Bát Nhã Tâm Kinh – Bạch Hạc – Phật Giáo Việt Nam https://bachhac.net Sat, 06 Feb 2021 02:02:53 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=5.7.1 Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 10: Nhập Lưu https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-10.html https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-10.html#respond Wed, 31 Jul 2019 04:34:58 +0000 https://bachhac.net/?p=1162 Nhập Lưu Câu hỏi thứ nhất: Osho thân mến, “Những phẩm hạnh của một ẩn sĩ là gì?” Thật khó mà định nghĩa cho đúng đắn một “ẩn sĩ” và càng khó khăn hơn nếu anh tìm cách định nghĩa những tín đồ ẩn sĩ của tôi. Ẩn tu, cơ bản có nghĩa là một …

The post Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 10: Nhập Lưu appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
nhập lưu chương 10

Nhập Lưu

Câu hỏi thứ nhất:

Osho thân mến,

“Những phẩm hạnh của một ẩn sĩ là gì?”

Thật khó mà định nghĩa cho đúng đắn một “ẩn sĩ” và càng khó khăn hơn nếu anh tìm cách định nghĩa những tín đồ ẩn sĩ của tôi.

Ẩn tu, cơ bản có nghĩa là một cuộc cách mạng thay đổi tất cả mọi cấu trúc, thượng tầng hạ tầng, vì thế rất khó mà định nghĩa cho chính xác. An tu là một phương cách sống một cuộc đời không cấu trúc, vô tổ chức. An tu làmột tính cách phi tính cách. Do “tính cách phi tính cách” đó, tôi có ý nói anh đừng lệ thuộc nữa vào quá khứ.

Tính cách, cá tánh có nghĩa là quá khứ, là cái phương cách mà anh mà anh đã từng sống ở quá khứ, là cái phương cách mà anh đã quen thuộc ở đời sống – tất cả những thói quen, tập khí, những điều kiện, những tin tưởng và những kinh nghiệm của anh – đó là tính cách của anh.

Một ẩn sĩ là người không còn sống ở quá khứ nữa hay đã vượt qua quá khứ; ẩn sĩ là người sống trong hiện tại; vì thế, không thể đoán trứơc được cái gì cả.

Một người có tính cách là người có dự đoán, có phòng hờ; một ẩn sĩ thì không phải dự đoán tiên tri cái gì cả bởi vì ẩn sĩ là tự do. Một ẩn sĩ không những tự do mà họ chính là sự tự do. Đó là một cuộc cách mạng sống.

Tuy nhiên, tôi sẽ giải nghĩa cho anh hiểu, nhưng chỉ nột vài điểm thôi, chứ không phải định nghĩa chuan xác, một vài chỉ điểm, một vài nét thôi cho anh có một khái niệm về ẩn sĩ là gì; đó là ngón tay chỉ mặt trăng – anh đừng bao giờ vướng mắc vào những ngón tay của tôi nhé.

Những ngón tay không định nghĩa được mặt trăng, chúng chỉ là sự chỉ đường. Ngón tay không có liên quan gì đến mặt trăng cả. Những ngón tay của tôi có thể dài, có thể ngắn, có thể thon đẹp như ngón tay nghệ sĩ, chúng cũng có thể xấu xí thô kệch, trắng hay đen, cứng cáp hay khẳng khiu lỏng khỏng – không sao, không thành vấn đề. Những ngón tay chỉ dùng để chỉ điểm. Hãy quên ngón tay đi và nhìn vào mặt trăng.

Những gì tôi sắp nói đây không phải là một định nghĩa; không thể được, trong trường hợp này không phải là như vậy. Và thực tế thì định nghĩa không bao giờ có thể miêu tả rõ ràng về một cái gì sống động, đang sống.

Định nghĩa chỉ dùng để nói về cái gì đã chết, không còn phát triển được nữa, không còn xòe nở được nữa; khả năng và tiềm năng của nó đã tiêu phí đi và mòn mõi rồi. Anh có thể nói về một người chết chứ anh không thể định nghĩa một người đang sống.

Dòng sống cơ bản có nghĩa là cái mới đang linh động ứng hoạt. Vì thế, không có định nghĩa. Một ẩn sĩ của thời xưa thì có định nghĩa rõ ràng, đó là lý do những cựu ẩn sĩ đã chết. Riêng tôi, tôi gọi những ẩn sĩ của tôi là “tân ẩn sĩ” vì cái lý do đặc biệt này: những ẩn sĩ tín đồ của tôi là một mặc khải, một chuyến hành trình, một điệu múa, một cuộc tình với cái không biết, một sự lãng mạn với hiện hữu, một sự tìm kiếm hoan lạc liên giao với tổng thể vạn vật. Những gì được định nghĩa, được đặt tên, đều bị sụp đổ.

Những gì hợp thức hoá cũng đều đã sụp đổ. Tôn giáo, chính trị, thần tượng, lý tưởng đều bị sụp đổ – và tất cả những thứ này rất rõ ràng như vậy. Chúng đã là những dấu hiệu tương lai của nhân loại nhưng tất cả nhưng thứ đó đã sụp đổ. Tất cả mọi chương trình đều sụp đổ.

An tu không còn là một chương trình nữa. An tu là một khám phá, một sáng tạo, không phải là một chương trình. Khi anh trở thành một ẩn sĩ, tôi kết nạp anh vào tự do, vào Không.

Đó là một trách nhiệm rất lớn của chính anh để được tự do, bởi vì anh không có gì để dựa dẫm phụ thuộc vào. Ngoại trừ phần nội tại của chính anh, phần linh thức của chính anh, anh không có một sự ủng hộ, một sự nương tựa nào cả.

Tôi tước đoạt hết tất cả những sự ủng hộ che chở của anh, tôi để mặc anh một mình, tôi để mặc anh một mình, chỉ một mình anh và chính anh thôi. Trong sự cô liêu tuyệt đối đó . . . . đoá hoa ẩn tu rộ nở. Sự cô liêu trong anh tấu khúc đàn bất tuyệt hòa với đóa hoa ẩn tu khoe sắc thắm tươi.

An tu phi tính cách. Nó không có luân lý, nó không phải là không đạo đức luân lý, nhưng nó là phi tính cách, phi đạo đức, phi luân lý. Hay là, nó ở một cấp độ luân lý cao nhất đến nỗi sự luân lý đó không phải đến tự bên ngoài mà xuất phát tự bên trong; bên trong phần nội tại thẩm sâu.

Nó không cho phép bất cứ một sự áp đặt nào từ bên ngoài lên nó, bởi vì tất cả những sự áp đặt từ bên ngoài đã biến đổi anh thành nô lệ, thành phục dịch. Và mọi cố gắng của tôi là cho anh phẩm giá, cho anh vinh quang. Nổ lực ở đây của tôi ở đây là cho anh sự tráng lệ huy hoàng, sự vĩ đại tuyệt vời.

Tất cả những nổ lực khác đều đã sụp đổ. Điều đó không thể tránh được vì tính chất sụp đổ vốn hằng có bên trong sự sự vật vật. Vạn sự vạn vật đều có khuynh hướng xây dựng cấu trúc, và mọi hình thức cơ cấu tổ chức, sớm hay muộn gì, sẽ đè nặng lên trái tim con người, tạo sức ép lên con người.

Mọi hình thái cơ cấu tổ chức đều là những nhà giam, trại tù, và một ngày nào đó, anh sẽ nổi loạn chống đối lạisự áp bức đó. Anh chưa từng quán nghiệm lich sử ư? – mỗi một cuộc cách mạng đến chu kỳ của nó đều bị kềm chế, dồn ép, đè nén. Cách mạng đã xẩy ra ở Nga Sô, đã xảy ra ở Trung quốc.

Sau mỗi cuộc cách mạng nào thì cuộc cách mạng đó lại trở thành phản cách mạng. Một khi người nào đó đã có quyền lực, hắn sẽ vạch định ra hình thái cơ cấu tổ chức của chính hắn để áp đặt lên xã hội, lên con người.

Và một khi hắn bắt đầu đặt để, áp chế sự tổ chức, hình thái cơ cấu của hắn, hình thức nô lệ này sẽ đổi qua một hình thức nô lệ khác, một kiểu nô lệ mới và không bao giờ có tự do nữa. Tất cả những cuộc cách mạng đều bị hỏng bét, sụp đổ. Đây không phải là một cuộc cách mạng, đây là một sự nổi loạn.

Cách mạng thì có tính cách xã hội tập hợp, còn nổi loạn thì mang tính cách cá nhân hơn. Chúng ta không quan tâm hay hứng thú gì đề xuất ra một hình thái cơ cấu tổ chức xây dựng nào cho xã hội cả. Từng ấy hình thức kiến trúc, từng ấy cơ cấu tổ chức xã hội như thế là đủ rồi! Hãy dẹp qua một bên những mô hình kiến trúc xã hội đi.

Bỏ mặc tất cả đi! Lẽ dĩ nhiên, chúng ta muốn những con người trên thế giới này – ứng hoạt tự do hơn, ý thức hơn. Và trách nhiệm bổn phận của họ phải xuất phát từ chính tâm thức họ. Họ hành xử với nhau đúng đắn không phải vì họ phải cư xử rập khuôn những qui chế, luật lệ đòi hỏi nào đó mà họ cư xử đúng đắn với nhau vì họ tôn trọng nhau, họ quan tâm cho nhau.

Anh có biết không. Danh từ ‘accurate” bắt nguồn từ căn nguyên “care – chăm sóc, quan tâm.” Khi anh chăm sóc quan tâm đến cái gì, anh tỉ mỉ, cẩn thận, chính xác hơn. Khi anh chăm sóc quan tâm đến một ai, anh tỉ mỉ thận trọng trong mối quan hệ của anh hơn, trong từng hành động của anh hơn, trong từng lời nói, ý nghĩ của anh hơn.

Một người ẩn sĩ là người quan tâm đến chính họ, và lẽ dĩ nhiên cũng quan tâm đến người khác – bởi vì anh không thể nào vui thú một mình, cô độc được. Anh chỉ thấy an lạc hoan hỷ trong một thế giới đại đồng an lạc, trong bầu không khí thân mật, cởi mở, hoan lạc.

Nhưng sự an lạc đó không phải cố ý lưu xuất ra vì một tín điều nào cả. Sự an lạc hiện khởi vì anh yêu thương, và tình yêu đầu tiên đó, đương nhiên, là tình yêu của chính anh yêu anh, anh yêu thương chính con người anh trước, và sau đó, anh sẽ ban phát tình thương đến cho muôn loài và những tình thương khác hiện khởi trong anh.

Những sự cố gắng khác đã sụp đổ vì chúng có khuynh hướng về tâm trí. Chúng đặt nền tảng trên quá trình tư duy, chúng là những kết luận của tâm trí. Ẩn tu không phải là kết luận của tâm trí. An tu không phải là khuynh hướng tư duy; nó không có cội rễ bắt nguồn nào ở tư duy cả.

An tu là sự trầm tư nội tại; nó là thiền định, không phải trí. An tu bắt nguồn từ hỷ lạc, không phải bắt nguồn từ tư duy. An tu bắt nguồn từ sự vui mừng, không phải từ tư tưởng. An tu bắt nguồn từ tỉnh thức khi tư tưởng đã bặt dấu, vắng bóng trong tâm. An tu không phải là sự lựa chọn: không phải là sự lựa chọn giữa hai tư tưởng; ẩn tu là sự xả ly tư tưởng. Nó vượt ngoài Chân Không.

“Vì thế này Xá Lợi Phất, sắc là không, không là sắc ..”

 

Xem tiếp

Chương 1

Chương 2

Chương 3

Chương 4

Chương 5

Chương 6

Chương 7

Chương 8

Chương 9

Chương 10

The post Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 10: Nhập Lưu appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-10.html/feed 0
Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 9: Qua Đi Qua Đi, Vượt Qua đi https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-9.html https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-9.html#respond Wed, 31 Jul 2019 04:31:28 +0000 https://bachhac.net/?p=1159 Qua Ði, Qua Ði, Vượt Qua Ði! Teilhard De Chardin đã phân định sự tiến triển của loài người ra làm bốn bình diện.  Bình diện thứ nhất, ông ta định danh là Geosphere, thứ hai là Biosphere, thứ ba là Noosphere, và thứ tư là Christophere. Bốn bình diện này thật đặc biệt ý nghĩa rộng lớn vô cùng.  Chúng ta cần …

The post Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 9: Qua Đi Qua Đi, Vượt Qua đi appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
chương 9 bát nhã tâm kinh

Qua Ði, Qua Ði, Vượt Qua Ði!

Teilhard De Chardin đã phân định sự tiến triển của loài người ra làm bốn bình diện.  Bình diện thứ nhất, ông ta định danh là Geosphere, thứ hai là Biosphere, thứ ba là Noosphere, và thứ tư là Christophere.

Bốn bình diện này thật đặc biệt ý nghĩa rộng lớn vô cùng.  Chúng ta cần phải nắm rõ ý nghĩa của chúng.  Hiểu được bốn bình diện này, anh sẽ hiểu được tuyệt đỉnh của Bát Nhã Tâm Kinh.

Thứ nhất, bình diện Geosphere: khoáng vật.  Ðó là trạng thái hoàn toàn mê ngủ, trạng thái vật chất.  Vật chất là ý thức đang mê.  Vật chất không đối kháng lại ý thức, vật chất là trạng thái của ý thức đang say ngủ, chưa tỉnh.  Hòn đá kia là một ông Phật đang ngủ, một ngày nào đó hòn đá sẽ trở thành Phật.

Có thể sẽ hàng triệu năm sau, đâu có sao, nhưng hòn đá sẽ thành Phật.  Cái khác biệt chỉ là thời gian, nhưng thời gian thì đâu có quan trọng gì nhiều trong vũ trụ sơn hà này, trong chiều dài vô tận của vĩnh cữu.  Ðó là lý do ở phương Ðông, chúng ta thường tạc dựng những pho tượng đá – điều đó có ý nghĩa biểu trưng đặc biệt: hòn đá và Phật bắc nhịp cầu với nhau qua bức tượng bằng đá này.

Hòn đá là phần vật chất thấp nhất và Phật là phần tâm linh cao nhất.  Bức tượng bằng đá đó nói lên cho chúng ta hiểu rằng ngay cả trong đá cũng ẩn chứa Phật tánh, cũng tàng ẩn một vị Phật.  Bức tượng đá nói lên rằng Phật không là gì cả nhưng hòn đá sẽ chuyển hoá; hòn đá sẽ biểu hiện toàn khối tiềm năng của nó.

Ðó là lớp thứ nhất: geosphere – khoáng vật.  Nó là vật chất, là vô ý thức, là mê ngủ, là nguyên thủy, là tiền kiếp.  Ở trạng thái này, không có tự do, vì tự do chỉ xuất hiện qua tỉnh thức.  Ở trạng thái này, chỉ có Nhân và Quả.  Một định luật tuyệt đối.  Ngay cả một tai nạn ngẫu nhiên cũng không.

Tự do là cái không hề biết đến.  Tự do chỉ xuất hiện như là bóng dáng của tỉnh thức, và anh càng tỉnh thức bao nhiêu, anh càng tự do bấy nhiêu.  Vì thế, Phật đã được gọi là Mukta – hoàn toàn tự do.  Cái tượng đá đó bị trói buộc chằng chịt mọi nơi, mọi phía, mọi hướng.

Tượng đá là linh hồn bị giam hãm, còn Phật là linh tánh được tự do cất cánh tung bay.  Không còn sợi xích chằng buộc nào, không còn sự giam giữ nào, không còn mối dây triền phược nào, không có bức tường thành nào bao vây được Phật.  Phật không có một bờ mé hay biên giới nào trong khả tánh.  Con người của Phật mông mênh như châu sa giới.  Phật là một với hiện hữu, với vũ trụ sơn hà.

Tuy nhiên, trong thế giới của geosphere -khoáng vật, Nhân Quả là qui luật duy nhất, là con đường duy nhất.  Khoa học cũng còn bị giới hạn bởi vòng đai khoáng chất, bởi vì khoa học vẫn còn vướng kẹt vào danh từ Nhân và Quả.  Môn khoa học hiện đại là môn khoa học còn rất phôi thai, bởi vì nó không thể quan niệm cái gì khác ngoài vật chất.  Quan niệm của khoa học rất giới hạn, và vì thế nó gây tạo ra nhiều khổ đau hơn là giải quyết.  Tầm nhìn của nó rất nhỏ nhiệm, vi tế, nó không thể điều hòa chính nó với tổng thể hiện hữu.

Nó quan sát sự vật từ một lỗ nhỏ xíu và cho rằng sự sự vật vật chỉ như vậy thôi, chỉ từng ấy thôi.  Khoa học vẫn còn bị giới hạn bởi khoáng chất.  Khoa học vẫn còn bị ràng buộc vướng mắc, nó chưa thể nào cất cánh được.  Nó chỉ tháo xổ được những sợi dây ràng buộc đó khi nó vượt qua được định luật Nhân Quả.

Vâng, quả đúng là những sự nhỏ nhiệm đã hiện hữu ở đó.  Nhà vật lý học nguyên tử vượt qua định luật Nhân Quả, băng ngang vòng đai Nhân Quả để đi vào thế giới.  Do đó, nguyên lý bất định, không chắc chắn sanh khởi, sanh khởi thật mạnh.  Nhân Qủa là nguyên lý xác định:  anh làm hành động này thì kết quả hay hậu quả của nó đã chực chờ sẵn để xảy ra.  Anh đun sôi nước lên 100 độ thì nước sẽ bốc hơi – đó là định luật Nhân Quả.

Nước không có tự do. Nó không thể nói, “Hôm nay, tôi không thoải mái an lạc, và tôi sẽ không bốc hơi vào lúc nhiệt độ tăng lên đúng 100 độ khi nứơc bị đun sôi!  Tôi nói không là không!”  Ðâu có được, nứơc không thể kháng cự lại, nó không thể chống đối lại được qui luật tất yếu đó.  Nước cũng không thể nào nói, “Ồ, anh đừng lo nhiều quá.  Tôi sắp sửa bốc hơi ở 50 độ đấy!”  Không, không thể nào như vậy đuợc.

Môn vật lý cổ xưa, môn khoa học ngày xưa không có một thiển kiến nào về nguyên lý bất định cả.  Nguyên lý bất định có nghĩa là nguyên lý tự do.  Bây giờ, những quan kiến nhỏ đã xuất hiện.  Bây giờ, chúng chắc chắn như chúng đã từng khẳng định.  Bây giờ, chúng nhìn thấy tận cùng chiều sâu của vật chất cũng có một phẩm chất tự do nào đó.  Rất khó định nghĩa điện tử là một phân tử hay một làn sóng: điện tử ứng hoạt cả hai cách, có khi cách này, có khi cách kia.  Và không có cách nào biết trước được.

Ðó là sự nhỏ nhiệm nhất của tính chất ứng hoạt của năng lượng.  Và cũng không phải chỉ có vậy thôi – sự tự do ứng hoạt của điện tử đôi khi như làn sóng và đồng thời như phân tử.  Thật khó cho nhà khoa học thời trước hiểu thấu hay quan niệm được.  Aristotle không thể hiểu được định lý đó và Newton cũng không thể hiểu được.

Thật khó mà thấu đáo rõ ràng được lắm!  Có thể nói là có cái gì đó ứng hoạt như một đường thẳng và đồng thời là một điểm chấm.  Thật là phi lý!  Làm sao lại có một vật ứng hoạt như một đường thẳng và một điểm chấm được?  Một là đường thẳng, hai là điểm chấm, không thể nào có cả hai cái một lúc được, phải không?  Nhưng nay thì nhà vật lý học bắt đầu nẩy sinh quan kiến về cốt lõi thẩm sâu bên trong của vật chất.

Trên con đường lòng vòng rắc rối khó hiểu này, những quan niệm tư kiến đã tình cờ gặp nhau trên những yếu tố dòng sống luân chuyển: đó là tự do.  Nhưng trên bình diện khoáng chất – geosphere thì không thể hiện hữu.  Ðó là Sushupti – vô thức.

Danh từ Sushupti có nghĩa là hoàn toàn chết ngủ – ngay cả một giấc mơ cỏn con cũng không có.  Những hòn đá không mơ, chúng không thể mơ được.  Muốn mơ, đá cần phải có chút ý thức.  Hòn đá chỉ đơn giản có mặt ở đó.  Ðá không có tính chất con người, nó không có linh hồn – ít nhất ra về mặt khách quan ứng hoạt thực tiễn.  Ðá không thể mơ, giấc ngủ của đá không hề bị xao động.  Ngày, đêm, năm tháng trôi qua, đá đã, đang và sẽ ngủ, vẫn ngủ.  Một giấc mơ nho nhỏ cũng không có để làm xáo trộn giấc ngủ của đá.

Trong pháp môn Du Già (Yoga), chúng ta chia ý thức ra làm bốn tầng lớp.  Bốn tầng lớp này rất phù hợp với sự phân chia của Chardin.  Tầng thứ nhất là Sushupti: chết ngủ, ngủ quá say, quá sâu.

Tầng cấp Geosphere phù hợp với Sushupti.  Geosphere giống hệt cái chết hơn là cái sống.  Ðó là lý do vì sao vật chất cứng đơ như chết vậy.  Không, không phải vậy đâu.  Nó đang chờ dòng sống trong nó phát triển, nó giống như nụ mầm vậy.  Nó có vẻ như chết: nhưng thực ra nó đang chờ đợi giây phút chuẩn xác nhất, đúng lúc nhất để bùng nổ sự sống.  Song, hiện giờ là nó đang chết.  Không có tâm thức gì cả trong nó.  Hãy nhớ, ở tầng cấp chót nhất cũng không có tâm thức.  Phật ở trạng thái vô tâm và hòn đá cũng ở trạng thái vô tâm.

Do đó, ý nghĩa của hòn đá là: sự giao thoa của hai đầu cực tuyến.  Ðá vô tâm có nghĩa là hòn đá vẫn ở dưới tầm mức của tâm thức.  Phật vô tâm nhưng có nghĩa Phật đã vượt qua vùng tâm thức.  Có một sự kiện giống nhau, như là sự giống nhau giữa ông thánh và đứa bé con.

Ðứa bé con chưa phát triển được chiều sâu tâm linh của nó nên bé vẫn ở dưới sự chi phối của tâm thức, còn ông thánh thì đã vượt qua sức ảnh hưởng chi phối của tâm thức.  Ðá sẽ phải đi qua tất cả cơn lốc xoáy cuộc sống, Ðức Phật thì đã vượt qua luôn.  Phật đã vượt qua, vượt qua, vượt qua, vượt qua rốt ráo – khác nhau giữa Phật và đá là điểm đó nhưng cũng có một điểm giống nhau là Phật cũng trụ nơi chỗ vô tâm.   Phật đã hoàn toàn tỉnh thức nên ý thức không còn chỗ để ứng hoạt nữa.  Hòn đá kia thì vô thức đến mức độ tâm thức không thể hiện hữu.  Trong hòn đá, sự vô thức là tuyệt đối, nên tâm thức không còn đất đứng.

Trong Phật, tỉnh thức là tuyệt đối nên tâm thức không cần.  Ðể tôi giải nghĩa cho anh rõ: đây là một trong những việc cần thiết nhất để học, để hiểu.  Tâm thức chỉ thực sự cần thiết khi anh không thực sự tỉnh thức.  Nếu anh thực đã tỉnh thức thì không còn tư duy, không còn ý tưởng nữa, chỉ thuần là ánh sáng nội tại.

Và anh hành xử theo tiếng gọi nội tại của anh, chứ không phải với ý thức của anh.  Ýù thức của anh không còn cần thiết tới nữa.  Khi anh nhìn một vật, một sự việc nào đó với tầm thực nhãn của anh, cái “nhìn thực” của anh, cái nhìn không mang một tri kiến chủ quan nào, cái nhìn đó mới là thực, mới trở thành sự hành xử ứng dụng của anh.

 

Xem tiếp

Chương 1

Chương 2

Chương 3

Chương 4

Chương 5

Chương 6

Chương 7

Chương 8

Chương 9

Chương 10

The post Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 9: Qua Đi Qua Đi, Vượt Qua đi appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-9.html/feed 0
Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 8: Con Đường Minh Triết https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-8.html https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-8.html#respond Wed, 31 Jul 2019 04:28:36 +0000 https://bachhac.net/?p=1156 Con Đường Minh Triết Câu hỏi thứ nhất: Osho thân mến, “Tri thức có phải là cánh cửa dẫn đến giác ngộ hay không; hay giác ngộ chỉ có thể đạt tới được qua cửa ngỏ xả ly?” Giác ngộ được chứng đắc qua sự xả ly triệt để, nhưng xả ly thì lại đạt …

The post Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 8: Con Đường Minh Triết appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
bát nhã tâm kinh chương 8

Con Đường Minh Triết

Câu hỏi thứ nhất:

Osho thân mến,

“Tri thức có phải là cánh cửa dẫn đến giác ngộ hay không; hay giác ngộ chỉ có thể đạt tới được qua cửa ngỏ xả ly?”

Giác ngộ được chứng đắc qua sự xả ly triệt để, nhưng xả ly thì lại đạt tới được qua cửa ngõ tri thức. Chỉ có những kẻ ngu mới không xả ly được. Muốn hành trì xả ly, anh cần phải thật thông minh để thấy đúng tiêu điểm của sự xả ly là đỉnh cao nội tại, để thấy được mục tiêu là anh không tách biệt khỏi hiện hữu, là tuyệt đỉnh mà tri thức có thể ban phát cho anh.

Không có sự đối kháng mâu thuẫn nào giữa tri thức và xả ly cả. Xả ly thì qua tri thức, nhưng khi anh xả ly thì tri thức cũng cần phải buông bỏ luôn. Qua sự xả ly, tri thức phải tự sát. Nếu anh thấy được sự vô nghĩa của tri thức, sự phi lý của nó, sự thống khổ ràng buộc mà nó gây tạo ra, thì tấm màn tri thức trong anh sẽ biến mất; tuy nhiên điều đó chỉ xảy ra qua sự nhận thức hiểu biết mà thôi. Và đặc biệt hơn theo lời Phật dạy, con đường xả ly chính là con đường tri thức. Danh từ “Buddha – giác ngộ” co nghĩa là “tỉnh giác, minh triết.”

Trong Bát Nhã Tâm Kinh, một phần tư những danh từ sử dụng trong phẩm Kinh đều mang ý nghĩa tri thức. Danh từ “Buddha – giác ngộ” có nghĩa là tỉnh thức, “bodhi – bồ đề” có nghĩa là đang tỉnh giác, “sambodhi – tam miệu tam bồ đề” có nghĩa là đang tỉnh giác hoàn hảo, “abhisambuddha” có nghĩa là chánh đẳng chánh giác, “bodhisattva – bồ đề tát đoả” có nghĩa là trở thành hoàn toàn tỉnh giác, hữu tình giác.

Tất cả những danh từ, thuật ngữ trên đều cùng một căn nguyên là “budh – tri thức.” Từ “buddhi” cũng phát xuất từ căn nguyên “budh” này. Cái căn nguyên từ “budh” có nhiều khía cạnh. Khôn g có một từ ngữ tiếng Anh nào có thể diễn dịch chuẩn xác về từ “budh” cả. “Budh” mang nhiều hàm ý. Nó rất uyển chuyển linh động và nên thơ. Không có một ngôn ngữ nào trên thế giới lại có một danh từ hàm xúc sâu xa như là danh từ “budh” của Ấn.

Thứ nhất “budh là “giác ngộ, tự giác, và giác tha, có nghĩa là tự mình giác ngộ và giúp cho mọi người đều được giác ngộ như mình. Giác ngộ được ví như là tỉnh cơn mê ngủ. Trong vùng ảo mộng, hành giả bỗng bừng tỉnh giấc chiêm bao. Đó là nghĩa thứ nhất của tri thức, “budh” tạo ra sự tỉnh thức trong anh.

Thói thường, con người đều sống say chết ngủ. Ngay cả khi anh thức, anh cũng không “tỉnh” đâu. Bước đi trên đường, anh hoàn toàn không ngủ – trong tâm trí anh, anh cho là anh tỉnh. Nhưng nhìn qua lăng kính của Phật, anh là kẻ ngủ say, một ngàn lẻ một giấc mộng và tư tưởng đang gào thét ầm ĩ trong anh, thế mà anh vẫn ngủ say, vẫn không tỉnh.

Ánh sáng nội tâm của anh mờ mịt quá. Đó là hình thức say ngủ. Phải, mắt anh mở to ra đấy, rõ ràng như thế nhưng anh vẫn say – có nhiều người đã mộng du, đi trong giấc ngủ, đi và ngủ với đôi mắt mở to. Và Phật nói: “Ngươi cũng là kẻ mộng du – với đôi mắt mở to thao láo.”

Cặp mắt thịt (nhục nhãn) của anh mở to, nhưng mắt trí tuệ, mắt nội tâm anh lại không mở. Anh vẫn chưa biết anh là ai. Anh không nhìn vào thực tại của chính anh. Anh chưa tỉnh. Anh vẫn còn mê ngủ. Cái tâm trí đầy những tư tưởng đó không thức tỉnh, không thể tỉnh thức được.

Chỉ có tâm thức đã buông xả được tất cả mọi tư tưởng, suy nghĩ, vọng động, đã vẹt được đám mây che phủ kia đi – và mặt trời chiếu sáng trên cao, bầu trời trong vắt không gợn một áng mây – là tâm thức tỉnh giác.

Trí tuệ là khả năng sống trong hiện tại. Anh càng truy tìm quá khứ hay rong ruỗi theo tương lai, anh càng kém trí tuệ đi. Trí tuệ là khả năng sống bây giờ và ở đây, sống ngay trong giây phút này và không một nơi nào khác cả. Đó là sự tỉnh thức. Anh đã tỉnh thức. Ví dụ như anh đang ngồi trong nhà và bỗng dưng căn nhà bốc cháy, mạng sống anh đang gặp nguy hiểm. Trong thoáng chốc, anh bừng tỉnh.

Ngay cái giây phút nguy hiểm cận kề cái chết đó, anh không còn có thể suy nghĩ lan man nữa. Ngay giây phút tử sanh đó, anh quên hết quá khứ của anh. Ngay giây phút tử sanh đó, anh không còn nghe những âm thanh gào thét ầm ĩ của những ức niệm tâm lý của anh – rằng anh đã yêu người đàn bà đó 30 năm trước đây, và ôi, đời sống mới đáng yêu làm sao! Hay một ngày nọ, anh bước vào một nhà hàng Tàu và mùi vị thơm ngon của thức ăn ngào ngạt, mùi bánh mì mới thơm phưng phức . . .

Không, anh không còn kịp thời gian để nghĩ vớ vẩn như vậy nữa. Không, khi căn nhà cháy, anh không còn có thời giờ để ngồi mơ tưởng suy diễn lan man. Bất thình lình, anh bổ nhào tới cái giây phút là: căn nhà bốc cháy và mạng sống anh đang nguy hiểm, như sợi chỉ mành treo chuông. Anh không mơ nổi đến tương lai, anh sẽ không có cái ngày mai. Tương lai bất khả đắc, quá khứ bất khả đắc, ngay hiện tại cũng bất khả đắc! Chỉ có giây phút này, cái giây phút hi hữu này. Đó là ý nghĩa đầu tiên của danh từ “budh – giác ngộ – trí tuệ.”

Và cánh cửa nội tâm anh đã mở. Người nào thực sự tỉnh thức, thực sự muốn thành Phật, phải sống trong từng phút giây căng thẳng như vậy – như thể là anh luôn đang sống trong nguy hiểm.

Cái nghĩa thứ nhất của giác ngộ đối nghịch lại với mê ngủ. Và lẽ dĩ nhiên, anh chỉ có thể thấy được thực tại khi anh không say ngủ. Anh có thể đối diện thực tại, anh có thể nhìn sâu vào đôi mắt chân lý – hay gọi chân lý là thượng đế, là Chúa – anh chỉ nhìn thấy như vậy khi anh tỉnh thức. Anh có hiểu điểm đích tột cùng của sự căng thẳng, của sự bị thiêu đốt không? Hoàn toàn tỉnh thức, nội tại hoàn toàn tỉnh thức. Ánh sáng tỉnh thức nội tại đó đem lại tự do, đem lại chân lý.

Ý nghĩa thứ hai của danh từ “budh” là trực nhận – ghi nhận, hiểu biết, tỉnh giác. Đức Phật là người đã trực nhận cái giả huyễn là giả huyễn, cái thực là cái thực. Thấy giả đúng là giả, đó là bước đầu của sự hiểu biết chânlý là gì. Chỉ khi nào anh thấu đáo được giả là giả, anh mới có thể biết chân lý là gì.

Anh không thể tiếp tục sống trong ảo giác mê lầm nữa, anh không thể tiếp tục sống trong niềm tin của anh, anh không thể tiếp tục sống trong những phán xét suy đoán của anh nếu anh thực tâm muốn biết sự thật. Cái giả phải được nhận diện rõ ràng là giả. Ý nghĩa thứ hai của danh từ “budh – giác ngộ” là trực nhận, nhận diện giả là giả, không thật là không thật.

Thí dụ như anh tin vào thượng đế, anh sanh ra đã là người đạo Thiên Chúa hay một người Ấn Độ giáo hay một tín đồ Hồi giáo. Anh đã bị nhồi sọ là thượng đế hiện hữu, thượng đế có mặt khắp nơi; người ta đã làm anh hãi sợ thượng đế rằng nếu anh không tin có thượng đế, có Chúa, anh sẽ bị đau đớn, anh sẽ bị trừng phạt; rằng thượng đế, Chúa rất hung ác; rằng Chúa sẽ không bao giờ tha thứ cho anh nếu anh không tin vào Chúa, vào thượng đế. Vị Chúa Do Thái nói rằng, “Ta là một vị Chúa rất ganh tị.

Các ngươi phải thờ phụng chỉ một mình Ta thôi, không được thờ một ai khác!” Thượng đế bên Hồi giáo cũng rống lên: “Chỉ có một thượng đế tối cao, một thượng đế duy nhất, không có ai khác. Chỉ có một thánh tiên tri là Mohammed – không có một vị thánh nào hết!”

Cái điều kiện đó ăn sâu vào tiềm thức tâm khảm anh đến độ nó cứ lần lựa lay lứt trong anh ngay cả khi anh quyết không tin vào thượng đế.

Một ngày kia, Mulla Nasruddin có mặt ở đây và tôi hỏi ông ta rằng:

-“Này, Mulla Nasruddin, bởi vì ông đã chuyển hướng thành cộng sản, đã thành một đồng chí rồi, vậy thượng đế của ông thế nào?”

Mulla trả lời:

-“Không có thượng đế gì hết! Chỉ có Mohammed là vị thánh duy nhất mà thôi!”

Xem tiếp

Chương 1

Chương 2

Chương 3

Chương 4

Chương 5

Chương 6

Chương 7

Chương 8

Chương 9

Chương 10

The post Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 8: Con Đường Minh Triết appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-8.html/feed 0
Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 7: Chân Không Viên Mãn https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-7.html https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-7.html#respond Wed, 31 Jul 2019 04:25:33 +0000 https://bachhac.net/?p=1153 Chân Không Viên Mãn Thiền định là gì? – bởi vì toàn bộ cốt lõi phẩm Kinh Bát Nhã đặt trọng tâm về thiền định nên chúng ta hãy nghiền ngẫm suy tư về vấn đề này. Thứ nhất: nói cho đúng, nói cho rốt ráo, thiền không phải là định. Trong định, có cái …

The post Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 7: Chân Không Viên Mãn appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
chân không viên mãn, bát nhã tâm kinh chương 7

Chân Không Viên Mãn

Thiền định là gì? – bởi vì toàn bộ cốt lõi phẩm Kinh Bát Nhã đặt trọng tâm về thiền định nên chúng ta hãy nghiền ngẫm suy tư về vấn đề này.

Thứ nhất: nói cho đúng, nói cho rốt ráo, thiền không phải là định. Trong định, có cái cá nhân của hành giả đang tập trung và có đối tượng quán chiếu để hành giả tập trung tư tưởng vào. Đó là hình thái nhị nguyên đối đãi. Nhưng trong thiền, không có ai bên trong nội tại và cũng không có cái gì bên ngoài để quán chiếu. Với hình thức nhị nguyên đối đãi đó, có năng có sở, có chủ thể, có khách thể, có ta có vật hay có ta có người, thì đó không phải là thiền. Không được có sự phân chia cách biệt giữa trong và ngoài. Cái nội tại bên trong tuôn chảy chan hòa vào trong cái bên ngoài, và cái bên ngoài cũng hòa tan trộn lẫn vào cái bên trong. Sự phân định ranh giới đó, cái giới hạn, cái vòng đai “trong, ngoài” đó phải không được và không thể nào tồn tại, không còn tồn tại nữa. Trong là Ngoài, Ngoài là Trong, Trong ở Ngoài, Ngoài ở Trong, đó chính là Ý Thức Bất Nhị.

Định là ý thức đối đãi, nhị nguyên: bởi thế Định tạo ra sự mệt mỏi, chán ngán, cho nên khi anh tập trung vào một đối tượng nào, anh cảm thấy mệt lả. Anh không thể tập trung suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ liền được, anh phải nghỉ ngơi. Sự tập trung không bao giờ có thể trở thành bản chất của anh được.

Thiền không bao giờ làm cho anh mệt mỏi. Thiền không bao giờ làm cho anh đuối sức. Anh có thể thiền hai mươi bốn giờ đồng hồ liền hay ngày nọ qua ngày kia, năm nọ qua năm kia. Thiền có thể trở thành vô tận vì chính bản chất thiền là thư thái, an nhiên, tuyệt đối không căng thẳng, mệt lả, đuối sức.

Định là một hành động, một loại hành động có ý chí mạnh mẽ. Còn Thiền là trạng thái không ý chí, một trạng thái vô hành. Thiền là sự thư giản tâm trí, là sự buông xả tất cả các cơ bắp và trí năng. Hành giả chỉ cần buông xả tất cả trọng lực toàn thân vào chính con người mình, không gồng cứng các cơ bắp cũng không dồn hết năng lực tâm trí vào một đối tượng nào khiến cho hành giả phải bị căng thẳng thân tâm quá mức. Khi hành thiền, cả thân lẫn tâm hành giả đều an nhiên, nhẹ nhàng, thư giãn, buông xả, theo danh từ nhà Phật, trạng thái an nhiên thư thái tuyệt mức đó gọi là “khinh an, xả ly triệt để.”

Trong Định, chúng ta đã có sẵn một kế hoạch, một dự án, một tư tưởng trong tâm trí. Khi anh tập trung tâm trí vào một đối tượng, đầu óc anh hoạt động dữ dội, anh thấy rõ là anh đang quán chiếu cái gì, tập trung tâm ý vào cái gì, vì tập trung hiện ra từ vùng quá khứ.

Trái ngược lại, không có một chủ thể, một kết luận nào đằng sau thiền cả. Anh không làm cái gì đặc biệt cả, anh chỉ là một hữu thể, đơn giản vậy thôi. Anh không bị quá khứ chi phối và cũng tuyệt nhiên không có cả dấu chân tương lai trong thiền.

Đó là cái mà Lão Tử đặt tên là Vi –Vô Vi, Hành – Bất Hành. Đó là cái mà tất cả các thiền sư nói là: “Ngồi yên lặng, không làm gì hết, Xuân đến và tự cỏ cây hoa lá nẩy mầm xanh tươi.” Hãy nhớ, “tự nó là” – vạn vật tự nhiên sanh trưởng, không có cái gì được làm ra cả. Anh không kéo cỏ cây cho nó mọc lên, mùa Xuân đến và cỏ cây phát triển tự nhiên, tự nó sanh sôi nẩy nở.

Cái trạng thái đó – cái trạng thái khi mà anh cho phép dòng sống tự nó phát triển theo cách của riêng nó, khi mà anh không muốn hướng dẫn nó theo ý muốn của anh, khi anh không chỉ huy và cũng không hề muốn chi phối kiểm soát nó, khi anh không điều khiển nó, khi anh không ép buộc cưỡng cầu áp đặt bất cứ một giáo điều qui chế nào lên nó cả – cái trạng thái bộc phát tự nhiên hoàn toàn không nặng tín điều qui ước gì cả đó, chính là Thiền.

Thiền ở ngay giây phút hiện tại, ngay hiện tại trong trinh này. Thiền là sự tiếp cận, là sự gần gũi. Anh không hành thiền, nhưng anh có thể sống trong thiền; anh không tập trung tư tưởng nhưng anh có thể chú tâm. Định mang tánh cách con người; nhưng Thiền thì linh thiêng hơn.

Định đặt trọng tâm trong anh, và từ trọng tâm đó, Định bộc khởi. Định có tánh chất cá nhân bản ngã. Thực tế, người nào tập trung cao độ sẽ bộc phát một tự ngã rất mạnh. Người đó bắt đầu trở thành càng lúc càng xung động, càng bạo quyền hơn; ý chí người đó càng lúc càng hợp nhất hơn, và tổng hợp lại thành một. Song, con người của Thiền thì không trở thành bạo hành như vậy. Thiền giả càng hành trì thâm sâu, càng trở nên yên tĩnh, ôn hòa, sâu lắng. Quyền lực được tạo ra bởi sự mâu thuẫn đối kháng, mọi quyền lực phát xuất từ sự ma xát đối kháng trái nghịch nhau. Dòng điện lực cũng được cấu tạo ra do sự ma xát. Anh có thể tạo ra điện lực từ nước: khi dòng suối đổ xuống từ triền núi, nước tuôn ào xuống qua những hòn đá, tạo ra một sự ma xát giữa nước và đá, gây nên một năng lực, đó chính là dòng điện lực phát xuất từ sự ma xát giữa nước trên đá.

Trên nguyên lý đó, chúng ta thấy vì sao những người thích quyền lực luôn gây hấn, chống đối lẫn nhau. Vì sự gây hấn chiến đấu đó tạo ra năng lực và luôn luôn từ sự ma xát chiến đấu lẫn nhau đó, quyền lực bộc phát. Thế giới loài người cứ xảy ra chiến tranh liên miên vì thế giới này bị chi phối chế ngự quá nhiều bởi cái tư tưởng quyền lực.

Anh không thể mạnh nếu anh không chiến đấu. Trái lại, thiền đem đến thanh bình. Sự thanh bình nội tại đó có mãnh lực riêng của nó, nhưng có hai hiện tượng khác nhau. Cái quyền lực phát xuất từ bạo hành, xung đột, khiêu chiến . . . là dương; còn cái quyền lực phát xuất từ sự thanh tịnh, hài hòa, nhu nhuyến, là âm. Sự thanh bình đó ẩn tàng một ân sủng thánh thiện, linh thiêng trong nó. Đó là một quyền lực thụ động, một sự nhẫn chịu, một sự khoan dung, cởi mở. Sự thanh bình đó không phát xuất từ sự ma xát chiến tranh, vì thế nó rất ôn hòa, không bạo động.

Đức Phật rất kiên cường, kiên cường trong sự thanh tịnh nội tại của Ngài, trong sự yên lặng của Ngài. Phật mạnh mẽ, kiên cường nhưng kiên cường như một bông hoa hồng chứ không phải cương mãnh như bom nguyên tử. Phật mạnh mẽ như nụ cười của đứa bé thơ . . . nụ cười của đứa bé thơ rất mong manh, rất dễ vỡ, rất ẻo lả yếu ớt, chứ không sắc bén mạnh mẽ như một lưỡi kiếm.

Năng lực mãnh liệt của Phật đó, như ngọn đèn nhỏ của trái đất, một ánh lửa nhỏ cháy sáng trong đêm trường tối đen, mờ mịt. Cái năng lực đó ở một bình diện hoàn toàn khác. Đó là năng lực thiêng liêng vượt hẳn khỏi sư ma xát giữa hai vật. Định là một sự ma xát: anh chiến đấu với chính tư tưởng của anh. Anh cố gắng tập trung tâm trí anh một cách nào đó, về một ý tưởng nào đó, về một đối tượng nào đó.

Anh áp chế tâm trí anh, anh cố gắng kéo đi kéo lại cái tâm viên ý mã của anh. Cái tâm trí lăng xăng như khỉ chuyền cành, như ngựa chạy rong đó đang vùng vẫy cố thoát ra, nó muốn bung ra để chạy, nó lạc lối, nó bắt đầu suy diễn hàng ngàn lẻ một thứ, và anh cứ cố sức mà lôi kéo nó trở về. Anh đang chống trả lại với chính anh, anh đang chiến đấu trong chiến trường tự thân của anh. Lẽ dĩ nhiên, cái thứ quyền lực được cấu tạo ra từ bạo hành đó, từ những mâu thuẫn đối kháng đó gây tác hại như bất cứ thứ quyền lực nào khác, nguy hiểm độc hại như bất cứ thứ quyền lực nào khác.

Cái thứ quyền lực đó rồi sẽ bị sử dụng lại để gây hại cho người khác vì quyền lực này phát xuất từ sự ma xát bạo lực. Cái gì phát xuất từ bạo lực sẽ gây ra bạo lực, hủy diệt. Cái năng lực phát xuất từ thanh bình tâm trí, không bạo hành ma xát thì sẽ đưa người ta đến an tịnh nhu hòa, như năng lực của cánh hoa hồng hàm tiếu kia, như năng lực của nụ cười trẻ thơ, như năng lực của ngọn đèn nhỏ, như năng lực của dòng nước mắt người phụ nữ, năng lực trong những giọt lệ và trong những hạt sương. Thật bao la nhưng không nặng nề khó thở, thật vô tận nhưng không bạo quyền.

Xem tiếp

Chương 1

Chương 2

Chương 3

Chương 4

Chương 5

Chương 6

Chương 7

Chương 8

Chương 9

Chương 10

The post Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 7: Chân Không Viên Mãn appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-7.html/feed 0
Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 6: Đừng Quá Tính Táo https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-6.html https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-6.html#respond Wed, 31 Jul 2019 04:23:25 +0000 https://bachhac.net/?p=1150 Đừng Quá Tỉnh Táo! Câu hỏi thứ nhất: Osho thân mến, “Sự khác biệt giữa Tánh Không của một đứa trẻ trước khi bản ngã của nó thành hình và tánh chất tỉnh thức hoàn toàn trong sáng vô tư như một đứa trẻ của Phật là như thế nào?” Có sự giống nhau và …

The post Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 6: Đừng Quá Tính Táo appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
chương 6

Đừng Quá Tỉnh Táo!

Câu hỏi thứ nhất:

Osho thân mến,

“Sự khác biệt giữa Tánh Không của một đứa trẻ trước khi bản ngã của nó thành hình và tánh chất tỉnh thức hoàn toàn trong sáng vô tư như một đứa trẻ của Phật là như thế nào?”

Có sự giống nhau và có sự khác nhau. Thực ra, đứa trẻ là một vị Phật, nhưng Phật tánh của nó, tánh giác ngộ của nó, sự ngây thơ vô tư của nó vốn là tự nhiên, vốn dĩ đã có, không phải là sự thâu hái gặt quả. Sự ngây thơ của nó là một tánh chất, là một loại vô minh, chứ không phải là sự thành đạt tu trì. Sự ngây thơ của nó không có ý thức – đứa trẻ đó không ý thức, không quan tâm chút nào về tỉnh thức. Sự ngây thơ của đứa trẻ vốn sẵn có, vốn đã hiện diện nhưng đứa trẻ đã lãng quên, vô ý thức. Nó sẽ đánh mất sự ngây thơ vô tư đó. Nó phải mất. Thiên đường tuổi thơ sớm hay muộn gì rồi cũng sẽ bị mất; đứa trẻ đang đi trên con đường đánh mất tuổi thơ. Đứa trẻ nào cũng đều đi qua những cửa ngõ đỗ vỡ, bất tịnh – đó là cuộc đời, là thế giới chúng ta đang sống.

Sự ngây thơ của đứa bé là sự ngây thơ của Adam trước khi bị trục xuất ra khỏi vườn Địa Đàng, là sự ngây thơ trước khi Adam nếm thử Trái Cấm Tri Thức, là sự ngây thơ trước khi Adam có ý thức. Nó giống như bản năng của loài thú vật. Anh hãy nhìn vào mắt của bất cứ giống vật nào – một con bò, một con chó – anh thấy gì không? Đó, ở đôi mắt con bò, con chó đó, có sự trong sáng, ngây thơ, cái tánh chất trong sáng ngây thơ vốn từng hiện hữu trong đôi mắt một vị Phật, nhưng duy có một sự khác biệt giữa nhau.

Sự khác biệt đó thật khác, thật xa nhau, khác hoàn toàn và mông mênh: đó là vị Phật đã “trở về nhà,” còn loài vật thì “chưa rời khỏi nhà.”

Đứa trẻ vẫn ở vườn địa đàng, vẫn còn ở thiên đường. Nó sẽ mất thiên đường – bởi vì khi được một cái gì thì đổng thời ta sẽ mất đi một cái gì đó, bù lại.

Phật đã trở về nhà . . . sau khi đi một vòng thật tròn đầy. Phật đã bỏ đi, đã lạc bước, đã thất lạc, Phật đã rớt xuống tận cùng hố thẳm của tội lỗi, của đói khát, khổ đau, của địa ngục. Những “kinh nghiệm sống sót” sau những lần rơi xuống đó là một phần của sự trưởng thành và khôn lớn. Không có những kinh nghiệm đau thương đó, bộ xương của anh sẽ không có cứng cáp đâu, anh sẽ oặt ẹo, không có xương sống; có nghĩa là anh không có cái cột trụ nào để chống đỡ cả. Không có những kinh nghiệm thăng trầm biến đổi đó, sự ngây thơ của anh rất mong manh, nó không thể chịu đựng nổi sóng gió, bão tố cuộc đời. Nó rất yếu, nó không thể sống sót được. Sự ngây thơ trong trắng của anh phải chịu đi xuyên qua ngọn lửa cuộc sống – anh sẽ mắc phải một ngàn lẻ một lỗi lầm, một ngàn lẻ một lần anh bị rơi tòm xuống hố, nhưng rồi anh sẽ ngóc cổ đứng dậy trở lại được. Tất cả những kinh nghiệm đó, từ từ, từ từ sẽ làm anh chín muồi, sẽ làm anh khôn lớn chững chạc, và anh sẽ trưởng thành.

Sự ngây thơ của Phật là sự ngây thơ của một người đã trưởng thành, hoàn toàn trưởng thành. Cái tánh chất trẻ con là một vòng tròn không có trọng điểm nào ở trung tâm cả. Phật tánh cũng là một vòng tròn, một chu vi nhưng trụ rễ lại ở ngay trung tâm. Tánh chất trẻ con là không tên, một nặc danh không có ý thức. Phật tánh cũng nặc danh nhưng có ý thức. Cả hai đều vô sắc, vô danh . . nhưng đứa trẻ thì chưa biết gì về hình thái và khổ đau của sự không tỉnh thức. Nó cũng giống như anh chưa bao giờ ở tù nên anh không hiểu được tự do là gì, tự do qúi báu như thế nào. Và rồi anh bị ở tù nhiều năm hay nhiều đời, và một ngày kia, anh được phóng thích . . . anh rakhỏi tù, anh nhẩy, anh hát, anh ca; thật tuyệt diệu, ôi vô cùng tuyệt diệu! Và anh ngạc nhiên xiết bao khi anh thấy có người sống ở ngoài cửa ngục, đi đứng tự nhiên trên đường, đi đến sở làm, đến công xưởng, đến văn phòng . . . nhưng họ không hưởng thụ được tự do một chút nào – họ đã lãng quên, họ không biết rằng họ đang sung sướng được tự do. Làm sao họ biết được? Bởi vì họ chưa hề ở tù nên họ không biết cái đau khổ bị mất tự do; nền tảng của sự nhận thức của họ đã mất. Cũng giống như anh viết bằng phấn trắng lên trên bức tường mầu trắng – không có một ai có thể đọc được anh đã viết những gì. Anh sẽ nói gì với họ đây – bởi vì ngay cả chính anh, anh cũng không đọc được anh đã viết những gì.

Tôi có nghe một câu truyện dí dỏm về Mulla Nasruddin. Ông là người duy nhất trong làng biết viết; vì thế mọi người thường hay đến tìm ông để nhờ ông viết thơ, viết đơn từ, v.v. Ông là người duy nhất biết viết chữ. Một ngày kia, có một người đến nhà nhờ Nasruddin viết dùm cho một lá thơ theo lời hắn ta đọc – và lá thơ thật dài, dài lê thê – cuối cùng, người đàn ông đó nói với Nasruddin, “Ông vui lòng đọc lại tôi nghe, bởi vì tôi muốn chắc chắn rằng tất cả những gì tôi muốn nói đều được viết hết trong thơ, tôi không quên điều gì và ông cũng không bỏ sót hay viết lộn xộn một cái gì.”

Mulla trả lời: “Bây giờ mới thực là khó khăn đấy. Tôi biết viết nhưng khổ quá, lại không biết đọc. Vả lại hơn nữa, lá thơ này không phải gởi cho tôi, cho nên thật không phải phép, không lịch sự để đọc lá thơ này.”

Người kia đuối lý, bị thuyết phục, ý kiến của Nasruddin hoàn toàn đúng và hắn ta chỉ còn nước nói, “Phải, ông nói chí phải – lá thơ không phải gởi cho ông.”

Nếu anh viết bằng phấn trắng trên bức tường trắng, chính anh cũng không đọc được, nhưng nếu anh viết trên bảng đen thì tất cả những gì anh viết đều hiện rõ ràng – anh có thể đọc được. Đó, sự tương phản cần có nhau để hiện khởi. Đứa trẻ không có sự tương phản; đứa trẻ làdãi lụa bạc trắng không có một đốm đen; tâm hồn đứa trẻ vô ý thức dưới bất cứ tình huống trạng thái nào; nhưng Đức Phật là dãi lụa bạc trắng tinh trong vầng mây đen ám, tỉnh thức trong từng sát na mọi trạng huống thay đổi của tâm.

Ban ngày, những ngôi sao đã có trên bầu trời, các ngôi sao không biến đi đâu hết, chúng không di chuyển nhanh dễ sợ vậy đâu, chúng không thể biến mất. Cả ngày chúng vẫn có ở trên trời, nhưng anh không thể thấy chúng. Nhưng đến ban đêm, anh thấy các vì sao rõ hơn bởi vì có màn đêm tương phản. Hoàng hôn càng dần thấp xuống, càng xuống thấp, những ngôi sao lấp lánh hiện rõ ra trên bầu trời.

Đứa trẻ có sự ngây thơ nhưng không có một cái nền tảng, một cái phông gì cả. Anh không thể thấy sự ngây thơ, anh không thể đọc được sự ngây thơ, anh không thấy gì cả vì không có sự đối nghịch tương phản. Một vị Phật thì đã sống trọn cả cuộc đời, đã làm tất cả những gì cần làm – tốt và xấu – đã chạm đến cái cực điểm, đã là một người tội lỗi, một vị thánh. Hãy nhớ là, một vị Phật không phải chỉ là thánh nhân đâu nhé; Phật có thể là một người tội lỗi, và cũng đã là một vị thánh. Chân Như Phât Tánh là vượt qua cả thánh – phàm, tội lỗi – trong sạch. Và bây giờ, vị Phật đó đã “trở về.” Hãy nhớ là, Phật có nghĩa là “giác ngộ, là thức tỉnh!”

Đó là lý do Phật đã thuyết trong bản kinh ngày hôm qua: “Na jhanam, na praptir na – apraptih – Vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo, vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố . . .” Không có trí, không có đắc, không có cả cái không chứng đắc. Khi Phật chứng đắc đại giác, có người đã hỏi Phật, “Ngài chứng đắc gì vậy?” Phật đã cười, nói rằng, “Ta không chứng đắc gì cả – Ta chỉ khám phá cái gì đã tiềm tàng sẵn có trong ta. Ta chỉ đơn giản “trở về.”

Ta đã thấy cái gì luôn vẫn ở trong ta, chân thật là của ta. Ta không bám víu chấp thủ vào cái đó, Ta chỉ đơn giản nhận diện ra nó. Đó không phải là sự khám phá, mà đó là sự nhận diện trở lại, sự tái khám phá. Khi nào ngươi đạt được qủa vị giác ngộ, ngươi sẽ thấy hiểu được điều đó – không có chứng đắc gì cả khi đạt qủa vị giác ngộ. Bất thình lình ngươi thấy đó chính là Bản Tánh uyên nguyên của ngươi.

Nhưng để thấy được chân tâm thường hằng đó, ngươi phải lạc bước, ngươi phải xuống sâu tận cùng cơn trốt xoáy của dòng sống. Ngươi phải nhẩy vào tất cả những nơi chốn và không gian bùn lầy ô nhiễm, chỉ để thấy Tánh Trong Sáng Tuyệt Đối của ngươi, Tánh Thanh Tịnh Vô Nhiễm của ngươi.”

 

Xem tiếp

Chương 1

Chương 2

Chương 3

Chương 4

Chương 5

Chương 6

Chương 7

Chương 8

Chương 9

Chương 10

The post Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 6: Đừng Quá Tính Táo appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-6.html/feed 0
Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 5: Hương Vị Chân Không https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-5.html https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-5.html#respond Wed, 31 Jul 2019 04:13:08 +0000 https://bachhac.net/?p=1147 Hương Vị Chân Không Chân Không là hương vị của cái vượt qua tầm nhận thức lý luận tầm thường. Chân Không là sự khai phóng của trái tim con người đến sự chuyển hóa. Chân Không là phút giây hé nở của đóa hoa sen ngàn cánh. Chân Không là số phận con người. …

The post Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 5: Hương Vị Chân Không appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
bát nhã tâm kinh - chương 5

Hương Vị Chân Không

Chân Không là hương vị của cái vượt qua tầm nhận thức lý luận tầm thường. Chân Không là sự khai phóng của trái tim con người đến sự chuyển hóa. Chân Không là phút giây hé nở của đóa hoa sen ngàn cánh. Chân Không là số phận con người.

Con người chỉ toàn vẹn, viên mãn khi hắn chạm tới được Chân Không, khi hắn lọt vào được vùng Chân Không tuyệt đối ngay trong con người hắn, khi Chân Không lan tỏa tràn ngập khắp con người hắn, khi hắn chính là bầu trời trong ngần xanh lơ, không có một áng mây vần phủ.

Đức Phật gọi Chân Không đó là Niết Bàn. Trước tiên chúng ta cần phải hiểu Chân Không là gì, bởi vì Chân Không không phải là cái rỗng không, cái trống trơn, cái ngoan không – Chân Không thật đầy, thật tràn đầy. Đừng bao giờ, dù chỉ một phút giây, một tích tắc thời gian, anh nghĩ rằng Chân Không là một trạng thái tiêu cực, là một sự vắng bóng. Không. Chân Không đơn giản là Chân Không. Vạn vật biến mất, chỉ còn lại là thể chất tuyệt đối. Hình thể biến mất, chỉ còn lại cái không hình thể.

Định nghĩa biến mất, cái không thể định nghĩa duy nhất còn lại. Vì thế, Chân Không không phải ví như là không có cái gì cả. Có thể nói đơn giản là không thể định nghĩa được là cái gì là chân Không – ngôn ngữ hữu hạn của loài người không đủ và không có khả năng để diễn đạt đúng nghĩa Chân Không.

Không thể nào hiểu như là anh dời hết đồ đạc bàn ghế trong nhà anh ra ngoài rồi một người quen nào đó vào nhà và nói: “Bây giờ thì trống rỗng, không có gì hết.” Trước kia, một người bạn đã đến nhà, đã thấy những đồ đạc bàn ghế, trong tàng thức của anh ta đã chụp sẵn hình dáng của đồ đạc bàn ghế, nay phòng khách trống trơn, không có bàn ghế nên anh ta cho là trống trơn, không có gì hết.

Cái ý nghĩ “trống trơn, không có gì hết” đó của bạn anh chỉ đúng trên giá trị tương quan đối đãi mà thôi. Thực ra, khi anh dời bàn ghế ra ngoài, anh chỉ đơn giản dời bỏ đi những chướng ngại vật chiếm một khoảng không gian nào đó trong nhà mà thôi. Bây giờ, cái không gian trong trinh trọn vẹn đó hiện bày, bây giờ không có một vật chướng ngại nào cả. Bây giờ không có một áng mây nào lơ lững trên bầu trời; chỉ có bầu trời, bầu trời mà thôi. Đó không phải chỉ là sự vắng bóng mà còn là sự hiện diện.

Anh đã từng ở trong một căn nhà trống trơn hoàn toàn bao giờ chưa? Nếu có, anh sẽ cảm nhận cái Chân Không hiện diện; nó rất mong manh, lung linh, nhưng hữu hình, anh có thể chạm vào nó. Đó chính là cái Đẹp thực sự của một ngôi chùa, một đền thờ, một thánh đường – một Chân Không trọn vẹn, hoàn hảo, Chân Không, chỉ có Chân Không.

Khi anh vào một thánh đường, một nơi tôn nghiêm nào đó, có cái gì vây bọc ôm trọn lấy anh; đó là Chân Không. Không có gì hết, nhưng lại có tất cả. Trong cái Chân Không đó, có một cái gì thiêng liêng mầu nhiệm đầy ân sủng, thánh thiện hiện hữu – nhưng sự rung động mong manh kỳ bí đó của Chân Không chỉ hiện hữu cho những ai cảm nhận được nó mà thôi. Rất ít người cảm nhận được Chân Không, vì những người cảm nhận được là những người rất nhậy cảm, rất thức tỉnh, rất minh mẫn linh hoạt và rất phong phú niềm sùng kính đam mê.

Khi anh ân ái giao hợp với một người phụ nữ anh thương, cái tột đỉnh của khoái lạc chính là đỉnh cao của Chân Không. Ngay giây phút Chân Không hay khoái lạc cực điểm đó, người đàn bà không còn là người đàn bà nữa và người đàn ông cũng không còn là người đàn ông nữa. Những hình thái nam nữ đó đã biến mất.

Cái tính chất phân cực, sự phân biệt giữa đàn ông và đàn bà không còn đó nữa, sự căng thẳng không còn đó nữa; tất cả đã tuyệt đối buông xả, thư giản hoàn toàn. (* Ngay đoạn văn này, người dịch muốn nêu rõ một điểm trên tinh thần Bát Nhã là có rất nhiều người do không hiểu đúng hoặc cố tình hiểu sai, lệch lạc tinh thần cũng như ý nghĩa “Chân Không” nên đã hành động tà ngụy, và dùng luận điệu Bát Nhã để biện luận cho hành vi sái quấy của họ cũng như lừa dối, bịp bợm người khác, sống đội lốt lợi dụng kẻ ngây thơ.

Đọc Osho, chúng ta phải đứng trên lập trường phá chấp nhưng không sai Chánh pháp, chúng ta phải có một trình độ tư duy cao, hiểu biết đúng đắn, nhận thức rõ ràng; không nên vội kết án Osho sử dụng những danh từ hay ví dụ qúa thực tế; nên nhớ là Osho viết cho người Tây Phương với quan niệm khác Á Đông.) Cả hai đã hòa tan trộn lẫn vào nhau. Cả hai đã biến dạng vào nhau và đã đạt tới một trạng thái không thể nào định nghĩa được.

Người đàn ông không thể nào nói “Tôi” ở đây, và người đàn bà cũng không thể nói “Tôi”; cả hai không còn cái Tôi cá thể nữa, cái bản ngã của cả hai không còn – bởi vì bản ngã luôn luôn đối kháng, chống chọi, cái bản ngã hiện hữu qua đối kháng, nó không thể tồn tại nếu không có đối kháng.

Như thế, ngay cái giây phút tột đỉnh đó, không còn cái Ta dung tục tầm thường nữa. Cái Đẹp trọn vẹn nhân bản là đó, trạng thái xuất thần kỳ diệu là đó, niềm an lạc thiền định là đó. Đối với những người chỉ thấy phần vật chất sẽ nói rằng “Có cái gì ở đây không? Không, không có gì hết.” Nhưng đối với những người có khả năng thấy được cái Chân Không, họ sẽ nói: “Vì không có gì nên có tất cả.”

Tánh chất “Có” và “Không” là bí mật của Chân Không. Hãy để tôi nhắc lại điều này, vì nó chính là cơ bản, chính là nền tảng tiếp cận của phương pháp đạo Phật. Chân Không không đồng nghĩa với cái ngoan không, cái không trơ. Chân Không là “trong Không có Có, trong Có có Không,” khi các điểm đối nghịch không còn là những điểm đối kháng nhau nữa.

Âm và dương, khẳng định và phủ định, ngày và đêm, mùa hè và mùa đông, sống và chết – tất cả đối nghịch nhau. Khi “Có” và “Không” gặp nhau, khi những điểm đối nghịch gặp nhau và không còn đối nghịch, khi chúng hoà tan trộn lẫn vào nhau như nước với sữa, đó là tuyệt đỉnh hạnh phúc, vượt qua phần lý luận của ý thức, vượt qua “Có” và “Không”.

Cái tánh chất “Có” và “Không” đó là bí mật của Chân Không, của Niết Bàn. Chân Không không phải là ngoan không, không phải là trống không mà Chân Không hiện hữu bàng bạc nhưng vững chắc. Chân Không không loại trừ những điểm đối nghịch; nó bao gồm và ôm trọn luôn. Đó là một Chân Không viên mãn, tràn đầy. Đừng bao giờ, anh đừng bao giờ, dù chỉ một phút giây để cho cái từ điển đầy chữ nghĩa kia đánh lừa anh, nếu không, anh sẽ vuột mất cơ hội hiểu được Phật, gặp Phật – có nghĩa là anh sẽ bỏ lỡ dịp may “thấy rõ được chính mình”.

Nếu anh lật cuốn từ điển và tra cứu cái nghĩa “Chân Không” là gì, anh sẽ vuột mất cơ hội gặp Phật đấy, anh bạn của tôi ơi! Cuốn từ điển đó chỉ cho anh cái nghĩa thông thường, rất thông thường của danh từ “Không”, có nghĩa là trống không. Không có gì hết – nhưng danh từ Chân Không của đạo Phật không mang ý nghĩa tầm thường như vậy.

Chân Không mà Phật nói có ý nghĩa hết sức lạ lùng, kỳ bí, huyền dịu mà những người bình thường, với đầu óc bình thường, với tầm tư duy bình thường, không tài nào hiểu thấu được. Nếu anh hay bất cứ ai muốn thấu triệt ý nghĩa Chân Không, anh phải đi vào cuộc đời, anh phải dấn thân vào cuộc sống, anh phải đến nơi mà “Có” và “Không” giao nhau, roi anh sẽ hiểu được Chân Không là gì. Anh phải đến nơi mà thể xác và linh hồn gặp nhau, nơi mà Chúa và thế giới này gặp nhau, nơi mà những đối cực không còn đối nghịch nhau nữa – chỉ đến lúc ấy, anh mới nếm được Hương Vị Chân Không. Hương vị đó chính là hương vị của Lão, của Thiền, của Du Già . . .

Thế giới Du Già cũng rất có ý nghĩa. Danh từ Du Già (Yoga) có nghĩa là đến cùng nhau, sống cùng nhau. Trong cái thế giới đó, những điểm tương khắc đối nghịch không còn và trong tâm hồn những người thực tập Du Già chỉ còn một niệm buông xả hoàn toàn. (*đoạn này, người dịch tạm thoát ý chính của nguyên bản, quí vị nào đọc bản chính Anh văn sẽ hiểu thêm).

 

Xem tiếp

Chương 1

Chương 2

Chương 3

Chương 4

Chương 5

Chương 6

Chương 7

Chương 8

Chương 9

Chương 10

The post Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 5: Hương Vị Chân Không appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-5.html/feed 0
Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 4: Hiểu Biết Quy Luật Là Duy Nhất https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-4.html https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-4.html#respond Wed, 31 Jul 2019 04:06:39 +0000 https://bachhac.net/?p=1144 Hiểu Biết – Qui Luật Duy Nhất Câu hỏi thứ nhất: Osho thân mến, Tôi sanh ra trong một gia tộc nhiều bất hạnh. Bên ngoại tôi đã xảy ra bốn vụ tự tử. Ngay cả bà ngoại tôi cũng tự tử. Tự tử ảnh hưởngthế nào đến cái chết của một người? Làm sao …

The post Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 4: Hiểu Biết Quy Luật Là Duy Nhất appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
bát nhã tâm kinh chương 4

Hiểu Biết – Qui Luật Duy Nhất

Câu hỏi thứ nhất:

Osho thân mến,

Tôi sanh ra trong một gia tộc nhiều bất hạnh. Bên ngoại tôi đã xảy ra bốn vụ tự tử. Ngay cả bà ngoại tôi cũng tự tử. Tự tử ảnh hưởngthế nào đến cái chết của một người? Làm sao vượt qua được sự hiểu biết lệch lạc, sai lầm về cái chết khi nó đã trở thành tiêu đề của một dòng họ, gia đình?

Hiện tượng chết là một trong những hiện tượng bí ẩn nhất và tự tử cũng là một hiện tượng bí ẩn. Đừng suy luận đơn thuần trên bề mặt tự tử làgì. Tự tử có thể là nhiều thứ, có thể vì nhiều thứ. Không đơn thuần đâu. Sự hiểu biết cá nhân của tô là những người tự tử là những người nhậy cảm nhiều nhất trong thế giới loài người. Họ là những rất thông minh. Thật đấy, bạn ạ. Bởi vì chính sự nhậy cảm của họ nên họ thấy khó mà đối diện hay chịu đựng nổi cái thế giới loạn thần kinh này.

Xã hội này là một xã hội điên loạn. Nó hiện hữu trên những nền tảng cơ bản điên loạn. Toàn bộ lịch sử của nó là loch sử của điên loạn, của bạo lực, của chiến tranh, của hủy diệt.

Có người nào đó nói rằng: “Nước tôi là nước lớn mạnh nhất thế giới” – Nhưng ngày nay nước đó đang bị khủng hoảng điên loạn. Lại có người nào đó nói rằng: “Tôn giáo của tôi là tôn giáo tuyệt đối, tôn giáo cao nhất trên thế giới” – ngày nay tôn giáo đó đang bị khủng hoảng, sai lầm và điên loạn. Và sự điên loạn đó đã thấm sâu vào tận cùng xương tủy, và con người đã trở thành ngớ ngẩn, vô cảm. Họ phải trở thành những con người vô cảm như vậy, nếu không, đời sống sẽ không thể chịu đựng nổi.

Bạn phải vô cảm để đối mặt với thế giới khủng hoảng này, với cuộc đời nhiễu nhương này, nếu không, bạn sẽ bị hất văng ra ngoài, bạn sẽ bị lạc điệu. Nếu bạn không hoà điệu đươc với nhịp sống quay cuồng của cơn trốt xoáy xã hội, xã hội đó sẽ lên án là bạn bị “mát dây, bị chạm điện” rồi đó. Cái xã hội này nhiễu loạn nhưng nếu bạn không tự điều chỉnh để theo đúng bước với nó, nó sẽ cho rằng bạn điên, bạn khùng.

Vì thế, một là bạn cũng “chạm,” cũng “điên” như mọi người trong xã hội, trong thế giới này; hai là bạn phải tìm cách thoát ra khỏi nó, và đó là phương cách một số người đã làm: tự tử.

Cuộc đời đã không còn có thể nhẫn chịu được nữa. Thự c khó lòng đối diện và ứng phó nổi với bao nhiêu người chung quanh bạn – vì tất cả bọn họ đều điên cả. Bạn sẽ làm gì nếu bạn bị quăng bỏ vào nhà thương điên?

Sự cố đó đã xảy ra cho một người bạn của tôi; anh ta bị nhốt vào bịnh viện tâm thần chín tháng theo lệnh của tòa án. Sáu tháng sau, anh ta phát khùng thật, anh ta có thể đã bị ảnh hưởng như những người điên trong bệnh viện – anh ta tìm thấy một chai Phenol (một loại át xít) lớn trong nhà tắm và anh ta nốc cạn. Trong 15 ngày, anh ta đau đớn vô cùng vì tiêu chảy và ói mửa; do tiêu chảy và ói mửa dữ dội đó, ngẫu nhiên anh ta bỗng sáng suốt trở lại. Hệ thống tuần hoàn tiêu hóa của anh ta được tẩysạch, chất độc được tẩy sạch.

Anh ta nói với tôi rằng 3 tháng cuối cùng (theo lệnh án) là 3 tháng khó klhăn nhứt, vô cùng khó khăn – anh ta nói: “Sáu tháng đầu tiên thật đẹp vì tôi điên, và mọi người đều điên cả. Mọi việc diễn biến giản dị và tốt đẹp, không có vấn đề gì cả. Tôi hòa điệu được với toàn bộ thế giới điên loạn chung quanh tôi.”

Khi anh ta uống Phenol và bị tiêu chảy ói mửa suốt 15 ngày, một sự cố ngẫu nhiên tình cờ nào đó, toàn bộ hệ thống tiêu hoá, thần kinh của anh ta được tẩy sạch, bao tử anh ta được tẩy sạch.

Anh ta không thể ăn gì được trong 15 ngày sau đó – vì anh ta ói mửa quá mức, bao tử làm việc quá độ nên giờ anh at phải nhịn đói để bao tử dưỡng sức trở lại.

Anh ta nghỉ ngơi trên giường trong vòng 15 ngày. Sự nghỉ ngơi đó, sự nhịn đói đó, sự tẩy tịnh đó – thật ngẫu nhiên, tình cờ – đã giúp anh ta tỉnh táo ra, anh ta tỉnh thực sự. Và anh ta đi gặp bác sĩ, nói với họ rằng: “Tôi đã tỉnh rồi” – nhưng tất cả bọn họ đều phá lên cười. Họ nói “Mọi người điên đều nói như vậy cả.”

Anh ta càng cố chứng minh rằng anh ta tỉnh táo, họ càng không tin “Đúng là điên nữa rồi, người điên nào cũng nói là “tôi tỉnh” cả. Thôi anh cứ đi đi, và làm việc của anh đi, anh chỉ được thả ra khi có lệnh của tòa án.”

Anh bạn tôi kể lại rằng: “Ba tháng cuối cùng đó thật kinh khủng, khó chịu đựng vô cùng. Nó như một cơn đại ác mộng! Một cơn ác mộng ghê gớm!” Có nhiều lúc anh ta đã toan tự tử. Tuy nhiên anh ta là một người giàu ý chí, nghị lực.

Anh ta cố nhủ lòng chỉ còn 3 tháng nữa thôi, anh ta có thể chờ đợi, phải chờ đợi dù thực khó nhẫn chịu được hoàn cảnh đó! Mấy người điên cứ đến phá anh ta, người thì giựt tóc, kẻ thì lôi chân, có kẻ bỗng dưng nhẩy xổ vào anh ta, nhẩy chỉ để mà nhẩy thôi, không có lý do, duyên cớ gì hết.

Điên mà! Tất cả những sự cố đó đã từng diễn biến trong sáu tháng qua, và anh ta cũng đã là một phần tử của đám người điên khùng đó. Anh ta cũng đã từng làm những hành động ngớ ngẩn như vậy, anh ta là một phần tử của cái xã hội điên loạn đó nên không có gì dễ sợ cả. Nhưng ba tháng sau cùng, anh ta không chịu đựng nổi vì anh ta đã “tỉnh” – anh ta “tỉnh” – và mọi người còn điên.

Trong cái thế giới điên loạn này, nếu bạn tỉnh táo, nhậy cảm, thông minh thì một là bạn phải điên loạn, hai là bạn phải tự tử hoặc bạn phải trở thành một ẩn sĩ. Cái gì đây?

Câu hỏi trên là của bà Jane Ferber, vợ của đạo hữu Bodhi Citta(Bồ Đề Tâm). Bà ta đến gặp tôi đúng lúc. Bà ta có thể trở thành một ẩn sĩ và tránh được giải pháp tiêu cực tự tử. Ở phương Đông, thống kê về số những người tự tử không nhiều lắm, vì họ đã chọn cách đi tu là một giải pháp thay thế tốt nhất cho sự nổi loạn hay tự tử. Bạn có thể rút chân ra khỏi xã hội, phương Đông chấp nhận.

Bạn có thể bắt đầu làm những công việc riêng của bạn, phương Đông tôn trọng ý kiến đó. Do đó, sự khác biệt giữa An Độ và Mỹ là một phần năm: cứ 5 người Mỹ tự tử thì chỉ có một người Ấn mà thôi và hiện tượngtự tử là hiện tượng nổi cộm dầy nhứt ở Mỹ.

Thông minh phát triển, nhậy cảm phát triển, nhưng xã hội lại lù đù ngớ ngẩn. Xã hội không cung ứng nổi một thế giới thông thái – vậy thì phải làm gì bây giờ? Không lẽ cứ tiếp tục chịu đựng đau khổ mãi như vậy sao? Bởi vậy, có người đã nghĩ rằng, “Tại sao không quăng bỏ hết tất cả xuống? Tại sao không chấm dứt đau khổ ngay? Tại sao không trả hết lại cho Chúa, cho Thượng Đế?”

Ở Mỹ, nếu đi tu trở thành một phong trào lớn mạnh thì chắc chắn mật độ tự tử sẽ giảm ngay xuống, bởi vì con người sẽ có một lối thoát và thay thế tốt đẹp hơn và có nhiều sáng tạo hơn giải pháp tự tử.

Bạn có biết phong trào Hippie không? (*Hippie” có nghĩa là một phong trào cuối những năm 60, người ta bác bỏ xã hội có tổ chức và những tập tục xã hội đã được kiến lập, kết hợp với những người khác và chọn một lốisống độc đáo, kiểu ăn mặc khác thường. Hippie sau trở thành một phong trào phản chiến ở Mỹ. Phong trào này lớn nhanh mạnh nhất vào thập kỷ 60 trở đi, khi cuộc nội chiến Việt Nam bùng nổ mạnh và người Mỹ trực tiếp tham gia vào cuộc chiến này. Dân Hippie để tóc dài, chạy xe gắn máy phân khối lớn, tụ tập ở với nhau tại những căn nhà lưu động hay vùng hoang dã, thiên nhiên. Họ thường là những văn nghệ sĩ, sáng tác và hát những loại nhạc phản chiến, ca tụng hòa bình nhân loại.)

Bạn có quan sát thấy rằng tại sao dân Hippie không tự tử? Thế giới tương đối này là thế giới mà mức độ tự tử thật phổ biến. Dân Hippie có thể xem như là một loại ẩn sĩ – một ẩn sĩ chưa hoàn toàn tỉnh giác về những gì họ làm nhưng có thể nói họ làm đúng, không sai; có thể họ đang dò dẫm lý tưởng hay một đời sống ẩn sĩ.

Dân Hippie tuyên bố rằng: “Tôi không muốn là một phần tử của cái trò chơi mục nát thối rửa, tôi không muốn là một phần tử của trò chơi chính trị. Tôi không muốn tham dự vào đó. Tôi “thấy” mọi việc, tôi thấy rõ và tôi muốn đờisống của chính tôi. Tôi không muốn bị giết ở bất cứ mặt trận nào. Tôi không muốn chiến đấu, tôi không thích chiến tranh vì có nhiều việc tốt đẹp hơn, ý nghĩa hơn, đúng đắn hơn, xác thực hơn và lợi ích hơn cần phải làm.”

 

Xem tiếp

Chương 1

Chương 2

Chương 3

Chương 4

Chương 5

Chương 6

Chương 7

Chương 8

Chương 9

Chương 10

The post Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 4: Hiểu Biết Quy Luật Là Duy Nhất appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-4.html/feed 0
Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 3: Phủ Định Tri Thức https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-3.html https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-3.html#respond Wed, 31 Jul 2019 03:58:35 +0000 https://bachhac.net/?p=1141 Phủ Định Tri Thức Tri thức là bịnh ung thư, là cái chết, là sự nguyền rủa. Chính qua cái lớp vỏ tri thức đó mà con người bị chia cắt ra với đại thể. Tri thức tạo ra khoảng cách. Anh bắt gặp một cánh hoa dại trên triền núi, anh không biết cánh …

The post Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 3: Phủ Định Tri Thức appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
bát nhã tâm kinh chương 3

Phủ Định Tri Thức

Tri thức là bịnh ung thư, là cái chết, là sự nguyền rủa. Chính qua cái lớp vỏ tri thức đó mà con người bị chia cắt ra với đại thể. Tri thức tạo ra khoảng cách. Anh bắt gặp một cánh hoa dại trên triền núi, anh không biết cánh hoa đó là hoa gì, trí óc anh không hé ra một chút nhận thức nào, trí óc anh im lặng.

Anh nhìn đoá hoa, anh thấy đoá hoa, nhưng không có một ánh sáng tri thức nào lóe lên – đó, đó chính là sự huyền nhiệm, đó chính là bí mật. Đóa hoa có mặt ở đó, anh có mặt ở đó. Chính qua sự huyền nhiệm, anh không bị chia cắt, anh đã bắc ngang được nhịp cầu nối liền cùng đại thể.

Nhưng nếu anh nhận thức đây là hoa hồng hay hoa vạn thọ hay là cái hoa gì gì đi nữa, cái “nhận biết” đó liền cắt đứt nhịp cầu. Cánh hoa ở đó, anh ở đây, nhưng không có một cây cầu nào hết – anh biết rồi đó! Tri thức tạo ra khoảng cách.

Anh càng sử dụng tri thức bao nhiêu, khoảng cách với Chân Ngã càng lớn bấy nhiêu; anh càng ít sử dụng tri thức thì khoảng cách nhỏ dần hơn. Và nếu anh không nhận thức gì cả, ngay giây phút anh nhìn một sự vật, sẽ không có một khoảng cách nào, vì anh chính là cây cầu, anh chính là cây cầu.

Anh yêu thương một phụ nữ hay một người phụ nữ nào đó yêu một người đàn ông – ngay cái giây phút, cái ngày mà tình yêu bùng vỡ trong anh, trong họ, không có một khoảng cách nào dấy khởi, chia cắt. Chỉ có sự huyền nhiệm, chỉ có sự bàng hoàng sung sướng, chỉ có sự hứng thú, chỉ có sự xuất thần, hạnh phúc – nhưng tuyệt nhiên không có bước chân của Tri Thức.

Anh không biết người phụ nữ đó là ai và anh cũng không màng tới. Không có tri thức nên không có một cái gì chia đôi được anh. Đó chính là Cái Đẹp trọn vẹn nhất của tình yêu thuở ban đầu. Và rồi anh sống với người phụ nữ đó chỉ có 24 tiếng đồng hồ thôi: nhận thức dấy khởi lên.

Bây giờ anh đã có một vài ý tưởng về người phụ nữ đó, đối tượng tình yêu của anh: anh biết cô ta là ai, anh đã có một hình ảnh, một nhân dáng trong anh. Chỉ có 24 tiếng đồng hồ thôi đã tạo thành quá khứ. 24 tiếng đồng hồ đó đã để lại dấu ấn trong tiềm thức, và rồi anh nhìn lại cũng người phụ nữ đó, giờ không còn gì là bí mật nữa, không còn gì hấp dẫn nữa, không còn gì là hứng thú, háo hức nữa.

Anh đã biết người đó rồi, anh đã tụt xuống đồi rồi, cái đỉnh cao đó đã mất, không còn. Có một triết gia nói: “Dù là tuyệt thế giai nhân đi nữa, chỉ qua ngày hôm sau, cũng đã phai lạt, không còn quyến rũ, hấp dẫn nữa!”

Hiểu được điều đó là anh đã hiểu được rất nhiều. Hiểu được là tri thức chia chẽ sự vật, tri thức gây nên khoảng cách là hiểu được bí mật của thiền định. Thiền định là trạng thái của phi tri thức. Thiền định là vùng không gian trong vắt phẳng lặng, không bị vẩn đục hay khuấy động bởi tri thức.

Đúng vậy, có một câu truyện trong Kinh Thánh đã nói đúng rằng con người đã rơi tòm xuống hố thẳm khi ăn phải trái cây tri thức. Không có một kinh điển nào trên thế giới này có thể vượt qua được ý nghĩa của tích truyện đó. Cái ẩn dụ đó là câu nói cuối cùng; không có một ẩn dụ nào đạt tới chiều cao nội tâm sâu như ẩn dụ Trái Cấm Tri Thưc đó trong Kinh Thánh.

Nhìn chung thì có vẻ thực là phi lý khi nói con người đã bị sai lệch, lăn tòm xuống bởi lớp màn tri thức. Có vẻ thực phi lý bởi vì luận lý là một phần của tri thức. Luận lý bảo bọc, nâng đỡ nhận thức. Có vẻ thực phi lý vì luận lý là cội rễ chính, là lý do chính của sự thất bại của con người.

Người nào luôn sống trong luận lý tuyệt đối, luôn luôn tỉnh trí; người nào không cho phép bất cứ một phi lý nào xảy đến trong đời, kẻ đó chính là một kẻ điên. (*người dịch chua thêm cho bạn đọc dễ hiểu: ví dụ bạn nói: 1+1 = 2 (luận lý); nhưng người dịch có thể nói: 1+1 = 3 (vì một người cha cộng với người mẹ sanh ra một đứa con là 3 người); hay có thể là: 1+1 = 1 (sự hợp nhất của đại ngã, chỉ có một, không hai.)

Sự tỉnh trí, lành mạnh cần phải cân bằng bởi sự không tỉnh trí, luận lý cần phi luận lý cân bằng. Những điểm đối xứng gặp nhau và cân bằng. Người duy lý là kẻ sống vô lý nhất – bởi vì hắn ta sẽ vuột mất rất nhiều. Thực tế, hắn đã và tiếp tục mất đi tất cả những cái đáng yêu, đáng sống mà cuộc đời ban tặng cho hắn; hắn không bao giờ hưởng được Chân Thiện Mỹ của dòng sống. Đó là sự thực! Hắn chỉ biết tán dóc tầm phào qua ngày đoạn tháng; cuộc đời hắn thật vô vị, tẻ nhạt. Hắn hoàn toàn là một con người trần tục.

Cái ẩn dụ trong Kinh Thánh đó mang một ý nghĩa nội tại thực sâu xa, rộng lớn. Tại sao con người lại bị rơi rụng, hụt hẫng vì tri thức? Bởi vì tri thức gây tạo nên khoảng cách, bởi vì tri thức tạo ra “Tôi” và “Anh”, bởi vì tri thức tạo ra “chủ thể” và “khách thể,” “năng tri” và “sở tri,” “năng quán” và “sở quán.”

Tri thức căn bản của nó là loại bệnh tâm thần phân liệt, nó cấu tạo ra sự chia chẽ, phân tích. Và rồi không có một cách nào để có thể bắc ngang được một nhịp cầu. Đó là lý do vì sao người ta càng ngày càng thông thái, học thức chừng nào, thì khả năng tiếp cận thượng đế hay tâm linh càng giảm bớt đi chừng đó.

Chúa Giê Su đã có lý khi phán xét rằng: “Chỉ có trẻ thơ mới vào được thiên đàng . . . chỉ có trẻ thơ mà thôi.”

Trẻ thơ có những đặc tánh, phẩm chất gì mà các anh, người lớn chúng ta đã mất?

Trẻ thơ có phẩm chất của Phi Tri Thức. Một đứa bé sống thực vô tư, ngây thơ và thánh thiện. Nó ngạc nhiên nhìn vạn sự, đôi mắt của nó thực vô cùng trong sáng. Nó nhìn sâu vào sự việc nhưng nó không có sự phán xét phân chia, cũng không dấy lên một tư tưởng nào. Nó không dự kiến gì cả, từ đấy nó sẽ thông suốt rõ ràng vạn vật.

Ngày hôm trước, chúng ta đã nói về sự phân biệt giữa thực tế và chân lý. Đứa bé nhận biết được chân lý, nhưng anh thì chỉ hiểu biết được thực tế. Thực tế là cái mà anh tạo tác ra chung quanh con người anh. Chân lý đơn giản như nó là; còn thực tế là cái mà anh vừa nhận thức – đó là cái tư tưởng của anh về chân lý.

Thực tế chứa đựng những sự việc, và tất cả sự sự việc việc đó đều chia rời; song chân lý chỉ chứa đựng một năng lực vũ trụ. Chân lý chỉ có một, thực tế thì nhiều. Thực tế là quần hợp, Chân lý là hợp nhất.

Trước khi chúng ta đi vào phần chánh kinh, chúng ta cần nên biết cơ bản là tri thức thật đáng nguyền rủa.

J.Krishnamurti đã nói: “Phủ định là im lặng.” Nhưng phủ định cái gì cơ chứ? – Phủ định tri thức, phủ định sự bận rộn chiếm ngự trong nội tâm anh; để tạo ra một không gian không bị ràng buộc giới hạn.

Một khi anh được thong dong thảnh thơi, anh sẽ hòa điệu được trong đại thể – nhưng khi anh bị ràng buộc, anh đã bị văng ra khỏi nhịp hòa điệu sống đó. Vì thế từ đó, bất cứ luc nào anh có thể chạm tới được cái khoảnh khắc im lặng tột cùng đó, anh sẽ bơi lội được trong niềm hỷ lạc vô biên.

Trong giây phút im lặng không mảy may xao động đó, cuộc đời mới thực có ý nghĩa làm sao, ngay cái giây phút im lặng đó, đời sống mới có một chiều cao vượt ngôn ngữ. Ngay cái giây phút đó, ngay cả khi cái chết thực xảy đến cho anh, cho tôi, cho người, đời sống vẫn là một điệu luân vũ, một sự chào đón nồng nhiệt, một buổi tiệc mừng, bởi vì trong cái giây phút đó, không có gì ngoài hỷ lạc. Giây phút đó là ân sủng, là hỷ lạc, là thánh thiện, là liễu đạo.

 

Xem tiếp

Chương 1

Chương 2

Chương 3

Chương 4

Chương 5

Chương 6

Chương 7

Chương 8

Chương 9

Chương 10

The post Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 3: Phủ Định Tri Thức appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-3.html/feed 0
Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 2: Xả Ly Là Hiểu Biết https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-2.html https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-2.html#respond Wed, 31 Jul 2019 03:51:18 +0000 https://bachhac.net/?p=1135 Xả Ly là Hiểu Biết Có người đã đến hỏi tôi một cách thành khẩn và trông chờ câu trả lời: “Chân Lý là gì?” Đó là một câu hỏi quan trọng nhất mà rất nhiều người đã thắc mắc nhưng vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Câu hỏi quan trọng nhất, câu …

The post Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 2: Xả Ly Là Hiểu Biết appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
bát nhã tâm kinh chương 2 xả ly là hiểu biết

Xả Ly là Hiểu Biết

Có người đã đến hỏi tôi một cách thành khẩn và trông chờ câu trả lời: “Chân Lý là gì?”

Đó là một câu hỏi quan trọng nhất mà rất nhiều người đã thắc mắc nhưng vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Câu hỏi quan trọng nhất, câu hỏi độc đáo nhất là câu hỏi không có giải đáp, như thế nó mới là câu hỏi độc đáo.

Khi Pontius Pilate hỏi Chúa Giê Su rằng: “Chân Lý là gì?” Chúa đã im lặng, không nói gì cả. Không phải chỉ có vậy mà câu truyện còn kể thêm rằng khi Pontius Pilate hỏi Chúa câu hỏi “Chân Lý là gì?” Pilate cũng không chờ đợi để nghe câu trả lời. Ông ta rời khỏi phòng và đi luôn.

Thật lạ lùng! Pontius Pilate hỏi mà không cần câu trả lời vì ông ta nghĩ rằng không bao giờ có câu trả lời cho câu hỏi “Chân Lý là gì?” vì thế Pilate đã ra đi không cần chờ đợi câu trả lời. Chúa Giê Su cũng giữ im lặng vì Chúa biết không thể trả lời câu hỏi đó. Nhưng sự nhận thức hiểu biết của cả hai không giống nhau, vì hai người đứng trên hai bình diện tương phản nhau.

Pontius Pilate nghĩ rằng câu hỏi “Chân Lý là gì?” không thể trả lời được vì không có Chân Lý. Chân Lý sự thực không có, chỉ trên danh từ mà thôi nên làm sao Chúa trả lời được, anh trả lời được? Làm gì có câu trả lời? Đó làsự suy luận của một hệ thống lập luận hóa tri thức; một đầu óc kiểu La Mã, đầu óc máy móc.

Còn Chúa giữ im lặng không trả lời vì Chúa nghĩ Chân Lý thật mênh mông, vô cùng vô tận, làm sao anh có thể dùng cái thứ ngôn ngữ hữu hạn của loài người mà diễn bày Chân Lý được. “Ngôn ngữ đạo đoạn”càng nói càng sai nên Chúa im lặng. Người ta có thể tu hành để chứng đạt, để thể nghiệm, để thâm nhập vào Chân Lý; nhưng người ta không thể nói về Chân Lý được.

Chidvilas cũng đã hỏi một câu hỏi tương tợ như vậy. Câu hỏi “Chân Lý là gì?” qủa tình thực đặc biệt ý nghĩa. Không có một câu hỏi nào cao siêu hơn câu hỏi đó, bởi vì không có tôn giáo nào cao hơn Chân Lý cả. Câu hỏi đó cần phải được hiểu, cần được phân tích.

Phân tích câu hỏi đó, cố gắng để hiểu chính câu hỏi đó, thì anh mới có thể thâm nhập vào chiều sâu của Chân Lý, và anh mới có thể tự anh hiểu Chân Lý là gì. Tôi không trả lời câu hỏi đó; không ai có thể trả lời câu hỏi đó, nhưng chúng ta có thể thẩm thấu câu hỏi đó bằng chính kinh nghiệm tu chứng bản thân.

Khi anh đã thâm nhập được vào câu hỏi đó rồi thì câu hỏi đó biến mất – và khi câu hỏi đó biến mất, anh sẽ tìm thấy được câu trả lời ngay chính trong trái tim anh – anh chính là Chân Lý – và như vậy làm sao anh có thể vuột mất Chân Lý được! Có thể anh đã vô tình lãng quên nó, đã đi trật đường với nó hay có thể anh đã quên làm sao thể nhập vào nó trong một đoạn thời gian của quãng đường đời của anh mà thôi – nhưng sự thực Chân Lý vẫn luôn ở trong anh, Chân Lý chính là anh.

Chân Lý không phải là một giả thuyết; Chân Lý không phải là giới điều. Chân Lý không phải là Ấn Độ giáo, không phải Thiên Chúa giáo cũng không phải là Hồi giáo. Chân Lý không phải của riêng anh cũng không phải của riêng tôi. Chân Lý không thuộc về của riêng ai, nhưng mọi người thuộc về Chân Lý. Chân Lý có nghĩa chính xác “là vậy, là thế.”

Danh từ “Chân Lý” (Truth) bắt nguồn từ căn nguyên tiếng La Tinh: “Verus”. Verus có nghĩa là: “Nó là thế! Nó là vậy!” Động từ “ToBe” của tiếng Anh chia theo thể qúa khứ “was, were,” cũng bản nguyên từ tiếng La Tinh: Verus. Danh từ “war” (chiến tranh) của Đức cũng phát xuất từ “Verus.” “Verus” có nghĩa là “thế đó, là thế” không giải minh được. Vì một khi anh lý giải được, anh thuyết minh được thì đó chỉ là thực tế, chứ không phải là Chân Lý. Chân Lý và Thực Tế là hai điều hoàn toàn đối lập nhau, không giống. Thực Tế là thứ chân lý công ước (conventional truth) đã được nói ra, được phơi bày ra, đươc biện minh ra chứ không phải Chân Lý Tuyệt Đối (Absolute Truth).

Vì thế, ngay cái lúc mà anh trả lời câu hỏi “Chân Lý là gì?” thì cái chân lý đó đã biến thành thực tế, không còn là chân lý nữa. Sự biện giải đã lọt vào, tri thức đã tô màu lên chân lý và có nhiều loại thực tế như tri thức cũng có nhiều loại.

Chân Lý chỉ có một mà thôi, vì Chân Lý chỉ hiển hiện khi tri thức vắng bóng. Chính cái tri thức, cái trí năng muôn màu sắc đã tách anh ra khỏi tôi, tách khỏi mọi người, tách rời khỏi hiện hữu. Nếu anh nhìn Chân Lý qua tri thức, qua trí năng, tri thức sẽ cho anh bức hình chụp lại của Chân Lý. Đó chỉ là tấm ảnh, một tấm ảnh chụp lại sự thật, và đương nhiên, tấm ảnh tùy thuộc vào máy ảnh, tùy thuộc vào loại phim ảnh nào, vào các loại hóa chất rửa phim, tráng phim, hay người thợ chụp ảnh có chuyên môn hay không v.v. Cả hàng ngàn nhân duyên kết hợp vào với nhau để tấm ảnh thành hình. Trùng trùng vô tận nhân duyên nhóm họp lại nhau để thành hình cái ta gọi là “thực tế.”

Cái danh từ “thực tế” cũng đẹp như nghĩa của nó. Chữ “thực tế” phát xuất từ nguyên từ “Res” có nghĩa là đồ vật. Chân Lý không phải là đồ vật, vì thế một khi trí năng chen chân vào định nghĩa thì Chân Lý biến thành sự vật.

Khi anh yêu một người đàn bà, khi anh trao tặng ai trọn vẹn tình cảm chân thuần của anh, đó chính là Chân Lý, đó chính là Sự Thực Tinh Khôi nếu anh không chuẩn bị, anh không dò xét, anh không suy tính.

Bất chợt anh gặp người phụ nữ đó, anh nhìn vào mắt cô ta, cô ấy nhìn vào mắt anh, một giây chớp ngẩn ngơ, một rung động trào dâng ngập tràn tâm hồn anh và Tình Yêu thực sự đến. Anh không ngờ tới, anh không có sự chờ đón, anh không ở trong tư thế chuẩn bị, anh không dò xét, không suy tính đắn đo – anh không chủ động cũng không bị động.

Đơn thuần, giản dị, chân thật, ngây thơ, thế thôi. Thật bất ngờ, thật tự nhiên anh rơi vào trong Tình Yêu; thật bất ngờ, thật tự nhiên anh là Tình yêu, anh đang yêu. Thế thôi! Lúc đó, cái “tự ngã” của anh không dính líu tới, không liên quan tới ngay cái giây phút đầu tiên của Tình Yêu Băng Trinh đó, ít nhất ra, trong giây phút đầu tiên đó, bản ngã của anh không hiện diện, bản ngã của anh vắng mặt. Đó là lý do Chân Lý hay Tình Yêu không thể nào định nghĩa được.

Chân Lý là Chân Lý, Tình yêu là Tình Yêu, nếu anh ngồi trầm tư suy gẫm để giải thích yêu là gì, chân lý là gì, thí dụ như: yêu là hai người cùng nhìn về một hướng, yêu là nhịp đập điên loạn của trái tim, yêu là cái gì gì . . . đi nữa hoặc Chân Lý là thể tánh của sự vật, Chân Lý là cảm nghiệm của cuộc sống, v.v. và v.v. thì nội cái anh ngồi nặn óc moi tim ra để giải thích hay định nghĩa thì Chân Lý hay Tình Yêu cũng vỗ cánh bay xa mất rồi còn đâu nữa!

Do đó, một khi tri thức chen chân vào, một khi ý thức len lỏi vào hoạt động, là bắt đầu trong anh nổi lên sự chiếm hữu, tranh giành. Anh bắt đầu suy nghĩ về cô bạn gái của anh, anh bắt đầu suy nghĩ phải kết hôn thế nào, cái cô này có đúng là người yêu lý tưởng của anh hay không, cái cô này có phải sẽ là người vợ suốt đời của anh hay không, anh sẽ được gì, anh sẽ mất gì, v.v. hàng lô nghi vấn nổi lên, hàng loạt vấn đề được anh đặt ra.

Chân lý không còn nữa, tình yêu trinh nguyên trong anh không còn nữa, bây giờ sự vật được anh phủ lên một sắc màu quan trọng. Cái gì mà anh định nghĩa được mới chắc ăn – và thế là anh bắt đầu giết chết Chân Lý, đầu độc Tình Yêu. Chẳng sớm thì muộn, chẳng có thì không, hai kẻ tạm gọi là “tình nhân” kia sẽ kết hợp thành vợ chồng, hai vật thể, hai con người kết hợp lại với nhau, nhưng Nét Đẹp trong nhau đã biến mất, niềm An Lạc đã biến mất, tuần trăng mật đã chấm dứt.

 

Xem tiếp

Chương 1

Chương 2

Chương 3

Chương 4

Chương 5

Chương 6

Chương 7

Chương 8

Chương 9

Chương 10

The post Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 2: Xả Ly Là Hiểu Biết appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-2.html/feed 0
Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 1: Phật Ở Trong Anh https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-1.html https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-1.html#respond Wed, 31 Jul 2019 03:44:04 +0000 https://bachhac.net/?p=1132 Phật ở trong Anh Tôi đãnh lễ vị Phật trong anh. Anh có thể không biết; anh có thể chưa hề mơ nghĩ đến chính mình là một vị Phật; rằng Phật tánh vốn sẵn có trong anh; là trung tâm điểm củabản thể; Phật tánh đó không phải là một cái gì sẽ xảy …

The post Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 1: Phật Ở Trong Anh appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
bát nhã tâm kinh - phật ở trong anh

Phật ở trong Anh

Tôi đãnh lễ vị Phật trong anh. Anh có thể không biết; anh có thể chưa hề mơ nghĩ đến chính mình là một vị Phật; rằng Phật tánh vốn sẵn có trong anh; là trung tâm điểm củabản thể; Phật tánh đó không phải là một cái gì sẽ xảy đến ở tương lai mà nó đã vốn hằng hữu thường trụ.

Chân Như, Phật tánh là uyên nguyên, là cội nguồn xuất xứ mà cũng là mục đích tâm linh cuối cùng của anh. Từ Chân Như chúng ta đến và cũng từ Chân Như chúng ta đi tới. Chỉ một danh từ Chân Như đó thôi đã dung chứa tất cả – toàn thể dòng sống nhân quần từ A đến Z – nhưng anh đang mê ngủ nên anh không nhận thức rõ anh là ai. Anh phải quay trở về, anh phải tìm cho ra và nhận mặt rõ ràng con người thật của anh, anh phải nhìn sâu vào tận đáy hồn anh. Sự chạm mặt, sự đối diện với chính anh sẽ giúp anh thấy lại được Phật tánh của mình.

Ngày mà con người nhìn thấy được chính họ, toàn thế giới hiện hữu sẽ bừng sáng; nhưng không phải cái “tôi” của con người đó giác ngộ, cái “tôi” nhỏ bé tầm thường đó phải tan biến đi trước khi con người giác ngộ. Vì thế không thể nói “tôi giác ngộ” mà chỉ có sự “giác ngộ”.

Từ phút giây bừng tỉnh cơn mê dài đó, tôi không thấy gì hết ngoài Phật – dù dưới nhiều dạng hình, dưới nhiều danh hiệu, với hàng ngàn lẻ một vấn đề – nhưng Phật vẫn thế, như như bất biến.

Vì thế, tôi cúi đầu đãnh lễ vị Phật trong anh.

Tôi vô cùng sung sướng khi thấy hằng hà sa số Phật đang qui tụ về đây. Sự kiện anh đến với tôi là sự khởi nguyên bắt đầu của tánh trực nhận. Lòng tôn kính chân thành từ đáy trái tim anh cho tôi, tình yêu trinh nguyên tận đáy hồn anh cho tôi, chính là niềm Tôn Kính và Tình Yêu cho khả tánh Phật của anh.

Niềm Tin anh dành cho tôi không phải là niềm tin vào cái gì ngoài con người anh, mà đó chính là lòng Tự Tin Tuyệt Đối. Anh tin chính anh, chính con người anh qua tôi. Anh tin vào chính anh, anh nhìn thấy con người thật của anh qua hình bóng tôi.

Khi đến gần tôi, hòa nhập vào tôi, anh đã đến với anh, anh đã tan biến vào biển Chân Như Phật Tánh trong anh. Chỉ có sự Trực Nhận thẩm thấu. Anh đã chạm đến sự trực nhận. Hạt kim cương vốn từng ở đó, vẫn từng ở đó, nhưng anh đã lãng quên, hay anh chưa từng nhớ đến nó từ lúc anh góp mặt vào dòng đời luân chuyển.

Emerson đã nói một câu bất hủ: “Con người là Thượng Đế trong hoang tàn đổ nát”. Tôi đồng ý và cũng không đồng ý. Về nội tại, sự thưc cũng có lẽ như vậy, nhưng con người không đúng như nó đã là. Chiều sâu nội tại vẫn ở đó nhưng có phần lật ngược. Con người không phải là Thượng Đế trong đổ nát điêu tàn, mà con người chính là Thượng đế trong sáng tạo; con người là một vị Phật đang thành.

Mầm giác ngộ vốn có sẵn ở đó, và có thể khai hoa nở nhụy bất cứ lúc nào: chỉ cần một cố gắng nho nhỏ mà thôi, chỉ một sự giúp đỡ rất nhỏ mà thôi . . . và sự giúp đỡ đó không phải là nhân tác động để mầm giác ngộ đâm chồi – vì Phật tánh, vì giác ngộ vốn đã hiện hữu trong anh tự xưa nay.

Sự cố gắng đó của anh chỉ là cái duyên thúc đẩy để vén lên bức màn vô minh, để chỉ cho anh thấy cái tiềm ẩn, sâu thẳm, dấu kín trong anh. Đó là một sự khám phá nhưng sự thực vốn không thay đổi, luôn hằng hữu.

Chân lý mãi mãi bất diệt.

Hãy lắng nghe những lời kinh tuyệt diệu này vì đó chính là những lời kinh quan trọng nhất trong toàn bộ văn chương giáo lý nhà Phật. Vì thế, những câu kinh này đã được

 

Xem tiếp

Chương 1

Chương 2

Chương 3

Chương 4

Chương 5

Chương 6

Chương 7

Chương 8

Chương 9

Chương 10

The post Bát Nhã Tâm Kinh – Chương 1: Phật Ở Trong Anh appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/bat-nha-tam-kinh-chuong-1.html/feed 0