ trong.

“Niệm Phật nhập ư loạn tâm”. Tâm của chúng ta xưa nay vọng động thô tháo, vọng tưởng dẫy đầy, vọng tưởng này sanh ra rồi mất đi, rồi lại sanh, rồi mất, cứ như thế giống như sóng biển, không khi nào dừng. Thế khi một câu danh hiệu Phật đi vào tâm loạn động thì “tâm loạn cũng được thành Phật”. Đó bạn thấy loạn tâm như vậy mà cũng thành tâm Phật rồi, bởi vì bạn niệm một tiếng Phật thì trong tâm bạn có một vị Phật, bạn niệm mười tiếng Phật thì có mười vị Phật, niệm trăm tiếng, ngàn tiếng, vạn tiếng niệm càng nhiều thì càng nhanh thành Phật. Bạn niệm một tiếng “Nam Mô A Di Đà Phật”, trong tâm có một người niệm Phật. Bạn niệm Phật, Phật cũng niệm bạn, cũng giống như máy vô tuyến điện, bạn niệm một câu A Di Đà Phật thì máy vô tuyến sẽ thâu âm và phát đi, vậy gọi là cảm ứng đạo giao.

Qua bài kệ vừa rồi chúng ta thấy người niệm Phật được công đức không thể nghĩ bàn, dù niệm mà vọng tưởng vẫn còn nhưng vẫn thành tựu được công đức từ nơi tự tánh của họ.

Pháp môn này được chư Bồ tát khắp mười phương đồng hoan hỷ tán thán.

Tâm của bạn như thế nào? Nó rất bận rộn đủ thứ chuyện vui buồn từ sáng cho đến tối, không lúc nào dừng nghỉ. Cho nên tâm này của chúng ta nếu chẳng cho nó một điều kiện gì thì nó chẳng có tự tại được. Vì vậy phải tìm cho nó một câu “Nam Mô A Di Đà Phật”.

Một câu danh hiệu Phật cũng chính là tham thiền, bạn chẳng cần phải ngồi chỗ nào cả, chỉ cần nhắm mắt niệm Phật như thế cũng chính là tham thiền. Hoặc bạn mở mắt ra niệm Phật cũng là tham thiền. “Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, nói năng động tịnh thể an nhiên”. Tất cả bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi là tham thiền cả. Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ nói một bài kệ trong Tứ liệu giản:

Có thiền, có Tịnh độ

Giống như cọp mọc sừng

Hiện đời là thầy người

Tương lai làm Phật, Tổ

Có thiền không Tịnh độ

Mười người tu chín người lạc

Không thiền có Tịnh độ

Vạn người tu vạn người được.

Pháp môn Tịnh độ là một pháp môn rất dễ tu, được chư Bồ tát ca ngợi tán thán.

Bồ tát Văn Thù cũng tán thán pháp môn niệm Phật. Trong Kinh Hoa Nghiêm – phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện, Bồ tát Phổ Hiền cùng mười phương chúng sanh đồng nguyện vãng sanh Tịnh độ và Bồ tát Quán Thế Âm cũng niệm Phật vãng sanh Tịnh độ. Nếu có vị nào nghe qua bộ Kinh Lăng Nghiêm đều biết phẩm “Bồ tát Đại Thế Chí niệm Phật viên thông” nói người tu pháp môn niệm Phật vô cùng tốt. Cho nên Bồ tát Đại Thế Chí cũng tán thán.

Trong quá khứ tất cả chư đại Bồ tát đều tán thán pháp môn Tịnh độ, chuyên tu pháp môn Tịnh độ. Tất cả chư Tổ trong quá khứ trước tiên tham thiền, sau niệm Phật. Sau khi họ tham thiền khai ngộ rồi thì lại chuyên tâm niệm Phật. Giống như Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ niệm một câu A Di Đà Phật thì từ miệng phóng ra một đạo hào quang có hóa thân của Phật A Di Đà. Thời cận đại, đại sư Ấn Quang chuyên xiển dương pháp môn niệm Phật.

Cho nên pháp môn niệm Phật là pháp môn phương tiện bậc nhất, đơn giản, rất dễ tu, người hành trì pháp môn này rất là viên dung. Pháp môn này mười phương chư Phật đồng ca ngợi tán thán. Bạn xem bản Kinh Di Đà nói mười phương chư Phật có tướng lưỡi rộng dài, biến khắp tam thiên đại thiên thế giới đều ca ngợi tán thán pháp môn này. Nếu như nói không chân thật thì mười phương chư Phật làm sao ca ngợi tán thán? Do vậy, đủ chứng minh người tu pháp môn niệm Phật vô cùng thù thắng, đặc biệt vào thời mạt pháp này mọi người chúng ta phải nên tu theo.

Thế nhưng, hiện giờ ở Tây phương là thời đại chánh pháp, các bạn không tu pháp môn niệm Phật, thế các bạn lại tham thiền thì có sợ khổ không?

Đến Tây phương liễu sanh thoát tử.

Trì danh niệm Phật là một pháp môn tu tập vô cùng quan trọng trong thời kỳ mạt pháp, cho nên hiện nay rất nhiều người tu tập và hành trì pháp môn này.

Nếu bạn xem thường pháp môn niệm Phật thì hãy xem Ngài đại sư Vĩnh Minh Diên Thọ niệm một câu “Nam Mô A Di Đà Phật”, từ trong miệng liền bay ra một hóa thân Phật. Người thời đó ai cũng đều biết cả, cho nên công đức niệm Phật không thể nói hết được. Khi bạn niệm một câu Phật hiệu thì bạn lại phóng quang. A! Phóng một ánh hào quang, yêu ma quỷ quái đều bỏ chạy. Công đức và oai lực của việc niệm Phật là như thế, không nói hết được.

Khi tu pháp môn niệm Phật, bạn chẳng cần trông mong đạt đến ngộ bản tâm, hay đạt đến chân hay giả. Điều quan trọng bạn dụng công tu là tốt rồi, lúc đó tự nhiên biến thành chân, nếu dụng công không tốt thì biến thành giả. Chẳng những pháp môn niệm Phật là như thế mà tất cả pháp khác cũng như vậy. Nên nói: “Người tà hành chánh pháp, chánh pháp trở thành tà, người chân chánh tu pháp, tà pháp cũng trở thành chánh”. Đây hoàn toàn là do người.

Chúng ta bây giờ khi tu tập dụng công lễ Phật nên quán tưởng, quán tưởng cái gì? Quán tưởng thân thể này của chúng ta biến khắp mười phương vô lượng quốc độ cõi nước chư Phật, trong cõi nước chư Phật gặp mặt Phật chúng ta đến trước đảnh lễ. Bạn có thể quán tưởng pháp giới, thân thể của bạn cũng chính là pháp giới, rộng lớn như thế. Cho nên mới nói:

Nếu người muốn biết rõ

Chư Phật trong ba đời

Nên quán pháp giới tánh

Tất cả do tâm tạo.

Pháp môn niệm Phật là pháp môn rất dễ hành trì tu tập, mọi người ai cũng tu được pháp môn này. Chỉ cần bạn niệm một câu “Nam Mô A Di Đà Phật”, tương lai khi đến lúc lâm chung bạn sanh về thế giới Tây phương Cực lạc, hóa sanh trong hoa sen, mỗi ngày nghe Phật A Di Đà nói pháp, tương lai thành Phật.

Xưa nay thường nói, niệm Phật khi lâm chung thì vãng sanh về thế giới Tây phương Cực lạc, còn hiện tại chúng ta chưa chết, thế bây giờ chúng ta niệm Phật để làm cái gì? Đúng không? Nhưng để có lợi ích khi chết, thì khi sống bạn phải cần lo vun bồi trước. Giống như bạn trồng loại cây ăn quả, muốn thu hoạch kết quả thì bây giờ ta phải tốn thời gian ít năm chăm bón cây mới phát triển được. Sự phát triển đó, phải theo thời gian mà tạo thành kết quả. Niệm Phật cũng như thế, bây giờ bạn niệm Phật, đến khi lâm chung mới không bị các bệnh thống khổ, không bị tâm tham, sân, si làm bấn loạn, nhất tâm niệm Phật thì Phật A Di Đà đến tiếp dẫn bạn đi. Bây giờ nếu bạn không niệm Phật, đến khi lâm chung, tứ đại phân ly, khi ấy bạn muốn niệm Phật cũng không niệm được, trừ khi có bậc thiện tri thức đến trợ giúp cho bạn, nhắc nhở bạn, bảo bạn niệm Phật. Cho nên lúc còn sống, mỗi ngày đều niệm Phật, niệm mãi đến khi kết thành một mảng. Lâm chung chỉ cần niệm câu “Nam Mô A Di Đà Phật”, thì lúc đó bạn chỉ nhớ đến Phật, ngoài ra chẳng luyến tiếc vướng bận gì cả, bạn sẽ thanh thản ra đi về cõi Phật. Cho nên, khi sống cũng như khi chết bạn không quên câu “Nam Mô A Di Đà Phật”. Khi bạn không quên câu “Nam Mô A Di Đà Phật”, thì Phật A Di Đà cũng không quên bạn, chúng ta nương vào đại nguyện của Phật A Di Đà thì Ngài dùng kim đài đến tiếp dẫn bạn vãng sanh về thế giới Tây phương Cực lạc.

Bạn niệm Phật, tôi niệm Phật, bạn và tôi niệm Phật làm gì đây?

Liễu sanh tử, chuyển Ta bà mỗi nơi thành cõi Phật.

Không bạn, không tôi, có gì nào? Tịnh quán vạn vật đều rõ ràng.

Phá vô minh dứt phiền não, vượt ba cõi qua bể ái hà.

Vì sao bạn niệm Phật? Tại sao tôi niệm Phật? Bạn nói đi! Người thiếu hiểu biết thì nói rằng: “Cầu Phật giúp con, ngày mai ăn uống cho tốt”. Có người vừa niệm vừa nói rằng: “Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô A Di Đà Phật”, xin Ngài giúp con khỏi lạnh, khỏi rét! Có người niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, cho con tránh khỏi những phiền não, mọi việc đều cát tường như ý, bình an hạnh phúc. Có người niệm Phật để cầu sung sướng trong hiện tại. Tuy có nhiều loại chẳng giống nhau, nhưng cái chính yếu chẳng phải cầu những việc đó. Thế thì niệm Phật cầu chuyện gì? Đó là cầu “liễu sanh tử” thôi!

Người “liễu sanh tử” thì sống an vui tự tại. Còn các bạn chẳng “liễu sanh tử”, thì vào ra hợp với sanh tử. Khi sống bạn không biết được chính mình, không làm chủ mình. Sống không biết mình là ai thì khi chết cũng bị mê man trôi vào các nẻo luân hồi khổ sở. Vậy làm sao làm chủ được đây? Nghĩa là bạn làm chủ khi còn sống, muốn sống thì sống, muốn chết thì chết. Bạn thích sống lâu, muốn trường thọ thì mỗi ngày chúng ta niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”. Như thế mỗi ngày thọ mạng ta sẽ tăng lên, mạnh khỏe lên. Ta muốn chết, thì niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, thì đức Phật A Di Đà đến đón ta về thế giới Tây phương Cực lạc. Như thế, thân không bệnh, tâm không tham luyến, ý không điên đảo, đây là nói ý cũng không điên đảo, giống như nhập vào thiền định. Như thế mới sanh về thế giới Tây phương Cực lạc. Quý vị chú ý vấn đề này.

“Hóa Ta bà”. Chuyển hóa thế giới Ta bà thành thế giới Cực lạc, không còn sự đau khổ mà được tất cả sự an vui. Cho nên nói: “Nơi nơi đều là cõi Phật A Di Đà”. Nơi nào cũng đều là thế giới Cực lạc, không còn thế giới đau khổ phiền não nữa, nơi đâu cũng A Di Đà Phật.

“Không bạn, không tôi”. Bạn niệm Phật, niệm đến không còn thấy bạn niệm và đối tượng là “Phật” để bạn niệm. Tại sao nói “không”. Ồ! Như thế rất nguy hiểm rồi! Niệm phải được chứ sao nói không? Thế là không xong rồi? Chỉ sợ bạn không xong, nếu bạn xong rồi thì giải thoát rồi. Bạn không xong, nên chẳng được gì hết. Nếu bạn xong rồi thì sao? “Tịnh quán vạn vật đều liễu rõ”. Tất cả vạn vật thế gian, bạn đều thấu hiểu rõ ràng, thậm chí loại chim nào màu gì, cây tùng sao lại mọc thẳng, … bạn đều rõ biết hết.

Lúc này, bạn biết rõ hết rồi, thì phiền não dứt sạch, vô minh phá hết. “Nhảy ra khỏi tam giới vượt khỏi biển ái bao la”. Bạn nhảy ra khỏi sông ái bao la là dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Người ở trong tam giới như thế nào? Giống như bị trôi theo dòng sông mênh mông rộng lớn! Điên đảo, bạn nói yêu tôi, tôi nói yêu bạn, tình ái đến đi, chết rồi mà chẳng biết tỉnh ngộ, đến rồi đi rồi lại gặp lại trong vòng lưới ái, cuối cùng không ra khỏi.

Có người nói: “Bây giờ tôi chẳng muốn nhảy ra sông ái”. Thế bạn đợi khi nào nhảy ra đây? Bạn muốn ở lại trong tương lai sao? Bạn sống nơi này rồi chết, chết rồi lại sanh ra nơi khác, cứ thế, sanh rồi tử lẩn quẫn trong vòng luân hồi, sống chẳng ra sống, chết chẳng ra chết. Cho nên phải nhanh đi, nhanh nhảy đi, nhảy ra khỏi sông mê biển ái, nếu không nhảy qua thì chết chìm rồi! Thật chết chìm rồi! Người chết chìm sẽ như thế nào? Thì bị đọa lạc đến cùng cực, tánh linh mất rồi hoặc biến thành những loại côn trùng nhỏ, như sâu, giun, dế, …, trí huệ cạn cợt, phước báu không có. Loài súc sanh như thế rất dễ sống và rất dễ chết. Nên nói “sống chẳng ra sống, chết chẳng ra chết”.

Thế bạn rõ biết về thế giới Ta bà này, vạn sự vạn vật đều không nhất định, luôn chuyển biến liên tục. Nếu bạn nói thế giới này là cố định thì chuyện đó không đúng. Bởi vì thế giới này là vô thường không bền chắc. Do không hiểu điều này nên xưa nay ta không đến được thế giới Tây phương Cực lạc. Nay hiểu ra rồi thì ngay bây giờ chỉ cần bạn niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” thế là bạn và mọi người ai ai cũng đủ tư cách về thế giới Tây phương Cực lạc cả. Điều quan trọng là bạn niệm hay không niệm. Bạn niệm, dù hiện tại có khó khăn, chướng ngại bạn cũng quyết tâm làm cho được, thế là việc khó làm mà bạn làm được, ngay đó thế giới Tây phương sẽ rất gần với bạn. Nếu bạn không niệm thì sao? Thì chẳng đến được. Chỉ cần bạn nhất niệm thì là sanh rồi. Bạn không niệm, thì hợp với tử, thế là chẳng thành tựu được rồi. Nên biết các pháp ở thế gian này là không thật, là không cố định.

Kinh Kim Cang nói: “Không có định pháp gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề”. Đây là nói đến chỗ vô thượng chánh đẳng chánh giác. Chính ta phải phát đại tâm dõng mãnh, chẳng sợ khổ, sợ khó, mỏi mệt, đói khát, dõng mãnh hướng tới trước, nhanh về thế giới Tây phương Cực lạc mới thôi. Chúng ta niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” đây mới là chân thật. Chúng ta niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” mới giúp chúng ta liễu thoát sanh tử.

Trích từ tập sách “Quê Hương Cực Lạc”

của Hòa Thượng Tuyên Hóa

 

The post Niệm Phật tam muội appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/niem-phat-tam-muoi.html/feed 0
Lời dạy của đại sư Liên Trì https://bachhac.net/loi-day-cua-dai-su-lien-tri.html https://bachhac.net/loi-day-cua-dai-su-lien-tri.html#respond Fri, 18 Oct 2019 08:12:44 +0000 https://bachhac.net/?p=2419 Bảy mươi tuổi từ xưa đã hiếm, sống trăm năm có được mấy người! Nay trong lúc tuổi xế chiều đây chính là lúc buông bỏ hoài bão, thấy rõ thế gian hệt như một trường hý kịch, chẳng hề chơn thật. Chỉ còn một câu A Di Ðà Phật để đắp đổi tháng ngày, …

The post Lời dạy của đại sư Liên Trì appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
lời dạy của đại sư liên trì

Bảy mươi tuổi từ xưa đã hiếm, sống trăm năm có được mấy người! Nay trong lúc tuổi xế chiều đây chính là lúc buông bỏ hoài bão, thấy rõ thế gian hệt như một trường hý kịch, chẳng hề chơn thật.

Chỉ còn một câu A Di Ðà Phật để đắp đổi tháng ngày, chỉ lấy Tây Phương Cực Lạc thế giới làm quê nhà mình: Nay ta niệm Phật, mai sau sanh về Tây phương. Còn gì hay hơn, hãy nên vui mừng lớn lao, đừng sanh phiền não!

Đại sư Liên Trì

Tâm vốn vô niệm, hễ có niệm khởi lên là sai; nhưng chúng sanh từ vô thỉ đến nay quen thói vọng tưởng khó lòng thay đổi ngay được. Nay dạy họ niệm Phật chính là dùng độc trị độc, dùng quân dẹp quân.

Một pháp Niệm Phật lại có nhiều môn. Nay pháp Trì Danh đây là đường tắt nhất trong các đường tắt. Bởi vì đức Phật có vô lượng đức nên bốn chữ danh hiệu đã bao gồm trọn cả.

A Di Ðà chính là toàn thể nhất tâm, tâm bao gồm mọi đức: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, Bổn Giác, Thỉ Giác, Chơn Như, Phật Tánh, Bồ Ðề, Niết Bàn. Trăm ngàn vạn danh hiệu đều được chứa đựng bất tận trong một danh hiệu này.

Chúng sanh học Phật cũng có vô lượng hành pháp, nhưng một pháp Trì Danh đây đã bao gồm trọn tất cả vì Trì Danh chính là trì một tâm đây. Tâm đã gồm trăm hạnh, Tứ Ðế, Lục Ðộ cho đến tám vạn bốn ngàn hằng hà sa vi trần hết thảy pháp môn, bao gồm hết cả không còn sót gì!

Có nhiều cách trì danh:

1) Một là Minh Trì nghĩa là xưng niệm ra tiếng.

2) Hai là Mặc Trì nghĩa là niệm thầm không ra tiếng.

3) Ba là Bán Minh Bán Mặc Trì nghĩa là chỉ khẽ động môi lưỡi để niệm. Cách này được những người tụng chú gọi là Kim Cang Trì.

Lại còn có cách niệm ghi số hoặc niệm chẳng ghi số, tùy ý dùng cách nào cũng được!

Cách trì niệm nào cũng chia ra làm Sự và Lý: Ức niệm chẳng gián đoạn thì gọi là Sự Trì; thể cứu đến cùng tột chẳng hề gián đoạn thì gọi là Lý Trì.

“Ức niệm” là nghe nói đến danh hiệu Phật thì luôn nhớ tới, luôn nghĩ tới, tâm duyên theo từng chữ rõ ràng; câu trước, câu sau liên tiếp chẳng gián đoạn. Ði, đứng, nằm, ngồi chỉ có mỗi một niệm này, không có niệm thứ hai; chẳng bị tạp loạn bởi các niệm tham, sân, si phiền não đúng như kinh Thành Cụ Quang Minh Ðịnh Ý dạy:

“Nhất tâm nơi vắng vẻ, tịch mịch; nhất tâm giữa các phiền não; cho đến giữa những cảnh khen, chê, lợi, tổn, thiện, ác v.v… đều nhất tâm”.

Do mặt Sự đã đạt, nhưng chưa thấu triệt mặt Lý, chỉ đạt được Tín lực, chưa thấy Ðạo nên gọi là Sự Nhất Tâm.

“Thể cứu” là nghe danh hiệu Phật thì không những chỉ ức niệm mà còn trở lại quán sát ngay cái niệm ấy, suy lường, thẩm định tìm tòi đến tận cùng cội rễ. Thể cứu đến cùng tột thì đột nhiên sẽ khế hợp bổn tâm. Trong đây lại gồm có hai loại:

a. Một là “như – trí bất nhị”:

– Ngoài cái tâm năng niệm chẳng hề có đức Phật để mình niệm. Ðấy là ngoài Trí chẳng có Như.

– Ngoài đức Phật được niệm chẳng hề có cái tâm năng niệm để niệm Phật. Ðó là ngoài Như không có Trí nên chỉ có nhất tâm.

b. Hai là Tịch Chiếu Nan Tư:

Nếu bảo là Có thì bản thể của cái tâm năng niệm tự nó là Không, trọn chẳng thể có được đức Phật được niệm.

Nếu bảo là Không thì cái tâm năng niệm vằng vặc chẳng mờ mịt, đức Phật được niệm đành rành phân minh.

Nếu bảo là “chẳng có chẳng không” thì cả hữu niệm lẫn vô niệm đều mất.

Nếu bảo là “chẳng phải có chẳng phải không” thì hữu niệm lẫn vô niệm cùng tồn tại.

“Chẳng phải có” là thường tịch; chẳng phải không là thường chiếu. “Chẳng có chẳng không” và “chẳng phải có chẳng phải không” là chẳng tịch, chẳng chiếu nhưng vừa chiếu, vừa tịch.

Không cách gì để diễn tả, suy lường được, chẳng thể gọi tên được nên chỉ có Nhất Tâm.

Ðó chính là Năng lẫn Sở đều tiêu, kiến giải Hữu lẫn Vô cùng mất. Thể vốn sẵn thanh tịnh thì còn có pháp gì tạp loạn được nó.

Do vì thấy một cách đúng đắn như thế nên gọi là Lý Nhất Tâm.

Nhưng, Sự nương theo Lý mà khởi, Lý được tỏ bày bởi Sự; Sự và Lý hỗ trợ nhau, chẳng thể phế bỏ một bên nào.

Dẫu chấp Sự nhưng niệm đến mức liên tục thì vẫn chẳng mất phần dự vào các phẩm vị; còn nếu chấp Lý nhưng tâm chưa minh thật sự thì sẽ biến thành cái họa lạc vào Không kiến.

Niệm Phật to tiếng dễ mất sức, niệm thầm dễ bị hôn trầm. Chỉ cốt niệm miên miên mật mật, tiếng niệm đọng nơi răng, môi, tức là Kim Cang trì. Nhưng lại chẳng nên chấp chặt. Nếu biết mình đã mệt thì niệm thầm cũng chẳng trở ngại gì. Nếu biết mình hôn trầm thì chẳng ngại gì niệm lớn tiếng.

Hiện tại, người niệm Phật chỉ là liên tay khua mõ, miệng ong óng gào theo cho nên chẳng được lợi ích gì. Cần phải niệm sao cho từng câu thoát ra khỏi miệng vọng vào tai, từng tiếng đánh thức tự tâm ví như người đang ngủ mê mệt, có ai gọi lớn tên lên thì kẻ đó sẽ thức giấc.

Bởi vậy, điều quan trọng nhất trong việc niệm Phật là nhiếp tâm.

Tạp niệm là bịnh, niệm Phật là thuốc. Niệm Phật chính là để trị tạp niệm, nếu chẳng trị nổi tạp niệm là do niệm Phật chẳng tha thiết. Lúc tạp niệm khởi lên liền dốc sức ra công; mỗi chữ, mỗi câu tinh nhất chẳng xen tạp thì tạp niệm tự dứt.

Trong mỗi niệm luôn niệm Phật không có tạp niệm thì gọi là Nhất Tâm. Nhất tâm niệm Phật mà còn nhất tâm tu các pháp môn khác thì là Nhị Tâm!

Không tạp niệm mới chỉ là Sự Nhất Tâm nay mình còn làm chưa được huống hồ là Lý Nhất Tâm? Vì vậy, niệm Phật phải giữ chí đừng để nhị tâm, đừng vì lẽ tam muội khó thành bèn vội đổi sang tu các hạnh khác!

Kẻ mới học sanh sau vừa mới lấy câu niệm Phật đặt nơi tâm thì vọng tưởng, suy nghĩ nổi lên tơi bời, đè lấp cả cái giác bèn cho rằng công phu niệm Phật chẳng thể nhiếp tâm nổi, chẳng hề biết rằng mình làm sao đoạn ngay nổi nguyên do sanh tử từ vô lượng kiếp đến nay cho được?

Ngay trong lúc vạn niệm vần vũ chính là lúc để ra sức công phu [mặc cho] định tâm, tán tâm nhoang nhoáng. Lâu ngày công phu thuần thục, tự nhiên vọng niệm chẳng khởi.

Các ông coi những vọng niệm mình nhận biết được đó là nặng cho nên bèn lơ là câu niệm Phật này. Còn như lúc chẳng niệm Phật, vọng niệm bồng bột tơi bời chẳng ngưng nghỉ trong một sát na nào hết thì các ông làm sao biết được?

Cổ nhân dạy thân cận minh sư, cầu thiện tri thức, nhưng thật ra thiện tri thức chẳng thể dùng miệng truyền tâm, trao pháp môn bí mật được, họ chỉ giúp người khác gỡ niêm cởi trói. Ðấy chính là “bí mật”!

Nay chỉ tám chữ “chấp trì danh hiệu, nhất tâm bất loạn” chính là pháp môn bí mật để gỡ niêm cởi trói, là đường lớn thênh thênh để thoát sanh tử.

Sáng niệm, chiều niệm, đi niệm, ngồi niệm, niệm niệm liên tục tự thành tam muội, chứ đừng có cầu cái gì khác nữa!

Tâm vốn chẳng sanh do duyên hợp mà sanh. Tâm vốn chẳng chết, do duyên tan lìa nên chết. Tựa hồ có sanh tử, nhưng vốn chẳng đến đi. Lãnh hội được điều này thì sanh thuận, tử an, thường tịch, thường chiếu.

Nếu như chưa làm được như thế thì nên buông bỏ toàn thân, khăng khăng trì một câu A Di Ðà Phật cầu sanh Tịnh Ðộ. Giả sử các duyên chưa hết, thọ mạng chưa dứt thì càng phải nên niệm Phật, sẽ có lợi ích lớn. Cổ đức bảo: “Pháp môn Niệm Phật là thuật trường sanh của đấng Kim Tiên”. (1)

Sanh tử chẳng lìa nhất niệm, thậm chí vạn hạnh dù thế gian hay xuất thế gian đều chẳng lìa khỏi một niệm. Nay dùng cái niệm ấy để niệm Phật thì sẽ thiết tha, gần gũi, tinh chuyên, chơn thật xiết bao? Nếu truy xét chỗ bắt nguồn của cái niệm ấy thì nó chính là tự tánh Di Ðà, chính là ý sang Tây của Tổ Sư.

Dù cho chẳng ngộ được, cứ nương theo nguyện lực vãng sanh Cực Lạc, cắt ngang sanh tử, chẳng thọ luân hồi thì rốt cục sẽ đại ngộ!

Xin hãy buông bỏ vạn duyên, trong mười hai thời, niệm niệm khăng khăng thì đấy chính là điều tôi rất mong mỏi.

Bảy mươi tuổi từ xưa đã hiếm, sống trăm năm có được mấy người! Nay trong lúc tuổi xế chiều đây chính là lúc buông bỏ hoài bão, thấy rõ thế gian hệt như một trường hý kịch, chẳng hề chơn thật. Chỉ còn một câu A Di Ðà Phật để đắp đổi tháng ngày, chỉ lấy Tây Phương Cực Lạc thế giới làm quê nhà mình: nay ta niệm Phật, mai sau sanh về Tây phương. Còn gì hay hơn, hãy nên vui mừng lớn lao, đừng sanh phiền não!

Giả sử gặp phải chuyện chẳng như ý hãy liền xoay chuyển ý niệm, gấp rút đề cao câu niệm Phật này, hồi quang phản chiếu: ta là người sống trong thế giới của Phật A Di Ðà lẽ nào còn thấy biết như người trong thế gian mà nóng giận, vui vẻ; chỉ nhất tâm niệm Phật.

Ðấy chính là pháp môn đại an lạc, đại giải thoát của những người trí huệ.

Nguyên do của bịnh tật phần nhiều là do sát sanh; bởi thế, ta nên thiên trọng phóng sanh. Bên ngoài càng thêm sám, trong tâm tự hối, công đức rất nhiều.

Xin hãy để tâm trống trải, quét sạch hết thảy các duyên. Trong cái tâm rỗng rang đó chỉ niệm một câu A Di Ðà Phật.

Nói niệm Phật đó thì bất tất phải nhếch mép, động lưỡi; chỉ lặng lẽ dùng tâm nhãn phản chiếu từng chữ phân minh, từng câu tiếp nối từ sáng đến tối, từ tối đến sáng, tâm tâm chẳng hề gián đoạn.

Nếu có đau khổ thì cứ nhẫn nại, nhất tâm nghĩ đến câu niệm. Kinh dạy: “Chí tâm niệm Phật một tiếng diệt được trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử”; bởi thế, công đức niệm Phật rất lớn lao vậy.

Kẻ học Phật chẳng cần phải trang nghiêm hình dáng, chỉ quý tu hành chơn thật:

Hàng tại gia cư sĩ chẳng cần phải áo sồng, khăn đạo.

Người còn để tóc có thể mặc thường phục niệm Phật, chẳng nhất thiết phải gõ mõ, đánh trống.

Người thích yên tịnh có thể tự lặng lẽ niệm Phật, chẳng nhất thiết phải quây quần lập hội.

Người ngại việc cứ tự đóng cửa niệm Phật, chẳng cần phải vào chùa nghe kinh.

Người biết chữ có thể tự tuân theo giáo pháp niệm Phật.

Ngàn dặm thiêu hương chẳng bằng ngồi yên trong nhà niệm Phật.

Cung phụng thầy tà chẳng bằng hiếu thuận mẹ cha niệm Phật.

Giao du rộng rãi với bè bạn ma chẳng bằng một thân thanh tịnh niệm Phật.

Gởi tiền kho kiếp sau chẳng bằng hiện đời làm phước niệm Phật.

Van vái, cầu đảo chẳng bằng hối lỗi sửa mình niệm Phật.

Tu học theo kinh sách ngoại đạo chẳng bằng một chữ không biết nhưng niệm Phật.

Vô tri bàn xằng lẽ Thiền chẳng bằng ròng chắc, già dặn trì giới, niệm Phật.

Mong cầu yêu mỵ linh ứng chẳng bằng chánh tín nhân quả niệm Phật.

Nói tóm lại, đoan chánh tấm lòng, diệt ác thì người niệm Phật như thế gọi là thiện nhân. Nhiếp tâm trừ bỏ tán loạn thì người niệm Phật như thế gọi là hiền nhân. Ngộ tâm đoạn hoặc thì người niệm Phật như thế gọi là thánh nhân.

Khuyên người cực nhàn hạ hãy niệm Phật: cưới gả đã xong, con cháu đã yên bề gia thất, an nhàn vô sự; đây đúng là lúc nên tận tâm, tận lực mỗi ngày niệm mấy ngàn câu cho đến cả vạn câu.

Khuyên người lúc bận lúc rảnh hãy niệm Phật: xong việc một nửa hay chưa xong, dù bận hay rảnh, tuy chưa cực nhàn, vẫn có thể lúc bận thì lo lắng công việc, lúc rảnh bèn niệm Phật. Mỗi ngày niệm mấy trăm câu, cho đến mấy ngàn câu.

Khuyên người bận rộn cùng cực hãy niệm Phật: siêng lo việc nước, bôn ba gia nghiệp, dẫu chẳng có lúc thảnh thơi, nhưng cần phải dành lấy rảnh rang trong khi bận rộn để niệm Phật. Mỗi ngày sáng sớm hành Thập Niệm cho đến niệm mấy trăm câu trong cả ngày.

Pháp môn Niệm Phật bất luận nam, nữ, Tăng, tục, quý, hèn, hiền, ngu, không có một ai là chẳng niệm Phật được!

Nếu là người phú quý, của cải dư dả thì đúng là phải niệm Phật.

Nếu là kẻ bần cùng, nhà hẹp, của ít thì càng phải nên niệm Phật.

Nếu là người có con cháu, việc cúng bái tổ tiên đã có chỗ nhờ cậy thì rất nên niệm Phật.

Nếu là người không con, trơ trọi một thân tự do thì càng phải nên niệm Phật.

Nếu ai có con hiếu thuận, yên hưởng con cái phụng dưỡng thì rất nên niệm Phật.

Nếu ai có con ngỗ nghịch, chẳng sanh lòng yêu thương thì thật đúng là phải niệm Phật.

Nếu ai vô bịnh, thân thể khỏe mạnh thì càng phải nên niệm Phật.

Nếu ai có bịnh, rất gần cơn vô thường thì càng phải nên niệm Phật.

Nếu ai già cả, tháng ngày chẳng còn mấy thì càng phải nên niệm Phật.

Nếu ai tuổi trẻ tinh thần sáng suốt thì thật là rất tốt để niệm Phật.

Nếu ai an nhàn, tâm không bị sự gì khuấy động thì thật đúng là nên niệm Phật.

Nếu là người bận rộn, được đôi lúc nhàn giữa khi bận rộn thì càng phải nên niệm Phật.

Nếu là người xuất gia, tiêu dao ngoài cõi đời thì càng phải nên niệm Phật.

Nếu là kẻ tại gia biết cõi đời đúng là nhà lửa thì càng phải nên niệm Phật.

Nếu ai thông minh, thông hiểu Tịnh Ðộ thì rất nên niệm Phật.

Nếu là kẻ ngu si, thô lỗ, không làm gì khác nổi thì thật đúng là nên niệm Phật.

Nếu ai trì luật mà Luật lại do Phật chế ra; vì thế, rất nên niệm Phật.

Nếu ai đọc kinh thì kinh là do Phật dạy, càng phải nên niệm Phật.

Nếu ai tham thiền, do Thiền là tâm Phật nên càng phải nên niệm Phật.

Nếu ai ngộ đạo thì ngộ cần phải được Phật chứng cho nên càng phải niệm Phật.

Khuyên khắp mọi người hãy cấp bách niệm Phật. Chín phẩm vãng sanh, hoa nở thấy Phật, gặp Phật nghe Pháp, rốt ráo thành Phật mới biết rằng tâm vốn dĩ là Phật.

Chỉ cần niệm Phật, tôn xưng đã thành quy kính. Sáu chữ, bốn chữ thật chẳng sai khác gì. Có điều là do pháp truyền lâu ngày hóa tệ, biến thành lê thê: khua chiêng, thúc trống, như xướng, như ca, thổn thức, rên siết như gào, như quát; thiên nhĩ nghe thấy chẳng buồn bã hay sao?

Nhưng dù là xưng danh một cách hoan hỷ hay nóng nảy cũng vẫn gieo trồng nhân lành, quả báo tương lai chẳng thể nghĩ bàn. Kẻ phàm tình mê muội chứ người trí thì biết rõ!

Chú thích:

(1) Kim Tiên: một danh từ người Trung Hoa dùng để gọi Phật. Vì Phật thân sắc vàng ròng (tử kim thân) nên họ Phật là Kim Tiên. Một danh xưng khác cũng thường dùng để chỉ Phật là Hoàng Diện Công (ông mặt vàng).

Trích yếu sách Vân Thê Pháp Vựng
của đại sư Liên Trì Chu Hoằng đời Minh

The post Lời dạy của đại sư Liên Trì appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/loi-day-cua-dai-su-lien-tri.html/feed 0
Kim Chỉ Nam Trên Con Đường Tu Tịnh Độ https://bachhac.net/kim-chi-nam-tren-con-duong-tu-tinh-do.html https://bachhac.net/kim-chi-nam-tren-con-duong-tu-tinh-do.html#respond Fri, 18 Oct 2019 08:07:36 +0000 https://bachhac.net/?p=2416 1. NIỆM NIỆM tương tục (không gián đoạn) là như thế này: Thí dụ như có người ở nơi đồng vắng bị giặc cướp cầm gươm rượt theo muốn giết (dụ cho sanh tử, vô thường, không tha mạng sống). Người đó sợ hải quá, cắm đầu chạy riết, đến chỗ gặp một con sông …

The post Kim Chỉ Nam Trên Con Đường Tu Tịnh Độ appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
kim chỉ nan trên con đường tịnh độ

1. NIỆM NIỆM tương tục (không gián đoạn) là như thế này:

Thí dụ như có người ở nơi đồng vắng bị giặc cướp cầm gươm rượt theo muốn giết (dụ cho sanh tử, vô thường, không tha mạng sống).

Người đó sợ hải quá, cắm đầu chạy riết, đến chỗ gặp một con sông chắn ngang qua (con sông sanh tử. Bờ bên này là sanh tử ngạn, bờ bên kia là giải thoát ngạn).

Người ấy vừa chạy trốn vừa thoáng nghĩ trong đầu rằng:

Nếu ta lội qua khỏi được con sông này, đến BỜ BÊN KIA thì mới mong bảo toàn thân mạng. Nhưng để y phục mà lội hay là cởi bỏ ?

Nếu để y phục mà lội sợ e vướng mắc, lúng túng tay chân khó bơi. Còn cởi bỏ thì không kịp nữa rồi, vì giặc cướp đã rượt tới sau lưng (đây là dụ cho cái chết đã gần kề không còn xa nữa).

Bấy giờ người ấy chỉ còn có một NIỆM DUY NHẤT là làm sao cho qua sông được thì thôi chớ không còn có ý nghĩa chi khác…

Thì người NIỆM PHẬT chúng ta đây cũng y như vậy, nghĩa là:

Chỉ chuyên tâm tha thiết niệm,

Ðừng nghĩ ngợi điều chi khác cả (tức là dứt hết mọi tạp tưởng).

Câu NIỆM PHẬT này vừa DỨT thì câu NIỆM PHẬT khác TIẾP NỐI theo liền (đừng có để phí thời giờ).

NIỆM NIỆM nối nhau liên tục như vậy cho đến MƯỜI NIỆM.

Ðây gọi là “THẬP NIỆM tương tục” (Tức là 10 niệm nối nhau không dứt).

(ÐÀM LOAN PHÁP SƯ dạy).

2. Ðức PHẬT (Thích Ca và A DI ÐÀ) xót thương, khuyên TA nên chuyên xưng danh hiệu A DI ÐÀ Phật.

Bởi vì phép niệm “Xưng danh hiệu A DI ÐÀ PHẬT” này rất dễ, nếu có thể giữ mãi mỗi niệm nối nhau như thế, lấy suốt cả đời mình để làm hạn định, thì:

Mười người tu, mười người vãng sanh.

Trăm (ngàn) người tu, trăm (ngàn) người vãng sanh.

Tại sao vậy?

Bởi vì:

Không có duyên tạp (Không có suy nghĩ điều chi khác hết) nên được CHÁNH NIỆM.

Hạp với bản nguyện của Phật A DI ÐÀ (Ðại nguyện thứ 18, 19, 20).

Vì không trái với lời kinh (kinh vô lượng Thọ, kinh Thập lục Quán, kinh Phật thuyết A DI ÐÀ v.v…).

Vì thuận theo lời PHẬT dạy, cho nên dễ vãng sanh.

(Liên Tông nhị Tổ – Thiên Ðạo Ðại Sư dạy).

3. Chí tâm niệm PHẬT nghĩa là: Ý nghiệp làm lành.

Xưng danh hiệu PHẬT nghĩa là: KHẨU nghiệp làm lành.

Chấp tay, cúi mình lạy PHẬT nghĩa là: THÂN nghiệp làm lành.

Nếu giữ ba nghiệp THÂN, KHẨU, Ý làm lành như vậy trọn đời, thì một câu niệm PHẬT có thể diệt được tội nặng trong 80 ức kiếp sanh tử.

(HOÀI CẢM ÐẠI SƯ dạy).

4. Lúc lễ bái, niệm PHẬT và phát nguyện phải:

– Khẩn thiết, chí thành.

– Không xen lẫn tạp tưởng.

– Như người sắp sửa bị giết mà cầu được tha.

– Như người bị giặc cướp rượt đuổi .. mà muốn được thoát.

– Như bị nước trôi, lửa cháy, một lòng mong được cứu nạn.

Niệm Phật phải khẩn cấp và chí thành như thế thì mới thành tựu được công phu.

Tóm lại nếu:

Nói một đường, làm một nẻo (Tức là miệng thì nói niệm PHẬT mà lòng không chịu niệm).

– Lời nói và hành động chẳng giống nhau.

– Lòng TIN (nơi Tịnh Ðộ pháp môn) không vững chắc.

– Nay thì niệm, mai mốt lại bỏ bê, biếng trễ vv…

– Niệm như thế ắt khó được vãng sanh.

(Liên Tông Lục Tỗ Vĩnh Minh đại sư dạy).

5. Người tu pháp NIỆM PHẬT, dù cho đang khi làm công việc nặng nhọc chi, song TRONG TÂM LÚC NÀO CŨNG KHÔNG QUÊN CÂU NIỆM PHẬT…

Giả sử như lỡ có quên thì phải cảnh tỉnh ngay lập tức và nhiếp tâm niệm trở lại… Tập như thế lâu ngày thành quen…Ðến khi gần lâm chung thì dù cho thân có bị bịnh khổ dày vò, đau đớn, nhưng tâm vẫn KHÔNG QUÊN câu niệm PHẬT…

Khi vừa tắt thở thì thần thức liền nương theo câu niệm PHẬT ấy mà đi, quyết định sẽ được vãng sanh về nơi CỰC LẠC…

(Tuân Thức đại sư dạy).

6. a. Người tu Tịnh độ muốn được vãng sanh thì việc CHÁNH YẾU là phải CHUYÊN TÂM NIỆM PHẬT… còn phần phụ thì phải dứt trừ điều ác, làm những hạnh lành …

Ðem các công đức ấy mà hồi hướng và nguyện sanh về chốn Tây Phương, ắt sẽ được mau thành tựu, như thuyền đi xuôi gió, lại còn thêm được thuận dòng (nước) vậy.

b. Sớm tối chuyên tâm lễ PHẬT như người (làm quan) đi chầu vua không dám sơ sót. Còn như người niệm PHẬT thì phải:

– Miệng niệm PHẬT, tâm phải tưởng PHẬT.

– Tâm và miệng đều hợp nhau,

– Phát lòng chí thành, trân trọng.

– Tin chắc (nơi lời Phật dạy về pháp môn Tịnh độ) đừng có nghi ngờ.

– Mỗi ngày đều phải siêng năng chớ đừng nên biếng trễ.

Thì chắc chắn là sẽ thành tựu được môn NIỆM PHẬT Tam muội. Chừng đó lo gì không được vãng sanh.

(Từ Chiếu đại sư dạy).

7. a. Người niệm PHẬT phải nên:

Giữ một câu Nam mô A DI ÐÀ PHẬT như dựa vào núi Tu di, lay chuyển chẳng động (Tức là dù cho có ai bài bác, phá hoại thế mấy đi nữa quyết cũng chẳng nghe). Thường nhớ, thường niệm. Sáng cũng niệm, tối cũng niệm, đi cũng niệm, ngồi cũng niệm…

Tâm niệm PHẬT chẳng bỏ qua, câu niệm PHẬT chẳng rời lòng.

Mỗi giờ, mỗi khác, cũng nhớ niệm, niệm hoài không bỏ lỡ, giống như gà ấp trứng phải thường cho hơi ấm tiếp tục thì trứng mới nở con. Còn niệm Phật hoài mà không bỏ qua thời giờ gọi là “Tịnh niệm tương tục” ắt bông sen của mình sẽ mau nở vậy.

b. Chuyên lòng xưng danh hiệu PHẬT, nhứt tâm, nhứt ý nắm giữ một câu A DI ÐÀ PHẬT.

Bởi vì:

– Chỉ một NIỆM này tức là PHẬT A DI ÐÀ.

– Chỉ một NIỆM này là viên mãnh tướng (tướng mạnh) phá địa ngục.

– Chỉ một NIỆM này là thanh gươm báu chém bầy ma, tà.

– Chỉ một NIỆM này là ngọn đuốc sáng phá cảnh tối tăm (Vô minh).

– Chỉ một NIỆM này là con thuyền to vượt qua biển khổ.

– Chỉ một NIỆM này là thuốc hay trị dứt bệnh sanh tử.

– Chỉ một NIỆM này là đường tắt mau ra khỏi tam giới.

– Chỉ một NIỆM này là tự tánh DI ÐÀ.

– Chỉ một NIỆM này là duy tâm Tịnh độ.

Giữ chắc một câu NIỆM: Nam mô A DI ÐÀ PHẬT này đừng cho quên mất…

– Có việc cũng niệm như vậy.

– Không việc cũng niệm như vậy.

– Có bệnh cũng niệm như vậy.

– Không bệnh cũng niệm như vậy.

– An vui cũng niệm như vậy.

– Buồn khổ cũng niệm như vậy.

– Sống cũng niệm như vậy.

– Chết cũng niệm như vậy.

cứ NIỆM NHƯ VẬY mãi thì cần chi phải hỏi ở nơi người khác để tìm ra đúng đường về ư ?

(Ưu Ðàm đại sư dạy).

8. Kinh “Ðại Tập Nguyệt Tạng” dạy:

Niệm Phật lớn tiếng có 10 công đức là:

1. Ðánh tan cái tâm hôn trầm, mê ngủ.
2. Thiên ma kinh sợ.
3. Tiếng vang xa khắp 10 phương.
4. Ba đường ác được nhờ vào đó mà dứt khổ.
5. Tiếng động chung quanh không xâm nhập vào làm loạn thâm mình được.
6. Niệm tâm không tán loạn.
7. Mạnh mẽ tinh tấn.
8. Chư PHẬT vui mừng.
9. Tam muội hiện tiền.
10. Ðược vãng sanh Cực lạc.

9. Nên biết pháp môn TỊNH ÐỘ này chẳng cần lựa chọn kẻ trí, ngu, sang, hèn, nghèo, giàu.

Cũng chẳng cần phân biệt kẻ nam, nữ, già, trẻ, tăng, tục.

Chẳng luận kẻ mới tu hay tu lâu.

Tất cả đều có thể niệm PHẬT được.

Hoặc niệm lớn, hoặc niệm nhỏ, niệm ra tiếng, niệm thầm, vừa lạy vừa niệm, nghiên cứu mà niệm, nhiếp tâm mà niệm, quán tưởng mà niệm, lần chuỗi mà niệm, vv…

Giữ câu NAM MÔ A DI ÐÀ PHẬT liên tục không dứt như dòng nước chảy mà niệm, cho đến đi cũng niệm, đứng cũng niệm, ngồi cũng niệm, nằm cũng niệm, ngàn muôn niệm (đời lộn xộn) đều gom về nơi một câu NAM MÔ A DI ÐÀ PHẬT như thế…

Niệm theo cách nào cũng được, điều cốt yếu là giữ cho lâu bền đừng lui sụt (đây tức là HẠNH đó), phát lòng TIN quyết định đừng cho bị lay chuyển (đây tức là TÍN đó).

Nếu quả thật hành trì câu niệm PHẬT được đúng như thế, thì cần chi tìm bậc tri thức để hỏi đường (nào về Cực lạc) ư!

(Tông Bổn đại sư dạy).

10. a. Niệm Phật có:

+ Niệm thầm (tiếng nhỏ).

+ Niệm ra tiếng (lớn).

+ Niệm không ra tiếng (mặc niệm).

+ Niệm Kim cang trì (se sẽ động môi, lưỡi mà niệm).

Niệm thầm thì dễ bị hôn trầm.

Niệm lớn tiếng thì bị mau mệt. (hao hơi)

Duy chỉ có cách niệm “KIM CANG TRÌ” là có thể bền lâu.

Tuy nhiên cũng không nhứt định, nếu như thấy cần thiết thì có thể thay qua, đổi lại cũng không sao.

b. Tâm hôn trầm, tán loạn đã có lâu kiếp nhiều đời rồi, ắt nhiên không thể nào trong một lúc mà an định được. Cho nên người niệm PHẬT nếu thấy tâm không được thanh tịnh cũng đừng có lo ngại chi. Chỉ cần khi niệm PHẬT, mỗi chữ, mỗi câu, đều do từ nơi TÂM mà phát ra, dụng công phu như vậy lâu ngày, sẽ có hiệu quả.

c. Tạp niệm là bịnh, niệm PHẬT là thuốc.

Niệm PHẬT chính là hành môn để trị tạp niệm đó.

Nếu niệm PHẬT mà không thấy hiệu quả, đó là tại mình dụng công chưa được chơn thành và tha thiết.

Cho nên mỗi khi tạp niệm nổi lên, phải chuyên tâm, cố gắng trì niệm, mỗi chữ, mỗi câu phải rành rẽ, rõ ràng. Thì tạp niệm tự nhiên được dứt trừ.

d. Người học PHẬT, niệm PHẬT đừng quá nên chạy theo hình thức bên ngoài, chỉ quý là ở nơi CHÂN THẬT TU HÀNH.

Hàng cư sĩ Phật tử tại gia không cần phải cạo tóc, mặc áo đà làm chi. Tự có thể để tóc, mặc áo trang (lam) mà niệm Phật cũng được.

Người thích thanh vắng, không cần phải đánh chông mõ. Tự có thể yên lặng mà niệm PHẬT cũng được.

Người sợ công việc phiền phức, không cần phải kết bè, lập hội làm chi. Tự mình có thể đóng cửa mà niệm PHẬT.

Người biết chữ, nếu có thật tâm quyết tu, không nhứt định và bắt buộc phải vào chùa nghe kinh. Tự có thể xem kinh, y theo lời dạy trong ấy mà niệm PHẬT.

Trải qua ngàn dặm xa xôi hành hương không bằng hiếu thuận với cha mẹ mà niệm PHẬT.

Giao du với bạn bè kém đạo đức, không bằng kẻ dốt nát mà chuyên tâm niệm PHẬT.

Hạnh thấp mà vọng nói đạo lý cao siêu, không bằng kẻ thiệt thà, chất phát mà niệm PHẬT.

Tánh ưa thích sự háo kỳ, ham cầu sự lịnh thiêng của thần thánh, ma quỷ, không bằng chánh tâm tin nơi lý nhơn quả mà niệm PHẬT.

Tóm lại:

a. Người niệm PHẬT:

+ Giữ lòng ngay.

+ Dứt hạnh ác.

Ðây gọi là THIỆN NHƠN.

b. Người niệm PHẬT.

+ Nhiếp tâm trừ tán loạn.

Ðây gọi là HIỀN NHƠN.

c. Người niệm PHẬT.

+ Tỏ rõ tâm tánh.

+ Dứt được hoặc nghiệp.

Ðây gọi là THÁNH NHƠN.

(Liên Tông Bát tổ LIÊN TRÌ đại sư dạy).

11. a. Pháp môn niệm PHẬT không có chi là kỳ lạ cả.

Chỉ cần: TIN SÂU, NGUYỆN THIẾT và CỐ GẮNG THẬT HÀNH mà thôi.

Ðiều cần yếu là phải:

+ TIN cho thấu đáo.

+ GIỮ cho bền lâu.

+ MỘT LÒNG chuyên niệm.

Mỗi một ngày đêm niệm hoặc là 30 ngàn câu, 50 ngàn câu, 100 ngàn câu niệm PHẬT, nhứt định không để cho thiếu.

Nếu giữ được như thế trọn đời mà không được vãng sanh thì chư Phật ba đời thành ra vọng ngữ.

(Nhứt định là không có lẽ đó).

b. Người chơn thật niệm PHẬT:

– Buông bỏ cả thân, tâm, ấy là ÐẠI BỐ THÍ.

– Không khởi tâm Tham, Sân, Si, ấy là ÐẠI TRÌ GIỚI.

– Không cải cọ, phải quấy, hơn thua, ấy là ÐẠI NHẪN NHỤC.’

– Không gián đoạn, xen tạp, ấy là ÐẠI TINH TẤN.

– Không để cho vọng tưởng buông lung, ấy là ÐẠI THIỀN ÐỊNH.

– Không bị các đường lối tu khác làm cho mê hoặc, ấy là ÐẠI TRÍ HUỆ.

Trái lại, nếu chẳng như thế thì không được gọi là CHƠN THẬT NIỆM PHẬT.

c. Niệm PHẬT có SỰ TRÌ và LÝ TRÌ:

1. SỰ TRÌ là TIN có Phật A DI ÐÀ ở phương Tây, có thế giới Cực lạc, có 9 phẩm sen vàng… quyết chí niệm PHẬT, cầu được sanh về nên niệm PHẬT hoài, thiết tha như con nhớ mẹ không lúc nào quên.

2. LÝ TRÌ là tin Phật A DI ÐÀ, cõi Tây Phương, 9 phẩm sen vàng… trong tâm mình đều có đủ hết, do tâm mình tạo ra hết cả.

Rồi đem câu Nam mô A DI ÐÀ PHẬT ấy, tạo thành ra cái CẢNH để buộc chặc Tâm mình vào đó, khiến cho không lúc nào quên.

(Liên Tông Cửu Tổ NGẪU ÍCH đại sư dạy).

12. a. Một chữ NGUYỆN bao gồm cả TÍN và HẠNH.

TÍN là tin nơi TỰ, THA, NHÂN, QUẢ, SỰ và LÝ.

Tin TỰ là tin tất cả đều do tâm mình tạo, nên nếu mình niệm PHẬT ắt sẽ được PHẬT tiếp dẫn.

Tin THA là tin Phật THÍCH CA không nói dối, Phật A DI ÐÀ chẳng bao giờ nguyện suông.

Tin NHÂN là tin niệm PHẬT đó chính là gieo nhân vãng sanh, giải thoát.

Tin QUẢ là tin sự vãng sanh, thành Phật là kết quả.

Tin SỰ là tin cõi Tây Phương và tất cả sự tướng nơi nước Cực Lạc mà Phật thuyết ra trong kinh thảy đều có thật (cũng như cõi Ta bà này có thật vậy).

Tin LÝ là tin “lý tánh duy tâm”, tức là TÂM của mình bao trùm hết tất cả các thế giới khắp 10 phương.

b. HẠNH là thực hành, là chuyên trì danh hiệu (A DI ÐÀ PHẬT) không xen tạp và không tán loạn (suốt cả đời mình).

c. NGUYỆN là mỗi tâm của mình (khởi ra) đều có lòng ưa thích (cõi Cực Lạc), mỗi niệm của mình (khởi ra) đều có ý mong cầu (được sanh về).

Trong 3 điều TÍN, HẠNH, NGUYỆN này, người tu Tịnh độ cần phải hội đủ, quyết định không thể thiếu được một điều nào cả.

NGUYỆN là điều cần yếu nhất.

Có thể có TÍN, HẠNH mà không có NGUYỆN.

Chớ chưa từng thấy có việc: có NGUYỆN mà không có TÍN, HẠNH bao giờ cả. (Cho nên nói chữ NGUYỆN bao gồm cả TÍN và HẠNH chính là như vậy).

d. Niệm PHẬT mà không phát tâm “BỒ ÐỀ” thì không tương ưng (không hợp) với bổn nguyện của Phật A DI ÐÀ, sẽ không được vãng sanh.

(Tâm Bồ Ðề là tâm: Lợi mình, lợi người, trên cầu thành Phật quả, dưới nguyện độ chúng sanh).

Còn nếu như vẫn có phát tâm Bồ Ðề mà không chịu niệm PHẬT (thì) cũng không được vãng sanh nữa.

Vì vậy nên phải:

Lấy sự phát tâm Bồ đề làm CHÁNH nhơn.

Niệm PHẬT làm TRỢ (duyên) nhơn.

Sau đó rồi mới phát nguyện cầu sanh Cực lạc.

Người Phật tử tu Tịnh độ cần phải biết rõ các điều này.

(Liên Tông thập nhứt Tổ – TĨNH AM đại sư dạy).

13. Ðại sư dạy:

a. Thiệt vì sanh tử,

Phát lòng Bồ đề.

Lấy TÍN, NGUYỆN sâu,

Trì danh niệm PHẬT.

16 chữ này là tông yếu (Quan trọng bực nhất) của pháp môn Tịnh độ…

(Bởi tất cả sự khổ trong đời này không gì hơn việc sống, chết. Cho nên nếu tu hành, niệm Phật, mà không cầu để thoát vòng sanh tử là một điều sai lầm rất lớn).

Nhưng đã phát ÐẠI TÂM (Bồ đề tâm) rồi thì phải tu ÐẠI HẠNH. Mà trong các hành môn tu, thì phương pháp dễ dụng công, mau thành tựu, rất yên ổn, rất viên đốn (đầy đủ) thì không có môn tu nào bằng.

DÙNG TÍN, NGUYỆN SÂU,

TRÌ DANH NIỆM PHẬT.

Nói TRÌ DANH đây là chấp giữ một câu A DI ÐÀ PHẬT trong lòng KHÔNG PHÚT NÀO QUÊN. Nếu quên hoặc là có một niệm nào khác xen vào thì không được gọ là CHẤP GIỮ (chấp trì).

Như thế mà hành trì cho đến trọn đời, ắt sẽ được vào cảnh “Nhứt tâm bất loạn” mà thành tựu được sự nghiệp Tịnh độ vậy.

b. Tâm tạo nghiệp được,

Thì:

– Tâm cũng chuyển nghiệp được.

Và:

– NGHIỆP đã do TÂM tạo,

Thì:

– Cũng tùy theo TÂM mà chuyển được.

Nếu:

– TÂM mình không chuyển được NGHIỆP

Thì:

– Bị NGHIỆP trói buộc.

Còn như:

– NGHIỆP mà không chuyển được theo TÂM,

Thì:

– Có thể buộc TÂM.

NHƯNG:

– DÙNG TÂM THẾ NÀO mới chuyển được NGHIỆP?

ẤY LÀ:

– Giữ TÂM hợp với điều kiện ÐẠO ÐỨC, hợp với PHẬT.

VÀ:

– NGHIỆP làm sao buộc được TÂM?

ẤY LÀ:

– Cứ để TÂM y theo “đường xưa lối cũ”, buông lung theo cảnh lục trần.

(Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) vậy.

(Liên Tông thập nhị Tổ, TRIỆT NGỘ đại sư dạy).

TRÊN ÐÂY:

Người giải thích đã vì chư vị PHẬT TỬ và quý LIÊN HỮU mà lược thuật lại đôi lời dạy bảo về phương cách niệm PHẬT của chư Tổ sư, để làm “Kim chỉ nam” trên con đường tu Tịnh độ.

Những mong sao cho quý chư hiền học PHẬT, niệm PHẬT, nguyện cầu được sanh về cõi CỰC LẠC xem xong rồi nên phát lòng trân trọng, ít nhiều chi cũng nên y theo đó mà cố gắng thực hành…

Và như thế,

Mới mong thành tựu bước đường “Tây quy” mà lòng ta vẫn hằng luôn ước ao, mong mỏi. Lành vậy thay!

Trích: TÂY PHƯƠNG NHỰT KHÓA

HT. Thích Thiền Tâm soạn thuật

 

The post Kim Chỉ Nam Trên Con Đường Tu Tịnh Độ appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/kim-chi-nam-tren-con-duong-tu-tinh-do.html/feed 0
Chánh Hạnh Niệm Phật https://bachhac.net/chanh-hanh-niem-phat.html https://bachhac.net/chanh-hanh-niem-phat.html#respond Fri, 18 Oct 2019 07:58:38 +0000 https://bachhac.net/?p=2413 Cội gốc sanh tử tức là các thứ vọng tưởng hàng ngày của chúng ta, các thứ nghiệp phiền não thương ghét, tham lam, giận hờn của chúng ta, nếu còn một mảy may không dứt thì tức là còn gốc rễ sanh tử. Nay muốn tham thiền đốn ngộ liễu thoát sanh tử, hãy …

The post Chánh Hạnh Niệm Phật appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
chánh hạnh niệm phật

Cội gốc sanh tử tức là các thứ vọng tưởng hàng ngày của chúng ta, các thứ nghiệp phiền não thương ghét, tham lam, giận hờn của chúng ta, nếu còn một mảy may không dứt thì tức là còn gốc rễ sanh tử.

Nay muốn tham thiền đốn ngộ liễu thoát sanh tử, hãy tự suy nghĩ xem có thể một niệm dứt ngay phiền não của nhiều kiếp như chặt đứt một cuộn chỉ hay chăng? Nếu chẳng thể dứt sạch phiền não thì dẫu cho đốn ngộ, cũng thành nghiệp ma, đâu nên xem thường?

Các vị tổ xưa kia đốn ngộ, cũng nhiều đời tích lũy công phu tu tập dần dần (tiệm tu) mà được, cho nên “đốn ngộ” này nói thì dễ mà thật ra là rất khó. Nếu không có hai, ba mươi năm hạ thủ công phu, thì làm sao có thể ở trong chốn phiền não lẫy lừng mà được một niệm đốn ngộ.

Điều thiết yếu là phải tự biết căn khí mình như thế nào? Đến như một môn niệm Phật, người đời không biết sự nhiệm mầu của nó, xem là thiển cận, kỳ thật mỗi bước thực hành cho đúng thì như thế nào? Chúng ta từ khi có sanh tử đến nay, niệm niệm vọng tưởng phan duyên tạo nghiệp sanh tử, đâu từng có một niệm quay trở về soi lại tự tâm, đâu từng một niệm chịu đoạn dứt phiền não. Nay nếu có thể đem tâm vọng tưởng chuyển làm niệm Phật thì niệm niệm dứt phiền não. Nếu niệm niệm dứt được phiền não thì niệm niệm ra khỏi sanh tử.

Nếu một niệm niệm vững chắc không đổi dời nhất tâm bất loạn, so với tham thiền còn có kết quả hơn. Tóm lại, chỉ do một niệm thiết tha chân thực mà thôi. Nhưng tham thiền nhất định cần phải chết đi hết tâm thế tục không còn một niệm vọng tưởng, còn niệm Phật là lấy tưởng tịnh chuyển tưởng nhiễm, dùng tưởng trừ tưởng, là Pháp Hoán Chuyển, cho nên đối với căn khí của chúng ta ngày nay dễ thực hành hơn.

Tu Tịnh Độ không cần phải kiến tánh, chỉ chuyên lấy niệm Phật làm chánh hạnh và lấy bố thí, trai tăng, tu các công đức phước điền làm trợ nhân trang nghiêm cõi nước Phật trong tâm niệm Phật, tuy phát nguyện vãng sanh, nhưng cần phải biết trước tiên chặt đứt cội gốc sanh tử mới có hiệu quả. Cội gốc sanh tử tức là sự tham lam, hưởng thụ vật chất thế gian tất cả đều là gốc khổ và mọi thứ tâm suy ấy chấp trước giận hờn, cùng các thứ giáo pháp do tà sư tà ma ngoại đạo thuyết, đều phải tận mình mửa ra cho hết, chỉ tin một pháp môn Niệm Phật tâm không lúc nào quên danh hiệu Phật.

Phật là Giác, nếu niệm Phật không quên Phật, tức là niệm niệm minh giác. Tâm nếu quên Phật liền là Bất Giác. Nếu niệm đến trong mộng cũng niệm được tức là thường giác không mê muội! Hiện tại nếu tâm nầy không mê muội thì lúc lâm chung tâm nầy không mê muội, ngay chỗ tâm nầy không mê muội tức là kết quả, nay công việc bận rộn không thể tham thiền, duy có niệm Phật là tốt nhất, bất kể rỗi rảnh, bận rộn, chỗ nào cũng niệm được, chỉ cần một lòng không quên, không còn có pháp nào hay hơn!

Tham thiền cần phải lìa tưởng, niệm Phật chú trọng vào chuyên tưởng, vì chúng sanh từ lâu nay chìm trong vọng tưởng, đây là lấy độc trị độc, là pháp hoán chuyển mà thôi. Cho nên thâm cứu khó ngộ, niệm Phật dễ thành. Nếu tâm thiết tha muốn giải quyết xong việc lớn sanh tử, đem tâm tham cứu đổi thành tâm niệm Phật, thì lo gì một đời nầy không liễu thoát sanh tử ?

Niệm Phật tức là tham thiền không phải hai pháp, ngay lúc niệm Phật, trước tiên phải buông bỏ hết thảy các thứ vọng niệm, tạp loạn phiền não, tham, sân, si, buông bỏ đến chỗ không còn gì để buông bỏ, chỉ để khởi một câu “A DI ĐÀ Phật”, rõ rành phân minh trong tâm không gián đoạn như sợi chỉ xỏ xâu chuỗi.

Dụng công như thế, bất cứ cảnh riêng nào, cũng không bị lôi kéo đánh mất, hàng ngày như vậy trong cảnh náo đông không tạp, không loạn, thức ngủ như một, dụng tâm như thế, niệm đến lúc mạng chung, nhất tâm bất loạn, đó là thời tiết Siêu Sanh Tịnh Độ.

Nếu tâm tha thiết vì việc sanh tử niệm niệm như cứu lửa cháy đầu, chỉ e một phen mất thân người muôn kiếp khó được lại, cần phải cắn chặt lấy một câu danh hiệu Phật nầy, nhất định phải chiến thắng vọng tưởng, bất cứ chỗ nào cũng niệm niệm hiện tiền, chẳng vì vọng tưởng ngăn che. Hạ thủ công phu thiết tha như thế lâu ngày thuần thục tự nhiên tương ưng chẳng cầu thành khối mà tự thành khối.

Phương pháp tu niệm Phật cũng có thứ lớp, người tại gia không cần câu chấp theo thời khoá của chư Tăng trong tự viện, chỉ cần lấy niệm Phật làm chính, mỗi ngày buổi sáng sớm lễ Phật, tụng một quyển kinh Di Đà, lần chuỗi niệm Phật A Di Đà hoặc ba nghìn, năm nghìn, mười nghìn, rồi hồi hướng phát nguyện vãng sanh về cõi nước Cực Lạc.

Khoá buổi tối cũng như vậy lấy đây làm định khoá, hàng ngày nhất định không có thiếu sót. Pháp nầy có thể áp dụng phổ thông cho mọi người, nếu vì việc lớn sanh tử thì công phu cần phải khẩn thiết hơn, mỗi ngày trừ hai thời khoá kể trên, suốt ngày đêm chỉ đem một câu “A Di Đà Phật” đặt trong lòng, niệm niệm không quên, tâm không mê muội, tất cả việc đời đều không nghĩ tưởng, chỉ lấy một câu niệm Phật làm mạng sống của mình, cắn chặt không buông, cho đến trong các sinh hoạt hàng ngày, một câu Phật nầy vẫn luôn luôn hiện tiền.

Nếu gặp lúc tâm bất an do các cảnh giới nghịch thuận phiền não buồn vui quấy nhiễu, chỉ cần đề khởi một câu niệm Phật nầy lập tức thấy phiền não tiêu diệt. Vì niệm niệm phiền não là gốc khổ sanh tử, nay dùng niệm Phật tiêu diệt phiền não, ấy là Phật độ chỗ khổ sanh tử. Nếu niệm Phật tan được phiền não thì có thể thoát sanh tử.

Nếu niệm Phật đến trình độ làm chủ được trên phiền não thì ở trong mộng làm được chủ. Nếu ở trong mộng làm được chủ thì ở trong lúc bệnh khổ làm được chủ thì lúc lâm chung rõ ràng biết được chỗ đi. Việc nầy không khó làm, chỉ cần một niệm tâm tha thiết vì sanh tử, nắm chặt một câu Phật không còn nghĩ ngợi gì khác, lâu ngày thuần thục, tự nhiên được đại an lạc, cái vui ngũ dục thế gian không thể sánh được. Ngoài pháp môn Tịnh Độ nầy, không còn có pháp môn nào thẳng tắt giản dị hơn.

Trích từ: Mộng Du Tập

của Đại sư Hám Sơn

The post Chánh Hạnh Niệm Phật appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/chanh-hanh-niem-phat.html/feed 0
Ai cũng có thể thành Phật https://bachhac.net/ai-cung-co-the-thanh-phat.html https://bachhac.net/ai-cung-co-the-thanh-phat.html#respond Fri, 18 Oct 2019 07:47:42 +0000 https://bachhac.net/?p=2410 Mạnh Tử nói: “Ai cũng có thể là Nghiêu, Thuấn”. Tuân Tử nói: “Người tàn ác cũng có thể trở thành ông Vũ”. Thường Bất Khinh Bồ Tát nói: “Tôi chẳng dám khinh các ngài, các ngài đều sẽ thành Phật” là vì ai cũng có thể là thánh hiền, cũng có thể thành Phật. …

The post Ai cũng có thể thành Phật appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
ai cũng có thể thành phật

Mạnh Tử nói: “Ai cũng có thể là Nghiêu, Thuấn”. Tuân Tử nói: “Người tàn ác cũng có thể trở thành ông Vũ”. Thường Bất Khinh Bồ Tát nói: “Tôi chẳng dám khinh các ngài, các ngài đều sẽ thành Phật” là vì ai cũng có thể là thánh hiền, cũng có thể thành Phật.

Tây Phương Tịnh Ðộ chính là đường lối tắt trọng yếu, không ai chẳng tu được. Vì thế, khuyên khắp mọi người nên tu trì.

Kệ khuyên tu Tây Phương của Ðại Từ Bồ Tát có câu:

Khuyên được hai người tu,

Như chính mình tinh tấn

Khuyên được mười người khác

Phước đức đã vô lượng

Nếu khuyên trăm, ngàn người

Ðáng gọi chơn Bồ Tát

Lại khuyên hơn vạn người

Chính là Phật Di Ðà.

Xem đó thì biết thuyết Tây Phương chẳng phải là cái tâm quảng đại muốn cho người người cùng biết đến đạo này để tích tụ vô lượng phước báo hay sao?

Phàm đối với thầy, bạn, những bậc có ân, tính xuống cả tôi tớ đều nên lấy việc bảo cho họ biết về pháp Tịnh Ðộ để báo đáp. Phàm đối với hết thảy những ai dù biết hoặc không, hiểu hay chẳng hiểu, ta đều muốn dùng pháp này để giáo hóa khiến họ cùng sanh Tịnh Ðộ.

Hết thảy chim bay, thú chạy, thậm chí loài trùng bay, bò, cựa quậy, bất cứ loài nào có hình tướng thấy được, hễ ta trông thấy thì đều vì chúng niệm Phật vài tiếng, phát thiện nguyện rằng:

“Nguyện các ngươi hết kiếp sống này sẽ sanh vào thế giới Cực Lạc. Sau khi ta đắc đạo sẽ độ hết các ngươi”.

Ðối với những loài ta chẳng thấy được hình tướng của chúng thì cũng nên phát nguyện như vậy.

Như thế thì thiện niệm mới chín muồi, đều có duyên đối với hết thảy chúng sanh, ắt sanh trong Thượng Phẩm Thượng Sanh, mai sau hóa độ không ai chẳng vui thuận theo.

Trai tăng cúng Phật, thắp hương, dâng hoa, treo phan, dựng tháp, niệm Phật, lễ sám là những cách để sùng phụng Tam Bảo, đem công đức ấy hồi hướng nguyện sanh Tây Phương cũng được.

Hoặc là làm các thứ việc lành phương tiện lợi ích thế gian:

Hoặc là hiếu dưỡng phụ mẫu, yêu mến bạn bè, con em, trong khuê môn hết sức làm lành, họ hàng hòa thuận, xóm giềng làng nước thân thiết, lấy lễ đãi nhau, làm ơn cho nhau.

Thờ vua thì dốc lòng son báo quốc, làm quan thì nhân từ lợi dân, khéo an quần chúng, chăm phục vụ cấp trên.

Hoặc dạy dỗ kẻ ngu mê, hoặc giúp người cô đơn, yếu đuối. Hoặc giúp kẻ mắc việc cấp bách, chu cấp người nghèo. Hoặc sửa cầu đào giếng, hoặc thí thuốc chia cơm, hoặc giảm việc phụng dưỡng chính mình để làm lợi người khác, hoặc bỏ tiền của giúp người.

Hoặc là tự tiết kiệm, giản ước, hoặc dạy người khác làm lành, hoặc khen thiện, ngăn ác. Tùy sức làm hết thảy việc lành. Dùng đó để hồi hướng nguyện sanh Tây Phương cũng được.

Hoặc làm hết thảy những việc lợi ích thế gian chẳng nệ là lớn, nhỏ, nhiều, ít.

Dù chỉ là thí một đồng hoặc một chén nước cho người, thậm chí với mảy may điều lành đều khởi niệm rằng: “Dùng thiện duyên này hồi hướng nguyện sanh Tây Phương”, thường khiến cho nhất niệm chẳng đoạn, niệm niệm hướng về đó ắt sẽ sanh trong Thượng Phẩm.

Tu Tịnh Ðộ nên thuận theo địa vị của mình mà làm lành để giúp công cho việc tấn tu:

a. Tăng phải nên sớm tu Tịnh Ðộ để thoát ngay ra khỏi luân hồi, gặp gỡ Phật A Di Ðà thì mới là hoàn tất phận sự của người xuất gia. Hễ nhận lấy một đồng cúng thí của người khác, được cúng một bữa ăn đều phải nên vì người đó dạy cho pháp Tịnh Ðộ để báo đức. Dù kẻ ấy chẳng tin cũng khiến cho người ấy biết đến pháp này. Nghe quen tai dần, lâu ngày sẽ tự tin. Hãy nên thường giáo hóa người khác như thế thì hiện đời được người khác cung kính, thân sau ắt đạt Thượng Phẩm Thượng Sanh.

b. Kẻ sĩ phải nên chăm chỉ học hành, dốc lòng hiếu thuận, nghĩ xa đến đời ông tổ, ông sơ của mình nếu ai còn sống thì làm cho họ lưu tâm nơi đạo này.

c. Hàng quan lại phải tu phước, làm các phương tiện nhằm ái nhân lợi vật. Dùng đấy để hồi hướng Tây Phương, thoát ngay ra khỏi luân hồi, thọ – lạc vô cùng.

d. Kẻ giàu nên tùy phận mà sống, giảm tiêu xài để giúp người, chẳng tiếc của làm lành, chẳng tham của làm ác, thường nghĩ phước thế gian có lúc hết. Nếu hồi hướng về Tây Phương thì sẽ vô tận.

e. Kẻ gặp lắm nỗi truân chiên đừng oán trời trách người, nên siêng sám hối, thường niệm Phật cho tiêu túc chướng, tăng trưởng thiện duyên.

Nếu có thể lần lượt giáo hóa người khác như thế khiến cho họ lại khuyến hóa người khác thì hiện đời có thể tiêu tai, được phước, thân sau ắt sanh trong Trung Phẩm, Thượng Phẩm.

Nông, thương đều nên tự nghĩ: Cày cấy sát hại sanh mạng loài vật, mua bán sao khỏi có lúc dối trá, hãy nên tránh chuyện ngoắt ngoéo, sám hối làm lành. Kẻ làm thợ đừng mong mỏi quá đáng, nên làm việc tận tâm.

Ai nấy đều nên thường niệm Phật, nguyện thấy Phật đắc đạo rồi thì trước hết sẽ độ những kẻ mình trót đã sát hại từ khi sinh ra đến nay cũng như những chúng sanh mình từng giao thiệp. Kế đó, độ hết thảy kẻ oán, người thân và chúng sanh hữu duyên, vô duyên. Niệm niệm bất tuyệt như thế, niệm tự thuần thục, nhất định sanh về thế giới Cực Lạc.

Nếu ai nấy làm như thế để giáo hóa người khác, khiến cho họ lại khuyến hóa người khác thì hiện đời được phước, thân sau ắt sanh trong Trung Phẩm, Thượng Phẩm.

Kẻ chài lưới, săn bắn, đồ tể, đầu bếp và người mở tiệm ăn đều phải nên tự nghĩ: cá, tôm, cầm thú đều là tánh mạng mà mình sát hại, tội ấy vô lượng. Nếu có thể đổi nghề thì là tốt nhất. Còn nếu không đổi ngay được thì nên giảm bớt dần, chớ giết nhiều mạng những loài vật nhỏ và ốc, hến, lươn, ba ba v.v… là những con vật khó chết.

Thường niệm Phật sám hối, phát đại nguyện rằng: “Nguyện sau khi tôi thấy Phật đắc đạo, sẽ độ hết những kẻ bị tôi giết và bị tôi ăn thịt từ khi sanh ra đến nay khiến đều sanh Tịnh Ðộ”.

Niệm niệm bất tuyệt như thế, niệm tự thuần thục cũng sanh về thế giới Cực Lạc. Nếu giáo hóa người khác như vậy, khiến họ lại khuyến hóa người khác thì hiện thế sẽ tiêu tai diệt tội, thân sau cũng chẳng ở trong Hạ Phẩm Hạ Sanh.

Kẻ trong chốn phong trần cũng nên tự tỉnh ngộ, đoạn trừ dâm nghiệp. Nếu chưa đoạn nổi thì thường niệm Phật, phát đại nguyện rằng:

“Nguyện ác nghiệp của con ngày một tiêu trừ, thiện nghiệp ngày một tăng trưởng, cơm áo tạm đủ, chóng thoát khỏi chốn này. Sau khi gặp Phật đắc đạo rồi sẽ độ cho hết thảy những người vì tôi mà làm chuyện dâm dục đều sanh Tịnh Ðộ”.

Kẻ tội ác bịnh khổ nên gấp sám hối, hồi tâm niệm Phật, thệ nguyện chẳng làm ác sát sanh nữa, chẳng còn lại não hại hết thảy chúng sanh nữa. Nguyện đời này sớm hết bịnh khổ; sau khi gặp Phật đắc đạo sẽ độ cho hết chúng sanh bị mình sát hại trong đời trước, đời này và hết thảy kẻ oán, người thân đều sanh Tịnh Ðộ.

Niệm niệm bất tuyệt, niệm tự thuần thục quyết định sanh về thế giới Cực Lạc. Nếu giáo hóa người khác như vậy, khiến họ lại khuyến hóa người khác thì hiện thế sẽ tiêu tai diệt tội, bịnh khổ ắt lành. Phước báo vô cùng, thân sau ắt sanh về thế giới Cực Lạc.

Trích: Long Thư Tịnh Ðộ Văn

của cư sĩ Hư Trung Vương Nhật Hưu đời Tống

The post Ai cũng có thể thành Phật appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/ai-cung-co-the-thanh-phat.html/feed 0