Phật Dạy – Bạch Hạc – Phật Giáo Việt Nam https://bachhac.net Thu, 23 Apr 2020 04:50:22 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=5.6.2 Sống Theo Lời Phật – Thích Nhuận Thạnh ( Phần III ) https://bachhac.net/song-theo-loi-phat-thich-nhuan-thanh-phan-iii.html Thu, 23 Apr 2020 04:50:22 +0000 https://bachhac.net/?p=3198 Nếp sống tín ngưỡng …“Ví như nhà vua, tạo lâu đài nơi bên trong thành, xây đắp chắc chắn, không thể hư nát. Bề trong quốc gia yên ổn, bề ngoài ngự phòng oán địch. Phật tử cũng vậy, phải kiên cố lòng tin tưởng đức Như lai. Khi lòng tin đã vững vàng thì …

The post Sống Theo Lời Phật – Thích Nhuận Thạnh ( Phần III ) appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
sống theo lời phật

Nếp sống tín ngưỡng

…“Ví như nhà vua, tạo lâu đài nơi bên trong thành, xây đắp chắc chắn, không thể hư nát. Bề trong quốc gia yên ổn, bề ngoài ngự phòng oán địch. Phật tử cũng vậy, phải kiên cố lòng tin tưởng đức Như lai. Khi lòng tin đã vững vàng thì quyết không theo những kẻ Sa môn ngoại đạo, Phạm Chí ác ma và ác thế gian. Ấy là đã xây dựng được lòng tin như một lâu đài bền chắc. Là Phật tử, phải bỏ điều xấu mà tu các pháp lành” .

Lời bàn:
Là người Phật tử, chúng ta phải có cái nhìn đúng đắn và sự hiểu biết chân chính về đạo mình tín ngưỡng để khỏi phải lầm lạc và hiểu sai lầm. Đạo Phật là đạo của trí tuệ. Con đường mà đức Phật đã hướng dẫn chúng ta đi là con đường đi đến sự thật. Những điều mà đức Phật đã dạy không rời xa cuộc đời và luôn đi vào cuộc sống hiện thực, giải quyết những khó khăn trong hiện thực và vượt qua những khó khăn đó.

Theo thời gian, giáo lý đức Phật đã hòa nhập vào dân gian để biến thành một niềm tín ngưỡng dân gian phổ cập đến mọi người. Trên thế giới này, bất cứ một tôn giáo nào cũng nói đến đức tin, thờ phụng và cầu nguyện. Tuy nhiên, trong Phật giáo, có những cái đã tự sáp nhập vào đạo Phật từ địa phương, không phải là của đạo Phật. Chẳng hạn như đồng bóng, bói toán và rất nhiều thứ khác. Nhiều người lầm tưởng là của đạo Phật nhưng kỳ thật những điều ấy xuất phát từ lòng tin mù quáng của con người, tạo ra rất nhiều mê tín dị đoan, làm cho nhiều người suy nghĩ sai lầm về đạo Phật.

Đức Phật đã từng dạy: “Đừng bao giờ vội tin một điều gì cho dù điều đó được nhiều người nói tới”. Phật giáo là một tôn giáo vượt trên cả khoa học, đem những giáo lý thậm thâm vi diệu vào cuộc đời để chuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau. Trong mọi lúc mọi nơi, chúng ta đều có thể đem chân lý của đức Phật áp dụng vào bản thân mình để mỗi ngày mỗi hoàn thiện và tốt đẹp hơn trong tâm hồn. Đạo Phật không phải là một tôn giáo xiển dương những điều mù quáng như một số ít người lầm tưởng. Đạo Phật đã mang lại rất nhiều lợi ít thiết thực cho loài người. Đạo Phật mang đến cho chúng ta một sự an vui toàn vẹn và bất tận, chơn lạc. Ngoài ra, đạo Phật còn có khả năng giúp chúng ta loại trừ những chi phối ràng buộc để đi đến giải thoát hoàn toàn. Đạo Phật không chỉ đem đến lợi ích to lớn trong vị lai, mà là lợi ích ngay trong đời này. Nhờ tinh thần từ bi của đạo Phật mà nhân loại yêu thương nhau hơn, ánh sáng trí tuệ của đạo Phật đã làm cho nhân loại vơi bớt đi những lầm lạc để nhận thấy đâu là giá trị của sự thật, đâu là phỉnh phờ giả dối. Tinh thần cao đẹp của đạo Phật đã san bằng những bất công để cho thế giới này thanh bình, an vui và hạnh phúc.

Tâm từ bi

Có thầy Tỳ kheo đến khất thực tại một nhà kia và được mời vào nhà ngồi một mình. Chủ nhân tiếp chuyện, tay có đeo chiếc nhẫn đã vô ý đánh rơi. Lúc ấy, có con ngỗng đi ngang nuốt vào bụng. Vị Tỳ kheo nhìn thấy nhưng không nói gì. Lúc sau, người chủ mới biết mất chiếc nhẫn bèn lên tiếng tìm hỏi. Vị Tỳ kheo im lặng không đáp. Người chủ sinh nghi hỏi dồn nhưng vị Tỳ kheo vẫn im lặng. Không thể nén lòng tức giận, người chủ mắng chửi và đánh đập nhưng vị Tỳ kheo vẫn cam chịu không nói một lời gì. Lúc ấy, có người nhà chạy lên thưa với người chủ rằng: “Không biết vì sao con ngỗng của nhà tự nhiên ngã chết ngoài sân kia”. Nghe lời nói xong vị Tỳ kheo mới thong thả trả lời: “Khi nãy tôi thấy con ngỗng nuốt chiếc nhẫn”. Người chủ liền bảo người nhà đem mổ bụng con ngỗng thì tìm được chiếc nhẫn.

Người chủ hối hận liền thưa với vị Tỳ kheo: “Sao hồi nãy khi con hỏi, thầy lại không nói ngay cho con biết để đến nỗi con sinh nghi, xúc phạm đến danh thể của thầy?”.

Vị Tỳ kheo đáp: “Tín chủ nghi cũng phải, nhưng nếu ta nói ngay thì con ngỗng sẽ bị tín chủ giết vì lời nói ấy. Việc đó ta không bao giờ dám làm, dẫu có hại đến tánh mạng cũng vậy” .

Lời bàn:
Qua câu chuyện trên, chúng ta có suy nghĩ gì về lòng từ bi của đạo Phật? Phật dạy chúng ta hãy phát tâm Bồ tát lợi mình, lợi người. Trước hết, phải có tâm từ bi không chỉ đối với con người mà còn với tất cả mọi loài. Tâm từ bi có thể đem đến cho tất cả chúng sinh mọi sự yên ổn, cả tinh thần lẫn vật chất. Nếu có tâm từ bi thì đối với mọi chúng sinh, ta không nỡ hại và chính do tâm từ này, ta sẽ không bao giờ nóng giận. Hơn thế nữa, do từ bi mà ta chỉ thấy đức tính trong sạch của người chứ không bao giờ moi móc lỗi lầm của họ. Tâm từ bi cũng là một phương tiện quý báu nhất giúp chúng ta diệt đi cái nhìn thiên lệch theo thói thường của phàm phu. Nó có tác dụng chuyển hóa rất nhiều quan điểm sống, giúp chúng ta nhận thức toàn diện về cuộc sống, hạnh phúc và khổ đau. Tâm từ bi như là một phương thức nhắc nhở chúng ta hãy thường xuyên chống lại thói ích kỷ và phân biệt dấy khởi trong tâm mình.

Lại nữa, tình cảm của chúng ta đối với nhiều người khác thường tùy thuộc nhiều vào hoàn cảnh của họ. Đa số người ta khi nhìn thấy kẻ tàn tật đều cảm thông nhưng khi thấy người giàu, học thức hoặc có địa vị cao hơn mình, ta sẽ cảm thấy ganh tỵ và cạnh tranh cùng họ. Lúc ấy, lòng từ bi sẽ ngăn không cho ta nhìn thấy sự giống nhau, khác nhau giữa mình và người khác. Tâm từ bi sẽ giúp chúng ta khởi lên ý niệm rằng ai cũng như ta. Dù may, dù rủi, dù xa, dù gần họ cũng đều mong hạnh phúc và tránh khổ đau. Cũng chính do tâm từ bi mà khiến cho chúng ta có thể thương yêu tất cả mọi chúng sinh, không thể nhẫn tâm làm hại bất cứ một sinh vật nào. Lúc nào, chúng ta cũng muốn san sớt những khổ đau cho người khác và nguyện hành trì không nhàm chán, không bao giờ từ bỏ một việc thiện nào dù là việc nhỏ. Nếu ai thực hiện tâm từ bi được như vậy thì mới là người Phật tử chơn chánh theo như lời Phật dạy.

Người mù rờ voi

Có một ông vua bảo vị đại thần rằng: “Khanh đem một con voi rồi cho mấy người mù tới rờ xem thử thế nào”. Vị đại thần vâng lời họp vài người mù lại, rồi đem voi ra bảo họ lấy tay rờ. Mỗi người rờ một bộ phận của con voi. Sau đó, vua bèn kêu mấy người mù lại và hỏi rằng: “Con voi thuộc về loại gì?”. Người mù rờ tai voi nói con voi như cái quạt. Người rờ đầu voi thì nói con voi như hòn đá. Còn người rờ vòi lại nói con voi như cái gậy. Người rờ chân nói con voi như cổ chày. Người rờ lưng thì cho là con voi như cái gường. Người rờ bụng thì nói con voi như cái ghè. Người rờ đuôi nói con voi như cái chổi.

– Này thiện nam tử! Như mấy người mù kia không nói trúng toàn thể con voi nhưng cũng không nói ngoài toàn thể con voi. Nhưng ngoài tướng trạng ấy thời không riêng có con voi. Này thiện nam tử! Vua ví dụ cho đức Như lai Chánh biến tri. Vị đại thần ví dụ cho kinh Đại Phương Đẳng, Đại Niết Bàn, con voi ví dụ cho Phật tánh. Các người mù sờ voi thí dụ cho hết thảy chúng sinh vô minh .

Lời bàn:

Khả năng giác ngộ thì ai cũng có nhưng nó lại tiềm ẩn sâu kín trong tâm. Vì không chịu tu tập nên chúng ta không có tuệ giác để nhận biết một cách sâu sắc về bản thể của nó. Khi sống kém hiểu biết tức là thiếu mất sự giác ngộ, nên ta nhìn cuộc đời một cách không toàn diện. Nhiều lúc ta nhận thức rằng, cuộc đời này là vô thường, biến ảo nên phát tâm tu hành. Nhưng khi chưa kịp thực hành thì đã bị tham đắm vào các dục lạc của trần thế như danh, lợi, thực, thùy… rồi bị nó sai khiến nhấn chìm, thế nên ta mãi chịu đau khổ. Giống như người mù sờ voi, tuy nói trúng một phần thân thể của con voi nhưng chỉ riêng một bộ phận đó thì không thể là con voi.

Nhiều lúc, chúng ta chỉ giúp người khác một việc thiện nhỏ và đã vội cho rằng mình đã tu, phô trương lên với mọi người rằng mình tu tâm chứ không tu tướng. Thực ra, đó là một trong những cái để tu nhưng nó không phải là tất cả và cũng vì chấp vào nó nên chẳng khác nào người mù cho rằng con voi chẳng khác nào cái chổi, tuy cái giống ấy cũng là một phần của con voi. Sự tu tập mỗi người hành trì theo một pháp môn nhưng không thể nào cho rằng pháp môn của mình là cao siêu nhất của đạo Phật được. Vì sao? Vì tập hợp tất cả những yếu tố những pháp môn mới được gọi chung là Phật giáo.

Điểm đặc biệt của đệ tử Phật

Có một người Sinh Văn Phạm Chí đến thưa với Phật rằng: “Đệ tử của Ngài với đệ tử của kẻ khác có điểm nào đặc biệt không? Và có công đức chi hơn?”.

Phật đáp: “Có hai hạng đệ tử xuất gia và tại gia của Ta có những điểm đặc biệt: kinh doanh việc gì, nếu thất bại, họ vẫn không buồn rầu khóc lóc, cũng chẳng phát điên cuồng. Hay họ bị những điều đói khát, lạnh nóng, mưa gió, ép bức, hoặc bị roi gậy đánh đập, hay bị mắng nhiếc độc ác, họ cũng có thể nhẫn nại được cả. Ấy là những điều mà kẻ khác không thể chịu được vậy. Đệ tử của Ta có những công đức như vậy đó”.

Ông Phạm Chí nghe rồi thọ giáo và xin quy y Tam bảo, thành kẻ Ưu bà tắc .

Lời bàn:

Là người tu học Phật pháp, điều quan trọng nhất của chúng ta là phải bình tâm trước tất cả mọi việc, mọi hoàn cảnh. Cho dù ta đang đối diện với bất kỳ hoàn cảnh đau khổ nào, phải bình tĩnh để quán sát, nhận xét. Có như vậy, chúng ta mới có được sự nhận định, giải quyết vấn đề một cách đúng đắn. Cho nên, dù gặp hoàn cảnh nào chúng ta cũng có được sự an lạc và vững chãi.

Thế mới có câu: “Cảnh vốn không tốt xấu, chỉ do tâm tạo nên”. Chúng ta hãy vững vàng chấp nhận mọi sự việc xảy đến với mình và tìm cách giải quyết một cách tốt nhất. Điều cần yếu là mỗi người phải có lòng tin vào chính bản thân mình, tận tâm, tận lực giải quyết sự việc và khắc chế hoàn cảnh. Cho dù người khác có phê bình hay công kích ta bao nhiêu đi nữa cũng không quan trọng. Vì như vậy tức là ta sống có chánh niệm theo lời Phật dạy. Chúng ta áp dụng chánh niệm vào thực tế và chuyển hóa vọng niệm để tạo niềm vui từ nội tâm. Khi đó, chúng ta sẽ không còn bị chi phối và đau khổ bởi các phiền não tham lam, sân hận, tật đố để tâm hồn được thanh thản, hưởng được những hạnh phúc riêng trong cuộc sống. Đấy chính là điểm đặc biệt và công đức của riêng người đệ tử Phật.

Pháp đối trị tam

Một thời, Thế Tôn trú tại nước Xá Vệ, rừng cây Kỳ Đà, trong vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các thầy Tỳ kheo: “Sát sinh có ba thứ: đó là từ tham sinh khởi, từ sân sinh khởi, từ si sinh khởi. Cho đến tà kiến cũng có ba thứ: từ tham sinh khởi, từ sân sinh khởi và từ si sinh khởi. Lìa sát sinh cũng có ba thứ: từ không tham sinh khởi, từ không sân sinh khởi, từ không si sinh khởi. Cho đến tà kiến cũng có ba thứ: từ không tham sinh khởi, từ không sân sinh khởi và từ không si sinh khởi” …

Lời bàn:

Trong cuộc sống, con người có ba thứ độc hại phát xuất từ tâm và cũng vì ba thứ độc này, con người gây ra không biết bao nhiêu tội ác, làm khổ đau cho đồng loại và muôn loài. Ba thứ độc đó chính là tham, sân và si. Nguồn gốc của các tội lỗi và nguyên nhân dẫn đến sinh tử, trầm luân cũng đều do ba thứ độc này tạo tác. Chúng ta tạo ác nghiệp như sát sinh, hại vật phát xuất từ lòng tham muốn hưởng thụ, ăn cho ngon miệng.

Cũng từ sự sân nhuế chúng ta không phát khởi sự cảm thương khi chúng kêu gào, đau đớn vì bị giết. Vì si mê, không hiểu rõ luật nhân quả nghiệp báo nên chúng ta mới sát sinh. Tham, sân, si đã dẫn dắt chúng ta lạc vào con đường tà kiến, không có sự nhận thức đúng đắn về sự chánh kiến đúng hay sai. Nếu đoạn trừ được ba thứ độc này thì phải dùng phương pháp đối trị. Muốn tránh sự tham lam khởi thì chúng ta tu hạnh bố thí. Để tránh được tâm sân thì chúng ta tu hạnh nhẫn nhục. Tránh si mê thì chúng ta tu trí huệ.

Nếu ba độc này diệt cũng có nghĩa là sự đau khổ của con người cũng sẽ vơi diệt. Hạnh phúc và an lạc sẽ đến với tất cả mọi người khi ba thứ độc tham, sân, si đã được giảm thiểu.

Tại sao phải niệm Phật

Thành Thất La Phiệt có một ông Hoàng tánh rất hung bạo, thêm vào đó, quyền thế và địa vị có thể giúp ông thủ tiêu tội ác trước pháp luật mà chưa một lời phải, một đạo giáo nào cảm hóa được ông. Một hôm, ông gặp Phật khi đang du hóa xứ này. Mới nhìn, ông thấy lòng bỗng cảm phục như vua dữ trước quản tượng. Ngài có dạy ông vài lời sơ lược: “Hãy tưởng niệm Phật đà, hãy từ bi thương người, hùng lực cứu người”. Ông cung kính vâng lời. Nhưng khi về đến nhà, vừa thấy người hành khất, ông liền đùng đùng nổi giận. Lời vàng của Phật không còn trong lòng ông nữa.

Khi toan đánh đuổi người, bỗng sực nhớ lại hình dáng từ nghiêm của Phật, ông liền dịu lại nhưng không bố thí chút gì. Tối hôm đó, vợ ông lấy làm lạ, gạn hỏi đầu đuôi. Ông bèn tuần tự thuật lại. Nhờ thuật lại mà ông nhớ rõ ràng hình dung đức Phật và lời Ngài dạy. Đêm ấy, ông suy nghĩ mông lung. Ông nghĩ: “Nhớ Phật, phải tưởng đến người nghèo khổ”. Rồi mới sáng ông liền đi tìm Phật. Giữa đường gặp một người hành khất ốm liệt bên vệ đường, ông suy nghĩ, liền đến ân cần hỏi han và dốc hết tiền trong túi ra cho. Người ấy e sợ cảm ơn rối rít. Nhưng ông chỉ bảo: “Vì tưởng nhớ đến Phật nên tôi giúp anh. Anh nhận tiền này khiến tôi được phước, thế là tôi ơn anh chớ nào anh ơn gì tôi!”. Người hành khất nghe, lấy làm lạ vì không lạ gì tính nết ông và uy danh đức Phật nữa. Bỗng nhiên, người ấy cất tiếng niệm: “Nam Mô Phật Đà” (kính lễ đấng Giác ngộ). Ông Hoàng cũng bất giác niệm theo và đi mau tìm Phật. Khi gặp được Ngài, ông thuật rõ đầu đuôi mọi việc. Nghe xong, đức Phật mỉm cười hiền từ bảo: “Khi niệm Phật, ông hãy tưởng niệm người nghèo khổ. Tưởng niệm người nghèo khổ là tưởng niệm Phật đó” .

Lời bàn:

Tại sao chúng ta phải niệm Phật? Đây là câu hỏi và cũng là câu trả lời riêng cho mỗi chúng ta. Có nhiều cách để niệm Phật nhưng không ngoài mục đích là để diệt trừ những vọng tưởng điên đảo dấy khởi lên trong tâm thức. Lúc niệm Phật thì ta phải tưởng nhớ đến Phật, nhớ nghĩ đến những đức tính tốt đẹp vô biên của Phật, như Phật A Di Đà có vô lượng vô biên tánh đức: vô lượng quang, vô lượng thọ, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả…

Ta niệm Phật là nhớ đến Phật và ghi nhớ những đức tính đó thật rõ để chúng nảy sinh trong tâm, giúp loại trừ các vọng niệm ở ta. Niệm Phật có thể niệm lớn hay mật niệm, điều cần yếu là đừng đọc suông nơi miệng mà phải chuyên nghĩ đến Phật và phải tin sâu, nguyện thiết tha và thực hành chuyên cần. Nên tin rằng: “Niệm một câu Phật hiệu tiêu được cả ngàn kiếp tội lỗi và làm sinh trưởng vô lượng phước đức”. Tâm ý luôn luôn hướng về đức Phật A Di Đà và thế giới Cực lạc.

Nam mô A Di Đà Phật: quy mạng đức Phật vô lượng thọ, vô lượng quang và vô lượng công đức. Đó là câu niệm của hàng giờ, hàng phút của người tu theo pháp môn Tịnh độ để cầu được vãng sinh về thế giới tốt đẹp này. Ở cảnh giới Tịnh độ – theo như kinh mà đức Phật dạy – thì có những cảnh sống rất thuận lợi cho sự tu tập giải thoát. Những chúng sinh nào nhờ phước duyên tu tập được sinh trưởng ở đó thì nhất định không còn bị thối chuyển trên bước đường giải thoát nữa. Ở đây có bạn hiền, thầy tốt, đủ mọi điều kiện nội cũng như ngoại, thuận lợi cho việc tiến bộ tu tập để cầu làm Phật.

Kinh Di Đà có câu: “Xá Lợi Phất, không thể do nhân duyên phước đức của thiện căn nhỏ mọn mà được sinh về Cực lạc”. Chúng ta nên biết rằng, muốn được vãng sinh thì phải gây nghiệp nhân Tịnh độ, nghĩa là ta phải tiêu diệt ác nghiệp, nuôi dưỡng thiện căn và phước đức rồi nối liền thiện căn và phước đức ấy với cõi Cực lạc bằng phép niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà. Phải niệm đến chỗ nhất tâm bất loạn, đến lúc tâm trí mình không còn tạp niệm nữa mà chỉ còn Phật niệm. Thực hành như thế, phát nguyện như thế mới có thể vãng sinh.

Tham tài sản

Ngày xưa, tại một làng biên giới có xảy ra tai nạn binh đao, dân chúng phải bồng bế nhau chạy lánh nạn. Trong đoàn người di tản đó, có thanh niên con nhà giàu, của cải vô số. Anh mặc trong người đến ba bộ đồ, mang theo một túi da cùng bốn bao vải lớn chứa đầy ngọc ngà châu báu. Ai thấy anh cũng bật cười. Một vài người tốt bụng khuyên:
– Đường đi tỵ nạn rất hoang vắng, trộm cướp nhiều, anh mang hành lý cồng kềnh thế này, e rằng lành ít dữ nhiều đó!

Anh chàng biện hộ:

– Đây là tài sản của riêng tôi, chưa chắc ai có được. Người đâu của đó. Thà chết chứ tôi không bỏ lại được!

– Nào ai có bắt anh vứt bỏ đâu. Có điều mang theo ngờ ngờ như thế này e rằng rước họa vào thân!

Giặc tan, mọi người đều lục tục kéo về, tất cả đều đủ mặt, duy chỉ có anh chàng nhà giàu nọ thì không có ngày về. Anh ta đã bị cướp giết chết .

Lời bàn:

Cõi đời mà chúng ta sống đây thuộc về Dục giới, nghĩa là chúng ta xem ngũ dục là của báu. Đó là những món sắc, thinh, hương, vị, xúc làm đẹp lòng, vừa ý thiên hạ. Chúng sinh thường chém giết nhau để tranh danh, đoạt lợi. Bởi vậy, trong đời sống nếu có ai có được ít tiền của, tài năng, danh tiếng hoặc sắc đẹp mà lại cố tình diễn cho người khác thấy, thì tai họa sẽ khó mà lường được.

Bởi vậy, đức Phật đã không phải là không có thâm ý khi chế ra năm giới cấm cho người Phật tử, với mục đích để ngăn ngừa sự chi phối của ngũ dục này.

Nếu trong cuộc sống, chúng ta không có nhiều tiền của, danh lợi và sắc đẹp thì chúng ta đừng nên bi quan, mặc cảm, tủi phận. Vì những thứ ấy trông vào thì thật lôi cuốn nhưng nó là bản chất của dục lạc. Nếu chúng ta có nó càng nhiều thì nhu cầu hưởng thụ càng cao, dẫn đến sự đau khổ càng sâu. Nên có ít nó thì ta càng ít bị chi phối. Cứ an lòng, sống an phận trong mọi hoàn cảnh theo tinh thần “thiểu dục tri túc” thì hạnh phúc sẽ ở liền với ta trong từng phút, từng giây.

Tấm lòng hiếu thảo

Xưa trên núi Tuyết Sơn, có con chim Oanh Vũ cha mẹ đều mù, thường đi tìm trái cây thơm chín về dâng cha mẹ dùng. Bấy giờ, có vị điền chủ mới cấy lúa bèn phát nguyện rằng: “Lúa tôi đây nguyện cho chúng sinh dùng”. Chim Oanh Vũ thấy vị điền chủ phát tâm bố thí như vậy, bèn thường bay xuống lấy lúa về dâng cha mẹ. Người điền chủ đi xem lúa thấy loài chim, loài trùng phá hoại lúa quá sức, bèn nổi giận đặt lưới bắt được chim Oanh Vũ. Chim Oanh Vũ thưa điền chủ rằng: “Trước đây, ông có lòng tốt bố thí nên tôi mới dám lấy lúa, nay sao ông lại đặt lưới bắt tôi?”. Điền chủ hỏi: “Ngươi lấy lúa làm gì?”. Oanh Vũ đáp: “Tôi có cha mẹ mù, nên phải lấy lúa về dâng”. Vị điền chủ nói: “Từ nay về sau, ngươi cứ lấy lúa mà đừng e ngại chi cả”. Loài súc sinh còn biết hiếu thuận cha mẹ huống chi nữa là người .

Lời bàn:

Qua chuyện này, chúng ta hãy thử suy nghĩ về đạo hiếu, thể hiện sự tri ân và báo ân của con cái đối với cha mẹ. Với đạo Phật, vấn đề đạo hiếu được đặt ra một cách rất khác biệt so với đời sống thường tình. Con cái phải biết vâng lời, làm vui lòng cha mẹ, phải biết hầu hạ giúp đỡ cha mẹ một số công việc khi cha mẹ cần đến, phải biết giữ gìn gia phong, tiếng tăm, danh dự của gia đình, bảo vệ tài sản cho cha mẹ và còn phải biết phụng dưỡng, cúng dường cho cha mẹ. Đó là những điều mà một người con nên làm.

Nhưng vì muốn cha mẹ được sung sướng, người con phải làm việc bất nhân, thời đạo Phật không thể nào chấp nhận. Người Phật tử phải có trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ nhưng không làm các điều ác, làm các thiện hạnh. Người đã làm ác để nuôi cha dưỡng mẹ cũng không thể nào tránh những quả báo của những hành vi bất thiện của mình. Nếu ta đem của cải, vật chất cúng dường cha mẹ thì chưa đủ để trả ơn. Vì của cải, tài sản, vật chất dù có dồi dào mấy đi nữa cũng phải bị vô thường biến hoại…

Trả hiếu một cách đầy đủ nhất là chúng ta phải gây dựng niềm tin Tam bảo nơi cha mẹ, hướng dẫn cha mẹ từ bỏ các ác hạnh, làm các hạnh lành, từ bỏ xan tham, thực hành bố thí và nhất là từ bỏ vô minh, chứng đạt trí tuệ. Có như vậy mới là thiết thực báo đáp công ơn cha mẹ.

Bằng hữu thiện ác

Thế Tôn cùng Nan Đà cùng đi vào thành Ca Tỳ La Bà Tộ. Đến gần một nhà buôn cá, Phật bảo Nan Đà rằng:
– Ngươi vào trong nhà buôn cá kia xin lấy một nắm cỏ tranh mà họ thường tủ trên cá chết.

Nan Đà vâng lời làm theo. Phật bảo Nan Đà cầm theo một lát rồi sẽ vất nó đi. Nan Đà y lời cầm theo một đỗi rồi mới vất xuống đất.

Bấy giờ, Phật bảo Nan Đà:

– Ngươi ngửi tay có mùi chi không?

Nan Đà thưa:

– Dạ có mùi bất tịnh hôi tanh!

Phật liền dạy Nan Đà rằng:

– Thật đúng vậy đó. Nếu người nào gần gũi với bọn ác tri thức, giao kết làm bè bạn trong chừng giây lát, thời ác nghiệp nhiễm thành thói quen, tiếng xấu người ấy bị đồn khắp .

Lời bàn:

Dân gian có câu: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, ngụ ý là muốn khuyên nhủ con người nên tránh xa đường tà, nên gần gũi chánh đạo. Còn Thế Tôn thì dạy chúng ta: “Nếu người nào gần gũi với bọn ác tri thức, giao kết làm bè bạn trong chừng giây lát, thời ác nghiệp nhiễm thành thói quen, tiếng xấu người ấy bị đồn khắp”. Thật vậy, sống ở cuộc đời này, đen – trắng khó phân minh, con người thì ít khi làm chủ được tâm ý của mình. Bản chất phàm phu của chúng ta là thích nghe lời nói ngọt và thích hưởng thụ. Nên nếu ta gặp được thiện tri thức thì vị thiện tri thức này sẽ hướng dẫn chúng ta sống theo con đường chánh đạo, tin nhân quả, kính tin Tam bảo, chừa bỏ việc ác, siêng làm các điều thiện. Còn nếu gặp bạn tà ác thì sẽ lôi kéo chúng ta lao vào con đường bất chính, sống hưởng thụ, phải trái bất phân, để rồi phải nhà tan cửa nát, vợ con chia lìa, bạn bè ly tán. Vì vậy, sống ở đời, ta nên chọn bạn mà chơi. Nếu là bạn của mình chưa có thiện tâm thì mình nên hướng dẫn và khuyên giải cho những người ấy biết thế nào là thiện có thiện báo, ác có ác báo. Bạn bè cũng là một nhu cầu sống của con người, hẳn sống ai cũng cần có bạn. Nhưng phải là bạn tốt để đem lại an vui cho nhau. Tình bạn được xây dựng tốt cũng là một thứ hạnh phúc của tương giao. Có như vậy, chúng ta sống mới có lợi lạc cho bản thân mình và mọi người.

Lợi ích của hạnh thiền

Trong Kinh “Thân Hành Niệm Xứ” có dạy phép tu thiền niệm thân, Phật nói tới mười công đức thiền niệm thân như sau:

01. Đối trị tham và sân.
02. Loại bỏ sợ hãi.
03. Có thể chịu đựng nóng lạnh, đói khát, côn trùng cắn nhiễu, lời nói nặng của người khác, đau đớn nơi thân.
04. Dễ dàng chứng bốn cấp thiền.
05. Có thể biến thần thông theo ý muốn.
06. Có thiên nhĩ thông, tức là có khả năng nghe những âm thanh mà tai người thường không nghe được.
07. Biết được ý nghĩ của người khác.
08. Biết được các kiếp sống của người khác.
09. Có thiên nhãn thông, tức là con mắt có thể nhìn thấy các chúng sinh trôi nổi theo nghiệp lực từ đời này qua đời khác.
10. Ngay trong đời hiện tại, đạt được tâm giải thoát và tuệ giải thoát.

Lời bàn:
Thiền là một pháp môn tu tập rất phổ biến, không những trong đạo Phật mà còn hiện hữu trong các tôn giáo khác. Nhưng nói tới cách tu thiền niệm thân, là nói tới thiền của đạo Phật. Trong Phật giáo, thiền không chỉ dành riêng cho giới nào, mà dành cho bất cứ ai, dù là người xuất gia hay tại gia đều có thể tu tập thiền định. Thiền có nhiều loại. Kinh A–Hàm chia ra: sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền.

Thiền được được gọi đầy đủ là thiền–na, dịch âm tiếng phạn Dhỳna, dịch ý tiếng Phạn Samadhi. Phạn Hán gọi chung là “thiền định”, Trung Hoa dịch là “tĩnh lự” hay “tư duy tu”, nghĩa là đình chỉ các vọng niệm để tâm chuyên chú vào một đối tượng quán sát. Trong khi quán sát sự vật, suy nghiệm chân lý, do sự chuyên nhất mà tâm thể vắng lặng và tâm dụng mạnh mẽ. Khi tâm định tĩnh thì chứng được các trạng thái thiền định từ thấp đến cao.
Trong cuộc sống, nhiều người hay lầm tưởng, cho rằng những người hành thiền là những người rất nghiêm khắc, khó tính, thoát ly những cái gì thuộc về thế giới tục này nhưng trong thực tế thì điều này không đúng.

Thật ra, thiền không phải là một sự cố ý thoát ly ra khỏi bể khổ của cuộc đời mà là một sự rèn luyện, một nghệ thuật sống giúp chúng ta phóng thích, chuyển hóa những đau khổ và niềm đau trong cuộc sống để được đạt đến sự an lạc, hạnh phúc ngay chính trong những điều kiện rất bình thường của cuộc đời.

Người Phật tử tại gia trong đời thường bộn rộn rất nhiều, không có thời gian để ngồi tĩnh tọa. Nhưng trong mỗi công việc hằng ngày, chúng ta hãy ý thức sự có mặt của mình trong mỗi sự việc và hành động đó với sự tỉnh thức và chánh niệm, tức là chúng ta đã thực hành thiền quán.

Khi thực tập thiền quán, chúng ta sẽ đạt được niềm vui chân thật trong đời sống, hay nói khác hơn là nó mang lại cho chúng ta cuộc sống mà từ lâu ta đã lãng quên, đánh mất. Vì vậy, thiền chính là cuộc sống của chúng ta.

Lòng ngưỡng mộ Phật của vua A Dục

Vua A Dục trước là người độc ác nhưng từ khi theo Phật, vua đã thay đổi thành người rất nhân từ. Hồi mới theo Phật, vì lòng cảm mộ quá dồi dào nên mỗi khi ngự ngoài đường, hễ gặp các vị Tỳ kheo nào đi ngang qua, liền xuống kiệu khấu đầu lạy.

Có vị đại thần tên Da–Tát, thấy thế là quá đáng bèn cản ngăn vua rằng: “Các thầy Tỳ kheo kia chẳng qua là những người đi hành khất ngoài đường, không đáng tôn trọng”. Vua im lặng không trả lời. Cách vài ngày, vua truyền cho các quan văn võ, mỗi ông phải đem bán một đầu súc vật và cho biết giá bán là bao nhiêu. Ông Da–Tát thì phải bán một đầu người. Các đầu súc vật thì các vị quan bán được với một giá tiền sai khác hơn kém nhau chút ít, duy có đầu người của ông Da–Tát bán thì không ai mua.

Vua hỏi cớ sao, ông Da–Tát trả lời: “Vì đầu người là một vật hèn hạ, không có giá trị gì”. Vua lại hỏi: “Chỉ có một cái đầu này là hèn hạ hay tất cả đầu người đều hèn hạ?” Ông đáp: “Tất cả đầu người đều hèn hạ”. Vua bèn hỏi: “Vậy đầu trẫm đây cũng là hèn hạ sao?”. Ông Da–Tát sợ hãi không dám nói. Sau vua bắt ép ông phải thú thật rằng đầu vua cũng hèn hạ. Vua bèn giảng cho ông Da–Tát nghe: “Ngươi muốn cản ta đừng lạy các vị Sa môn là ngươi có ý kiêu căng, tự đắc. Nhưng cái đầu của Trẫm đây là một vật hèn hạ không ai thèm mua vì cúi đầu xuống mà được thêm công đức, thêm giá trị thì phỏng có hại gì? Nhà ngươi muốn chỉ trích các thầy Sa môn không sang trọng nhưng nhà ngươi không rõ ân đức của các thầy. Khi nào có đi ăn tiệc, ăn đám cưới thời mới nên hỏi đến giai cấp, chớ đã đi tu học mà phân biệt giai cấp làm gì? Người sang trọng, danh giá bị tội nặng thì ai cũng nói người này là kẻ có tội và ai cũng đem lòng khinh bỉ. Nếu con người hèn hạ mà tu nhân tích đức thì ai cũng kính trọng, ai cũng cúi đầu”. Vua nói đến đây, bèn chỉ hẳn vào ông Da–Tát nói lớn rằng: “Ngươi há không nhớ câu này của Phật Thích Ca sao? Ngài dạy: người có trí thời dầu vật không có giá trị cũng làm nên có giá trị. Ta muốn theo Phật, ngươi lại can gián ta, ấy là bất trung. Đến khi ta nằm xuống đất như cây mía kia, thì dẫu muốn lạy, muốn cung kính cũng không được nữa, thời làm thế nào có công đức? Vậy ngươi nên để yên ta lạy các vị Sa môn kiếm chút phúc đức. Nếu người nào dám tự nói: ta là người đáng tôn trọng hơn tất cả, thời ấy là người u mê nhất đời. Nếu lấy huệ nhãn của Phật mà xem xét thân thể, thời biết thân ông vua và thân mọi người cũng giống nhau, cũng da thịt xương, khác nhau chỉ cái phù hoa bề ngoài. Nhưng cốt yếu ở đời là lòng đạo đức thì trong thân thể người hèn hạ nhất đời cũng có thể được. Chính cái ấy làm bậc trí giả gặp đâu cũng phải cung kính, phải vái lạy vậy”.

Lời bàn:
Giáo pháp của Thế Tôn là vị lương dược cam lồ có thể chữa trị tất cả mọi tâm bệnh chúng sinh. Dù là người đó có tàn bạo và độc ác đến đâu nhưng một khi đã thấm nhuần diệu pháp cam lồ của đức Phật cũng có thể trở thành một con người thuần thiện đạo đức. Điển hình như vua A Dục. Sau Phật nhập diệt 200 năm, ban đầu là một vị vua khét tiếng tàn bạo. Sau, nhờ Phật pháp cảm hóa, trở thành vị minh quân sáng suốt, hết lòng yêu dân và một mực chí thành hộ pháp kính tín Tam bảo.

Giáo pháp của Thế Tôn còn như cơn mưa pháp thấm nhuần cho tất cả giống cây lớn nhỏ. Tất cả ai muốn tu cũng đều được cả, không phân biệt giai cấp, trình độ, tuổi tác, không có một sự kỳ thị nào xảy ra trong trong tăng đoàn. Bởi đạo Phật quan niệm rằng: “Tất cả mọi người đều có Phật tánh, đều có khả năng giác ngộ tu hành và thành Phật”. Điển hình như vào thời đức Phật, có rất nhiều người xuất thân từ giai cấp thấp nhất trong xã hội cũng được chấp nhận cho xuất gia, như Tôn giả Ưu ba ly, vốn là thợ hớt tóc của các hoàng thân đã đắc quả A La Hán và đã chủ trì Luật tạng của giáo hội. Nên tập thể tăng già là một tập thể mở rộng, được đối xử bình đẳng về mọi mặt, không phân biệt màu da, giai cấp. Như chính Thế Tôn là bậc Thiên Nhân Sư, vô thượng ở đời, Ngài vẫn dung dị trong tấm y vàng, có những lúc mặc y phấn tảo, đi chân không, dùng tấm lót ngồi (tọa cụ) đan bằng cỏ khô. Có những lúc Ngài trú mưa qua đêm trong một chái nhà lá của thợ làm đồ gốm một mình. Ngài sinh ra dưới cội cây, xuất gia tu tập dưới cội cây, thành đạo dưới cội cây và nhập Niết bàn dưới cội cây. Chỉ đơn giản là nằm nghiêng trên chiếc võng dây treo giữa hai cây Sa la. Cuộc sống dung dị ấy thơ mộng biết bao, đẹp đẽ biết bao, cảm xúc biết bao! Chính những hình ảnh, những nét dung dị đó là những hào quang tối thượng và kỳ diệu nhất để cho đời chiêm ngưỡng. Cũng từ những hình ảnh và đức tính cao đẹp đó mà giáo pháp của Ngài nói ra như một vị cam lồ có thể tưới mát tất cả mọi chúng sinh, khiến cho kẻ ác quay về đường thiện, kẻ lạc đường tìm lại được nẻo chính. Dù đến muôn đời sau, Ngài vẫn là một bậc đạo sư vĩ đại được tôn kính, mến yêu nhất của nhân loại.

Thân giáo

Thuở xưa, có nhà sư sống ẩn dật tại một triền núi và được mọi người xem là đạo cao đức trọng. Một hôm, nhà sư tiếp một bà lão cùng với cậu con trai.

Bà lão thưa:
– Bạch sư phụ! Thằng bé này mắc phải cái tật là ưa sưu tầm hoa kiểng. Nó đã làm cho tôi tốn không biết bao nhiêu là tiền của trong cái thời củi quế gạo châu này. Xin sư phụ làm ơn chữa trị hoặc răn dạy giùm, kẻo tội nghiệp cho tôi cùng vợ con nó!

Nhà sư ngẫm nghĩ giây lâu, nói:
– Bà hãy dắt nó về, khoảng nửa tháng sau trở lại tôi sẽ giúp cho!

Bà lão y lời. Đến ngày hẹn, sư chỉ thốt một câu đơn giản:
– Đó là một thú vui hao tiền tốn của. Con hãy bỏ nó đi, để tiền mà thờ mẹ, nuôi con!

Bà lão bất bình:
– Tưởng thầy có phương cách gì, té ra cũng bấy nhiêu lời đó. Thế sao thầy không làm ơn nói giùm ngay bữa trước mà còn hẹn đến hôm nay? Đường xá xa xôi biết là bao?

Nhà sư mỉm cười:
– Chẳng giấu gì bà, tôi cũng mắc cái tật như cậu nhà đây. Nửa tháng qua là thời gian để tôi bỏ cái tật đó. Nay mọi việc đã xong tôi mới dám mở miệng khuyên can cậu em này.

Chàng trai từ đó ăn ở rất vừa lòng mẹ.

Lời bàn:
Trong kinh A Hàm, đức Phật cũng đã giải thích vì sao Ngài được mọi người gọi là Như lai? Như lai có nghĩa là nói sao làm vậy, lời nói và việc làm đi đôi với nhau nên gọi là Như lai. Chúng ta có thể gọi vị sư này là Như lai theo cái nghĩa ấy.

Ngày xưa, người ta giáo dục con người chỉ bằng một lời nói giản đơn mà cảm hóa được, là nhờ vào đức độ và do thân giáo. Còn chúng ta, khi khuyên dạy người khác, tốn công, tốn sức, nói nhiều nhưng lợi ích chẳng được là bao. Tại sao? Vì ta nói một đàng mà hành động và việc làm đi một nẻo. Lời nói và việc làm chẳng song hành. Từ đó, niềm tin của họ bị mất đi, dẫn đến lời khuyên chúng ta không có giá trị chứ không phải là những người được khuyên thiếu hiểu biết hoặc là không ham tu. Cho nên, người Phật tử phải tu và học song hành, chứ không nên chỉ học giáo lý cho giỏi rồi đem giảng giải cho người này hay người khác nghe, khuyên người ta tu nhưng bản thân không có tu. Coi chừng lời khuyên của chúng ta đối với người khác lại có tác dụng ngược và chẳng có lợi lạc là bao. Muốn khuyên dạy người khác tu tập thì trước tiên, ta phải dạy bằng thân giáo.

Phật khuyến dạy La Hầu

Khi La Hầu La chưa thành đạo, tâm tánh thô tháo, lời nói ít thành tín. Phật bảo La Hầu La rằng: “Ngươi hãy về ở tịnh xá Hiền Độ, giữ miệng nhiếp ý, siêng tu kinh giới”. La Hầu La vâng theo lời Phật về ở tịnh xá Hiền Độ 90 ngày, tàm quý tự hối, ngày đêm không dừng nghỉ. Đức Phật an tọa, La Hầu La nhiếp tâm đứng hầu một bên, Phật bảo La Hầu La rằng: “Ngươi hãy bưng chậu nước đến đây, rửa chân cho ta”. La Hầu La vâng lời rửa chân cho Phật. Khi rửa xong, Phật bảo La Hầu La rằng:
– Ngươi có thấy nước rửa chân trong chậu kia không?
– Bạch thế tôn, con thấy!
– Nước ấy có thể dùng để ăn uống, súc miệng được không?
– Bạch Thế Tôn, không thể dùng được. Nước ấy trước kia trong sạch nhưng nay vì rửa chân thành nhớp đục nên không thể dùng.

Phật dạy rằng:
– Ngươi cũng vậy, là con ta, cháu vua Tịnh Phạn, bỏ sự vui sướng ở đời, làm Sa môn nhưng nếu ngươi không tinh tấn, nhiếp thân giữ miệng thì phải bị ba món là tham, sân, si làm nhơ nhớp tâm ý, cũng như nước đục kia không thể dùng được!

Phật lại bảo:
– Hãy đổ chậu nước kia đi!
La Hầu La liền đổ nước trong chậu ra.

Phật nói:
– Chậu kia nay không còn nước nhớp nữa, vậy có thể dùng để đựng đồ ăn uống được không?

– Bạch Thế Tôn, không thể dùng được vì đã mang cái tên chậu nước rửa và đã từng chứa nước bất tịnh.

Phật dạy La Hầu La:
– Ngươi cũng như vậy, tuy làm Sa môn, miệng không nói lời thành tín, tâm tánh lại cương cường, chẳng niệm tinh tấn, thường bị tiếng đồn không tốt. Thật cũng như cái chậu rửa kia, không thể đựng đồ ăn được.

Phật lấy chân hất cái chậu rửa, khiến chạy lăn tròn, nghiêng qua nghiêng lại vài lần mới dừng lại. Phật bảo La Hầu La:
– Ngươi có tiếc cái chậu này không?

– Bạch Thế Tôn, cái chậu rửa chân là vật không quý gì. Trong ý tuy cũng có tiếc đôi chút nhưng không đến nổi thiết tha lắm.

Phật bảo La Hầu La:
– Ngươi cũng như vậy, tuy làm Sa môn nhưng không nhiếp thân và miệng, nói lời thô ác làm hại nhiều người, thời trong chúng không ai thương, người trí thức không ai tiếc, thần hồn chết luân chuyển trong ba đường dữ, sống chết vô lượng, các vị Hiền Thánh không ai thương tiếc – cũng như ngươi nói không tiếc cái chậu nữa.

La Hầu La vâng nghe lời Phật dạy, lấy làm hổ thẹn và sám hối tất cả lỗi lầm đã phạm” .

Lời bàn:
Trong cuộc sống, người ta thường cho rằng nhà giáo giỏi là nhà giáo khéo giảng, khéo làm cho học trò chóng hiểu những gì mình dạy. Một nội dung giảng dạy tốt nếu không truyền đạt bằng một kỹ thuật truyền đạt tốt thì chưa thật tốt. Lối truyền đạt tư tưởng tốt là lối truyền đạt sáng sủa, rõ ràng và cụ thể cho dù nội dung truyền đạt trừu tượng. Thế Tôn, trong phương pháp giáo dục của Ngài qua câu chuyện trên thật tuyệt vời. Phương pháp giáo dục của Ngài đối với các đệ tử theo nguyên tắc “khế cơ”, “khế lý”, “khế thời”, vừa “khích lệ”… lại vừa vận dụng các thí dụ với các hình ảnh cụ thể, quen thuộc trong công việc thường ngày để soi sáng cho người nghe. Phương tiện hình ảnh nước dơ trong thau không thể xài được và giá trị của chiếc chậu đựng nước rửa chân mà Thế Tôn răn dạy La Hầu La, giúp ta quán xét lại tâm tánh và hành động của chính mình.

Thật vậy, Thế Tôn đã sử dụng phương pháp giáo dục rất sống động, cụ thể, dễ hiểu, hấp dẫn, thu hút sự chú ý của người khác và có tác dụng đánh mạnh vào tâm thức người nghe. Khi các đệ tử của Ngài bị ràng buộc bởi cái “có” của mình vào cuộc đời thì lời dạy của Thế Tôn xuất hiện như một tiếng sấm khiến tâm thức mọi người bừng tỉnh trong cơn bàng hoàng của chấp thủ. Qua câu chuyện nêu trên, khi đọc chúng ta cũng đã nhận thấy rõ ràng đường hướng giáo dục bằng phương tiện thí dụ của Thế Tôn là một phương pháp rất khoa học và rất tâm lý, khiến cho việc giáo dục nhân tính của con người mang lại nhiều kết quả tốt, có thể là phương pháp mẫu mực, chỉ đạo cho học đường mới.

Thế Tôn đã xuất hiện như một nhà giáo dục rất nhân bản và lý tưởng qua các tinh thần và phương thức giáo dục được thể hiện qua câu chuyện nêu trên.

Nối dây thân ái

Visakha là một nữ đệ tử tại gia của Phật. Một hôm, bà đến thăm Phật tại tịnh xá Kỳ Viên với nước mắt ràn rụa. Phật hỏi:
– Này Visakha, sao hôm nay con có vẻ buồn thế?

– Bạch Thế Tôn, con mới vừa mất một cháu trai dễ thương, không ai trông thấy cháu mà không mến yêu cho được !

– Này Visakha! Nếu như toàn thể cư dân thành Xá Vệ này là thân quyến của con… thì con cảm thấy thế nào?

– Bạch Thế Tôn, ước mong sao được như thế. Con vẫn thầm mong rằng bất cứ người nào cũng đều là thân bằng quyến thuộc của mình.

– Nhưng này Visakha! Ở thành Xá Vệ này mỗi ngày có bao nhiêu người chết?

– Bạch Thế Tôn, có lẽ khoảng hàng chục người…

– Nếu vậy thì có ngày nào con ráo nước mắt đâu?

– Bạch Thế Tôn! Thật là vừa đủ cho con với ngần ấy cô cháu, con dì, chú bác nội ngoại… để mà ầu lo buồn khóc.

– Này Visakha! Những ai có 100 người thân, kẻ ấy có một trăm mối sầu, những ai có 50 người thân kẻ ấy có 50 nỗi buồn lo… Còn những ai không chấp thủ rằng đây là ta, đây là người thân của ta, kẻ ấy không có sự khổ. Ta xác nhận rằng đó là người không sầu, không tham đắm, không ưu não.

Và Thế Tôn đọc kệ:

“Sầu than với khổ đau

Sai biết có ở đời

Do thân ái chúng có

Không thân ái chúng không

Do vậy người an lạc

Được không sầu không tham

Chớ làm thân làm ái

Với một ai ở đời” .

Lời bàn:

Bằng thân giáo và khẩu giáo, Thế Tôn đã xây dựng niềm tin đạo và niềm tin sống cho các Phật tử tại gia bằng phương pháp giảng dạy. Thế Tôn đã chỉ rõ cho hàng Cư sĩ tại gia biết thế nào là một người sống có niềm tin chánh tín. Trước khi đặt niềm tin vào giáo lý, người Phật tử cần tìm hiểu thắc mắc, nghi về giáo lý. Sau đó, đi đến chỗ thấy sáng tỏ lời dạy của Thế Tôn và tìm thấy thoải mái trong tâm hồn, an lạc và giải thoát khi thể hiện giáo lý vào đời sống. Thường thì lòng tin Phật pháp của người Phật tử phát khởi ngay sau niềm hân hoan hiểu pháp, hoặc niềm hân hoan phát khởi từ niềm tin ấy. Người Phật tử nên tin và phát khởi sự an lạc để đem lại hạnh phúc cho mình và người trong hiện tại và cả tương lai. Niềm tin của người Phật tử thường đem lại niềm hân hoan và phấn khởi. Trên lộ trình giải thoát, một lần Thế Tôn đã dạy: sau khi thể nghiệm đau khổ, tín phát khởi; tín phát khởi đưa đến hân hoan, hỷ, khinh an, lạc định, ly tham và giải thoát. Bấy giờ thì tín xuất hiện như lẽ sống.

Cũng như câu chuyện trên, khi thuyết giảng cho Visakha, Thế Tôn đã khẳng định: “Những ai không chấp thủ rằng đây là ta, đây là người thân của ta, kẻ ấy không có sự khổ. Ta xác nhận rằng đó là người không sầu, không tham đắm, không ưu não”…

Mấy lời tâm huyết

Thuyết pháp giảng kinh, viết sách giáo lý nhà Phật hoặc in kinh sách đem phát cho mọi người xem, để họ sớm giác ngộ, được như thế hạnh phúc không gì bằng, đó gọi là pháp thí.

Nếu không đủ điều kiện làm những việc ấy, chúng ta thỉnh một số kinh sách chịu khó đem đến từng nhà cho mượn đọc, sau đó lần lượt cho nhà khác mượn, hoặc đọc cho kẻ khác nghe, nhất là cho người không biết chữ. Việc làm này quý giá vô biên, đây cũng gọi là pháp thí.

Chính đức Phật đã dạy: “Trong các sự bố thí, pháp thí có công đức lớn nhất, không công đức nào có thể sánh bằng”.

Tưởng về lợi cũng như về danh, chúng ta đừng nên lo nghĩ, mà điều tối cần là làm sao cho rạng rỡ chánh đạo. Đó là mục đích chính, thiêng liêng và cao cả nhất của chúng ta. Nền móng đạo pháp cần nhờ sự chung lưng góp sức của chúng ta. Vậy mỗi người nên xây đắp vào đó một ít vôi, một ít nước, một tảng đá hay một viên gạch v.v… ngõ hầu cái nền móng ấy được thêm bền vững và kiên cố đời đời.

Chúng ta không nên quan niệm về công đức, hãy nên nghĩ nhiều đến những người lầm đường lạc lối, sống trong vòng tội lỗi không lối thoát xung quanh chúng ta. Hãy mau cứu vớt họ, cảnh tỉnh họ để cùng quay về chân lý, giúp họ tìm ra nhiều lẽ sống, niềm vui. Được thế, chính ta đã làm lợi ích cho Phật pháp vậy.

Với hoài bão cuộc đời, chúng ta hãy “Tất Cả Vì Phật Pháp”. Hy vọng mấy lời tâm huyết này được nhiều vị hảo tâm in kinh sách cho mọi người xem!
Được vậy, niềm phúc lạc vô bờ chắc chắn sẽ đến với chúng ta! Tha thiết mong mỏi như thế!

Tặng cho thân nhân một số tiền nhỏ, lòng mình không vui, nhưng mình không đủ sức tặng nhiều hơn nữa. Chỉ có một cách là tặng các loại sách tu hành để xây dựng cho đời sống thanh cao, thì dù một quyển sách giá chỉ vài ngàn, nhưng vẫn quý hơn tiền trăm bạc triệu.

The post Sống Theo Lời Phật – Thích Nhuận Thạnh ( Phần III ) appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Sống Theo Lời Phật – Thích Nhuận Thạnh ( Phần II ) https://bachhac.net/song-theo-loi-phat-thich-nhuan-thanh-phan-ii.html Thu, 23 Apr 2020 04:42:16 +0000 https://bachhac.net/?p=3195 Vắt sữa bò Có người sắp mở hội, mời số khách đông để cúng dường sữa bò. Rồi tự nghĩ: “Nếu từ nay, cứ mỗi ngày nặn lấy sữa thì sữa sẽ nhiều không đồ chứa, mà chứa lâu ngày e sẽ hư. Chi bằng chứa luôn trong bụng bò, đến ngày khách đến sẽ …

The post Sống Theo Lời Phật – Thích Nhuận Thạnh ( Phần II ) appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
sống theo lời phật

Vắt sữa bò

Có người sắp mở hội, mời số khách đông để cúng dường sữa bò. Rồi tự nghĩ: “Nếu từ nay, cứ mỗi ngày nặn lấy sữa thì sữa sẽ nhiều không đồ chứa, mà chứa lâu ngày e sẽ hư. Chi bằng chứa luôn trong bụng bò, đến ngày khách đến sẽ nặn lấy một lần cho tiện”. Thế rồi, ông ta liền dắt bò con đem cột riêng xa bò mẹ. Qua thời gian một tháng, ông ta mở tiệc và mời khách đến, đem bò ra nặn sữa thì sữa đã khô hết, nặn không ra một giọt!

Người muốn đợi giàu to mới bố thí, chớ thường ngày chẳng chịu bố thí. Đến khi muốn bố thí, thời của cải đã bị nước, lửa, giặc cướp đoạt mất chẳng còn một đồng! Cũng như ông chủ kia chứa sữa trong bụng bò vậy .

Lời bàn:
Qua đoạn kinh trên, chúng ta thử đặt câu hỏi: “Thế nào là bố thí và phải bố thí như thế nào cho đúng pháp?”. Có người cho rằng bố thí là ban phát những gì mà ta nghĩ là có lợi cho người khác. Bố thí không nhất thiết là phải cho tiền tài, vật chất. Bố là rộng thí, là ban cho không hạn cuộc người hay vật, thân hay sơ, đồng chủng tộc hay khác chủng tộc, mà bố thí là hễ thấy một chúng sinh nào thiếu thốn những vật bổ ích cho thân tâm, nếu mình sẵn có đều bình đẳng giúp đỡ, không bao giờ luyến tiếc.

Trong đời sống, chúng ta hay thí mà không có bố. Có nghĩa là chúng ta cho mà cho không rộng, chúng ta cho mà vẫn giữ lại ở trong lòng nhiều thứ. Chính những thứ mà chúng ta cố giữ lại là những thứ làm chúng ta khốn khổ trong đời sống. Chúng ta thử đặt câu hỏi: tại sao chúng ta không dám cho hết? Tại sao cho mà vẫn còn ôm lại? Tại vì lòng tham trong ta nó còn mạnh quá.

Hãy tập sống theo hạnh buông xả “từ bi, hỷ xả”. Hãy xả bỏ, đừng ôm chặt lấy những gì mình có. Tất cả rồi sẽ thay đổi, tất cả rồi sẽ biến hoại. Nếu chúng ta ôm chặt, một khi chúng thay đổi hoặc biến mất thì chúng ta sẽ đau khổ. Ngoài ra, bố thí còn là một pháp tu thuộc hạnh Bồ tát trong lục độ. Bố thí là đem pháp lành hay đồ vật ban cho người khác để diệt trừ lòng tham. Một khi lòng tham đã dứt thì tánh tốt mới hiển hiện. Chúng ta hay cho những gì mà chúng ta thích, chứ ít khi nào chúng ta chịu tìm hiểu xem người khác thích cái gì. Cho như vậy chưa chắc là ta đã mang lại niềm vui cho người mà thậm chí còn làm cho người ta đau khổ nữa là khác. Cái quan trọng không phải là vật cho, mà điều quan trọng là tâm hồn của người cho lẫn người nhận. Tuy nhiên, trước khi mang niềm vui đến cho người, ta hãy nghĩ đến việc mang niềm vui đến cho mình cùng gia đình mình trước đã. Có như vậy thì khi mang đến niềm vui cho người mới thật là chân tình. Bố thí thật sự không mong người nhận đền ơn trả nghĩa mà mình phải tự nghĩ rằng đó là bổn phận phải làm. Bố thí cũng là một pháp tu, nhờ công năng ấy, ta có thể tẩy trừ được tham lam, ích kỷ ở tự tâm, thể nhập vào tánh đại bi bình đẳng.

Pháp thí có thể phá trừ được sự ngu mê của chính mình và người, phát triển chánh trí và thâm nhập vào kho tàng chánh lý cao diệu của đức Phật.

Sống chết vô thường

Tại thành Xá Vệ có một ông trưởng giả giàu có vô song nhưng nhà chưa có con trai. Ông lo lắng sau khi ông qua đời của cải sẽ bị quan tịch thu theo quốc pháp nên mới phát tâm quy y Tam bảo, thành tâm tinh tấn khẩn nguyện cầu tự và quả nhiên toại nguyện. Bà vợ mang thai, sinh ra một đứa con trai tướng mạo tuấn tú, tuổi vừa khôn lớn sớm lo cưới vợ.

Đôi bạn tân hôn yêu quý dắt nhau dạo rừng du ngoạn thưởng vui. Trong rừng có cây vô ưu, trên cành hoa nở từng đóa, phô bày cành nhụy màu sắc trắng hồng rất đẹp. Nàng thích quá tỏ ý với chồng muốn được thứ hoa quý ấy. Chàng liền trèo lên cây để hái hoa thì không may nhánh cây tức thì bị gãy vì dòn yếu, anh sa xuống chết ngay.

Cha mẹ hay tin tức tốc chạy đến ôm lấy xác con mà khóc ngất đi hồi lâu mới tỉnh lại, rồi than khóc liên miên tổn thương tinh thần. Tình cảm như thế, ai hay mà chẳng thương lòng!

Bấy giờ, vừa lúc đức Phật cùng ngài A Nan vào thành khuất thực, thấy việc người sa cây bị chết, Ngài bảo với trưởng giả rằng: “Người có sống chết, vật có thành bại, thời đến mạng tận không thể tránh được. Thế nên ngươi đừng buồn rầu than khóc chi nữa”. Và Ngài tiếp: “Đứa con này từ trên trời sinh xuống nhà ngươi, rồi mạng nó tận cũng từ nhà ngươi mà lên trời. Thế thì nó chẳng phải con trời mà cũng chẳng phải con ngươi. Nó cứ tùy theo nghiệp nhơn của nó mà sống chết, giống như kẻ lữ hành qua đường. Chết không thể tránh khỏi, đi không thể bắt lại được” .

Lời bàn:
Con người sống ở trong cuộc đời này, luôn luôn bị chi phối bởi định luật vô thường. Tất cả mọi vật từ tế bào trên cơ thể của con người đến sơn hà, đại địa đều biến đổi khôn lường trong từng sát na, từng giờ, từng phút, nên không có gì là thường trụ bất biến cả. Không phải sinh mạng của mình lúc tắt thở mới gọi là chết. Trong mỗi sát na, mỗi giây ta đã từng sống và cũng đã từng chết. Phải chăng ta đang sống và cũng là ta đang chết? Sự sống liên tục bất tận trong chu kỳ của một vòng tròn? Thật vậy. Đã có sinh phải có tử, có thành thì có hoại. Bất cứ một hiện tượng nào trên cõi đời này đều phải trải qua “sinh, trụ, dị, diệt” hay là “thành, trụ, hoại, không”. Lúc nào cũng phải nảy sinh ra, phát triển, rồi biến đổi và cuối cùng là tan biến. Đó chính là luật vô thường. Ở con người, vô thường sẽ chi phối theo nghiệp quả. Vậy nên, ta hãy chấp nhận và dùng các khái niệm vô thường ấy để quán chiếu và để tu tập, làm cho cuộc sống chúng ta vơi bớt đi những khổ đau và phiền lụy, tạo nhân lành cho những kiếp nối tiếp về sau.

Đời vui hay khổ? Muốn vui thì có vui, muốn khổ thì dẫy đầy khổ. Cái vui thoáng qua rồi hết, cái khổ rồi cũng qua đi. Tất cả những gì khởi niệm trong ta đều có đến và đi. Chúng ta sở dĩ bị khổ đau vì đã nhận thức sai lầm, rằng sự vật luôn tồn tại và bất biến. Cái sống của chúng ta sẽ không bao giờ hết, bởi vậy chúng ta mới bám víu vào những ảo giác, mong kéo dài những thỏa mãn của dục vọng. Hoặc thậm chí ta còn cho rằng chết là hết nên tìm mọi cách để tận hưởng mọi truy hoan sa đọa của cuộc đời, tạo bao nhiêu ác nghiệp để rồi mãi trầm luân trong bể khổ. Khi hiểu được luật vô thường thì những sự mong cầu của chúng ta cũng thay đổi và từ đó sự đau khổ cũng vơi đi. Hãy vui với những gì mà ta có, dù chúng chỉ là tương đối.

Lúc nào chúng ta cũng nên nghĩ rằng vô thường đang hiện diện mà dõng mãnh phát tâm tu. Nếu chúng ta làm được như thế mới là người học Phật một cách chân chánh vậy.

Cánh chế ngự tâm

Nước Ba Tư Nại có một Cư sĩ tên Cúc Đề, sinh hạ một con trai tên là Ưu Bà Cúc Đề. Khi trưởng thành, vì nhà nghèo nên làm nghề nấu nướng. Người cha cho của cải khiến mở tiệm buôn bán. Bấy giờ, có ngài A La Hán tên Đa Thế Bệ đến nhà thuyết pháp giáo hóa, dạy tu phép kể niệm: lấy một mớ đá đen làm cái bàn toán, hễ nghĩ một niệm lành thì hạ xuống một hòn đá trắng, một niệm ác thì hạ xuống một hòn đá đen.

Ưu Bà Cúc Đề vâng theo lời dạy. Tùy niệm thiện, ác chính lúc khởi lên, liền hạ xuống một hòn đá trắng hoặc hòn đá đen. Ban đầu đen nhiều hơn, trắng rất ít, dần dần tu tập đen trắng ngang nhau. Rồi chăm tu chẳng gián đoạn thì không còn hòn đen nào cả, mà chỉ toàn là hòn trắng, khi ấy niệm thiện đã thắng hẳn liền chứng được sơ quả .

Lời bàn:
Phật dạy: “Sự định tĩnh xuất phát từ nội tâm, không phải tìm cầu từ bên ngoài”.

Sự yên tĩnh của nội tâm mà chúng ta có được nhờ vào phương pháp hành trì đúng đắn cộng với sự buông xả của bản thân. Mỗi người muốn có một cuộc sống an nhiên tự tại, nhất định phải hạ thủ công phu tu tập để thanh lọc nội tâm. Sự định tĩnh trong tâm hồn bắt nguồn từ chánh kiến, nhờ có chánh kiến nên ta luôn có thiện niệm với mọi người. Tham lam, độc ác chất chứa trong tâm ta sẽ được chánh kiến loại trừ.

Học hạnh buông xả để dễ gần gũi với mọi người, để tiếp nhận những cái hay tốt khác. Nếu lòng ta chấp chặt một điều gì thì thật là khổ sở. Khi một người nói với ta điều gì không vừa ý thì ta cảm thấy buồn lo. Cứ như thế, chúng ta sẽ bị đau khổ vì những chuyện không đâu vào đâu. Điều đáng sợ nhất của con người chính là những tư tưởng bất chính, những thói hư tật xấu tiềm ẩn trong chính tâm hồn. Những thứ này thường làm cho người ta không làm chủ được chính mình.

Thế nên, là người học Phật, chúng ta cần phải dùng tuệ giác để nhận định mọi thứ, những việc gì xảy ra nghịch lý, không nên nhắm mắt thuận theo mà phải biết cách để chế ngự. Ta phải tích cực chủ động cải biến để những vọng khởi của ác nghiệp phải dừng lại hoặc tiêu mất. Ta phải nắm bắt và cải tạo những cơ hội, tạo ra những nhân duyên tốt giữa người với người, cùng nhau tu tập để thúc liễm thân tâm, tin tưởng và thương yêu, tôn trọng lẫn nhau, không dối gạt chính mình và người khác, không ai có ý nghĩ xấu với ai. Điều đó còn có nghĩa là chính ta đã tích cực chế ngự cải tạo tâm mình từ chưa thiện trở thành thuần thiện. Có như vậy, chúng ta mới có cuộc sống chan hòa trong tình thương yêu, an lạc và hạnh phúc ngay hiện tại cõi Ta bà đau khổ này.

Mưu độc

Vua Kính có một người thiếp rất xinh đẹp mà vua đặc biệt sủng ái. Hoàng hậu thấy vậy cũng đem lòng yêu mến cưng chiều mỹ nhân này như con gái yêu của mình. Một hôm, Hoàng hậu bảo người thiếp:

– Bệ hạ bảo em rất xinh đẹp, duy chỉ chiếc mũi hơi thô. Nếu mỗi khi diện kiến Ngài, em tìm cách che nó đi thì chắc Bệ hạ sẽ yêu em hơn.

Thiếu nữ ngây thơ tin lời. Mỗi khi giáp mặt vua, nàng thường dùng chiếc khen lụa che mũi. Vua trông thế ngạc nhiên hỏi Hoàng hậu. Hoàng hậu nhất định không nói. Vua gạn hỏi mãi bà mới thưa:

– Muôn tâu, thần thiếp nghe cô ta bảo rằng mồ hôi của Bệ hạ có mùi khó ngửi quá! Xin Bệ hạ rộng lượng dung thứ cho!

Vua nổi giận lôi đình, truyền cắt mũi mỹ nhân. Hoàng hậu chỉ chờ có thế, liền sai một người tâm phúc đang chực sẵn, thi hành ngay mệnh lệnh. Nàng ái thiếp bị thất sủng từ đó .

Lời bàn:
Tham sân, tật đố là những bản chất xấu xa. Người sống trên đời ai cũng có, không ít thì nhiều. Vua Kính yêu mến nàng ái thiếp là do lòng tham lam, háo sắc mà ra. Hoàng hậu hại nàng do tật đố ganh ghét. Vua truyền lệnh cắt mũi mỹ nhân là do lòng tự ái – lòng tự yêu mình bị tổn thương nên đổi thành sân hận. Mối tương giao giữa con người chúng ta được xây dựng trên nền tảng của dục lạc, nên tình yêu hay tình thương chỉ là những thứ tham lam, sân hận, ganh ghét trá hình mà thôi.

Trong các kinh, đức Phật đã từng đề cập đến lòng từ bi, tức là sự yêu thương vô điều kiện. Ở tinh thần này hoàn toàn vắng bóng sự toan tính, lọc lừa của bản ngã. Ta cảm thấy yêu thương tất cả mọi người chung quanh vì lòng ta vắng bóng muộn phiền, để rồi ta có thể nhìn vào những người có hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn, thương xót nên tìm cách giúp đỡ cho họ vơi khổ. Đó là sự quan hệ tương giao hoàn toàn vắng bặt những ý niệm về ta, của ta nên không có sự đam mê nồng nàn, ganh ghét nháng lửa và sân hận lôi đình. Là người Phật tử, nếu có tâm từ bi ấy thì ta sẽ đem lại nhiều lợi ích tốt đẹp cho nhiều người và cho cuộc đời.

Chánh Pháp

…“Đến bạn lành, được nghe Chánh pháp mầu nhiệm là được pháp các bậc Thánh tôn yêu quý. Đức Như lai trí tuệ hơn hết, trùm khắp hư không, nói ra giáo pháp, duy chỉ có Phật mới có thể hiểu thấu được. Vậy nên, các ngươi cần phải nghe nhiều hiểu rộng Chánh pháp, mới tin nổi lý chơn thâät Chánh pháp của Ta. Được làm thân người trong cõi người rất khó, mà gặp được giáo pháp Như lai lại còn khó hơn. Vậy nghe được giáo pháp phải nên tinh tấn tu trì” .

Lời bàn:
Đức Từ phụ đã dạy: “Thân người khó được, Phật pháp khó gặp, thời gian qua mau, mạng người chóng hết”. Chúng ta hiện tại được hữu duyên làm người, tuy không gặp thời đức Phật ra đời nhưng chúng ta cũng đã gặp được Chánh pháp của Ngài soi sáng. Nhưng, thời gian luống qua mau, mà ta chẳng chịu phát tâm tu hành thì thật là luống phí một kiếp người.

Nỗ lực học hỏi và tu tập theo giáo lý của đạo Phật để trước tiên bớt đi những tham vọng và suy tính không mỏi mệt trong cái thế giới đầy vật chất, cám dỗ này, sau đó từ kinh nghiệm, sự hiểu biết, tu tập, ta có thể chia sẻ với những người thân, bạn bè và mọi người để cùng nhau hưởng sự an lạc trong Chánh pháp của Phật. Nền giáo lý của đạo Phật là một nền giáo lý biểu trưng cho trí tuệ. Trí tuệ này sẽ giúp cho chúng ta có được sự năng động trong cuộc sống và bao dung thân thiện khi đối xử với mọi người chung quanh.

Vì vậy, chúng ta cần phải thấy rõ ràng rằng, Phật pháp không thụ động, chẳng phải lỗi thời, mà Phật pháp có khả năng giải trừ tất cả mọi phiền não khi chúng ta có sự hiểu biết và tu tập đúng theo Chánh pháp. Ngoài ra, Phật pháp còn giúp chúng ta có được lý trí và sự hiểu biết lớn lao, bằng cách tạo lập một cuộc sống lợi ích, gia đình đầm ấm, hài hòa với xã hội. Đó là những tính cách thiết thực của Chánh pháp Thế Tôn.

Con dao trong tâm

Một thời, ở thành Xá Vệ nước Ấn Độ, Phật đến giáo hóa cho một gia đình có hai vợ chồng đều tham lam độc ác, không biết tôn trọng đạo đức. Ngài liền hóa ra một vị Đạo nhân đến khất thực. Lúc ấy người chồng đi vắng, người vợ ở nhà thấy vị Đạo nhân vào liền mắng chửi ầm lên. Vị Đạo nhân nói:

– Tôi là người tu hành, chỉ xin ăn tự sống. Mong gia chủ cho bát cơm để đỡ đói lòng, sao lại mắng chửi tôi đủ điều như vậy?

– Người vợ tức giận hét ngược lên thì người chồng vừa về. Tay cầm sẵn con dao, chẳng nói gì, người chồng xông tới định chém Đạo sĩ. Bỗng một bức thành pha lê hiện lên, bao bọc Đạo sĩ, bức thành trong sáng kiên cố, không có cửa. Người chồng đến xô đạp đâm chém cũng không sao chuyển nổi.

Người chồng liền nói:
– Ông mở cửa cho tôi vào với!
Vị Đạo sĩ trả lời:
– Được! Nhưng ông hãy quăng con dao đi!

Người chồng tự nghĩ: “Mình to con như thế này, còn người Đạo sĩ nhỏ bé thế kia, mình dùng hai tay không cũng đủ giết chết vị Đạo sĩ”. Nói đoạn, người ấy liền quăng con dao đi xa nhưng bức thành pha lê vẫn y nguyên như cũ. Người chồng tức giận hét lên:

– Tôi đã quăng dao đi rồi, sao không mở cửa cho tôi vào?
Vị Đạo sĩ đáp:
– Không, tôi không nói ông quăng con dao trong tay ông, tôi muốn ông quăng con dao trong tâm ông kia!

Người chồng giật mình kinh sợ, nhận thấy vị Đạo sĩ hiểu rõ tâm ý thầm kín của mình, liền cúi xuống lạy tạ, ăn năn hối lỗi. Bức thành bỗng biến mất, vị Đạo sĩ hiện thành đức Phật hào quang chói sáng rực rỡ và tiếp độ cho hai vợ chồng .

Lời bàn:
Câu chuyện trên cho chúng ta nhận thấy, mọi tội ác đều do tâm tạo tác, vì tâm là chủ thể. Nếu với tâm thiện thì tất cả mọi hành động và việc làm cũng thiện, nếu với tâm ác thì lời nói và việc làm cũng ác. Tâm thiện hay bất thiện đều do hoàn cảnh và môi trường sống của chúng ta huân tập thành. Để cải tạo tâm, đoạn trừ những phiền não tham sân si, bước đầu tiên là ta phải học Phật.

Ngày nay, xã hội chúng ta đang sống là một xã hội hưởng thụ vật chất quá nhiều. Vì thế, con người đã bộc lộ ra nhiều sự vẩn đục của tâm hồn, tính tham lam sân hận luôn biểu lộ trong mọi tình huống khi điều đó trái ý với mình hoặc làm cho mình chưa vừa lòng, toại ý. Những phim ảnh, những cách sống phóng túng, những kiểu ăn bận mát mẻ đã tác động vào tâm ý của chúng ta hằng ngày. Bản tánh tự nhiên của chúng ta do đó bị nhiễm ô, không còn trong trắng và thánh thiện như nguyên thủy của chúng.

Khi chúng ta phát tâm tu tập, tức là ta đã trực tiếp lấy sự công phu và hành trì gội rửa những vết nhơ đeo bám trong tâm để tâm được trở lại thanh tịnh và mở mang được trí huệ. Lúc ấy, chúng ta mới bắt đầu mở rộng sự hiểu biết. Khi chúng ta đã có tri thức thì có thể mở rộng tầm quan sát, thấy nghe, học mọi điều mình thích. Lúc này, chúng ta sẽ không bị ảnh hưởng, đắm nhiễm bởi những môi trường xung quanh vì chúng ta đã có tuệ giác của đạo Phật.

Ghen với bóng mình

Ngày xưa, có một người trưởng giả, vợ chồng mới cưới rất yêu kính nhau. Người chồng bảo vợ:
– Em vào trong nhà bếp lấy rượu ra đây cùng uống cho vui.

Người vợ vừa giở nắp lu, chợt thấy bóng mình hiện ở trong lu, liền cho là có người khác đã ẩn tự bao giờ, nổi tam bành lục tặc, trở ra sân si với chồng rằng:
– Anh đã chứa giấu đàn bà trong lu còn cưới tôi về làm chi nữa?

Chồng tức quá vào xem thì lại thấy bóng mình, nổi sân chạy ra nạt vợ rằng:
– Mày giấu trai trong đó mà đổ thừa cho tao giấu gái? Thế là hai đứa sân si ẩu đả nhau kịch liệt. Thôi thì đánh nhau dữ dội, la khóc om sòm, đàng nào cũng cho mình là phải. Giây lát, có thầy Tỳ kheo đi ngang qua, nghe được nguyên nhân sự việc xảy ra đám đánh, đến mà xem thử mới biết là đánh lộn vì cái bóng của họ mà bùi ngùi tự than rằng:

– Ta sẽ vì các ngươi mà bắt người trong lu ra cho. Rồi vị Tỳ kheo lấy một cục đá to đập lu vỡ, rượu chảy linh láng, người có bóng trong lu cũng biến mất. Giải quyết, xong đôi vợ chồng ôm nhau xấu hổ.

Bấy giờ thầy Tỳ kheo vì họ nói pháp, khiến cho đắc đạo. Đức Phật lấy thí dụ: thấy bóng đánh lộn là bởi người đời chẳng biết cái “khổ không” của năm uẩn và bốn đại mà phải bị khổ sinh tử chẳng lúc nào dứt vậy .

Lời bàn:
Qua chuyện trên, chúng ta nhận thức ra được gì? Tại sao chúng ta không sống hạnh phúc mà lại phải đau khổ. Nguyên nhân do đâu? Bởi vì chúng ta cứ mãi chấp mắc vào danh, lợi, sắc ái và cho là nó là của mình, thuộc về mình, khi mà nó mất đi hoặc đoạn diệt thì ta lại đớn đau.

Các Thánh nhân cũng đã từng nói với chúng ta rằng: “Thế gian chỉ để chúng ta sử dụng, chứ không phải là sở hữu của ta”. Điều này nghĩa là: bất kỳ vật nào trong thế gian này cũng đều là vật tạm thời mà ta mượn để sử dụng mà thôi, thật sự không có vật gì vĩnh viễn tồn tại. Tại sao vậy? Vì bản chất của vạn pháp là vô ngã. Nhưng chúng ta lại chấp là có ngã, nên tạo ra sự mê loạn trong đau khổ của sinh tử luân hồi bất tận.

Vậy vô ngã là gì? Đó là những gì mà ta thường gọi là nhà của ta, vợ của ta, con của ta. Phật giáo cho cái đó là giả tưởng, là không có thật. Chính nó là nguồn gốc của mọi thứ mê lầm, đau khổ. Thử hình dung lại lúc ta mười tuổi và bây giờ ta hai mươi tuổi có hoàn toàn giống nhau không? Bấy nhiêu cũng đủ cho ta thấy sự vô thường của chính ta. Nhận thức rõ được điều này, ta sẽ không thất vọng hoặc xúc động trước những thay đổi ấy.

Trong cuộc sống, ít khi chúng ta làm chủ được mình mà hay bị ngoại cảnh chi phối. Nhiều khi chỉ cần một lời khen có thể làm chúng ta phấn chấn hoặc một tiếng chê có thể làm cho ta cảm thấy cuộc đời này là một chuỗi dài đau khổ. Muốn lìa xa những đau khổ này, chúng ta cần phải xả bỏ sự tham đắm và chấp trước thì mới có được sự an lạc thực tại trong đời.

Nương theo nghiệp

Vua Di Lan hỏi ngài Na Tiên: “Người trong đời ai cũng có tứ chi đầy đủ: đầu, mặt, mắt, tay và thân thể… Nhưng sao có người sống lâu, có kẻ chết yểu, cho đến người bệnh ít, bệnh nhiều, nghèo – giàu, cao – thấp, đẹp đẽ – xấu xí; lại có người được người ta tin cậy, có người bị người ta nghi ngờ; có kẻ thông minh, có người ngu muội. Tại sao có sự bất đồng như thế thưa Ngài?”.

Ngài Na Tiên đáp: “Ví như trái cây của các thứ cây: có thứ cay, chua, thứ đắng, ngọt – Ngài hỏi lại nhà vua – vì sao nó sai khác như thế, tâu Đại vương?”.

Vua đáp: “Vì trồng nhiều thứ cây khác nhau”.
Ngài nói: “Cũng giống như người trồng cây kia. Bởi hành động tạo tác của mỗi người sai khác chẳng đồng, chẳng ai giống ai, cho nên mới có quả báo sai biệt như Đại vương vừa kể trên. Và còn thêm nữa: ai cũng có cái miệng mà sao có kẻ nói ra tiếng, mà có người lại câm! Cho nên kinh Phật dạy: giàu sang, nghèo hèn, xấu tốt là đều do sự tạo tác của đời trước mà có, thời thiện ác tùy theo tự thân mình mà có được vậy .

Lời bàn:

Mỗi người hiện hữu trên cõi đời đều có những nghiệp báo riêng, chẳng ai giống ai. Nghiệp báo là nghiệp quả báo ứng. Nghiệp nhân ta gây thì nghiệp quả ta phải gánh chịu. Cũng giống như ta trồng cây nào thì ta sẽ nhận quả của cây đó. Nghiệp nói chung là hành động tạo tác theo thói quen của mỗi người. Nghiệp có thiện có ác. Chúng ta làm việc thiện thì gặp phước báo thiện, làm ác thì gặp ác báo. Nghiệp tạo nên từ nơi thân, khẩu, ý. Làm lành, nói lành thì tạo nên quả báo lành, còn làm ác, nói ác thì tạo ra quả báo ác. Chính từ nghiệp, nó sẽ phát xuất ra kết quả như một tác động của luật nhân quả. Nếu như một người thiếu sự tu tập thì sẽ phóng túng, buông lung để cho sức mạnh của nghiệp chi phối nội tâm của mình. Ta cứ phóng tâm theo sự biến chuyển của ngoại cảnh, sống trong những vọng tưởng của tâm thức mà không có khả năng chế ngự. Phật dạy nếu chúng ta đã phạm phải một nghiệp xấu, chúng ta cũng không nên hoảng sợ hay chán nản, mà phải cố gắng điều chỉnh lại cho đúng. Để làm được điều này, trước tiên chúng ta phải tích cực gây tạo nhiều nhân tốt. Và điều quan trọng hơn là để tránh các nghiệp xấu, ta phải giảm tối thiểu những tư tưởng tội lỗi, ích kỷ, ganh tỵ, hiềm khích, oán ghét, nóng giận. Tự bản thân của chúng ta phải dùng trí tuệ để quán chiếu, nhận thức được những thiện niệm và bất thiện niệm sinh khởi trong tâm mình rồi diệt trừ nó. Ngoài ra, không ai có thể làm việc ấy cho chúng ta được, ngay cả đức Phật. Ngài cũng dạy rõ ràng: Ngài chỉ có thể hướng dẫn đường phải đi và phải làm, chứ Ngài cũng không đi thay hoặc làm thay cho bất cứ ai được.

Bởi vậy, là người học Phật, chúng ta phải tích cực gieo tạo thiện nghiệp để chuyển hóa những khổ đau để có được sự an lạc hạnh phúc thật sự.

Giữ gìn giới hạnh

Một thời, đức Phật ở nước Xá Vệ, tại tịnh xá Kỳ Hoàn, thuyết pháp cho chư Thiên nghe. Lúc bấy giờ, ở nước La Duyệt Kỳ có hai vị tân Tỳ kheo muốn yết kiến đức Phật.

Giữa hai nước ấy có một khoảng đồng rộng, không có người ở, lại gặp thời hạn nên suối hồ đều khô cạn. Hai người đi ngang qua bị khát nước, chỉ gặp được vũng nước nhỏ song thấy toàn loài trùng, không thể uống được. Hai người mới bàn nhau: “Chúng ta từ xa lại cốt trông mong chiêm ngưỡng đức Phật, không ngờ ngày nay bị chết khát giữa đường”. Một người nói: “Thôi, ta hãy tạm uống cho khỏi chết, có vậy mới gặp được Phật. Vả lại, ta uống cũng không ai biết cả”. Người kia đáp: “Giới luật Phật chế cấm không được uống nước có trùng, chính là lấy nhân từ làm gốc. Nếu giết hại chúng sinh để tự sống thì dầu thấy Phật cũng không ích gì. Thà rằng giữ giới chịu chết, chớ không phạm giới mà sống”.

Người đầu tiên theo ý riêng mình uống nước cho hết khát và đi đến chỗ Phật ở. Người thứ hai không chịu uống nên phải chết vì khát nhưng lại được sinh vào cõi trời Đao Lợi. Nhờ suy nghĩ nên tự biết ở kiếp trước giữ giới không phạm nên được sinh Thiên, thật là do lòng tin mạnh nên phước báu chẳng xa vậy. Nghĩ đoạn, bèn đem hương hoa đến lễ Phật và đứng hầu một bên. Còn người uống nước phải cực khổ trải qua nhiều ngày mới đến chỗ Phật ở. Thấy đấng chí tôn oai nghiêm, người kia liền cúi đầu đảnh lễ khóc lóc bạch rằng: “Con còn có người bạn cũng muốn đến yết kiến Phật, chẳng may giữa đường bị mệnh chung, dám mong đức Thế Tôn biết cho”.

Đức Phật trả lời: “Ta đã rõ rồi”, bèn lấy tay chỉ vị tiên nhơn đứng kế bên mà nói: “Tiên nhơn này chính là bạn của ngươi đó, người này vì giữ trọn giới luật nên được sinh lên cõi trời và được gặp ta trước ngươi”.

Bấy giờ, Thế Tôn chỉ vào người kia và bảo: “Ngươi tuy thấy ta mà không giữ giới luật của ta, thời tuy ngươi thấy ta mà ta không thấy ngươi. Người kia tuy cách xa ta ngàn dặm nhưng vẫn giữ được giới luật, thời người ấy đứng trước mặt ta” .

Lời bàn:
Trong kinh Di Giáo, đức Phật đã từng khẳng định: “Giới là bậc Đạo sư của các thầy, nếu Ta có ở đời, cũng không khác gì giới vậy”.

Vai trò của giới luật trong đạo Phật rất quan trọng và là nền tảng của các pháp lành, nên người Phật tử cần phải hiểu rõ tầm quan trọng này để khỏi phải sai phạm. Giới có ý nghĩa như sau: Giới (Sila) “phòng phi chỉ ác”, nghĩa là đề phòng đều trái quấy, dừng chỉ mọi điều ác, làm mọi điều thiện. Giới là do đức Phật chế ra, Ngài căn cứ vào hoàn cảnh thực tiễn của xã hội và bổn phận của con người mà quy định giới luật. Do đó, giới luật có tính chất nhân bản tiêu biểu cho nền đạo lý toàn diện và giúp cho con người hành trì tiến nhanh trên con đường giải thoát.

Vì tính chất quan trọng và lợi ích thiết thực rộng lớn của giới nên lúc còn tại thế, đức Phật mỗi khi nghe vị đệ tử nào sống sai tinh thần giới luật, Ngài thường hay cho gọi đến để tìm hiểu, rồi giải thích và trách phạt một cách nghiêm khắc.

Ngoài ra, giới luật của Phật giáo còn là nền tảng của một thế giới hòa hợp mà trong đó, con người thật sự sống như một con người, không phải loài cầm thú. Giữ gìn giới luật còn là trọng điểm trong sự tu hành của chúng ta. Người Phật tử chỉ cần giữ năm giới: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không dùng chất kích thích làm mất chánh niệm. Cho nên, là người Phật tử, chúng ta phải giữ gìn năm giới trên để làm của cải và để cải thiện đời sống của mình giản dị và trong sạch hơn, để rồi từ đó, tâm hồn ta sẽ được tịnh hóa trở nên hiền hòa, trong sáng và an lạc hơn.

Hằng thuận chúng sinh

Kiếp quá khứ cách đây khá lâu, có một ông vua tên là Tu Lâu Bà ở Châu Diêm Phù Đề, cai trị tám muôn bốn ngàn nước nhỏ, sáu muôn núi sông, tám mươi ức tụ lạc, hai vạn bà phu nhân và một vạn quan đại thần.

Thời ấy, phước đức và thế lực của vua Tu Lâu Bà không ai bì kịp, nhân dân thuở đó nhờ đức vua, được an lạc thái bình, mưa hòa gió thuận, sung sướng vô tận.

Một hôm, vua tự nghĩ: “Đối với vật chất ta đã giúp dân đầy đủ nhưng về nhu cầu giải thoát cho tinh thần thì chưa có. Nếu con người chỉ sống theo vật chất, tâm như gỗ đá, cát sỏi, tha hồ cho bốn tướng sinh, già, bệnh, chết lôi quanh thì không khác chi thú vật, ăn no nằm mát phơi mình trên đám phân tro cho qua ngày đoạn tháng. Đó là lỗi ở ta, ta phải có trách nhiệm tìm đường giải thoát cho họ”.

Nghĩ thế, Ngài liền ra yết thị và bố cáo cho thiên hạ biết rằng: “Nếu ai biết đạo giải thoát của Phật, hãy dạy nói cho ta hay, muốn dùng gì ta sẽ cung cấp đầy đủ” .

Lời bàn:
Hằng thuận là một việc làm rất khó, phải là người có đại nguyện rộng lớn và lòng từ bi bao la thì mới có thể đảm đang nổi. Vì sao vậy? Vì hằng thuận chúng sinh nghĩa là hòa hợp với tất cả mọi chúng sinh trong pháp giới này. Khi hằng thuận, chúng ta cần phải dùng đến tuệ giác để quán sát cơ duyên, dẫn dắt chúng sinh đoạn trừ việc ác, tu tập điều thiện. Ngoài ra, chúng ta còn phải giúp cho họ phá mê, khai ngộ nên cần phải có một sự tu tập cần mẫn và một trí tuệ sâu rộng. Phải dùng đến các phương tiện thiện xảo thì mới có khả năng đáp ứng cho tất cả mọi người một cách viên mãn được.

Như câu chuyện trong đoạn kinh trên, vị vua Chuyển Luân Vương nọ đã làm cho tất cả dân chúng ấm no. Nhưng dân chúng còn chưa biết tu tập, cầu đạo giải thoát, Ngài phải ra cáo thị để kêu mời pháp sư nói pháp để dân chúng và nhà vua nhờ đó mà có thể tu tập. Đó chính là hạnh nguyện hằng thuận chúng sinh của đức vua, một trong mười đại nguyện của Bồ tát Phổ Hiền.

Phú ông cất lầu

Thuở xưa, có một ông nhà giàu rất ngu si, không biết việc gì cả. Một hôm, ông đi đến nhà một phú ông khác có một nhà lầu ba tầng, xinh đẹp không đâu bằng, lòng ông rất ham thích và tự nghĩ: “Tiền của ta ít hơn người này nhưng lẽ nào lại không cất được một trong ba tầng ấy sao?”.

Đoạn ông về nhà, liền mời một kiến trúc sư đến hỏi rằng:
– Ông có thể cất lầu ba tầng không?

Nhà kiến trúc đáp:
– Được, tôi đã làm nhiều nơi rồi!

Ông nói:
– Tốt lắm! Nên làm ngay cho tôi một tòa nhà lầu ba, kiểu giống như của bạn tôi!

Nhà kiến trúc đem nhân công khởi sự ban đất, đắp nền xây đá, lên tường.
Cách ít hôm, ông nhà giàu đến xem xét, không thấy tầng thứ ba, bèn hỏi nhà kiến trúc:
– Hiện ông đang làm gì đó?

Nhà kiến trúc trả lời:
– Tôi đang làm nhà ba tầng cho ông đây.

Ông lại hỏi:
– Tại sao cất tầng lầu ba mà lo xây tầng dưới không chịu cất nội tầng trên cho tôi?

Nhà kiến trúc trả lời:
– Phải cất từng tầng lên, nếu không cất hai tầng dưới làm sao có thể cất được tầng thứ ba?

Không suy nghĩ kỹ, lập tức ông ngăn rằng:
– Không! Không! Tôi không cần làm hai tầng dưới, tôi chỉ muốn làm nội tầng thứ ba thôi! Ông nên làm cho tôi tầng ba trên cùng cho nhanh chóng!
Nhà kiến trúc nghe xong cười to, rồi ba phen giảng rõ cho ông nghe, nhưng ông quá cố chấp, kiên quyết yêu cầu nhà kiến trúc chỉ làm tầng thứ ba. Nhà kiến trúc không có cách gì làm cho ông hiểu rõ được, đành phải đình công việc cất nhà .

Lời bàn:

Qua câu chuyện trong kinh Bách Dụ, chúng ta có suy nghĩ gì về tiến trình tu học Phật pháp của mình? Thường khi học Phật, chúng ta hay muốn vượt bậc, bỏ qua những pháp căn bản và cho đó là không quan trọng. Chỉ thích học những gì liễu nghĩa cao xa mà mức độ tu tập của chúng ta chưa có thể đạt tới. Trong tiến trình tu tập, điều đầu tiên là chúng ta phải nhất nhất tuân thủ lời dạy và phương pháp hành trì do thầy đưa ra. Đây là con đường đúng đắn để chúng ta tu học Phật pháp một cách tốt nhất từ xưa đến nay mà chư cổ đức đã từng áp dụng. Ban đầu, chúng ta phải học giới, tức là các oai nghi, tế hạnh, quy củ của người tu Phật. Sau đó, chúng ta mới học lên các kinh điển về Tiểu thừa cũng như Đại thừa, như thế sẽ có được nền tảng vững chắc chắn cho ba môn học Phật pháp là giới, định và tuệ. Khi học, chúng ta phải nhiệt tâm, nhiệt huyết, không nên thay đổi tư tưởng, không lơ là biếng trễ. Nếu làm được như vậy thì ta sẽ đạt được nhiều định lực trong sự tu tập, tiêu trừ được những phiền não và đạt được song hành cả phước lẫn huệ.

Là người học Phật, bước đầu phải thiết lập nền tảng giới cho vững chắc. Phương pháp này có vẻ đơn giản nhưng nếu chúng ta thực hành nó thì sẽ đạt nhiều thành quả lớn, giống như cái móng của một ngôi nhà vậy.

Tin kính Tam bảo

Quá khứ thời Phật Ca Diếp, có một bà lão nhà rất giàu, biết tin kính Tam bảo. Một hôm, bà lấy các thứ hương hoa với dầu để sơn tháp, đi giữa đường gặp ba mươi hai cậu con trai, nhân dịp bà khuyên các cậu ấy rằng:

– Các cậu đi đâu? Đây có một việc phúc đức lắm, hôm nay tôi đi sơn tháp Phật, nếu các cậu sơn giúp tôi thì đời đời được sức lực khỏe mạnh và đẹp đẽ!

– Thế ư cụ? Vâng! cụ đã dạy, các cháu xin đi!

Sơn xong các cậu ấy đều thưa rằng:
– Thưa cụ! Do khuyên các cháu làm phước lành, xin đem công đức này, nguyện cho chúng cháu sinh nơi nào cũng được tôn vinh phú quý và đời đời chúng cháu được làm con cụ, cụ là mẹ chúng cháu và được gặp Phật nghe pháp chóng đắc đạo quả!

Bà lão nói:

– Quý hóa! Các cậu phát nguyện như thế! Nhờ công đức Tam bảo gia hộ, sau này thế nào cũng được như nguyện .

Lời bàn:

Con người sống phần đông đều có khuynh hướng mưu cầu tiền bạc, địa vị, coi đó là những thứ quý báu. Chúng ta tự cho rằng những yếu tố này tạo nên đời sống sung túc và văn minh cho nhân loại. Thậm chí ta còn nghĩ rằng có nhiều tiền của, có địa vị cao sang mới có hạnh phúc. Trải qua bao thế hệ, những “bảo vật” ấy thực chất không đem lại hạnh phúc cho con người, lắm khi còn gây ra khổ đau cho những ai xem chúng là tất cả, là trên hết, là cứu cánh của cuộc đời.

Do đó, những thứ của báu ở cuộc đời không thể cứu con người thoát khỏi khổ đau. Con người phải tìm đến và tôn kính Tam bảo. Vì Tam bảo có năng lực dẫn dắt con người vượt qua biển khổ đến chỗ an vui. Tôn kính Tam bảo ở đây là ta tin tưởng và hết lòng kính trọng vào ba ngôi báu là Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Ba ngôi báu này có các đặc tính cao đẹp nhất như giác ngộ, từ bi, bình đẳng, hòa hợp, thanh tịnh. Ngoài ra, Tam bảo còn có năng lực giúp cho ta gội rửa những phiền não, mê lầm, tháo gỡ những ràng buộc khổ đau để đạt đến an vui, giải thoát. Phật tử chúng ta nên hướng về Tam bảo, nương tựa và phụng sự Tam bảo. Có như thế, ánh sáng của ba ngôi báu này mới tồn tại ở thế gian, xóa tan bóng tối vô minh để đưa con người quay về bến giác.

Đức Phật đọ người ghánh phân

Thành Xá Vệ có một người Chiên đà la, sống bằng nghề đổ phân. Một hôm, Phật gặp giữa đường bèn kêu lại. Người đổ phân thưa rằng: “Con là người gánh phân ô uế không sạch, con không dám lại gần Ngài”. Đức Phật nói: “Ta nay muốn độ cho ngươi”. Rồi Phật tự thân dắt người gánh phân xuống sông Hằng tắm rửa sạch sẽ và đưa về tịnh xá Kỳ Hoàn cho xuất gia làm vị Sa môn.

Người gánh phân chuyên tâm tu hành, rất tinh tấn cần khổ, nên chưa đầy một tuần đã chứng quả A La Hán, thần thông tự tại. Bấy giờ, vua trong nước nghe tin Phật độ cho người Chiên đà la, lấy làm bất mãn và cho rằng làm như vậy là hạ thấp giá trị của Sa môn và làm khó khăn sự kính lễ của các hàng vua chúa, nên liền đến tịnh xá yết kiến Phật. Khi đến chỗ Phật, thấy một vị Sa môn uy nghi đức hạnh, ngồi thiền trên một tấm đá, hiện nhiều thần thông kỳ diệu.

Vua vào lễ Phật bạch rằng: “Bạch Thế Tôn! Vị Sa môn kia danh hiệu là gì, sao lại có nhiều thần thông như vậy?”. Phật bảo: “Đó là người gánh phân, nhờ công hạnh tinh tấn nên chứng được quả A La Hán”. Rồi Phật dùng thí dụ cho vua rõ: “Như ở trong bùn nhơ bẩn, vẫn nở một hoa sen thơm ngát. Vậy Bệ hạ là người có mắt, Bệ hạ có hái lấy hoa kia không?”. Vua đáp: “Đóa hoa tuy mọc trong bùn lầy mà thơm ngát hương quý thì rất nên dùng để tự trang nghiêm. Còn bùn lầy nhơ bẩn kia thì nên quán xem như là trạng thái của bà mẹ, chính tự trong bào thai mà sinh nở đoá hoa công đức”.

Vua lại bạch Phật: “Vị A La Hán trước làm nghề đổ phân, nay công quả tu hành viên mãn, chứng được những quả đức bất khả tư nghì. Con xin nguyện luôn cúng dường những món cần thiết, không dám để thiếu thốn” .

Lời bàn.

Qua câu chuyện trên, chúng ta thử suy nghĩ về thể tánh bình đẳng trong Phật giáo. Từ khởi nguyên, bước chân du hóa của đức Phật khắp lưu vực sông Hằng. Ngài là một nhà cách mạng vĩ đại đã dám gạt bỏ đi sự phân biệt giai cấp đã có từ lâu đời trong xã hội Ấn Độ. Ngay từ thời cổ đại, con người sống trong lãnh thổ này đã được chia làm bốn giai cấp, là Bà la môn, Sát đế lợi, Phệ xá và Chiên đà la. Một thời, những giai cấp này đã tạo nên sự bất công vô cùng khốc liệt. Nhưng đến khi đuốc tuệ chân lý giải thoát của Thế Tôn bừng tỏa thì tất cả mọi giai cấp đều quy về một mối. Ngài đưa ra một chân lý bất hủ: “Không có giai cấp trong khi máu người cùng đỏ và nước mắt cùng mặn”. Trong thể tánh bình đẳng, Ngài khẳng định ai cũng có Phật tánh và cũng đầy đủ khả năng thành Phật nếu người đó tinh tấn tu hành. “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành”.

Bình đẳng tuyệt đối là một đức tính vô cùng cao đẹp mà xưa nay chỉ có đạo Phật mới có mà không có trong bất kỳ một tôn giáo nào hay một hệ thống triết học nào khác.

Hạnh phúc thực tại

Một thời, Thế Tôn ở giữa dân chúng Koliya, tại thị trấn Kakakrapatta. Rồi Byagghapajja, đi đến đảnh lễ bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn! Chúng con là những gia chủ thọ hưởng các dục vọng, sống trói buộc với vợ con, dùng hương chiên đàn, đeo vòng hoa, thọ lãnh vàng bạc. Bạch Thế Tôn! Hãy thuyết pháp cho những người như chúng con để chúng con được hạnh phúc an lạc trong hiện tại!

– Này Byagghapajja, có bốn pháp này đưa đến hạnh phúc và an lạc trong hiện tại. Thế nào là bốn? Đầy đủ tháo vát, đầy đủ phòng hộ, làm bạn với thiện, sống thăng bằng và điều hòa.

– Ở đây, này Byagghapajja, phàm làm nghề gì để sinh sống, hoặc nghề nông, hoặc đi buôn, hoặc làm bất cứ nghề nào, vị ấy phải thiện xảo với nghề, làm việc không biết mệt, biết suy tư, tìm hiểu vừa đủ để tự làm và điều khiển người khác. Đây gọi là đầy đủ sự tháo vát.

– Ở đây, này Byagghapajja, những tài sản thu được do sự siêng năng, tháo vát, do bàn tay, mồ hôi công sức đúng pháp, vị ấy biết giữ gìn, bảo vệ, không để thất thoát. Đây gọi là đầy đủ sự phòng hộ.

– Ở đây, này Byagghapajja, sống tại làng hay thị trấn có những gia đình mà những đứa trẻ được lớn lên trong giới đức, những người lớn trưởng thành trong giới đức, đầy đủ lòng tin, giới hạnh bố thí và trí tuệ. Vị ấy phải làm quen, nói chuyện và học tập theo. Đây gọi là làm bạn với thiện.

– Ở đây, này Byagghapajja, biết rõ tài sản nhập và xuất, sống một cách điều hòa, không quá phung phí và không quá bỏn sẻn. Đây gọi là sống thăng bằng và điều hòa.

Này Byagghapajja, bốn pháp này đưa đến hạnh phúc và an lạc trong hiện tại .

Lời bàn:
Hạnh phúc thực tại, theo giáo lý của đạo Phật là sự thực tập chánh niệm trong phút giây mà ta có mặt. Trong từng cử chỉ, hành động, lời nói và công việc của chúng ta, nếu mỗi việc ta đều có chánh niệm thì ta sẽ có được sự an lạc và thảnh thơi từ những công việc đó. Theo Thế Tôn, để có được hạnh phúc và an lạc trong hiện tại, người Phật tử phải đầy đủ hạnh tháo vát, đầy đủ sự phòng hộ, làm bạn với thiện tri thức, sống cuộc sống trong sự thăng bằng và điều hòa.

Ở đời, mỗi người phải có một nghề nghiệp riêng. Dù bất là cứ công việc nào, phải có sự thiện xảo về công việc ấy. Phải yêu thích cái nghề của mình, gắn bó với nó cho dù cái ngề đó có thể là vất vả. Mà khi có nghề nghiệp vững vàng, thì đời sống của ta có sự sung túc. Ta phải có sự giữ gìn và phòng hộ những của cải do mồ hôi, nước mắt của mình tạo ra. Tài sản chúng ta tạo ra rất khó nhưng lại rất dễ dàng mất đi. Vì vậy, chúng ta sẽ gặp nhiều nguy nan khi trong tay chúng ta không có chút tài sản. Đầy đủ sự phòng hộ tức là biết tôn quý sức lao động, giữ gìn tài sản của mình để tránh hư hao, mất mát.

Để có được sự an lạc và hạnh phúc trong thực tại, người Phật tử còn phải có thiện tri thức, tức là chúng ta cần phải có nhiều bạn bè và môi trường sống tốt để mọi người có thể chung sống an hòa và học hỏi lẫn nhau. Sau cùng là để giữ gìn được những mối quan hệ trên, người Phật tử biết sống thăng bằng, biết rõ sự thu nhập của gia đình mình. Đồng thời, chúng ta phải điều tức sự chi tiêu để không quá lãng phí và không đến nỗi là keo kiệt. Đó chính là bốn pháp để người Phật tử khi thực hành sẽ có sự an lạc và hạnh phúc ngay trong đời sống thực tại.

The post Sống Theo Lời Phật – Thích Nhuận Thạnh ( Phần II ) appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Sống Theo Lời Phật – Thích Nhuận Thạnh ( Phần I ) https://bachhac.net/song-theo-loi-phat-thich-nhuan-thanh-phan-i.html Thu, 23 Apr 2020 04:33:43 +0000 https://bachhac.net/?p=3192 Trì giới và bố thí Đức Phật bảo vua Ba Tư Nặc: – Hỡi Đại vương! Phỏng có người thân tín đến bảo với nhà vua rằng có bốn núi lớn ở bốn phương sắp sập, sẽ đè hại nhân dân thì nhà vua có kế và phương cách chi để đối phó không? Vua …

The post Sống Theo Lời Phật – Thích Nhuận Thạnh ( Phần I ) appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
sống theo lời phật

Trì giới và bố thí

Đức Phật bảo vua Ba Tư Nặc:

– Hỡi Đại vương! Phỏng có người thân tín đến bảo với nhà vua rằng có bốn núi lớn ở bốn phương sắp sập, sẽ đè hại nhân dân thì nhà vua có kế và phương cách chi để đối phó không?

Vua thưa:

– Bạch Thế Tôn, quả có việc ấy xảy ra thì thật không nơi lánh nạn, nhưng chỉ chuyên tâm trì giới và tu bố thí mà thôi!

Phật khen:

– Hay thay Đại vương! Ý ta nói bốn núi là muốn chỉ bốn món sinh, lão, bệnh, tử của chúng sinh. Nó thường hay đến cướp mất mạng người, làm sao chẳng tu giới và bố thí được.

Vua nói:

– Bạch Thế Tôn, trì giới và bố thí được những lợi ích gì?

Phật đáp:

– Sinh về cõi trời và cõi người được hưởng sự vui sướng …

Lời bàn:

Trong cuộc sống thường ngày, tất cả mọi người lúc nào cũng gian nan, vất vả. Chúng ta phải đối diện trực tiếp với những mặt trái của cuộc đời.

Tham lam, sân hận và si mê – những điều này đã làm cho chúng ta mù quáng và thiếu tuệ giác trong lối sống và cư xử với nhau, dẫn đến sự bất hòa trong một gia đình hay trong một tập thể nào đó. Cũng chỉ đơn giản là vì một chút danh, một ít quyền lợi mà nhiều khi con người phải nhắm mắt xuôi tay làm những việc mà lương tâm mình không muốn làm, nghĩ những việc mà mình không muốn nghĩ.

Sự sinh, già, bệnh, chết luôn luôn theo đuổi con người trong từng sát na tựa như bóng với hình. Cho nên, dù chúng ta có thông minh xuất chúng, tiền vạn bạc muôn đi nữa nhưng rồi vô thường đến thì cũng phải từ bỏ tất cả và trả lại bản chất nguyên thể của chính nó. Thần thức của ta sẽ đi theo nghiệp mà mình đã gây tạo trong khi còn sinh tiền, thiện hay ác mà chúng ta đã gieo nhân thì chúng ta sẽ có kết quả như vậy.

Theo tuệ giác của Thế Tôn, muốn được quả tốt thì phải gieo nhân lành. Khi đã đầy đủ quả đức thì an vui, hạnh phúc sẽ đến, chúng ta sẽ không còn bị bốn ngọn núi lớn đè nặng – bốn ngọn núi được ví là bốn món sinh, lão, bệnh, tử. Nếu ta cần có một kiếp sống tốt lành sau khi đã mãn thân này, Thế Tôn đã dạy là nên tu tập công đức của trì giới và bố thí. Vì bố thí là phương pháp xả bỏ các tâm keo rít, tham ái của tự thân chúng ta. Điều đó, vừa nuôi dưỡng được tâm từ, hạnh bao dung; vừa tạo được công đức có thể sinh về cõi trời sau khi mệnh chung.

Trì giới ở đây là chúng ta phải giữ năm giới cấm của người Cư sĩ tại gia và siêng cúng dường, ấn tống kính sách, bố thí tài thực, vật thực cho những người nghèo khó hơn mình như thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, thuốc men, chăn chiếu… nói chung là tiền của. Còn bố thí pháp là chúng ta ra sức giảng dạy, chỉ rõ nỗi khổ đau, nguyên nhân của khổ đau, khổ đau diệt và con đường đi ra khỏi khổ đau; chỉ rõ các ác pháp cần phải tránh, các thiện pháp cần phải tu. Kết quả bố thí không thể căn cứ vào vật bố thí, giai cấp địa vị của người bố thí hoặc người nhận bố thí mà giá trị thực sự của nó nằm ở tâm bố thí của người cho.

Trong kinh Tăng Chi II, đức Phật dạy: “Sàriputta, ở đây, ai bố thí không với tâm mong cầu, không với tâm trói buộc, không với tâm chất chứa, không với ý nghĩ: ta sẽ hưởng được cái này ở đời sau, không với ý nghĩ: lành thay sự bố thí,… nhưng vị ấy bố thí để trang nghiêm thân tâm, để trang bị tâm. Do vị ấy bố thí như vậy, nên sau khi thân hoại mệnh chung, được sinh cùng trú xứ với chư Thiên ở Phạm chúng thiên. Và khi vị ấy nghiệp dứt, thần lực ấy, danh tiếng ấy, uy quyền ấy dứt, vị ấy trở thành vị Bất lai, không còn luân hồi nữa”.

Nhờ nhân bố thí mà chúng ta sẽ được sinh về cõi trời hưởng được hạnh phúc an vui.

Trao đổi

Xưa, có một người nhạc sĩ biết đủ các điệu nhạc, đến nhà ông trưởng giả xin trâu. Ông trưởng giả chẳng muốn cho trâu nên bảo anh rằng: “Nếu anh đánh nhạc liên tục ngày đêm chẳng nghỉ ngơi, đủ một năm tròn thì tôi sẽ cho trâu”.

Anh thưa: “Tôi đánh được. Xin ông cũng nghe luôn!”.

Trưởng giả nói: “Tôi nghe luôn chớ sao!”. Anh ta nghe thế rất vui mừng, chăm lòng đánh luôn ba ngày ba đêm không chút nghỉ tay. Trưởng giả chán quá nghe không nổi nữa liền sai người nhà đem trâu ra cho .

Lời bàn:

Câu chuyện trên là một câu chuyện thật hay và thú vị mang chất trí tuệ cao, buộc chúng ta phải dùng tuệ giác để suy ngẫm mới có thể hiểu rõ thâm nghĩa mà đức Phật ẩn dụ.

Trong cuộc sống, sức khỏe và sự chịu đựng của con người luôn bị giới hạn, đặc biệt là địa thể của con người sẽ biến đổi nếu chúng ta sống trong tình trạng quá căng thẳng do áp lực của công việc cùng với sự biến động của các tạp âm đã gặm nhắm phá hoại sức khỏe cùng kiệt sinh lực và tinh thần của con người. Nhưng đôi khi, trong cuộc sống chúng ta lại mất chánh niệm và mù quáng do lòng tham sai khiến mà quên đi mình đang là một con người – một con người có thương yêu, tha thứ, sầu muộn, đau khổ và giận hờn.

Nhưng mọi thứ ấy đều có một sức chịu đựng và có giới hạn. Nếu chúng ta quá lạm dụng vượt qua giới hạn của chúng thì chúng sẽ bùng vỡ. Một khi đã bùng vỡ thì sẽ kéo theo bao sự thất vọng nặng nề của tâm lý, vì bản chất của chúng xuất phát từ tâm. Để tránh được những vọng niệm sai lầm này bộc khởi thì ta phải khởi lòng từ bi với chính bản thân mình, đừng để sự si mê đó đốt cháy chúng ta. Một khi ta từ bi với chính bản thân mình thì tất cả những suy nghĩ xấu ác sẽ tự tan biến, bản thân ta và mọi người cũng đều có lợi ích. Cho nên, trong khi làm tất cả mọi việc ta cần phải có tuệ giác sâu. Tư duy và cân nhắc mọi sự việc theo sức của mình thì chúng ta sẽ thắng được sự cám dỗ mù quáng của lý tính, và thênh thang bước lên nấc thang của sự an lạc, tỉnh thức trong cuộc sống hằng ngày.

Người cư sĩ

Một thời, Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, trong vườn cây bàn. Rồi Mahànàma đi đến đảnh lễ Thế Tôn:

– Cho đến thế nào, bạch Thế Tôn, là người Cư sĩ?

– Ai quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, cho đến như vậy, này Mahànàma, là người Cư sĩ.

– Cho đến thế nào, bạch Thế Tôn, là người Cư sĩ đầy đủ giới?

– Này Mahànàma, người Cư sĩ từ bỏ sát sinh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu. Cho đến như vậy, này Mahànàma, là người Cư sĩ đầy đủ giới.

– Cho đến thế nào, bạch Thế Tôn, là người Cư sĩ đầy đủ tín?

– Ở đây, này Mahànàma, người Cư sĩ có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như lai: “Đây là Như lai, bậc A La Hán, Phật, Thế Tôn”. Cho đến như vậy, này Mahànàma, là người Cư sĩ đầy đủ tín.

– Cho đến thế nào, bạch Thế Tôn, là người Cư sĩ đầy đủ lòng bố thí?

– Ở đây, này Mahànàma, người Cư sĩ trú ở gia đình, tâm thoát khỏi cấu uế của xan tham, bố thí dễ dàng, bàn tay rộng mở, thích thú từ bỏ, chia sẻ vật bố thí. Cho đến như vậy, này Mahànàma, là người Cư sĩ đầy đủ bố thí.

– Cho đến thế nào, bạch Thế Tôn, là người Cư sĩ đầy đủ trí tuệ?
– Ở đây, này Mahànàma, người Cư sĩ thành tựu trí tuệ về sinh diệt, trí tuệ các bậc Thánh thể nhập, đưa đến đoạn tận khổ đau. Cho đến như vậy, này Mahànàma, là người Cư sĩ đầy đủ trí tuệ .

Lời bàn:

Để được gọi là người Cư sĩ Phật tử, thì một trong những tiêu chuẩn cơ bản nhất là quy y Tam bảo – còn gọi là ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng – để làm chỗ nương tựa vững chắc cho mình. Khi đã phát nguyện quy y trước Tam bảo thì nhờ năng lực của chư Phật, chư đại Bồ tát và Thánh Hiền Tăng sẽ giúp cho chúng ta giữ vững được tín tâm và phát khởi tâm Bồ đề rộng lớn, tinh tấn giữ trọn lời phát nguyện quy y. Và khi đã quy y rồi – tức là ta đã quy về nương tựa vào Tam bảo, hằng ngày chiêm ngưỡng, quán tưởng lễ bái và nguyện noi theo gương Phật để tinh tấn tu hành. Đó là một việc làm rất khó. Người được quy y Tam bảo là người đã đầy đủ duyên lành trong nhiều kiếp, nên có câu: “Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn”. Nghĩa là: làm được thân người đã khó, còn gặp được Phật pháp thì lại khó hơn. Bởi vậy, ngoài việc phát tâm y quy Tam bảo, người Cư sĩ cần phải tích cực trau dồi đạo đức để tiến lên thêm một nấc thang cao hơn nữa. Đó là việc thọ trì ngũ giới, trau giồi phát triển thêm các hạnh lành và xây dựng niềm tin cho vững chắc vào ngôi Tam bảo, tin rằng Thế Tôn đã chứng đắc vô thượng Bồ đề, tin rằng Phật pháp do Thế Tôn thuyết giảng rất thiện xảo, đưa con người đến ly tham, ly thủ; tin rằng chư Tăng là những vị đi trên con đường giải thoát, đang sống trong sáu pháp hòa kính, là những bậc có thể chỉ đường giải thoát cho đời; tin rằng mỗi người đều có sẵn trong tự thân khả năng giác ngộ, đoạn trừ tham, sân, si. Ngoài ra, người Phật tử còn phải tinh tấn học hỏi giáo lý kinh điển và phát triển lòng từ bi, nỗ lực quán chiếu vô thường, sự sinh diệt của con người và vũ trụ, không có vật chi là trường tồn bất biến.

Nhờ quán chiếu như vậy, ta sẽ xả bỏ được sự cố chấp, diệt trừ tham ái và có được đời sống an lạc. Ngoài ra, người Cư sĩ cần phải lập hạnh bố thí cúng dường để tẩy xóa xan tham, cố bám víu vào vật chất – một tâm lý cố hữu của con người – cũng là nguyên nhân chủ yếu làm cho con người phải khổ đau và luân hồi sinh tử.

Bởi vậy, người Phật tử phải luôn vận dụng trí tuệ trong mọi lúc mọi nơi và luôn lấy tinh thần lục hòa của nhà Phật để cùng nhắc nhở nhau tu tập, nhắc nhở nhau giữ gìn giới luật, sống hòa nhã với nhau, chia sẻ sự quan tâm cũng như sự hiểu biết với nhau và coi những điều ấy như là tư trang trong cuộc sống; tin tưởng vào Chánh pháp để phóng thích những nỗi khổ, niềm đau. Một khi mê mờ đã bị trí tuệ diệt sạch, thì những khổ đau sẽ không thể tiếp diễn nữa. Khi đó, chúng ta sẽ có cuộc sống yên vui trong hiện đời và mãi mãi về sau.

Mạng sống vô thường

Biển Nam Hải vụt nổi một cơn sóng dữ dội đẩy ba con cá lớn vào chỗ nước cạn. Ba con cá cùng bảo nhau rằng: “Chúng ta bị nguy hiểm rồi đây! Nhưng hiện giờ, nước chưa cạn, còn chảy ra vào, cần nên ngược dòng trở về biển cả!”. Nhưng không may, lại vừa có con thuyền chặn ngang dòng thủy khẩu, nên cá không thể tự do chạy ra. Con thứ nhất đem tận lực vượt qua khỏi thuyền. Con thứ hai may mắn nhờ đám cỏ cũng lủi qua được. Duy còn con thứ ba bởi sức yếu nên bị ngư ông bắt được. Đức Phật xem biết việc này liền nói bài kệ rằng:

Ngày nay đã qua, mạng ta giảm đi

Như cá ít nước, đâu có vui gì!

Bởi vì cá lấy nước làm nhà sống, mà nước hết thời chết. Người nương mạng căn mà còn, mạng giảm thời tiêu. Mạng căn theo đêm ngày bị giảm, thân thể bởi tám khổ mà mòn; vô thường già bệnh chẳng cho người hẹn. Kìa như cá khô nước đâu có vui gì!

Lời bàn:

Mỗi ngày trôi qua nhanh thì cuộc sống của chúng ta giảm dần, ví như cá bị mắc cạn ở trong ao, nên chẳng có vui gì trong sự biến đổi của vô thường thế thái. Ấy vậy mà cả đời chúng ta chỉ biết chạy theo cái mồi danh và bả lợi cùng những dục vọng thị phi của cuộc đời để rồi chuốc lấy sự khổ đau. Chúng ta chẳng bao giờ bằng lòng với phút giây hiện tại mà chẳng biết rằng chính cái giây phút ấy lại vô cùng quý báu đối với cuộc đời. Hãy bằng lòng với những gì mà chúng ta đang có. Trong cuộc sống này, chẳng có gì tồn tại mãi mãi. Từ con người đến vũ trụ cũng đều chịu chung một định luật vô thường chi phối. Bởi vậy, ta đừng nên tham đắm và quyến luyến những thứ vốn tồn tại trên bản chất của danh và sắc mà hãy dang tay đón nhận những hạnh phúc hay khổ đau đến với mình một cách an nhiên, tự tại. Vì sự sợ hãi sẽ đeo bám chúng ta nếu chúng ta tìm cách trốn tránh khổ đau. Và thất vọng chán chường sẽ đến nếu chúng ta thích đón nhận sự sung sướng và hạnh phúc.

Vì bản chất của đời sống là vô thường, là biến diệt, không trường tồn, giả tạm, vay mượn của tứ đại thì cũng trả lại về cho tứ đại. Cho nên, mỗi ngày chúng ta hãy dành một ít thời gian để niệm Phật hoặc thiền định, để xóa bỏ đi những ham muốn của dục lạc và sự tị hiềm ganh ghét. Hãy dùng tuệ giác quán xét kỹ về điều đó, ta sẽ không còn sự âu sầu hay lo lắng. Ta nên học theo hạnh “từ bi, hỷ xả” của đức Phật và chư đại Bồ tát, biết dừng lại và không chạy theo ảo ảnh. Bởi vì thể xác và trí tuệ vốn tồn tại trong sự liên quan và mật thiết với nhau, không thể tách rời tựa như cá với nước. Nếu tách rời một trong hai thì chúng sẽ bị tiêu hoại. Vì thế, trong mọi hành động, chúng ta hãy bình tâm để thấy rõ điều gì mình nên làm hay không nên làm, điều gì có thể tăng trưởng thiện căn trong ta và có lợi ích cho mọi người.

Tóm lại, chúng ta phải biết quán chiếu sự vô thường để luôn sống tỉnh thức trong mỗi giây phút thực tại. Ta hãy tinh tấn niệm Phật để khi sống, thân tâm ta luôn được an lạc và khi mất thân này, ta được sinh về thế giới của Phật A Di Đà. Có như thế, ta mới không uổng phí một kiếp người ngắn ngủi phù du ở cõi Ta bà giả tạm này.

Tràng hoa bong bóng

Xưa, có vị Công chúa được vua cưng quý hết sức. Một hôm trời mưa to, thấy bong bóng nước nổi lên mặt hồ, cô ta lấy làm thích ý, liền đòi lấy bong bóng nước ấy làm một tràng hoa để mang trên đầu.

Vua đáp: “Bong bóng nước đâu có thể cầm bắt, làm sao có thể kết thành tràng hoa được!”.

Nàng Công chúa không chịu, dọa vua nếu không được thì sẽ tự tử. Vua lo lắng, cho người mời tất cả thợ tài giỏi nhất trong nước nhưng ai cũng bó tay. Sau đó, có người thợ già nói rằng: “Tôi có thể làm được nhưng phải mời Công chúa đến chứng kiến”. Và người thợ thưa với Công chúa rằng: “Tôi có tài kết bong bóng nước làm tràng hoa nhưng tôi không thể phân biệt bong bóng tốt xấu. Vậy xin Công chúa hãy tự mình lựa chọn những bong bóng đẹp rồi đưa cho tôi kết thành tràng hoa!”. Công chúa tự tay cúi xuống nắm bong bóng nhưng bắt cả buổi mà không được cái nào cả. Sau cùng, do quá mỏi mệt, cô ấy bỏ đi.

Bây giờ thì nàng Công chúa mới biết bong bóng nước làm mê hoặc mắt người. Tuy có hình có chất nhưng sinh ra rồi diệt ngay. Thân người là giả dối, vui ít khổ nhiều, sinh sinh diệt diệt, không thể tồn tại lâu dài .

Lời bàn:
Qua câu chuyện tràng hoa bong bóng này, chúng ta có suy nghĩ gì về thân phận của con người trước trước sự biến đổi của định luật vô thường sinh diệt? Nhiều khi chấp vào danh lợi, tài sắc và mong cầu được sở hữu, nên chúng ta chẳng khác nào nàng Công chúa mong cầu được gắn trang sức trên đầu bằng vòng hoa bong bóng nước.

Nhiều khi chúng ta có đến chùa học Phật, nghe Pháp nhưng lại không hiểu về định luật của duyên sinh và duyên diệt. Chúng ta sống là sống với thực tại mà không phải nghĩ về thực tại. Vậy yếu tố của duyên sinh và duyên diệt đó là gì? Duyên sinh nghĩa là mọi sự vật trên thế gian này đều do nhiều yếu tố, điều kiện kết hợp lại mà phát sinh. Vì là điều kiện của duyên sinh nên mang ý nghĩa bất định tính. Yếu tố này xuất hiện với nhiều giá trị khác nhau đối với những người khác nhau và đối với chúng sinh khác nhau. Cho nên, không có một sự vật nào được sinh ra một cách tự nhiên – nghĩa là không có một sự vật, sự việc nào chỉ do một yếu tố sinh ra, mà phải do nhiều yếu tố kết hợp lại mà thành. Duyên diệt nghĩa là khi những điều kiện để các yếu tố kết hợp lại với nhau không còn nữa thì sự vật sẽ không còn hiện diện, tồn tại. Sự hủy diệt của bất kỳ sự vật, sự việc nào cũng không phải do chúng tự nhiên mất đi, hay một đấng quyền năng nào làm cho chúng mất đi. Đó chính là do những yếu tố, các điều kiện ấy đã hết và chúng chuyển sang một dạng nhân duyên mới. Đó cũng chính là lý duyên sinh rất căn bản của Phật giáo.

Người Phật tử chúng ta nếu hiểu rõ được lý duyên sinh thì sẽ không còn buồn khổ trước sự biến chuyển vô thường, thành trụ hoại không mà luôn luôn sống thanh thản trong bất cứ hoàn cảnh nào. Dù khổ đau hay hạnh phúc, chúng ta vẫn cứ sống an nhiên và tự tại.

Nghi oan

Vua Ưu Đà Diên nước Câu Chiên Di có hai bà phu nhân. Bà thứ nhất tên là Xá Ma, có lòng thâm tín Phật pháp. Bà thứ hai tên là Đế Nữ, tính tình xu nịnh, thường đến chỗ vua mà sàm tấu và nhạo báng rằng: “Bà phu nhân thứ nhất cùng với Phật làm việc phi pháp”.

Vua nghe thế, nổi sân dữ tợn, liền lấy cung tên đem bắn bà phu nhân thứ nhất. Lúc ấy, bà vì thương hại nhà vua nên liền vào thiền định Từ ái. Vì thế tên bắn không trúng. Vua kinh ngạc hỏi bà lý do: “Vì sao ta bắn tên mà không trúng? Hay ngươi là Trời, Rồng gì chăng mà ta bắn không trúng?”. Bà đáp: “Tôi không phải là Trời, Rồng gì cả, mà tôi chỉ có lòng tin Phật, được nghe Chánh pháp và tôi tu trì ngũ giới. Nay tôi vì thương Đại vương nên nhập Từ ái Tam muội thiền định. Dầu cho Đại vương có ác tâm cũng không thể làm hại được lòng từ bi của tôi”.

Nhà vua nghe xong hết sức ăn năn khi đã tin lời sàm tấu của đệ nhị phu nhân. Ông liền vội vã chạy đến chỗ Phật rồi tự thuật lại chuyện vừa xảy ra và cầu xin ăn năn sám hối, rồi quy y Tam bảo, làm kẻ Ưu Bà Tắc .

Lời bàn:

Từ vô thủy đến nay, dù là vô tình hay cố ý, chúng ta đã tạo biết bao nhiêu nghiệp chướng. Bởi do chúng ta thiếu trí tuệ vì lầm lẫn và si mê. Ta đã gây ra không biết bao nhiêu ác nghiệp, không thể nào tính lường cho được.

Nếu các nghiệp ác này có hình tướng thì vũ trụ này chứa không hết. Chúng ta hãy bình tâm mà suy nghĩ và tự hỏi lại xem mình đã từng trộm cướp, sát sinh, tà dâm không? Khẩu nghiệp đã từng nói dối, nói lời thêu dệt, nói hung ác và nói lưỡi đôi chiều không? Tâm ý chúng ta có tham, giận và si mê không? Hay là ta đã nghe lời dịu ngọt của người khác mà nghi oan và ám hại người vô tội? Nếu có như vậy thì từ nay ta nên phát tâm sám hối, nguyện làm mới cả thân và tâm cho được thanh tịnh.

Tuy nhiên, chỉ sợ chúng ta đã lỡ tạo ra nghiệp ác mà không chịu ăn năn hối lỗi, thề không tái phạm và nhờ Phật – Pháp – Tăng chứng minh cho lời phát nguyện ấy. Sám hối không có nghĩa là “rửa tội” với nguyên tắc một thánh thần tha tội cho một người, mà chúng ta phải sám hối:

“Tội tùng tâm khởi, tùng tâm sám

Tâm nhược diệt dĩ tội diệt vong”.

Tội do tâm mà có, cũng do tâm mà diệt. Khi tâm tội lỗi đã diệt thì tội cũng diệt. Thế thì, sám hối là phát tâm hổ thẹn tội lỗi đã làm. Tự khẳng định ý chí cương quyết của mình, đứng trước Tam bảo chắp tay, dốc lòng giải bày, hổ thẹn, đổi mới, rửa sạch tâm can. Được như vậy, thì tội nào chẳng tiêu, phước nào chẳng được và nguyện cầu xin sức gia hộ của đức Phật để đừng vi phạm tội lỗi. Như vị vua Ưu Đà Diên trong đoạn kinh nêu trên, đã hết sức ăn năn vì tin lời sàm tấu của đệ nhị phu nhân.

Và cuối cùng chấp nhận hành động sai quấy của mình vì thiếu tuệ giác nên đã đến gặp Phật xin bày tỏ và sám hối nguyện không tái phạm. Có nhận ra điều sai quấy của mình mà phát lồ sám hối để chừa bỏ và rút kinh nghiệm như vậy thì trong sự tu tập chúng ta mới có lợi ích, thân tâm thanh tịnh và luôn sống từ bi, cao thượng trong đời ác ngũ trược này

Sắc đẹp

Nước Câu Lưu có một người Bà la môn tên là Ma Ha Mật, nhà rất giàu và có trí huệ hơn người. Ông ta làm quan đến chức Quốc sư, nhưng bị lòng xan tham chẳng tin Phật pháp. Ông ta sinh hạ được bảy đứa con gái, nhan sắc đẹp đẽ vô cùng, lại thêm giàu có vàng ngọc trang sức đầy đủ trang nghiêm. Bấy giờ, có ông bạn tên là Phân Nho Đạt đến bảo người Bà la môn rằng: “Anh đem mấy đứa con gái vào trong thành cho mọi người cùng ngắm, nếu có người chê xấu thời anh đưa tôi năm trăm vàng, mà không có một ai chê xấu thời tôi đền anh năm trăm vàng”. Hai ông bèn dẫn bảy đứa con gái dạo khắp nước, thời gian đến chín mươi ngày mà không một ai chê xấu nửa lời. Bây giờ, hai ông nghe tin đức Phật thuyết pháp tại tịnh xá Kỳ Viên, liền rủ nhau dẫn đến nơi Phật mà tâu rằng: “Ngài hay dạo khắp các nước, Ngài đã từng thấy những người con gái nào xinh đẹp như vậy không?”. Phật quở thẳng rằng: “Mấy đứa con gái này chẳng có gì đẹp cả”. Bà la môn nói: “Toàn quốc không một ai chê con tôi xấu mà sao Ngài lại chê nó xấu?”.

Phật đáp: “Người đời người ta xem cái đẹp của năm căn, năm cảnh là đẹp, còn ta cho là cái thân chẳng tham trơn lán, cái miệng chẳng nói lời ác, tâm ý chẳng nghĩ điều ác mới là đẹp vậy” .

Lời bàn:

Cuộc đời ai cũng quan niệm rằng hình sắc bên ngoài của cơ thể là đẹp và chấp nhặt vào nó, mong sao cho nó trẻ mãi không già. Thường thì người ta chỉ dám nghĩ đến da thẳng, má hồng, mũi cao, mắt sắc chớ có mấy ai dám nghĩ đến và mơ tưởng đến da nhăn, má hóp bao giờ. Nhưng ai cũng phải thuận theo quy luật của tự nhiên, có sinh thì phải có già, bệnh và chết.

Lúc nhỏ ta chỉ nghĩ đến cái “sắc thể” mà không nghĩ đến “không thể”. Ta chỉ nghĩ đến trẻ trung hay huy hoàng chứ ta đâu có nghĩ đến cảnh già nua và chết chóc. Khi ta lớn lên, qua bao cuộc thăng trầm của cuộc sống rồi mới thấy cuộc đời này là tạm bợ; đẹp đó rồi phai tàn đó, giàu có đó rồi cũng đến lúc nghèo cùng khốn khổ đó. Mùa xuân thì cây cỏ đâm chồi, nẩy lộc xanh tươi nhưng sang thu và đông thì cảnh vật đìu hiu, trơ cành và tàn tạ, trụi lá. Đó là quy luật tự nhiên. Biết vậy để ta không chán đời, yếm thế và chấp nhận cuộc sống phù du mà cố gắng công phu tu tập để đạt được một cảnh giới cao hơn, hạnh phúc hơn, nơi ấy không còn có sự khổ đau và luân hồi sinh tử.

Với tuệ giác của Thế Tôn, Ngài chẳng bao giờ cho rằng cái gì tồn tại trên hình thể của tứ đại này là đẹp, dù là má hồng hay đôi mắt ướt, mà Ngài chỉ công nhận cái đẹp từ tâm của con người ấy. Khi người ấy phát nguyện tu hành từ bỏ những nghiệp ác và hành nghiệp thiện mới là cái đẹp bất biến của cuộc đời.

Dây đàn

Một thuở nọ Thế Tôn an trú tại Linh Thứu, gần thành Vương Xá, còn Tôn giả Sona ở trong rừng Sita cách Vương Xá không xa. Vì thiếu chánh niệm để phiền não chi phối, Sona muốn trở lại đời sống thế tục, làm các công đức, hưởng thụ hạnh phúc như một người bình thường. Với tha tâm thông, Thế Tôn biết tâm niệm của người đệ tử ấy, liền vận dụng thần túc đến trước Sona và hỏi thầy về những suy nghĩ vừa rồi. Sona thú thực với Thế Tôn về suy nghĩ của mình. Phật liền hỏi thầy về phương pháp chơi đàn tỳ bà – vốn là sở trường của Sona – để khích lệ Tôn giả tiếp tục tinh tấn:

– Này Sona, ông nghĩ sao khi các dây đàn tỳ bà quá căng? Nó có phát âm đúng thanh điệu không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn!

– Khi lên dây đàn quá chùn, âm thanh có êm dịu không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn!

– Vậy khi vặn dây đàn không căng, không chùn, vừa đúng mức trung bình, âm thanh có êm tai không?

– Thưa có, bạch Thế Tôn!

– Cũng vậy, này Sona, khi tâm trí quá căng thẳng thì phát sinh dao động, khi tâm trí quá dao động thì phát sinh biếng nhác. Do vậy, ông phải vận dụng tâm trí quân bình, không quá căng thẳng, cũng không quá thụ động thì sự tu tập mới đạt được tiến bộ!

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn!

Sau khi vâng lời Thế Tôn chỉ giáo, Tôn giả Sona sống độc cư, an tịnh, không phóng dật, nỗ lực một cách quân bình, nhờ vậy chứng đạt mục đích mà các thiện nam tử xuất gia kỳ vọng: vô thượng cứu cánh phạm hạnh và an trú trong hiện tại .

Lời bàn:

Khi chúng ta đã phát tâm tu hành thì tất nhiên ta phải từ bỏ mọi chấp có vào âm thanh và sắc tướng. Bởi vì bản chất của âm thanh và sắc tướng là giả tạm và cũng là nguyên nhân để gây ra nguồn gốc của mọi khổ đau. Mục đích tối hậu của chúng ta là mong cầu đạt thành chánh quả, được làm Phật.

Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn nhận sâu sắc vào đời sống thực tại thì chúng ta sẽ không còn phiền não. Những khổ đau mà ta đã gặp ngày hôm qua và cũng chẳng mong ước những điều hạnh phúc vào ngày mai. Ta chỉ nên tập trung chánh niệm vào các hành động như đi, đứng, nằm, ngồi hoặc làm bất cứ việc gì, chúng ta cũng luôn luôn tỉnh thức nhận biết giây phút hiện tại đó; không buông thả suy nghĩ của mình hướng về quá khứ hay tương lai, cũng không hướng đến bất kỳ việc gì khác ngoài công việc đang thực hiện trong hiện tại. Đạo Phật gọi trạng thái này là chánh niệm. Khi chúng ta có chánh niệm tức là đã gặt hái được thành công trong tu tập.

Với tuệ giác của Thế Tôn, Ngài đã so sánh và đối chiếu việc tu tập cũng giống như một người nghệ sĩ đánh đàn. Nếu ta so giây căng quá thì dây đàn sẽ đứt. Nếu ta so dây chùn quá thì dây đàn sẽ không kêu. Còn nếu so dây vừa phải, đúng tầm mức thì giây đàn sẽ phát ra âm thanh rất hay. Trong thi ca cũng có câu: “Phải khéo tay như nghệ sĩ chơi đàn, mới tạo được những âm thanh kỳ diệu”.

Quá khứ đã trôi qua, tương lai thì chưa đến, chỉ có hiện tại đang tiếp diễn. Ta nên nương vào giây phút hiện tại để thúc liễm thân tâm, trau dồi kiến thức và trân trọng những cái mà ta đang có. Ta hãy xả bỏ mọi chấp mắc và lo âu của ngày hôm qua.

Sống xứng đáng là một người đệ tử Phật, thanh lọc những chướng ngại của tâm nhỏ nhen, ích kỷ, ganh tỵ, hiềm khích để thay vào đó là những đức tính khoan dung độ lượng, dung hòa cùng tất cả mọi người. Đó cũng chính là cách sống chân chánh của một người Phật tử. Hãy tập sống như những vị Bồ tát hóa thân, lòng vị tha và hạnh nguyện giúp đỡ mọi người, giúp đỡ nhau tinh tấn tu tập cùng đồng sinh về cảnh giới Tây phương Cực lạc. Hãy chọn cho mình một pháp môn tu thích hợp và một lối sống đơn giản để không quá ưu tư trong đời sống của văn minh vật chất của thế kỷ 21 này.

Lễ phép

Khi Phật ở thành Xá Vệ, bây giờ có nhà học vấn sâu rộng tên là Bà Tư Nị Ca, gia tư tại thôn Trưởng Đề cách thành Xá Vệ về phía Tây hơn 20 dặm. Ông này có lòng thâm tín Phật giáo và hạ sinh được cô gái đầu lòng tên là An Đề Giá, đã gả lấy chồng và theo chồng ở xa. Một hôm, cô con gái có việc trở về nhà vừa lúc Phật sắp đến nhà ông Bà Tư Nị Ca theo lời mời của ông bữa trước.

Khi Phật đến, cả nhà đều ra nghinh tiếp, duy chỉ cô An Đề Giá không ra vì đợi người chồng về. Lúc sau người chồng về, cô rất vui mừng, rồi hai vợ chồng cùng ra lễ Phật. Phật bảo với ngài Xá Lợi Phất: “Khi thầy trò mình đến, cô này không ra vì chưa có mặt chồng, đợi khi nào chồng về hai người mới ra lễ. Cô này đã hiểu lễ phép lắm vậy!” .

Lời bàn:

Trong cuộc sống gia đình, nếu ai cũng biết tôn kính nhau thì chắc chắn gia đình sẽ có hạnh phúc lớn. Lễ phép đối với các bậc trưởng thượng là chuyện đương nhiên, nhưng sự lễ phép trong cuộc sống vợ chồng cũng cần phải có. Nếu hai vợ chồng đều có sự tôn trọng ý kiến của nhau, chồng biết thương yêu, kính trọng và trung thành đối với vợ, săn sóc chu đáo đời sống kinh tế của người vợ với sự cung cấp đầy đủ các tiện nghi vật chất, nuôi dưỡng tình cảm, thường tặng quần áo, đồ trang sức… Đáp lại, người vợ phải thương yêu, kính trọng và trung thành với chồng. Trong khi người chồng bận rộn với công việc xã hội thì bổn phận người vợ là quản lý giỏi các công việc và của cải làm ra của gia đình. Người vợ không được ỷ lại sự thương yêu, săn sóc của chồng; lại không được ngoại tình, không được sai khiến chồng như bà chủ, không được phung phí tài sản… Đây là một đòi hỏi tất yếu và là một điều tuyệt vời trong một gia đình.

Thông thường, khi đã là vợ chồng, con người thường thiếu cảnh giác trong thái độ đối xử với nhau. Đây là một thiếu sót. Lễ phép và kính trọng là một thái độ cần thiết trong tương giao của vợ chồng. Thái độ này nói lên sự kính trọng đầy tính người, vừa làm cho tình yêu rực rỡ thêm, đón nhận sự an lạc và hạnh phúc. Thái độ lễ phép và kính trọng cần thể hiện từ đáy lòng và bền chặt. Vì kính trọng lẫn nhau nên không được gây tổn thương đến danh dự, giá trị của nhau bằng bất cứ việc làm nào. Yêu người khác là gây một tổn thương lớn cho người bạn đời. Do đó, đòi hỏi phải trung thành với nhau.

Những yếu tố trên luôn đóng một vai trò quan trọng trong đời sống gia đình và trong đạo đức cá nhân của mỗi người. Tự do của con người trong đời sống không phải là buông thả mà là phải khép mình trong một khuôn phép của đạo đức để mang đến hạnh phúc cho nhau, tránh được sự mất niềm tin lẫn nhau. Nếu chúng ta có sự nghi ngờ và đánh mất tính chung thủy là điều không nên xảy ra trong đời sống gia đình. Đó cũng là một khuôn phép tối thiểu của một gia đình có học. Nếu tất cả các đôi vợ chồng đều có sự tôn trọng nhau, cùng chung một suy nghĩ, chung một hành động như cô con gái của trưởng giả trong đoạn kinh trên thì có thể tạo được nhân tốt cho chính bản thân mình và là tấm gương sáng cho con cái sau này. Nhiều gia đình sẽ tránh được sự hờn giận, mặc cảm và khổ đau.

Thời đại ngày nay, nếu người Phật tử xây dựng được một nếp sống gia đình thiết thực và lành mạnh thì ai ai cũng được an hưởng sung sướng, hạnh phúc và từ đó làm nấc thang để có thể tiến cao hơn, hướng về giải thoát hoàn toàn theo quan điểm của Phật giáo.

Người cúng cháo gạo

Bấy giờ, Thế Tôn trú tại Andhaka–vinda. Thời ấy, một căn bệnh trúng gió phát sinh trong bụng Thế Tôn.

Thế Tôn bảo Tôn giả Ànandà:
– Này Ànandà, khi ông đi khất thực, hãy đem về một ít cháo để làm thuốc trị bệnh cho Ta!
– Bạch Thế Tôn, con sẽ làm như vậy!

Tôn giả hứa xong rồi cầm bình bát do Tứ Đại Thiên Vương tặng đến đứng trước nhà vị y sĩ cận sự của Tôn giả. Bà vợ của y sĩ thấy Tôn giả, liền đảnh lễ, cầm bình bát và bảo vị Tôn giả:
– Bạch Tôn giả, Tôn giả cần loại thuốc gì?

Bởi bà ấy là người thông minh nên nhận
ra rằng: “Tôn giả này đến đây cần dược liệu, chứ không phải thực phẩm”.

Và khi Tôn giả bảo:
– Xin cho một ít cháo gạo.
Bà suy nghĩ: “Thuốc này không phải dành cho sư phụ ta. Quả thật chiếc bình bát này không phải của ai khác ngoài Thế Tôn. Nào ta hãy tìm cho được loại cháo gạo thích hợp với vị cứu nhân độ thế”.

Lòng tràn ngập cung kính, bà nấu món cháo với nước trái táo, đổ đầy bình bát. Và để dùng chung với cháo, bà sửa soạn thêm vài thực phẩm khác nữa. Nhờ dùng món này, bệnh của đức Thế Tôn được thuyên giảm. Về sau, bà ấy từ trần, tái sinh vào cõi trời ba mươi ba, thọ hưởng đại thiện lạc .

Lời bàn:
Là người Cư sĩ Phật tử, chúng ta nên quan tâm sâu sắc đến đời sống của các bậc xuất gia phạm hạnh. Bởi vì những người ấy đã hy sinh những hạnh phúc của riêng mình để làm hạnh phúc cho tha nhân, trong đó có bản thân chúng ta.

Cũng nhờ các vị ấy đã duy trì mạng mạch Chánh pháp, Phật giáo mới trường tồn đến ngày hôm nay. Chính vì thế mà Phật tử mới có cơ duyên biết được Phật pháp mà phát tâm tu hành để dứt trừ những sợi dây phiền não trói buộc chúng ta từ vô lượng kiếp, có được đời sống đạo đức, khuôn phép và an lạc trong đời sống thường nhật. Vì thế, các Phật tử phải luôn săn sóc và ủng hộ các nhu cầu vật chất tối thiểu (y áo, thuốc men, gường chiếu và thực phẩm) và biểu lộ chân thành lòng thương yêu, kính trọng. Chư Tăng thường bị ràng buộc về giới luật nên không nói rõ với các Phật tử các nhu cầu trên nên các Phật tử cần hiểu rõ điều này, đến gần để biết rõ các vị đang cần gì để hộ trì.

Hộ trì chư Tăng có nghĩa là hộ trì Chánh pháp, mong muốn Chánh pháp được trường tồn dài lâu giữa đời. Chánh pháp còn tồn tại lâu dài thì cuộc đời còn thêm phần an lạc. Hộ trì như thế có nghĩa là chúng ta đã đóng góp sức mình vào việc làm đẹp cho đời và cho chính tự thân mình. Đáp lại, chư Tăng là người vô sản, trọn đời chỉ học Phật pháp và tu tập, thúc liễm thân tâm, chiù trao cho người Phật tử tấm lòng từ mẫn, dạy cho Phật tử hiểu biết về lý nhân quả, giới thiệu con đường để đoạn khổ, cung cấp kiến thức, trao truyền năm giới, mười giới và khích lệ các Phật tử tự giác tỉnh vô thường mà phát khởi tinh tấn tu tập. Tương hệ này là đầy tình đạo tình đời. Mối tương hệ đó như là một sự trao đổi hai chiều các nhu cầu của mỗi phía một cách công bằng và có tính cách tự nguyện, không ràng buộc nhau, không gây thiệt thòi phía nào. Chư Tăng không chỉ giảng dạy Phật pháp và con đường tu tập mà còn đảm trách thêm việc giáo dục hướng dẫn về kinh tế, quản lý gia đình và tâm lý cá nhân, xã hội. Chư Tăng cần ở Phật tử về nhu cầu vật chất để làm phương tiện trong đời sống tu tập.

Vì vậy, bổn phận của người Phật tử là luôn quan tâm, gần gũi và hộ trì Tam bảo. Làm cho Phật pháp ngày càng hưng thịnh là chúng ta đã gieo trồng công đức vô lượng. “Phật pháp trường tồn do Tăng già hoằng hóa, Thiền môn hưng thịnh do đàn việt phát tâm”. Hệ song hành này không thể thiếu một. Nếu thiếu một trong hai thì Phật pháp sẽ không còn tồn tại. Đó cũng là trách nhiệm và bổn phận riêng của người xuất gia cũng như tại gia phải hiểu và thực hành cho đúng pháp.

Con rùa mù

Phật bảo các thầy Tỳ kheo rằng: “Chốn đại địa này biến thành biển cả. Bấy giờ, có một con rùa mù sống lâu vô lượng, qua trăm ngàn năm mới ngóc đầu lên một lần. Tại biển cả có một cây gỗ nổi lênh đênh, khi Đông, khi Tây vì bị sóng dập gió dồi liên tiếp. Trong thân cây chỉ có một cái lỗ. Thế mà con rùa mù ngóc đầu tìm cây và chui đầu vào cây trông có dễ không?”.

A Nan trả lời rằng: “Bạch Thế Tôn! Khó mà gặp được bởi lẽ rùa thì mù, biển Đông Hải lại quá mênh mông, cây ấy lại nổi, trôi theo chiều sóng gió đẩy đưa, Đông Tây bốn hướng nào có định đậu nơi nào, cho nên chắc chắn khó mà gặp được”.

Phật dạy: “Rùa mù, cây trôi tuy khó gặp nhưng còn có hy vọng, chớ đến như kẻ phàm tục ngu si, trôi nổi trong năm thú mà tái sinh được thân người mới thật là khó hơn rùa gặp thân cây gấp mấy lần. Vậy nên, các ngươi chính ngày nay phải tinh tiến, tìm mọi phương tiện phát khởi tâm muốn học đạo còn tăng cao mới được .

Lời bàn:

Ngẫm cho cùng, để làm được thân người thật là khó. Điều đó cũng đã được đức Phật ví dụ như con rùa mù chui vào bọng cây trong đoạn kinh trên. Lục đạo như một vòng xoay vô tận mà từ lâu chúng ta đã lặn hụp trong biển khổ của sinh tử luân hồi. Bởi chúng ta chấp trước vào những cái mình có mà không chịu phát tâm cầu giải thoát, từ kiếp này qua kiếp khác chỉ mãi đuổi theo những ảo ảnh của lợi danh, phải chịu biết bao nhiêu khổ não. Trong vòng xoáy đó, ta đã tạo ra biết bao nhiêu nghiệp chướng. Chuỗi móc xích ấy do chính chúng ta gút thắt thì cũng phải tự chính chúng ta mở ra. Muốn tháo gỡ được chúng, bằng cách là ta phải phát tâm Bồ đề, xả bỏ mọi chấp mắc. Tu khó hay dễ là tùy theo sự tinh tấn của chúng ta. Tu có thể là xuất gia hay tại gia tùy theo quan điểm riêng của mỗi người. Làm được thân người đã khó mà chúng ta còn gặp được Phật pháp ngay trong kiếp này là điều hữu duyên lớn, nên ta hãy đem hết nghị lực và tâm trí mà vượt qua bờ sinh tử luân hồi ngay từ bây giờ.

Ta hãy nương theo giáo pháp của đức Như lai mà tu hành để cầu giải thoát, đừng đợi đến khi già nua mới phát tâm tu thì có lẽ cũng đã hơi muộn màng rồi.

Hạnh nhẫn nhục

Ngài Phú Lâu Na thưa Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Con đã được nhờ Thế Tôn giáo hóa. Nay con muốn qua xứ Du Lô Na, phía Tây để hóa độ mọi người bên ấy”.

Phật hỏi: “Người dân xứ kia tính tình hung ác, dữ tợn, tệ bạo mà hay mắng chửi. Nếu ngươi bị họ làm dữ và mắng chửi, hủy nhục thì ngươi làm sao?”.

Thưa: “Nếu đối với trước mặt con mà họ tệ bạo như thế thì con tự nghĩ: họ còn hiền lành và có trí khôn, tuy làm dữ như thế mà chẳng cầm đá đánh đập”.

Phật hỏi: “Họ làm thế ngươi còn nhẫn được, chớ phỏng họ dùng đá đánh đập ngươi thì ngươi nghĩ sao?”.

Thưa: “Nếu họ làm vậy con lại nghĩ rằng họ còn chút hiền lành và có trí khôn nên chẳng dùng dao gậy”.

Phật hỏi: “Nếu họ dùng tới dao gậy ngươi làm cách nào?”.

Thưa: “Nếu họ làm vậy con tự nghĩ rằng họ vẫn còn hiền lành và có trí khôn. Tuy là đánh chém mà chẳng giết chết”.

Phật hỏi nữa: “Phỏng như họ giết chết ngươi, bấy giờ ngươi sẽ tính cách nào?”.

Ngài Phú Lâu Na lại thưa đức Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Quả thật nếu họ giết chết con, con lại nghĩ rằng họ cũng còn hiền lành và có trí khôn với tấm thân hủ bại này, họ làm chút phương tiện khiến con liền được giải thoát”.

Phật khen ngợi: “Hay thay Phú Lâu Na! Ngươi đã học được pháp nhẫn nhục. Ngươi nay đã đủ sức qua ở bên xứ Du Lô Na mà giáo hóa nhơn gian. Ngươi nên đi ngay, qua bên ấy ngươi sẽ độ cho những kẻ chưa được độ, an ẩn những kẻ chưa được an ẩn, và những kẻ chưa được Niết bàn thì ngươi hãy độ cho họ được Niết bàn .

Lời bàn:
Nhẫn nhục là một phương pháp tu tập rất cần thiết của người Phật tử. Chúng ta dù đứng trước hoàn cảnh thuận hay nghịch, khen hay chê, thành công hay thất bại tâm trí vẫn nên bình tĩnh, không bi quan, không lạc quan trước hoàn cảnh. Đó là phép thực tập chánh niệm để chúng ta đoạn trừ phiền não. Trong cuộc sống đời thường, thực tập hạnh nhẫn nhục sẽ giúp chúng ta tẩy trừ được những nóng giận, tránh được những điều càn dở thiếu suy nghĩ. Nhờ vậy mà tâm trí ta được bình tĩnh, sáng suốt trước những hoàn cảnh đổi thay, trái ngược.

Thực hành hạnh nhẫn nhục tức là chúng ta tập nhìn theo một cái nhìn trí tuệ, không biên kiến, không chấp mắc vào cái được và không được, thuộc về mình hay của người. Ta có thể nhìn nhận và cảm thông cho mọi người, khởi lòng từ bi đối với mọi nghịch cảnh mà chúng sinh đang hứng chịu, để rồi ta có thể lấy khổ của người làm cái khổ riêng mình và lấy cái vui của người làm cái vui của mình. Có như thế, ta mới không gây đau khổ cho ai, thương yêu và bình đẳng với tất cả mọi người. Nếu thực hành hạnh nhẫn nhục một cách tinh cần thì ta sẽ chế ngự được những phiền não bộc phát từ trong tâm ý mình.

Nhờ tu theo hạnh nhẫn nhục, ta sẽ không còn bị năm món tài, sắc, danh, thực, thùy của thế gian chi phối. Ta luôn luôn sống trong sự an lạc và tỉnh thức trong những việc thường ngày. Đó chính là lợi ích thiết thực của việc tu tập nhẫn nhục.

Cô gái cúng dầu

Nước Xá Vệ có cô gái nghèo tên Nan Đà, thân thế cô độc thân, sống bằng nghề ăn xin. Bấy giờ, cô thấy các vị vua chúa, quan đại thần, trưởng giả cúng dường Phật và chư Tăng, cô tự nghĩ: “Ta mắc tội báo gì mà sinh vào nhà bần tiện như thế này nên không thể cúng dường đấng phước điền?”. Cô tự hối trách lấy mình.

Một ngày nọ, đi xin chỉ được một đồng tiền, cô liền đến nhà bán dầu để mua dầu với tâm nguyện cúng dường Thế Tôn. Người bán dầu hỏi: “Mua một đồng, số dầu rất ít dùng sao được? Vì sao mua ít thế?”. Nàng liền tỏ bày nỗi niềm và tâm nguyện của mình. Sau khi nghe, người bán dầu thương tình bán cho cô số dầu gấp đôi so với số tiền của cô. Nan Đà xiết đỗi vui mừng, đem thẳng đến tịnh xá Kỳ Viên cúng dường Thế Tôn. Rồi nàng phát nguyện rằng: “Nay tôi xin đem một ngọn đèn mọn cúng dường đức Phật. Nguyện nhờ công đức này, đời sau tôi được trí tuệ sáng suốt và dứt trừ được tất cả ngu ám cho tất cả chúng sinh”. Phát nguyện xong cô lễ Phật và lui về.

Quá nửa đêm, các ngọn đèn kia tự tắt hết, chỉ còn một ngọn đèn của cô gái là không tắt. Ngài Mục Kiền Liên ba lần cố tắt nó nhưng không được. Đức Phật thấy, bảo: “Này Mục Kiền Liên, ngọn đèn đây do người tín nữ đem tâm Bồ đề mà cúng dường. Dầu cho lấy nước bốn biển đổ dồn lên nó cũng không thể tắt!” .

Lời bàn:

Qua câu chuyện “Cô Gái Cúng Dầu” trên, chúng ta thấy được rằng: “Trong đời sống, niềm tin rất quan trọng. Nhưng niềm tin đó phải là chánh tín. Niềm tin này phải dựa vào lòng chí thành của mình, vào sự chân thật, không bị dao động bởi những lời lẽ và sự bài xích của người khác.

Như chúng ta tin rằng: cúng dường thì sẽ được phước. Niềm tin này phải dựa trên cơ sở của trí tuệ chứ không phải là: ai sao tôi vậy. Trước khi tin, chúng ta phải hiểu rõ niềm tin dựa trên sự phân tích và những kinh nghiệm thực tiễn. Trong đạo Phật, niềm tin là do sự hiểu biết tuyệt đối chứ không tin mù quáng, không mê tín và không dựa vào tha lực tối thượng của một quyền năng nào cả. Rất nhiều người, trong đó có cả những Phật tử hiểu lầm rằng: đi chùa lễ Phật, dâng hoa cúng quả dưới chân đức Từ phụ, thắp vài nén nhang là có thể yên chí rằng đức Phật đã chứng giám cho mình. Chúng ta hãy đến với đức Phật bằng cả tâm Phật và bằng cả một niềm tôn kính dành cho một bậc đạo sư đã vạch ra và soi sáng con đường dẫn chúng ta đến bờ giải thoát, hoặc ít nhất là Ngài dẫn chúng ta đến một cuộc sống toàn thiện và gương mẫu.

Nếu chúng ta đến cúng Phật bằng niềm tin chánh tín như vậy thì nguồn năng lượng tha lực của chư Phật và năng lượng tâm linh chúng ta mới giao thoa với nhau. Lúc ấy, chúng ta sẽ đạt được như sở nguyện, giống như cô gái cúng dầu trong đoạn kinh trên.

The post Sống Theo Lời Phật – Thích Nhuận Thạnh ( Phần I ) appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Nếp Sống Đạo – Thích Nhuận Thạnh https://bachhac.net/nep-song-dao-thich-nhuan-thanh.html Mon, 20 Apr 2020 02:26:24 +0000 https://bachhac.net/?p=3157 Lời nói đầu Nhiều lúc, chúng ta nhìn thấy dòng sông không một chút gợn sóng, yên bình. Nhưng có phải bản chất thật của dòng sông là như thế không? Dòng nước vẫn luôn luôn trôi chảy mãi về với đại dương mênh mông vô tận. Cuộc sống cũng vậy, ngay từ khi bập …

The post Nếp Sống Đạo – Thích Nhuận Thạnh appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
nếp sống đạo

Lời nói đầu

Nhiều lúc, chúng ta nhìn thấy dòng sông không một chút gợn sóng, yên bình. Nhưng có phải bản chất thật của dòng sông là như thế không? Dòng nước vẫn luôn luôn trôi chảy mãi về với đại dương mênh mông vô tận. Cuộc sống cũng vậy, ngay từ khi bập bẹ cất tiếng khóc chào đời là chúng ta bắt đầu khởi hành tiến trình của mình đến với khổ đau của một kiếp người trong cõi Ta-bà phù du giả tạm này, với đầy ấp những bất trắc phiền muộn và âu lo. Làm sao để có thể phóng thích được những vụng về trong nếp sống đã huân tập ở tạng thức của mình qua vô lượng kiếp luân hồi sinh tử?

Để rồi ta có thể thanh lọc tâm hồn ngày một trong sáng và cao thượng hơn? Đó là một ao ước lớn của mỗi con người. Nhưng bạn có biết không? Cách đây nhiều thế kỷ, khi toàn thế gian vẫn mơ màng say ngủ, thì đức Phật đã tỉnh thức. Từ đó đến nay, Ngài đã giúp cho bao người thức tỉnh theo Ngài, đã soi sáng và hướng dẫn họ con đường đi đến nếp sống thanh tịnh, an vui. Bạn à! Để có được một nếp sống hạnh phúc và cao thượng, không gì hơn là chúng ta phải học tập và thực hành theo những lời dạy của Ngài. Vì Ngài là người tỉnh thức, học theo Ngài chúng ta cũng sẽ tỉnh thức, phát huy những hành động đẹp đẽ như quan tâm giúp đỡ đến nhiều người… để cùng phóng thích và chuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau.

Chúng ta có thể chia sẻ với nhau những buồn vui, hầu mang lại sức mạnh và an lạc cho tâm hồn để cuộc đời này ngày càng tươi đẹp hơn. Hy vọng rằng với những ngôn từ mộc mạc đơn sơ thô thiển và sự hiểu biết có giới hạn của chúng tôi, có thể mang lại cho những người thân yêu của mình hiểu sơ luợc một phần nào về những bước đầu tiên trên con đường đạo.
Xin chắp tay nguyện cầu hồng ân chư Phật, chư đại Bồ-tát, chư Đại đức Tăng gia hộ cho con và mọi người có được nhiều nghị lực, từ đó có thể bước xa hơn trên đường đạo, đạt được nhiều sự an lạc và hạnh phúc ngay trên cuộc đời này.

Xin chân thành tri ân Thượng tọa Thích Tâm Quang, trụ trì Chùa Long An và Thượng tọa Thích Chân Tính, viện chủ Chùa Hoằng Pháp đã tạo mọi thuận duyên để chúng tôi hoàn thành cuốn sách này.

Đạo Phật là gì ?

Phật giáo được hiểu là giáo pháp mà đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã nói ra trong 49 năm thuyết pháp, và sau đó các đệ tử của Ngài trải qua ba lần kiết tập kinh điển, ghi lại toàn bộ giáo pháp của Ngài và truyền đạt lại cho đến bây giờ. Đức Phật là người đã đạt đến tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn.

Ngài là bậc thầy của chư Thiên và loài người, là vị cha lành của bốn loài. Ánh sáng giáo pháp của Ngài đã soi sáng cho tất cả các chúng sinh đang bị mê mờ trong bóng đêm vô minh quay về giác ngộ và giải thoát. Phật nguyên ngữ là Buddha, dịch là người tỉnh thức. Người tỉnh thức là người có tuệ giác và chánh niệm sâu sắc nơi mỗi hành động và sự việc trong từng giây phút thực tại của cuộc sống.

Sự xuất hiện của đạo Phật trên thế giới này làm cho nhân loại thêm yêu thương nhau hơn, cho hoa lá thấm nhuần, ruộng đồng thêm bát ngát, bởi bản chất đạo Phật là đạo của từ bi và trí tuệ. Nếu ai có duyên gặp chánh pháp, hiểu được lời dạy của đức Phật để ứng dụng vào cuộc sống nhằm chuyển hóa nội tâm, thì đời sống sẽ được an lạc và tốt đẹp hơn.

Đức Phật ra đời với bản hoài là khai thị cho chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến, chỉ cho chúng sinh thấy và hiểu rõ con đường đưa đến an vui và giải thoát. Với lòng từ bi, thấy kiếp nhân sinh đang còn vùi lặn trong biển đau khổ, Ngài ra đời đem ánh sáng trí tuệ, lòng từ ban vui cứu khổ cho nhân loại. Vì vậy, dù đức Phật đã vào Vô dư Niết-bàn, nhưng những lời dạy thiết thực và chân lý sâu mầu của Ngài, mãi được các hàng đệ tử chứng nhập và phát huy ngày càng hưng thịnh.

Nguyên nhân hình thành đạo Phật

Xã hội Ấn Độ thời đức Phật Đản sinh là một xã hội phức tạp và vô cùng bất công, bởi sự phân chia giai cấp và đối xử một cách tàn nhẫn giữa con người với con người. Xã hội được phân chia thành bốn giai cấp rõ rệt, gồm: Bà-la-môn (Bràhmana), Sát-đế-lợi (Kisatriya), Tỳ-xá(Vaisya) và Thủ-đà-la (Sùdra). Hai giai cấp sau bị coi là những người có bổn phận phục vụ và làm nô lệ cho hai giai cấp trước. Đức Phật đã nhìn thấy những tôn giáo hiện thời như tín ngưỡng Phạm Thiên của đạo Bà-la-môn hoặc những đạo thờ thần Lửa không đem đến được cho con người sự giải thoát, không góp phần xây dựng xã hội được yên ổn phồn vinh. Những tôn giáo ấy chỉ mang đến sự phân hóa và bất công cho con người đến tột bậc.

Dù là một Thái tử sống trong điều kiện giàu sang uy quyền, vinh hoa chất ngất, nhưng đứng trước thực trạng đau khổ của kiếp sống nhân sinh, những cảnh tượng con người phải làm nô lệ, kẻ mạnh hiếp yếu, bao mảnh đời bệnh tật, đau khổ với những cái chết tang thương chia cắt tình thâm con người đã làm thổn thức từ tâm của Thái tử. Ngài luôn luôn nghĩ tưởng đến cảnh bất công và đau khổ của kiếp người, nên đã quyết chí xuất gia tìm đường giải thoát cho mình, cho những người thân và cho cả nhân loại. Với chí nguyện lợi tha, từ bi và bình đẳng, không bao lâu sau khi thành đạo, giáo lý của Ngài đã lan tỏa toàn cõi Ấn Độ và sau đó được đệ tử của Ngài tiếp tục hoằng truyền khắp mọi nơi.

Phật giáo bắt nguồn từ đức Phật Thích-ca Mâu-ni (Sakya Muni), người sáng lập đạo Phật cách đây 2500 năm. Trước khi tu đạo và thành Phật, đức Thích-ca có tên là Tất Đạt Đa (Shiddarta), cũng có cha mẹ và đã thành lập gia đình với công chúa Da-du-đà-la (Yasodhara), có một người con tên là La-hầu-la (Rahula). Trí tuệ giác ngộ mà Phật đạt được không phải do nơi một vị thần linh nào trao truyền, mà do chính kinh nghiệm tâm linh của Ngài chứng đắc.

Là bậc Đạo sư tối thượng của muôn loài, Ngài đã vạch ra cho chúng sinh con đường thoát khổ để đạt đến cứu cánh viên mãn. Ngài không phải là một đấng thần quyền có thể ban ơn giáng họa, mà là một vị đại y vương tùy tâm bệnh của chúng sinh mà cho thuốc giáo pháp. Đối với vị thuốc giải thoát trị lành bệnh khổ đau và phiền não, ai nghe và hành trì theo thì được thoát khỏi trầm luân khổ não. Lòng từ bi của Ngài đối với mọi chúng sinh tựa như mẹ hiền thương con nhỏ, không giờ phút nào mà Ngài không nghĩ đến những nỗi đau khổ của chúng sinh để tìm phương giáo hóa cho đến khi tất cả đều trọn thành Phật đạo.

Hiện nay, sự thành tựu vượt bậc của khoa học và sự tiến bộ của nhân loại đòi hỏi phải thẩm định lại những quan điểm triết học xưa nay để loại đi những tư tưởng lạc hậu phi lý phản khoa học. Thế nhưng, chân lý của đạo Phật vẫn như cây đại thọ, như ngọn hải đăng giữa đêm dài tăm tối. Điều đó đã chứng minh rằng, Phật giáo có một sức sống mãnh liệt tiềm ẩn sâu bên trong, không mơ hồ, mang tính thực tiễn, không phải là lý thuyết suông. Vì vậy, đạo Phật đã trở thành căn bản của nền văn hóa nhân loại, vì đạo Phật xác nhận giá trị con người và giá trị hành động của con người.

Vài nét về giáo lý Đạo Phật

Giáo lý đạo Phật bao gồm ba tạng kinh điển là kinh, luật và luận. Kinh là những lời dạy của Phật Thích-ca nói ra lúc Ngài còn tại thế, nhằm dạy cho chúng sinh dứt trừ phiền não, đạt đến sự an lạc và giải thoát tối thượng. Luật là những giới luật mà Phật chế ra áp dụng cho hàng đệ tử, nhằm mục đích ngăn ngừa điều dữ, tu tập điều lành để cho thân tâm được thanh tịnh. Luận là những sách do đệ tử của Phật viết ra khi Ngài đã nhập Niết-bàn, mục đích là để giải thích rõ ràng nghĩa lý mầu nhiệm trong kinh, luật, để phân định thế nào là lẽ phải và tà kiến cho người đời sau khỏi bị lầm lẫn.

Người Phật tử chúng ta hành trì theo giáo lý của Phật thì sẽ đạt được nhiều lợi ích và mang lại cho chúng ta sự yên vui bất tận. Đạo Phật còn giúp cho người tu hành gạn lọc những ô trược của cõi đời để được sống trong tinh khiết. Muốn đạt được những lợi ích nêu trên, chúng ta phải tích cực nghiên cứu giáo lý Phật dạy để áp dụng vào thực tại đời sống. Hiểu được giáo lý, chúng ta phải tích cực thực hành hạnh từ, bi, hỷ, xả với mọi người xung quanh.

Giáo lý đạo Phật luôn đặt con người làm trọng tâm. Thế Tôn đã dạy rằng đọa địa ngục thì quá khổ sở, ngạ quỷ lại quá đói khát, súc sinh sẽ ngu si, còn lên cõi trời quá sung sướng không thể tu được, chỉ có thân người mới có đủ điều kiện để tiến tu. Vì cảnh giới của con người vừa có vui vừa có khổ, giữa hai trạng thái đó, người ta mới phát tâm tu.

Tóm lại, nội dung những lời dạy của đức Phật là phát triển tâm thức, con đường thật sự đưa đến ngay trong đời sống, cho dù trong bất cứ thời gian hay không gian nào, mục tiêu của con đường đó không thể đổi khác.

Nếp sống đạo

Mục đích của đạo Phật, như chúng đã ta biết, là đem lại hạnh phúc chân thật cho muôn loài. Vậy, như thế nào là hạnh phúc chân thật? Quan niệm về hạnh phúc như thế nào mới đúng?

Phần đông, mọi người đều cho rằng hạnh phúc là sự thỏa mãn những ước muốn của mình. Nói cách khác, là được chìm đắm trong sự thọ hưởng Ngũ dục lạc, là tài, sắc, danh, thực, thùy. Khi đạt được những thứ này thì người ta cho rằng là mình có hạnh phúc.

Như ta biết, lòng tham của con người thì sâu như đáy bể, con người có bao giờ thỏa mãn với sự ham muốn của mình đâu! Lòng tham của con người vốn là điều vô tận. Vì tất cả chúng ta đều sống trên cõi Dục, nên mọi tư tưởng đều xây dựng trên dục lạc. Tuy có những tham vọng thanh tao và có những tham vọng tho kệch, nhưng tất cả đều không nằm ngoài sự chi phối của dục vọng. Một người nghèo khổ chỉ muốn có đủ áo cơm cho gia đình. Nhưng khi có đủ áo cơm vẫn chưa lấy làm thỏa mãn, người ấy muốn có một căn nhà để gia đình ẩn náu. Nhưng khi được căn nhà, lại vẫn chưa lấy làm thỏa mãn. Cái tham vọng vô cùng đưa người ta đến chỗ vô lý một cách quá đáng. Có khi con người ước muốn một cách quá vụng về.

Hễ tham vọng thì phải được thỏa mãn, nhưng sự thỏa mãn chỉ có trong giây lát rồi lại có một ước muốn khác phát sinh thì sự thỏa mãn không còn nữa và con người phải chạy theo ước muốn mới, vì thế mà suốt đời cứ lận đận, gian nan. Những ước muốn thường không được thực hiện và đó là nguyên nhân cho bao nỗi khổ ở đời. Ưa muốn mà không được là khổ, khi chạy theo dục vọng, người ta có thể phạm vào tội ác. Những nhân xấu ấy đã đưa lại cho con người quả báo vô cùng đau khổ. Ngọn lửa dục vọng từ con người phát sinh trở lại thiêu đốt con người, thiêu đốt cả đời sống nhân loại. Vì vậy, mục đích của đạo Phật trong cuộc đời là giúp mọi người thoát khổ được vui. Đức Phật dạy rằng chúng ta muốn bớt khổ thêm vui, một cách đơn giản là chúng ta phải nên quý trọng những gì mà ta có, cả trong những phút giây, trong từng hơi thở và cả trong đi đứng, nằm ngồi, nói cười, suy nghĩ v.v…

Tu theo đạo Phật, ta có thể đạt được tuệ giác sâu rộng để không bị quay cuồng trong sự vận hành của vật chất và ham muốn, mà mất đi những phẩm hạnh cao đẹp cần có của một con người. Trong mỗi giây phút, nếu chúng ta biết rằng mình đang làm gì, nghe gì, cảm gì, thì cuộc sống của chúng ta sẽ có ý nghĩa hơn.

Tóm lại, Phật giáo vừa là một tôn giáo, vừa là một triết lý mà đức Phật là một nhà giáo dục vĩ đại. Đạo Phật luôn chủ trương rằng con người hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản thân mình trong những điều kiện hiện tại của cuộc sống, những gì đã xảy ra, đang xảy ra và sẽ xảy ra đều do hành động (nghiệp hay Karma) của mình tạo. Là Phật tử học theo lời Phật, chúng ta phải tự mình thắp đuốc lên mà đi, để về đến bến giác ngộ một cách yên bình.

Học theo lời Phật

Học và hành theo lời Phật dạy, tìm hiểu và hấp thụ giáo pháp của Ngài. Dùng ba phương pháp “văn, tư, tu”, tức là nghe lời giảng hoặc đọc kinh sach, suy ngẫm để thấm nhuần tinh túy của lời Phật dạy nhằm áp dụng vào đời sống để điều phục tâm mình không cho vọng động. Ta nên thực hành theo pháp môn Tam vô lậu học Giới–định–tuệ và tinh tấn niệm Phật để tiêu trừ nghiệp chướng.
Việc học Phật cũng quan trọng như hơi thở chúng ta vậy. Bình thường ta thấy nó không quan trọng, nhưng đến khi hơi bị trở ngại thì nó lại vô cùng có ý nghĩa. Nếu ta không tranh thủ thời gian để học hỏi Phật pháp và tu tập thì sẽ muộn mất.

Vậy phải học tập và hành trì như thế nào? Truớc hết, chúng ta phải học hỏi giáo lý từ Thầy bạn, từ những vị giảng sư trong các khóa tu Phật thất hoặc tu Bát quan trai. Nếu có điều kiện thì nên tham gia học các lớp giáo lý dành cho Phật tử hoặc chương trình Phật học hàm thụ của Nguyệt San Giác Ngộ. Ta cũng có thể học từ các kinh sách băng đĩa dành cho Phật tử sơ cơ. Học tập được đến đâu thì ta nên áp dụng vào đời sống hằng ngày của mình đến đấy để có được hạnh phúc và an lạc. Khi ta đã hiểu được lời Phật dạy và hành trì theo những lời dạy ấy thì ta sẽ kiểm soát được thân tâm, phiền não khổ đau sẽ bị chế ngự và dần bị loại trừ.

Tu học theo Phật giáo là tìm trở về an trú trong sự tỉnh giác thanh tịnh để phat huy một loại hiểu biết đặc biệt được gọi là trí tuệ. Đức Phật luôn luôn nhắc đi nhắc lại rằng tuệ giác rất quan trọng trong đời sống. Nó có thể giải thoát chúng ta ra khỏi tất cả những mê lầm và tiến dần đến hành trình giác ngộ.

Niềm tin vào Đạo

Đến với đạo Phật, chúng ta phải có niềm tin. Trong từ vựng tiếng Pàli, niềm tin được gọi là “Sadda”, nhưng niềm tin đó phải là chánh tín, là do sự hiểu biết tuyệt đối mà tin chớ không tin mù quáng. Không tin vào quyền lực của một đấng tối thượng nào. Duy chỉ có những lời dạy của đức Phật mới giúp chúng ta nhận ra được giá trị chân lý của cuộc sống, nếu áp dụng cho thân tâm thì ta có thể phóng thích và chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau cho chính bản thân chúng ta, cho gia đình và cho cả mọi người.

Theo tâm lý học Phật giáo, niềm tin là cái cổng dẫn đến mọi điều, tạo nên cảm hứng và tự trọng, khích lệ mạnh mẽ sự hiểu biết của chúng ta. Thật vậy, nếu ta có niềm tin vững chắc từ chính bản thân mình, thì cuộc sống hằng ngày đối với chúng ta không còn là nỗi lo âu và bận tâm nữa, cho dù bất cứ điều gì xảy ra với chúng ta, điều đó là tốt nhất hay xấu nhất, lời khen, tiếng chê, thành công hay thất bại.

Chúng ta có cái nhìn không chánh kiến, không dám đối diện với chính mình thì chúng ta sẽ cảm thấy sợ hãi và hèn nhác. “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, nhưng khó vì lòng người ngại cách núi ngăn sông”(Nguyễn Thái Học). Thật vậy, không có một trở ngại nào không thể vượt qua nếu chúng quyết tâm tu tập, dùng ngọn đuốc Phật pháp để soi đường thì niềm tin và sự tu tập của chúng ta sẽ đạt lên đỉnh cao trên con đường mà ta sẽ tới.

Nếp sống tâm Linh

Trong đời sống, ai cũng sinh ra và lớn lên trong một ngôi nhà, ai cũng ao uớc làm sao để xây dựng nó cho đẹp đẽ, kiên cố và vững chắc. Tuy nhiên, xét cho cùng thì đó cũng chỉ là hình tướng và vật thể của ngôi nhà thế tục. Ngôi nhà tâm linh không như ngôi nhà bình thường mà ta có thể dùng mắt để có thể nhìn thấy được. Ngôi nhà này không được xây dựng bởi vật chất mà bởi tuệ giác và sự tu tập, quán chiếu soi rọi vào từng sự việc và hành động của từng phút giây hiện tại mà ta sống bởi chính tâm thức của mình.

Sống ở cõi đời thì có thể nghèo tiền nghèo bạc chớ đừng nên nghèo đói về nếp sống tâm linh, nghèo đói về tâm linh là một sự mất gốc, không có sự truyền thống với gia đình tâm linh tổ tiên thì thật là nguy hiểm. Không riêng gì người Việt Nam chúng ta, mà mọi người trên thế giới này điều cần có một ngôi nhà tâm linh vì nó là món ăn tinh thần không thể thiếu được của mọi người, nó là chỗ cho tâm ta quay về nương tựa sau những cơn sóng gió của cuộc đời.

“Quay về nương tựa hải đảo tự thân

Chánh niệm là Phật soi sáng xa gần”.

Những chất liệu để xây dựng ngôi nhà thế tục là xi măng, sắt, thì những chất liệu giúp cho ta xây dựng vững chắc nền móng của căn nhà tâm linh là Giới, Định và Tuệ. Đối với hàng Cư sĩ tại gia, Phật dạy Ngũ giới. Thọ trì Ngũ giới là một trong những phương thức tạo nên đời sống an lành là không có kẻ thù nghịch.

Không trộm cắp: Người trộm cắp luôn luôn lo sợ bị truy tố trước pháp luật và chính lòng họ cũng thường bị ray rức, ân hận. Trái lại, người biết tri túc, biết nuôi mạng chân chính không bao giờ phải lo sợ như thế. Không lo sợ thì đời sống thêm tươi vui.

Không tà hạnh: Trong một gia đình, nếu vợ chồng hòa thuận, tin yêu. Chồng giữ đúng bổn phận làm chồng, vợ biết lo tròn bổn phận của vợ, không đứng núi này trông núi nọ và chung lo xây dựng gia đình, thì đó chính là một gia đình đầm ấm. Những điều trên giúp cho thân trong sạch hay nói cách khác là để kiểm soát hành động hằng ngày của mình.

Không nói dối: Là để rèn đức thành tín chân thật. Người chân thật và thành tín được mọi người tín nhiệm, tin tưởng. Dĩ nhiên, trong công việc giao tiếp hằng ngày, ai cũng muốn được tín nhiệm, tin tưởng vì đó là yếu tố thành công trên cuộc đời.

Không uống rượu và các chất gây say: Không những Phật giáo mà nhiều tôn giáo khác cũng chỉ dạy tín đồ không nên uống rượu. Vì người say sưa tự hạ phẩm cách của mình. Hơn nữa, theo y học, rượu làm cho mạch máu không co giãn được, dễ bị chứng lưu huyết làm thần kinh ở não cũng bị ảnh hưởng, làm giảm trí nhớ.

Vậy, chúng ta giữ giới chính là để xây dựng một cuộc sống lành mạnh từ thể chất đến tinh thần, chớ không phải vì yếm thế, chán đời. Những chất liệu này nó còn vững chắc hơn cả bê tông, cốt sắt. Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu là những chất liệu tinh bảo giúp cho ta làm lành lánh ác. Những điều này là tài sản quý báu, có thể giúp chúng ta xây dựng tốt ngôi nhà tâm linh của mình.

Đời sống đã khổ bởi sự móc xích dây chuyền của khổ, nghiệp và phiền não. Vậy tại sao chúng ta không noi theo gương đức hạnh của đức Phật mà xây dựng tường vách cho ngôi nhà tâm linh của chính mình bằng những sinh hoạt trong tuệ giác của thiền quán. Khi tâm ta thanh tịnh thì không lo gì. Lúc đó, chắc chắn chúng ta sẽ có tuệ giác của tâm linh dẫn đường để vượt qua những cơn giông tố của cuộc sống.

Cuộc sống hằng ngày

Lục Tổ Huệ Năng có dạy:

“Trăm năm ba vạn sáu ngàn ngày

Gắng công suy xét nguyên lai là gì”.

Một ngày so ra chẳng là bao với cuộc sống của chúng ta, nó lại chẳng thể so sánh với số kiếp vô lượng và số kiếp A-tăng-kỳ mà chúng ta đã trải qua trong luân hồi sinh tử. Tuy nhiên, một ngày mà ta biết tu là một ngày ta đã gần với Phật, một ngày ta quay lại soi sáng chính mình để trả lời câu hỏi của Tổ Huệ Năng. Hiện tại ta là ai? Từ đâu đến. Và sau khi chết ta về đâu?

Khi nghĩ về những câu hỏi lớn đó, ta sẽ buông bỏ những điều xấu ác và thực hành những điều thiện để quay trở về với bản tính chân thật vốn có của mình. Trong mỗi phút giây, nếu tâm ta không khởi lên những vọng niệm xấu ác, thì giây phút đó ta đã có một niệm tu. Tuy nhiên, chúng ta phải xác định rõ mục đích của mình. Tu để làm gì? Khi ta xác định rõ được mục đích, thì mục đích ấy sẽ là động lực thúc đẩy tâm hồn ta chuyển hóa một cách nhanh chóng.

Còn nếu không xác định rõ con đường mà mình sẽ đến, thì sẽ dễ dàng bỏ cuộc. Bởi vì những ngoại cảnh và nghịch duyên tác động vào chúng ta làm cho ta dễ bị thối thất tâm Bồ-đề. Những chướng ngại đó nằm ngay trong tâm, làm cho chúng ta phải khổ đau phiền não. Không khổ về cái mắt cũng khổ về cái tai, không khổ về cái tai thì cũng khổ về cái lưỡi. Không khổ về cái lưỡi thì cũng có thể khổ về cái thân, cái ý.

Những thứ khổ này làm cho chúng ta trôi lăn trong vòng luân hồi lẩn quẩn. Khổ vì ta còn vướng tiếng, lưỡi còn vướng vị ngon, miệng còn thích thị phi, ác khẩu, ý còn chạy rong như con ngựa hoang nơi đồng nội, như vượn chuyền cành.

Giáo pháp của đức Phật mênh mông và sâu thẳm, chúng ta phải học và thực tập từ thấp đến cao. Chúng ta nên tu tập những giáo pháp nào phù hợp với căn tính và những lời dạy nào mà chúng ta cảm thấy hợp duyên và có thể tu ngay bây giờ. Hãy tu tiến từng bước chậm và chắc để giáo pháp của đức Phật thấm sâu vào trong tâm thức chúng ta.

Nếp sống đơn giản

Đức Phật đã dạy: “Đa dục vi khổ” nghĩa là còn ham muốn nhiều thì còn khổ nhiều, càng hy vọng nhiều thì càng thất vọng nhiều, càng chứa nhiều thì tâm ta càng trĩu nặng. Xã hội văn minh cho ta những vật chất, nhưng nó đã cướp mất ở ta cuộc sống đơn giản thường tình, cướp mất cái hạnh phúc chân thật ở chính ta, làm cho ta đánh mất đi lương tâm và sự truyền thống với những người mà chúng ta thương mến, đó là cái mà người ta quý hơn tất cả mọi thứ tiền tài vật chất trên đời. Mà bất hạnh thay, đôi khi ta lại chửi rủa họ vì những thứ vật chất rất tầm thường.

Muốn tránh cảnh làm nô lệ cho vật chất tiện nghi, hãy tập cho mình cuộc sống đơn giản. Càng ít nhu cầu bao nhiêu thì càng ít lo bấy nhiêu. Nói như thế không có nghĩa là mình phải đi lùi với đời sống xã hội bên ngoài. Chúng ta sống một cách thanh thản và tạo ra của cải vật chất để làm tốt đẹp cho cuộc sống hiện tại và thế hệ mai sau. Nhưng điều cốt yếu là chúng ta đừng chạy theo vật chất và làm nô lệ cho vật chất. Hãy tập sống đơn giản không phải quá ưu tư, lúc đó tâm ta tự nhiên sẽ được nhàn nhã hơn. Ta có một đời sống ý nghĩa và có lợi ích cho mọi người, còn không ta cứ sống theo vật chất thì chẳng khác nào con thiêu thân lao vào đèn tự giết mình.

Nên là người học Phật, ta hãy dành những thời giờ quý báu của cuộc sống này để giúp đỡ và mang niềm vui làm vơi bớt những nỗi đau khổ của người khác. Hãy tập cho mình sống như những vị Bồ-tát hóa thân, vị tha với hạnh nguyện giúp cho mọi người thoát ra vũng bùn đau khổ. Sống dấn thân vào đời để cứu độ nhân sinh.

Phát tâm ăn chay

Ngạn ngữ có câu:

“Xưa nay trong một bát canh

Oán sâu như bể hận thành non cao

Muốn hay nguồn gốc binh đao

Lắng nghe lò mổ tiếng gào đêm thanh”.

Tất cả loài chúng sinh, từ loài có vảy, có mao, lông vũ… thể chất tuy khác người, nhưng sự hiểu biết và đau khổ đâu có khác con người. Bởi đời trước tạo nghiệp bất thiện nên đời này phải làm thân súc sinh. Theo quan điểm của đạo Phật: “Mọi vật đều bình đẳng một thể, đó là đại bi” và xem mọi loài chúng sinh đều có Phật tính, đều sẽ thành Phật, cho nên chủ trương ăn chay và phóng sinh. Trong cuộc sống, con người bị Ngũ dục chi phối, chỉ vì muốn ăn ngon nên sát sinh để nuôi dưỡng thân mạng.

Song, họ không biết rằng, ăn thịt chúng sinh là một sự thật vô cùng nhẫn tâm. Người ta đã làm ngơ trước sự kêu gào thống thiết khổ đau của chúng sinh khi bị giết. Vì vậy mà ta ăn chay để thể hiện lòng thương xót loài vật, không nỡ đóng gióp thêm vào nỗi thống khổ của cuộc sống đầy đau thương bị hành hạ, đánh đập. Trước khi chết còn phải chịu sống những ngày kinh hoàng trên những chiếc xe chuyên chở khổng lồ, đói khát, dồn ép trong một trạng thái thần kinh rất khủng khiếp, rồi bị lùa vào hành lang dẫn đến lò sát sinh, để nghe thấy những tiếng thét thất thanh trong phút giây giãy chết. Trong kinh Hồng Danh cũng có nói: “Không tự mình giết, không bảo người giết, không tán đồng việc giết chóc”. Nhìn kỹ vào trong một miếng thịt, chúng ta sẽ thấy máu me tràn đầy, nhìn kỹ vào một bữa ăn chúng ta sẽ thấy dẫy đầy sự đau khổ.

Một trong những lời dạy quan trọng cốt tủy của đức Phật là phải dùng tâm bình đẳng đối xử với mọi loài, cả người lẫn vật. Vậy là Phật tử, chúng ta nên phát tâm ăn chay, vì ăn chay làm ta tăng trưởng lòng từ bi, bình đẳng đối với mọi loài. Ăn chay sẽ giúp cho chúng ta được nhẹ nghiệp vì tránh được sát sinh. Nhờ vậy mà thân tâm ta được thanh tịnh và cuộc sống sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn. Khi ăn chay tức là ta đã gieo cái “nhân” tốt thì tất nhiên cái quả sẽ tốt. Điều chắc chắn là người nào ăn chay đều cảm thấy tâm hồn trở nên an lạc, dễ dàng gần gũi và thông cảm với loài vật và yêu mến thiên nhiên. Ăn chay hay không ăn chay, tất cả điều tùy thuộc vào sự hiểu biết chính chắn và lòng từ bi của mỗi người.

Chúng ta có quyền lựa chọn, lựa chọn ăn chay hay ăn thịt cá cho ngon miệng không phải là vấn đề quan trọng, mà là chọn một lối sống có ý nghĩa mới là điều quan trọng. Ăn trên nỗi đau đớn của chúng sinh thì chắc chắn không phải là một lối sống có ý nghĩa. Vì những lẽ trên nên chúng ta hãy phát tâm ăn chay, và trong tinh thần của Phật giáo, ăn chay còn là một pháp môn tu tập. Việc ăn chay không những giữ gìn thân thể khỏe mạnh, mà còn giữ tâm thanh tịnh.

Vì thế, chúng ta nên phát nguyện đời đời kiếp kiếp không dùng thịt các loại súc sinh, động vật để làm thực phẩm nuôi sống thân mạng mình. Xin nguyện cho tất cả mọi người và mọi loài đều có tâm nguyện này.

Nếp sống tỉnh thức

Những ai luôn hồi ức về quá khứ và mơ tưởng đến tương lai mà quên đi những phút giây hiện tại nhiệm mầu mà mình đang sống, người đó chỉ có thể chuốc lấy những nỗi khổ và niềm đau mà thôi. Tại sao chúng ta không bằng lòng với thực tại? Bằng lòng với thực tại có nghĩa là ta hạnh phúc với những gì đang có mặt quanh ta.

Trong sự phù du của kiếp người trong cõi Ta-bà giả tạm này thì có cái gì là tồn tại dài lâu, trường tồn bất biến với ta đâu! Kể cả xác thân này huống chi là tiền tài vật chất! Con người cũng như vạn vật có mặt trong vũ trụ này, có thành rồi có hoại, có hợp rồi có tan. Nên trong kinh Pháp Cú, đức Phật đã dạy: “Cao thì phải rơi, hợp thì phải tan, sinh thì phải tử”.

Đó cũng là một quy luật biến đổi tự nhiên của vũ trụ và nhân sinh. Vì vậy mà ta cũng đừng cố chấp, tiếc nuối những được mất hơn thua làm gì thêm cho khổ, hãy đón nhận những cái gì đến với ta một cách tự tại an nhiên. Vì sự sợ hãi sẽ đeo đẳng chúng ta nếu chúng ta tìm cách chạy trốn khổ đau. Thất vọng chán chường sẽ đến nếu chúng ta thích đón nhận sự sung sướng và hạnh phúc.

Đời sống luôn trói buộc chúng ta với những ganh tỵ, thèm khát, sân hận, cô đơn, thất vọng và bất mãn. Làm sao bây giờ? Muốn có được cuộc sống tỉnh thức và niềm vui rộng lớn, chúng ta phải định tĩnh, soi rọi phần nội tâm từ lâu mà nó đã bị lãng quên. Định tĩnh bằng cách nào? Niệm Phật sẽ giúp chúng ta định tĩnh và phát huy khả năng thương yêu với người khác. Khi tâm hồn chúng ta đã lắng đọng để có thể quán xét một cách chính xác những gì đang xảy ra, từ đó chúng ta có thể gạn lọc được những tri giác sai lầm.

Khi ta có tình thương thì ta sẽ đem được hạnh phúc cho người khác. Hãy dành một ít thời gian mỗi ngày, ngồi ở nơi yên tĩnh, hãy nghỉ đến những tai hại do lòng căm thù, sự tức giận và nỗi phẫn uất gây nên. Hãy nghĩ xem lòng tự ái đã đưa đến cho chúng ta sự lợi lạc hay chỉ là những tị hiềm ganh ghét. Sau khi đã quán xét những thứ ấy, ta nên tự nhắc lại tư tưởng từ ái sau: “Mong cho con thoát khỏi mọi phiền toái từ tức giận, sợ hãi, căng thẳng, lo âu đến căm thù. Mong cho con và mọi người luôn an vui và hạnh phúc” hoặc: “Mong cho con và mọi người luôn sống trong tình thương và tránh khỏi mọi lo âu giao động…”.

Sự định tĩnh không đòi hỏi sự cố gắng quá mức hay vội vã hấp tấp mà là sự nghỉ ngơi thoải mái, lúc nào trên môi cũng có sẵn nụ cười. Đức Thế Tôn là bậc toàn giác, nhưng những hoạt động của Ngài rất đơn giản. Khi đi thì Ngài đi, khi nói thì Ngài nói, chỉ có vậy. Ngài không suy nghĩ trong khi đang nghe, Ngài không để tâm rong ruổi trong khi đi, tất cả đều chánh niệm và tỉnh giác. Những điều này khó nhưng Ngài làm được nên Ngài được giải thoát.

Sống tỉnh thức là phương tiện duy nhất giúp chúng ta phóng thích ra khỏi những phiền lụy của cuộc đời. Nhưng muốn có sự tỉnh thức thì chỉ có con đường duy nhất mà Phật đã dạy là phải định tâm có định thì mới có sự tỉnh thức được.

Sống trong gia đình và ngoài xã hội

Trong cuộc sống, có những người có tri giác sai lầm, cho rằng Phật giáo là một tôn giáo thu mình, biệt lập với xã hội bên ngoài. Suy nghĩ như vậy là không đúng với đạo Phật. Giống như người nhìn quả trứng và cho rằng quả trứng tuy tròn, nhưng bên trong thì rỗng không. Song thực tế, quả trứng không phải là rỗng không mà chứa đầy đủ các yếu tố vốn có của nó. Đạo Phật cũng vậy.

Hãy nhìn vào lịch sử của đức Phật, chúng ta sẽ thấy đời sống của Ngài là một tấm gương sống động, phản chiếu và soi rọi lại những hy sinh lớn lao của Ngài, tất cả cũng chỉ vì hòa bình và hạnh phúc cho nhân loại trên cõi đời này.

Từ một Thái tử sống trong cung vàng điện ngọc với đủ quyền uy và vợ con xinh đẹp, nhưng vì nỗi thống khổ của chúng sinh nên Ngài đã từ bỏ tất cả để vào núi sâu tu tập và thành đạo Bồ-đề. Từ đó mà dấu chân hoằng hóa của Ngài dọc ngang khắp xứ Ấn Độ để thuyết giảng về nguyên nhân của khổ và phương pháp diệt trừ để đạt đến sự yên vui tối thắng. Giờ đây, chúng hãy nhìn sự đóng góp của những người xuất gia cho hạnh phúc yên vui của con người và xã hội thì sẽ thấy sự tích cực của đạo Phật đối với cuộc đời.

Đâu phải ai tu tập theo truyền thống đạo Phật đều phải lìa bỏ gia đình. Đức Phật đã từng nhắc nhở, nếu ai hôm nay có đủ duyên thì hãy xuất gia, còn điều kiện nhân duyên chưa đủ thì tu tập tại gia vẫn tốt. Đức Phật từng dạy cho chúng ta những luân lý sống đơn giản, hài hòa giữa người này với người khác, giữa cá nhân và cộng đồng xã hội. Ngài đã đề cao tinh thần trách nhiệm với cha mẹ, con cái, chồng vợ, những người thân trong gia đình, nhằm tạo nên một cuộc sống êm ấm hạnh phúc cho gia đình và xã hội.

Chính Ngài đã dạy rằng nghèo khổ tuy không phải tội ác và thiếu văn hóa, nhưng nó lại là nguyên nhân chính đưa đến tội ác và thiếu văn hóa. Ngài đã dạy cho ta biết về giá trị của cải và sự quan trọng của việc phát triển kinh tế trong đời sống hạnh phúc. Theo Ngài thì những tội ác như cướp bóc do nghèo khổ mà ra thì không thể nào ngăn chặn bằng hình phạt mà phải tạo ra công ăn và việc làm, từ đó con người sẽ vui sống thoải mái, không mắc nợ và không tội lỗi.

Tóm lại, đức Phật đã chỉ cho chúng ta sự gần gũi giữa gia đình và xã hội. Ngài chỉ cho chúng ta những điều phải chớ không mê tín mù quáng. Ngài đã vạch ra cái gì là phải, cái gì là trái, cái gì tốt và cái gì không tốt. Theo Ngài thì nếu chúng ta sống trong phẩm hạnh và lòng từ bi, tức là chúng ta đã thật sự an lạc rồi vậy.

Ngược lại, nếu chúng ta để cuộc sống kéo lê trong chuỗi ngày dài khổ đau về thể xác và tinh thần, tức là chúng ta đã đánh mất hạnh phúc thực tại rồi vậy.

Đạo và đời

Đạo và cuộc sống hằng ngày nếu được hòa hợp tự nhiên và trọn vẹn giữa thân và tâm thì cuộc đời này, người ta sẽ sống tràn đầy hỷ lạc và có nhiều hạnh phúc lớn. Chúng ta đều biết tâm ta là con vượn chuyền cành và ý là con ngựa rong chơi ngoài đồng nội. Từ đó mà những vọng tưởng phiền não như vui buồn, thương ghét, oán giận, đến tham lam, bỏn xẻn tỵ hiềm, có khi những ý tưởng đó đến và đi trong khoảnh khắc nhẹ như một cơn gió thoảng hay chỉ là một giấc mộng mà thôi.

Phần lớn sự suy nghĩ của chúng ta chạy theo Lục trần và tư tưởng dẫn chúng ta đi đâu thì chúng ta đi đó. Nếu chúng ta không được sung sướng, thoải mái, thì chúng ta phiền muộn, tức giận, chán ghét và khổ đau. Có khi nào ta mơ ước có được một phút thảnh thơi, thanh tịnh để cuộc sống có được niềm vui hay không? Bởi vậy, nỗi khổ và niềm đau cứ chiếm trọn trái tim và không có cơ hội để ta phóng thích những niềm đau đó.

Đạo Phật dạy chúng ta hãy sống với sự “thiểu dục tri túc”, nghĩa là chúng ta phải thấy đủ và biết đủ trong mỗi công việc và những gì hiện có hằng ngày, đừng để cho sự ham muốn lôi cuốn. Vì cuộc đời là giả tạm vô thường, mới ngày hôm qua có người rất cao trên cương vị giàu sang quyền quý nhưng hôm nay lại rơi vào vòng tù tội kiềm tỏa, mới vinh hoa đó rồi nhọc nhằn đó, mới vui đó rồi buồn đó. Ngồi ngẫm lại những gì còn mất chỉ như một cơn gió nhẹ thoảng hay chỉ là một giấc chiêm bao.

Vì vậy mà đức Phật dạy chúng ta hãy xả bỏ tất cả một cách có hiểu biết. Có như vậy chúng ta mới không bị vọng niệm dẫn dắt ta lạc vào vòng lẩn quẩn của phiền não khổ đau, tâm hồn ta sẽ trong sáng thoải mái, linh động, không gợn một vết nhơ. Tham, sân, si sẽ không còn có cơ hội nảy mầm và phát triển trong mảnh đất tâm thức của chúng ta, từ đó cuộc sống của chúng ta mới thật sự có an lạc và giải thoát.

Danh thơm tiếng xấu

Là người học Phật, khi trực tiếp đối diện với danh thơm và tiếng xấu, chúng ta phải như thế nào? Đó là điều vô cùng quan trọng đối với một người tu đạo. Thường thì danh thơm người ta hoan hỷ đón mừng còn tiếng xấu thì tỏ ra rất khó chịu và căm ghét.
Trong đời sống hằng ngày, không ít người đã tự quảng cáo, không ít người đã không ngại biểu dương sự rộng rãi của mình bằng cách biếu xén hay quà cáp cho cấp trên của mình cả một tài sản lớn. Nhưng có thể những người trên sẽ hoàn toàn thản nhiên trước nỗi thống khổ của người nghèo nàn đói rách sống ngay bên cạnh mình.

Đó là khuyết điểm của con người. Chỉ đến khi làm điều thiện thì ta cũng làm với ẩn ý vụ lợi. Những người hoàn toàn vị tha rõ thật hiếm hoi trên thế gian này. Vì lẽ ấy, người nào dù làm mọi việc thiện, dầu động cơ thúc đẩy đến hành động không mấy được ca ngợi nhưng cũng đáng được tán dương vì đã làm được những điều thiện ấy.

Trong thực tế, đời sống những người bình thường khi đạt được một chút danh vọng hay quyền uy, thì đa số người ta rơi vào cạm bẫy của vọng tưởng và từ đó sự hống hách kiêu căng được dịp trỗi dậy chi phối làm người ta có thể đánh mất đi vẻ đẹp khiêm hạ của chính họ. Hầu hết mọi xung đột đều bắt nguồn từ các quan niệm khác nhau về nhận thức, nghĩa là điều này hay hoặc dở, tốt hay xấu, được mọi người khen hay chê… Danh thơm và tiếng xấu cũng là tác nhân của sự chia rẽ, phân hóa cao thấp, được thua còn mất, phán xét và giới hạn.

Muốn giải quyết điều này, chúng cần vượt lên trên phạm vi của vinh hay nhục. Ta chỉ cần biết điều chúng làm là đúng hay sai, có lợi ích cho mọi người hay là tác hại mà thôi. Nghĩ đến điều xấu thì tư tưởng sẽ thu hút những điều xấu ngay và ngược lại, khi chúng ta chỉ nghĩ đến những điều cao thượng thì những tư tưởng kia không còn chấp mắc vào sự khen chê của người khác. Lúc ấy, tư tưởng chúng ta sẽ không bị loạn động, không còn bị chi phối bởi những ý tưởng chia chẻ của danh thơm và tiếng xấu, để mong làm sao đạt được cái mà đạo Phật gọi là “tâm vô phân biệt”.

Chế nghự phiền não

Học Phật thì chúng ta cần phải hiểu rõ rằng mình học Phật để làm gì? Là học hỏi giáo pháp của đức Thế Tôn và áp dụng vào đời sống hằng ngày, với mục đích là phóng thích, chuyển hóa và đối trị những phiền não, gạn lọc những thói quen bất thiện cũ. Những phiền não như tham, sân, si là nguyên nhân chính của mọi khổ đau và sự ích kỷ của chúng ta.

Vì vậy, chúng ta cần phải khắc phục và chuyển hóa, vượt thoát khỏi vòng kiềm tỏa của chúng. Từ đó, thân và tâm ta được thanh tịnh, trong sáng. Điều này có vẻ hơi khó nhưng không phải là không làm được. Thiền hoặc niệm Phật là một trong các phương pháp đối trị và chuyển hóa chúng một cách hữu hiệu nhất.

Để không còn bị vọng tưởng khuấy động, chúng ta phải sống và hành động một cách có tuệ giác cao. Con người ai cũng có những ưu phiền, buồn vui, thương ghét khi hằng ngày phải đối diện với thực tế cuộc sống, nhưng chúng ta phải biết cách điều phục khi chúng sinh khởi. Muốn được vậy thì chúng ta phải thay đổi dần những thói quen, suy nghĩ, cảm xúc của mình với một sự quyết tâm lớn.

Phải biết quán xét rằng tất cả những điều kiện dục vọng hiện có trên đời là nguyên nhân phát sinh ra mọi phiền não, và bản chất của chúng chỉ là vô thường, giả tạm nên ta đã xả bỏ chúng nhiều chừng nào thì tốt chừng nấy. Có xả bỏ thì mới có thể duy trì chánh niệm, để rồi có thể thản nhiên trước mọi sự việc còn mất, được thua.

Trong tâm của chúng ta đã có sẵn một nguồn hạnh phúc dồi dào, có sẵn một sự an tĩnh tuyệt vời mà cứ mãi tìm kiếm bên ngoài. Ai cũng có phiền não tác động hằng ngày, nhưng chúng ta phải biết đối trị chúng, chiến đấu với chúng khi chúng sinh khởi. Chúng ta phải nhận biết tại sao chúng ta khổ đau khi chúng ta còn dính mắc vào cái “ta” và cái “của ta” mà không thể buông bỏ.

Cái đẹp tự thân và cái đẹp bên ngoài

Sắc là một trong năm món Ngũ dục lạc, nó chi phối đời sống của con người rất mạnh. Nhan sắc thường thể hiện bên ngoài nên thường đập vào mắt ta, tạo cho chúng ta sự yêu thích và ham muốn. Sự cuốn hút của nhan sắc rất mãnh liệt làm nhiều lúc con người ta phải lệ thuộc vào no có khi phải bán rẽ chính ta để có được nó.

Thông thường, ta thích thân cận cái gì đẹp và xa lìa cái xấu, song người ta lại không nghĩ rằng khi tưởng về cái đẹp hay xấu thì nó chỉ là một cảm xúc tạm bợ, sự yêu thích cái đẹp rồi cuối cùng cũng sẽ đi đến chán ghét và phiền muộn. Vui thích trong cái đẹp của thế gian sẽ luôn mang đến cho chúng ta sự trói buộc và gắn liền với đau khổ. Thực tế, lịch sử loài người đã chứng minh cho ta thấy rõ ràng rằng, bao nhiêu triều đại vua chúa sụp đổ tan tành cũng vì ham mê sắc đẹp, nên người xưa có câu:

“Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách

Sắc bất ba đào dị nịch nhân”.

Ý muốn nói là mưa không có tính chất kiềm tỏa, nhưng nó có thể giữ chân chúng ta; sắc không có sóng gió bão bùng như biển cả mà nó có khả năng giết chết nhiều người và làm sụp đổ nhiều triều đại. Như vậy, đủ thấy sắc đẹp thường là một món thuốc độc ghê gớm, nó không chỉ có thể giết một người mà còn gây tai ương đến cho nhiều người. Cũng vì say đắm vào sắc nên chúng ta cứ mãi luân hồi vào ra ba cõi không lúc nào dừng, nên mới nói có sắc nên mới có sinh và tử.

“Có sinh có tử luân hồi

Không sinh không tử lấy đâu luân hồi”.

Nếu chúng ta ý thức được rằng cái đẹp hình thức bên ngoài chỉ là phù du giả tạm, không bền chắc và có tác hại trên con đường tu tập của mình thì chúng ta đừng bám víu vào chúng, mà nên quay về với cái đẹp bên trong của mình. Nhờ vậy, chúng ta mới thật sự sống trong chánh niệm và không còn bị đau khổ vì cái đẹp bên ngoài chi phối đời sống của chúng ta.

Phút giây hiện tại

Khi đến với đạo Phật, chúng ta đã ý thức được sự khổ đau của cuộc đời và dùng giáo pháp của đức Phật để tìm cách phóng thích và chuyển hóa những niềm đau và nỗi khổ. Chúng ta cầu mong cuộc sống hiện tại được an lạc và cầu giải thoát cho chính mình về kiếp sau khỏi bị luân hồi sinh tử trong Lục đạo của cõi Ta-bà uế trược này.

Tuy nhiên, cái lợi trước mắt là chúng ta sống cho hiện tại, sống lạc quan và yêu quý những gì mà ta đang có, đừng tưởng nhớ về quá khứ. Vì sao? Vì hạnh phúc và khổ đau của ngày hôm qua không phải là hạnh phúc và khổ đau của ngày hôm nay. Song cũng đừng mơ tưởng đến tương lai. Vì sao? Vì quá khứ đã trôi qua, còn hiện tại đang tiếp diễn và tương lai thì chưa đến. Tâm ta đã rong ruổi trong quá khứ nhiều rồi, đừng bắt nó phải rong ruổi nhiều thêm nữa.

Hồi tưởng về quá khứ chỉ làm mất đi những phút giây hiện hữu quý báu của đời người mà thôi. Hãy giúp cho tâm ta thanh tịnh bằng việc tập trung sống tốt cho những gì có mặt trong hiện tại. Bởi vì ta mơ tưởng đến tương lai thì tâm hồn ta sẽ bị nhiều luồng tư tưởng làm xao động và không kiểm soát được.

Phải chăng, nguyên nhân của việc sử dụng xì ke, ma túy trong giới thanh thiếu niên ngày nay cũng chỉ là một cách tạm quên đi sự chi phối của những vọng tưởng xáo trộn mà họ không còn cách giải quyết? Nhưng tại sao như thế? Phải chăng nguyên nhân sâu xa là người ta sống mất chánh niệm và bị những thứ dục vọng chi phối và cuốn hút người ta vào con đường sa đọa, đánh mất đi bản chất lương thiện của chính mình?

Vì vậy, muốn được bình an, thoải mái về tinh thần, chúng ta phải biết sống tỉnh thức, tập trung mọi thứ cho những phút giây hiện tại mầu nhiệm mà đừng mơ tưởng xa xôi. Dĩ nhiên, muốn đạt được điều này, đòi hỏi người ta phải có một tuệ giác, một công phu thiền tập tốt chớ không phải chỉ dựa trên những lý thuyết mong lung, không thực tế. Nếu thực tập được vậy, chúng ta mới có được an lạc và giải thoát ngay trong những phút giây hiện tại mà chúng ta đang có mặt.

Cuộc sống và công việc

Trong cuộc đời, có lẽ một câu hỏi mà thông thường chúng ta phải hỏi là phải cống hiến điều gì? Chúng ta cứ mãi suy nghĩ về những điều mà có thể đạt được từ công việc, một chức vụ… mà quên đi rằng chúng ta sống có nghĩa là chúng ta phải cống hiến.

Nhiều lúc vì một cảm xúc nào đó ta có thể đặt câu hỏi mà không cần phải có sự trả lời từ chính tâm hồn mình, chúng ta cứ mãi truy tìm về tương lai mà quên đi thực tại. Mỗi công việc đều có thể đem lại cho ta một nguồn vui sống, một sự quan tâm thiết thực cho những người khốn khó hơn. Công việc thường mang lại cho ta giá trị vật chất, nhưng nếu giá trị vật chất đó chỉ sử dụng cho mình và người thân yêu của mình thì niềm hạnh phúc sẽ rất nhỏ.

Nhưng nếu ta biết chia những thành quả từ công việc mà ta có được cho những con người bất hạnh hơn ta như những cụ già neo đơn, các em bé mồ côi và những người tàn tật thì giá trị hạnh phúc trong ta sẽ được nâng lên rất nhiều lần. Chúng ta cũng nên biết rằng cuộc sống cho ta công việc, nhưng công việc phục vụ lại cho nhu cầu cuộc sống. Chúng ta sống là phải làm việc vất vả và cũng từ công việc vất vả ấy cho ta biết được giá trị của sự khốn khổ, điều chúng ta học được từ sự khốn khổ có thể chuyển hóa chúng ta.

Công việc, nói cho cùng cũng một nhu cầu giải trí và cao hơn nữa, nó còn có thể là một pháp môn tu. Vì công việc sẽ giúp chúng ta lãng quên đi những giao động trong tâm hồn và những sự buồn chán trong lúc rỗi rảnh, giúp chúng ta tìm về với chính mình nhiều hơn. Từ những công việc lặt vặt như dọn dẹp sau bữa ăn, rửa chén bát khoan thai trong chánh niệm… sẽ giúp ta phát triển định lực và thật sự sống một cách có ý nghĩa.

Trong xã hội hiện đại của chúng ta, lối sống thường rất vội vã. Cho nên, những hạnh phúc, khổ đau khi tiếp xúc với công việc cũng đa dạng và phức tạp hơn. Nhưng nếu ta có thể làm mọi công việc một cách có chánh niệm thì ta đạt được nhiều hạnh phúc trong công việc.

Tình yêu chân chính

Sống trên đời này, ai cũng có người thương yêu mình và mình thương yêu người. Nhưng thế nào mới là một tình yêu chân thật? Một tình yêu đúng nghĩa phải được phát xuất từ một trái tim rộng lớn và một tuệ giác rất cao. Chớ thứ tình yêu mà phần lớn người ta thường nghĩ đến và mơ tưởng về nó chỉ là một thứ cảm xúc trần tục tạm bợ chỉ hiện hữu trong nhất thời.

Sự yêu thích đó cuối cùng rồi cũng đi đến chán ghét và phiền muộn, nó mang bản chất của sự ràng buộc và đau khổ. Hạnh phúc như thế thường gắn liền với đau khổ, đây quả là một sự bất hạnh lớn của kiếp người.

Tuy thế, chúng ta không thể phủ nhận hay đè nén những cảm xúc đó. Chúng ta đừng quá phụ thuộc và đồng hóa mình với chúng, để rồi chúng ta phải đánh mất đi cái bản chất đẹp đẽ của chính mình. Muốn vậy thì chúng ta phải luôn giữ tâm hồn mình trong sự tỉnh giác. Hai người yêu nhau, nhưng cuối cùng rồi một trong hai người phải ra đi hay chết, người còn lại sẽ thật đau khổ, khóc than, tưởng nhớ mãi.

Cố chấp vào một thể xác đã đổi thay là đau khổ, chớ không phải là tình yêu. Khi chúng ta quán xét rõ được điều này thì không còn cố chấp hay bám víu vào đó nữa, lúc đó, chúng ta cảm nhận được sự phù du của tình yêu mang bản chất của tham ái.

Nhận rõ được điều này thì tâm trí chúng ta có thể sẽ phát khởi lên một tình yêu mới, cao đẹp hơn, thánh thiện hơn, vượt ra ngoài những cảm xúc giả tạm để đến với một tình yêu chân chính, tràn đầy trí tuệ và vị tha, đó là tình yêu thương con người vô điều kiện.

“Sống là động mà không xáo động

Sống là thương mà chẳng vấn vương”.

Sống điềm tĩnh

Duy trì sự điềm tĩnh, tập trung vào một điểm duy nhất là một hình thức tĩnh tâm mà ở đó, ta và vật là một chớ không còn là hai nữa. Để có được mức độ tập trung này, không phải muốn là có được mà chúng ta phải thực tập nó vào mọi hoạt động của chúng ta sống trong cả sự đi đứng, nằm ngồi.

Nếu thực tập đều đặn như vậy, khả năng tập trung ngày sẽ càng cao, kéo dài được sự điềm tĩnh này thì sự thành công trong công việc của chúng ta ngày càng lớn và đời sống của chúng ta mỗi lúc càng được thăng hoa.

Định tâm là cách thanh lọc tâm hồn của mình bằng cách chọn lựa đối tượng cho sự tập trung cả thân khẩu ý của chúng ta vào chính đối tượng đó. Nên trong các chùa, ta thường thấy tôn tượng đức Phật Thích-ca Mâu-ni ngồi nghiêm trang trong tư thế kiết già mắt nhìn xuống, đó là một điển hình của việc tập trung thiền định.

Điềm tĩnh là bước thấp nhất của thiền định. Nếu trong cuộc sống, chỉ cần ta đầy đủ sự điềm tĩnh, thì tất nhiên ta sẽ là người có tự tin và giàu nghị lực để thành công nhiều trong mọi việc.

Sống chân thật

Ai đi đến đạo Phật với ý tưởng quyền uy, danh vọng… nhất định họ sẽ rất hoài công, vì đạo Phật không có những thứ đó.
Nhưng với những người tìm đến đạo Phật để tìm lại chính mình, tìm hiểu bản chất của đời sống, thì họ sẽ rất lợi ích, vì họ sẽ tìm thấy một tia sáng, một con đường trên hướng đi về thực tại uyên nguyên của suối nguồn vi diệu.

Đạo Phật là đạo chân thật, những người đến với đạo Phật phải là những người khát khao sự chân thật. Muốn đến với chân lý thực tại thì phải xa rời những giả dối hư huyễn, và xa lìa hết giả dối hư huyễn thì thực tại sẽ hiện tiền.

Nói như thế không phải là chúng ta phải rảo chân đi tìm, đi kiếm một sự thật ở ngoài những cái hư dối ấy, mà sự thật tức là những cái hư dối và những cái hư dối ấy tức là sự thật. Một khi hiểu được cái hư dối kia thì cùng lúc ấy, chúng ta đã lìa được huyễn cũng là biết được sự thật.

Những gì chúng ta ra công xây dựng từ vô lượng kiếp trong quá khứ đã qua thật quá sức kiên cố. Đi về thực tại là chúng ta đi ngược lại con đường cũ, nghĩa là phải ra tay phá vỡ tất cả những gì mà chúng ta đã dầy công xây dựng. Và đó là một lớn lao phải đương đầu, vì đây là việc làm đầy gian nan thử thách, cần phải vượt muôn trùng khổ đau. Muốn được vậy thì chúng ta cần phải có đầy đủ nghị lực, có một cái thấy và sự hiểu biết đúng pháp.

Thành kiến sở chấp lâu đời đã ăn sâu bám chặt vào mỗi chúng sinh, bây giờ chúng ta phải tự lột, phải nạo bỏ nó đi để cho mình được đẹp đẽ hơn. Nhưng khổ nỗi, vì quá mê mờ nên chúng ta lại cho nó là một gia bảo bất ly thân thể rồi chúng ta phải khổ vì nó.

Người tìm đến đạo Phật với sự mong mỏi quyền uy, danh vọng… chính họ đã đi vào con đường mà Phật từ bỏ, hay nói đúng hơn là cần phải hủy diệt. Họ đã đi ngược lại mục đích của đạo chân thật, thì làm sao có thể đến với đạo Phật được!

Đạo Phật là con đường để đi đến chân thật, nên chỉ chấp nhận những ai thiết tha với sự chân thật và yêu thương tha nhân như chính bản thân mình, không còn phân chia ta người, thương yêu, thù hận… Những người ấy đang đi trên con đường chân thật, và đang sống nếp sống chân thật.

Xây dựng gia đình hạnh phúc

Người Phật tử chân chính phải biết xây dựng gia đình nhỏ bé của mình bằng giáo lý của Phật dạy, vì những gì mà đức Phật dạy không ngoài mục đích là cải hóa thân tâm, đưa địa vị chúng ta từ thấp hèn lên cao thượng, từ si mê trở thành trí tuệ… Căn bản của đạo Phật là tình thương rộng lớn và trí tuệ bao la.

Do đó, người Phật tử phải biết áp dụng phương pháp từ bi, trí tuệ và hỷ xả vào gia đình, tất nhiên gia đình hẳn sẽ ấm cúng, hạnh phúc.

Đã nói đến từ bi thì không có giận hờn. Trong gia đình, vợ chồng, con cái, anh chị em không có giận hờn với nhau, quả là một gia đình ấm cúng, hạnh phúc. Muốn xây dựng được một gia đình hạnh phúc, thì điều cần nhất là mỗi thành viên trong gia đình phải có một sự hiểu và thông cảm cho nhau. Một gia đình hạnh phúc là một gia đình có sự kính nhường, tôn trọng, biết quan tâm và lo lắng đến nhau. Như con biết quan tâm đến cha mẹ, anh biết quan tâm đến em…

Ví dụ, chúng ta hỏi cha mẹ hôm nay ăn có ngon không, ngủ có yên giấc không… Đó là một món quà vô giá mà cha mẹ vô cùng sung sướng, và họ sẽ rất vui khi thấy con cháu biết quan tâm, chăm sóc đến mình. Còn đối với vợ chồng thì cũng rat cần sự quan tâm đến nhau. Như vợ quan tâm đến chồng sau những lúc chồng đi làm về mệt mỏi, vợ chạy ra đón chồng kèm theo một lời hỏi thăm như hôm nay anh có mệt lắm không? Anh uống ly nước chanh cho khỏe!… thế thì bao nhiêu mệt nhọc đều tan biến mất.

Ngược lại, chồng đối với vợ cũng phải quan tâm chia sẻ khó nhọc, thì đó là một gia đình hạnh phúc, yên vui. Xây dựng một gia đình hạnh phúc không phải là chúng ta có đầy đủ vật chất, mà điều chính yếu là chúng ta cần phải có sự yêu thương và hiểu biết về nhau, biết sang sớt và chia sẻ cho nhau niềm vui và nỗi khổ. Bằng tâm lượng bao dung rộng lớn, chắc chắn chúng ta sẽ có một gia đình hạnh phúc. Chúng ta phải biết tha thứ cho nhau những lỗi lầm vụn vặt trong gia đình và tìm cách giáo dục tế nhị bằng ánh sáng từ bi và trí tuệ của Phật dạy.

Khởi đầu của việc xây dựng một gia đình Phật hóa là chính mình phải hiểu rõ, hiểu đúng Phật pháp, sống an lạc và có lợi lạc cho những thành viên khác trong gia đình. Giáo lý mầu nhiệm và một đời sống gương mẫu cần phải đi đôi với nhau để cảm hóa những người khác trong nhà và xây dựng gia đình ta thành một tăng thân nhỏ, một cõi Tịnh độ nhỏ.

Một gia đình gương mẫu theo đạo Phật cũng nên sinh hoạt theo nguyên tắc Lục hòa, kính trên nhường dưới, cũng là nguyên tắc đặt nền tảng trên sự bình đẳng, dân chủ và tự giác.

Sống cùng hàng xóm

Người Phật tử đóng một vai trò quan trọng trong đạo Phật, mang một trọng trách đem Phật pháp vào lòng người, nhất là những người sống xung quanh ta như bà con, bè bạn trong làng xóm. Một Phật tử chân chính hiểu và lam đúng những lời Phật dạy thì sẽ cảm hóa và ảnh hưởng đến với mọi người xung quanh.

Muốn được vậy thì người Phật tử phải hiểu đúng pháp, thực hành đúng pháp và điều cần nhất ở người Phật tử là phải có một tâm hồn độ lượng, bao dung và tha thứ, đem lại niềm vui và an lạc cho mọi người.

Có cơ duyên tốt thì người Phật tử phải hướng dẫn mọi người biết quay về nương tựa Tam Bảo, sống, hiểu và thực hành đúng những lời Phật dạy để làm lợi lạc tha nhân. Niềm vui ấy người Phật tử phải biết nhân lên cho nhiều người trong mọi trường hợp.

Người Phật tử phải có trách nhiệm chung lo xây dựng và tô bồi xã hội trở nên tốt đẹp hơn, như những việc làm mà xã hội đang cần bàn tay của chúng góp sức phần nào, như: quỹ từ thiện, giúp đỡ những người khó khăn, nhất là kiến thức rất cần cho những người còn trong tình trạng thiếu học. Muốn vậy, trước tiên mình phải đứng ra vận động một phong trào khuyến học, kêu gọi bà con trong địa phương ủng hộ tinh thần và giúp đỡ phương tiện xây dựng một mái trường, một thư viện hay một phòng đọc sách.

Ngoài công tác giáo dục văn hóa ra, chúng ta còn phải quan tâm đến những bệnh tật mà trong địa phương thường mắc phải. Mình phải phát động phong trào ngừa bệnh và trị bệnh trong học đường cũng như ngoài xã hội. Nhất là những tệ nạn xã hội tại địa phương mình cũng phải vận động bà con bài trừ những tệ nạn ấy bằng sự giáo dục, thuyết phục và bằng cách thực hiện một môi trường sống lành mạnh, hiền lương tại địa phương mình.

Đó là những việc làm mà những bậc hiền nhân thuở xưa đều tán thán. Chỉ cần làm được vậy, chúng ta mới xứng đáng là một Phật tử chân chính, là một thành viên tốt đạo, đẹp đời của Phật giáo.

Ý thức trong cộng đồng

Về mặt giáo dục thì phải lập ra các thư viện, tùy phương tiện mà có lớn nhỏ, thường xuyên tổ chức những buổi diễn giảng, thuyết trình, hội thảo về các vấn đề công ích, tổ chức các lớp học bình dân trí, khóa dạy nghề, các lớp Phật học để nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí và hoằng dương Phật pháp. Phải cải thiện các chương trình giảng dạy và hiện đại hóa các trường học các cấp. Mỗi địa phương nên mở một đại học cộng đồng.

Về mặt y tế thì phải quan tâm đến vấn đề phòng bệnh bằng cách cải thiện môi sinh và môi trường sống, từ nhà cửa đến đường sá phải sạch sẽ. Người Phật tử phải làm gương một tháng một lần, như trong ngày rằm tổ chức một ngày, trang nghiêm quốc độ bằng cách đi dọn rác, lượm rác, làm vệ sinh công cộng trong địa phương mình. Mỗi năm đến ngày Phật Đản, nên tổ chức phong trào trồng cây để bảo vệ môi sinh, làm xanh tươi môi trường sống.

Người Phật tử cũng nên làm gương tổ chức các phong trào thể dục, thể thao, võ thuật. Người Phật tử nên vận đong thành lập một quỹ y tế như một hình thức bảo hiểm y tế tại địa phương để khi đau yếu, bệnh nhân có đủ phương tiện điều trị và không gây khó khăn tài chính cho gia đình.

Về mặt đạo đức thì nên xây dựng một ngôi chùa trang nghiêm, tích cực truyền bá Phật pháp. Chùa là điều thiện của làng, là phương thuốc căn bản để cảm hóa nhân tâm, diệt trừ tham, sân, si, ngăn ngừa nguồn gốc sinh ra tội lỗi và những kẻ phạm pháp. Khuyến khích con em tham gia tổ chức sinh hoạt thanh thiếu niên gia đình Phật tử và tạo một môi trường sống lành mạnh hướng thiện cho thanh thiếu niên.

Đạo đức gắn liền với kinh tế, với sự ổn định cuộc sống, có đủ cơm ăn áo mặc, nên người Phật tử phải quan tâm đến vấn đề kinh tế, hướng dẫn bà con đi vào những hoạt động làm ăn hợp chánh pháp mà có hiệu quả kinh tế cao, cũng như lập ra quỹ tương trợ, từ thiện để giúp những gia đình đang gặp khó khăn trong cuộc sống.

Trong cuộc sống, bất kỳ một tổ chức, một cộng đồng nào cũng đều đòi hỏi mỗi người chúng ta phải có một ý thức chung, gọi là ý thức cộng đồng. Mỗi một con người trong xã hội đều phải có một ý thức sống cao trong cộng đồng, ý thức về tinh thần lẫn vật chất, hay nói cách khác là ý thức về đạo đức cũng như văn hóa. Là người Phật tử, chúng ta phải sống hòa mình trong cộng đồng, phải thể hiện sự chân thật đạo đức của một Phật tử thì mới cảm hóa được mọi người xung quanh ta trở thành một cộng đồng sống hoàn mỹ và tốt đẹp cho xã hội.

Lễ phép

Đã là Phật tử thì ai cũng lễ Phật, nghĩa là đứng trước bàn thờ Phật, trước tượng hoặc hình ảnh của đức Phật, nghiêm trang làm lễ, năm vóc sát đất.
Lễ Phật để làm gì?

Lễ Phật không có ý nghĩa là lễ một vị Thần linh hay thờ cúng và lễ bái trước một hình tượng (idolatrie). Làm như thế là mê tín, trái với giáo lý của đạo Phật. Đức Phật đã dạy tất cả hình tướng, ngay cả xác thân của Ngài khi còn tại thế, đều là giả dối, vô thường, vậy nên Ngài không dạy chúng ta phải lạy Ngài và lạy những tranh, tượng vẽ hình dang của Ngài.

Nhưng chúng ta là những kẻ phàm phu, còn sống trong vòng thế gian, còn phải sửa mình, nên chúng ta còn cần phải có một cái gì để tượng trưng trước mắt ta và trong trí ta những đức tính rộng lớn vô biên, từ bi, hỷ xả, thanh tịnh. Cho nên, đảnh lễ trước hình tượng Phật không phải là chúng ta lễ bái hình tượng ấy, mà là chúng ta lễ, chúng ta tỏ lòng kính ngưỡng những đức tính rộng lượng, tâm từ bi bao la của Ngài.

Trước những đức tính cao cả vô biên ấy, chúng ta còn biết bao nhiêu mê lầm, bao nhiêu tội lỗi! Chúng ta phải sụp lạy để tôn kính những đức hạnh cao đẹp đã soi sáng cho chúng ta hướng về sự cao đẹp của chân, thiện, mỹ. Chúng ta đảnh lễ hình tượng Ngài với năm vóc sát đất để tỏ rõ lòng tự cao tự đại ngu xuẩn trong ta đã được dẹp bỏ, và dần nâng chúng ta lên đến những đức tính cao quý, sáng suốt và rộng lớn như đức Phật.

Giáo dục con cái

Cha mẹ nên nhận thức rõ về thời đại và xã hội hiện tại mà thế hệ con cái của họ đang sống, khác nhau ở điểm nào với thời trước về mọi mặt mà họ đã trải qua. Phải thấy rõ những nhu cầu cần thiết của thời đại ngày hôm nay và những gì của ngày trước phù hợp hay không phù hợp v.v…

Cha mẹ không nên cố chấp, bảo thủ theo kiểu xưa bày nay làm, tinh thần đó không còn phù hợp với thời đại hiện nay. Hơn nữa, xã hội loài người ngày càng tiến bộ, văn minh khoa học ngày một đổi mới và phát triển, nếu mình cứ ôm giữ mãi những tập tục cổ hủ, có khác nào ôm những xác bả mía khô, đã hết chất nước ngọt ngào tinh túy!

Do đó trước tiên, đòi hỏi cha mẹ phải có trí tuệ nhận định một cách sáng suốt về tâm lý thời đại của con cái chúng ta, để bắt nhịp theo đó mà có phương hướng giáo dục con cái tốt hơn, tìm hiểu con cái mong ước những gì trong cuộc đời. Nếu cảm thấy phù hợp và không đánh mất giá trị con người, thì cha mẹ nên tìm cách trợ lực giúp đỡ. Yếu tố quan trọng là cha mẹ phải trang trải tình thương yêu nhưng phải có một sự hiểu biết nghiêm trang nhưng độ lượng.

Không câu nệ hình thức giữa cha mẹ và con cái, cần phải có một tình thương luôn quan tâm đến chúng, tạo cho con có một thứ tình cảm luôn gần gũi không xa vời với chúng. Thiết nghĩ, cha mẹ cũng nên áp dụng tâm lý giáo dục ở ngoài xã hội vào gia đình để giáo dục con cái tốt hơn. Cha mẹ là chỗ dựa vững chắc của con cái về tinh thần cũng như vật chất, mà ở đây, chỗ dựa cần nhất của con cái đó là tình yêu thương rộng lớn của cha mẹ đối với con cái.

Muốn được vậy thì cha mẹ cần phải hiểu con cần gì để kịp thời giúp đỡ. Có những chuyện con cái không biết tỏ bày cùng ai mà cha mẹ là chỗ để cho chúng tỏ bày. Nhưng đặc biệt nhất, người mẹ là người mà con cái dễ gần và rất muốn gần hơn là người cha.

Do đó, người mẹ có điều kiện giáo dục con nhiều hơn, nhưng không khéo thì con cái dễ hư nếu như người mẹ dành tình thương cho con không đúng chỗ, hay cưng chìu con một cách quá đáng. Vì mẹ là tượng trưng cho tình thương yếu mềm, do đó, nếu người mẹ không khéo thì con cái nó sẽ lợi dụng điểm này thì khó giáo dục nó. Vì vậy, người mẹ dùng tình thương cho con nhưng phải có trí phán xét cần và đúng để giáo dục con tốt. Còn cha là thể hiện của tình thương nghiêm nghị, vì vậy con cái ít có cơ hội gần cha. Vì vậy, khi giáo dục con cái, chúng ta phải biết cách kết hợp giữa hai thứ tình thương hiền hòa và nghiêm nghị thì giáo dục con cái sẽ tốt đẹp.

Giáo dục con cái không phải dùng phương pháp đánh đập mà giáo dục con tốt, cũng có lúc cần roi đòn để dạy con cái nhưng điều này không phải là cách giáo dục tốt, dùng tình thương giáo dục là điều tốt nhất và có kết quả tốt hơn. Thí dụ như hôm nào đó ta kiểm tra tập học của con, thấy nó viết chữ không được đẹp hay điểm ít thì chúng ta dùng biện pháp nào để giáo dục? Phải dùng biện pháp tâm lý tình thương để giáo dục.

Phải có một sự giao cảm nhạy bén trên phương diện hướng dẫn cuộc đời con cái. Căn bản giáo dục con cái là tinh thần Phật giáo, tức tinh thần tự do, khoan dung, khai phóng, đề cao trí tuệ, lòng yêu thương mọi người và muôn loài, tinh thần trách nhiệm cá nhân, sự liên hệ mật thiết giữa mình với tha nhân và xã hội cũng như với mọi sự sống nguyên tắc bất bạo động; không những bất bạo động trong hành động mà còn bất bạo động trong lời nói: luôn nói lời ái ngữ, từ hòa, dịu dàng, thân ái, không nên có những lời la hét, nạt nộ, mắng chửi, nóng giận, thô ác đối với con cái.

The post Nếp Sống Đạo – Thích Nhuận Thạnh appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Trong Vòng Tay Mẹ – Đạo Quang dịch https://bachhac.net/trong-vong-tay-me.html Mon, 20 Apr 2020 02:05:34 +0000 https://bachhac.net/?p=3153 THƯ GỬI NGOẠI Ngoại ơi! Cháu của ngoại nè! Đã lâu lắm rồi cháu chưa có dịp viết thư thăm bà, hôm nay nhân lúc vừa thi xong, cháu liền cầm bút viết đôi dòng gửi thăm bà. Bút hạ dòng, cháu không có gì hơn, cầu nguyện mọi điều tốt đẹp nhất đến với …

The post Trong Vòng Tay Mẹ – Đạo Quang dịch appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
trong vòng tay mẹ

THƯ GỬI NGOẠI

Ngoại ơi! Cháu của ngoại nè!

Đã lâu lắm rồi cháu chưa có dịp viết thư thăm bà, hôm nay nhân lúc vừa thi xong, cháu liền cầm bút viết đôi dòng gửi thăm bà. Bút hạ dòng, cháu không có gì hơn, cầu nguyện mọi điều tốt đẹp nhất đến với bà và gia đình.

Bà ơi! Gần đây bà khỏe không ạ? Bệnh đau cột sống của bà có khá hơn tí nào không ạ? Mỗi khi đến mùa đông chắc khó chịu lắm phải không bà? Không biết những buổi trưa có ai nhổ tóc ngứa cho bà không? Có ai đọc truyện xưa cho bà nghe không? Có ai ngoái trầu cho bà ăn không? Có ai ôm bà ngủ mỗi đêm không? Và rất nhiều cái “không” nữa…. Còn cháu ở trong này vẫn khỏe, học hành vẫn bình thường.

Thưa bà! Dù có đi đâu về đâu, song cháu vẫn luôn ghi lòng tạc dạ những chuyện cổ tích đầy đạo lí bà kể mỗi đêm trước khi ngủ, những câu ca dao tục ngữ, những cử chỉ hành động trong sinh hoạt hằng ngày của bà, và đặc biệt là lời nhắc nhở của bà khi cháu rời xa bà để vào Nam, còn nhớ lúc tiễn cháu lên đường, bà nắm tay cháu nói:
“Dù cho dòng xoáy cuộc đời có đưa đẩy, có vùi dập, nhưng đừng đánh mất nề nếp gia phong nghe con! Giấy rách phải giữ lấy lề đấy!”.

Những câu chuyện đạo lí, ca dao, tục ngữ, lối sống tưởng chừng như đơn giản và có một chút gì đó cổ lỗ sĩ ấy, nhưng đã giúp cho cháu rất nhiều trong cuộc sống. Trước kia cháu coi thường nó chừng nào, thì bây giờ cháu lại xem trọng chừng nấy, mỗi khi thấy bất ổn, cháu liền nhớ đến lời dạy của bà, nhờ nó soi sáng mà con thuyền của đời cháu đã vượt qua biết bao ngọn sóng ba đào, biết bao phong ba bão tố của dòng đời đấy bà ạ!
………
Ngoại còn nhớ lúc tiễn con đi ngoại luôn giục:

– Lên xe đi con!

– Nhưng ngoại về rồi con mới lên.

– Ừ! Ừ! Ngoại về!

Ngoại vừa quay lưng, thì cháu cũng bước lên xe. Bất ngờ ngoại quay lại gọi:

– À! Vũ! Tí xíu ngoại quên. Con cầm hộp dầu và gói xôi ngoại mới mua. Lên xe nhớ ăn xôi liền và xoa dầu vào bụng nghen!

– Dạ dạ!

– Thôi! Xắn áo lên ngoại xoa dầu cho, anh làm biếng lắm, dạ dạ chứ không bao giờ xoa đâu.

– Con lớn rồi mà ngoại cứ lo.

– Cha anh! Anh mắc cỡ với ngoại à? Ngoại nuôi anh từ tấm bé, trong người anh có cái gì mà ngoại không biết đâu, có gì mà ngại.

Ngoại mở nắp hộp dầu cù là và nhanh nhẹn xoa vào bụng cháu, nhìn đôi tay nhăn nheo, gầy yếu run run của bà cháu thương quá, bàn tay đã trải qua biết bao sương nắng, làm lụng để nuôi con, nuôi cháu. Bà xoa đến đâu cháu nghe ấm áp tới đó. Tuy xoa nhưng ngoại luôn xoay mặt nơi khác để dấu dòng lệ đang tuôn trào. Thấy thế dòng lệ trên khóe mắt cháu cũng chợt trào ra, cháu liền nói đùa để cho ngoại không thấy dòng lệ của mình:

– Chà! Ngoại có bàn tay ngòi bút, chắc khi còn trẻ được nhiều người theo đuổi lắm đây, ông ngoại con cũng chết mê chết mệt vì bàn tay này chứ gì?

– Cha anh! Chỉ có cái khéo nịnh!
Nói xong bà ôm thật chặt cháu vào lòng.

– Phật ơi! Ngoại làm gì kì vậy? Con đã lớn rồi mà.

– Lớn đối với ai, chứ với bà lúc nào anh cũng là con nít cả.

– Thôi! Ngoại về kẻo nắng.

– Ngoại về nghen! Con lên xe đi!

Cháu cứ ngỡ ngoại về thật, nhưng khi xe bắt đầu lăn bánh cháu nhìn vào gốc cây xoài thì thấy ngoại hãy còn đứng đó, mắt ngoại luôn hướng về chiếc xe cháu đang ngồi, chắc chắn lúc đó ngoại đang khóc. Chiếc xe cứ vô tình chạy ra khỏi bến, nó đâu biết rằng từng lằn bánh của nó đang chà xát tâm cháu, nó càng lăn tâm cháu càng đau nhói, từng tiếng còi “bíp bíp” như tiếng gọi của chia li, nó nói rằng “từ đây cháu đã xa ngoại”, không biết ngoại đứng đó cho đến lúc nào? Ngoại có biết lúc đó cháu cũng đang nhìn ngoại không? Nhìn dáng ngoại gầy còm, với bộ đồ bà ba đen đã bạc màu, quần ống thấp ống cao, xách cái giỏ lưới cũng cùng niên đại với bộ đồ, đứng núp dưới gốc cây xoài để không cho cháu thấy, lúc đó cháu hết sức buồn và đã bật khóc, cháu rất mong chiếc xe nổ lốp ngay tại đó, để chạy lại ôm bà, nhưng mong ước của cháu chỉ mãi là ước mong… Ngoại đừng cười cháu ích kỉ à nghen!

À! Tí xíu nữa cháu quên. Thưa ngoại! Ngoại có biết đêm hôm qua cháu đã nằm mơ thấy ai không? Cháu nằm mơ thấy ông ngoại, ông nội và bà nội đấy. Nhìn họ chẳng khác trong hình là mấy, vừa tới ông ngoại liền hỏi cháu:

– Lâu nay cháu có viết thư về cho bà không?

– Dạ thưa ông! Do bận thi nên cháu chưa viết được.

– Ờ! Thế thì thôi, cố gắng thi cho tốt. Nhưng lúc nào rảnh phải nhớ viết đấy. Tội nghiệp bà con, ông mất sớm, một mình bà phải tần tảo sớm hôm nuôi dạy đàn con cho đến khi chúng thành gia lập thất.

– Ông biết không, mái tóc của bà con nay đã bạc trắng hết rồi! Trên trán lại hằn sâu rất nhiều nếp nhăn của thời gian nữa.

– Thật à! Mới ngày nào tóc hãy còn xanh mượt, biết bao nhiêu chàng trai trong làng say mê và không ít người trồng cây si với suối tóc đó, thế mà bây giờ……

– Sao anh không nói trong đó có anh. – Bà nội ngắt lời.

Ông cười, thở dài rồi nói tiếp:

– Ây da! Cuộc đời thật ngắn ngủi, con quỉ dữ vô thường luôn rình rập một bên, lúc nào cũng chực chờ chém lưỡi búa tử thần vào chúng ta.

Ông ngoại nói chưa dứt lời, bà nội liền cắt lời nữa:

– Anh nghĩ sao mà nói nhiều dữ vậy? Bộ không cho tôi nói à? Cháu nội của tôi để tôi hỏi với chứ.

– Thì chị sui cứ hỏi chứ tôi đâu có giành.

– Lâu nay cháu khỏe không? Học hành vất vả lắm không? Ăn uống đầy đủ không? Có thường xuyên viết thư về nhà thăm cha mẹ không? Anh và em cháu được khỏe không?

Bà nội nói chưa dứt lời, ông ngoại trả đũa:

– Chị sui hỏi gì nhiều vậy, làm sao cháu tôi trả lời kịp, đúng là phụ nữ có khác.
Nói xong, ông ngoại trề môi cười.

Thấy thế ông nội liền can:

– Thôi, tôi xin mấy người, nói ít thôi để cháu tôi còn thở với.
Nội nắm lấy tay cháu, hỏi:

– Hình như cháu có tâm sự gì à!

– Sao ông biết?

– Cha anh! Anh là cháu tôi, anh nghĩ gì làm sao có thể giấu tôi được.

– Bộ ông nội là “thám tử tư” à?

– Cần gì thám tử tư, chỉ nhìn nét mặt hôm nay của cháu là ông biết rồi.
Cháu đưa ngón tay cái lên, ý nói rất thán phục. Cháu thưa:

– Dạ thưa ông! Quả thật con có chuyện?
Nói chưa dứt lời, cả ông ngoại và bà nội liền rối rít hỏi:

– Cháu có chuyện à? Chuyện gì? Có đứa nào ăn hiếp cháu à? Hay là con nào đá cháu?

– Thôi! Tôi xin hai người, hỏi ít thôi để nghe cháu nói. – Ông nội cắt ngang.

– Ừ! Nói đi! Nói đi! – Ông ngoại và bà nội cùng thúc.

– Cháu có chuyện muốn kể cho ông bà nghe, sau đó hỏi cách giải quyết của ông bà.

– Chuyện gì? Kể mau! – Ông ngoại và bà nội lại thúc.

– Cái gì cũng từ từ đã. – Ông nội nói.

– Cháu có quen một người bạn, trước kia gia đình bạn ấy sống hạnh phúc lắm, không hiểu tại sao gần đây cha mẹ bạn ấy thường hay xích mích, gây gổ, hình như ngày nào không gây nhau ăn cơm không nổi ấy.

– Lí do sao họ xích mích? – Ông ngoại hỏi.

– Nghe nói gần đây mẹ của bạn ấy đi hơi nhiều, cha bạn ấy thì lại uống rượu cũng nhiều hơn. Do mẹ bạn ấy đi nhiều, nên có lời ra tiếng vào, khi nghe những lời như vậy, cha bạn ấy chịu không nổi, vì vậy mỗi lần uống rượu vào cha bạn ấy lại gây.

– Họ gây như thế nào? – Bà nội hỏi.

– Lúc đầu chỉ cãi sơ sơ với những ngôn từ đơn giản, dần dần họ cãi lớn tiếng, ngôn từ cũng lớn dần và phức tạp theo. Có lúc họ cãi nhau không đủ, họ lôi cả cha mẹ, dòng họ của nhau ra để chửi nữa.

– Thế là không được, dẫu biết rằng chén trong bát còn va chạm, chuyện vợ chồng khó tránh khỏi lời ra tiếng vào, nhưng không được lôi cha mẹ, dòng họ ra, vì họ đâu có lỗi, vả lại có người đã chết lâu rồi. Thật tội nghiệp cho hương hồn họ. Đã không báo hiếu thì thôi, sao lại làm điều bất hiếu như vậy? Không biết nếu sau này cha mẹ của bạn cháu nhắm mắt, mà con cháu cứ lôi họ ra để chửi mắng chắc họ sung sướng lắm? Điều này hiển nhiên thôi, bây giờ họ chửi cha mẹ của nhau được, sau này chắc chắn con cháu của họ sẽ bắt chước chửi lại họ.

Người xưa đã nói:

Hiếu thuận sinh ra con hiếu thuận

Ngỗ nghịch con nào có khác chi

Xem trước hiên nhà mưa xối nước

Giọt sau giọt trước có khác gì!

Ông nội nói xong, thở dài ngao ngán.

– Do họ không biết quay về nương tựa ba ngôi báu (qui y Tam Bảo), nếu biết làm gì có chuyện đó. Anh chị sui còn nhớ chủ nhật tuần trước Bồ-tát Địa Tạng giảng cho chúng ta nghe đề tài “Tam Qui Ngũ Giới” không? Ngài nói năm giới chính là:

1. Ý thức được những khổ đau do sự giết hại gây ra, con xin học theo hạnh đại bi để bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài. Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự giết chóc và không để người khác giết hại dù là trong tâm tưởng hay trong cách sống hằng ngày của con. Phát nguyện giữ giới không giết hại vì tôn trọng sự sống, vì ý thức được khổ đau do giết hại gây ra. Do vậy, người giữ giới này hiện tại luôn sống trong an ổn, không lo sợ thù oán, thân thể khỏe mạnh, không bị quả báo lột da xẻ thịt ở đời sau. Nhờ không giết hại, môi sinh được giữ gìn, xã hội an ninh, thế giới hòa bình và an lạc.

2. Ý thức được khổ đau do lường gạt, trộm cắp gây ra, con xin học theo hạnh đại bi để đem niềm vui sống cho mọi người và mọi loài. Con nguyện không lấy làm của riêng bất cứ tài vật nào của bất cứ ai. Con nguyện tôn trọng quyền sở hữu riêng của người khác và cũng nguyện ngăn ngừa không cho họ tích trữ và làm giàu một cách bất lương trên sự đau khổ của con người và của muôn loài. Vì tôn trọng tài sản và ý thức sự khổ đau do bị trộm cắp gây ra nên người Phật tử không trộm cắp, không bảo người trộm cắp, không đồng lõa với người trộm cắp. Người giữ giới này hiện tại luôn sống trong thanh thản, không sợ tù tội, được người khác tin cậy, giao phó nhiều trọng trách, hưởng phước giàu sang. Vì không gian tham nên không bị túng thiếu, mất mát, và không bị mang lông đội sừng để trả nợ ở đời sau.

3. Ý thức được hạnh phúc gia đình dựa trên nền tảng thuỷ chung, hòa thuận, con nguyện giữ mình thật tinh khiết, tự bảo vệ nếp sống tiết hạnh và hết lòng bảo vệ tiết hạnh của người khác. Con biết hành động ngoại tình sẽ làm tan vỡ hạnh phúc gia đình con và hại đến hạnh phúc của người khác… Người Phật tử ý thức được sự tai hại của việc tư tình nên phát nguyện giữ giới. Lợi ích của sự tu tập không tà dâm là thân thể khỏe mạnh, gia đình ấm êm hạnh phúc, được mọi người tôn trọng, không có tình thù.

4. Ý thức được những khổ đau do lời nói thiếu chính niệm gây ra, con xin nguyện nói lời chính ngữ, học hạnh lắng nghe để dâng niềm vui cho người và giúp người bớt khổ. Con nguyện chỉ nói những lời có thể gây thêm niềm tin, an vui và hi vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng hiểu biết và hòa giải. con nguyện không nói những lời sai với sự thật, những lời gây chia rẽ và căm thù. Con nguyện không loan truyền những tin mà con biết chắc là không thật, không phê bình và lên án những điều mà con không biết rõ. Con nguyện lắng nghe với tâm từ bi để có thể hiểu được những khổ đau, khó khăn của kẻ khác và để làm vơi đi những khổ đau của họ. Người giữ giới không nói dối luôn được mọi người tôn trọng, tin tưởng, yêu thương. Không những không nói dối, người tu tập giới này còn góp ý, động viên, xây dựng và hòa giải với mọi người xung quanh, làm cho gia đình và xã hội ngày càng thêm tốt đẹp.

5. Ý thức được những khổ đau do sử dụng rượu, ma tuý, các chất kích thích, gây nghiện, các thực phẩm có độc tố và văn hóa phẩm đồi trụy gây ra, con nguyện chỉ tiêu thụ những thực phẩm không chứa độc tố, không có tác dụng gây nên sự say sưa, nghiện ngập làm thân tâm mất tự chủ. Con nguyện không uống rượu, không sử dụng ma tuý, không tiêu thụ những thực phẩm có độc tố kể cả những văn hóa phẩm có nội dung bạo động, sợ hãi, thèm khát và hận thù. Tu tập trọn vẹn giới thứ năm thì thân thể khỏe mạnh, hạn chế được bệnh tật, trí tuệ sáng suốt, tuổi thọ tăng trưởng đồng thời tránh được tai nạn, lỗi lầm đáng tiếc do sự mất tự chủ gây ra.

Trong vợ chồng chỉ cần giữ giới thứ 3 và thứ 5 cũng đủ hạnh phúc rồi. – Ông Ngoại nói.

– Trí nhớ của ông ngoại thật cừ, khiến người ta phải bội phục.

– Hứ! Ổng mất lúc mới 30 tuổi, đương nhiên trí nhớ còn tốt rồi. Nói gì thì nói mình cũng rất mừng và tự hào khi con cái của mình sống rất hạnh phúc.

– Bà nội nói đúng đấy! Cháu cũng rất tự hào về gia đình mình, tuy gia đình không được khá giả lắm, nhưng sống rất hạnh phúc. Từ khi còn nhỏ, cháu đã được cha mẹ dạy phải biết kính trên nhường dưới, anh em gọi bằng thứ chứ không được gọi bằng tên, còn cha mẹ luôn xưng anh em, con chưa nghe cha mẹ con gọi nhau là ông bà, đừng nói chi đến tiếng khác… Mấy chị dâu lúc mới về, đêm đó cha mẹ cháu gọi hai vợ chồng lại dạy: “Con à! Gia đình mình tuy nghèo nhưng sống có trên dưới, anh nói em nghe, em nói anh nghe, vợ nói chồng nghe, chồng nói vợ nghe, nếu như con của cha mẹ có làm con buồn, con hãy nói với cha mẹ, chứ không được giận cá chém thớt, không được lôi cha mẹ ra chửi, hoặc mượn con để chửi cha mẹ, gia đình mình kị nhất tiếng chửi thề. Còn con cũng vậy, nếu vợ con chưa nên thì từ từ dạy, không được nói động đến cha mẹ vợ, không được đánh vợ, nếu con dạy không được để cha mẹ nhắc nhở, vì từ bây giờ vợ con không phải là con dâu của cha mẹ, mà vợ con chính là con gái của cha mẹ rồi. Người xưa nói con dâu mới thật con của mình, bởi khi cha mẹ nhắm mắt, vợ con phải chịu tang đến ba năm, phải lo ma chay. Vả lại, gia đình mình không có con gái, nên cha mẹ luôn coi con dâu như con ruột.”

Từ nãy giờ ông nội chẳng nói năng gì cả, trông bộ dạng rất đăm chiêu. Cháu thưa:

– Sao ông nội không nói gì cả vậy?

Ông nội chép miệng rồi thở dài:

– Ây! Ông nội đang nghĩ đến người bạn của cháu, sống trong gia đình như vậy chắc bạn cháu rất buồn và tuyệt vọng.

– Thôi! Thôi! Thôi! Từ trước đến giờ anh toàn lo chuyện bao đồng. Chuyện người ta kệ họ, chỉ cần gia đình con cháu mình sống hạnh phúc là được. – Bà nội nói.

– Em nói vậy không được. Chẳng lẽ em không nhớ Bồ-tát Địa Tạng dạy kinh Từ Tâm sao:

Thấy người khổ nạn khó qua

Lòng mình đau xót như là khổ chung

Thấy người hạnh phúc thành công

Lòng mình sung sướng như cùng vui theo.
Thấy người khác khổ xem như chính mình bị khổ.

– Ông nội nói đúng. Trước ngày thi, đêm đó cha mẹ bạn ấy lại gây lộn, bạn ấy chịu không nổi cảnh đó bèn xé hết sách vở và định nghỉ học luôn. Nhưng may thay được bạn bè động viên giúp đỡ, bạn ấy mới chịu đi thi, nhưng cháu dám chắc rằng kết quả sẽ không được tốt lắm, thật tội nghiệp làm sao.

– Bạn con thật tội nghiệp, nhưng cũng đáng trách, cho dù cha mẹ như thế nào mình cũng phải nỗ lực học, vì học chính là tương lai của mình. Ông nội hi vọng bạn con sẽ rút ra bài học từ cha mẹ bạn ấy.

– Anh sui nói gì dễ vậy, ai sống trong hoàn cảnh đó mới biết, khi thấy gia đình như vậy, không ai còn tâm trí đâu mà học hành, và biết bao đứa trẻ hư hỏng, hút chích, bài bạc, trộm cắp… cũng chính từ đó. Thế mà, khi con hư hỏng cha mẹ không nhìn thấy lỗi mình mà cứ trách mắng con. Chẳng hiểu ra làm sao nữa. – Ông ngoại thở dài ngao ngán.

– Cháu đồng ý với ông ngoại. Nếu cháu sống trong hoàn cảnh đó, cháu cũng không dám bảo đảm mình khá hơn bạn ấy.

– Anh sui thông cảm, nhà em từ nhỏ đến lớn luôn sống trong cảnh hạnh phúc, nên chưa từng gặp cảnh đó. Nhưng em nghĩ, nhà em nói cũng có lí đấy chứ, cho dù như thế nào chúng ta cũng phải mạnh mẽ vượt lên mọi hoàn cảnh và chính mình.

– Hứ! Chính là chồng ca vợ xướng! Sao trời sinh ra cặp vợ chồng xứng đôi vừa lứa thế không biết, đi qua thế giới khác rồi mà vẫn còn binh nhau. Thật là…

Tít tít tít, tít tít tít…..

Cái đồng hồ chết tiệt, sớm không tít, muộn không tít, tít đúng chỗ gây cấn. Ý chết! Nói chuyện một hồi, mà quên hỏi ông bà khỏe không, ăn uống được không? Cuộc sống tốt không? Thật thất lễ. Nhưng ngoại yên tâm, lần sau khi gặp nhất định cháu sẽ hỏi sức khỏe của họ đầu tiên.

Thôi thư đã dài cháu xin ngừng bút, chúc ngoại luôn khỏe mạnh và an vui bên con cháu. Ngoại yên tâm, dù ở đâu, làm bất cứ việc gì cháu vẫn nhớ lời dạy của bà “dù cho dòng xoáy cuộc đời có đưa đẩy, có dìu dập, nhưng đừng đánh mất nề nếp gia phong! Giấy rách phải giữ lấy lề!”

TRONG VÒNG TAY MẸ

Chiều nay

Ngồi trên gác, nhìn những giọt nước còn đọng trên tán lá sau trận mưa chiều. Càng nhìn Phúc càng nhớ cha mẹ, nhớ người mà Phúc những tưởng suốt đời mình sẽ không bao giờ tha thứ được.

Phúc được sinh ra trong gia đình rất khá giả, những tiếng cười lúc nào cũng trổi dậy như những hạt giống lúc nào cũng sẵn sàng nảy mầm. Sau sáu năm kể từ ngày Phúc nhìn thấy ánh dương, hạnh phúc lại tăng lên cấp số nhân khi mẹ sinh em trai, thằng bé mập mạp, trắng trẻo, khả ái. Rồi hai năm sau, mẹ lại sinh thêm em gái, giống như anh, nó cũng mập mạp, trắng trẻo, dễ thương. Mỗi tối cả gia đình cùng quay quần bên mâm cơm, tiếng nói, cười làm cho nhiều em bé trong làng phải ganh tị. Phúc cứ ngỡ hạnh phúc sẽ trải dài theo cuộc đời mình. Nào ngờ biến cố lại liên tục ập đến gia đình Phúc.

Đầu tiên, cha Phúc bắt đầu tập uống rượu, dần dần thời gian cha có mặt ở nhà ít dần, ít dần. Mẹ Phúc không thể chịu nỗi cảnh say xỉn, không chịu làm ăn của chồng, mẹ thường càm ràm, nhăn nhó. Kết quả sau những khi cãi vả như vậy, ít nhất, đánh chửi nhau, vừa vừa, những vật dụng trong nhà ít dần vì đổ vỡ, còn nhiều, sau khi đập phá xong, cha bỏ nhà đi đâu đó đến năm sáu ngày mới trở về. Nhưng vừa về, cha mẹ lại tiếp túc đấu khẩu, đánh chửi, đập phá. Cuối cùng họ quyết định chia tay.

Phúc và đứa em trai theo cha về ở nhà nội, còn đứa em gái út theo mẹ về ở nhà ngoại. Từ đây những con sóng cuộc đời bắt đầu ập vào bờ cát trắng mịn của cuộc đời Phúc. Phúc bắt đầu gắng gượng chèo lái con thuyền của riêng mình trong biển đời bao la.

Từng là học sinh giỏi mấy năm liền, nhưng đến cuối năm lớp 4 Phúc phải thi lại. Vào đầu năm lớp 5, Phúc nghe tin mẹ bị bệnh nặng vì làm việc quá sức, thương mẹ và em lắm nhưng không dám đến thăm sợ cha đánh. Nhiều đêm Phúc khóc xin cha hãy về với mẹ, vì ai cũng có đủ cha mẹ, còn riêng Phúc lại không. Sau những lần như vậy, Phúc luôn được nghe câu trả lời quen thuộc của cha “mày nhỏ biết gì, đi ngủ đi, đồ nít ranh.” Thế là Phúc lại khóc, khóc thật nhiều, thật nhiều…
Hôm nay có hai giờ văn, cô bị bệnh không lên lớp, Phúc được về sớm, cả lớp cùng nhau bàn tán đi đâu đó chơi, cuối cùng chúng nó quyết định về nhà ngoại của Vũ mắt kiếng chơi. Bọn chúng đang chuẩn bị, Vũ quay sang hỏi Phúc:

– Phúc đi chứ? Leo lên Vũ đèo đi.

– À, mình thật xin lỗi Vũ, mình không thể đi được.

– Vì sao?

– Ừm… thì mình nói không đi được là không đi được, sao Vũ nhiều chuyện thế nhỉ?
Nói xong Phúc chạy một mạch như ma đuổi. Khiến cho gần 50 mươi cặp mắt ngơ ngác nhìn theo và cả tiếng gọi “Phúc, Phúc” của Vũ, chẳng ai hiểu gì cả.

Không phải Phúc không muốn đi chơi, nhưng Phúc muốn thăm mẹ lâu lắm rồi, nhân hôm nay được nghỉ sớm, Phúc quyết định về thăm. Đoạn đường từ trường về nhà ngoại hôm nay bị làm sao ấy, còn mấy cái đồng hồ trong những nhà ven đường nữa. Phúc cảm giác đoạn đường dài hơn mọi ngày, đi hoài không thấy tới, cho dù Phúc đang chạy lấp xấp, chập chập Phúc lại ghé mắt nhìn vào đồng hồ của những nhà ven đường, 5 phút, 8 phút, 10 phút, “con lạy Phật trời, xin các Ngài giúp con làm cho các đồng hồ chạy chậm lại, nếu dừng lại càng tốt”…

Vừa đến cổng nhà ngoại, Phúc thấy ngôi nhà và cảnh vật xung quanh chẳng khác xưa là mấy, nhưng sao quạnh hiu và buồn tẻ đến lạnh người. Phúc vừa đẩy cánh cổng bằng tre, đã thấy mẹ nằm trên chiếc giường bằng tre cũ kĩ, mục nát, trùm chiếc mền cũ có nhiều miếng vá, bên cạnh là đứa em gái đang thiếp ngủ. Phúc vội chạy đến, chỉ gọi được tiếng “mẹ”, mẹ ôm Phúc vào lòng khóc nức nở, mẹ khóc, Phúc khóc, tiếng khóc hòa quyện vào nhau, tạo thành bản hùng ca bất tận, bản âm hưởng có một không hai của tình mẫu tử, cung bậc yêu thương đã lên đến tột đỉnh. Khóc một hồi, mẹ cúi xuống, nhìn Phúc hỏi:

– Sao con ốm dữ vậy? Cha có thường la đánh con không? Em con khỏe không?

Phúc chỉ gật gật, rồi tiếp tục ôm mẹ khóc. Thời gian cứ vô tình trôi đi, trôi đi, mới tí xíu đã đến giờ Phúc phải về rồi. Phúc nhẹ nhàng gỡ tay ra khỏi người mẹ, qua hôn lên trán đứa em vẫn còn đang say ngủ. Phúc đứng dậy thưa mẹ đi về, mẹ móc trong túi ra tờ 2.000 đồng cũ mềm, dúi vào tay Phúc, bảo:

– Con đem về mua kẹo cho em, lúc nào không có cha ở nhà, nhớ dẫn em qua thăm mẹ nghen!
Phúc gật gật, rồi chạy một mạch không dám quay lại, vì Phúc rất sợ đôi mắt đầy lệ của mẹ, nó như sợi dây vô hình cột chặt hai trái tim lại với nhau.

Chiều hôm đó, Phúc dẫn em ra quán bà năm đầu ngõ mua kẹo cho nó ăn, trước khi ăn Phúc dặn:

– Về nhà không được nói cho cha biết nghe chưa? Nếu nói lần sau chị không mua nữa đâu đó.

Thằng bé chỉ “dạ, dạ”, rồi nhai kẹo ngốn nghiến.

Tối đó

Sau khi cho em ăn uống xong, Phúc giăng mùng cho em ngủ. Rồi đi làm bài tập của mình, đang cặm cụi làm bài bên ngọn đền dầu leo lắt, Phúc giật thót mình khi nghe thằng em mớ “chị yên tâm, em không nói cho cha biết đâu, em không nói cho cha biết đâu”, Phúc quay sang nhìn cha, bắt gặp đôi mắt khó hiểu của cha cũng đang nhìn Phúc từ lúc nào. Cha hỏi:

– Thằng Lộc nói như thế là chuyện gì vậy Phúc?

– Dạ…dạ… đâu có gì!

– Không có gì tại sao nó nói như vậy? Nói thật tao còn tha, bèn không tao đánh mềm xương.

– Dạ…dạ…

Phúc chưa kịp nói, cha đã vực em Lộc dậy hỏi:

– Chiều nay chị Phúc dẫn mày đi đâu?

Thằng bé còn đang ngáy ngủ, nó chỉ nhìn ngơ ngác, chẳng hiểu gì cả. Cha phát đen đét vào đít nó mấy cái thật mạnh, làm thằng bé khóc điếng lên. Thấy thế, Phúc vội chạy lại quì dưới chân cha, xin đừng đánh em để Phúc trình bày. Phúc bèn kể sự thật đã gặp mẹ. Không để kể hết câu chuyện, ông hất chân làm Phúc lăn mấy vòng, rồi rút cây roi trên vách quất tới tấp. Bình thường Phúc đã khóc, nhưng hôm nay Phúc không khóc, quì thẳng lên để cha đánh, thời tiết vừa oi bức, cộng thêm men rượu trong người đang thiêu đốt, càng tức ông càng ra tay tàn bạo hơn, ông hét lớn:

– Ai bảo mày thăm cái con hư thân mất nết đó?

– Cha nói con đó, vậy con đó là con nào? Chẳng lẽ vợ của cha, người sinh ra chúng con lại đáng bị nguyền rủa, ghét bỏ như vậy sao? Nếu vậy ngày xưa cha đừng lấy mẹ, đừng sinh ra chúng con.

– A, lếu láo, cái con này hôm nay mày ăn gan trời à? Dám trả treo với cha mày vậy hả? Cho mày ăn học để mày về lí luận với tao phải không?

Vừa nói ông vừa quất thật mạnh vào người Phúc, quất đến khi chiếc roi tả tơi mới chịu dừng lại.
Suốt đêm hôm đó, Phúc không sao chợp mắt được, cứ lăn qua trở lại, nhìn phía giường của cha, hình như đêm nay cha cũng không ngủ được, chốc chốc ông ngồi dậy đốt thuốc, nhìn cha rất đăm chiêu, không hiểu ông đang nghĩ việc gì? Bất ngờ cha đi lại gần giường của Phúc, nhẹ nhàng vén màng lên, hôn vào trán Phúc. Phật ơi! Lần đầu tiên trong đời Phúc mới có được cảm giác tình phụ tử, không kiềm được nỗi xúc động, hai dòng lệ trong khóe mắt của Phúc cứ vô tình tuôn trào, thấy thế cha hỏi:

– Con chưa ngủ hả?

– Dạ. – Phúc mở mắt nhìn cha, gật đầu thưa.

– Hồi nãy cha đánh con có đau lắm không? Ngồi dậy cha xoa dầu cho. – Cha ôm Phúc vào lòng bảo.
Cha vặn cao ngọn đèn, rồi dở áo Phúc lên để xoa dầu, cha xoa tới đâu Phúc thấy ấm áp, dễ chịu đến đó, bất chợt Phúc cảm giác lưng mình ướt ướt, quay lại, thì ra cha đang khóc, đây là lần đầu tiên thấy cha khóc, người ta nói “phụ nữ khóc nước mắt chảy ra, còn đàn ông khóc nước mắt chảy vào, nếu khi người đàn ông khóc mà nước mắt chảy ra, tức là họ đang rất đau khổ, hối hận.” Cha hỏi:
– Con có muốn cha về lại với mẹ không?
– Dạ có ạ! – Phúc trả lời không cần suy nghĩ, giống như câu trả lời đã có sẵn trong đầu.
– Cha thấy cha mẹ thật có lỗi với các con, đã không cho các con cuộc sống hạnh phúc đầy đủ thì thôi, thế mà lại còn làm cho các con phải chịu khổ cực.
– Dạ không có gì thưa cha. Nội thường dạy, con nít không được xen vào chuyện của người lớn, người lớn làm gì đều có lí của họ, xin cha hãy tha thứ cho những lời bất kính của con vừa rồi.
– Không, không, cha suy nghĩ rất nhiều về lời nói của con, cha không trách mà còn phải cảm ơn con đã cảnh tỉnh cha.
Phúc áp sát vào lòng cha, ngủ thiếp đi lúc nào không biết, trong mơ Phúc thấy cha mẹ về sống chung với nhau, cùng ăn cơm chung, nói cười vui vẻ…

Sáng hôm sau
Cha đi qua nhà ngoại thật sớm, khoảng 7h30 cha về và nói với Phúc:
– Con xếp quần áo của con và của em, chúng ta cùng nhau về nhà ngoại ở với mẹ.
Phúc không tin vào tai mình nữa, Phật ơi! Con đang tỉnh hay mơ, con có nghe lộn không vậy? Mãi đến khi nghe cha giục lần thứ ba, Phúc mới dám chắc đây là sự thật:

– Con làm gì mà ngây người ra vậy? Mau lên con.

Phúc vội vàng cuộn đại mấy bộ đồ của mình và của em bỏ vào giỏ, nói đồ cho quách vậy, chứ chúng còn tệ hơn khăn chùi chân của mấy nhà kha khá.

Về ở nhà ngoại được nửa tháng, cha mua
một mảnh đất nhỏ cất nhà, nhà xoay về hướng tây, lợp tôn xi măng được giở ra từ chuồng heo của ngoại, mỗi khi trời nắng, trong nhà oi bức như trong lò lửa, còn mỗi lúc trời mưa, phải lo chạy dọn dẹp đồ đạc, lấy thau, chậu, nồi để đầy nhà, cho nước mưa khỏi chảy tràn lan ra ngoài. Vui nhất những lúc trăng thanh gió mát, mấy chị em cùng nằm ngủ trên một cái giường bằng tre ọp ẹp. Một lần nọ, em Lộc hỏi Phúc:

– Đố chị hai các nhà hàng cao cấp ở thành phố họ gọi là nhà hàng đạt tiêu chuẩn gì?

– Ờ, ờ, gọi là gì ta?

– Chị chịu thua đi!

– Ừm, thôi chị chịu thua đó.

– Dở ẹt, gọi là nhà hàng năm sao.

– Tại sao hôm nay em lại hỏi chị như vậy?

– Em thấy nhà mình tốt hơn nhà hàng năm sao nhiều.

– Dở hơi à! Nhà hàng năm sao người ta xây bằng xi măng, trong phòng có máy lạnh, còn nhà chúng ta điện còn chưa có, thế mà lại bảo tốt hơn nhà hàng năm sao. È.

– Không phải sao, chị nhìn lên trời xem, không phải nhà chúng ta có hàng trăm, hàng ngàn ngôi sao sao?
Phúc ngước nhìn lên trần nhà, quả thật như em Lộc nói, mái tôn đầy lỗ đinh thời gian. Phúc khen:

– Trí tưởng tượng của em khá thật đấy, sau này nhất định sẽ trở thành nhà văn cho mà xem.
Cả hai chị em cùng cười khúc khích.
Hạnh phúc không được bao lâu, cha lại chứng nào tật nấy, suốt ngày chẳng lo làm ăn, chỉ biết bạn bè, nay hết nhậu quán này, mai lại nhậu quán khác, thế lại còn thêm cờ bạc, bia ôm, thời gian cha có mặt ở nhà cũng giống như trước kia, ít dần, ít dần. Một hôm, cha vừa về đến nhà liền đi nhanh vào buồng lục lọi tìm kiếm, tìm một lúc, ông bước ra hỏi Phúc:

– Mày có biết mẹ mày cất tiền ở đâu không?

– Dạ con không biết. Mà tiền gì vậy thưa cha?

– Tại sao không biết? Tiền hồi chiều mẹ mày bán heo chứ tiền gì?

– À tiền bán heo.

– Sao, để đâu? – Ông mừng rỡ, hai mắt sáng trưng hỏi.

– Dạ con nghe mẹ nói đi trả nợ cho bà Tư ở xóm trên rồi.

– Đem đi cho trai chứ trả nợ trả nần gì. Thôi vào nấu cơm cho tao ăn mau.

– Dạ thưa nhà mình đã hết gạo từ trưa.

– A, cái con này, mày muốn tao chết đói à? Dám nói láo với tao hả?

– Dạ con nói thật ạ! Em con vẫn chưa ăn cơm tối.
Nghe đến đây, cha liền đứng dậy, cầm búa đập mạnh vào lu gạo nói:

– Hết gạo thì đập lu chứ để làm chi nữa.
Đập xong cha đi một hơi, không quên kèm theo mấy câu chửi rủa. Phúc không biết làm gì khác, chỉ biết ôm em khóc. Một lúc sau mẹ về, vừa về đến cửa mẹ đã hỏi lớn:

– Tối rồi tại sao không đốt đèn lên con?
Phúc không trả lời, chỉ ngồi khóc, hỏi một hồi Phúc mới dám nói ra sự thật, chưa kịp nghe hết câu chuyện, mẹ lập tức đưa em cho Phúc,

vội vã bước đi, Phúc gọi:

– Mẹ! Mẹ định đi đâu vậy?
– Tao đi hỏi cha mày tại sao dám đối xử với con như vậy.
– Thôi mà mẹ, dù sao chuyện cũng đã rồi, mẹ ngồi nghỉ, con đi nấu cơm mấy mẹ con mình cùng ăn.
– Thôi không ăn uống gì cả, tối nay nhịn hết đi, coi thử chết ai cho biết.

Mẹ vừa bước ra, đúng lúc cha về. Mẹ hỏi:

– Tại sao ông đối xử với con như vậy?
– Đối xử là đối xử như thế nào? Nó là con tao, tao muốn đối xử thế nào kệ tao, liên quan gì đến mày mà mày nói. Thôi không nói nhiều, tiền bán heo hồi chiều để đâu, đưa cho tao.
– Hứ, nói dễ nghe quá ha. Tôi đem trả nợ hết rồi.
– Đem cho thằng nào thì nói đại đi, chứ trả nợ trả nần gì.
– Sống với nhau đã mấy mặt con mà ông dám nói với tôi như vậy à?
– Tại sao lại không dám, trên đời này tao chỉ tin mình tao thôi, còn ngoài ra tao không tin ai hết, đặc biệt là mày.
– Tui sao?
– Cái thứ gò má cao sát chồng, nếu hồi đó tao không lấy, chắc bây giờ mày còn ở giá, chứ thằng nào thèm lấy. Tao thật quá sai lầm khi quyết định lấy mày.
– Phải rồi, ông danh giá quá mà, không biết hồi đó ai theo ai, ai năn nỉ ai?
– Á chà, con này nay mày dám lên mặt, được để tao cho mày biết tay. – Nói xong, cha chạy lại bóp cổ mẹ.
– Thôi con xin cha mẹ đừng có gây nhau nữa, làng xóm họ cười cho mà coi. – Phúc một tay ôm em một tay kéo ống quần của cha.
– Kệ ai cười hở 10 cái răng, dù trời có sập, hôm nay tao cũng phải trị tội con này mới được.
– Được, ông giết tôi đi, để coi ai ngồi tù mục gông cho biết.
– Dù cha chết hay mẹ chết cũng đều không được, chúng con không muốn mất cha, mẹ. Xin cha mẹ đừng làm khổ nhau nữa.
– Được, nếu như vậy thì li dị. – Cha nói.
– Li dị thì li dị sợ ông à. Coi ai chết đói ngoài đường biết liền.
– Phúc mày theo ai? – Cha hỏi.
– Dạ, dạ, con theo cha mẹ.
– Mày không muốn theo tao thì thôi. Lộc vào xếp đồ theo tao, để con Phúc ở lại với con đàn bà mất nết này.
– Đúng rồi, tôi mất nết đó, vậy từ nay về sau đừng vác mặt vào nhà này nữa.
– Thưa cha, em Lộc chưa ăn cơm, chưa tắm rửa, xin cha cho em ở lại ăn cơm, mai con dẫn qua nhà nội cho cha.
– Được. – Nói xong cha bỏ đi.

Phúc đưa em cho mẹ, dẫn em Lộc ra sau tắm rửa. Tắm cho em xong, Phúc lục đục nhen lửa nấu cơm, mẹ hỏi:

– Mày đang làm gì vậy Phúc?
– Dạ con đang nhen lửa nấu cơm.
– Không cơm nước gì hết, đi ngủ đi.
– Nhưng mà từ chiều giờ em Lộc vẫn chưa
ăn thưa mẹ!
– Hứ, gạo còn không thấy gì huống chi lúa. – Vừa nói mẹ vừa cầm gáo nước xối vào bếp, chỉ nghe tiếng xèo, rồi bếp tắt ngúm.
Thấy thế, Phúc giận mẹ lắm, Phúc nghĩ “tại sao người lớn lại vô lí như vậy nhỉ, giận nhau thường kéo con cái vào trận, thường giận cá chém thớt, mình không ăn cũng được, nhưng phải lo cho con cái ăn chứ, chúng con có tội gì đâu phải bị nhịn đói, phải bị đối xử như vậy?” Nhìn em Phúc thương lắm, nhưng cũng đành bất lực. Phúc lên giăng mùng cho em ngủ, sau đó xuống dọn dẹp nhà cửa, úp lại nồi lên gác, bỏ gạo và thức ăn vào nồi đậy kĩ. Lúc này đã khuya, cảnh vật im lìm đang chìm sâu trong giấc ngủ, mẹ và bé Thọ cũng đã ngủ say. Phúc coi lại cửa nẻo, vặn nhỏ đèn, chui vào mùng, lưng chưa kịp chạm chiếu, em

Lộc thì thầm:

– Em đói quá chị hai ơi! – Vừa nói em Lộc vừa lò mò ngồi dậy.
– Ừ, chị cũng đâu khác gì em.
– Sao chúng ta không tìm thứ gì đó ăn cho đỡ đói?
– Biết tìm thứ gì, nhà mình đâu có cái gì ăn được.
– Em nhớ hồi chiều mẹ mua thức ăn về, không biết có gì ăn được không? – Cặp mắt của Lộc sáng rỡ, giống như tìm được đáp án của vấn đề cực kì khó.
– Chỉ toàn rau thôi. Nhưng nếu lục đục mẹ hay được đánh chết. – Phúc khuyên em.
– Như vậy biết làm sao, em đói quá à! – Vừa nói em Lộc vừa nhăn nhó, ôm bụng.
– À, chị có cách rồi.
– Cách gì vậy chị?
– Chúng ta uống nước cho đỡ đói.
– Hay đấy. Em Lộc gật đầu tán thành lia lịa.

Hai chị em rón rén đi xuống bếp uống nước, uống xong lại leo lên giường ngủ. Nằm chập lâu, Phúc và Lộc vẫn không tài nào ngủ được, hai cái bao tử đánh trống, thổi kèn, biểu tình dữ dội, lâu lâu lại kêu “ọt, ọt”. Thấy em cứ ôm bụng lăn qua lăn lại,

Phúc không thể chịu được, quyết định:

– Lộc, em ngồi dậy đi với chị.

– Đi đâu?

– Đi xuống bếp.

– Thôi, em không uống nước nữa đâu, rủi nửa đêm… em sợ ma lắm.

– Không phải uống nước, mà là ăn cơm.
– Ăn cơm? – Lộc trố mắt hỏi.
– Phải. – Phúc khẳng định chắc chắn
– Cơm đâu mà ăn?
– Bây giờ chị nấu.
– Chị hai không sợ mẹ đánh à?
– Không sợ.
– Được, nếu có gì hai chị em mình chia đôi, có phúc cùng hưởng có họa cùng chia.
– Nói nho nhỏ thôi, kẻo mẹ nghe.

Hai chị em len lén đi xuống bếp, Phúc vừa cào tro ướt qua một bên, vừa nói:

– Bây giờ hai chị em mình ra lấy ít rơm vào nhóm bếp.
– Để mình em đi cho, chị hai vo gạo đi.
– Em không sợ ma à?
– Không sợ, chỉ cần mau có cơm ăn được rồi.

Không hiểu sao hôm nay em Lộc siêng bất tử như vậy, ngày thường bảo làm gì phải xuống nước năn nỉ nó mới làm, mà hôm nay không ai nhờ, nó tự đi lấy chén, đũa để sẵn ra đó, lâu lâu còn lại đẩy thêm củi vào bếp. Phúc nói:

– Chụm ít thôi, củi chị đi hái xa lắm đó.

– Không hề gì, ngày mai em đi hái với chị. Không những ngày mai, mà sau này, ngày nào em cũng đi hái củi cho chị nấu. À mà không, sau này em không hái nữa.

– Sao vậy, đổi ý rồi à?

– Không phải đổi ý, sau khi lớn lên, em cố gắng làm ra thật nhiều tiền, mua cho chị cái bếp ga giống như nhà thằng Bườm bạn em, khỏi cần đun củi, không sợ lọ nồi.

– Ba hoa chích chòe vừa thôi ông tướng, ông làm như vậy có mà trời lụt.
– Chị không tin, để rồi xem. À cơm chín rồi, nhắc xuống đi.
– Chưa, chờ tí. Để chị lặt ít rau luộc cho em ăn.
– Không cần, ăn với nước mắm được rồi.
– Nước mắm còn đâu mà ăn?
– Ăn với muối, gói muối mình ăn ổi hôm qua còn nè.
– Không nói nhiều, chờ chị luộc rau rồi mới ăn.
– Chờ chị luộc rau, lỡ mẹ thức dậy thì sao?
– Ừ, cũng phải. Thế thì ăn với muối vậy.
– Đưa chén em bới trước cho chị, em mời chị hai ăn cơm.
– Điêu, làm bộ lễ nghĩa, ăn đi, ăn từ từ thôi kẻo nghẹn.
– Mẹ xuống. – Em Lộc vừa nói vừa bỏ ngay chén cơm xuống, đứng phăng dậy.
– Đâu có.
– Rõ ràng em nghe thấy tiếng chân người mà.
– Chắc tiếng gió đó.

Tuy ăn cơm với muối, nhưng em Lộc ăn hơn ba chén. Phúc không ăn, chỉ bưng chén cơm nhìn Lộc, thấy em ăn, Phúc không cầm được nước mắt.

– Sao chị hai khóc vậy? Hay do em ăn nhiều?
– Không phải chị khóc đâu, khói làm chị chảy nước mắt đó, em cứ ăn no đi.
Ăn xong, hai chị em vội vàng thủ tiêu ngay mọi chứng cứ và phi tang hiện trường, rồi leo lên giường ngủ, xem như không có chuyện gì xảy ra.

Lần chia tay này, Phúc quyết định theo mẹ, nhưng chẳng bao lâu sau, cha mẹ lại làm lành với nhau, kết quả của lần làm lành này, một mầm sống mới xuất hiện.

Lần đoàn tụ này cha tỏ ra là người biết quan tâm, làm mới lại mình, lo tu chí làm ăn, vài tháng sau một mầm sống mới được hình thành trong bụng mẹ. Một hôm, cha bàn với mẹ hãy để cha ra tỉnh ngoài kiếm công việc làm, chứ sống trong cái làng này không biết đến bao giờ mới cất đầu lên nổi. Mẹ gật đầu đồng ý, nhưng trên nét mặt phảng phất nỗi buồn buồn cộng thêm một chút lo lắng, mẹ lo không phải không có lí, bởi mẹ quá hiểu tính nết của cha, mẹ nói:

– Anh đi làm ăn là việc tốt, nhưng em sợ…
– Em sợ cái gì, sợ anh có bồ nhí, uống rượu hay cờ bạc? – Cha vừa cười vừa hỏi.
– Cái em sợ chính là ba cái đó.
– Ha ha em lo quá xa rồi đấy, anh bây giờ chứ không phải anh ngày xưa đâu, em hãy tin anh.
– Em cũng hi vọng như vậy.
– Không phải hi vọng, phải tin chắc chắn.
– Phúc con ở nhà nhớ lo cho các em, còn phải phụ giúp mẹ nữa đó. – Cha quay sang nói với Phúc.
– Dạ cha cứ yên tâm ạ!

Lời hứa của cha đã được giữ đúng, tháng thứ nhất, thứ hai, thứ ba, cha đều gửi tiền về, nhưng đến tháng thứ tư trở đi lời hứa đó đã bay theo mây gió, đã đi theo định luật vô thường. Nghe những người trong làng đi làm chung với cha về nói cha đã có vợ bé ở trên chỗ làm rồi, và họ đang sống rất hạnh phúc. Nghe vậy, mẹ buồn và lo lắm, nhưng mẹ nói mẹ không tin, hay cố tình không muốn tin sự thật đang lồ lồ trước mắt. Tin đồn đó chẳng mấy chốc bay khắp làng, nhiều người nói với mẹ hãy tới chỗ cha làm làm cho ra lẽ, nếu không người ta cho mình dễ bị bắt nạt. Nhưng, mẹ chỉ cười, nụ cười chua chát và xấu hổ, chứ không nói lời nào.

Không hiểu sao, lần mang thai này, mẹ thường xuyên ốm nghén, bệnh hoạn hoài không làm gì được, cuộc sống gia đình vốn dĩ đã khốn khó nay lại càng khốn khó hơn. Hơn năm tháng nay Phúc chưa được ăn bữa cơm có cá, thịt, chỉ toàn ăn rau luộc, dưa cà, cũng phải thôi, gạo còn không đủ ăn nói chi đến thịt cá. Mỗi khi ngồi xuống mâm cơm, thấy trong nồi chỉ toàn khoai, sắn, mẹ khóc, Phúc khóc, rồi hai đứa em cũng khóc. Cứ như vậy, thời gian trôi qua, nước mắt chan cơm gần 10 tháng.
Lần nọ, Phúc bị đói lả, mẹ đi làm, em nhỏ dại, không còn cách nào khác, Phúc chỉ biết ôm bé Thọ vào lòng nằm chờ, dân làng biết chuyện, liền chạy qua hỏi thăm, người đem cơm, người đem thức ăn, cho mấy chị em ăn, đây là lần đầu tiên sau gần 10 tháng Phúc mới được ăn bữa cơm ngon có được từ sự bố thí của người khác.

Chốc chốc mới đó mà mầm sống trong bụng mẹ đã 9 tháng 10 ngày, người xưa nói “trời sinh voi sinh cỏ”, không biết có đúng hay không, nhưng đứng về một khía cạnh nào đó của gia đình Phúc hoàn toàn chính xác, tuy suốt thời gian mang thai, mẹ chỉ ăn khoai sắn, rau, cà, thế mà thằng bé được sinh ra trắng trẻo, mập mạp, hết sức khả ái. Ngày đầy tháng mẹ đặt cho em tên Toàn, thế là Phúc đã có ba đứa em, với các tên rất sung túc Phúc – Lộc – Thọ – Toàn. Niềm vui chưa qua, nỗi buồn đã ập đến, đúng ngày đầy tháng của em, cha dẫn người tình của mình về giới thiệu với gia đình mà không hỏi qua ý kiến của mẹ, bắt Phúc phải gọi người ấy là “mẹ”. Phúc căm ghét cha, tại sao cha vô tình như vậy? Lại nuốt lời hứa của mình? Thấy thế, mẹ không thể chịu nổi, bèn quyết định ra tòa li hôn theo ý của cha, đây là lần chia tay thứ ba.

Mẹ dẫn Phúc và em Thọ, Toàn đi về bên ngoại. Ngày dọn đồ ra đi, em Lộc khóc nói “chị hai! Nhớ thường xuyên về thăm em ngen! Còn bé Thọ đừng đòi chị hai mua kẹo nghe chưa?” Bé Thọ không biết gì cả, chỉ ngơ ngác nhìn, Phúc ôm em vào lòng, rồi buông ra chạy thẳng, phía sau vẫn còn nghe tiếng văng vẳng của em
Lộc “chị hai! chị hai!”
Mẹ về nhà ngoại ở được một thời gian, cậu bán thiếu cho miếng đất, ngoại cho tiền làm nhà, các cậu mỗi người một tay, chẳng mấy chốc ngôi nhà được hoàn thiện, nói nhà cho có nói vậy, chứ thật ra chẳng khác nào trại canh vịt, nhưng dù sao có chỗ che nắng che mưa là tốt rồi. Hằng ngày Phúc vừa đi học vừa phải lo giữ em. Mẹ buôn bán xa, cho nên phải đi từ sáng sớm. Buổi sáng, sau khi cho em ăn uống xong, Phúc đeo cặp bồng em Toàn và dẫn bé Thọ về gửi cho ngoại, rồi đi học, trưa tan học ghé ngoại dẫn mấy em về, lo cơm nước, cháo lợn… Những lúc bình thường không nói làm gì, chứ khi trái gió trở trời, em bị bệnh, vất vả không gì tả xiết. Vì thiếu ăn, nên hai đứa em của Phúc bị suy dinh dưỡng thấy rõ, từ những đứa trẻ trắng trẻo, mập mạp, hoạt bát, bây giờ chỉ còn da bọc xương, lúc nào cũng ngây ngây, ngớ ngớ, ngẩn ngẩn. Thế mà mẹ lại thường xuyên đau ốm, làm một hôm phải nghỉ bốn năm hôm. Ôm em trong lòng, Phúc không cầm được nước mắt, mỗi lần nghe em khóc, lòng Phúc như kim châm muối xát, thằng bé cũng kì lạ, không chịu ai bồng hết ngoại trừ Phúc. Một tay bồng em, một tay nhóm bếp, nhiều lần chỉ nhóm bếp không vậy thôi, chứ có gì đâu mà nấu. Càng khổ, càng vất vả, lòng oán trách cha mẹ của Phúc cũng tăng lên cấp số cộng, rồi số nhân. Nhiều lần Phúc thầm trách “tại sao cha mẹ thích sinh con thế nhỉ? Đã không nuôi nổi thì đừng sinh nhiều.” Tuy khổ cực, nhưng Phúc thấy mình hạnh phúc hơn các em nhiều, vì Phúc có một quãng thời gian hạnh phúc, cuộc sống đầy đủ, sung sướng.

Đầu tháng 3 năm lớp năm.

Phúc quyết định nghỉ học, thứ nhất không có tiền đóng học phí, cứ hẹn nay hẹn mai với cô giáo hoài, thứ hai không muốn mình thêm gánh nặng cho gia đình, thứ ba cảm thấy học lực của mình càng ngày càng đi xuống, không đi xuống sao được, khi sống trong gia đình như vậy.

Chiều thứ bảy.

Lúc Phúc đang lúi húi dọn dẹp nhà cửa, bỗng nghe tiếng của Vũ mắt kiếng vọng vào:

– Phúc ơi! Có nhà không?
– Không thấy nó đang quét nhà sao mà hỏi, đồ con trai dư hơi. Lan xí muội nói.
– Ừ, tui kêu để Phúc chuẩn bị khỏi ngỡ ngàng khi thấy tụi mình vậy mà, bộ bà ganh tị à?
– Xí! Ê, ông nói ai tụi mình vậy, chẳng lẽ ông nói cả cô giáo cũng là tụi mình à? – Lan xí muội bắt phép.
– Xin lỗi cô, em không có ý đó. – Vũ mắt kiếng quay sang cô biện bạch.
– Thôi, hai em đừng cãi nhau nữa. Cô cười nói tiếp: – Cô không hiểu tại sao hai em nhà ở gần nhau, đi học lại đi chung, ngồi chung bàn, người làm lớp trưởng, người làm lớp phó mà sao thích gây nhau thế nhỉ?
– Cô không biết đấy, ngày nào tụi nó không gây nhau là nuốt cơm không vào, thật là thương nhau lắm cắn nhau đau. – Thuận sún xen vào.
– Ê, ông nói ai thương ai? – Lan xí muội hỏi.
– Tôi nói ai thương ai người ấy tự biết, có tật giật mình.
– È, tướng ông Vũ mắt kiếng đó hả, cho tui còn không thèm, ai mà thèm thương. Xí.
– Bà nói tướng tui sao? Bà đang ảo tưởng à, cỏ ngoài đồng tưởng hoa hồng trong chậu. È.
– Ông ông ông…
– Thôi, bạn Phúc ra đến rồi kìa. – Cô nói.
– Dạ em chào cô và các bạn ạ. Mời cô và các bạn vào nhà.
– Kìa Phúc! Phúc có khỏe không? Tại sao nghỉ học vậy? Nói cho Vũ nghe đi. – Vũ mắt kiếng chạy lại gần hỏi Phúc tới tấp.
– Ông tài lanh vừa thôi chứ, để vào đến nhà rồi hãy hỏi, mà phải để cô hỏi trước mới đúng. – Lan xí muội giở giọng người lớn.
– Kệ tui, bộ không hỏi bà bà ganh à?
– Xí.
– Dạ mời cô và các bạn ngồi, mời dùng nước.
Cô nhìn quanh một lượt, hỏi:
– Phúc à! Hôm nay mẹ em đi đâu?
– Dạ thưa cô! Mẹ em đi làm.
– Lâu nay mẹ, em và các em của em khỏe không?
– Dạ cảm ơn cô, vẫn bình thường.
– Tại sao mấy ngày nay không thấy em lên lớp?
– Dạ thưa cô…
– Em có chuyện gì khó nói à?
– Dạ… em tính nghỉ học luôn cô ạ! Nói đến đây Phúc cảm thấy mắt của mình cay cay, và hai dòng lệ từ từ rơi xuống.
– Tại sao nghỉ học? Có chuyện gì em có thể kể cho cô nghe được không? – Cô xoa đầu an ủi và kéo Phúc vào sát mình.
– Thưa cô! Em nghỉ học có nhiều lí do, mà lí do đầu tiên vì em không có tiền đóng học, mua sách vở.
– Tưởng chuyện gì, thứ hai em cứ đi học, học phí và sách vở của em để cô lo.
– Dạ, em cảm ơn lòng tốt của cô, nhưng em…
– Không có nhưng nhị gì hết, cứ quyết định như vậy. Thôi cô về, thứ hai nhớ đi học đó.

Phúc đứng dậy tiễn cô và cả lớp ra về. Vừa ra đến cổng, Vũ mắt kiếng quay lại “ê, tui quên, tui tính đem mấy trái ổi cho em của Phúc, nhưng nghe Phúc kể cảm động quá tí xíu nữa quên mất, Phúc vui lòng nhận cho.” “Phúc cảm ơn Vũ.” Phúc lí nhí trong miệng. Chờ cô và cả lớp đi về, đến khi không còn thấy họ nữa mới trở vào. Chiều nay trong lòng Phúc có cảm giác vui vui, nhưng xen lẫn một chút gì đó rất khó diễn đạt, Phúc hứa với mình phải quyết tâm học tập, để không phụ lòng tốt của cô và bạn bè.

Cuộc sống cứ lập đi lập lại như ngày và đêm, và Phúc cũng đã hoàn thành tốt cấp tiểu học. Phúc vẫn không quên được ngày chia tay, cô giáo nói “Các em yêu quí của cô! Cô biết trong quá trình dạy, đôi khi cô có phần nghiêm khắc, nhưng không phải cô ghét bỏ gì các em đâu, mà là thương các em đó, cô không muốn sau này các em trở thành những cục thịt di động, những con người bị xã hội lên án. Các em biết không, trong hơn mười mấy năm dạy học của mình, cô chưa từng gặp người học trò nào lại đặc biệt như bạn Phúc, tuy sống trong cảnh như vậy, nhưng bạn ấy đã cố gắng vượt qua, biết giúp đỡ mọi người, có tinh thần kỉ luật cao, thật đáng làm tấm gương cho chúng ta. Cô hi vọng, lên thêm một lớp, đồng nghĩa các em sẽ lớn thêm một tí, không chỉ lớn về thể xác, chiều cao, mà phải lớn cả đạo đức, trí tuệ. Đối với Phúc, cô hi vọng em sẽ vượt qua tất cả, hướng đến chân trời cao rộng đang chờ em phía trước.”

Mùa hè năm đó.

Cha mẹ quyết định về lại với nhau. Kết quả của lần về lại này làm Phúc mất em Thọ. Số là, bạn của cha có một người bà con đang ở nước ngoài, chuyến này họ về Việt Nam thăm quê, tiện thể kiếm một đứa con nuôi. Bởi hai ông bà đã trên 50 mà vẫn chưa có được mụn con. Ông bạn ấy đến bàn với cha:

– Anh ba à! Như tôi nói hôm bữa, chuyến về Việt Nam lần này của cô tôi là muốn kiếm một đứa con nuôi, thấy anh con đông, nhà cũng khó khăn, nên tôi muốn xin một đứa cho họ, không biết ý anh chị như thế nào?
– Nói thật với chú, chúng tôi cũng rất đắn đo, dù đông nhưng mất một cũng không thể chịu được. – Cha đắn đo suy nghĩ.
– Anh chị nghĩ coi, qua bên đó nó được ăn
ngon, mặc đẹp, được đi học, mà anh chị cũng có một số tiền. Bởi tôi và anh chị là chỗ thân tình, nên tôi mới giới thiệu, chứ còn người khác sức mấy.
– Tôi vẫn thấy lo lo thế nào ấy, vả lại không biết con bé có đồng ý không?
– Đồng ý hay không do anh chị quyết định, chứ con cái làm sao dám cãi cha mẹ. Thôi có gì sáng mai anh chị cho tôi biết tin, tôi có việc phải đi gấp, chào anh chị.

Đợi ông khách vừa quay lưng, Phúc chạy ra thưa với cha mẹ “không, con không muốn em con đi, con không muốn em con làm con nuôi người khác, nếu cha mẹ nuôi không nổi, con sẽ nghỉ học, đi làm lấy tiền nuôi em…”
Phúc chưa nói hết câu, mẹ nói: “Việc này để cha mẹ tính lại.”

Đêm đó, Phúc nằm giữa, em Lộc nằm bên trái, còn em Thọ nằm bên phải, Phúc hỏi Thọ:

– Thọ có thương chị hai không?
– Dạ có ạ!
– Nếu sau này chị em mình không còn gặp nhau nữa, Thọ có nhớ chị không?
– Dạ nhớ ạ!
– Thọ biết không, chị không muốn xa em chút nào hết. Nhìn cặp mắt ngây thơ, hồn nhiên của nó, lòng Phúc như kim châm muối xát, Phúc ôm em vào lòng thật chặt, không ngờ lần này là lần ôm cuối cùng của hai chị em Phúc.
Hôm sau, mới sáng sớm cha mẹ bảo Phúc dẫn em Lộc về ngoại chơi, đến chiều rồi hãy về, Phúc linh cảm hình như cha mẹ đang giấu mình việc gì đó, hay cha mẹ muốn cho em? Không, không thể nào, cha mẹ không thể nào nhẫn tâm đem núm ruột của mình cho người khác. Phúc nói:
– Sang nay con muốn ở nhà không muốn qua ngoại.
– Tại sao? – Cha hỏi.
– Con thấy hình như cha mẹ đang làm việc gì đó giấu con.
– Dở hơi à, có việc gì đâu.
– Hay cha mẹ tính cho em.
– Không đâu.
– Cha mẹ hứa rồi đó nghen!
– Ừ, đi chơi đi.

Phúc dẫn em Lộc về nhà ngoại chơi, sao hôm nay Phúc cảm thấy trong lòng xôn xao, khó chịu thế nào ấy. Đúng 16h30, Phúc dẫn em Lộc về, càng về gần đến nhà, Phúc càng có cảm giác như mất mát một thứ gì, vừa đến cổng Phúc gọi lớn: “Thọ ơi! Ra chị hai cho xoài nè!” Vẫn không nghe tiếng trả lời. Phúc gọi lại “Thọ ơi! Ra chị hai cho xoài nè!” Trong nhà vẫn im lặng, Phúc xô cửa chạy, hỡi ôi, em Thọ đã bị người ta đưa đi từ lúc nào. Phúc khóc thật nhiều, càng khóc Phúc càng căm giận cha mẹ, từ đó sợi dây tình cảm giữa Phúc và cha mẹ, rạn nứt dần, làn sóng truyền thông giữa họ bắt đầu đoản mạch.

Ngày đầu tiên của năm học cấp II

Phúc có một quyết định, cho mãi đến hôm nay, vẫn không biết quyết định của mình đúng hay sai, đó là quyết định nghỉ học, dù được cô giáo cũ, bạn bè khuyên nhủ, nhưng lần này Phúc vẫn giữ vững lập trường. Còn cha mẹ luôn bảo Phúc đi học lại, họ sợ sau này Phúc sẽ oán trách họ, nhưng Phúc nói “cha mẹ yên tâm, dù sau này có thế nào đi chăng nữa, con cũng không oán trách cha mẹ, không hối hận quyết định của mình.”

Ở nhà được nửa tháng, Phúc xin cha mẹ cho đi làm. Cha mẹ hết sức bối rối trước quyết định đi làm của Phúc, nhưng họ đành chấp nhận, vì không còn cách nào khác. Thế là cái vẻ ngây thơ, trong trắng của tuổi học sinh không còn nữa, thay vào đó là sự từng trải. Phúc bắt đầu bước đi những bước đầu tiên vào ngưỡng cửa cuộc đời khi tuổi vừa tròn đôi sáu.

Phúc đến tiệm chế biến gỗ ở huyện bên cạnh xin làm, công việc hằng ngày của Phúc là đánh giấy nhám và rửa những dụng cụ sơn quét, với lương tháng trừ cơm nước ra, Phúc được trả 120.000. Trong xưởng chế biến gỗ, Phúc là người nhỏ tuổi nhất, em rất ngoan, ai nói gì cũng vâng vâng dạ dạ, không bao giờ nói lại dù việc đó Phúc không có lỗi, nên được các anh chị trong xưởng rất thương, họ thường mua bánh kẹo, giày dép cho Phúc. Bởi sống trong cảnh toàn dân lao động ô hợp như vậy, nên chuyện gì Phúc cũng biết, mới có 12 tuổi đầu mà đã bị các anh chị nhồi nhét toàn chuyện của người lớn, các chị còn dạy Phúc những tuyệt chiêu đối phó với quỉ râu xanh, và rất nhiều chuyện linh tinh, nhảm nhí khác…

Tháng đầu tiên, sau khi được bà chủ trả lương, Phúc cầm tiền trên tay rưng rưng nước mắt, đây là những đồng tiền đầu tiên Phúc kiếm được bằng công sức của mình. Phúc lấy ra 20.000, mua hai đôi dép nhựa và một ít bánh kẹo về cho em, và đưa hết 100.000 còn lại cho mẹ. Đêm đó, Phúc trải chiếu ra ngoài sân ngồi chơi và ăn bánh kẹo chung với các em, tuy cuối tháng nhưng Phúc cảm thấy ánh trăng lòng tỏa sáng khắp muôn nơi, đột nhiên em Lộc nói: “Chị hai ơi! Không biết bây giờ em Thọ như thế nào nữa, có được ngồi ăn bánh kẹo không? Nếu đêm nay mà có em Thọ thì hay biết mấy chị nhỉ!” Lòng Phúc như se lại, ngồi im lặng trong giây lát, bất chợt Phúc thấy trong cổ mình có vật gì ngăn chận lại không thể thốt ra lời. Phúc kéo em Lộc và Toàn vào lòng, hôn lên trán chúng.

Sáng hôm sau, Phúc lại đến xưởng gỗ để làm việc tiếp. Ông bà chủ tiệm gỗ có một đứa con gái cũng trạc tuổi Phúc, thấy Phúc hiền lành, chịu khó, lễ phép, cho nên bà bảo Phúc hãy vào ngủ với con bà cho vui, đừng có ngủ ngoài nhà tập thể nữa. Phúc lưỡng lự không dám nhận lời, vì sợ người ta cho mình đèo bồng, nhưng trước tấm chân tình của ông bà chủ, đặc biệt là ông chủ, nên Phúc gật đầu đồng ý. Tuy con gái ông bà chủ bằng tuổi Phúc, nhưng chảnh lắm, luôn bắt nạt Phúc hoài, đêm đầu tiên nó đã giao “từ nay về sau, mỗi tối mày phải cột mùng, mỗi sáng phải xếp mùng, mền, chiếu, gối, quét nhà, và làm ơn đừng đụng bất cứ cái gì trong phòng này hết nghe chưa? Nếu thấy mất thứ gì thì tao nói mẹ tao đuổi cổ mày ngay đó.” Phúc vẫn cắn răng chịu đựng không nói không rằng. Con nít sống với nhau làm sao tránh khỏi những chuyện xích mích, gây gổ, mỗi lần như vậy, nỗi bất hạnh lại đổ lên đầu Phúc, những lúc này Phúc không còn khóc như ngày xưa nữa, hình như trái tim của em đã chai cứng, đối mặt với bất kì hoàn cảnh nào Phúc vẫn lặng thinh ngồi trơ người ra như muốn trêu ngươi người khác.
Mùa đông năm đó

Một hôm, bên nhà bà chủ có đám giỗ, bà và cô con gái về từ chiều, còn ông chủ ở lại coi xưởng sáng mai mới sang. Đêm đó, trời rét căm căm, bên ngoài mưa như xối nước, từng cơn gió bấc như tiếng gào thét của mãnh thú. Phúc nằm trên giường ôm tấm chăn bông dày, bỗng nhớ đến cha mẹ và các em, không biết bây giờ họ ngủ chưa, có đủ ấm không… Phúc lan man suy nghĩ cho đến thiếp đi lúc nào không hay. Đang ngủ, Phúc cảm giác như có người nào đó đang ôm mình. Giật mình, mở mắt, cây đèn ngủ tuy không sáng lắm, nhưng cũng đủ để Phúc nhận ra người đang ôm mình là ông chủ, cằm Phúc nghe rần rần vì bị những sợi râu ngắn mà cứng như chuổi tre quét vào, rồi có tiếng thì thào trong đêm vắng: “Ngoan đi cưng, đừng có la, bác sẽ cho cưng thật nhiều tiền, bằng không bác sẽ đánh và đuổi việc, nếu bị đuổi việc, cháu lấy tiền đâu giúp mẹ.” Sợ quá, Phúc khóc và xin ông hãy tha cho mình, càng khóc ông càng xiết chặt, đến nỗi Phúc những tưởng như mình sắp tắt thở. Phúc nói “nếu bác không buông ra cháu la đó”. “La đi la đi, thách mày la đó, mưa to gió lớn, mày có la rách cổ họng cũng không ai nghe, la đi la đi.” Ông thách thố với vẻ mặt vênh vênh tự đắc. Nói xong, ông hôn túi bụi và mặt Phúc. Trong lúc nguy cấp ấy, những chiêu các chị bày lại có tác dụng. Phúc dùng hết sức đạp mạnh vào cái của quí của người đàn ông, vì bất ngờ và đau, ngay tức khắc, ông buông Phúc ra và nhảy tưng tưng giống như người bị phỏng lửa. Nhân cơ hội đó, Phúc tông cửa chạy ra ngoài. Ngày xưa chị Dậu của Ngô Tất Tố cũng đã từng tông cửa chạy ra ngoài, trong khi trời tối đen như mực, không biết lúc ấy có mưa và rét không? Hôm nay Phúc cũng không khác chi chị, có khác chăng đó là cái rét của mùa đông và từng cơn gió bấc đập vào làn da non nớt của Phúc. Vừa chạy Phúc vừa la lớn, các anh chị công nhân nghe tiếng liền mở cửa chạy ra, sau khi vào phòng Phúc chỉ khóc và ngồi run cầm cập, chứ không nói được lời nào. Các chị người dẫn Phúc vào buồng thay quần áo, người nhen bếp lửa cho Phúc sưởi, khá lâu sau Phúc mới hồi phục và kể lại hết cho các anh chị nghe. Nghe xong, ai nấy đều rất tức giận, căm phẫn, nhưng họ đâu làm gì được, bởi họ không muốn mất việc, vì gia đình, người thương đang nương nhờ đồng lương của họ. Các anh chị khuyên Phúc chờ bà chủ về rồi tính.

Vài hôm sau, khi bà chủ về, các chị dẫn Phúc lên kể lại mọi chuyện cho bà, tưởng đâu cùng phận nữ nhi, vả lại bà cũng có con gái, chắc sẽ nhận được sự đồng cảm từ bà, nào ngờ bà chỉ vào mặt Phúc chửi: “Nếu mày không dụ thì sao chồng bà lại làm việc đồi bại như vậy? Mà ông ấy đã làm gì mày chưa?” Phúc chưa kịp trả lời, bà quay sang hỏi các chị dẫn Phúc đến: “Còn tụi bây, đứa nào đã đang và có ý định sẽ dụ dỗ chồng bà? Bà nói cho mà biết, đứa nào có ý định đó thì bà xé xác ra nghe chưa?” Chị Hạnh dẫn Phúc lên cũng đang có mặt nghĩ thầm: “Phật ơi! Một đứa con nít mà đi dụ con quỉ râu xanh tóc đã muối tiêu, không hiểu bà nghĩ sao lại hỏi như vậy, có phải suy bụng ta ra bụng người chăng???” Phúc chỉ biết đứng trân người như tượng, nghẹn ngào, hai dòng lệ bất chợt tuông trào chứ không nói được lời nào, thấy thế bà nói “khóc cái gì, oan cho mày lắm à? Đồ giặc, vừa ăn cướp vừa la làng, chính nuôi ong tay áo mà. Hứ.”

Phúc lấy hết can đảm đứng thẳng người lên, dùng tay quệt những giọt nước mắt còn đang lăn dài trên má, quyết định xin nghĩ việc. Trước khi Phúc quay lưng đi, bà bồi thêm “ừ, phải nghỉ thôi chứ mặt mũi nào mà làm nữa, đồ hạ tiện.”

Ở nhà được một tháng, Phúc lại xin mẹ cho ra Hà Nội làm. Phúc được người quen giới thiệu vào giúp việc cho một gia đình công nhân viên chức nhà nước. Mới bước chân vào cửa, cô chủ nhà ngồi trên bộ salông bóng loáng có thể soi thấy được những mảnh vá trên bộ đồ của Phúc, nhìn Phúc với ánh mắt đầy nghi ngờ, trong ánh mắt ấy còn ẩn chứa một chút gì đó khinh bỉ, coi thường. Cô ấy kề tai hỏi nhỏ người dẫn Phúc đến:

– Đứa bé này có đáng tin không?

– Em yên tâm, tuy gia đình nghèo nhưng nó rất tốt.

– Nói thế nào thì nói em cũng nghi ngờ quá, lỡ như nó…
Nói tới đây, cô dừng lại nhìn Phúc hỏi:

– Cháu học đến lớp mấy rồi?

– Dạ thưa, cháu học hết cấp I.

– Nhà cô công việc khá nhiều, vả lại có em nhỏ, cho nên hằng ngày cháu phải dậy lúc 5 giờ nấu cháo cho cháu, cơm nước cho cô chú, sau đó dọn dẹp nhà cửa, đi chợ, giặt áo quần, đến trưa nấu cơm, chiều tắm rửa cho em, cơm nước… Cháu thấy có làm nổi không?

– Dạ thưa, cháu sẽ cố gắng ạ!

– Mà còn nữa, đồ đạc trong nhà toàn đồ quí, làm việc gì cũng phải hết sức cẩn thận, nếu làm hỏng cô sẽ trừ vào tiền lương nghe chưa.

– Vâng ạ! – Phúc gật đầu với bao mối lo lắng trong lòng.
Một hôm, đang ngủ Phúc bỗng giật bắn người khi kim ngắn của đồng hồ đã chỉ số 7, còn kim dài vừa chạm số 3. Phúc vội vàng chạy xuống cầu thang, do không thấy đường nên Phúc đâm túi bụi vào vách tường, bởi từ trước đến giờ Phúc rất tôn trọng giấc ngủ của người khác, mỗi khi thức dậy, Phúc không dám bật điện và làm việc một cách hết sức nhẹ nhàng. Sau khi đặt xong nồi cháo cho em bé, Phúc ra xem đồng hồ thì bây giờ chỉ mới có hơn ba giờ mấy. Phúc thấy ngạc nhiên quá, liền mò lên lầu bật điện coi lại đồng hồ reo của mình, nhìn chiếc đồng hồ nằm chổng cẳng lên trời, té ra hồi nãy mới có 3h15, do Phúc xem ngược thành 7h15. Phúc chụp vội chiếc áo lạnh khoác lên mình, rồi xuống bếp coi nồi cháo, Phúc nghĩ bụng “giờ này mới có ba giờ mấy, ai bán thịt mà mua, thôi mình nằm trên ghế salông nghỉ một chút, chờ cháo chín rồi hãy đi mua”. Tít tít tít, tít tít tít, Phúc vội chụp tắt cái đồng hồ, có mùi gì khét khét, Phật ơi “nồi cháo”, Phúc chạy như ma đuổi xuống bếp, thôi rồi nồi cháo đã cháy đen cháy đỏ, bây giờ phải làm sao đây? Nếu cô biết được tiêu đời, hay là… một tia sáng bỗng lóe lên trong đầu cô bé nhỏ, Phúc vội đổ nồi cháo vào bịch ni lông, cột chặt, giấu vào kẹt tủ, rồi rửa sạch xoang nấu nồi khác.

Trong thời gian làm việc ở đây, Phúc có quen một chị lớn hơn Phúc 3 tuổi, chị cũng đi ở như Phúc, chẳng mấy chốc tình cảm hai người càng ngày càng sâu đậm, họ quyết định kết nghĩa chị em, có chuyện gì hai chị em cũng tâm sự cho nhau, kể cho nhau nghe tất cả những chuyện vui buồn của cuộc đời mình, nhưng họ chưa một lần được nắm tay nhau, chỉ được nhìn và nói chuyện với nhau qua khung cửa sổ, bởi ở thành phố mỗi khi đi làm hoặc đi đâu họ đều khóa trái cửa và người chủ cầm chìa khóa, còn người ở không được đi ra ngoài khi không có chủ ở nhà, và không được chủ cho phép, bây giờ nghĩ lại Phúc thấy rùng mình, nếu lỡ như hỏa hoạn xảy ra, không biết có bao nhiêu cuộc đời đi ở như Phúc bị thiêu trong lửa đỏ.
Ngày tháng cứ dần trôi, một hôm Phúc đang lau nhà, bỗng nghe tiếng quen thuộc từ nhà bên kia vọng qua:

– Phúc ơi Phúc!
– Dạ!
– Mau lại chị nói cái này.
– Dạ cái gì vậy chị?
– Bây giờ chị phải về quê gấp.
– Có việc gì vậy chị?
– Ở nhà gọi điện lên nói mẹ chị bị bệnh nặng.
– Xa chị em rất buồn, biết làm sao được, bởi phận làm con phải lo tròn hiếu đạo. À mà chị về nhớ thường xuyên viết thư cho em đó.
– Em cũng vậy. Ưm, có một chuyện chị muốn nói cho em lâu lắm rồi, nhưng chị sợ…
– Chuyện gì vậy chị?
– Chị thấy đi ở không phải cách tối ưu, em coi sau này có điều kiện nên học một cái nghề nào đó, làm thứ gì thì làm, nhưng mình đừng lệ thuộc vào người khác em ạ.
– Em cũng nghĩ như vậy, nhưng cha mẹ
quá nghèo, mấy em lại còn nhỏ dại, biết làm sao được hả chị? Dù thế nào, em cũng rất cảm ơn lời khuyên của chị, chị về cho em gửi lời thăm bác, em có một ít quà nhưng làm sao gửi cho mẹ chị đây?
– Không sao, chị thay mặt mẹ cảm ơn tấm lòng của em, chúc em luôn cố gắng, thôi đã đến giờ, chi đi nghen.
Dáng người nhỏ nhắn khuất dần sau khung cửa sổ, Phúc vẫn còn ngồi nhìn trân trân qua cửa sổ nhà bên kia, chợt sống mũi nghe cay cay.

Vào mùa đông năm đó, bỗng hai bàn tay của Phúc bắt đầu nứt nẻ, cô chủ chở Phúc đi khám, bác sĩ cho biết bị viêm da tiếp xúc, do Phúc tiếp xúc nhiều với hóa chất và xà bông, muốn chữa trị phải tốn rất nhiều tiền và thời gian, nhưng việc đầu tiên hạn chế tiếp xúc với nước và các hóa chất. Khi biết tin, Phúc rất buồn, bởi người ở thuê mà đôi tay không thể tiếp xúc với nước, kể như đã hết. Cô chủ chở Phúc về, vừa ra khỏi cổng bệnh viện chưa bao xa, hình như ông trời cũng đồng cảm với nỗi lòng của Phúc, nên ông cũng rơi lệ, nhưng ông rơi lệ lúc này thật không phải, chẳng những không chia sẽ nỗi lòng của Phúc, mà còn làm cho em khổ thêm. Cô chủ vội quẹo xe vào quán mua vội cái áo mưa 1500, cô mặc vào và tiếp tục lên xe chạy, hình như lúc ấy cô quên sự hiện diện của Phúc. Khi đến ngã tư đèn đỏ, có hai chị chạy xe đến bảo Phúc hãy lấy áo mưa của hai chị mặc, nhưng cô chủ lại không cho phép, thế là bữa đó Phúc đành làm chuột lột. Khi chạy qua khỏi đèn đỏ, cô chủ quay lại nhìn Phúc hỏi:

– Có lạnh không?
– Dạ có ạ! – Phúc lí nhí trả lời.
– Lạnh tại sao không nói?

Phúc không trả lời, chỉ thấy cổ họng đăng đắng, rồi từng giọt từng giọt nước mắt hòa quyện vào nước mưa lăn dài trên má.
Sau khi về, cử chỉ của cô chú rất khác thường, đầu tiên cô không cho Phúc nấu cơm, tắm cho em bé, và không cho đụng vào đứa bé. Khi ăn cơm xong, cô chú chủ nhà nói chuyện gì đó với nhau rất lâu, vừa nói họ vừa nhìn Phúc với ánh mắt khó hiểu. Nói xong, họ gọi Phúc lại nói:

– Cô chú rất hiểu hoàn cảnh của cháu, vả lại cũng rất thương tính chịu khó của cháu.

Nhưng… – Cô chủ nhà khựng lại.

– Xin cô chú cứ nói tự nhiên, cháu đã quen với vấn đề cô chú sắp nói ra rồi.
– Nếu cháu hiểu được vậy thì tốt, vậy cô nói thẳng, chiều nay cháu đã nghe bác sĩ nói rồi đó, cô những tưởng sẽ không nói lại làm chi nữa, đối với cô chú bệnh của cháu chẳng có gì đáng nói, nhưng con của cô chú thì khác, hằng ngày nó luôn chơi với cháu, cô sợ nó bị lây bệnh.

Nghe đến đây, Phúc rưng rưng nước mắt. Cô nói tiếp:

– Chắc cháu đã hiểu được nỗi khổ của người làm cha, làm mẹ như cô chú, thôi ngày mai cháu không cần làm việc ở nhà cô nữa, cô sẽ đón xe cho cháu về quê. À, hôm nay ngày mấy anh hà? – Cô quay sang hỏi chồng.
– Ngày 22.
– Thôi cô sẽ trả lương cho cháu thêm 8 ngày nữa và cho cháu thêm 200.000.
– Dạ cháu cảm ơn cô chú. – Phúc cảm ơn trong sự chua chát.
Lúc ấy, thằng bé con của cô chủ từ trên lầu
chạy xuống sà vào lòng Phúc, nó bảo Phúc cùng chơi trò bịt mắt bắt dê với nó. Ngay tức khắc, cô liền kéo thằng bé ra khỏi tay Phúc, cô nạt:
– Từ đây không được lại gần chị Phúc nghe chưa?
– Ứ ứ, con không chịu đâu, chị Phúc phải chơi bịt mắt bắt dê với con cơ. – Thằng bé nẩy người dùng dằng.
– Mẹ đã nói không được là không được, về phòng ngủ đi.

Cô vừa buông ra, thằng bé ngay tức khắc lại sà vào lòng Phúc. Cô lại kéo nó ra, phát vào đít mấy cái, khiến thằng bé khóc điếng. Cô làm hùm làm hổ:

– Về phòng ngủ đi.
– Hu hu… chị Phúc phải ru con ngủ cơ.
– Con ngoan, hôm nay cha sẽ ru con ngủ, chị Phúc không ru nữa. – Chú chủ nhà cầm tay thằng bé dỗ.
– Ứ, không chịu đâu, cha hát không hay.
– Vậy mẹ ru con. – Cô nhỏ giọng.
– Mẹ hát cũng không hay. Chỉ có chị Phúc
hát hay thôi.

Thấy thế, Phúc nhỏ nhẹ nói:

– Em ngoan, em về phòng ngủ đi, ngày mai chị sẽ chơi bịt mặt bắt dê với em, nếu em không nghe lời, chị không chơi với em nữa đâu! – Phúc nói với thằng bé trong sự nghẹn ngào.
– Được, được em đi ngủ, nhưng chị hứa ngày mai phải chơi bịt mắt bắt dê với em đó nghen! – Thằng bé vui vẻ đứng dậy đi lên lầu.
– Rồi, chị hứa!

Tối đó, Phúc không thể nào chợp mắt được, cứ vừa nhắm, là Phúc lại thấy đôi bàn tay của mình bị lở loét và bị cưa cụt, rồi Phúc lại khóc, khóc…

Ở nhà được một thời gian, tay cũng đã bớt, Phúc lại ra Lạng Sơn giúp việc. Ở đây vui cũng lắm mà buồn cũng nhiều, vui nhất là Phúc có thể làm ra tiền giúp đỡ cha mẹ, bởi lương ở đây khá cao, còn buồn là cô chú chủ nhà đối xử với người ở rất bạc, họ cứ ngỡ có tiền là có tất cả, có thể làm bất cứ cái gì mình thích. Hằng ngày Phúc phải đảm đương tất cả mọi công việc trong nhà từ lớn chí bé, phải thức khuya dậy sớm, lo phục vụ mọi người, thế mà đôi khi lại bị mắng như tát nước vào mặt, những lần như thế, chỉ có nước mắt là người bạn đồng hành, là dụng cụ để trút bầu tâm sự, khóc riết rồi nước mắt của Phúc cũng cạn dần cạn dần, ngày trước mỗi khi khóc nước mắt ra rất nhiều, và có vị mặn mặn, nhưng bây giờ thì khác, không ra nhiều nữa, bên cạnh vị mặm quen thuộc, lại còn thêm vị chua chát, đắng cay.

Một đêm nọ, đang ngủ bỗng Phúc giật mình, vì tiếng xào xạc của lá cây, trời bắt đầu se se lạnh, hơn ai hết, Phúc cảm nhận được mùa đông đã đến, nghĩ đến mùa đông, ngay lập tức cặp mắt và tâm của Phúc nhìn ngay vào đôi bàn tay nhỏ bé, gầy guộc, Phúc thầm nguyện “xin cho bàn tay của con đừng tái phát.”

Một ngày, hai ngày, ba ngày

Phúc thấy mừng mừng, mỗi buổi sáng khi thức dậy, việc đầu tiên là Phúc nhìn xuống đôi bàn tay. Sáng ngày thứ tư, vừa thức dậy, Phúc cảm giác bàn tay của mình buôn buốt, có những đường rạn nứt li ti, thôi rồi không còn hi vọng gì nữa, kì lạ, sao đôi bàn chân cũng có cảm giác và dấu hiệu rạn nứt như vậy, nỗi bất an tràn ngập lòng Phúc, cho dù Phúc đã chuẩn bị sẵn. Trời càng vào đông, những đường rạn nứt càng sâu, máu bắt đầu rỉ ra, mỗi khi nhúng tay vào nước, đau buốt không thể chịu được, lại còn cái chân nữa chứ, không biết chúng học ở đâu, cũng đồng loạt biểu tình, thế mà mỗi sáng, trước khi xuống giường, chúng luôn nói:

– Chị chủ nhỏ bé của em ơi! Bộ chị không thương em à, chị có biết mỗi lần chị bước xuống giường em đau nhức lắm không? Chị có thể bước xuống trê trễ một chút được không?

– Làm sao không bước xuống được? Chị đâu muốn mất việc, em thông cảm cho chị nha! Để chị nghĩ cách xem. À có rồi! – Trái tim của Phúc nói chuyện với chân.

– Cách gì vậy chị?
– Mỗi sáng chị sẽ không đi nữa, mà chị sẽ ngồi xuống đất lết đi, được không?
– Hay quá, hay quá!
– Ứ, em không chịu như vậy đâu, chị
không công bằng, chị là người xấu. – Tay phản đối.
– Thôi mà cưng, đừng làm khó chị! – Phúc năn nỉ đôi bàn tay.
– Chị bất công, anh chân mới bị tí xíu chị đã cưng ảnh rồi, còn em, chị không thương em, chị không nghĩ gì đến em cả. – Đôi bàn tay giận lẫy.
– Sao cưng lại nói vậy?
– Không phải sao, sáng nào chị cũng nhúng em vào nước lạnh, buốt ơi là buốt.
– Không, không phải chị binh anh chân đâu, em nghĩ coi trách nhiệm của anh ấy nặng hơn chúng ta nhiều, anh ấy phải chịu đựng trọng lượng cả chị em mình, lại còn phải di chuyển, đôi khi bị đạp gai, đạp đinh. Thôi đừng buồn nữa nghe cưng. – Phúc thương lượng.

Sau khi được Phúc giải thích cặn kẽ, hợp tình hợp lí, tay mới chịu bỏ qua. Từ đó, mỗi khi thức dậy, Phúc phải lết từ trên lầu ba xuống bếp, cuộc sống đối với Phúc, phủ đầy nước mắt và nước mắt.
Một đêm nọ, khoảng hơn 24h, khi Phúc đang ngủ, nghe có tiếng cô chú chủ nhà gọi cửa, Phúc lập tức bước xuống giường, và lết từ trên lầu ba xuống, khi xuống tới bờ hè, Phúc đứng dậy đi, bất chợt bị trượt chân lăn mấy vòng, thế mà còn bị mắng:

– Mày đi không nổi à? Để tao phải đợi sắp chết cóng đây.

– Dạ cháu xin lỗi ạ! Phúc chỉ cúi đầu nói nho nhỏ.

– Mày không biết nói câu nào ngoài câu xin lỗi à? Đồ ăn hại.

Phúc nhớ từng nghe được lời dạy của cổ đức: “Người có ý chí phi thường, phải có sức chịu đựng phi thường, mới làm được việc phi thường.” Nhưng thiết nghĩ, tức nước phải vỡ bờ, đây là định luật hết sức tự nhiên, vả lại sức chịu đựng của con người có giới hạn, đặc biệt với cô bé chưa đến tuổi trăng tròn. Ngày nào Phúc cũng làm việc trong sự đau đớn và nước mắt, nhưng nào ai có biết cho chăng? Từ trước đến nay, người ta vẫn thường nói “nghề nào cũng tốt, miễn không trái với lương tâm là được, đi ở không xấu, nghèo không phải cái tội.” Những lời này Phúc nghe đến thuộc lòng, nhưng nói để mà nói vậy thôi, chứ họ đâu có giờ phút nào sống trong hoàn cảnh của Phúc? Làm sao họ biết được cái khó khăn, tủi nhục của người đi ở? Làm sao biết được sự tủi nhục khi làm sai việc gì đó, người ta không ngại lôi cha mẹ mình ra chửi mắng? Làm sao biết được cảnh chị em Phúc đói lả mà trong nhà không có lấy một hạt gạo? Làm sao cảm nhận được cảnh chị em Phúc phải uống nước trừ cơm? Cảnh em Lộc thót tim khi nghe tiếng động, ngỡ mẹ xuống? Phúc không bao giờ trách họ, chỉ mỉm cười và cảm ơn khi được an ủi như vậy. Vì miếng cơm manh áo, vì cần tiền để các em có cuộc sống tốt đẹp hơn, Phúc không ngại gian khó, không quản tủi nhục, cố gắng nhẫn nại hết sức. Nhưng cũng chỉ được một thời gian, bởi Phúc không chịu được những lời nói khóe, xúc phạm đến cha mẹ khi mình làm sai điều gì. Phúc đã nhiều lần thưa với họ “cô chú thông cảm, cháu còn quá nhỏ, nếu như cháu có làm sai việc gì, mong cô chú dạy bảo, nhắc nhở, la rày, nhưng xin cô chú đừng xúc phạm đến hai đấng sinh thành của cháu, bởi họ không có lỗi, mong cô chú hiểu cho.” Những lần như vậy, Phúc chỉ nhận được một câu vỏn vẹn sáu chữ “tao thích xúc phạm thì sao?” Phúc thấy cứ tiếp tục như thế này không phải cách, nếu sống chung không thấy có hạnh phúc, không thấy có niềm vui, không hiểu và thương nhau, mà chỉ toàn gây đau khổ cho nhau, chi bằng đừng sống nữa, thế là Phúc quyết định xin nghỉ việc. Vừa bước chân ra khỏi ngôi nhà đó, Phúc thề với lòng, từ đây về sau dù có thế nào tuyệt đối cũng không đi ở cho ai nữa.

Ở nhà được một thời gian, tay cũng đã bớt. Một hôm, có người ở làng bên nói với cha mẹ Phúc, cho Phúc qua nhà giúp việc cho bà, mẹ gọi Phúc lên bảo xếp áo quần đi theo bà đó, Phúc dõng dạc trả lời: “Thưa mẹ! Không, con sẽ không bao giờ đi giúp việc nữa, chẳng lẽ cha mẹ muốn con suốt đời hầu hạ người khác sao?” Khi nghe Phúc trả lời như vậy, cả cha mẹ đều lặng thinh, không nói thêm lời nào.

Năm sau

Khi Phúc vừa tròn đôi tám. Một hôm, chú của Phúc ở Vũng Tàu ra thăm nhà, thấy hoàn cảnh Phúc tội quá, ông tính giúp đỡ, nhưng hoàn cảnh hiện tại của ông cũng không khá giả gì cho mấy, suy nghĩ một lúc, bỗng khuôn mặt ông rạng rỡ, mỉm cười nói:

– Có rồi, có rồi, chú sẽ gọi điện cho bác cháu, bác cũng ở Vũng Tàu, nhà bác khá giả lắm, con sẽ vào ở với bác. Đồng ý không?

– Dạ thưa! Vấn đề này tùy cha mẹ con quyết định. – Phúc lí nhí trả lời.

– Sao anh chị có bằng lòng cho Phúc vào Vũng Tàu không?

– Nếu chú đã có lòng thương tưởng đến anh chị, giúp cháu, thế thì còn gì bằng. – Cha Phúc trả lời.

– Nhưng bác đã vào đó trước khi giải phóng, không biết bây giờ ra sao, vả lại còn bác gái và các anh chị nữa, con sợ… – Phúc nói với vẻ ngần ngại.

– Không sao, không sao, cháu yên tâm, bác dễ lắm, sống rất rộng rãi, thường hay giúp đỡ người nghèo, nghe nói đang làm trong hội từ thiện gì đó, người ngoài mà còn giúp đỡ huống gì cháu con trong nhà, bác chỉ có độc một đứa con gái thôi. Đừng sợ chú đã hứa thì chú phải lo tới nơi tới chốn. – Chú vỗ vỗ vào vai Phúc nói.

Tuy được chú động viên, nhưng trong lòng Phúc vẫn thấy ngại ngại, lo lo thế nào ấy, mỗi lần nghĩ đến cảnh ở nhà bác phải đối diện với bao vấn đề phức tạp, rồi cách sống trong đó không như ngoài này, không biết mình có thích ứng không… chỉ cần như vậy đã làm Phúc ăn không ngon, ngủ không yên rồi.
Một tuần sau

Phúc theo chú vào Vũng Tàu. Nhưng mới đến Vinh phải quay về, vì xe có vấn đề, họ hẹn nửa tháng sau sẽ đi. Phúc mừng còn hơn được vàng. Vì công việc gấp, chú phải đi máy bay vào trước, bảo Phúc ở lại vào sau. Nửa tháng, 15 ngày, 360 giờ, 21.600 phút, là thời gian không quá dài đối với đời người, nhưng cũng không quá ngắn, thế mà Phúc cảm giác nó chỉ trong nháy mắt. Mỗi đêm nằm xuống Phúc không dám chợp mắt, vì sợ thời gian qua đi, rồi một ngày, hai ngày, ba ngày… thời gian cứ vô tình lăn, để lại những vết lằn hằn sâu trong tâm Phúc. Những ngày này Phúc không đi đâu cả, suốt ngày quanh quẩn bên các em, chăm sóc, dạy dỗ, nô đùa với chúng, Phúc lôi hết tất cả quần áo của các em ra giặt, cái nào rách Phúc nhíp lại, rồi xếp gọn bỏ vào tủ. Đang mải mê giặt, bỗng Phúc dừng lại, khi bốc trúng cái áo của bé Thọ, Phúc cầm cái áo trên tay mà lòng đau đớn như dao cắt, không biết em Thọ đang ở phương trời nào, đã mấy năm rồi vẫn bặt vô âm tín, không biết nó được khỏe không, có được đi học không?… Trong đầu Phúc hình thành 1001 câu hỏi có chữ “không”, mãi khi nghe tiếng nước mắt rơi vào trong thau đồ, Phúc mới giật mình biết là mình đã khóc từ lúc nào không hay. Lúc ấy, cu Toàn vừa đi chơi về, thấy

Phúc khóc, nó chạy lại ôm cổ hỏi:

– Chị hai! Sao chị hai khóc vậy? Ai ăn hiếp chị hai à?

Phúc không nói được lời nào, chỉ lắc đầu và hôn thật mạnh vào má em.

Cuối cùng ngày định mệnh, ngày Phúc không mong đợi cũng đã đến, Phúc cảm giác chuyến đi này có cái gì đó không như những chuyến đi trước, bước lên xe mà lòng buồn rười rượi, hai chân nặng trĩu như đeo chì. Trước khi xe chuyển bánh, Phúc ngoái lại nhìn quê hương, cha mẹ, các em lần cuối, những giọt lệ trong khóe mắt tràn ra tự lúc nào, trong giọt lệ mang cái buồn man mác, xen lẫn một chút trách hờn. Bất chợt bác tài xế mở bài nhạc Quê Hương “Quê hương là chùm khế ngọt, cho con trèo hái mỗi ngày, quê hương là con diều biếc, tuổi thơ con thả trên đồng…” càng làm cho Phúc buồn da diết, xe chạy chưa được bao xa, Phúc bắt đầu thấy say xẩm mặt mày, và ói, cứ như thế, suốt đoạn đường từ nhà vào Vũng Tàu, Phúc ói đến mấy chục lần, càng ói càng mệt, Phúc chỉ mong sao cho mau đến, nhưng khi gần đến Phúc lại cảm thấy sợ sợ, khi nghĩ tới rồi đây mình sẽ làm gì trên đất khách quê người, nơi mình chưa từng một lần dám nghĩ sẽ đến, Phúc cũng không hiểu mình nữa, tại sao mình lại mâu thuẫn thế nhỉ. Biển ý cứ trào dâng trong đầu. Bất chợt Phúc nghe bác tài gọi:

– Ai xuống ngã ba Vũng Tàu chuẩn bị.

Phúc từ từ kéo chiếc túi xách ra khỏi chỗ mình ngồi. Vừa bước xuống ngã ba Vũng Tàu, Phúc cảm thấy lạc lõng giữa biển người bao la đang hối hả, vội vã đi đi lại lại. Một chú xe ôm chạy lại hỏi:

– Cháu đi đâu chú chở cho.

– Dạ thưa chú! Từ đây về Vũng Tàu còn xa không ạ?

– Cháu lần đầu tiên vào đây à?

– Dạ phải.

– Còn khoảng gần 100 km.

– Thưa chú! Cháu có thể xuống đó bằng phương tiện gì?
– Nghe giọng nói, nhất định cháu là người miền ngoài, cháu đừng cho rằng chú khinh cháu, thấy cháu ăn mặc như vậy, chắc gia đình cũng khó khăn lắm, nói thật chú cũng là người miền ngoài, nên chú hiểu được cuộc sống ngoài đó, vậy để chú đón xe cho cháu đi, chứ đừng đi xe ôm tiền không chịu nổi đâu.
– Dạ cảm ơn chú. – Phúc vòng tay cúi người cảm người chú xe ôm.
Chú xe ôm liền ngoắc xe khách Saigon – Vũng Tàu lại, sau khi thương lượng giá cả, chú ấy bảo Phúc lên xe, vừa bước lên, chú ấy gọi lại:
– Chú quên dặn cháu, có tiền bạc, hoặc vật gì quí thì giữ kĩ, khẻo bị móc túi đó.
– Dạ cháu cảm ơn chú nhiều.
– Ừ, thôi đi đi.

Phúc cúi đầu chào người xe ôm tốt bụng một lần nữa, rồi bước vào. Chiếc xe cứ bon bon chạy, còn lòng Phúc cứ phập phồng lo sợ. Phúc ngồi sát cửa sổ, mở cửa sổ, nhìn ra ngoài, từng làn gió nhẹ nhàng hôn lướt qua mặt, nó còn nghịch ngợm thổi tung mái suối tóc óng mượt chấm ngang lưng của Phúc. Khi tới Long Thành, Phúc thấy người ta trồng cây gì mà thẳng tăm tắp, lại còn treo mấy cái bát lơ lửng trên thân, Phúc rất muốn biết đây là cây gì, nhưng không dám hỏi ai, bỗng những người khách trên xe nói chuyện với nhau:

– Tụi bây xem, cao su ra lá non đẹp ghê, cảnh này chẳng khác nào trong phim Hàn Quốc.

– Thôi đi bà, khéo tưởng tượng. – Người con trai ngồi bên nói.

– Bộ ông không mê phim Hàn Quốc à?

– Mày thông cảm, nó mê phim Hàn Quốc, nhưng nó không có thời gian coi cảnh đâu, mà nó mê cái khác kìa. – Một chị ngồi ghế bên cạnh nói qua.

– Duōshì (nhiều chuyện), ai bảo bà nói kia chứ?

– Không phải vậy sao?

Thế là cả bọn cùng cười lên. Còn riêng Phúc, nhờ thế mới biết cây này là cây cao su. Mãi ngắm cảnh, Phúc cũng quên mất nỗi lo lắng của mình, và thiu thiu lúc nào không hay. Bất chợt chiếc xe dừng lại, Phúc mở mắt nhìn, thấy chữ “BẾN XE VŨNG TÀU” to tướng, thì ra đã đến nơi. Phúc kéo túi xách ra, xuống xe, và vào chỗ điện thoại công cộng gọi cho chú, gọi đi gọi lại nhiều lần, nhưng vẫn nghe câu nói quen thuộc và đáng ghét: “Số máy quí khách vừa gọi không liên lạc được, xin vui lòng gọi lại sau.” Đợi gần nửa tiếng vẫn không gọi được, thế là Phúc quyết định một mình đi đến nhà bác. Phúc móc tờ giấy ghi địa chỉ nhà bác đưa cho chú xe ôm, nhờ chú chở đến đó. Chiếc xe chạy vòng vòng, từ Bãi Sau ra tới Bãi Trước, khoảng 15 phút sau, chiếc xe dừng lại trước ngôi nhà đúng như trên giấy đã ghi. Phúc xuống xe, cầm địa chỉ coi lại một lượt nữa. Chú xe ôm hỏi:

– Có phải nơi này không?
– Dạ cháu cũng không biết nữa.
– Tại sao lại không biết?
– Dạ, cháu vào lần đầu tiên ạ!
– Đâu đưa địa chỉ chú coi lại thử. Đúng nơi này rồi đấy. Thôi chú đi nha.
– Dạ cảm ơn chú ạ!

Nhìn ngôi nhà ba lầu, sang trọng, tường cao, cửa kín, cột cổng được áp đá hoa cương, khiến cho Phúc càng thấy sợ hãi. Lưỡng lự một lúc, rồi quyết định gõ cửa.
– Dạ thưa có bác ở nhà không ạ!
– …
– Dạ thưa có bác ở nhà không ạ! – Phúc gõ đến lần thứ ba, thứ tư.
– Ai đấy? – Tiếng người phụ nữ giọng miền Nam vọng ra.
– Dạ cháu là Phúc đây ạ!
– Phúc nào?

Phúc chưa kịp trả lời bà đã mở cổng. Nhìn dáng người mảnh khảnh và bộ đồ bạc màu của Phúc, bà có vẻ nghi ngờ. Bà nói lớn:

– Tại sao không bấm chuông mà gọi?
– Cháu chào bác! Dạ thưa bác! Cháu không
biết ạ!
– Vậy cô là ai, đến đây làm gì? Nhưng nói trước cho mà biết nhé, nếu đến xin tiền thì mau cút đi.
Tự nhiên Phúc thấy sống mũi cay cay, cổ họng như có cái gì đó chận ngang, không thể thốt nên lời. May quá, đúng lúc chú vừa đến. Thấy Phúc chú nói:
– Chiều nay chú bận chút việc, làm xong liền đến bến xe đón cháu, không gặp, chú định đến đây coi thử, may quá gặp cháu ở đây.
– Dạ, chào chú. – Phúc lễ phép chào.
– Chị à! Đây là cái Phúc con anh Bốn, mới vào đấy!
– Anh Bốn nào hè?
– Anh Bốn Hùng chứ còn anh Bốn nào nữa.
– Anh Bốn Hùng… Phải chú Bốn Hùng có con bán cho người nước ngoài không?
– Dạ đúng rồi ạ!

– Lâu dữ hông, tí xíu nữa chị quên mất. Thôi vào nhà, vào nhà.

Người bác vô tình khơi dậy kí ức mà Phúc cố tình cho vào kho tàng quên lãng. Lòng tự ái, nỗi nhớ nhà, nhớ em lại dâng lên như sóng cuộn, thác trào. Phúc lặng lẽ cầm túi xách bước vào nhà như cái xác không hồn.

Tối đó, khi bác trai về. Chú và hai bác nói chuyện gì đó rất lâu, đến gần 22h, chú gọi Phúc xuống dặn dò:

– Từ đây cháu ở với hai bác, nhớ nghe lời, ngày mai chú sẽ kiếm nghề gì đó cho cháu học. Thôi chú về nghen.
– Dạ chú về cẩn thận. – Phúc đứng dậy chào chú.
– Em về anh chị.
– Ừ chú về.

Phúc tiễn chú ra tới cổng, trước khi nổ máy, chú nói nhỏ trong tai Phúc:

– Chú rất thương cháu, nghẹt nỗi kinh tế gia đình chú lại quá eo hẹp, nếu không chú sẽ dẫn cháu về nhà chú ở. Thôi ở với bác cũng được, nhưng nhớ rằng phải hết sức chịu đựng, đối với bác trai không có gì cả, còn đối với bác gái và chị Hồng (con bác), cháu phải hết sức giữ
ý. Chú về nghen.

– Dạ cháu cảm ơn chú.

Quả thật như chú nói, bác trai tính tình hiền từ, dễ mến, rộng lượng, nhưng còn bác gái ngược lại, đặc biệt chị Hồng, ỷ mình con nhà giàu nên ta đây lắm. Miễn đi học thì thôi, chứ còn ở nhà là sai Phúc làm hết việc này đến việc khác. Từ ngày có Phúc, Hồng đã trở thành bà chủ, mỗi sáng bắt Phúc phải lau phòng, xếp mền mùng, chà giày dép… đôi khi không muốn đi xuống nhà bếp ăn cơm, lại bảo Phúc phải bê cơm lên tận phòng, ăn xong sai Phúc bê xuống, dọn rửa, nói chung Phúc phải làm tất cả những gì liên quan đến đời sống của Hồng. Nhiều khi Phúc cảm thấy tủi thân, xét ra chị ấy cũng đâu lớn hơn mình là mấy, thế mà đôi lúc lại lên mặt dạy đời, nhưng Phúc vẫn cố nhẫn nhịn cho qua ngày đoạn tháng. Mỗi đêm, khi nghĩ đến cuộc đời của mình, Phúc lại khóc, càng khóc Phúc càng oán ghét cha mẹ, tại sao cũng con người, mà họ lại sống sung sướng như vậy, hạnh phúc như vậy, được cha mẹ thương như vậy, còn Phúc thì……

Ba ngày sau, chú đến hỏi Phúc có muốn học nghề chăm sóc sắc đẹp không. Phúc nghĩ “học nghề này làm gì, sau này về quê biết làm cho ai, trong khi mọi người ở quê đều dân lao động, suốt ngày ở ngoài ruộng, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, họ chăm sóc sắc đẹp làm chi.” Phúc đang lưỡng lự, chú nói “nghề này bữa nay kiếm được nhiều tiền lắm, sau này ra nghề cháu có thể ở đây làm việc luôn không về quê nữa.” Phúc nghĩ “thôi thì nghề nào cũng tốt, miễn kiếm được nhiều tiền giúp cha mẹ, lo cho các em là được, vả lại Phúc muốn đi học sớm, để ít gặp mặt chị Hồng.” – Phúc gật đầu.

– Được, ngày mai chú chở cháu đến đó học. Cô chủ ở đó tội lắm, đối xử với người đến học y như con mình vậy, cô lo cơm trưa, buổi trưa cháu khỏi cần về nhà. Nhưng nhà đó họ theo Phật giáo, ăn chay trường, không biết cháu có thích hợp được không. Nếu thấy không thích hợp, buổi trưa về nhà chú ăn cơm. – Chú nói.

– Ăn chay? Ăn chay là ăn thế nào vậy chú?

– Họ chỉ ăn rau, đậu hủ, chứ không ăn thịt cá. Thôi ngày mai chú chở đến rồi biết.

Đêm đó, Phúc không sao ngủ được, lăn qua lăn lại, em hình dung người thầy ngày mai của mình chắc to lớn lắm, khó lắm, bởi trước giờ những người chủ của Phúc đều hết sức khó chịu. Đồng hồ đã điểm 12 tiếng, thế mà mắt Phúc vẫn mở trao tráo, như bị cái gì chống lên vậy, không thể nhắm lại được, Phúc nói với nó “ngủ giùm đi, ngày mai là buổi học đầu tiên, nếu ngủ gục thì thôi rồi lượm ơi.” Mắt nghe vậy cũng động lòng trắc ẩn, chưa đầy năm phút sau nó đã nhắm tịt lại rồi. Trong giấc mơ, Phúc thấy người thầy của mình to lớn, hung dữ, khó chịu, luôn càm ràm, la mắng…

Đúng 7h sáng, chú sang chở Phúc đi học nghề, sau khi thưa hai bác đâu vào đó, Phúc đi theo chú. Gần 20 phút sau, chiếc xe dừng lại trước ngôi nhà 3 lầu cũng sang trọng không kém gì nhà bác. Chú thò tay lên bấm chuông, ngay tức khắc có người ra mở cửa, dáng người nhỏ nhắn, miệng mỉm cười, đôi mắt hiền hiền, nhìn Phúc cười. Phúc không còn tin vào mắt mình nữa, lần đầu tiên trong đời có người nhìn mình với ánh mắt đầy tình thương và cảm thông như vậy. Phúc vội cúi đầu chào người ấy, nghĩ trong đầu chắc có lẽ đây là người ở. Người ấy mời chú và Phúc vào nhà. Sau khi vào nhà, chú mở lời:

– Thưa chị! Đây là cháu Phúc mà em đã kể cho chị hôm bữa, nay em dẫn cháu đến để học nghề, trăm sự nhờ chị.

– Chúng ta là chỗ quen biết, cần gì khách sáo vậy! – Người phụ nữ gạt tay, mỉm cười nói.

– Phúc à! Đây là thầy dạy nghề cho cháu đó. Cháu đứng dậy nhận thầy đi. – Chú quay sang nói với Phúc.
Phúc không nghe lầm đó chứ, chẳng lẽ đây là thầy dạy nghề cho mình sao. Phúc run run đứng đậy. Cô liền nói:
– Không cần, không cần, cháu cứ ngồi tự nhiên. Cô đã nghe chú giới thiệu về cháu, cô rất thương hoàn cảnh của cháu, từ ngày nay cháu ở đây học nghề với cô. Nhưng cô nói trước, nhà cô ăn chay, nếu buổi trưa cháu thấy không hợp khẩu vị, có thể đi về nhà.

– Dạ cháu cảm ơn cô, cháu sẽ thử.

– Thế là bước đầu tiên đã xong. Thôi thì mất lòng trước khỏi mất lòng sau, chị cho biết luôn giá cả khi học xong nghề là bao nhiêu, để cho em còn lo liệu. – Chú mở lời.

– Chú đã có ý thì chị cũng nói luôn, đối với
mọi người, chị cũng lấy chút ít, gọi là tiền mua dụng cụ để thực hành. Nhưng đối với người có hoàn cảnh đặc biệt như Phúc, chị sẽ không lấy đồng nào cả.

– Thế thì trăm sự nhờ chị.

– Em yên tâm, người nào chị đã nhận thì xem họ như con em của mình, sẽ truyền trao tất cả những gì chị biết.
– Vậy em xin phép về.
– Em về cẩn thận.
– Chú về nghe Phúc, ráng ở học nghề, chiều chú sang chở về.
– Dạ chú đi cẩn thận.

Phúc được cô chủ dẫn vào giới thiệu với các chị trong chỗ làm, Phúc được các chị chào đón, như chào đón người em của mình. Nhưng Phúc vẫn cảm thấy xa lạ, vì thân phận thấp hèn của mình. Phúc được cô và các chị tận tình chỉ dạy, cộng thêm tính cần cù, chịu khó, ham học, nên tiến bộ rất nhanh. Càng ngày Phúc càng thích nghi hơn với cuộc sống và hòa nhập hơn với mọi người.

Suốt đời Phúc cũng không bao giờ quên được cảm giác ngày đầu tiên ăn cơm, cô nói “ăn cơm trong chính niệm”. Sau khi ngồi vào bàn, các chị dạy Phúc phải ăn cơm bằng muỗng và gắp bằng đũa, và tuyệt đối không được nói chuyện, cười đùa trong bữa cơm. Phúc cảm thấy sao gò bó thế, ở nhà trong bữa cơm Phúc muốn ăn thế nào thì ăn, càng nói cười càng chứng tỏ trong nhà đang hòa thuận, có chuyện vui, chỉ có những hôm cha mẹ gây lộn mới không nói cười trong bữa cơm mà thôi, những lúc như vậy, Phúc thấy nặng nề và khó chịu quá. Nhưng kì lạ, càng ngày những bữa cơm im lặng lại làm cho Phúc thấy hạnh phúc, sung sướng vô cùng. Cứ mỗi tháng cô cho nghỉ hai ngày để lên chùa học và thực tập giáo lí của đức Thế Tôn, nếu có lễ lớn như Phật Đản, Vu Lan… cũng được nghỉ để lên chùa làm công quả, bù lại phải học luôn cả bốn ngày chủ nhật trong tháng. Phúc rất thích cảnh yên tĩnh chốn già-lam, càng đi chùa, càng học và thực tập lời dạy của Đức Phật, Phúc càng thấy mình thật may mắn khi được sinh ra làm người. Quí thầy trong chùa dạy Phúc phải biết nắm bắt hạnh phúc ngay trong hiện tại, phải thấy được mình đang có hạnh phúc. Quí thầy thường dạy: “Tại sao chúng ta không biết quí trọng hạnh phúc ngay trong hiện tại, mà chỉ lo truy tìm hạnh phúc ở tương lai. Nghĩ ra con người chúng ta cũng lạ, trong khi có lại không biết trân quí, đến khi mất rồi mới thấy tiếc. Ví dụ khi đôi mắt chúng ta còn thấy ánh dương, miệng còn ăn được, chân còn có khả năng đi lại, mũi còn có thể hít vào thở ra, đây là hạnh phúc, rủi một ngày nào đó mắt bị mù, tay chân không cử động được… thì đau khổ biết chừng nào. Vì vậy, khi chúng ta đang được hạnh phúc, hãy chia sẽ hạnh phúc đó cho những người kém may mắn hơn mình, cho những người thương của mình, đặc biệt không được gây đau khổ cho ai, và cũng sẵn sàng tha thứ mọi điều bất như ý mà người khác đem đến cho mình…”

Quí thầy còn kể rất nhiều câu chuyện đạo lí, cuộc đời của Đức Phật… Càng ngày Phúc càng thấy Đức Phật thật đáng yêu, đáng kính trọng, chư tăng là những người có tinh thần hi sinh lớn, hi sinh hạnh phúc riêng để lo hạnh phúc chung cho nhân loại và những loài không thuộc loài người, chứ không phải những người chán đời, trốn tránh… như Phúc đã từng xem trong tuồng cải lương “Lan và Điệp”, còn giáo lí của Đức Phật thật thiết thực, không có gì huyền bí, khó hiểu như người ta nghĩ.
Dần dần Phúc thấy Phật giáo như là cơm, prôtêin, đạm… không thể thiếu đối với cơ thể và tinh thần của mình trong đời sống hằng ngày. Từ đây, mỗi đêm khi vừa nằm xuống là Phúc ngủ thẳng một giấc đến sáng, không suy nghĩ, toan tính, dù hằng ngày chị Hồng cũng sai Phúc làm rất nhiều việc, nhưng Phúc làm với tinh thần vì người vì mình, cho nên không thấy mệt mỏi hoặc bực tức. Cuộc sống đối với Phúc bây giờ là vườn hoa xinh cỏ lạ, đầy sức sống.
Hôm nay, đang mải mê làm việc, bỗng cô vào nói với mọi người:

– Mùa Vu Lan năm nay cô cháu chúng ta nghỉ một tuần để đi thành phố tham dự khóa tu dành cho cư sĩ, nếu ai không thích đi thì ở nhà nghỉ, không sao hết.

Nghe xong mấy chị đều vỗ tay reo mừng, mọi người ai cũng thích đi, thế là suốt buổi sáng hôm ấy, mọi người vừa làm việc vừa bàn tính cho chuyến đi sắp tới. Bỗng chị Bích quay sang hỏi Phúc:

– Em có đi không?

– Dạ… em cũng không biết nữa!

– Sao không biết?

– Thôi Bích ơi, đừng ép em, nó có hẹn với người ấy rồi! – Chị Trâm xen vào.

– Em còn bé tí tẹo thế này, chị nghĩ sao mà nói em có hẹn vậy? – Phúc bào chữa.

– Không đúng vậy sao? Chứ tại sao lại không đi? – Chị Trâm hỏi.

– Dạ em sợ bác không cho ạ. À, mà em chứ đâu phải chị và chị Ngân, hai chị đi thành phố chuyến này một công hai việc, sướng ghê!

– Ê, đừng đá lộn sân nha, coi chừng thẻ đỏ đó, chị không đụng đến em à. – Chị Ngân ở bên kia nói qua.
– Nó…i… nó…i cho rõ à, kẻo người ta hiểu lầm, mục đích của chị đi tu học chứ có việc gì khác đâu? – Chị Trâm đỏ mặt lắp bắp.

– Em đâu nói chị lên thành phố không phải không đi tu đâu, nhưng mà sau khi tu xong, không biết hai chị có về cùng một lượt với chúng em không biết?

– Tại sao lại không về một lượt? – Chị Bích làm bộ hỏi.
– Chị không nhớ có hai anh trên thành phố tuần nào cũng gọi điện tìm hai chị hết à?
– A, chị nhớ rồi, thì ra là vậy. – Chị Bích giả bộ ngạc nhiên.
– Biết rồi mà còn nói lớn. – Chị Trâm và chị Ngân lầm thầm.
– Thôi, cháu đừng bắt nạt hai chị, không thấy hai chị đỏ mặt giống như trái gấc rồi à? – Cô từ ngoài đi vào nói.

Thế là mọi người cùng cười ngất nga ngất ngưởng.
Tối đó, khi ăn cơm xong, Phúc rón rén lên xin hai bác, lên xin thì lên xin như vậy, chứ Phúc nghĩ chắc chắn hai bác sẽ không đồng ý. Không ngờ chẳng những hai bác đồng ý mà còn cho 200.000 đồng để tiêu xài. Bác trai nói:

– Ừ, cháu vào đây cũng gần nửa năm rồi, mà chưa có dịp lên thành phố, thôi chuyến này đi cho biết. À, không biết cái Hồng nhà mình có rảnh không, nếu rảnh thì đi luôn, thứ nhất để cho biết đó biết đây, thứ hai để có cơ hội tiếp xúc với Phật pháp, học tập cách làm người, đối nhân xử thế.
– Không sai, em thấy cái Hồng nhà mình nó quen với bọn gì đâu không, còn học sinh đã đòi đi xe tay ga, tóc thì nay nhuộm xanh, mai nhuộm đỏ, vàng, hoe hoe… đủ thứ, đi học mà ăn mặc giống như đi nhà hàng, quán bar. Không hiểu lớp trẻ thời này như thế nào nữa. – Bác gái buồn buồn nói.

– Hây! Đạo đức trong xã hội bây giờ xuống cấp quá trầm trọng rồi. – Bác trai thở dài ngao ngán.

– Anh nói như vậy cũng không đúng, anh xem cái Phúc thử, vào đời khi mới 12 tuổi, thế mà vẫn sống tốt, cần cù chịu khó, biết thương cha mẹ, lo cho các em, ăn thua nơi mình là chính.

Nói xong, bác gái quay sang nói với Phúc:

– À, chiều mai đi học về, bác cháu mình cùng ra chợ mua cho cháu ít đồ. – Bác gái nói.

– Dạ thưa bác, đồ gì ạ? – Phúc ngạc nhiên hỏi.

– Thì mua cho cháu vài bộ đồ và đôi dép.

– Dạ cảm ơn bác, nhưng cháu đủ rồi ạ!

– Đủ gì, từ ngày vào đến nay, bác thấy cháu chỉ có mỗi một đôi dép và hai bộ đồ thay ra thay vào.

– Bác gái nói phải đấy, ngày mai cháu nên đi chợ mua đồ với bác gái, con gái mà chỉ có hai bộ và một đôi dép là quá ít. – Bác trai nói.

– Dạ thưa, cháu thấy như vậy là được rồi, vả lại cháu lên thành phố để tu chứ đâu phải đi du lịch mà cần đồ đẹp. Cháu không dám làm phiền hai bác.

– Phiền hà cái gì không biết. Lúc nào rảnh cháu mở tủ đồ của chị Hồng ra xem, bác bảo đảm không dưới 30 bộ, còn cái tủ dép ngoài cửa phần lớn là của nó. – Bác gái chỉ vào tủ dép ngoài cửa nói.

– Thời này tìm được người hiểu biết và tặn tiện như cháu thật hiếm, phải không em? – Bác trai quay sang nói với bác gái.

– Chứ còn gì nữa.

– Phúc à! Hai bác đã bàn tính rồi, văn hóa của cháu mới hết lớp năm, vậy bác sẽ xin trường bổ túc cho cháu học tiếp, cháu đồng ý chứ? – Bác trai hỏi.

– Không cần hỏi, anh cứ xin trường, bắt phải đi học, đời bây giờ không có trình độ có mà cạp đất. Tối thiểu cháu phải học hết cấp III, nếu thấy có khả năng thì thi đại học.

– Thưa hai bác! Cháu rất cảm tạ tấm chân tình của hai bác dành cho cháu, nhưng cháu thấy mình không đủ khả năng.

– Không đủ khả năng về mặt nào, học không nổi hay kinh tế.

– Dạ thưa, cha mẹ cháu quá nghèo, cháu không muốn thêm gánh nặng cho họ.

– Ai bảo cha mẹ cháu phải lo, cứ đi học bác sẽ lo từ A đến Z. – Bác gái nói.

– Trời ơi! Em hôm nay mới dễ thương và đẹp làm sao! – Bác trai cười cười nói.

– Bộ trước kia anh thấy em đáng ghét và xấu lắm sao?

– Không, ý anh không phải vậy, trước kia em cũng dễ thương và đẹp, nhưng chỉ ít ít, còn hôm nay mới nhiều.

– Thôi đi ông tướng. – Bác gái đánh nhẹ vào vai bác trai một cái.

– Thưa hai bác! Cháu ăn ở nhà bác đã ngại lắm rồi, nay lại còn thêm tiền học nữa, thật cháu, cháu……

– Thôi cứ quyết định như vậy, không nói không rằng gì nữa. – Bác gái nói lời kết thúc.
Reng reng reng, reng reng reng…

– Em nghe điện thoại đi.

Bác gái vừa quay lưng, bác trai nói nhỏ vào tai Phúc:

– Từ ngày có cháu, bác gái bỗng trở nên dễ chịu, sống rộng rãi hẳn đi, so với trước kia giống như hai người vậy.
Nói xong hai bác cháu cười khúc khích.

– Cái gì? Không được, mày biết bây giờ là mấy giờ rồi không, bộ ngày mai mày không đi học à? Thôi coi về sớm, thật tức chết đi được. – Tiếng bác gái trả lời điện thoại.

– Ai gọi mà em giận dữ thế? – Bác trai xoay vào hỏi.

– Đứa con gái rượu của anh chứ ai. – Bác vừa tức giận đi ra vừa trả lời.

– Nó nói gì mà em bực tức dữ vậy?

– Nó nói đang ăn sinh nhật bạn quỉ bạn yêu gì không biết, nó kêu nếu trễ thì ở lại không về. Anh nghe có được không, ai đời con gái mới có từng ấy tuổi đã đòi đi qua đêm, thật hết chỗ nói. – Bác gái vừa nói vừa thả tấm thân tròn vo của mình xuống ghế.

– Thôi để con về rồi hãy từ từ khuyên răn, bây giờ em bực tức, la mắng cũng chỉ có anh và cái Phúc nghe mà thôi. Em thông cảm, tuổi trẻ mà. – Bác trai xoa xoa vào lưng bác gái dỗ ngọt.

– Nó mà trẻ à? Khi còn nhỏ hơn nó, em phải lăn lộn từ Bắc chí Nam để kiếm sống rồi, nếu em như nó có mà chết đói giữa đường.

– Người xưa nói rồi “tái ông thất mã” mà, trong cái rủi có cái may, nếu em không lăn lộn kiếm sống từ Bắc chí Nam thì làm sao gặp được anh, đúng không? – Bác trai cười cười.

– Cho anh nói lại đó. – Bác gái quay quắt sang phía bác trai.

– Quên, quên, làm sao anh gặp được.

– Hây, nếu nhà mình không có cái Phúc, rủi anh với em có trúng gió chết cũng chẳng ai

hay. – Bác gái nói trong vẻ tức giận, mệt mỏi.

– Dạ hai bác đi ngủ trước đi, để cháu coi cửa chờ chị Hồng cho.

– Để bác, cháu ngủ trước đi, ngày mai còn phải đi học. – Bác gái nói.

– Vậy cháu xin phép hai bác cháu ngủ trước, chúc hai bác ngủ ngon.

– Ê, Phúc. – Bác gái gọi.

– Dạ, thưa bác.

– Cháu đừng giăng mùng cho hai bác nữa nghen, để đó bác giăng.

– Dạ để cháu giăng cho, chỉ có mấy phút thôi mà.

– Tội con bé, nếu cái Hồng nhà mình bằng một góc của Phúc tôi có chết cũng vui lòng. – Bác gái nhìn bác trai nói.

Đêm đó, Phúc cũng không tài nào ngủ được, cứ lăn qua lăn lại, Phúc nghĩ “thật nhờ chư Phật gia hộ, không ngờ hai bác lại thương mình như vậy, từ đây mình phải sống tốt hơn nữa, và nỗ lực học tập để đền đáp ơn của hai bác.”

Giờ phút quan trọng cũng đã đến, Phúc đi theo cô và các chị lên thành phố để tu học, đối với cô và các chị, đây là lần thứ mấy họ không còn nhớ rõ, nhưng đối với Phúc, đây là lần đầu tiên được tham dự khóa tu nhiều ngày. Trong suốt khóa tu, ngoài thời gian nghe pháp, kinh hành niệm Phật ra, còn lúc nào rảnh rỗi, Phúc đều xuống bếp làm công quả. Trong bảy ngày tu tập, Phúc được nghe rất nhiều bài thuyết pháp, nhưng có bài pháp của thầy trú trì khiến Phúc cảm động nhất, buổi giảng của thầy là buổi giảng cuối cùng trong khóa tu, và cũng đúng vào ngày lễ Vu Lan, thầy giảng đề tài “Tâm Hiếu Tức Là Tâm Phật”. Thầy mở đầu bài pháp với giọng hùng hồn như tiếng của sư tử chúa: “Kính thưa đại chúng, hôm nay là ngày rằm tháng 7, chúng ta đang có mặt tại giảng đường của bổn tự, hôm nay cũng chính là ngày Vu Lan Báo Hiếu, lời đầu tiên cho thầy chúc mừng, chia sẻ hạnh phúc với những ai còn cha, còn mẹ, và chia buồn với những ai thiếu phước không còn cha, không còn mẹ, đặc biệt thầy cũng chia buồn với những ai tuy còn cha, còn mẹ, nhưng sợi dây truyền thông giữa họ đã đang và sẽ rạn nứt…” Từng lời từng lời của bài pháp như kim đâm muối xát vào tâm Phúc, Phúc thấy mình thật sai lầm khi có những ý niệm oán ghét, xa lánh cha mẹ. Thầy kết thúc bài pháp bằng những ngôn từ mà Phúc những tưởng vàng bạc không thể mua được: “Chúng ta thấy, công ơn của cha mẹ lớn lao như vậy, nếu không có cha mẹ, làm sao có mặt chúng ta trong pháp hội này, thế thì lí nào chúng ta lại oán ghét, căm thù hai đấng sinh thành của mình, hãy mở rộng tấm lòng tha thứ cho nhau, hãy nối lại sợi dây truyền thông, hãy trở về bên cha, bên mẹ, hãy sà vào lòng cha mẹ để cảm nhận được hơi ấm tình thương của họ, hãy nói rằng con cảm ơn cha mẹ đã sinh con ra trên cuộc đời này, cha mẹ ơi, cha mẹ có biết rằng con yêu cha mẹ lắm hay không. Hãy làm ngay đi đừng chậm trễ, thời gian không chờ đợi chúng ta đâu… Chúc tất cả đại chúng sẽ nối được sợi dây truyền thông với cha mẹ. Còn đối với những ai, cha mẹ đã sớm lìa trần, hãy làm những việc lành mình có thế làm, tu tập thật tốt, sống có ích cho mình và cho những người xung quanh, được như vậy, cha mẹ, ông bà, người thương của quí vị cũng được giải thoát, bởi vì trong mỗi chúng ta đều có những tế bào của cha, của mẹ, của ông bà, anh chị… một khi chúng ta tu tập đàng hoàng, sống có mục đích chính đáng, biết nhận lãnh trách nhiệm, đạt được an lạc, giải thoát khỏi những cám dỗ của vật chất, thì họ cũng đạt được như ta không hai không khác.”

Nghe xong những lời tâm huyết của thầy, tất cả hội chúng hơn mấy ngàn người, không ai không cảm động, không ai không lấy tay lau những giọt lệ còn đọng trong khóe mắt. Phúc cảm nhận bài pháp hôm nay, thầy đặc biệt dành riêng cho mình, hình như thầy đọc được ý nghĩ của Phúc, Phúc cảm động lắm, càng cảm động càng nhớ cha mẹ da diết, em ước gì nếu có cha mẹ ở đây, sẽ chạy lại sà vào vòng tay họ và nói: “Cha mẹ ơi con xin lỗi cha mẹ, xin cha mẹ tha thứ những lỗi lầm, những ý nghĩ không tốt về cha mẹ của con, con thương cha mẹ nhiều lắm nhiều nhiều lắm!”

Ăn cơm trưa xong, Phúc quyết định nhờ cô lên đăng kí cho Phúc xin quay về nương tựa ba ngôi báu, đương nhiên cô rất vui, cô dẫn Phúc lên thầy trú trì xin chiều nay cho em được qui y với mọi người. Thầy đặt cho Phúc pháp danh “Tường Phúc”, với ý là “hạnh phúc tốt lành”.

Bất chợt làn gió nhẹ thổi đến làm cho những giọt nước còn đọng trên tán lá rơi lả tả. Trong tiếng gió Phúc nghe văng vẳng bài hát “Bông Hồng Cài Áo”: “Một bông hồng cho anh, một bông hồng cho em và một bông hồng cho những ai, cho những ai đang còn mẹ, đang còn mẹ để lòng vui sướng hơn, rủi mai này mẹ hiền có mất đi, như đóa hoa không mặt trời, như trẻ thơ không nụ cười, ngỡ đời mình không lớn thêm hơn, như bầu trời thiếu ánh sao đêm. Mẹ mẹ là dòng suối dịu hiền, mẹ mẹ là bài hát thần tiên, là bóng mát trên cao, là mắt sáng trăng sao, là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối. Mẹ mẹ là lọn mía ngọt ngào, mẹ mẹ là nải chuối buồng cau, là tiếng dế đêm thâu, là nắng ấm nương dâu, là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời. Rồi một ngày nào đó anh về, nhìn mẹ yêu, nhìn thật lâu, rồi nói nói với mẹ rằng, mẹ ơi! Mẹ ơi! Mẹ có biết hay không? Biết gì? Biết là biết là con thương mẹ không? Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó em, đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó anh, thì xin anh, thì xin em, hãy cùng tôi vui sướng đi, hãy cùng tôi vui sướng đi.”

The post Trong Vòng Tay Mẹ – Đạo Quang dịch appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
TÂY PHƯƠNG YẾU QUYẾT – Thích Nguyên Chơn https://bachhac.net/tay-phuong-yeu-quyet-thich-nguyen-chon.html Sat, 28 Mar 2020 03:47:04 +0000 https://bachhac.net/?p=3119 Kính nghĩ, Đức Thích-ca mở ra vận hội lớn làm lợi ích rộng lớn cho những chúng sinh có duyên, xiển dương giáo pháp tùy theo mỗi quốc độ khiến pháp nhũ thấm nhuần khắp cả. Người đích thân gặp được Như Lai giáo hóa thì tỏ ngộ Ba thừa , còn kẻ nhân sơ …

The post TÂY PHƯƠNG YẾU QUYẾT – Thích Nguyên Chơn appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
tây phương yêu quyết

Kính nghĩ, Đức Thích-ca mở ra vận hội lớn làm lợi ích rộng lớn cho những chúng sinh có duyên, xiển dương giáo pháp tùy theo mỗi quốc độ khiến pháp nhũ thấm nhuần khắp cả. Người đích thân gặp được Như Lai giáo hóa thì tỏ ngộ Ba thừa , còn kẻ nhân sơ phước bạc thì khuyên quay về Tịnh độ.

Tu tập pháp môn ấy là chuyên niệm A-di-đà, đồng thời đem tất cả thiện căn hồi hướng nguyện sinh. Bởi vì bản nguyện của đức A-di-đà là thệ độ cõi Ta-bà, nên hoặc niệm suốt cả một đời, hoặc mười niệm lúc lâm chung, chắc chắn đều được vãng sinh Tịnh độ.

Người học ngày nay, thường mang nhiều nghi vấn, vì văn từ trong kinh luận mâu thuẫn nhau. Nếu không dung thông thì mối nghi ấy không bao giờ dứt. Nay tôi lược nêu ra mười bốn trường hợp để giải quyết những mối nghi ấy. Mong rằng những bậc tài cao học rộng tham cứu nơi đây mà hiểu được!

LỜI BẠT

Đã sinh vào thời Tượng pháp, cách Phật quá xa, Đạo có ba thừa vẫn không sao khế ngộ. Hai cõi trời người, loạn động bất an, chỉ có bậc huệ tâm cao rộng, mới có thể ở lâu trong ấy; còn như kẻ trí cạn hạnh thô, e rằng mãi bị đắm chìm trong cõi tối tăm. Vì thế, thân cần phải lìa xa cõi Ta-bà, tâm gởi vào cảnh Tịnh. Kính xin những bậc cùng tu Tịnh nghiệp, phát khởi thân tâm, nương theo pháp niệm Phật này, nhất định sẽ lìa bỏ được cõi Ta-bà. Mong rằng mọi người chớ để tâm chạy theo danh lợi, luôn canh cánh nỗi sợ vô thường. Cho dù danh tiếng có đuổi kịp Huệ Viễn, Đạo An thì đâu khác nào bóng chớp; đức vượt xa Tăng Triệu, Đạo Sinh cũng giống như Càn thành ?

Văn Tam không, Cửu đoạn , lý sâu kín mà ngôn từ lại quá đổi mênh mang; giáo Thập địa, Ngũ tu , nghĩa uyên áo mà lời lẽ vô cùng phức tạp. Chẳng thể với một ít công phu mà phải trải qua nhiều năm tư duy mới thành tựu Tịnh nghiệp, đâu có phần của khoảng sát-na? Niệm chất chứa như cát bụi, mới có thể tuyên dương sự diệu kì trong chín cõi ; tâm thường tạo cảnh mà cảnh hiển bày sự mầu nhiệm của Nhị vô . Nếu thức luyến tà ma, mà muốn làm lớn cái gốc đạt vọng , thì đời người lại quá ngắn ngủi; đợi gieo trồng trí hội chân, thì đường chết nào có hẹn? Chi bằng hãy lắng niệm trì trai mà dứt bỏ nghiệp rộng đa văn, an tâm nơi bến tuệ mà phát khởi pháp tu thiểu học . Thế thì lìa bỏ cõi Ta-bà mà dạo bước nơi Thượng uyển ở Lạc bang. Tâm ở nơi cõi Tịnh, thân nương nơi đài vàng, đồng đạt đạo nơi Đức Từ phụ A-di-đà, thì mối nghi nào không dứt. Cảm được lời dạy của Đức Phật, chứng nhập Vô sinh, lợi ích quá nhiều!

Tôi lược nêu những điều thô thiển để mọi người chọn lấy ý hay, hầu gắng sức tiến tu thành tựu Tịnh nghiệp. Xin chớ bỏ qua!

Phần 1:

Kinh ghi: “Nếu dùng sắc để thấy ta, dùng âm thanh cầu ta thì người đó hành theo tà đạo, không thể thấy Đức Như Lai”.

Hỏi: Kinh Kim Cang nói dùng hình sắc và âm thanh cầu Phật là tà đạo. Vậy, các kinh A-di-đà và kinh Quán Vô Lượng Thọ v.v… chỉ dạy quán thân tướng Phật và niệm danh hiệu Phật. Như thế, không lìa âm thanh và sắc tướng mà cầu Phật, tại sao không rơi vào tà đạo? Nếu quay về đường chánh thì Tịnh độ là nơi đáng nương tựa nhất mà kinh lại cho là tà đạo, dẫu có muốn thực hành cũng sợ rơi vào cảnh giới ma. Hai đường chánh tà khó quyết, đúng sai xin được giải bày?

Đáp: Đức Đại sư thuyết giáo có rất nhiều môn, mỗi môn đều xứng hợp với thời và cơ, nhưng bình đẳng không sai khác. Những điều được dạy trong kinh Kim Cang Bát-nhã riêng thành một môn, những nghĩa trong kinh A-di-đà và kinh Quán Vô Lượng Thọ v.v… lại là một lý. Vì sao? Vì tất cả chư Phật đều có ba thân. Pháp thân vốn không hình thể, chẳng phải âm thanh, sắc tướng. Nếu dùng âm thanh và sắc tướng để nắm bắt thì đó là tà đạo.

Vì rằng, hàng Nhị thừa và tiểu Bồ-tát nghe nói ba thân không khác, liền cho là đều có âm thanh và sắc tướng. Chỉ thấy sắc tướng của Hóa thân bèn chấp Pháp thân cũng như vậy, nên mới ở nơi tướng Hóa thân mà cầu thấy Pháp thân. Bởi vì lý vi diệu mầu nhiệm, vĩnh viễn bặt dứt âm thanh và sắc tướng, lại dùng âm thanh và sắc tướng để cầu thấy, cho nên nói tà đạo.

Các kinh A-di-dà và Quán Vô Lượng Thọ v.v… khuyên niệm danh hiệu Phật, quán tướng hảo cầu sinh về Tịnh độ, chỉ vì phàm phu nghiệp chướng nặng nề mà Pháp thân sâu kín, Pháp thể khó duyên. Hơn nữa, dạy môn niệm Phật, quán tướng, lễ tán là để đoạn trừ nghiệp chướng, phát sinh phước thiện, nguyện hạnh trợ nhau, cầu sinh Tịnh độ, mong gặp Hóa Phật để làm duyên lành bất thoái.

Cho nên, những bậc tiền bối thông đạt đều nương vào giáo môn này, quán tướng hảo, niệm danh hiệu cầu thấy Hóa thân Phật, mong rằng đến khi lâm chung được đích thân Ngài đến tiếp dẫn, cảm đến đức hóa chủ A-di-đà, rủ lòng thương đến đón rước, nghiệp báo dứt sạch, ngồi trên hoa sen, liền sinh về nước ấy. Kinh trước nói về tâm, kinh sau nói cảnh, lý khế hợp không trái nhau. Vậy niệm danh hiệu, quán thân tướng đều không phải tà đạo.

Lẽ nào cứ chấp chặt một pháp, không thấu tỏ ý Phật, tạo ra dị thuyết rối ren, khiến người khác phải nghi ngờ. Xét rõ ngọn nguồn ấy thì đủ phân biệt được đúng sai, không còn do dự. Hãy chuyên tâm nơi Tịnh nghiệp, chớ sinh loạn tưởng, lại đọa ba đường, khổ đau hành hạ, ăn năn làm sao kịp nữa!

Phần 2

Kinh Phật Tạng ghi: “Nếu Tỳ-kheo nào thấy có Phật, Pháp, Tăng và Giới để thọ trì thì người đó là quyến thuộc của ma, chẳng phải đệ tử của ta, ta cũng không phải thầy và cũng không tiếp nhận người đó”.

Hỏi: Theo kinh Phật Tạng, ngoài tâm thấy Phật đều cho là ma, Phật không phải thầy họ và nói họ chẳng phải đệ tử của Phật. Như thế, pháp môn Tịnh Độ dạy người chuyên niệm danh hiệu Phật, quán tướng hảo Phật, cầu sinh Phật quốc, vậy người ấy chẳng phải đệ tử Phật, Phật không phải thầy của người ấy, làm sao được Phật hộ niệm để sinh về cõi Tịnh? Xét hai pháp môn ấy đều là lời Phật dạy, nhưng lại khác nhau, vậy nên định đoạt thế nào?

Đáp: Giáo môn có muôn ngàn sai biệt, nhưng cùng trở về một thể chân thật, tùy theo căn cơ mà lập nghĩa, nên ngôn giáo có sai biệt. Nghiên cứu kỹ hai kinh, văn tuy khác nhau, nhưng lý cùng một thể.

Vì sao? Vì Phật, Pháp, Tăng và Giới có ba ý nghĩa:

– Chân đế.

– Biệt tướng.

– Trụ trì.

1. Chân đế:

Thể chân như thanh tịnh, bặt dứt phiền não chướng và sở tri chướng , bản giác sáng ngời đó là Chân Phật. Giữ gìn thể tánh không biến đổi, chư Phật từ đây mà thành tựu, bậc Đại sĩ đồng nương gá, muôn hạnh nhân đây mà hiển bày, đó chính là Chân Pháp. Thầm thể hội muôn pháp, dứt bặt ngôn từ, hý luận, đó chính là Chân Tăng. Tánh thanh tịnh trang nghiêm, thể tinh khiết vô cấu đó chính là Chân Giới. Căn cứ vào những nghĩa thù thắng này, cho nên nói là Chân đế, đó cũng là điều mà kinh Niết-bàn ghi: “Quán Tam Bảo thường trụ đồng với Chân đế, chính là thệ nguyện tối thượng của chư Phật”.

2. Biệt tướng:

Phật có ba thân: Pháp thân, Báo thân và Hóa thân . Pháp có bốn loại là giáo, lý, hạnh và quả. Tăng có hai loại là Hữu vi và Vô vi. Giới là tất cả các giới phẩm Chỉ trì và Tác trì mà người xuất gia và tại gia phải thực hành. Nhưng tu Biệt tướng là để cầu chứng Chân đế, hàng Khởi hạnh vừa biết Biệt tướng lại cho là cứu cánh nên không ngộ được nguồn chân. Còn hàng Học giới thì cho tất cả đều là trợ đạo. Danh tướng Phật ứng hiện chẳng phải chân thật, nhưng để tiếp độ hàng phàm phu mà phương tiện lập ra Hóa thành . Kẻ thấp kém không hiểu được mới chấp là chân thật, nên bị Đức Phật quở trách, cho là quyến thuộc của ma. Là Phật tử cần phải đạt được Hai không , xa thì hợp chân như, gần thì đúng với bổn nguyện, nếu cứ chấp chặt mãi danh tướng mà không ngộ được chân không thì lại rơi vào chốn ma, xa Phật trái Pháp. Muốn vượt Ấm ma phải nhờ Pháp thân thường trụ; trừ Phiền não chướng cần nương vào Định hư không; ra khỏi cõi Thiên ma nên nhờ sức định Từ; cầu vượt Tử ma phải khéo nương vào định Thần túc. Xem khắp bốn phương, chẳng phải Đại thánh thì không ai có thể làm được, chinh phục Bốn ma đâu phải khả năng của kẻ phàm phu. Nếu không để tâm vào chí đạo, thì biết lấy gì để dứt trừ lưới ái. Còn buộc niệm hướng về chân thì ngăn dứt các nẻo trong đường sinh tử.

Thế nên, Đức Phật chỉ dạy hàng phàm phu hãy nên học quán môn Tịnh độ. Nếu nghĩ đến Tây Phương thì phải cầu sự bất thoái, được sinh cõi Tịnh, thấy Hóa thân Phật, đức Hóa chủ dẫn dắt, đạt Vô sinh nhẫn , tỏ ngộ pháp giới bình đẳng. Nương vào thần lực ấy phá các lưới ma, gần thì vượt khỏi ba cõi, xa thì được chứng đắc Bồ-đề. Nếu không như thế lại chìm trong đường ác, thọ khổ dài lâu, không bao giờ giải thoát. Hiểu rõ hai nguyên nhân này hoàn toàn không khác nhau, chớ chấp một bên nào để sinh tâm nghi ngờ. Thuận pháp môn cơ bản này mà quán tưởng cõi kia, lìa hẳn Ta-bà, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi; suy nghiệm pháp môn này rồi theo đó tu hành, quán nhân duyên cạn sâu, tự có lợi ích. Rõ ràng do niệm mà khế hợp với bản nguyện, nào có sai khác!

(Phần Trụ trì trong nguyên bản Hán, tác giả không đề cập đến).

Phần 3

Kinh Vô Lượng Thọ ghi: “Tu tập trong cõi này (tức cõi Ta-bà) một ngày một đêm hơn hẳn cõi Phật khác trăm năm”. Kinh Duy-ma ghi: “Quốc độ Ta-bà có mười việc thiện mà cõi Phật khác không có, đó là bố thí nhiếp phục sự nghèo khó…”.

Hỏi: Theo kinh này dạy, tu tập ở cõi Ta-bà hơn hẳn ở các phương khác. Vậy tại sao phải nhọc sức chuyên niệm A-di-đà, nguyện sinh về nước Cực Lạc, bỏ chỗ tốt tìm đến chỗ kém, hành nghiệp khó thành tựu. Hai con đường ấy, lấy bỏ thế nào, xin được giải bày chi tiết?

Đáp: Những pháp môn của Đức Phật đều vì lợi ích chúng sinh, mỗi mỗi tùy thuận một đường, nhưng lý không trái nhau. Vì sao? Căn cơ tu hành có hai giai vị. Nếu chưa bước lên ngôi vị Bất thoái thì khó ở cõi uế, muốn tu tập hạnh tự lợi thì phần nhiều bị lui sụt, gặp việc thuận nghịch lại sinh tâm vui buồn, khởi lòng yêu ghét thì nghiệp ác càng thêm, không có cách gì làm an ổn cho chính mình, ngược lại chìm vào đường ác. Kẻ đã tu nhân nhiều kiếp, thành tựu Pháp nhẫn , đủ sức ở trong cõi uế, mới có thể lợi ích cho hữu tình. Đã thành tựu hạnh tự lợi, thoát khỏi luân hồi, ở cõi này thực hành mười việc lợi tha, thì phương khác không bằng. Bởi vì cõi Phật khác, y báo tốt đẹp, đầy đủ không thiếu, muốn gì cũng đều được; đã không thiếu thốn thì còn bố thí cho ai! Còn chín việc khác căn cứ theo đây thì rõ. Cho nên tự biết không lui sụt, thì trụ nơi này đã không ngăn ngại lại còn làm lợi ích cho người hơn hẳn cõi Phật khác. Những người học ngày nay, cách Phật quá xa, ba độc lừng lẫy, chưa được tự tại, nếu được sinh cõi Tịnh, nhờ thắng duyên, nương oai lực Phật, mới được bất thoái. Cho nên cần phải sinh về nước kia, thành tựu nhân tự lợi. Căn cứ theo đây thì hai kinh ấy có gì trái nhau!

Phần 4

Kinh Di-lặc Vấn ghi: “Niệm Phật thì chẳng phải niệm phàm phu, không xen niệm kết sử, mới được sinh về cõi A-di-đà”.

Hỏi: Theo kinh này dạy, hễ niệm Phật thì chẳng có niệm phàm phu, chẳng xen niệm kết sử mới thành tựu Tịnh nghiệp. Ngày nay, người tu tập vẫn còn là phàm phu, kết sử chưa trừ thì làm sao vãng sinh được? Nay Ngài niệm Phật, công phu thành tựu, lưới nghi đã dứt, vậy xin giải bày tường tận?

Đáp: Xiển dương giáo pháp tùy theo căn cơ, nhưng ý chỉ bí mật rất khó tỏ ngộ, còn văn chương dù có bóng bẩy vẫn có thể hiểu được trong chớp mắt, cho nên không biết lấy hay bỏ, liền vọng sinh nghi chấp. Vì sao? Đức Phật vì hàng phàm phu mà chỉ dạy cho họ tu tập Tịnh nghiệp, nếu họ đã tin sâu nhân nhân quả thì đâu phải là ngu! Nay giải thích phàm ngu có bốn trường hợp:

1. Phàm mà không ngu:

Những chúng sinh từ cõi thiện cho đến địa vị cuối cùng của Thập tín không đạt được Trí tương tợ duy thức, nên gọi là phàm. Nhưng có lòng tin sâu xa đối với pháp Tứ đế và Duyên sinh, khởi tâm lấy bỏ, lợi hay hại đều có thể biết được, đó chính là không ngu.

2. Ngu mà không phàm:

Hàng Bồ-tát từ Thập giải trở lên chưa chứng đắc cảnh giới Chân như nên nói là ngu; đạt được Trí tương tợ vô lậu, suy xét biết được Hai vô ngã , không trôi theo dòng sinh tử, nên được cho là chẳng phàm. Lại giải thích: Bồ-tát từ Sơ địa trở lên đối với Thắng tấn phần vẫn còn bị Vô minh chướng ngại, nên gọi là ngu; do đạt được Thánh pháp nên chẳng phải phàm.

3. Vừa phàm vừa ngu:

Tất cả chúng sinh từ cõi thiện trở về trước, chưa hiểu giáo lý Đức Phật nên gọi là phàm, không rõ nhân quả nên gọi là ngu.

4. Chẳng phải phàm chẳng phải ngu:

Chính là Đức Như Lai có đầy đủ Thánh trí, dứt sạch hai chướng , nên chẳng phải phàm, ngu.

Nói “phàm”: nghĩa là trôi nổi, đối với pháp trị thế thì không phân biệt được tổn hại hay lợi ích, trôi nổi thọ sinh thì chính là phàm; thiện ác đến đi, nặng nhẹ không hề hay biết, đó chính là ngu. Nay, người tu tập muốn vãng sinh cõi Tịnh phải biết chốn Ta-bà này đầy dẫy khổ đau, rất mực nhàm chán, không muốn ở lâu; nghe nói Tây Phương an vui vô cùng, chí thành quán tưởng, nguyện thệ vãng sinh thì vĩnh viễn diệt trừ dòng đau khổ, từ bỏ hẳn cảnh giới nhiễm ô. Như thế, họ đâu phải hạng tầm thường, trôi nổi thọ sinh. Chỉ cần niệm Phật cầu vãng sinh, tỏ ngộ vô sinh, tương lai sẽ làm Phật, chuyên tâm hóa độ pháp giới chúng sinh. Người nào phát khởi tâm này nhất định được sinh về cõi vi diệu. Vì có sự hiểu biết này nên chẳng phải ngu.

Nói “không xen niệm kết sử”: kết sử là mười sử, chín kết . Tâm niệm Phật chính là thức thứ sáu. Khi Tâm vương sinh khởi muốn làm việc ác, kết sử phiền não mới bộc phát. Khi đang niệm Phật thì tâm niệm Phật cùng với năm pháp Biến hành , mười một Tâm sở thiện tương ưng không phát động các kết sử, các kết sử không có nhân sinh khởi. Tâm duyên với cảnh khác, kết sử liền phát sinh. Khi quán tưởng Phật, kết sử bị khống chế, nên nói “không xen niệm kết sử”. Nguyện sinh cõi Tịnh thì không nên nói xen tạp, bởi do kết sử chưa đoạn nên có xen tạp, nếu đã diệt trừ thì không xen tạp. Thế thì do chưa đoạn nên kết sử có lúc hiện hành. Tâm thanh tịnh niệm Phật thì trái ngược với kết sử, tâm đang niệm Phật thì kết sử không hiện hành. Ở đây nói “không xen tạp” là không để tâm niệm Phật bị gián đoạn, phòng ngừa không cho kết sử sinh khởi, chứ không nói diệt hết kết sử là không xen tạp. Thánh nhân đã dứt sạch phiền não, ở cõi này an ổn, không nhọc niệm Phật để cầu sinh.

Phần 5

Kinh Tối Thắng Diệu Định ghi: “Nếu có người nào xây dựng vô số chùa tháp, không bằng trong thời gian ngắn đoan tâm chánh niệm”. Lại trong các bộ kinh Đại thừa nói về lý Vô sinh, bảo người tu đạo học tuệ.

Hỏi: Theo kinh này, Đức Phật ca ngợi Vô sinh là đặc biệt tối tôn, tối thắng trong các hành nghiệp, nhưng các kinh A-di-đà và Quán Vô Lượng Thọ thì lại khuyên vãng sinh Tây Phương, nhàm chán cõi Ta-bà, nguyện sinh cõi Tịnh. Thế nhưng, sinh là đầu mối của tai họa, sinh chấm dứt thì họa diệt. Ở đây lại bỏ sinh để cầu sinh thì nhân của tai họa lại càng thêm lớn. Sao không tu tập hạnh Vô sinh để ngộ Pháp thân. Còn niệm thân tướng Phật mà nhân của sinh không diệt, dù có vãng sinh về cõi kia thì đâu khác gì sinh ở cõi này? Chỉ cần quán Vô sinh thì cách Phật không xa, tâm chính là Phật, đâu nhờ tìm cầu nơi khác? Hành nghiệp này Ngài đã thuần thục, xin được chỉ bày lý sâu xa?

Đáp: Hạnh do giáo mà khởi, tất cả đều vì lợi sinh. Giáo thuyết bất đồng bởi do căn cơ sai khác. Vì sao? Luận chung về căn cơ, nêu sơ lược hai ý: Nghiệp sâu và Hành cạn. Hạng Nghiệp sâu có thể học pháp Vô sinh, còn kẻ Hành cạn cần phải cầu sinh về cõi Tịnh.

Luận về tu tập cũng có hai điều: trở lại và xuất ly. Trở lại là tuy học Phật pháp, nhưng chỉ vì tiếng tăm, không sợ mai sau sinh tử hiểm nguy; tham cầu sự hiểu biết thù thắng mà lại còn chấp nhân ngã, cho mình là đúng còn kẻ khác thì sai, không tu ba nghiệp, miệng nói vô tướng mà tâm chấp chặt tướng. Dù học pháp Vô sinh, nhưng chỉ là nghệ thuật xem chơi. Kẻ ấy thấy người khác niệm Phật liền giận hờn ganh tỵ, đến nỗi khiến cho người ta phải thoái tâm. Miệng họ thì nói thuốc hay mà sợ không dám uống, trở lại uống phải độc dược nên phát bệnh. Tâm này tạo nghiệp, tâm luôn ruổi rong, tâm đã không thật chưa thể chế ngự được mà tự nói ta ngộ. Khi nghiệm xét lại thì hoàn toàn trống không, bất chợt mạng chung, lại chìm trong sinh tử, chịu khổ triền miên, không biết khi nào thoát khỏi! Đây gọi là Trở lại.

Xuất ly có hai trường hợp là Vô sinh và Hữu tướng. Vô sinh tức là giữ tâm điềm tĩnh, phân biệt rõ ngoại duyên, khéo biết lấy bỏ hai tướng hữu vô. Chế ngự tâm, tự tại không trụ vào nhị biên , miệng nói tâm hành, theo việc mà suy xét; dù nghịch hay thuận tâm vẫn quân bình. Giống như ăn tro than không khác gì ăn món ngon. Đối với cảnh thuận nghịch đều đạt được, như vậy thì mới có khả năng ở lâu trong cõi Ta-bà mà không thoái tâm, rồi chuyển cõi Ta-bà ấy thành Tịnh độ. Công lực như vậy mới thành tựu sự xuất ly.

Hữu tướng tức là do duyên cấu uế hoặc chướng ngại sâu nặng, khó thành tựu Vô tướng. Nếu ở cõi này thì chồng chất thêm những khổ đau. Muốn tâm tĩnh lặng thì bị cảnh lăng xăng bên ngoài lôi kéo, tâm lại chạy theo cảnh thì biết khi nào mới ngộ được Vô sinh? Tâm nên duyên nhất Phật, quán niệm A-di-đà, không tạo nghiệp ác, cầu sinh cõi Tịnh; thấy người tu tập pháp môn khác thì khen ngợi tán dương, nghe nói lỗi người cũng không sinh tâm khinh chê; buộc tâm một chỗ, nghĩ đến cảnh Tây Phương, ba nghiệp hỗ trợ cho nhau thì nhất định được sinh về cõi ấy, cũng thành tựu hạnh xuất ly.

Xin các vị hãy dùng trình độ của mình để xét nghiệm giáo pháp, pháp nào phù hợp thì hành trì. Người hành nghiệp đã sâu, đạt địa vị Bất thoái, chẳng nhọc công chấp tướng, nguyện sinh về Tây Phương. Còn hạng căn cơ thấp kém, chưa thoát khỏi luân hồi thì cần phải chứng Vô sinh, mới được xuất triền . Rất nhiều người miệng nói Vô sinh mà không có ai chứng đắc. Vậy, muốn đạt được Vô sinh cần nương vào thắng cảnh . Vì thế, nên lấy việc cầu vô sinh thấy Phật làm duyên chứng ngộ.

Ở lâu trong cõi Diêm-phù, thường gặp bạn tốt, tuy ngày đêm nghe chánh pháp, nhưng người thuyết vẫn còn là phàm, cho nên chưa chứng được lý. Kinh Duy-ma ghi: “Suốt ngày thuyết pháp mà không thể khiến cho người khác chứng Diệt tu Đạo, đó chính là hý luận, chứ chẳng phải cầu pháp”. Cho dù đời tương lai có gặp bạn tốt, phát khởi nhân ngày nay thì cũng trở thành hý luận, chi bằng cầu sinh Tịnh độ, chấm dứt luân hồi, chứng nhập rừng báu, vừa nghe chánh ngữ, tức thời thành tựu vô số Pháp nhẫn. Xét kỹ hai duyên này thì chớ có do dự!

Phần 6

Kinh Niết-bàn ghi: “A-nan gặp nạn ma, bồ-tát Văn Thù đến cứu giúp”. Kinh Đại Phẩm ghi: “Ma vương biến làm Phật, mọi người không thể biết”. Kinh Ưu-ba-cúc-đa ghi: “Ma biến làm Phật, Tôn giả đảnh lễ”.

Hỏi: A-nan đã chứng quả Dự lưu thường bị ma quấy phá, Đức Phật sai bồ-tát Văn-thù đến cứu mà đạt được bổn tâm. Lại nữa, ma có thể hóa làm thân Phật thuyết pháp cho người, hàng Bồ-tát hạnh còn cạn mỏng đều không hay biết. Tôn giả Cúc-đa tu tập đạt đến địa vị Vô học thấy ma biến làm Phật, không biết mà quy y. Nay muốn quán tưởng Phật A-di-đà để đến khi lâm chung được thấy Phật. Đây đều là cảnh giới của ma làm sao nương được. Nếu như cảnh thấy đó là chân thật thì đúng là một liều thuốc hay, còn gặp phải ma thì chắc chắn rơi vào dòng tà. Khối nghi chưa trừ, rất mong được dung thông?

Đáp: Đấng Đại Giác phương tiện thị hiện thân tướng siêu việt, dù cho ma có giả hiện quấy nhiễu thì thì cũng khác biệt. Bởi trải qua nhiều kiếp siêng năng tu tập, nhân thì thù thắng tròn đầy, quả thì thành tựu vạn đức, tướng hảo siêu việt, tệ ma đâu có sánh bằng. Vì sao? Vì thân Như Lai như Tử ma kim , tướng hảo rực rỡ, sáng ngời như minh châu vượt hẳn muôn vạn mặt trời. Cho dù Ma vương có biến hiện cũng không thể có được tướng hảo như vậy. Những việc của kẻ hạ phàm làm sao sánh với bậc tôn quý. A-nan đã ở trong hàng Thanh văn mà thị hiện chứng quả Dư lưu, nhưng theo thật hạnh thì Ngài đã chứng Sơ địa từ lâu. Bởi nghĩ đến sau khi Đức Phật diệt độ, người tu hành thường bị ma phá hoại tịnh tâm, không sao chế phục được, cho nên thị hiện bị rơi vào lưới ma để thỉnh Phật cứu giúp. Thần chú đã tuyên làm nhân khởi mãi mãi lưu truyền về sau để người học phá ma chứ chẳng phải Thánh nhân, vì phàm phu mới mắc vào lưới ma.

Kinh Đại Phẩm ghi: “Ma biến làm Phật mê hoặc phàm phu, Bồ-tát ở giai vị thấp, không phân biệt được”. Đó là kinh Đại Phẩm chưa luận về nhân duyên khởi giáo phương tiện, còn trong hội Niết-bàn, nhân hỏi mà thuyết pháp, Ca-diếp hỏi rằng: “Làm sao biết được Phật thuyết hay ma Ba-tuần thuyết?”. Đức Phật bảo Ca-diếp: “Giống như kẻ trộm ban đêm đột nhập vào nhà. Nếu người giữ nhà biết được thì tên trộm liền rút lui”. Hành giả cũng vậy, đã vào ngôi nhà Phật pháp, được món ăn ngon, không nghĩ đến ma. Tôn nghi của Đức Phật thì trang nghiêm tuyệt diệu. Ma có đến che lấp sự thật, thì người tu Phật nên khéo phân biệt: Giữa chặng mày Đức Phật có tướng bạch hào, xoay về bên phải tạo thành vòng tròn, ngoài kín mà trong rỗng, ánh sáng chiếu khắp, rực rỡ tinh khiết, sáng sạch như lưu ly, dung nghi rạng ngời như ánh mặt trời. Nhục kế Ngài nhô cao, tóc xanh biếc, từng sợi từng sợi uyển chuyển xoay vòng về bên phải. Nếu thấy được những tướng hảo thù thắng ấy chính là thấy tôn nghi chân chánh của Đức Phật; nếu thấy tướng khác thì đều là ma.

Ngài Ưu-ba-cúc-đa không nhận ra ma, bởi vì Ngài sinh sau thời Đức Phật, theo thứ tự truyền pháp thì Ngài làm Tổ thứ năm, thuyết pháp giáo hóa, độ rất nhiều chúng sinh. Một hôm Ma vương tuôn mưa hoa xuống pháp hội rối loạn tâm đại chúng, khiến cho tất cả không thể lãnh ngộ được. Chúng lại còn bố thí mũ báu để làm mê hoặc lòng người. Tôn giả rủ lòng thương xót, vui vẻ đón nhận, nhân đó nói với Ma vương rằng: “Ta vâng theo lời dạy của Đức Phật, biết nghĩa biết ân. Ngươi đã bố thí mũ báu cho ta, ta cũng có xâu chuỗi báu xin đáp tặng lại cho ngươi”. Thế rồi, Ngài đem ba loại tử thi là người, chó và rắn biến làm xâu chuỗi báu đeo vào trong cổ của Ma vương.

Ma Ba-tuần mừng rỡ nói: “Tôn giả Cúc-đa thần lực siêu việt, giáo hóa chúng sinh, đã bước lên quả thánh. Vậy mà, bọn ma chúng ta dụ dẫn khiến ông ấy đã nhận mũ báu, lại còn dùng chuỗi ngọc đáp lễ. Cúc-đa đã rơi vào lưới ma, đường ác tăng thêm, còn quyến thuộc của ta không bị hao tổn”. Nói xong, bọn chúng vô cùng vui mừng, liền kéo nhau trở về cung. Vừa đến cõi trời Tứ thiên vương , Ngài Cúc-đa bèn thâu nhiếp thần lực, chuỗi báu anh lạc lại biến thành tử thi, sình trướng hôi hám, máu mủ lan tràn. Ma Ba-tuần buồn bã không vất đi được, bèn đi khắp các cõi trời cầu xin trừ bỏ. Nhưng các vị trời đều nói: “Chúng tôi không có khả năng, Ưu-ba-cúc-đa này là đệ tử của Đức Thích-ca Như Lai. Vì các ngươi không biết mới cả gan quấy nhiễu, nên Ngài tạm dùng việc này để chiết phục thân tâm của ngươi, mau mau quy y Ngài để tránh khỏi tai họa”. Ma Ba-tuần bay xuống đến trước Thánh giả, năm vóc sát đất chí thành cầu xin sám hối. Tôn giả Cúc-đa thương xót trừ bỏ các tử thi và nói rằng: “Ta sinh sau thời Phật, không gặp được Đức Như Lai. Ngươi có thể biến làm hình Phật cho ta chiêm ngưỡng được không?”.

Ma liền vào trong khu rừng biến thành thân Phật. Ngài Cúc-đa thấy vậy trải tòa đảnh lễ. Ma rất kinh sợ thưa rằng: “Đệ tử ngu muội, không dám trái lời Ngài dạy, tuy con biến làm Phật, nhưng vẫn còn ở trong trần tục, Tôn giả đảnh lễ, e rằng con mất vô lượng phước đức”. Tôn giả đáp: “Ta gần thì đảnh lễ tượng Phật, xa là cung kính đức Đại sư. Ngươi là ma không phải đối tượng để ta cung kính. Nay ngươi chớ lo, đừng lầm sợ mất phước!”. Thế là, Ma vương vô cùng vui vẻ, xả bỏ các tạp hạnh, quy y Phật, Pháp, Tăng, đảnh lễ Ưu-ba-cúc-đa rồi trở về cung, không còn xuất hiện nữa.

Như vậy, làm sao nghi ngờ nói ngài Ưu-ba-cúc-đa không nhận ra ma? Giống như nhiều người tài giỏi trợ giúp một người thì kẻ hung ác không thể nào xâm hại được. Người tu hành cũng như vậy, khi đã niệm chí thành, quyết định sinh về cõi kia thì được mười phương chư Phật cùng trợ giúp, cho đến khi hết báo thân này, ma vẫn không thể nào nhiễu loạn được. Đức A-di-đà giáo hóa chúng sinh, chiếu ánh sáng từ bi để tiếp dẫn hữu tình, khiến họ lên được bến bờ an vui tối thượng, đừng sợ ma quấy nhiễu mà không tu nhân tốt đẹp!

Phần 7

So sánh sự hơn kém giữa Tây Phương Tịnh độ và cung trời Đâu-suất.

Hỏi: Tịnh độ của Phật A-di-đà cách đây rất xa, cung trời Đâu-suất của Phật Di-lặc ở tại cõi Dục này, sao không nguyện sinh về Đâu-suất, mà lại hướng đến Tây Phương? Bỏ dễ cầu khó, há chẳng phải là trở ngại ư?

Đáp: Có rất nhiều điểm để so sánh hai cõi. Nay nêu sơ lược 10 điểm sai biệt để đả thông các mối nghi:

1. Thọ mạng có dài ngắn: thọ mạng của chư thiên ở cung trời Đâu-suất chỉ 4000 tuổi; còn thọ mạng của người ở cõi Cực Lạc đến trăm ngàn vạn ức na-do-tha a-tăng-kỳ kiếp.

2. Chỗ ở có trong ngoài: ở cung trời Đâu-suất, nếu trí huệ nhiều, liền được sinh vào Nội viện, được làm thị giả Đức Phật Di-lặc. Nếu phước nhiều mà huệ ít, thì sinh ở Ngoại viện, không được gặp Đức Từ Thị. Còn ở Tịnh độ hoàn toàn không có trong ngoài, báo thân tuy có hơn kém, song đều là Thánh hiền.

3. Cảnh có tịnh uế: nếu được sinh vào Nội viện Đâu-suất thì thấy được Thánh hội của Đức Phật Di-lặc, thường phát khởi duyên thanh tịnh; còn ở Ngoại viện thì tất cả các thứ hương hoa, lầu gác, âm nhạc đều làm khởi tâm đắm nhiễm. Còn Tây Phương Cực Lạc, khi sáu căn tiếp xúc với cây, chim, nước, lưới, âm nhạc thì đều nuôi dưỡng đạo tâm.

4. Báo thân khác nhau: chánh báo ở Đâu-suất thì nam nữ khác biệt, càng đắm nhiễm lẫn nhau, chướng ngăn đạo nghiệp. Người được vãng sinh Tây Phương đều là bậc trượng phu, thân mình và người đều thanh tịnh, không đắm nhiễm.

5. Chủng tử và hiện hành có sai khác: nếu người sinh về Đâu-suất thì chủng tử phiền não và hiện hành phiền não đều phát khởi, nhưng người sinh về Tây Phương Tịnh độ, chỉ có chủng tử phiền não, hoàn toàn không có hiện hành phiền não.

6. Việc tu tập có tinh tấn, lui sụt khác nhau: nếu sinh về Đâu-suất, do có nam nữ, nên năng lực trí tuệ còn yếu kém, do đó đa số đều bị lui sụt. Còn sinh về Cực Lạc thì năng lực trí tuệ lớn mạnh, không còn các hoạt động của dục, chỉ chuyên tinh tấn tu hành.

7. Giới và phi giới khác nhau: sinh về Đâu-suất chưa lìa khỏi cõi Dục, nếu có nạn lửa phát khởi thì bị thiêu đốt. Còn sinh về Tây Phương hoàn toàn vượt khỏi ba cõi, các nạn nước, lửa, gió v.v… đều không thể hại được. Do ở cõi Tịnh có hình chất nên chẳng phải là cõi Vô sắc; nương vào đất mà ở, nhưng không nhiễm cảnh sắc, cho nên chẳng phải cõi Sắc; không có dâm cho đến đoàn thực, cho nên chẳng phải cõi Dục.

8. Hình tướng đẹp xấu trái nhau: sinh về Đâu-suất thì nam nữ không đồng, đẹp xấu khác biệt. Nếu sinh về Tịnh độ thì thân sắc vàng ròng, hoàn toàn sáng rỡ, đều là tướng đại trượng phu.

9. Xả bỏ thân mạng để vãng sinh về hai cõi không giống nhau: khi xả bỏ thân mạng sinh về Đâu-suất, không có người đến tiếp dẫn. Còn khi sinh về Tịnh độ thì Thánh chúng đến đón rước.

10. Kinh khuyến khích có nhiều ít: khuyên sinh về Đâu-suất chỉ có kinh Di-lặc Thượng Sinh Đâu-suất, nhưng văn kinh không thiết tha ân cần, chỉ khuyên tu một cách sơ lược. Còn Tịnh độ thì rất nhiều kinh luận khuyên sinh về, Đức Phật ân cần, hết lòng khuyên vãng sinh.

Lại hỏi: Tây Phương Tịnh độ, cõi nước thù thắng, thời đại an ổn, tất cả hàng phàm phu căn cơ thấp kém làm sao được vãng sinh?

Đáp: Cõi Cực Lạc thanh tịnh nhiệm mầu, muốn vãng sinh về đó thật rất khó, nhưng nhờ sức Phật gia trì, nên vãng sinh trở nên dễ dàng!

Phần 8

Kinh Vô Lượng Thọ (Đại bản) ghi: “Người sinh về Cực Lạc, trụ trong Chánh định tụ ”. Kinh A-di-đà ghi: “Chúng sinh sinh về cõi Cực Lạc đều là bậc A-bệ-bạt-trí ”.

Hỏi: Nếu luận bàn rộng về quả vị Bất thoái, phải nói đến công đức tu tập trong vạn kiếp, nhưng sao chỉ niệm Phật một đời, thậm chí chỉ mười niệm lúc sắp chết đều được Đức Phật A-di-đà tiếp dẫn sinh về cõi Cực Lạc, chứng được Bất thoái. Chỉ luận về công hạnh hẳn đã có sai khác như thế, thì làm sao phù hợp?

Đáp: Bất thoái và Chánh định, tuy khác tên gọi nhưng ý nghĩa giống nhau. Người tu hành có hai loại: người ở cõi uế, kẻ ở cõi tịnh.

Tu nhân ở cõi uế, cần phải trải qua vạn kiếp; còn khởi hạnh ở cõi tịnh vốn có nhiều đường. Nay trình bày về Bất thoái. Luận Thập Trụ Tỳ-bà-sa nêu ra bốn loại:

1. Vị Bất thoái: chính là vạn kiếp tu nhân, ý nói thành tựu được Duy thức quán thì không rơi vào hạnh Ác luật nghi , không còn luân hồi sinh tử nữa.

2. Hạnh Bất thoái: đã được Sơ địa, thành tựu Chân Duy thức quán, xả bỏ tâm Nhị thừa, bất thoái hạnh lợi tha.

3. Niệm Bất thoái: địa thứ Tám trở lên, thật chứng Trí vô công dụng , lúc định hoặc tán đều được tự tại, không có niệm lui sụt.

4. Xứ Bất thoái: tuy không có văn kinh luận minh chứng, nhưng dựa vào lý để thành lập. Vì sao? Như luận Tỳ-bà-sa nói: “Hàng A-la-hán căn thoái, nếu đắc quả trong cõi người thuộc Dục giới, thì gặp năm duyên lui sụt, sợ mất Thánh quả, khởi tu hoặc . Đó là: đi xa, nhiều bệnh, thích tụng kinh điển, thích hòa giải tranh tụng, thích làm việc Tăng. Nếu đắc quả trong cõi trời, không gặp các duyên lui sụt, liền đạt được Bất thoái, chứng nhập Vô dư Niết-bàn ”. Hành giả cũng như vậy, chưa đạt được ba Bất thoái trước trong cõi người, nếu ở Ta-bà thì sẽ trôi lăn trong sinh tử, đó là lẽ tất nhiên. Bởi vì cõi nhiễm này có năm duyên lui sụt:

1. Mạng sống ngắn ngủi, nhiều bệnh tật.

2. Nhiều duyên xấu ràng buộc, ngăn ngại tịnh tâm.

3. Những tạp thiện của ngoại đạo làm loạn chánh hạnh.

4. Cảnh giới sáu trần khuấy động tịnh tâm.

5. Không thường thấy Phật, chẳng nghe được lời chỉ dạy của Phật.

Nếu thường ở trong cõi này thì gặp năm duyên lui sụt đó. Nhưng vãng sinh Tịnh độ thì gặp được năm duyên tối thắng:

1. Mạng sống lâu dài, không có bệnh tật.

2. Bạn tốt dìu dắt.

3. Toàn là chân chánh, không có tà vạy.

4. Hoàn toàn thanh tịnh, không có cấu nhiễm.

5. Luôn luôn phụng sự chư Phật.

Nhờ năm duyên này, nên được Bất thoái. Xét về hành vị không thể sánh bằng, nhưng được cõi tốt duyên lành, lại không lui sụt. Giống như người ác thường làm việc bất thiện, gặp được bạn lành, xót thương khuyên bảo không còn kết thân với kẻ ác nữa, thường theo người hiền, cho đến suốt đời không tạo tội ác nữa.

Phần 9

Kinh A-di-đà ghi: “Không thể với nhân duyên phước đức thiện căn nhỏ mà được vãng sinh Cực Lạc”.

Hỏi: Vãng sinh Tịnh độ cần phải nhờ vào thiện lớn, hành trì đầy đủ các tịnh nghiệp mới được vãng sinh. Nếu chỉ niệm Phật suông như thế, làm sao vãng sinh Cực Lạc?

Đáp: Nói về thiện căn nhiều ít thì chỉ cần căn cứ vào việc niệm Phật để trình bày. Nếu quá khứ không có nhiều duyên thiện thì đời này không được nghe danh hiệu Phật. Nhưng nay được nghe đến Tịnh độ, chuyên tâm niệm Phật, tức là do nhân thiện quá khứ; lại nhớ nghĩ Tây Phương, quyết tâm sinh về, đây là thiện căn lớn. Tuy nghe đến Tịnh độ của Phật A-di-đà, phát nguyện vãng sinh, nhưng việc tu không chuyên, tâm không quyết định, đó chỉ là thiện nhỏ không thể vãng sinh Tịnh độ được.

Lại hỏi: Về việc niệm Phật, chỉ niệm danh hiệu, giả sử có chuyên tâm, nhưng chưa phải là thiện căn lớn, dẫu có xưng niệm danh hiệu Phật cũng đâu được vãng sinh?

Đáp: Niệm Phật, là nói về pháp tu chung. Bởi vì căn cơ chúng sinh thọ nhận lợi ích khác nhau, do nguyện hạnh của chư Phật mà thành tựu danh hiệu Phật, do đó chỉ niệm danh hiệu Phật là bao hàm đầy đủ các công đức, cho nên trở thành thiện lớn, không trái nguyện vãng sinh. Nên kinh Duy-ma-cật ghi: “Ba danh hiệu trước của Phật , nếu Phật giảng rộng thì tôn giả A-nan trải qua muôn kiếp cũng không thể lãnh hội được”.

Luận Thành Thật giải thích về danh hiệu Phật: chín danh hiệu trước của Phật, đều thành lập theo nghĩa riêng. Nay gom công đức của chín danh hiệu trước lập thành danh hiệu Phật Thế Tôn. Cho nên, nếu chỉ nói ba danh hiệu đầu tiên thì dù trải qua muôn kiếp cũng không cùng, A-nan không thể lãnh ngộ hết được, huống gì lại thêm sáu danh hiệu sau nữa để tạo thành danh hiệu Phật. Vì danh hiệu Phật có đầy đủ công đức thù thắng, cho nên niệm danh hiệu Phật trở thành thiện lớn.

Phần 10

Kinh A-di-đà ghi: “Này các thiện nam, thiện nữ! Số Thanh văn niệm Phật cầu vãng sinh Cực Lạc rất đông, nhiều vô lượng vô biên”. Nhưng luận Tịnh Độ lại nói: “Đối với hàng căn khí Đại thừa thì hoàn toàn không có điều gì đáng nói, nhưng Nhị thừa, người nữ và người thiếu căn thì không được vãng sinh”.

Hỏi: Như luận Tịnh Độ nói người nữ, người thiếu căn và hàng Nhị thừa đều không được vãng sinh. Nhưng kinh A-di-đà nói đều được vãng sinh Cực Lạc. Như thế cả hai kinh đều là Thánh giáo, tại sao mỗi kinh nói khác nhau?

Đáp: Mỗi bộ kinh luận tùy theo một duyên, nhưng xét kỹ lại thì hoàn toàn không sai khác. Nói người nữ được vãng sinh, là do tâm tánh quyết định, vì quá nhàm chán thân nữ, hết lòng niệm danh hiệu Phật để cầu vãng sinh Tịnh độ, đến khi báo thân ở cõi Ta-bà hết, chuyển làm thân trượng phu, ngồi vào đài sen báu, liền được vãng sinh Tịnh độ. Nói người thiếu căn được vãng sinh, có năm hạng: Sinh, Kiền, Bán nguyệt, Đố, Nhị hình . Những người thiếu căn như thế, tâm tánh không bình thường, nhưng nếu phát tâm dõng mãnh, quyết chí xả bỏ thân tàn tật thiếu căn này, để cảm nhận thân đầy đủ căn, liền được vãng sinh Cực Lạc.

Hàng Nhị thừa có hai:

– Thứ nhất là hàng Ngu pháp, chỉ chứng lý Nhân không, không biết lý Pháp không, đạt được quả nhỏ , cho nên gọi là Ngu pháp. Hạng này chỉ mong cầu lợi mình, không thực hành hạnh lợi tha, vì thế không được vãng sinh Tịnh độ.

– Thứ hai, hàng không Ngu pháp. Các vị này tuy chứng được quả A-la-hán, nhưng không trụ vào quả nhỏ mà theo các Bồ-tát phát khởi tâm Đại thừa, nguyện sinh về ngay trước Phật để phát khởi hạnh lợi tha, do đó được vãng sinh Tịnh độ.

Hỏi: Luận Tịnh Độ nói: “Hàng Nhị thừa không được vãng sinh”. Vì sao Quán Kinh nói: “Được vãng sinh Tịnh độ, nhưng lại chứng quả nhỏ”?

Đáp: Người này, trước có chủng tử Tiểu thừa, gặp được Thiện tri thức, phát khởi tâm Đại thừa, do nhân tu tập Tiểu thừa trước kia mà chứng ngộ được Tứ phi thường , rồi phát khởi túc nhân liền chứng được quả nhỏ, nhưng nhờ vào sức dẫn dắt của thiện hữu tri thức Đại thừa, nên không trụ vào quả Tiểu thừa, mà trở lại phát khởi niệm Đại thừa, do đó chẳng còn là Tiểu thừa. Tuy căn là người nữ, nhưng thường cầu Bồ-đề, tin sâu Phật tính của mình và người đều bình đẳng, liền phát thệ nguyện sẽ thành Phật, độ khắp chúng sinh, tâm muốn xả bỏ thân người nữ, liền được vãng sinh Tịnh độ, đến khi báo thân sắp hết, Hóa Phật đến tiếp dẫn, thành bậc đại trượng phu, ngồi vào đài sen, được Phật giúp cho tâm an ổn, liền vãng sinh Cực Lạc. Kinh căn cứ vào nghĩa này, nên nói người nữ đều được vãng sinh. Còn Luận không căn cứ vào nghĩa này, nên cho rằng không được vãng sinh. Hàng Thanh văn cần phải phát khởi tâm Đại thừa, nương theo đây tu tập, liền được vãng sinh. Nhưng vẫn lấy theo tên cũ mà gọi là Thanh văn.

Hỏi: Hàng Thanh văn thường bị chê trách, vì sao họ sinh vào cõi kia vẫn còn gọi tên ấy?

Đáp: Hàng Thanh văn ngu pháp, mắc lỗi tự lợi quá nặng, không thực hành hạnh lợi tha, cho nên bị chê trách. Tuy vẫn gọi tên xưa, nhưng bây giờ là Đại Thanh văn, hạnh lợi tha rất lớn, đó là mỹ danh. Do đó kinh Pháp Hoa nói: “Chúng ta ngày nay chính là Thanh văn, dùng âm thanh Phật đạo khiến cho tất cả đều được nghe”. Tây Phương cũng thế, tuy có Tiểu thừa, nhưng đều là Thanh văn chân chánh, cho nên không có lỗi bị chê trách.

Phần 11

Dung hội cho Hành giả Tam Giai . Hành giả Tam Giai có năm mối nghi nhỏ.

1. Hỏi: Chúng sinh bị trôi lăn trong sinh tử luân hồi chịu nhiều khổ não. Truy tìm nguyên do đều phát khởi từ ba tà độc. Nay chuyên tâm niệm Phật, nguyện vãng sinh Tây Phương, tà độc càng tăng trưởng, há chẳng phải là kiến giải điên đảo ư? Vì sao? Bởi vì cõi Ta-bà ô trược, lẽ ra phải thường ở, nhưng lại sinh nhàm chán xả bỏ, đó chính là Tà sân. Tây Phương Tịnh độ là nơi chư Thánh qua lại, không phải chỗ ở của phàm phu mà lại phát nguyện sinh về, tức là Tà tham. Sở dĩ như thế đều là do vô minh, đó là Tà si. Đây là ba mầm độc chất chứa trong ruộng tâm, giả sử có niệm Phật, thì cũng chiêu cảm đến thần, ma, quỷ…, làm sao được vãng sinh Tịnh độ?

Đáp: Giáo chỉ có sai khác, nhưng đều mong muốn làm lợi ích muôn loài, người học khéo biết lấy bỏ, mỗi mỗi tùy theo cơ duyên. Vì sao? Nếu như ngộ được Vô sinh, lẽ ra có thể ở lâu trong cõi Ta-bà, nhưng nếu chưa chứng được giai vị Bất thoái thì khó trụ nơi cõi uế. Nếu khế ngộ được Vô sinh thì Cực Lạc và Ta-bà không khác, chẳng cần nhàm chán cõi ô trược, ngưỡng cầu Tây Phương thanh tịnh. Nhưng nếu thân vẫn còn trong luân hồi, thì cần phải nguyện sinh cõi kia. Bồ-tát tuy trụ ở cõi uế, nhưng Lý và Giải đã thông, qua lại không còn cách trở. Hàng phàm phu chưa thành tựu thắng quán, tuy tạm thời dứt khổ, nhưng rồi vẫn trở lại dòng khổ đau. Do đó, xả bỏ cõi nhiễm, chẳng nuôi lớn Tà sân; còn ưa thích Tây Phương, thì Tà tham không khởi, đồng thời tương ưng với phân biệt huệ . Bên trong gom chứa ba thiện căn , bên ngoài chiêu cảm sự trợ giúp của chư Phật. Sau khi bỏ báo thân ở cõi này, liền được hoa báu cõi Tịnh nghinh đón. Chớ sợ thần, ma, quỷ mà không nỗ lực tu trì chánh nghiệp.

2. Hỏi: Nghiệp đạo như cán cân, thiện ác ắt có báo ứng. Từ lúc cảm nhận thân mạng đến nay, chúng sinh tạo ác rất nhiều, tại sao không nhận chịu quả báo mà được sinh thẳng về Tây Phương? Giả sử muốn được vãng sinh lẽ nào không bị chướng ngại?

Đáp: Hễ tạo nghiệp thì nhất định phải nhận quả báo khổ vui. Đã đồng là phàm ngu thì cái nhân tội lỗi chồng chất lâu ngày ấy không thể nói là không có. Ngày nay thọ nhận được báo thân người, nghiệp ác ấy đoạn trừ hết chưa? Nếu cho rằng đã đoạn hết, thì nay đâu còn ác để đoạn trừ. Nếu như chưa diệt sạch, thì tại sao không chướng ngại nhân thọ sinh?

Này hành giả Tam Giai! Lúc thọ nhận thân mạng này, các nhân ác chưa đoạn trừ, nhưng do nghiệp cõi người mạnh hơn, nên ác kia không thể ngăn ngại, đến khi thiện căn đã hết thì sẽ phải thọ lãnh quả khổ. Cần phải nói lại rằng: tuy ác nghiệp chưa đoạn trừ, nhưng do nghiệp cõi người mạnh hơn, nên không mất việc chiêu cảm thân người, lại nhờ Tịnh nghiệp chuyển mạnh thì làm sao có thể ngăn ngại được việc vãng sinh! Vì sao? Bởi vì Tam quy, Ngũ giới chỉ là nhân thiện hữu lậu, nên vẫn bị điên đảo mộng tưởng dẫn dắt gá vào thai mẹ. Hạnh thấp kém này mà nghiệp ác còn không thể ngăn ngại, cho nên mới được thân người. Huống gì sức của nghiệp ác đã không mạnh, lại còn nhờ chánh hạnh từ quá khứ và sự phát tâm hiện tại, nguyện đoạn tận gốc rễ khổ đau, thì tương lai sẽ làm Phật, niệm niệm tinh tấn nguyện sinh Tây Phương. Khi báo thân này hết, có các Bồ-tát từ bi xót thương đến hộ niệm, khiến trụ vào chánh niệm, được thấy Thánh chúng trước mặt, chỉ khao khát muốn được vãng sinh, nhờ nhân duyên thù thắng này, cho nên vãng sinh được dễ dàng. Do đó, chớ nên hoài nghi mà không tinh tấn tu tập tịnh nghiệp!

3. Hỏi: Căn cứ vào việc tu hành ngày nay, mọi người đều lấy việc học hỏi kinh điển làm tông thú, chỉ niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà thì trở thành kiến chấp, lại chướng ngăn Thánh đạo, không thoát khỏi luân hồi, tại sao không lìa bỏ pháp môn tu riêng này để tu học tất cả các hạnh?

Đáp: Tu học khắp các hạnh là lợi ích rất lớn, bậc hiền trí thông đạt mới có khả năng lĩnh hội; kẻ trí cạn sức hèn, khó mà kham nổi. Do đó, Đức Phật tùy theo cơ duyên chỉ dạy chúng sinh tu pháp môn riêng này, vì hợp với căn tánh, không tổn hại đến lý. Nếu nương vào pháp môn riêng biệt này làm nhân để tu tập thì thành tựu hành nghiệp rộng lớn.

4. Hỏi: Muốn tu Đạo lớn trước phải biết rõ nhân của khổ, truy xét nguồn gốc khổ đau đều do nghiệp ác mà khởi ra các cảnh ác. Ở cõi Ta-bà này không hiểu được lý tánh, lý tướng của chư Phật, nên tạo ra vô lượng vô biên nghiệp ác. Tất cả chúng sinh có hai đặc điểm: Một là Thật báo. Hai là Ứng hình. Thật báo tức chân thể, Phật tánh; hình tướng tức Phổ thân . Bởi vì chúng sinh mê bản thể, cho nên nơi Như Lai Tạng vọng khởi tâm tham, sân, si. Hình tướng tuy có sai khác, nhưng Phổ thân thì chỉ một. Do chúng sinh cách đời khác thì không còn nhận biết nhau, rồi vọng khởi lên tâm yêu ghét, thường đối với cha mẹ Phật tánh, mà tạo các hạnh sát, đạo, dâm v.v… Các bậc Thánh Tam thừa thương xót chúng sinh, ứng hiện thân đồng phàm phu, nhưng chúng sinh mê mờ không nhận biết, liền khinh thường, bức bách, làm tăng trưởng duyên ác. Do trước kia không biết rõ, bèn sinh mộng tưởng đảo điên. Ngày nay được khai ngộ, đối cảnh liền nhớ nghĩ đến lỗi lầm, cho nên diệt trừ tội ác đã làm, không cho phát sinh lỗi lầm mai sau. Nhưng ở cõi này sám hối, mọi tội lỗi có thể tiêu trừ, còn nhàm lìa cõi Ta-bà, thích sinh về Tịnh độ, lẽ nào không còn oán kết ư?

Đáp: Muốn đạt được Đạo lớn cần cắt đứt nguồn gốc khổ đau, dứt trừ nguồn gốc khổ đau không gì hơn đoạn sạch hết các lỗi ác. Nơi tạo ra oan khiên chính ở cõi Ta-bà. Chất chứa những oán hiềm, trở thành ái kết , ngày nay xét kỹ, đều do điên đảo mộng tưởng trói buộc. Vì muốn cho chúng sinh hiểu rõ chân thể là Phật tánh, hình tướng là Phổ thân, cho nên chư Phật từ bi mở bày phương tiện, ứng khắp trong sáu đường, hiện thân đồng phàm phu. Kiến giải như thế, mọi người đều biết, nhưng luận về khởi hạnh tu tập thì hoàn toàn không. Vì thế hiểu biết thì dễ, nhưng thực hành lại khó.

Chỉ nên nghĩ tưởng pháp môn này chân thật không hư dối, khởi tâm sám hối những tội ác đã làm, và nguyện không phạm những lỗi ở mai sau, chuyên tâm niệm danh hiệu Phật, và tu tất cả pháp môn, hồi hướng vãng sinh Tịnh độ, khẩn cấp như cứu lửa cháy đầu. Cõi này là chốn trầm luân, thở than muôn kiếp lạc đường, hãy an tâm nơi cõi Cực Lạc, chứng quả Vô sinh, thành tựu được hạnh tự lợi rồi, nên trở lại cõi Ta-bà, mở lòng đại bi giáo hóa chúng sinh, bình đẳng cứu giúp mọi loài, không dừng lại giữa đường, không rẽ sang lối khác. Chỉ vận tâm khởi niệm: trước vì đáp trả oán thù xưa, nguyện xả bỏ nhân khổ đau, cùng nhau sinh về Cực Lạc, khi họ đều đã lĩnh hội, liền xả bỏ được oán hiềm. Không nên do đây mà mãi ôm giữ mối nghi!

5. Hỏi: Ngày nay cách Phật quá xa, hàng phàm ngu thấp kém, cần phải lễ sám bồ-tát Địa Tạng, một vị Bồ-tát có duyên với chúng sinh ở cõi này, lẽ ra phải chuyên niệm danh hiệu Ngài và niệm Tam Bảo. Niệm danh hiệu Phật A-di-đà ở Tịnh độ là pháp môn tu hành của hàng thượng căn, và hàng căn cơ Đệ nhị giai mới có khả năng phát khởi niệm. Chúng sinh nay đã ở vào thời ác trược, tánh dục thấp hèn, làm sao thực hành được pháp môn tu tập của các bậc thượng căn? Bậc thượng căn tu học pháp của hàng hạ căn thì không hợp và chậm tiến đạo; còn hàng hạ căn tu tập pháp của bậc thượng căn thì chướng đạo, chịu khổ mà thôi. Pháp môn tu tập và căn cơ đã không khế hợp nhau thì có thể thành tựu được ư?

Đáp: Những điều ông nêu ra thật cũng hợp với kinh giáo, bởi nếu tu tập chưa lâu thì sẽ phát khởi mối nghi này. Nhưng muốn dứt nghi, thì cần phải mở ra pháp tu thiết cận. Ở đây xin lược nêu hai nghĩa: thứ nhất là dẫn Thánh giáo; thứ hai là phân tích nghĩa môn.

+ Dẫn Thánh giáo:

Nói về Thánh giáo thì rất nhiều bộ loại, nếu chép ra nhiều, thật khó nghiên cứu, ở đây chỉ trích dẫn sơ lược năm đoạn kinh quan trọng để nêu lên những điều hi hữu, ít thấy, nghe:

1. Kinh Đại Tập Hiền Hộ ghi: “Phật bảo Hiền Hộ: “Sau khi Như Lai Niết-bàn, các đệ tử hãy lưu truyền môn Tam-muội này. Các tỳ-kheo xấu ác, không thể tin thọ, cho là lời của ngoại đạo, lời của ma”. Phật lại bảo Hiền Hộ: “Khi tỳ-kheo làm việc xấu ác, khi các nước đánh nhau, hủy báng lẫn nhau, khi chúng sinh ở trong ác trược thì bốn chúng đệ tử có khả năng lưu truyền pháp này để làm lợi ích chúng sinh”.

2. Kinh Dược Sư ghi: “Bồ-tát Văn-thù vì chúng sinh thời Tượng pháp mà thỉnh: bốn chúng đệ tử cầu vãng sinh Tây Phương, nhưng tâm không quyết định thì niệm danh hiệu Dược Sư, liền đoạn trừ được lưới nghi, đến khi sắp chết có tám vị Bồ-tát dẫn dắt vãng sinh”.

3. Kinh A-di-đà ghi: “Chư Phật ở các phương khác đều khen ngợi Đức Phật Thích-ca ở trong cõi Ngũ trược lại nói được pháp khó tin nhận, chư Phật ở sáu phương đều hiện tướng lưỡi rộng dài nói lời chân thật để xác chứng”.

4. Quán Kinh ghi: “Hoàng hậu Vi-đề-hi vì những chúng sinh bị năm ác trược bất thiện, năm nỗi thống khổ bức bách, thỉnh Phật giảng pháp môn Niệm Phật cầu sinh Tịnh độ. Lại nữa, trong ba phẩm thuộc bậc hạ, toàn là những hạng người tạo nghiệp ác, cũng đều được vãng sinh”.

5. Kinh Vô Lượng Thọ ghi: “Đức Phật Thích-ca vì chúng sinh trong cõi Ngũ trược mà thuyết pháp, giúp chúng sinh xa lìa năm việc xấu ác, trừ năm nỗi thống khổ, diệt năm ngọn lửa đốt thân . Lại, vào đời sau, khi các kinh Phật bị hủy diệt hết, Như Lai vì lòng từ bi thương xót chúng sinh, chỉ lưu truyền một bộ kinh này, lưu trụ lại trăm năm. Bấy giờ, chúng sinh khởi lên một niệm tín thọ liền được vãng sinh về Cực Lạc”.

Hỏi: Các đoạn kinh được trích dẫn chính thật do Phật nói, hoàn toàn không hư dối, nhưng chưa biết đó là pháp môn phương tiện hay là giáo lý rốt ráo?

Đáp: Lời ông hỏi rất đúng. Các kinh giáo được viện dẫn đều là pháp môn rốt ráo. Vì sao? Vì nếu là giáo Bất liễu nghĩa thì Phật đã giải thích rõ nơi hội Niết-bàn. Nhưng pháp môn Tịnh độ này đã chẳng còn gì nghi để hỏi nơi Song thọ. Hơn nữa, chư Phật trong mười phương đều đã xác chứng. Căn cứ vào hai nghĩa này, cho nên đây chẳng phải là pháp phương tiện. Trên là trích dẫn sơ lược Thánh giáo để trình bày nhân của giáo thuyết.

+ Trình bày nghĩa môn:

Giải thích sơ lược nghĩa môn, để trừ bỏ mối nghi. Nhất âm diễn xướng thì mỗi mỗi căn cơ liễu ngộ khác nhau. Tuy có muôn ngàn sai khác, nhưng đều được khế ngộ. Bồ-tát Địa Tạng phát nguyện rộng lớn vào cõi ác cứu độ chúng sinh. Đức Phật A-di-đà dùng lòng đại bi chỉ trong mười niệm tiếp dẫn hàm linh. Nếu không cầu vãng sinh Tịnh độ e rằng sẽ rơi vào ba đường ác. Niệm danh hiệu bồ-tát Địa Tạng là mong cầu cứu khổ. Nay khuyên chuyên tâm niệm danh hiệu Phật, phát nguyện vãng sinh Tây Phương, khi mạng sống sắp hết, chư Phật liền đến tiếp dẫn; đã được vãng sinh Tịnh độ, bặt dứt ba đường, không còn nếm chịu các khổ não, không nhọc công cầu xin cứu vớt. Tông chỉ của Tam giai giáo là tùy theo thời cơ mà nói, sau 1.500 năm không có người tu Tịnh nghiệp, giả sử có người tu tập, các hạnh đều thành tựu, đó là hạng Đệ nhị giai chứ chẳng phải là hàng phàm phu thấp kém. Nay xét ý này, thì hành nhân vừa nói chỉ gồm phẩm Thượng và Trung trong ba phẩm. Còn pháp môn Tịnh độ, định tán đều chung, tác nghiệp cạn hay sâu đều được vãng sinh Cực Lạc. Từ hàng xuất gia thanh tịnh hay kẻ tại gia tôn quý ở nơi vắng lặng, tâm trí không loạn, tu tập quán nghiệp, nhất định vãng sinh. Những người chẳng màn vinh hoa, chẳng để tâm đến các việc công tư, chẳng tham việc thế tục, siêng năng học hỏi, tu tập đạo nghiệp, đầy đủ Tán nhân ba phước , nhất định vãng sinh Cực Lạc. Người thiếu thốn của cải, công việc trói buộc, nhưng quyết một lòng tu hành, cũng được vãng sinh. Người đời nay gây tội, cho đến kẻ Nhất-xiển-đề khi mạng sống sắp hết, bị các thứ khổ bức bách, bỗng nhiên gặp được thiện hữu tri thức, hướng dẫn niệm danh hiệu Phật, tướng ác được tiêu trừ, liền vãng sinh Cực Lạc. Bậc thiện căn Đại thừa, từ người suốt đời không tạo lỗi, cho đến bậc Hồi hướng chung tâm , căn cứ vào tác nghiệp cạn hay sâu mà phân làm ba phẩm bậc Thượng. Người căn cơ Tiểu thừa, từ Thiện thú cho đến Thế đệ nhất pháp , chia làm ba phẩm bậc Trung. Hạng thuộc căn cơ Đại thừa hay Tiểu thừa, căn cứ theo lỗi nặng nhẹ, phân làm ba phẩm bậc Hạ. Đây là do tu đạo cạn hay sâu, tạo ác nặng hay nhẹ, nhưng đều phát tâm Bồ-đề, nguyện vãng sinh Tịnh độ, tùy theo nghiệp nhiều ít mà đều được vãng sinh. Không thể chấp lệch một bề, hủy báng nghi ngờ Tịnh nghiệp.

Lại nói, thời ác trược ngày nay không thích hợp cho người niệm Phật nguyện cầu vãng sinh Tịnh độ. Lời này thật thiển cận! Kinh Vô Lượng Thọ (Đại bản) ghi: “Khi kinh Phật diệt hết, Đức Phật vì lòng từ bi thương xót chúng sinh, chỉ lưu lại kinh này một trăm năm. Lúc bấy giờ, chúng sinh nghe danh hiệu Phật mà phát khởi niềm tin, đều được vãng sinh Cực Lạc”. Ý muốn nói Như Lai thuyết giáo để làm lợi ích chúng sinh có thời hạn. Sau 10.000 năm mạt pháp, các kinh khác hoàn toàn diệt hết, chỉ có kinh A-di-đà làm lợi ích vô số chúng sinh, cho nên Đức Phật chỉ lưu lại kinh này trăm năm. Bấy giờ đã trải qua 10.000 năm thời mạt pháp, tất cả các kinh đều diệt hết, Đức Phật Thích-ca có ân đức lớn thương xót chúng sinh lưu lại giáo pháp 100 năm. Lúc ấy, người tu liền được vãng sinh Tịnh độ, tại sao còn nghi ngờ mà không phát nguyện vãng sinh? Xét rõ văn kinh này, đủ để trừ bỏ mối lo, chớ ôm giữ kiến chấp trong lòng mà không dung thông được các kinh.

Phần 12

Căn cứ vào luận Nhiếp Đại Thừa để dung thông nghĩa Biệt thời . Luận ghi: “Chỉ cần phát nguyện liền được vãng sinh về cõi An lạc. Đó là nghĩa Biệt thời”.

Hỏi: Luận Nhiếp Đại thừa cho đó là Biệt thời. Nay kinh này dạy niệm Phật liền được vãng sinh thì thế nào?

Đáp: Nghĩa Biệt thời của Nhiếp Luận và pháp môn Tịnh độ đâu có gì khác nhau. Vì sao? Bởi vì khi phát nguyện chưa thể vãng sinh ngay, nhưng từ tâm phát nguyện mà khởi hạnh niệm Phật mới thành tựu Tịnh nghiệp. Trước nguyện, sau hạnh nên nói là Biệt thời, chứ không phải cho rằng niệm Phật không vãng sinh ngay được.

*

Phần 13

Dung thông với kinh Pháp Hoa. Kinh ghi: “Nếu người tâm tán loạn đi vào trong tháp miếu, vừa niệm Nam mô Phật, đều đã thành Phật đạo”.

Hỏi: Người tâm tán loạn niệm danh hiệu Phật thì chưa thành tựu quả Phật ngay (chỉ mới thành tựu Phật đạo). Còn người một đời niệm danh hiệu Phật, tại sao lại vãng sinh về cõi Tịnh?

Đáp: Tâm tán loạn xưng niệm liền thành Phật đạo, bởi Phật đạo là nhân, thật không hư dối. Niệm Phật vãng sinh cõi Tịnh, tức khi báo thân hết sẽ sinh về, cũng đâu có sai?

Phần 14

Trình bày sơ lược về phương pháp tu tập.

Hỏi: Đã rõ niệm Phật để làm nhân vãng sinh, nhưng chưa biết phải hiểu như thế nào? Phương pháp chân chánh niệm Phật ra sao?

Đáp: Xét từ quá khứ vô biên vô số kiếp, dẫu kẻ có tu nhân thì hư dối nhiều mà chân thật ít, chỉ cầu danh lợi, vọng chấp nhân ngã: Dù họ có làm nhiều thiện duyên cũng không phải vì chánh lý, do đó phải bị trôi lăn trong đường ác, chịu khổ vô cùng. Đức Thánh chủ A-di-đà để lại danh hiệu nhiếp hóa chúng sinh đời sau, Ngài đã thành tựu quả Phật trải qua 10 kiếp. Còn bọn chúng ta ngu si, chỉ biết tham làm điều ác, tuy học Phật pháp mà chỉ cầu danh hiện đời; tự cho mình đúng còn người khác là sai; tâm thường ngạo mạn, tìm cầu cơm áo, ngày đêm nhọc nhằn; nếu có lúc rảnh rỗi thì chạy theo bạn ác. Giả như không gặp được bạn tốt thì làm sao nghe được cõi Tịnh? Một mai vô thường thì rơi trở lại con đường ác. Nay gặp được bậc đại thiện hữu tri thức có duyên với ta, dạy ta tư duy, bỏ những hạnh ác, được nghe bổn nguyện từ bi của Đức Phật A-di-đà, từ mười kiếp đến nay thường hoằng hóa chánh pháp. Bởi ta bị nghiệp chướng nặng nề, nên ngày nay mới được nghe, trong lòng bi thương, vô cùng hổ thẹn, tham sân si sinh khởi dẫy đầy. Nhưng chỉ cần tu theo bốn cách để làm chánh nghiệp:

1. Tu thời gian dài, là từ khi phát tâm cho đến lúc thành Phật, luôn tạo nhân Tịnh độ, không hề thoái chuyển.

2. Tu cung kính, ở đây lại có năm trường hợp:

– Cung kính những bậc Thánh có duyên: nghĩa là khi đi, đứng, ngồi, nằm không quay lưng về phương Tây; hỷ mũi, khạc nhổ cũng không hướng về phương Tây.

– Cung kính tượng và giáo có duyên: tượng là tạo Biến tướng Phật A-di-đà Tây Phương, nếu không vẽ được nhiều thì chỉ cần vẽ một hình Đức Phật và một hình Bồ-tát cũng được. Giáo là như các kinh A-di-đà v.v…, nên đựng trong đãy ngũ sắc, tự mình đọc tụng hoặc hướng dẫn mọi người đọc tụng. Những kinh và tượng này, nên an trí trong thất, sáu thời lễ sám, dâng hoa hương cúng dường, hết lòng cung kính tôn trọng.

– Cung kính các bậc thiện hữu tri thức có duyên: nghĩa là những bậc tuyên giảng giáo nghĩa Tịnh độ, dù ở xa ngàn do-tuần , hay dưới 10 do-tuần cũng đều cung kính tôn trọng, thân cận cúng dường. Còn đối với những người tu học pháp môn khác cũng đều khởi tâm cung kính, xem họ không khác với mình, chỉ biết hết lòng kính trọng. Nếu khởi tâm khinh thường thì phạm tội rất nặng. Cho nên, cung kính hết thảy thì trừ được chướng ngại cho công hạnh tu tập.

– Cung kính bạn đồng học: nghĩa là cung kính những người cùng tu Tịnh nghiệp với mình. Do nghiệp chướng của mình sâu dày, tự mình tu tập riêng biệt sẽ khó thành tựu, cho nên cần phải nương nhờ vào bạn tốt đồng tu mới có thể thành tựu đạo hạnh. Bạn bè đồng tu học nên cứu giúp những lúc hoạn nạn, phải hết lòng tương trợ, bảo vệ và tôn trọng lẫn nhau.

– Cung kính Tam Bảo: Biệt tướng hay Đồng thể Tam Bảo đều phải hết lòng cung kính. Ở đây không ghi chép, vì e người tu hành cạn cợt không thật nương vào đó để tu tập, nên chỉ trình bày sơ lược về Trụ trì Tam Bảo để tạo nhân duyên lớn cho những hạng người ấy!

+ Phật bảo là những tượng Phật được chạm khắc bằng gỗ chiên-đàn, bằng vàng ròng, ngọc, hay thêu dệt trên lụa, hay tạo bằng đá, đất. Phải hết lòng cung kính những linh tượng này, rồi quán tướng để tiêu tội, tăng phước. Nếu khởi một mảy tâm khinh thường thì tội ác tăng trưởng, mất hết thiện căn, chìm mãi đường ác. Chỉ cần quán tưởng tượng Phật thì tương lai sẽ thấy chân Phật.

+ Pháp bảo là giáo chỉ Tam thừa của Phật, được lưu thông khắp pháp giới, được danh cú diễn đạt, là duyên phát sinh giải ngộ, cho nên cần phải trân trọng kính ngưỡng. Vì là nền tảng phát khởi trí tuệ, nên sao chép tôn kính, thường bảo quản trong hòm, an trí trong tịnh thất thật trang nghiêm. Mỗi khi đọc tụng, thân tâm phải thanh tịnh.

+ Tăng bảo là Thánh tăng Bồ-tát, đối với những người phá giới cũng nên bình đẳng khởi tâm cung kính, chớ sinh tâm khinh thường.

3. Tu không gián đoạn: nghĩa là thường xuyên niệm Phật, phát tâm cầu vãng sinh, bất cứ lúc nào cũng khéo léo quán tưởng. Giống như có người bị bắt giam, làm kẻ tôi tớ, chịu đủ mọi cay đắng nhọc nhằn, bỗng nhớ đến cha mẹ, muốn trốn về quê cũ, nhưng hành trang chưa đủ, phải ở lại quê người, ngày đêm suy nghĩ, khổ đau tột cùng, không lúc nào không nhớ đến cha mẹ. Đến khi sự việc đã thành, liền được trở về quê, gần gũi cha mẹ, mặc tình vui sướng. Hành giả cũng vậy, trước kia do nhân phiền não làm nhiễu loạn thiện tâm, tài sản phước trí đều tan mất, đắm chìm lâu ngày trong sinh tử, bị phiền não khống chế, không được tự do, thường làm tôi tớ cho Ma vương, dong ruỗi trong sáu đường, đau đớn thân tâm. Nay gặp được duyên lành, chợt nghe được danh hiệu Đức Từ phụ A-di-đà, không trái với nguyện lớn, nguyện cứu vớt quần sinh, nên ngày đêm dốc lòng phát nguyện vãng sinh. Cho nên chuyên cần, không mệt mỏi, biếng trễ, luôn nhớ nghĩ ân Phật, tâm thường giữ chánh niệm đến hết báo thân này.

4. Không tu pháp môn khác: nghĩa là chuyên tâm cầu sinh Cực Lạc, lễ bái xưng niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà, không được xen lẫn vào các pháp môn khác, hàng ngày cần phải tu tập như vậy, niệm Phật tụng kinh, không hành các khóa lễ khác.

 

The post TÂY PHƯƠNG YẾU QUYẾT – Thích Nguyên Chơn appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Bảy Ngày Khai Thị Phật Thất https://bachhac.net/bay-ngay-khai-thi-phat-that.html https://bachhac.net/bay-ngay-khai-thi-phat-that.html#respond Sat, 22 Feb 2020 03:38:46 +0000 https://bachhac.net/?p=2782 Nguyên tác: Ḥa thượng Diệu Liên Việt dịch: Thích Tâm An —ooOoo— NGÀY THỨ NHẤT Núi non đêm ngày thanh tỉnh, Danh hiệu Phật rửa sạch trần tâm 1.- Trời cao không phụ công lao người khổ nhọc Chư vị về chùa Linh Nham tu Phật thất, ngày nay chỉ là ngày đầu tiên của …

The post Bảy Ngày Khai Thị Phật Thất appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
7 ngày khai thị phật thất

Nguyên tác: Ḥa thượng Diệu Liên
Việt dịch: Thích Tâm An

—ooOoo—

NGÀY THỨ NHẤT

Núi non đêm ngày thanh tỉnh,

Danh hiệu Phật rửa sạch trần tâm

1.- Trời cao không phụ công lao người khổ nhọc

Chư vị về chùa Linh Nham tu Phật thất, ngày nay chỉ là ngày đầu tiên của khóa tu, chư vị biết niệm Phật rất tốt, song, trong khi niệm Phật cần phải giữ nhịp độ ổn định, không nên niệm cao quá, sẽ tổn hao thần lực, cũng không niệm nhỏ quá, sẽ bị hôn trầm. Nhịp độ niệm phải vừa phải, không nhanh cũng không chậm.

Vì thời gian chúng ta còn dài, chúng ta niệm Phật làm sao phải như dòng suối tuôn chảy, êm đềm mà không gián đoạn. Có như thế thân tâm mới có an tịnh, nghiệp chướng mới tiêu trừ, phước đức mới tăng trưởng. Nếu có thể niệm niệm không gián đoạn th́ đạo nghiệp nhất định sẽ mau thành tựu.

Cách dụng công niệm Phật phải như thế nào ? Chúng ta phải có thời gian, công phu tu tập phải trường kỳ khổ nhọc, th́ mới có thể thành tựu, cho nên tục ngữ có câu : “Trời cao không phụ người khổ nhọc” ư là thế. Đây là ngày khởi điểm của khóa tu, chư vị phải dụng công cho tốt, có như thế những ngày c̣n lại mới có kết quả. Điều đáng sợ nhất của người tu niệm Phật là không có tâm thành kính.

2.- Trong cung kính ngoài mới chí thành

Phật pháp có thành tựu hay không cũng ở tâm chí thành, cho nên người xưa có nói : “Trong cung kính, ngoài mới chí thành”. Nội tâm nếu có thành kính sẽ biểu hiện ra bên ngoài sự cung kính. Hiện tại, chư vị đang chắp tay nghe khai thị, hành động chắp tay là hành động biểu hiện cho sự cung kính của nội tâm. Nếu chư vị có tâm thành kính, không bảo chư vị chắp tay, chư vị cũng tự nhiên chắp tay, không bảo quư vị quỳ, quư vị cũng tự quỳ.

Chắp tay là hành động thể hiện cho sự cung kính. Nếu chư vị thấy chắp tay là việc khó nhọc th́ tạm thời có thể bỏ xuống. Hiện tại, chúng tôi nghiêm khắc bắt chư vị chắp tay, là muốn cho chư vị có hành động cung kính. Hành động chỉ là biểu hiện của thân, chẳng những thân cung kính, mà miệng phải niệm niệm rơ ràng, tai nghe rơ ràng, tâm cũng thấu suốt rơ ràng, tâm miệng nhất như.

Nếu chư vị mặc niệm, tuy miệng không niệm, tâm phải luôn luôn niệm, tai cũng nghe rơ ràng. Tai và tâm nhất như, niệm Phật một thời gian dài, thân tâm sẽ an nhiên, lúc đó chư vị sẽ không c̣n thấy chắp tay là việc khổ nhọc nữa.

Chắp tay chỉ là phương tiện, song trong khi ngồi công phu, nhất định mọi người cần phải ngồi xếp bằng, tối thiểu nhất là phải ngồi được bán già, v́ sao ? V́ chân không chịu đau được th́ thời gian công phu sẽ ít, dẫn đến công phu tâm lực không tương ưng, tâm khó an định. V́ thế, chư vị phải nhẫn nhịn chịu đau một thời gian th́ công phu mới có thể tiến bộ vào sâu được, sự nhẫn nhịn đó cũng phải xuất phát từ tâm thành kính. Vạn sự khởi đầu nan. Ban đầu chư vị thấy khó chịu thế nhưng dần dần sẽ quen thôi, điều quan trọng chúng ta có ư chí quyết tâm hay không đó mới là quan trọng.

3.- Người học đạo như kẻ chèo thuyền ngược nước

Người tu đạo thuận duyên không có, thế nhưng chướng duyên lại nhiều. Đơn giản nói về thân thể thôi, nếu không được khỏe một tí, công phu tu hành đă bỏ bê, ngồi thiền một chút đă không chịu được, hà huống là làm công việc ǵ lớn, đó là do nghiệp chướng của chúng ta từ vô thỉ đến nay. Nghiệp chướng th́ dày, trong khi thiện căn lại mỏng. Chúng ta đă tạo tác nghiệp chướng rất nhiều.

Song, người có thiện căn, tuy biết dụng công tu hành là khổ nhọc, biết nghiệp chướng tuy nặng, thế nhưng họ lại không sợ chướng ngại mà lại c̣n phát tâm tu hành, để tiêu trừ nghiệp chướng, hạng người này rất có hy vọng. Ngược lại, người biết nghiệp chướng của ḿnh đă nặng rồi, thấy tu hành khó khăn, lại nản chí, dù có gặp được thiện duyên đi chăng nữa, cũng khó phát tâm tu hành.

Do đó, chúng ta phải xét lại ḿnh là người có thiện căn hay không, phải dùng trí tuệ chiếu soi lại chính ḿnh. Đă biết ḿnh là người có nghiệp dày phước mỏng, nếu không phát tâm tu hành nghiệp chướng khó mà tiêu trừ được, nghiệp chướng không tiêu trừ làm sao dám nói đến việc liễu sinh thoát tử. Chư vị ! Cần phải nỗ lực tinh tấn quyết tâm hạ thủ công phu, thì không có việc gì khó. Trong thế gian không có việc ǵ là khó, mà sợ ḷng người không có quyết tâm. Cho nên tục ngữ có câu : “Đường đi khó, không khó v́ ngăn sông cách núi, mà khó v́ ḷng người ngại núi e sông”.

Giống như học sinh, cùng học một bài văn, thế nhưng đứa có trí thông minh, đọc hai, ba lần, thậm chí nghe qua liền thuộc. C̣n đứa không có thông minh th́ phải đọc đi đọc lại ba bốn mươi lần mới có thể thuộc. Người dụng công niệm Phật cũng như thế.

Phật pháp giảng nói ba đời nhân quả. Nếu đời trước chư vị là người nghe pháp nhiều, tu hành nhiều, thiện căn dày, tu hành phước báo nhiều, mà đời nay không gặp được Phật pháp, thậm chí sinh ra một xứ sở hoàn toàn không có Phật pháp th́ thiện căn của các bạn cũng không bao giờ bị thối chuyển, cũng không tạo tác việc ác.

Các bạn chỉ cần nh́n cảnh mùa Xuân trăm hoa đua nở, mùa Thu lá vàng rơi lả tả, thấy được cảnh sinh diệt vô thường của vạn vật, các bạn có thể khai ngộ, hay minh tâm kiến tính liền. Giống như thời Phật c̣n tại thế, các vị nghe Phật giảng pháp, rồi y theo pháp thập nhị nhân duyên mà ngộ được đạo, gọi là “Duyên Giác”. Còn có một số vị sinh ra đời không gặp Phật, không được nghe pháp, thế nhưng họ nhờ vào việc quán sát sự thay đổi vô thường của vạn vật mà ngộ được, gọi là “Độc Giác”, những người này có thiện căn không thể nghĩ bàn mới được như thế.

Người có thiện nghiệp dày, ác nghiệp mỏng, tu hành rất thuận lợi. Thế nhưng, chúng ta ở đây toàn là những người có phước mỏng nghiệp dày, cho nên con đường tu của chúng ta, như khách lữ hành chèo thuyền ngược nước, nếu chúng ta không vững tay chèo, không có nỗ lực tinh tấn, chắc chắn bị nước cuốn trôi.

Vì thế, cổ đức có nói : “Người tu đạo như người chèo thuyền ngược ḍng, không tiến sẽ bị lùi”. Chúng ta phải dụng công hết ḿnh, thậm chí phải dùng hết sức ḿnh họa may mới không bị trôi theo ḍng sông sinh tử. Người thế gian, đa phần là buông ḿnh theo ḍng sinh tử, nên đối với họ không c̣n ǵ phải nói. Chúng ta là người tu đạo, là người đang lội ngược lại ḍng sinh tử, cho nên khó khăn rất nhiều, do đó xin chư vị hăy dụng công, vào đây niệm Phật rồi không nên lăng phí thời giờ.

4.- Gia công tinh tấn tiêu nghiệp chướng

Người có phước đức nhân duyên, nếu gia công tu hành tốt, dễ dàng được cảm ứng, cho nên họ xưng niệm Bồ Tát Quán Thế Âm. Cầu tài được tài, cầu con được con, cầu tam muội được tam muội, cầu Bát Nhă được Bát Nhă, nói chung cầu chi được nấy.

Cho nên nói : “Có cầu ắt sẽ có ứng” là vậy. Song, đối với người không có phước đức dù cầu nguyện bất cứ điều ǵ cũng không có cảm ứng. Nói như vậy Quan Âm Bồ Tát có thiên vị không ?. Xin thưa ! Là không, bạn cầu nguyện cũng có cảm ứng. Vậy cảm ứng cái ǵ ? Cảm ứng nghiệp chướng tiêu trừ, một khi nghiệp chướng của bạn tiêu trừ hết rồi, th́ bạn cầu ǵ đều được nấy. Bằng ngược lại, nghiệp chướng chưa tiêu trừ th́ dù bạn có cầu nguyện đến đâu cũng không có cảm ứng, một khi nghiệp chướng được tẩy sạch, bạn không cần cầu cũng tự nhiên có cảm ứng.

Những người lần đầu tiên vào đây dụng công tu hành, tâm lư có loạn động, liền nghĩ : “Không hiểu tại sao ở nhà b́nh thường ḿnh niệm Phật ít thấy có vọng tưởng, tâm lư lại được định tĩnh, thế nhưng vào đây niệm Phật, cứ một khi khởi niệm Phật lại thấy vọng tưởng quá nhiều, tâm lư lại không an, nguyên nhân đó xuất phát từ đâu ?

Chỉ vì ở nhà niệm Phật không có tập trung, niệm Phật một cách mơ mơ hồ hồ, vọng tưởng suy nghĩ cái này, nhớ nghĩ việc kia, vọng khởi triền miên, lại thêm ngoại cảnh ồn ào, nhộn nhịp nên khó nhận thấy được vọng khởi. Vào đây th́ cảnh núi non yên tĩnh, nương nhờ ánh sáng từ bi của chư Phật, tâm cảnh được sáng suốt, trí tuệ phát sinh, tự nhiên nhận thấy được vọng tưởng tạp niệm nhiều. Chư vị nhờ vào đây mới có cảm nhận như vậy, nếu nói ở nhà niệm Phật tốt hơn, là chư vị không có lương tâm rồi.

5.- Phải cầu diệu pháp xuất thế gian

Như trên vừa nói, người niệm Quan Âm Bồ Tát cầu tài được tài, cầu làm thân trai được thân trai, cầu thân gái được thân gái… Như vậy, chúng ta là người học Phật có phải cầu tài không ? Xin thưa ! Là có, nhưng tài ở đây là công đức pháp tài. Lại nữa, có nên cầu thân trai hay thân nữ không ? Cũng có, nhưng cầu trí tuệ phước đức của người nam, cầu tướng đoan chính của người nữ, thế nhưng quan trọng hơn hết vẫn là cầu pháp xuất thế gian.

Như Phật Đà “ba kỳ tu phước đức, trăm kiếp mới có tướng đoan nghiêm”. Do đó, chúng ta phải có trí tuệ, có phước đức mới có thể độ chúng sinh được. Có trí tuệ, có phước đức, lại phải có tướng tốt; tướng nếu không tốt, mọi người nh́n thấy khó mà khởi tâm cung kính. Như thời Đức Phật c̣n tại thế, mọi người một khi được nhìn thấy ba mươi hai tướng tốt trang nghiêm của Ngài, tự nhiên liền sinh tâm cung kính, Ngài rất dễ dàng hóa độ. Cho nên người học Phật cũng có cầu nguyện, nhưng cầu nguyện ở đây phải cầu nguyện thật tướng diệu pháp xuất thế gian, chứ không phải cầu nguyện pháp hư vọng đối đăi của thế gian.

6.- Là tướng tu tất cả thiện pháp

Mọi người cần phải chú ư ! Tuy nói chúng ta cầu nguyện, song, phải cầu như thế nào cho hợp với Phật pháp đây ? Phải cầu với nhận thức không có tướng ngă, tướng nhân và tướng chúng sinh. Tuy là không tướng, nhưng phải tu tất cả thiện pháp, nếu ngộ nhận rằng, đă không có tướng ngă, tướng nhân, tướng chúng sinh, từ đó không chú trọng đến nhân quả, xả bỏ tu sự mà chuyên tu lư th́ có hại cho bản thân bạn vô cùng.

Cần phải biết, Phật pháp giảng nói lư nhân quả sự lư cần phải phối hợp hài ḥa. Nếu thiên lệch về lư mà phế bỏ nhân quả, không tu sự tướng nhân quả th́ không thể nào đạt được chân lư thực tiễn của Phật pháp. Tuy là không có tướng ngă, tướng nhân, ĺa tất cả pháp, ĺa tất cả tướng, nhưng đứng trên mặt sự tướng cần phải tu tất cả các pháp. Muốn tu được tốt, chúng ta phải có tinh tấn, thành khẩn tha thiết, trong tương lai chúng ta sẽ cảm ứng quả báo vô vi. Quả báo vô vi th́ không sinh, không diệt, đó mới chính là Phật pháp thiết thực. Nếu lấy tâm hữu tướng tu hành tất cả các pháp th́ sẽ cảm ứng quả báo hữu vi. Tất cả quả báo hữu vi đều là vô thường, sinh diệt. Tu thiện cảm ứng quả báo thiện, một khi hưởng hết rồi lại hoàn không. Tạo ác nghiệp phải thọ ác báo, quả khổ thọ rồi cũng trở nên không. Tất cả đều vô thường sinh diệt.

Chánh nhân vô thường, cho nên “sinh” vẫn măi măi sinh, “chết” cũng vĩnh viễn chết. Chánh nhân đă như vậy, sinh không ngừng, chết cũng không đoạn, sinh sinh tử tử, tử tử sinh sinh, măi măi chịu khổ không cùng tận. Chúng ta phải tu hành thôi, tại sao phải tu ? Chỉ có tu th́ chúng ta mới có trí tuệ Bát Nhă thấu rơ các pháp vốn không có sở hữu, tuy không có sở hữu, nhưng phải luôn tu hành sự tướng cho viên tṛn, tôi không bảo chư vị phải ĺa xa chúng sinh trong thế gian để mà tu, v́ Phật pháp vốn không xa ĺa thế gian. Đức Phật Bổn Sư cũng là chúng sinh, từ chúng sinh mà thành tựu đạo quả. Do đó, chúng ta không thể xa ĺa chúng sinh trong thế gian mà tu hành được. Ngược lại c̣n phải rộng kết thiện duyên với họ mới có thể độ được họ. Chư vị có hiểu không ?

7.- Có không trong mộng đều là hư giả

Phật pháp giảng “vô ngă” có thật là vô ngă không ? Nếu tất cả các pháp đều là vô ngă rồi th́ tu hành làm ǵ ? Nếu đă là vô ngă, th́ tạo nghiệp ác ai là người thọ khổ địa ngục ? Nếu quả thật vô ngă, tu phước tu thiện ai là hưởng thọ ? Cho nên nói “hữu ngă” mới có thể thông được, nếu nói “vô ngă” Đức Phật giảng nhân quả “nhân” ai tạo, “quả” ai hưởng ?

Như vậy làm sao giảng cho chư vị tiếp thọ được đạo lư vô ngă đây ? V́ đây là đạo lư không dễ dàng ǵ nghe qua có thể hiểu được. Nay xin đơn cử thí dụ cho bạn hiểu được. Chư vị ! Chúng ta ai cũng có nằm mộng. Trong mộng tất cả chúng sinh hữu t́nh, đại địa vô t́nh, chung quy có hay là không ? Nếu có th́ không thể nói là không được. Tuy nói có, song tất cả là hư giả, huyễn hóa không có thật. Nếu tất cả trong mộng đều là thật, khi nằm mơ bạn thấy ḿnh mua vé số trúng, khi tỉnh dậy, bạn có phát tài hay là không ? Trong mộng vui không có, khổ cũng không. Trong giấc mơ bạn thấy ḿnh bị rắn cắn, sợ quá liền thức dậy, bạn thấy thân thể ḿnh có bị rắn cắn hay không ? Trên giường có con rắn nào không ? Đó chẳng qua tự ư thức của bạn khởi vọng tưởng mới thấy có thật, nói theo góc độ Duy thức học th́ những h́nh ảnh đó hoàn toàn do Độc Đầu Ư Thức tạo nên, tất cả đều là hư giả không có thật, như vậy bạn làm sao nhận cái giả cho là thật được ? (Lời chú giải của người dịch : ư thức là thức thứ sáu trong tám loại thức tâm vương, thức này tác dụng rộng sâu hơn năm thức trước và làm chủ năm thức trước. Thức này duyên với các tâm sở, căn bản phiền năo và tùy khởi phiền năo mà tạo nên nghiệp. V́ nó có tác dụng suy đoán, phân biệt và quyết định đưa đến thể hiện hành động cụ thể của thân và miệng, hoặc bằng hành động t́nh cảm như : yêu ghét, tham muốn… Về suy nghĩ làm việc phải thức này đứng đầu, c̣n tính toán tạo việc ác thức này cũng hơn các thức c̣n lại. Cho nên trong Duy thức có nói : “Công vi thủ, tội vi khôi”, chính là nói đến hoạt dụng của thức này vậy. Thức này có đủ ba tính : thiện, ác và vô kư.

Khi nó duyên với 51 món tâm sở th́ nó được chia thành hai loại : Độc đầu ư thức và Ngũ câu ư thức. Ư thức độc đầu là ư thức hoạt động độc lập, không có cộng tác với năm thức trước. Ư thức độc đầu lại được chia thành năm loại :

1. Ư thức tán vị : là ư thức phát khởi trong trạng thái phân tán.

2. Ư thức trong mộng : là hoạt động trong trạng mê ngủ, hoặc nằm chiêm bao. V́ trong mộng mị, người ta thường nghĩ rằng thế giới trong mộng là thế giới có thật, thật ra những cảnh tượng đó chỉ là những phát hiện của chủng tử độc ảnh trong kho chứa A Lại Da thức.

3. Ư thức cuồng loạn : là ư thức phát khởi khi điên loạn.

4. Ư thức trong định : là ư thức trong trạng thái thiền định, ư thức này chỉ có những người tu thiền định mới có kinh nghiệm.

5. Ư thức tán loạn : là ư thức bị loạn động phát khởi. Chúng ta làm việc quá sức, cũng gọi là trạng thái lơ đăng, hoảng hốt… Ḥa thượng Diệu Liên đang nói đến loại thứ hai của ư thức độc đầu).

Theo bạn, những cảnh tượng trong mộng có hay là không ? Nếu nói có thật, th́ trong mộng có sợ hăi, lúc tỉnh dậy tâm cũng vẫn c̣n sợ hăi, trong mộng vui sướng lúc tỉnh lại tâm cũng c̣n vui sướng, như vậy cứu cánh có hay là không ? Kỳ thật “chẳng có cũng chẳng không”. Nói có nói không đều rơi vào biên kiến, không còn trung đạo.

Từ góc độ tục đế mà nói thực tại của vạn vật vừa có lại vừa không. Nhưng đứng từ góc độ chân đế, phải xa ĺa thực tại, ĺa ngôn ngữ th́ đó mới là cứu cánh. Nếu chư vị có thể hiểu được bản chất thực tại, lư giải được tính không hữu thật tướng của vạn pháp, tŕ danh với cái nhận thức như thế chắc chắn văng sinh thượng phẩm.

Phật pháp nói tất cả đều vô ngă, là muốn nói tất cả vạn vật không có tướng hay một cái ngă cố định, v́ bản chất của vạn vật là duyên sinh, do nhiều yếu tố hợp lại mà có không có ǵ gọi là thật ngă. Nếu bạn không có hiểu được đều đó th́ chứng tỏ bạn là người kém phước đức trí tuệ. V́ vậy, bạn phải tu phước và trí tuệ, một khi phước trí viên măn bạn sẽ nhận thức được vạn vật là hư giả, thế gian là mộng huyễn. Trong kinh có nói : “Vô ngă th́ không có người tạo và người thọ, nghiệp thiện nghiệp ác cũng đều không”. Do đó, kính khuyên chư vị đối với Phật pháp hăy đọc nhiều, nghe nhiều, suy tư cho sâu, siêng năng lễ bái, và niệm Phật cho nhiều th́ nhất định đến một ngày nào đó quư vị tự nhiên sẽ đại ngộ.

8.- Cuộc sống Ta bà tất cả đều là mộng

Chư vị ! Khi chúng ta ngủ nằm mộng liền sực tỉnh, khi tỉnh rồi th́ những cảnh mộng không có thật nữa. Song, hằng ngày tuy chúng ta thức nhưng tất cả đều như nằm mộng, có lúc nào là thật sự tỉnh đâu ! Thật thương thay cho chúng ta, đă bao kiếp sống như mộng, mà cứ ngỡ ḿnh đang tỉnh, khổ đau chúng ta thọ nhận không ngừng mà vẫn chưa có ngày nào sực tỉnh. Nói th́ như vậy, thế nhưng là người tu hành chúng ta không nên sợ khổ đau, mà phải luôn luôn dụng công niệm Phật.

Một khi chúng ta được văng sinh đến thế giới Tây phương rồi, đến lúc đó chúng ta mới thật sự là tỉnh. Thế giới Ta Bà tất cả vốn là giả danh, mộng huyễn, bản lai của nó vốn không có khổ vui, mà khổ vui đó do chúng ta tạo nên rồi trở lại thọ nhận lấy nó. Do vui khổ mà chúng ta đă tạo ra biết bao nhiêu tội chướng. Đến một lúc nào đó chúng ta tỉnh ngộ rồi mới nhận được tất cả đều không có.

Chúng ta phải thấy tất cả mọi vật trên thế gian không có cái ǵ trường tồn bất diệt, không có ǵ là có ngă, tất cả như mộng như huyễn. Có nhận thức như thế mới có đầy đủ nhân duyên thành Phật. Nếu thấy tất cả đều là thật th́ măi măi chịu khổ đau. Tại sao ? V́ thấy tất cả vạn vật trên thế gian đều là thật, tất nhiên là thấy không biến đổi, không dao động th́ làm sao có thể dụng công tu hành và cũng làm sao có thể thành Phật được.

Đó là đạo lư quan trọng mà mọi người cần phải giác ngộ. Hiện tại, chúng ta đă biết và đang tu th́ làm sao chúng ta phải chứng được đạo lư vô ngă đó. Có như thế mới có thể phóng hạ vạn duyên thành tâm niệm Phật, cầu phước đức chân thật. Không nên nhàn rỗi, tán gẫu, suy nghĩ tà vạy, chỉ thêm mang nghiệp chứ không có lợi ích ǵ. Phải giác ngộ vạn pháp là vô ngă, chân thật dụng công tu niệm Phật, có như thế đời nay mới mong được giải thoát. Cổ đức có nói : “Thân này đời nay không độ, biết có khi nào độ được thân”.

NGÀY THỨ HAI

Trí tuệ Bát nhă đủ phước đức,

Niệm Phật văng sinh trọng tŕ danh.

1.- Vô tướng là chân thật tướng

Mọi người đến đây dự Phật thất, chủ yếu là niệm Phật. Có bốn phương pháp niệm Phật : Thật Tướng Niệm Phật, Quán Tưởng Niệm Phật, Quán Tượng Niệm Phật và Tŕ Danh Niệm Phật. Tu Thật tướng niệm Phật phải có trí tuệ Bát Nhă và sự hỗ trợ của phước đức. Thật tướng là vô tướng, vô tướng là thật tướng. V́ phàm phu chúng ta có sự nhận thức mâu thuẫn, cho vô tướng là không có ǵ, đă không có làm sao nói là chân thật được. Ví như nhà bếp không có gạo làm sao nấu cơm, trong nồi không có cơm th́ những người hành đường lấy cơm ở đâu châm thêm cho các bạn ? Phàm phu chúng ta cho rằng, đă là vật có sự tướng th́ nhất định là có thật, nói như vậy là mê lầm. Phật pháp chân thật là không, vạn pháp tuy là giả tướng, song, bản thể cứu cánh của nó là bất khả đắc, không thể thông qua h́nh tướng mà có thể nhận thức được, phải trải qua quá tŕnh văn, tư, tu mới có thể hội nhập được, không niệm Phật, không giữ giới th́ không thể lănh hội được. Đó là một điều xin chư vị cần phải chú ư !

2.- Y theo lời Phật dạy mà tín thọ phụng hành

Bản thể của Phật pháp vốn thậm thâm vi diệu không thể nghĩ bàn, nếu không có học hỏi nghiên cứu cho thấu đáo chắc chắn sẽ có sự nhận thức mâu thuẫn. Đối với hạng người thế trí biện thông trong thế gian, họ không thể nào tiếp nhận được Phật pháp. Thế trí biện thông là chỉ cho những bậc học giả, hoặc những người có địa vị chức quyền, giàu sang phú quư. Đối với những người này họ chỉ ưa luận bàn những triết lư sâu xa, cái hiểu biết của họ không có dính dáng ǵ đến đời sống của họ. Họ là những học giả có kiến thức uyên thâm về thế gian pháp.

Nên khi nghe Phật pháp có thể sinh ra hủy báng, hay chê bai, cho Phật pháp là cao xa, là huyễn hoặc, là mê tín, là bi quan yếm thế, chán đời, chỉ toàn nói đến khổ đau. Đối với hạng thế trí biện thông này, là người con Phật, chúng ta nếu có gặp họ cũng không nên luận bàn, hay tranh biện làm chi cho vô ích.

Vì sao ? V́ từ xưa đến nay, họ đâu có được phước duyên nghe Phật pháp như chúng ta. Từ chỗ không nghe, không hiểu biết nên trong tàng thức của họ không có hạt giống Phật pháp. Cho nên đối với họ, việc chê bai chánh pháp là điều không thể tránh được. Hăy thương yêu họ v́ họ không thể lănh thọ được Phật pháp để tu hành như chúng ta.

Người có thiện căn, mặc dù có nghe Phật pháp không hiểu được, thế nhưng đối với họ vẫn đủ niềm tin để tiếp thọ Phật pháp, vẫn có nhận thức Phật pháp vốn là điều chân thật, không phải là lời nói hư dối. Họ vẫn khẳng định rằng, những lời Phật nói, tôi vẫn đủ đức tin và vẫn thực hành. Tuy nhiên, nếu lư tôi không thể hội nhập được, tôi vẫn tin kiên cố y theo sự để thực hành.

Đối với hai hạng người trên, chúng ta nên nương theo hạng người có thiện căn với Phật pháp để học hỏi và tu tập, không nên học theo người thế trí biện thông mà bị dính mắc vào sở tri chướng, để rồi muôn kiếp phải luân hồi sinh tử. Chỉ nên nương theo lời Phật dạy mà thực hành.

3.- Mượn giả tu chân cần phải hiểu lư

Tu trí tuệ Bát Nhă phải từ tướng hư giả mà khởi tu, từ tướng hư giả mới có thể đạt đến tướng chân thật. Giả tướng là pháp hư vọng, làm sao có thể đạt đến tướng chân thật được. Từ tướng hư giả bạn phải liễu giải được tính duyên khởi “không” của vạn pháp. “Không” tức là chân thật tướng. Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật có nói : “Nếu thấy các tướng là chẳng phải là tướng, tức thấy Như Lai”. Như Lai tức là chỉ cho thật tướng pháp thân.

Chúng ta đắp tượng Phật nhằm mục đích ǵ ? Nhằm giúp chúng sinh nương nơi tướng tốt của Phật mà phát khởi tâm cung kính tu hành, nếu không mượn tượng Phật hư giả th́ chúng sinh nương ở đâu, lấy cái ǵ lễ bái cúng dường, làm mô phạm cho chính ḿnh. Tất cả đều phải từ tướng hư giả mà khởi tu hành. Nói duyên khởi là hư giả, thế nhưng không thể xa ĺa tướng hư giả mà tu đạo xuất thế được.

V́ vậy, chúng ta cần phải phát tâm tu tập theo sự tướng. Phải liễu giải được, thật tướng sự tướng của vạn pháp vốn là không, sự tướng vốn là vô tướng, vô tướng chính là phước Bát Nhă, phước vô tướng. Phước Bát Nhă vô tướng là ǵ ? Đó là loại phước khi chúng ta tạo, mà không có sự chấp trước. Ví như, khi làm phước, bạn c̣n thấy ḿnh là người cho, thấy người nhận, và chấp trước vào công đức đó, đó là bạn dụng tâm thế gian tu thiện để cầu phước báo rồi.

Phước báo của việc làm đó đương nhiên là có, có gieo nhân tất phải có quả. Song, phước báo đó chỉ là phước báo của trời người, là Đệ nhị nghĩa đế. Nếu bạn lấy phước đó mà mong liễu sinh thoát tử, muốn thành Phật th́ không thể nào có được. Như vậy, chúng ta phải tu phương pháp nào mới có thể liễu sinh thoát tử ? Chúng ta phải lấy vô ngă tướng, vô nhân tướng và vô chúng sinh tướng, mà tu tất cả thiện pháp, th́ mới có thể thành tựu việc liễu sinh thoát tử.

4.- Tu thật tướng phải nương vào trí tuệ

Như thế nào mới là thật tướng niệm Phật chân chính ? Đứng về phương diện duyên khởi mà nói, như đă nói ở trên, hư tướng là không có tướng chân thật, tất cả đều do nhân duyên hợp lại mà thành. Bản thân của nó không có tướng chân thật. Y theo lư duyên khởi nhất tâm chỉ quán. Đó là niệm Phật thật tướng. Dù bạn có lư giải như thế nào đi chăng nữa, tuy nhiên hư giả vẫn là hư giả. Thế nhưng vẫn phải tu cái chân thật, nếu nói hư giả không có tu, th́ hoàn toàn sai lầm, nếu không từ sự mà khởi tu th́ làm sao có thể nhập được thật tướng niệm Phật.

Bạn không thâm nhập thật tướng niệm Phật, làm sao có thể liễu đạt đến chỗ chân thật “phàm những vật có h́nh tướng, tất cả đều hư vọng” (Kinh Kim Cang). Như khi bạn ăn cơm, nếu bạn thấy cơm là hư giả, không chịu ăn, th́ làm sao bạn có thể giữ ǵn thân để tu hành văng sinh được. Tuy cơm là duyên sinh, là vô ngă, là giả, nhưng nó có thể nuôi dưỡng thân xác của bạn. Bạn có thân thể khỏe th́ mới có thể tu hành tự lợi, lợi tha, và làm tất cả các việc.

Cho nên, tuy là hư giả nhưng nó cũng có công năng; nếu bạn cho nó là hư giả rồi không ăn, bạn không ăn chắc chắn sẽ chết. Phật pháp giảng “không” là muốn cho bạn nhận thức được nguyên lư chân thật. Nói có là muốn cho bạn tu tập tất cả các thiện pháp, không xa ĺa sự tướng. Do đó Tổ Huệ Năng có nói : “Phật pháp tại thế gian, không ĺa thế gian mà giác ngộ”. Chúng ta phải ở tại thế gian mà tu hành mới có thể thành tựu các pháp.

Nếu nói các pháp xuất thế gian là hư vọng, nhưng thế pháp của phàm phu có hư vọng hay không ? Đương nhiên là càng thêm hư vọng. Chúng ta cần phải chú ư : “Phàm những vật có h́nh tướng đều là hư vọng”, nếu bạn có thể “thấy các tướng chẳng phải là tướng, tức thấy Như Lai”. “Không”, không phải là không có, cũng không phải ĺa sự tướng mới là không.

Bạn phải liễu đạt tất cả các pháp chỉ là một khối duyên sinh giả tướng, không có tính chân thật, như vậy mới là liễu giải được tính không. Tuy là không, nhân ngă là giả tướng, thế nhưng phải y theo nhân quả mà tu hành, thuận theo nhân quả mà tạo tác. Có nhân tất phải có quả, làm ác phải đọa tam đồ. V́ vậy, lư sự cần phải hiểu rơ mới có đủ trí tuệ để tu niệm Phật thật tướng. Trong thật tướng có vô tướng, trong vô tướng có thật tướng. Không là Chân đế, có là Tục đế. Muốn hiểu rơ Chân đế, chư vị phải dụng công nghiên cứu tu hành, mới có thể thấu hiểu được.

5.- Đệ nhất nghĩa đế cứu cánh là không

Nếu y theo đệ nhất nghĩa đế mà nói, thật tướng chân như cứu cánh là không. Nói nhiều th́ lại càng sai, nói đúng hơn “tâm suy nghĩ tức là sai”. Tâm phải không có một mảy may trụ chấp vào bất kỳ một pháp nào, ngay cả danh từ “không” cũng không trụ, cũng phải bỏ đi, đó mới gọi là niệm Phật thật tướng, niệm đệ nhất nghĩa đế không, cũng là niệm mà vô niệm, mọi người nghe qua khó mà hiểu được.

Học Phật pháp điều đáng sợ nhất là không hiểu, vì không hiểu sẽ đưa đến hiểu lầm, rồi sinh ra hủy báng. Nhưng chúng ta nghe dần dần sẽ liễu giải được thôi. Nếu không giảng, th́ măi măi chư vị sẽ không thể hiểu được. Hiện tại trong khóa tu, chúng ta không dùng phương pháp thật tướng niệm Phật, mà chỉ chú trọng tŕ danh niệm Phật thôi. Niệm Phật thật tướng là chuyên nhờ vào tự lực, trong khi đó căn cơ chúng ta ở đây c̣n thấp kém nên chỉ chú trọng tŕ danh niệm Phật là chính, v́ tŕ danh niệm Phật là nhờ vào tha lực. Thời đại mạt pháp ngày nay, nếu không nhờ vào tha lực sẽ không bao giờ có ngày liễu sinh thoát tử, chư vị nên chú ư điều đó !

Phật pháp giảng bản thể muôn vật không. Song, tất cả hiện tại sự vật là có, giống như hư không, bản chất của nó vốn là không, song, trời đất, sông núi, tất cả các tinh cầu, nhân vật đều trụ trong hư không, từ hư không mà lưu xuất. Bản thể hư không, không có cái ǵ nên gọi là không. Chính v́ bản thể vốn là không đó, nó mới có năng lực chứa tất cả các pháp. Không có một pháp nào mà không trụ trong hư không, nếu ĺa “không”, sẽ có pháp ǵ nữa không ? Chúng ta hằng ngày theo tập quán, chỉ cho rằng “không” là không có ǵ cả. Song, “không” không phải là không có ǵ. Như chư vị xem, hiện tại trong niệm Phật đường này, bản chất là không, nếu không có “không” th́ làm sao có thể dung chứa được tượng Tam Thánh ? Làm sao có thể chứa đựng được những thứ trang nghiêm khác ? Lại nữa, làm sao có chỗ cho chúng ta niệm Phật, lạy Phật ? “Không” chính mới có thể dụng, “không” có không th́ không có thể dụng. Do đó, chư vị nghe qua trí tuệ có thể phát khởi rồi, hy vọng từ đây chư vị không c̣n ngộ nhận cho “không” là không có ǵ nữa. Xin chư vị hằng ngày cứ lấy hư không quán sát làm thí dụ, chắc chắn trí tuệ sẽ phát sinh. Một lúc nào đó, chư vị sẽ liễu giải được nghĩa lư vi diệu chân không của Phật pháp. Chúc chư vị thành công !

6.- Vô thường biến các pháp thành không

Phật pháp giảng vạn pháp là vô thường. Thế giới có thành, trụ, hoại, không; con người có sinh, lăo, bệnh, tử; tâm có sinh, trụ, dị, diệt, tất cả các pháp đều là vô thường. Trong Kinh Bát Đại Nhân Giác, Phật có dạy cho chúng ta rằng : “Quốc độ hư giả, mạng sống vô thường”. Quốc độ thuộc về khí thế gian, con người thuộc về hữu t́nh thế gian. Tất cả vũ trụ là khí thế gian, hữu t́nh thế gian đều ở trong vũ trụ. Vũ trụ dung chứa tất cả vạn pháp, song vạn pháp th́ không thường trụ, niệm niệm biến diệt, từng giây từng phút sinh diệt không ngừng. Thân thể con người chúng ta, các tế bào cũng sinh sinh, diệt diệt biến đổi trong từng sát na. Một người không phải sống đến tám mươi, chín mươi tuổi chết rồi mới gọi là diệt, mà ngay cả những khi c̣n nằm trong bào thai cũng đă sinh diệt không ngừng rồi.

Chẳng những hữu t́nh là vô thường, mà tất cả vạn vật trong vũ trụ, chỉ là giả danh tạm thời, không có thường trụ chân thật. Niệm niệm biến diệt, đều là vô thường, đến một lúc nhất định nào đó cũng phải tiêu diệt. Bạn thử t́m xem có một vật nào là trường tồn bất diệt không ? Không có một vật nào trên thế gian này trường tồn bất diệt cả. Tất cả đều biến đổi không ngừng, bản chất của chúng thay đổi trong từng sát na. Trong một phút thôi, thân thể của bạn, không hoàn toàn giống một phút trước đó nữa, mà các tế bào nó biến đổi không ngừng. Tế bào này chết, tế bào khác lại sinh, cứ luân phiên nhau thay đổi không có lúc nào dừng nghỉ. V́ thế, Phật mới dạy cho chúng ta, thế gian này không có ǵ gọi là trường tồn cả, mà ngược lại tất cả đều bị luật vô thường chi phối. Tất cả vạn vật đều phải chịu quy luật tự nhiên đó là sinh, trụ, dị, diệt, hoặc thành, trụ, hoại, không. Đối với chúng hữu t́nh th́ phải chịu quy luật sinh, lăo, bệnh, tử. Do bản thể các pháp vốn là vô thường nên nó vốn là không, không có thật ngă mà tất cả đều là vô ngă, là duyên sinh thôi.

Bản tính của chúng ta vốn thanh tịnh như thái không, nhưng chỉ v́ hiện tại chúng ta khởi nhiều vọng tưởng nên mới bị phiền năo, khổ đau, luân chuyển trong biển khổ phàm phu. Một khi c̣n ở địa vị phàm phu, chúng sinh chắc chắn không thể nào tránh khỏi tạo nghiệp luân hồi. C̣n nếu chúng ta nhớ Phật, niệm Phật tức là chúng ta đang đi trên lộ tŕnh tiến đến quả vị Phật. Như vậy, tại sao cần phải niệm Phật ? V́ niệm Phật là đ́nh chỉ vọng tưởng. Vọng tưởng dừng tâm liền thanh tịnh. Tâm thanh tịnh th́ ba nghiệp thanh tịnh. Ba nghiệp thanh tịnh, tức đồng Phật văng sinh Tây phương.

7.- Một câu Di Đà đầy đủ vạn đức

Bậc thiền giả tham thiền, cũng thuộc vô tướng. Mục đích của người tham thiền là thể nhập được chân tính. Thông thường, họ lấy các câu thoại đầu như : “Người niệm Phật là ai ?”, “Trước khi cha mẹ chưa sinh ra, ta là ai ?”… Đứng về lư mà nói, tại sao cần phải tham thiền, hoặc tham thoại đầu ? Cổ đức có nói : “V́ căn tính con người vốn hạ liệt, không có đủ trí tuệ, không có đủ năng lực thâm nhập được bản tâm, nên chư Tổ từ bi mà lập ra các phương tiện như vậy”. Giống như người già cả, người bệnh hoạn không thể tự ḿnh nỗ lực đi một ḿnh được, nên cần phải mượn cây gậy. Nhờ vào cây gậy mới có thể đi được.

Hiện tại chúng ta đang niệm Phật, th́ vốn “tâm là Phật, Phật là tâm”. Thế nhưng, có một số người dám mạo muội cho tâm là Phật, v́ thế họ không cần phải niệm Phật hay tu hành làm chi cho nhọc xác. Song, tuy tâm là Phật, nhưng bạn phải biết chúng ta hiện đang là phàm phu nghiệp chướng rất nặng nề, tâm c̣n đầy dẫy ô nhiễm, cho nên cần phải niệm Phật. V́ danh hiệu Phật A Di Đà vốn đầy đủ vạn đức trang nghiêm. Phật thường an trụ trong pháp thân thanh tịnh, tất cả các nghiệp ác và tội chướng của Ngài đều đă tiêu trừ, tất cả các công đức tu hành đều đă viên măn. Nếu có người nào dám mạo muội tự xưng họ đă là Phật rồi, chứng tỏ người này không có thiện căn. Hạng người này dù có gặp được nhân duyên tốt cũng không thể nào tu tập được, v́ không có chủng tử của Phật pháp.

Chúng ta không cần phải lư luận làm ǵ sâu xa, mà chỉ cần luôn biết an phận, lăo thật niệm Phật. Cứ niệm Phật giống như đứa bé chăm chú mớm sữa mẹ, ngày qua ngày đứa bé sẽ lớn dần. Cứ niệm Phật như ăn cơm. Có ăn thân thể mới có sức khỏe để làm việc. Việc niệm Phật cũng như vậy. Chúng ta không cần phải lư luận làm ǵ cho mất thời gian, chỉ cần có tin sâu, nguyện thiết, hành chuyên, chắc chắn sẽ dần dần đạt được nhất tâm bất loạn, tâm bất loạn, liền được văng sinh. Kính thỉnh chư vị hăy chí thành mà niệm Phật.

NGÀY THỨ BA

Chấp tŕ Thánh hiệu nhất tâm,

Đời nay quyết định không lầm văng sinh.

Có người hỏi : “Chấp tŕ Thánh hiệu có thể đạt được nhất tâm hay không ? Niệm Phật có chắc chắn được văng sinh hay không ?”. Trong Kinh A Di Đà yếu giải có nói : “Tán loạn xưng danh gieo giống Phật, chấp tŕ danh hiệu đăng bất thối”. Bạn phải biết rằng Phật có công đức không thể nghĩ bàn, danh hiệu A Di Đà Phật cũng có công đức không thể nghĩ bàn. Nếu bạn niệm Phật tâm bị tán loạn sẽ tạo thành chủng tử. Như trong Kinh Pháp Hoa có nói : “Nếu người tâm tán loạn, đi vào trong bảo tháp, nhất tâm xưng niệm Nam Mô Phật, đều được thành Phật đạo”. Do đó có thể biết, lấy tâm tán loạn mà xưng niệm danh hiệu Phật công đức c̣n thù thắng, hà huống ǵ là chấp tŕ danh hiệu Phật được nhất tâm bất loạn, công đức lớn lao biết dường nào !

Kỳ thật, có được văng sinh Cực Lạc hay không, tất cả đều phụ thuộc nơi bạn. Nếu bạn có hỏi tôi : “Tôi có thể văng sinh hay không ?”. Tôi cũng xin thành thật trả lời với bạn rằng : “Điều đó hoàn toàn phụ thuộc nơi bạn”. Chỉ cần bạn chân thật nhận thức và có quyết tâm : “Thân này đời nay không độ, đời sau làm sao độ được thân”, đồng thời tin sâu, nguyện thiết, cầu văng sinh Tây phương th́ nhất định đời nay quyết định được văng sinh. Cho nên, bạn không cần phải phân vân tán tâm hay nhất tâm, chỉ cần bạn thường biết an phận, xưng niệm danh hiệu Phật cho thành tâm là tốt rồi.

1.- Thường hằng chấp trước đăng bất thối

Tóm lại, bạn chỉ cần “chấp tŕ” danh hiệu Phật không quên là tốt rồi. Thế nào gọi là “chấp tŕ” ? Giống như việc bạn nắm một vật quư giá trong tay, chẳng những bạn phải nắm giữ cho chắc, mà tâm phải trông chừng nó không cho nó rơi rớt, nếu rớt e rằng sẽ bị bể. Cho nên đ̣i hỏi bạn phải chú ư, tập trung gọi là “tŕ”. Nói tóm lại, chấp tŕ chính là “niệm niệm tương tục không gián đoạn”. Trước ngọ cũng niệm Phật, sau ngọ cũng niệm Phật; ngày nay niệm Phật th́ ngày mai cũng niệm Phật, đó chính là chấp tŕ. B́nh thường phải niệm, đến khi có bệnh hay gặp khó khăn cũng phải niệm, cứ niệm Phật cho đến khi nào giải thoát hết mọi khổ nạn mới dừng.

Nếu bạn không niệm Phật, tham, sân, si, trong tâm của bạn sẽ khởi lên. Song, trong tâm bạn có niệm Phật th́ tham, sân không thể nào khởi lên được. V́ bản chất của tam độc không phải là chân hữu, mà chúng chỉ là pháp huyễn tưởng, hư vọng mà thôi. Duy chỉ có niệm Phật mới là công đức chân thật. Những pháp hư huyễn làm sao có công đức được. V́ vậy, bạn không cần phải quan tâm đến việc tán tâm hay nhất tâm, mà chỉ cần bạn tin sâu, nguyện thiết, chấp tŕ một câu A Di Đà Phật. A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật… không kể là đi, đứng, nằm, ngồi, hoặc may vá hay ăn uống. Từ sớm đến chiều, một câu Phật hiệu không cho gián đoạn, dù có bệnh khổ hoành hành, hay dù gặp việc bất như ư, chỉ có một ḷng niệm Phật, bạn cần ǵ phải lo sợ có được văng sinh hay không.

Như thế nào mới là người chân chính chấp tŕ danh hiệu ? Giống như có người khen bạn tốt, bạn đáp “A Di Đà Phật”, hoặc có người đến phá hoại bạn, hoặc chửi bới bạn, bạn cũng đáp lại “A Di Đà Phật”. Không kể gặp thuận cảnh hay nghịch cảnh, cứ một câu A Di Đà Phật bạn chấp tŕ đừng cho gián đoạn, th́ không bao giờ bị hoàn cảnh dẫn dắt, lại giữ được chánh niệm văng sinh Tây phương.

Không những bạn phải bảo tŕ mà c̣n phải nhậm tŕ nữa. Nhậm tức là chỉ cho trạng thái tự nhiên, để tâm tự nhiên mà niệm Phật. Lúc b́nh thường bạn chấp tŕ, dần dần lâu ngày sẽ tự nhiên trở thành nhậm tŕ, tức là không niệm mà niệm. Chấp tŕ danh hiệu là “nhân”, văng sinh Tây phương là “quả”. Một khi bạn được sinh Tịnh độ rồi th́ không c̣n sợ thối chuyển nữa. V́ vậy, nếu có người nào hỏi tôi : “Tôi có được văng sinh hay không ?”. Tôi cũng xin hỏi lại bạn : “Bạn có niệm Phật hay không ?”. Nếu bạn có niệm Phật th́ có văng sinh, bằng ngược lại không có th́ không được văng sinh. Định luật nhân quả quy định rơ ràng như vậy.

2.- Có chí thành tức có thể nhất tâm

Một câu Thánh hiệu chỉ cần bạn chấp tŕ không gián đoạn. Tán loạn mặc cho tán loạn, cái tột cùng là tự nhiên có thể đạt đến nhất tâm bất loạn. Nếu bạn không chấp tŕ Thánh hiệu, làm sao có thể nói đến nhất tâm ? Không có gieo nhân làm sao có quả cảm ứng ? Có người một khi niệm Phật liền muốn nhất tâm, điều đó làm sao nói dễ dàng như vậy ? Nếu bạn không gieo nhân dụng công niệm Phật th́ làm sao cảm quả nhất tâm ? Điều đó chẳng qua là vọng tưởng mà thôi. Tôi nói như thế sẽ có nhiều người dị nghị rằng, tôi không dạy quư vị niệm Phật nhất tâm. Nếu tôi không dạy bạn niệm Phật nhất tâm là trái ngược với kinh điển, trái ngược với ḷng từ bi của cổ đức. Tôi dạy nhất tâm là có từng lớp.

Đứng về phương diện lư mà nói, phàm phu muốn nhất tâm là phải có tâm tàm quư, có tâm chí thành. Nếu không có hai loại tâm trên không nên nói đến nhất tâm làm ǵ cho vô ích. Trong Kinh Di Giáo, Phật có dạy : “Người có hổ thẹn là có thiện pháp, người không có hổ thẹn cùng với loài cầm thú không khác chút nào vậy”. Nếu bạn không có tâm hổ thẹn và chí thành, đối với việc thế tục khó mà thành tựu, hà huống ǵ nói đến việc xuất thế gian. Một người cần phải làm ǵ để đối trị ba độc phiền năo ? Chỉ cần người đó dụng tâm chí thành và hổ thẹn mà niệm Phật, lạy Phật. Con người chúng ta một khi khởi niệm đă là vọng tưởng rồi. Do đó, chúng ta thời thời, khắc khắc phải có tâm cảnh giác. Một khi tham, sân, si và các phiền năo khởi lên, không nên tùy trước theo nó mà tạo nghiệp, cần phải tức thời tỉnh ngộ, phát tâm hổ thẹn. Chớ nên đem tâm phiền năo đối xử với người, mà tự ḿnh cần phải từ bi tha thứ cho người. Bạn phải nghĩ rằng : “Bản thân ḿnh đă không thể giúp người liễu sinh thoát tử, sao c̣n lại tạo nhân đưa người vào tam đồ ác đạo ?”. Chỉ cần bạn có suy nghĩ như thế th́ cũng đủ giúp bạn không tạo thêm ác nghiệp rồi.

3.- Thánh hiệu A Di Đà diệt ngũ dục

Thế giới Ta Bà này là cả một thế giới đầy dẫy ma quỷ. Những loại ma quỷ đó không phải là loại ba đầu sáu tay, lưỡi dài, móng sắc… Ma quỷ tôi muốn nói đây chính là ma ngũ dục : tài của, danh lợi, sắc đẹp, ăn uống, ngủ nghỉ. Năm loại ngũ dục này được ví như rắn độc, hổ dữ. Thế nhưng, rắn độc hay hổ dữ cắn chúng ta th́ chúng ta chỉ có chết một đời này thôi, c̣n nếu bị ngũ dục dắt dẫn th́ chẳng những làm chướng ngại cho việc văng sinh, mà chúng c̣n khiến chúng ta măi măi đọa lạc trong tam đồ ác đạo. Đây là một điểm mà mọi người cần phải đặc biệt lưu ư, không thể không cảnh giác được. Hiện tại, chúng ta tu hành là đang cùng ma quỷ giao chiến, là đang chiến đấu lại ma ngũ dục. Nếu chúng ta không anh dũng, không quyết tâm hạ thủ nó, chắc chắn nó sẽ dẫn dắt chúng ta đi vào tam đồ.

B́nh thường, đối với người cần phải từ bi. Song, đối với thất t́nh lục dục không nên tùy thuận theo nó mà bị dẫn dụ. Nhất là người học Phật tại gia, rất đáng thương, v́ sống giữa trần lao, nh́n trước ngó sau đều bị ngũ dục bao vây chi phối. Thảo nào trong kinh Ưu Bà Tắc Giới Khinh, Đức Phật có nói : “Có hai hạng Bồ Tát : Bồ Tát tại gia tu hành th́ khó, Bồ Tát xuất gia tu hành th́ dễ”. Bạn xem, hiện tại bạn về đây tu tập, nhất cử nhất động đều an trụ trong câu niệm Phật, lại được nhất tâm tu hành. Nếu có phạm oai nghi tế hạnh, hay nội quy hoặc phạm giới, đều được người khác nhắc nhở. Chẳng những không tạo ác nghiệp mà c̣n gieo thiện duyên nữa. Ngược lại, sống giữa đời thường, một khi bạn sai lầm, có ai ở cạnh bạn để nhắc nhở đâu ?

Người tại gia tu hành, thuận duyên th́ ít mà ác duyên lại nhiều. Do đó, bạn là Bồ Tát tại gia phải tự ḿnh nỗ lực tu hành. Đồng thời phải cúng dường Tam Bảo, rộng làm các phước lành. Nếu bạn là người có gia đ́nh th́ trách nhiệm cũng lớn. Bạn phải cần tận lực hiếu thuận, lại hành từ bi, mọi việc trước sau, trên dưới cần phải chu toàn. Một khi mắc phải lỗi lầm, được người nhắc nhở nên vui vẻ đón nhận, không nên oán trách. Đối với mọi việc cần phải nhẫn nhục, chịu thương chịu khó mới có thể thành tựu được công đức.

Tôi thường nói, người xuất gia tu hành là người đại trượng phu. Thế nhưng, nếu người tại gia chân chính tu hành cũng là một người đại trượng phu, v́ hằng ngày phải đối diện với ngũ dục, chướng duyên khó khăn vô cùng. Vậy bạn phải làm ǵ để có thể thắng được ma ngũ dục ? Không ǵ tốt hơn là niệm Phật. Cứ một câu A Di Đà Phật, bạn chấp tŕ không cho gián đoạn, không luận là tán tâm hay nhất tâm, chẳng những tiêu trừ được ngũ dục mà bạn lại c̣n thành tựu đạo nghiệp, được văng sinh Tây phương nữa.

4.- Tánh không trừ, sinh tử khó thoát

Con người và trời đất gọi là tam tài. Người xuất gia tu hành là Tăng. Phật, Pháp, Tăng được gọi là Tam Bảo. Con người thuộc hạng cao quư nhất. Thế nhưng chỉ v́ vọng tưởng điên đảo mà trở nên thấp kém, quên ḿnh vốn cao quư. Khi có người lôi kéo bạn làm ác, hoặc t́m bạn làm phiền, việc đó không quan trọng, chỉ cần bạn niệm A Di Đà Phật, mọi việc trở nên vô sự. Song, việc đáng sợ nhất là mọi người đối xử với bạn tốt, từ đó phát sinh t́nh cảm luyến ái, luyến ái một khi phát sinh rồi th́ khó mà đoạn trừ được.

V́ vậy, phàm phu chúng ta nhất định phải phá bỏ quan hệ t́nh cảm. Nếu không phá bỏ khó mà liễu sinh thoát tử được. Căn bản sinh tử là ô nhiễm. Ô nhiễm cái ǵ ? Đó là ngũ dục. Học Phật là việc lớn của người đại trượng phu. Đối với quan hệ t́nh ái nam nữ, phải dùng kiếm trí tuệ Bát nhă mà chặt đứt nó đi, có như vậy mới có thể liễu sinh thoát tử. Nếu chỉ c̣n một mảy may t́nh cảm cũng vẫn c̣n bị trói buộc. Thế nhưng, ai là người trói buộc bạn ? Chính bạn chứ ai.

T́nh cảm ở đây không đơn thuần là t́nh cảm nam nữ. Nếu bạn chân thật muốn cầu giải thoát sinh tử, hành Bồ Tát đạo không có chướng ngại, tôi thành thật bảo với bạn rằng, ngay cả quan hệ cha mẹ, anh em cũng phải đoạn trừ. Đạo xuất thế gian hoàn toàn khác với đạo thế tục. Thế tục người ta lấy t́nh cảm luyến ái làm trọng, chính sự luyến ái đó là căn bản của sinh tử. Đạo xuất thế gian hoàn toàn ngược lại, là con đường liễu sinh thoát tử, cho nên ái dục cần phải đoạn trừ. Đó là “chân lư vô t́nh”, mọi người cần phải chú ư.

5.- Đạo Bồ Tát đại nhân đại nghĩa

Đứng về phương diện thế tục mà nói, làm con nhất thiết phải vâng lời cha mẹ, v́ cha mẹ là người có công dưỡng dục. Bổn phận làm con là phải hiếu thuận. Cha mẹ sai bạn làm ǵ bạn phải vâng làm cái đó, có như vậy mới đúng với lời dạy của thiên kinh. Song, bạn muốn tu hành để liễu sinh thoát tử th́ đối với quan hệ gia đ́nh bạn nhất định cũng phải cắt đứt, bạn mới có thể hành đạo Bồ đề, đạo nghiệp mới viên thành được. Bạn có độ cha mẹ phước tuệ viên măn, mới là đại hiếu chân chính. Bằng ngược lại bạn không có quyết tâm, một khi bạn đến chùa xuất gia, họ sẽ t́m mọi cách đưa bạn trở về thế tục. V́ vậy, đ̣i hỏi bạn phải có ư chí của kẻ xuất trần thượng sĩ, phải dũng mănh cắt đứt t́nh cảm luyến ái đó, mong ra mới có thể liễu sinh được.

Bạn phải suy nghĩ rằng, tự ḿnh sinh tử là việc nhỏ, cha mẹ bị sinh tử mới là việc lớn. Hơn nữa, không những cha mẹ hiện đời của bạn bị sinh tử, mà c̣n cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp, đang chờ đợi bạn đến độ cho họ. Do đó bạn phải có chí, phải có trí tuệ tư duy của người xuất thế gian, không nên chỉ v́ chướng ngại của cha mẹ hiện đời mà làm ảnh hưởng đến việc liễu sinh thoát tử của cha mẹ nhiều kiếp. Tạm thời hiện đời, bạn phải nhẫn nhục, chịu khổ chịu cực th́ tương lai mới có giải thoát. Nếu bạn không nỡ xa rời cha mẹ, th́ bạn đă cắt đứt con đường Bồ đề của chính ḿnh, lại làm cho cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp tiếp tục ch́m đắm trong sinh tử. Bạn tha thiết liễu sinh thoát tử, phải chí thành mà niệm Phật, phải xuất gia, đồng thời cắt đứt mọi quan hệ t́nh ái th́ mới mong có ngày ra khỏi sinh tử.

Mọi người về đây tham dự Phật thất, tất cả đều có nghiệp chướng nặng nề, đều bị quan hệ t́nh cảm làm chướng ngại. Cho nên, các bạn muốn trừ nó không ǵ hơn là câu A Di Đà Phật, niệm cho chí thành khẩn thiết, nhất định nghiệp chướng sẽ tiêu trừ, lại thành tựu việc văng sinh Tịnh độ.

NGÀY THỨ TƯ

Sinh đại tàm quư phát tâm chí thành,

Như vậy niệm Phật mới đạt nhất tâm.

1.- Tâm chúng sinh đầy đủ bảo tạng

Mọi người về đây tham dự Phật thất. Sớm, trưa, chiều đều được nghe khai thị. Nói đến khai thị thật là hổ thẹn, v́ tôi không có đủ tŕnh độ, chẳng qua lấy kinh nghiệm tu hành của chính ḿnh mà nói cho chư vị nghe thôi. Nếu chư vị thấy được th́ giữ lấy, không được th́ bỏ đi. Đương nhiên nếu có sai lầm, xin chư vị chỉ giáo cho.

Hai chữ “khai thị” nghĩa là ǵ ? “Khai” nghĩa là mở, là hiển bày, hiển bày cái ǵ ? Đó là hiển bày bản tâm vốn thanh tịnh nơi mỗi người, mà bản tâm này cùng với chư Phật vốn không khác. Người người trong tâm đều có bảo tạng, không phải chỉ riêng Phật mới có. Chỉ v́ bản tâm chúng ta bị trói buộc bởi tham sân, phiền năo, nên bảo tạng không thể chiếu soi được. Tuy nó không được phát hiện, nhưng nó vẫn ẩn chứa trong tâm của mọi người, không bao giờ hư hoại. Điều đó thật đáng tiếc cho chúng ta.

Đức Phật có vô lượng trí tuệ. Ngài biết chúng sinh cũng có bảo tạng như Ngài, biết rằng chúng sinh không thể biết được bảo tạng quư báu đó, do đó Đức Phật v́ muốn cho chúng sinh khai thị, ngộ, nhập Phật tri kiến nên từ trong Thường Tịch Quang mà hạ sinh đến thế gian, từ bi “khai thị” cho chúng sinh, chỉ cho chúng sinh thấy được bảo tạng quư giá của chính ḿnh. Mỗi chúng sinh trong tâm đều có đầy đủ gia tài quư báu đó, không cần t́m kiếm bên ngoài. Song, phải tự mỗi người thâm nhập, phát huy bản tâm diệu dụng đó. Đức Phật không thể thay thế cho chúng sinh làm hiển lộ chân tâm được.

Chúng ta hiện tại, tuy là chúng sinh đang khổ năo, song, chúng ta phải biết rằng bảo tạng của Phật với ḿnh vốn giống nhau. Đức Phật là người đă đạt được bảo tạng, mà tại sao chúng ta vẫn chưa đạt được ? Nói ra thật hổ thẹn, chỉ v́ chúng ta quá giải đăi, quá lười biếng, không có quyết tâm giải quyết sinh tử, cho nên nói “ông tu ông đắc, bà tu bà đắc” là vậy. Nếu bạn không tu th́ lấy ǵ để đắc. Chúng ta ngày nay, có đủ thiện duyên nghe được Phật pháp rồi, đă hiểu được lư đạo rồi, cần phải theo đó mà tu hành th́ sự hiểu biết Phật pháp mới có lợi ích. Chỉ có tu là tốt, nếu bạn không tu sẽ bị ác nghiệp làm chướng ngại. Cho nên có nói “nghiệp lực không thể nghĩ bàn” là vậy. Song, bạn cần phải biết bên cạnh nghiệp lực đó có Phật lực, lại càng không thể nghĩ bàn hơn. Mọi người niệm Phật không nên sợ nghiệp chướng nặng. Chỉ cần mọi người có tâm thành khẩn tha thiết mà niệm Phật, lăo thật lễ lạy, đến một lúc nào đó công phu thành tựu, nhân duyên đầy đủ, quả báo sẽ thành tựu viên măn.

2.- Chuyển tâm phàm phu thành tâm Phật

Chư vị về đây đả thất, cần phải khéo dụng hoàn cảnh thanh tịnh mà tinh tấn dụng công niệm Phật, không nên như người thế tục quanh năm suốt tháng chỉ sống say chết ngủ trong ṿng giả danh mộng huyễn, cũng không nên quá yêu thương, chăm sóc cho thân thể này. Tại sao ? Chỉ v́ lo cho nó mà chúng ta đă tạo biết bao nhiều tội lỗi. Chính nó mà cha mẹ chúng ta đă khổ nhọc biết bao để thành tựu như ngày nay, chúng ta phải mượn nó tinh tấn dụng công niệm Phật, để báo đáp công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ. Hy vọng mọi người phóng hạ thân tâm, tập trung dụng công niệm Phật. Có như thế công phu mới thành tựu, mới không phụ công sức của chư vị bỏ hết việc nhà về đây niệm Phật.

Chúng ta tham dự Phật thất cần phải khắc kỳ thủ chứng. Trước tiên, thân và tâm cần phải giữ ǵn không cho nó loạn động cũng không nên nói chuyện tạp, chuyện thị phi thế gian, phải giữ ǵn thân tâm, có như thế bảy ngày mới có thành tựu. Sở dĩ gọi là “đả thất”, đứng trên mặt văn tự mà giải thích, “thất” là bảy, là chỉ cho thức thứ bảy, nghĩa là chúng ta phải đem thức thứ bảy mà chuyển thành “B́nh Đẳng Tính Trí”. V́ sao ? V́ thức thứ bảy là cội gốc của chấp ngă, là đầu mối của tham, sân, si. Giả như bạn muốn bố thí, chính thức này sẽ cản trở bạn, không cho bạn làm phước. Thức thứ bảy chấp vào kiến phần của thức thứ tám là thức A Lại Da làm ngă. Ngoài ra, phải chuyển Tiền Ngũ Thức thành Thành Sở Tác Trí, thức thứ sáu thành Diệu Quan Sát Trí, chuyển thức thứ tám thành Đại Viên Cảnh Trí. V́ thế, tác dụng của Phật thất là chúng ta đem tám thức mà chuyển thành bốn trí. Có như thế, mới biến đổi tâm phàm phu thành tâm Phật được. Bạn niệm Phật chính là đang chuyển tâm phàm phu của chính ḿnh thành tâm Phật vậy.

Như thế nào là tâm Phật ? Tâm Phật chính là tâm thanh tịnh, tâm không thanh tịnh chính là tâm phàm phu. Cho nên tâm Phật và tâm chúng sinh vốn không hai, chỉ có khác nhau ở chỗ là thanh tịnh hay không thanh tịnh mà thôi. Tại sao tâm chúng ta không thể thanh tịnh ? Chỉ v́ chúng ta không có tâm hổ thẹn và tâm chí thành mà thôi. Một người làm việc ác như sát sinh, trộm cắp, tà dâm… toàn thân đều có tội chướng. Song, chỉ cần người đó tâm sinh đại hổ thẹn, chí tâm sám hối, phát tâm đại chí thành, nguyện không tái phạm, đồng thời ra sức làm việc thiện th́ tội chướng liền tiêu trừ. Cho nên nói : “Ngày ngày hướng phía Đông, quay đầu là hướng Tây” hay “Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”. V́ thế, phát tâm đại hổ thẹn, đại chí thành chính là nương vào giới. Công đức niệm Phật thật vô lượng, có thể khiến cho tội chướng tiêu trừ, một khi tội chướng tiêu trừ tâm trở nên thanh tịnh, tâm thanh tịnh sẽ khiến lục căn được viên minh, biến thành lục thông tự tại. Nếu bạn có thể phát tâm đại tàm quư, đại chí thành mà dụng công niệm Phật nhất định có thể văng sinh Tây phương, viên thành quả Bồ đề, rộng độ chúng sinh đồng văng sinh Tịnh độ

3.- Văng sinh Tây phương viên chứng tam bất thối

Văng sinh đến thế giới Cực Lạc có một điểm rất tốt là chứng tam bất thối : 1. Vị Bất Thối, 2. Hạnh Bất Thối, 3. Niệm Bất Thối. Tức là một khi được văng sinh đến Tây phương liền chứng một lần ba loại Tam Bất Thối. Không giống như một số kinh điển nói rằng chứng tam bất thối phải có thứ lớp.

Hành giả tu tập tại thế giới Ta Bà phải phá trừ ngă chấp, đoạn phiền năo kiến tư hoặc, chứng quả A la hán, liền dự vào ḍng Thánh, không c̣n rơi lại địa vị phàm phu đó là Vị Bất Thối. Người chứng được sơ quả nhất định sẽ chứng được quả A la hán. Chứng được sơ quả th́ không c̣n rơi vào ba đường ác mà chỉ luân hồi trong hai cơi trời và người mà thôi. Những người này tu chậm nhất là bảy đời mới có thể thoát khỏi tam giới, tuy nhiên, nếu tinh tấn tu hành th́ không nhất định là bảy đời mà có thể ba hoặc năm đời. So sánh giữa họ và phàm phu chúng ta, phàm phu chúng ta đáng thương vô cùng, v́ chỉ lui tới trong sáu nẻo luân hồi, nếu người nào làm ác, phạm giới th́ lại rơi vào ba đường ác.

Người muốn chứng được Hạnh Bất Thối cần phải phát tâm đại Bồ Tát, hành Bồ Tát đạo, đồng thời phải đoạn trừ kiến tư hoặc và trần sa hoặc, trên cầu Phật đạo dưới độ chúng sinh th́ mới được xem thành tựu Hạnh Bất Thối. Người muốn chứng Niệm Bất Thối th́ niệm niệm phải an trụ trong thanh tịnh chân như, phải phá trừ vô minh, đồng thời chứng được pháp thân th́ mới đạt được Niệm Bất Thối.

Người được văng sinh Tịnh độ, không nhất định phải đoạn trừ nghiệp cảm, chỉ cần người đó có tin sâu, nguyện thiết, nhất tâm niệm Phật, chỉ mười niệm tâm không vọng tưởng thôi cũng được đới nghiệp văng sinh. Một khi văng sinh Tịnh độ người đó được sống chung với các bậc thiện nhân và chư đại Bồ Tát, người đó nhất định sẽ không c̣n bị duyên xấu lôi kéo, cho nên chứng được Vị Bất Thối. Lại nữa, người được văng sinh Tịnh độ do nhân duyên được gần chư Thánh nhân, nên ngày ngày được nghe Phật pháp để tu tập, công phu ngày càng cao nên không c̣n bị chướng duyên làm trở ngại nữa, liền chứng được Hạnh Bất Thối. Người được đới nghiệp văng sinh Tịnh độ, hóa sinh trong hoa sen, một khi hoa nở liền thấy Phật, do nhân duyên được thấy Phật nên niệm niệm tâm mong cầu thành Phật, do đó không có chướng duyên làm thối tâm hướng về quả Bồ đề vô thượng nữa, người này liền chứng được Niệm Bất Thối. Thật vậy, khi người nào được văng sinh Tịnh độ sẽ chứng được tam bất thối, được vào hàng nhất sinh bổ xứ, thật thù thắng vô cùng.

4.- Trí niệm Phật Thánh hiệu Tất cánh bất thối

Trong kinh chỉ có đề cập đến tam bất thối, chớ không có nói đến Tất cánh bất thối. Tất cánh bất thối là ǵ ? Đó là chỉ cho việc chuyên tŕ danh hiệu, viên măn vô ngại, không thể nghĩ bàn. Không luận là định tâm niệm, hay tán tâm niệm, có niệm hay không niệm, chỉ cần bạn niệm tai nghe rơ ràng. Mặc dù bạn không niệm, nhưng danh hiệu Phật cũng tự nhập vào tàng thức của bạn làm thành chủng tử không bao giờ mất. Giả như đời nay bạn không được liễu sinh thoát tử, trải qua vạn kiếp về sau, đến một lúc nào đó chủng tử này sẽ thành thục, chắc chắn bạn nhờ vào công đức niệm Phật đó cũng được liễu sinh tử và thành Phật.

Niệm Phật công đức không thể nghĩ bàn. Thí như vào thời Phật c̣n tại thế, một hôm Phật ở tại tịnh xá của trưởng giả Cấp Cô Độc, có một ông già không biết từ đâu đến xin vào gặp Phật để xin xuất gia, lúc đó đệ tử lớn của Phật là ngài Xá Lợi Phất liền nhập định quan sát thử ông này trong ṿng tám vạn đại kiếp trở lại có nhân duyên lành ǵ để xuất gia hay không. Sau khi nhập định xong, ngài liền bảo với ông già : “Ông không có thiện căn ǵ làm sao có thể xuất gia được ?”. Nghe xong ông già buồn bă, khóc lóc van xin thảm thiết. Phật nghe được tiếng khóc, liền hỏi chúng đệ tử có việc ǵ mà ông già khóc lóc như thế. Sau khi nghe chúng đệ tử tŕnh bày sự việc, Đức Phật liền nói : “Ông có thể xuất gia, v́ tám vạn đại kiếp về trước ông có thiện căn”.

Thiện căn ǵ ? Trước tám vạn đại kiếp về trước, ông là người tiều phu chuyên đốn củi trên núi. Một ngày nọ, ông bị cọp rượt, trong lúc nguy nan, vội leo lên cây, chỉ niệm “Nam mô Phật”. Từ đó trải qua vô lượng kiếp, nay nhân duyên của ông đă thành thục và có thiện căn để xuất gia, đồng thời về sau cũng có thể chứng được quả A La Hán. Điều đó trong Kinh Pháp Hoa cũng được Phật nói đến : “Nếu có người tâm tán loạn, đi vào trong bảo tháp, chỉ niệm Nam mô Phật, cũng được thành Phật đạo”. Thật vậy, người trong thế gian cũng thế, tuy họ không có tin Phật, thế nhưng khi gặp thiên tai, hoặc nguy hiểm, miệng niệm “A Di Đà Phật” hay “Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát”. Chỉ cần niệm danh hiệu Phật một lần cũng đă có chủng tử rồi, trải qua vô lượng kiếp và đến một ngày nào đó nhất định thiện căn của họ thành thục, cũng có thể thành Phật như mọi người, đó chính là Tất cánh bất thối.

Hiện tại chúng ta về đây tham dự Phật thất, mỗi ngày có ít nhất là mười hai tiếng công phu, niệm Phật tối thiểu là mấy vạn câu, lễ Phật năm trăm lạy, công đức không đó thể văng sinh được hay sao ? Nhất định chúng ta được văng sinh ! Không cần phải niệm đến nhất tâm bất loạn mới được văng sinh. Trong kinh có đề cập đến hai loại nhất tâm bất loạn. 1. Lư nhất tâm, 2. Sự nhất tâm. Người chứng được sự nhất tâm tức được Vị Bất Thối, sẽ sinh vào Phương Tiện Hữu Dư Độ. Chứng được lư nhất tâm tức được Niệm Bất Thối, sẽ được sinh vào Thật Báo Trang Nghiêm Độ. Phàm phu chúng ta hiện tại không thể đạt đến cảnh giới sự và lư nhất tâm. Song chỉ cần chúng ta niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” là đă được Tất Cánh Bất Thối, sớm muộn ǵ chúng ta cũng được văng sinh Tây phương. Do đó, mọi người chỉ cần thành tâm mà chấp tŕ danh hiệu là có thể văng sinh rồi. V́ thế, không cần phải sợ ḿnh niệm Phật có được văng sinh hay không, tâm tán loạn làm sao có thể văng sinh ? Quan trọng nhất là bạn có chấp tŕ danh hiệu hay không, có đầy đủ tín, nguyện để niệm Phật hay không. Nếu bạn có đầy đủ tín, nguyện th́ nhất định bạn được văng sinh. Được văng sinh hay không do nơi bạn vậy.

5.- Thánh hiệu Di Đà là nước cam lồ

Thế gian thường nói : “Chính thắng tà”. Song, cũng có lúc tà thắng chính. Giống như thời đại mạt pháp hiện nay, tà thuyết của ngoại đạo rất thịnh hành, lắm lúc người học đạo lấy giả làm chân, nhận chân cho là giả. Thế nhưng, tà th́ luôn có giới hạn, nó không thể nào thắng chân được. Tại sao ? Tục ngữ có nói : “Thiện như thân tùng, ác như loài hoa, hoa nở tùng không động, một ngày sương tuyết đổ, thấy tùng không thấy hoa”.

Chúng ta là người biết đạo, giống như nước nhất định sẽ tưới tắt được lửa, nhưng nếu nước chỉ có một bát làm sao có thể dập tắt được một xe củi đang cháy. Thời đại mạt pháp hiện nay, tà thuyết ngoại đạo rất thịnh hành, trong khi chúng sinh thiện căn lại kém cỏi, nghiệp chướng lại sâu dày, lấy một ít nước thiện căn làm sao dập tắt được ngọn lửa ác nghiệp sâu dày của nhiều đời. V́ thế, mọi người khi niệm Phật mới có vọng tưởng, lúc lạy Phật mới có tạp loạn, đau lưng.

Tuy là như vậy, song nhiều nơi lửa rất lớn, nước không thể dập tắt được, chỉ có dùng nước cam lồ mới rưới tắt được lửa lớn. Cũng vậy, khi chúng ta niệm Phật, có vọng tưởng tạp loạn không nên sợ nó. Chỉ cần bạn niệm một câu A Di Đà Phật, A Di Đà Phật… cứ câu này nối tiếp nối câu kia không cho gián đoạn, vọng tưởng làm sao khởi lên. A Di Đà Phật chính là ḍng nước cam lồ thanh tịnh, có công năng tiêu trừ vọng tưởng trần cấu cho chúng sinh, giúp chúng sinh tiêu trừ tội chướng từ vô thỉ cho đến ngày nay.

Mọi người về đây tham dự Phật thất, cần phải dụng công tinh tấn mà niệm Phật, hăy dùng ḍng nước cam lồ A Di Đà Phật mà tưới tắt hết tất cả phiền năo tham sân. Lửa có thể đốt ở phạm vi sơn hà đại địa, chớ không đốt được hư không, cho nên chung quy chánh luôn thắng tà là vậy. Tà có thể thắng một thời chớ không thể tồn tại lâu dài được. Thiện giống như cây tùng, ác như loài hoa. Tùng tồn tại bốn mùa, hoa chỉ nở được trăm ngày rồi cũng rụng. Cho nên, người làm ác không bao giờ tồn tại lâu dài, gieo nhân ác rồi cũng gặt quả ác. Chúng ta là người tu hành phải xót thương cho họ, v́ bản tâm của họ vốn cũng có thiện căn như chúng ta, chỉ v́ một niệm vô minh, bất giác mà tạo ra tội ác như vậy. Nếu có thiện duyên trợ giúp, chung quy họ cũng giác ngộ, xả bỏ tà mà quay về chánh.

6.- Một đời nhất tâm niệm Thánh hiệu có thể thành Phật đạo

Chư vị nghe qua mười phần cũng đă có ḷng tin được một phần. Nếu như biết ḿnh thiện căn kém cỏi, nghiệp chướng sâu dày, không có phước báo, nhất định phải niệm Phật cho nhiều, tinh tấn mà dụng công th́ nghiệp chướng mới có thể tiêu trừ, mới có an vui được. Duy chỉ có niệm Phật cho nhiều nghiệp chướng mới tiêu, phước tuệ mới tăng trưởng, một bát nước làm sao có thể dập tắt được một xe củi đang cháy ? Chúng ta cần phải có ḷng tin kiên cố, tin rằng “chỉ xưng Nam mô Phật, đều có thể thành Phật đạo”, quyết định đời nay văng sinh để được thọ hưởng vui sướng. Có nên cầu đời sau văng sinh không ? Một đời chúng ta đă chịu biết bao thống khổ hà huống ǵ là phải trải qua tám vạn đại kiếp như lăo già Tu Bạt Đà La. Thọ sinh nhiều đời phải chịu nhiều khổ năo. V́ thế, chúng ta phải quyết định đời nay văng sinh thôi, nhất định Phật A Di Đà từ tôn sẽ tiếp dẫn, kính thỉnh chư vị phải tự ḿnh quyết tâm vậy.

Mọi người mỗi ngày niệm Phật đều có đọc hai câu kệ “Bốn mươi tám nguyện mong độ chúng, hoa sen chín phẩm rước lên ngôi”. Văng sinh Tây phương được chia thành ba hạng là thượng, trung, hạ. Mỗi hạng lại chia thành ba phẩm, cộng lại tất cả là chín phẩm. Do sự dụng công của chúng sinh có khác nhau nên mới có cảm quả vị không đồng. Người niệm Phật được lư nhất tâm th́ được văng sinh thượng phẩm, được sự nhất tâm th́ sinh vào trung phẩm. Người niệm Phật tuy chưa đạt nhất tâm, cũng có thể văng sinh hạ phẩm. Người phạm tội ngũ nghịch, thập ác, nếu có thể thành tâm niệm Phật sám hối, cũng có thể văng sinh hạ hạ phẩm. Đó là nhờ vào nguyện lực của Phật A Di Đà và đới nghiệp văng sinh, đó cũng là một điểm rất đặc biệt của pháp môn Tịnh độ. Đối với chín phẩm, cũng được gọi là người gieo một phần nhân th́ hưởng một phần quả. Cũng như trong thế gian, người có tiền ít th́ mua đồ rẻ, có tiền nhiều th́ mua đồ đắt, nếu có tiền ít mà muốn mua đồ dùng cao cấp làm sao có thể mua được ? Cho nên, người giải đăi nếu có thể tinh tấn niệm Phật đến nhất tâm cũng được sinh thượng phẩm, đạo quả bồ đề viên măn cũng có thể thành Phật như Phật.

Do đó, mọi người cần phải chí tâm lạy Phật, niệm Phật, th́ có được văng sinh hay không ? Chẳng những được văng sinh mà c̣n được sinh ở phẩm vị cao nữa. Nên biết “thân này đời nay không độ, biết đến khi nào độ được thân”. Hy vọng chư vị tinh tấn dụng công mà niệm Phật, cầu sinh Tây phương.

NGÀY THỨ NĂM

1.- Dừng tâm cầu phú quý, chỉ cầu Vô thượng đạo

Trước khi vào vấn đề xin chư vị niệm t́nh tha thứ cho ! V́ thời đại ngày nay là thời đại mạt pháp, cách Phật diệt độ rất xa. Hiện tại Phật Di Lặc vẫn chưa đản sinh, nên chúng ta hiện đang kẹt trong bát nạn. Thế nhưng, chư vị ngày nay được nghe đạo vô thượng, gặp được pháp môn Tịnh độ để tu tập, lại gặp được đạo tràng thanh tịnh như thế này, chứng tỏ chư vị là người đă có gieo nhân lành trong vô lượng kiếp.

Chúng ta học Phật, điều quan trọng nhất là phải có chánh tri kiến, người không có chánh tri kiến học Phật cũng không có lợi ích thiết thực ǵ. Chánh tri kiến như kim chỉ nam định hướng cho chúng ta con đường đi đúng đắn. Mọi người đă là người biết đạo, là người niệm Phật tu hành, không nên giống người trong thế tục chỉ cầu giàu sang phú quư, thăng quan phát tài, mà mục đích chúng ta học Phật là cầu giải thoát khổ đau, thoát ly luân hồi sinh tử. Nếu người học Phật với mục đích chỉ cầu phú quư th́ chẳng khác nào ngoại đạo. Nói như thế, Phật pháp có giảng cầu phú quư không ? Đương nhiên, Phật pháp cũng có nói đến việc cầu phú quư, song, cầu xuất thế gian mới là chân thật phú quư.

Giàu sang phú quư của thế gian thường làm chướng ngại cho đạo nghiệp, chúng ta phải xả bỏ nó. Trong kinh thường nói : “Giàu sang học đạo là khó”. Người giàu sang có tiền tài, phú quư, có danh vọng. Tài và danh là hai loại trong năm thứ ngũ dục. Chúng giống như hai sợi xích trói buộc con người, đưa con người vào đọa lạc. Người có tài, có danh vọng thật khó xả bỏ để tu hành. Do đó, người tu hành chúng ta chỉ cần thân thể mạnh khỏe, ăn mặc vừa đủ là được rồi. Nếu như ăn mặc không đầy đủ, đương nhiên sẽ khó mà tu hành, v́ ăn mặc không đủ dẫn đến thân thể bất an, thân thể không an th́ tâm khó an định, thân thể không có an làm sao tu hành được.

Chúng ta sinh vào thời đại ngày nay, phương tiện ăn mặc của chúng ta không đến nỗi thiếu thốn ǵ. Chúng ta sinh được vào hoàn cảnh tốt như thế này, không cần phải tranh danh đoạt lợi rồi. V́ cầu danh tranh lợi ắt hẳn làm chướng ngại cho việc tu hành. Mọi người nhất định phải xả bỏ cái tâm mong cầu giàu sang phú quư th́ mới có thể học đạo được.

Trên sự thật, người giàu sang phú quư đa số là làm ác, tạo nghiệp nhiều. Chúng ta cứ quan sát xem, người giàu sang phú quư có được mấy người chân chính cống hiến cho xă hội, cho đất nước ? Có được bao nhiêu người giàu sang mà không kiêu ngạo, không mê muội ? Một người đă giàu sang rồi khó mà tránh khỏi sự tham đắm ngũ dục. Tài, sắc, danh, thực, thùy là chỗ y cứ cho địa ngục, cho nên chúng ta không nên có tâm mong cầu phú quư trong thế gian.

Phật pháp giảng nói điều cao quư nhất là ǵ ? Tu lục độ vạn hạnh là giàu sang nhất, giải thoát khỏi Nhị tử là phú quư nhất. Nhị tử bao gồm những ǵ ? Đó là Phân đoạn sinh tử và Biến dịch sinh tử. Sinh sinh, tử tử trong lục đạo luân hồi gọi là Phân đoạn sinh tử. Phàm phu tu đạo chứng được quả A la hán, tức được giải thoát khỏi Phân đoạn sinh tử, chứng quả A la hán lại phát Bồ Tát tâm hành Bồ Tát đạo, lại phá trừ vô minh chứng được pháp thân, Phật đạo viên thành, đó là giải thoát khỏi Biến dịch sinh tử. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà, cùng vô lượng chư Phật là những vị đă giải thoát khỏi Nhị sinh tử, tự do tự tại qua lại trong chín giới cứu độ chúng sinh, đó mới là cao quư nhất.

Đức Phật được gọi là Thế Tôn, là thầy của trời người, là do người thế gian tôn quư Ngài mà gọi tên như vậy. V́ Ngài có đại từ bi, đại trí tuệ, có thể cứu khổ chúng sinh thoát khỏi khổ năo, đạt được an lạc giải thoát. Chúng ta thử xem người giàu sang trong thế gian có bao nhiêu người làm được vậy ? Chúng ta là người học Phật, phải noi gương Phật mà học tập, phải hướng tâm cao thượng cầu đạo xuất thế gian, đó mới là phú quư chân thật nhất, mới là người Phật tử chân chính.

2.- Tận tính thọ trước, chí thành xưng niệm

Mọi người học tập, tu pháp môn Tịnh độ, trước tiên phải có đầy đủ tư lương tín, nguyện, hạnh. Trong Kinh A Di Đà yếu giải, có nói : “Không có tin th́ không thể phát nguyện, không có phát nguyện th́ không có thực hành”. Chúng ta tham dự Phật thất niệm Phật bảy ngày chú trọng là thực hành. Phương pháp dụng công niệm Phật phải như thế nào ? B́nh thường có bốn phương pháp niệm Phật. Hiện tại, tôi xin đơn cử nói đến phương pháp được nhiều người thực hành nhất, một phương pháp dễ thực hành, lại dễ thành công nhất, đó là phương pháp Tŕ danh niệm Phật. Tŕ danh, thế nào là tŕ danh ? Là tŕ niệm danh hiệu A Di Đà Phật vạn đức hồng danh. Đương nhiên, tŕ niệm danh hiệu của các Đức Phật khác công đức cũng không thể nghĩ bàn. Vậy th́ tại sao Đức Phật Thích Ca lại đề cử Phật A Di Đà là tôn quư nhất trong vô lượng chư Phật ? Tại sao Ngài lại khuyên chúng ta thành kính mà niệm danh hiệu Ngài ? V́ Phật A Di Đà có nguyện lực rất lớn, Ngài phát bốn mươi tám lời nguyện, độ tất cả chúng sinh. Do đó, chúng ta không cần phải tŕ niệm bất cứ một danh hiệu Phật nào nữa, để dễ chuyên tâm. V́ thế, cổ đức có nói : “Chuyên tu th́ vạn người tu vạn người được” là vậy.

Chúng ta khi dụng công niệm Phật, không kể là niệm bốn chữ hoặc sáu chữ, phải niệm sao cho từng câu từng chữ rơ ràng. Danh hiệu phải lưu xuất từ tâm thành kính, tai phải nghe từng câu từng chữ rơ ràng, tâm phải lưu xuất chú ư vào danh hiệu. Một câu danh hiệu niệm như vậy, ngh́n câu vạn câu cũng niệm như vậy, ngày nay niệm như vậy, ngày mai cũng niệm như vậy, năm này niệm như vậy, năm tới cũng nên niệm như vậy, cho đến trăm năm cũng niệm như thế. Điều quan trọng là tâm phải thường hằng, không được ngày nay niệm ngày mai lại phế bỏ, tâm không chuyên nhất khó mà được văng sinh, lại phí công sức nữa.

Chúng ta nên niệm bốn chữ hay sáu chữ ? Kỳ thật, niệm bốn chữ hay sáu chữ công đức đều giống nhau, không phải niệm sáu chữ là tốt hơn bốn chữ. Trong kinh điển thường gọi người chấp tŕ “A Di Đà Phật”, song, tại sao cần phải niệm thêm hai chữ “Nam mô” ? “Nam mô” có nghĩa là quy mạng, là quy y, cũng có ư nghĩa là “nhất tâm”, chúng ta nhất tâm quy mạng A Di Đà, nếu bạn muốn niệm chậm th́ niệm sáu chữ, muốn niệm nhanh th́ tŕ niệm bốn chữ, cái nào cũng tốt.

Chúng ta niệm Phật cũng phải như ăn cơm vậy. Mỗi ngày đều phải ăn, từ khi lọt ḷng mẹ đă ăn rồi, hiện tại ngày nào cũng phải ăn. Vậy đến khi nào mới ngừng ăn ? Chỉ có khi nào Diêm vương đến rước bạn mới ngừng ăn thôi. Chúng ta niệm Phật cũng phải giống như vậy. Phải niệm cho rơ ràng, niệm đến khi nào Phật A Di Đà đến tiếp dẫn mới thôi niệm. Không nên cho rằng niệm một ngày, hai ngày, hoặc một Phật thất, hay hai Phật thất là được, mà phải niệm Phật, niệm đến lúc nào thành thục mới thôi. Giống như một em tiểu học, học thuộc ḷng văn chương, học một lần không thuộc, lại học hai lần, ba lần vẫn không thuộc th́ phải đọc đến trăm lần, học đến khi nào thuộc mới thôi. Chúng ta niệm Phật cũng phải như vậy, niệm đến khi nào Phật A Di Đà đến tiếp dẫn mới có thể dừng nghỉ được.

Chúng ta một khi được văng sinh rồi th́ không c̣n lo sợ không thành Phật nữa. Phàm phu sinh đến Tây phương, đầu tiên là tạm trú tại cơi Phàm Thánh Đồng Cư, sau đó lại đến ở tại Phương Tiện Hữu Dư độ, Thật Báo Trang Nghiêm độ, sau cùng là tiến nhập vào Thường Tịch Quang Tịnh độ mà thành Phật. Chúng ta tại sao cần phải niệm Phật ? V́ muốn được thành Phật, thành Phật để làm ǵ ? V́ độ chúng sinh. Do đó chúng ta cần phải phát Bồ đề tâm mà niệm Phật, hành Bồ Tát đạo mà niệm Phật, có như thế mục đích mới chính xác. Nếu bạn xả bỏ tâm Bồ đề mà niệm Phật tức là kim chỉ nam của bạn đă sai hướng rồi, một khi văng sinh Tịnh độ rồi cần phải trở lại Ta Bà để độ chúng sinh, độ chúng sinh đến khi nào mới dừng nghỉ ? Đến khi nào chúng sinh hết, giác hạnh viên măn mới thôi.

3.- Bối trần hợp giác hướng Phật đạo

Chúng ta niệm Phật cứu cánh là niệm cái ǵ ? Cái được gọi là “tâm tức là Phật, Phật tức là tâm”, tâm chúng ta niệm Phật A Di Đà Phật, A Di Đà Phật chính là tâm chúng ta. A Di Đà Phật ở thế giới Tây phương, thế giới Cực Lạc cũng đều ở trong tâm chúng ta, thậm chí ngay cả thế giới pháp tạng, hư không cũng là trong tâm chúng ta. Hư không là không có giới hạn, tâm chúng ta cũng chính là vũ trụ hư không. Vũ trụ là ǵ ? Trên dưới, phải trái, bốn phương gọi là vũ, tức là chỉ cho không gian, từ xưa đến nay gọi là trụ, tức là chỉ cho thời gian, nói tóm lại vũ trụ tức là chỉ không gian và thời gian. Chúng ta nói tâm bao trùm cả thái hư, tức là chỉ cho sự vô biên, vô thủy vô chung của tâm. V́ vậy, tâm không phải do duyên sinh, nếu tâm do duyên sở sinh, th́ cũng phải tùy duyên mà diệt, tức là không chân thật rồi. Chân tâm chúng ta, tức là chỉ cho tâm thanh tịnh, tâm này vốn cũng là Phật, vừa là chúng sinh, là tâm chân thật không sinh, cũng không diệt.

Phật A Di Đà là người đă đoạn trừ hết tất cả phiền năo, không c̣n tạo nghiệp, thanh tịnh vô vi giải thoát tự tại, chẳng những tự lợi đă viên măn, mà công đức lợi tha của Ngài cũng đă viên măn. Nói tóm lại, phước tuệ của Ngài cứu cánh viên thành, đă chứng được pháp giới tàng thân, cũng đă chứng được bản tâm thanh tịnh. Thật ra, tất cả chúng sinh vốn có đầy đủ bản tâm thanh tịnh, cũng có năng lực chứng được pháp giới tàng thân. Song, chỉ v́ chúng ta không có ư chí, không phát tâm tu hành, nên khiến cho bản tâm thanh tịnh của chính ḿnh không hiển phát được, chớ nào phải do một đấng thượng đế có quyền hạn giáng họa cho chúng ta như vậy. Mà chỉ v́ chúng ta không nỗ lực tu hành, chỉ v́ chúng ta quá ư giải đăi mới ra nông nỗi như thế.

Thân của Đức Phật là thân được tạo nên từ các công đức thanh tịnh, c̣n thân chúng ta là thân do tạo ác nghiệp mới có. V́ Phật là người bối trần hợp giác, tu tất cả các pháp thanh tịnh, phàm phu chúng ta, ngược lại bối giác mà hợp trần, mê muội trong trần lao. Trần ở đây chính là ngũ dục, là tài, sắc, danh, thực, thùy, những thứ mà chúng sinh t́m kiếm để rồi bị đọa lạc. Nếu như chúng ta muốn chuyển phàm thành thánh, chuyển nhiễm thành tịnh, th́ không ǵ hơn là niệm Phật. Chúng ta sở dĩ tạo các ác nghiệp sát sinh, trộm cắp, dâm dục, và làm các việc ác khác, chỉ v́ chúng ta đă có sẵn những hạt giống này trong tàng thức, v́ nó đă được huân tập nhiều đời nhiều kiếp, trở thành tập khí quá nặng nên khó mà chuyển đổi được. Là người học Phật, cần phải chuyển đổi những tập khí đó trở thành những hạt giống thanh tịnh, mà muốn chuyển đổi nó không có ǵ hơn là chư vị hăy thành tâm niệm Phật sám hối.

4.- Niệm Phật tức là niệm tự tâm

“Tâm tức là Phật, Phật tức là tâm”. Chúng sinh tức là Phật, Phật tức là chúng sinh; tâm Phật và tâm chúng sinh không hề sai biệt. Khi chúng ta niệm Phật tức là niệm tự tâm, A Di Đà Phật là Phật trong tâm chúng sinh, Phật không ĺa khai tâm chúng sinh, cho nên, khi chúng ta niệm Phật chính là niệm tự tính Phật trong tâm chúng ta, đă niệm Phật trong tự tâm rồi th́ có Phật nào nữa mà cảm ứng, lúc đó tự tâm cảm ứng tự tâm. Chẳng những Phật A Di Đà ở trong tâm chúng sinh mà mười phương chư Phật cũng ở trong tâm chúng sinh, chúng sinh như đứa con thơ trong tâm chư Phật, đă là đứa con thơ ở trong tâm Phật th́ Phật nào mà chẳng từ bi tiếp dẫn, chẳng thương nhớ chúng sinh. V́ thế Đức Phật A Di Đà luôn thương nhớ chúng sinh, Ngài luôn hi vọng những đứa con lầm đường lạc lối của ḿnh sớm trở về ngôi nhà Cực Lạc, sớm thành tựu ba đức của Ngài, đó là Trí đức, Ân đức và Đoạn đức, cũng là đức Pháp thân, đức Giải thoát, đức Bát nhă.

Chúng ta trăm ngàn đại kiếp đă lầm đường lạc lối mê lầm, cho nên ngày nay vẫn c̣n trôi lăn trong ṿng sinh tử. V́ thế ngày nay cần phải phát tâm chí thành, lăo thật niệm Phật, nếu tâm nhớ đông nhớ tây, tư tưởng loạn động, làm sao niệm Phật có cảm ứng được ?

5.- Chuẩn bị tư lương văng sinh Tây phương

Chúng ta tham dự Phật thất chú trọng ở chỗ thực hành, nếu có điều chi nghi ngờ phải nên thỉnh giáo, dụng công có thông mới có lợi ích thiết thực, nếu có trở ngại th́ công phu khó mà thành tựu được. Đối với chúng ta điều thiết yếu quan trọng nhất là phải dụng công niệm Phật cho nhiều, lễ Phật cho nhiều.

Chúng ta học Phật phải chú trọng ở điểm thực hành, nếu không tu hành mà chỉ nghiêng về nghiên cứu kinh sách, dù cho bạn thông suốt đến đâu, cũng không được văng sinh, đôi khi c̣n bị mắc vào sở tri chướng. Nếu muốn văng sinh, bạn cần phải nhờ vào công đức của danh hiệu, lấy đó làm tư lương. Chúng tôi hy vọng rằng mọi người không nên v́ việc làm công quả mà phế bỏ việc niệm Phật. Cần phải từng giây, từng phút chấp tŕ Thánh hiệu chuẩn bị tư lương văng sinh Tây phương. Thời gian thấm thoát thoi đưa, không chờ đợi một ai, kính thỉnh chư vị niệm Phật cho thật nhiều, nhất tâm cầu sinh Tây phương.

NGÀY THỨ SÁU

Niệm Phật chú trọng cầu văng sinh,

Xả bỏ pháp môn này khó giải thoát.

1.- Chỉ y theo niệm Phật độ sinh tử

Ấn Quang Đại sư có nói : “Đời mạt pháp chỉ có chấp tŕ danh, niệm A Di Đà Phật mới có thể giải thoát. Tu hành các pháp môn khác khó mà được giải thoát”. Nói như thế, người không hiểu lư sẽ không bao giờ chịu phục. Tại sao chỉ v́ một câu A Di Đà đơn giản mà lại dám phế bỏ đi tất cả những lời dạy khác của Đức Phật, mà Ngài đă dạy trong cả một thời đại ? Nói như thế chứng tỏ bạn là người không thông hiểu Phật pháp, đạo pháp cũng có thời đại của nó. Giống như người nông dân trồng trọt cũng phải y theo thời tiết, nếu gieo giống không đúng mùa, làm sao giống có thể mọc được. Thời đại nào cũng có ảnh hưởng của thời đại đó. Phật pháp cũng phân chia thành ba thời kỳ chánh pháp, tượng pháp và mạt pháp. Thời đại chúng ta hiện đang là thời kỳ mạt pháp, nếu bạn không thành tâm niệm Phật, mà cho rằng các pháp là tốt, đương nhiên các pháp môn khác cũng là tốt. Song không có hợp thời cơ.

Phàm một sự vật hay sự việc ǵ dù tốt đến đâu, cũng có thời hạn sử dụng của nó, nếu hết thời hạn sử dụng chất lượng sẽ không có. Cũng như trời đông lạnh giá, bạn lại nói rằng mặc áo lụa cho mát mẻ th́ đă sai rồi. Áo lụa chỉ thích hợp cho mùa hè mùa thôi. Ngược lại, vào ngày hè thời tiết nóng nực, bạn lại nói mặc áo da áo bông là tốt. Áo bông, áo da chỉ có tác dụng chống lạnh mà thôi. Đương nhiên nó cũng tốt, song nó chỉ tốt cho ngày đông, bạn không thể mặc nó vào mùa hè mà cho là tốt được, chứng tỏ bạn là người không hiểu rơ thời thế. V́ thế, tất cả các pháp không kể là xuất thế gian hay xuất thế gian, đều lệ thuộc vào nhân duyên và thời tiết mà sinh sinh diệt diệt.

Pháp môn đă thuộc vào đệ nhất nghĩa đế, đương nhiên cũng tùy thuộc vào thời tiết nhân duyên mà có tác dụng. Đó là điểm mọi người cần phải nhận thức cho rơ. Vào thời đại ngày nay, chỉ có một câu “A Di Đà Phật” mới có thể liễu sinh thoát tử. Bạn muốn văng sinh Tây phương không c̣n thọ nhận khổ đau thế gian th́ bạn cần phải có chánh tri kiến, có tín tâm mới có thành tựu được. Bạn không nên nghe người khác nói pháp môn này tốt, pháp môn kia vi diệu rồi tin theo. Bạn cần phải biết rằng : “Thiên kinh vạn luận, xứ xứ đều quy hướng Tịnh độ, Tổ Tổ Thánh hiền xưa nay chỉ quy hướng Tây phương”, đó là điểm các bạn cần phải chú ư. Vào thời đại này duy chỉ có nương theo niệm Phật mới được độ thoát, trừ niệm Phật ra, tu các pháp môn khác khó mà được giải thoát. Tôi thường giới thiệu cùng chư vị lời dạy của Tổ Ấn Quang, v́ sao ? V́ lời của Tổ dạy, từng câu từng chữ đều khế hợp với kinh điển, đều được Tổ căn cứ trên kinh điển mà nói. Thí dụ như Tổ có nói : “Thời đại hiện nay, xả bỏ pháp môn niệm Phật, không thể giải thoát, không thể liễu sinh tử”, lời nói này rất hợp với lời Phật dạy trong Kinh Đại Tập : “Thời đại mạt pháp ức ức người tu ít có người đắc đạo, duy chỉ y theo pháp môn niệm Phật, mới được độ thoát”. Đó là một sự thật, v́ thời đại ngày nay, là thời đại mạt pháp, căn khí của chúng sinh không c̣n sâu dày lanh lợi như thời tượng pháp và chánh pháp, nếu tu tự lực thật khó mà giải thoát được, khó có được một người thành tựu, duy chỉ có nương theo pháp môn niệm Phật mới có thể giải thoát, chỉ v́ pháp môn niệm Phật dễ thực hành, đơn giản và lại dễ thành tựu, bất cứ hạng người thuộc căn cơ nào cũng tu được.

Lời dạy của Phật trong kinh điển mọi người cần phải tin, nếu không tin th́ không phải là người Phật tử rồi. Nhất là thân làm người xuất gia, ăn cơm Phật mặc áo của Phật, bạn không thể tuyên dương chánh pháp là điều không thể nói rồi, nếu ngay lời Phật dạy cũng không tin, thậm chí lại c̣n hủy báng pháp môn niệm Phật, không tin lời Phật, lời Tổ tức bạn là quyến thuộc của ma, như vậy làm sao tránh khỏi quả báo, làm sao đủ chánh tri kiến học Phật được.

2.- Một câu niệm Phật đủ Lục độ

Phật thường dạy : “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Thật vậy, chúng ta là người học Phật, cố nhiên không phải chỉ học một pháp môn mà cần phải học tất cả các pháp môn khác. Thế nhưng, bạn phải biết rằng pháp môn niệm Phật, là pháp môn tổng tŕ, có đầy đủ vô lượng vô biên các pháp. Tôi thường thí dụ danh hiệu A Di Đà Phật giống như thức ăn duy tŕ thân mạng, nếu bạn không ăn thân thể sẽ trở nên tiều tụy. V́ một câu A Di Đà Phật đầy đủ tứ nhiếp pháp, lục độ vạn hạnh. Liên Tŕ Đại sư cũng có nói : “Một khi khởi niệm danh hiệu đă đầy đủ vạn đức, một khi tŕ danh đă đầy đủ trăm hạnh”, nói như thế người không có trí tuệ sẽ không thể nào lănh thọ, không thể hiểu được, đồng thời cũng không tin.

B́nh thường có một số người ngộ nhận rằng : “Một câu A Di Đà Phật đă đầy đủ lục độ vạn hạnh, tứ nhiếp, như vậy chúng ta tu lục độ và hành tứ nhiếp pháp th́ không cần phải niệm Phật nữa”. Bạn cần phải biết rằng chúng ta niệm Phật là để cầu sinh Tây phương, trong Kinh A Di Đà, Phật có dạy : “Không thể nào lấy một chút ít phước đức nhân duyên mà được sinh sang nước ấy”. Chúng ta nhất định phải có ḷng tin kiên cố, trước tiên lấy câu A Di Đà Phật tŕ niệm cho chí thành, có như thế nghiệp chướng mới tiêu trừ, trí tuệ mới phát sinh, sau đó mới tu tập các pháp khác. V́ sao trước tiên chúng ta phải chấp tŕ Thánh hiệu ? V́ trong Thánh hiệu đă có đầy đủ công đức tứ nhiếp pháp và lục độ vạn hạnh, v́ thế chúng ta cần phải niệm Phật cho nhiều, nhờ vào công đức của niệm Phật làm cơ sở, nền móng cho chúng ta, sau đó mới tu tứ nhiếp và lục độ, có như thế con đường tu đạo mới thông, từ chỗ thông rồi, dụng công mới nhẹ nhàng, mới có an ổn được.

Tuy nói cần tu lục độ vạn hạnh, song, chúng ta là người niệm Phật cần phải chú trọng ở việc cầu sinh Tây phương, sinh Tây phương chứng được vô sinh pháp nhẫn rồi, sau đó mới trở lại đạo tràng trong mười phương thế giới, rộng độ chúng sinh, viên măn hạnh nguyện Bồ đề, có như thế mới xứng đáng là người tu niệm Phật.

Những lời nói trên đều đă được chư Tổ sư nói trong quá khứ, lời Tổ nói đều căn cứ theo kinh điển, tôi chỉ đem lời nói của các ngài mà phân tích, diễn bày cho chư vị dễ hiểu, thật ra lời nói đó không khác ǵ lời dạy của chư Tổ. Tại sao tôi lại dám biến đổi lời dạy của chư Tổ ? V́ muốn khế lư khế cơ theo thời đại, nếu nói hoàn toàn giống lời văn trong kinh điển, e rằng sẽ có người không thể hội được, v́ thế cần phải tùy theo hoàn cảnh, tùy theo căn cơ của mọi người mà nói. Song, dù trăm thuyết ngàn thuyết cũng không ĺa nghĩa lư, giống như các nhà khoa học y khoa hiện tại rất tiến bộ, đă phát hiện ra nhiều chất dinh dưỡng để duy tŕ mạng sống nhân loại, cho nên tôi cũng lấy thí dụ, danh hiệu A Di Đà vạn đức hồng danh dạy người cho dễ hiểu, quư vị có nhận thức được hay không ?

3.- Hạnh Đại thừa bất năo chúng sinh

B́nh thường có một số người cho rằng, nếu người tu theo Đại thừa, th́ người đó phải ở tại thế giới Ta Bà, hành Bồ Tát đạo, rộng độ chúng sinh mới đúng là Đại thừa, nếu nói cầu sinh Tây phương tức là Tiểu thừa rồi. Bạn nói như vậy là không sai, người tu theo Phật pháp là cần phải độ chúng sinh, phải xả tự kỷ để hành lợi tha, chỉ có độ chúng sinh mới có thể báo đáp ân đức của Phật, mới có thể thành Phật đạo. Song, bạn phải tự suy xét ḿnh có đủ năng lực độ chúng sinh hay không ? Nếu có, bạn cứ lấy lợi tha để làm tự lợi cho việc tu hành, chúc bạn độ tha, sớm thành Phật đạo.

Chúng ta hiện nay là tội chướng phàm phu, sinh vào thời đại mạt pháp, nhưng được may mắn gặp được Phật pháp, lại có đủ ḷng tin để tu hành. Điều đó chứng tỏ chúng ta là người đă nghe Phật pháp trong nhiều đời nhiều kiếp, là người có thiện căn, người không có thiện căn chắc chắn không thể gặp được Phật pháp. Chỉ v́ chúng ta có nghiệp chướng nặng nề, đến ngày nay chưa được giải thoát. Tuy là tu thiện, thế nhưng không thể tránh hẳn được làm ác, thiện cũng chưa thuần. Một mặt tu đức, một mặt th́ làm tổn đức; hoặc tuy giữ giới, song, chưa tu phước tuệ, không có kết thiện duyên với người. V́ thế, chúng ta muốn độ chúng sinh cần phải có thứ lớp, trước tiên cần phải tŕ giới cho tốt, lấy giới làm cơ sở, tự cầu giải thoát, tiếp theo là tu hạnh Bồ Tát rộng độ chúng sinh, cho nên mới nói “leo cao ắt phải từ dưới thấp, đi xa ắt phải từ chỗ gần”.

Phải có thứ lớp như thế bạn mới có an ổn, nếu không nhất định bạn sẽ gặp phải sai lầm. Tại sao ? Trong luận có nói : “Tự thân chưa độ mà độ người, tức là không có”. Bạn nói độ chúng sinh tốt, song cần phải cảnh giác, phải thấy ḿnh có đầy đủ đạo lực hay không, nếu không chẳng những bạn không độ được chúng sinh mà ngược lại bị chúng sinh độ nữa là khác. Kỳ thật người niệm Phật, là người đang hành đạo Bồ đề, cầu sinh Tây phương, một khi hoa nở liền thấy Phật, ngộ vô sinh pháp nhẫn, sau đó trở lại khắp mười phương rộng độ chúng sinh, theo bạn th́ như vậy đúng hay là sai ? Chẳng lẽ lời dạy của chư Phật, chư Tổ lại cần bạn chấn chỉnh hay sao ? Nếu bạn là người chân thật có trí tuệ, sao lời nói của bạn không tương ưng với lời dạy của chư Phật.

Hiện tại chúng ta không hại chúng sinh là tốt, là quư lắm rồi. Nếu bạn không muốn làm hại chúng sinh bạn cần phải giữ giới hạnh cho thanh tịnh, bạn hại chúng sinh tức là phạm giới rồi. Nếu bạn không muốn làm hại chúng sinh, gây khổ đau sầu năo cho chúng sinh, bạn cần phải tŕ giới cho thanh tịnh, nếu không làm sao bạn có thể tu lục vạn hạnh độ chúng sinh, hay đạt được sự thanh tịnh viên măn được. Quư vị ở đây những người có chí, có tâm thiết tha tu hành, kính xin chư vị không nên nói pháp môn niệm Phật không tốt, rồi đánh mất đi nhân duyên hy hữu được văng sinh của chính ḿnh.

4.- Tưởng nhớ Pháp sư xin niệm Phật

Ấn Quang Tổ sư có khuyên người xuất gia, nếu có nhớ đến ngài xin hăy tha thiết dụng công mà niệm Phật. Nếu bạn niệm Phật cho tốt, tương lai nhất định cũng có năng lực như Pháp sư. Nếu như bạn không có tu tŕ phước đức lại muốn nghiên cứu kinh điển, học làm Pháp sư, v́ làm Pháp sư thăng ṭa uy phong ai mà chả thích, song việc đó bạn có làm được hay không ? Nếu trong quá khứ bạn không có trồng nhân đó, không có năng khiếu và năng lực, nhân duyên không đầy đủ, th́ cũng không nên luống phí tâm lực, hoang phí thời gian làm ǵ, mà cần phải chí tâm mà niệm Phật, lạy Phật. V́ “lễ Phật một lễ tội diệt hà sa, niệm Phật một câu phước tăng vô lượng”. Bạn cứ như vậy mà dụng công tám năm, mười năm sau, muốn làm Pháp sư cũng chưa muộn. Thật ra không cần học, tự nhiên bạn cũng có thể giảng kinh thuyết pháp được, cũng có thể độ chúng sinh được. V́ thế bạn cần phải theo thứ lớp mà học tập, giống như ban đầu vào chùa làm tiểu sa di, năm năm đầu phải tinh chuyên giới luật, năm năm sau mới nghe pháp tham thiền học đạo, niệm Phật, có như thế nghiệp chướng mới tiêu trừ, về sau thành tựu mới lớn. Nếu không học căn bản, cứ học những điều cao xa, làm sao thành tựu được. Hy vọng chư vị học giả sơ phát tâm phải như vậy, không nên hy vọng cao xa, mà phải lăo thật dụng công mới là tốt.

Tổ sư Ấn Quang sở dĩ khăng khăng không nhận đệ tử xuất gia cũng v́ nguyên nhân đó, ngài e ngại rằng nếu nhận người xuất gia th́ họ sẽ học đ̣i làm Pháp sư, sợ họ không đủ giới đức tu hành, luống thọ của đàn na ắt hẳn sẽ đọa lạc. Hiện tại đa số người xuất gia đều như vậy, cứ vào chùa cạo đầu, chỉ biết lo thụ hưởng, không nghĩ đến bổn phận cao quư của người xuất gia, chỉ tu tập cho qua ngày đoạn tháng, chớ không bao giờ nghĩ đến việc giải quyết sinh tử, cứu độ chúng sinh, thậm chí c̣n làm mất chánh kiến cho hàng Phật tử tại gia, làm cho đạo pháp ngày càng đi vào con đường suy đồi. Thảo nào cổ đức có nói : “Người xếp hàng trước cửa địa ngục nhiều nhất là Tăng chúng”. Ngày nay thậm chí những người làm sư phụ đều như vậy, bản thân không có thân giáo, lại nhận đệ tử, tự ḿnh không có ǵ để làm nơi nương tựa tu tập, không có kinh nghiệm, làm sao dạy đạo hạnh, công phu cho hàng đệ tử. Từ chỗ thầy không tốt, cho nên dẫn đến đệ tử làm sao tốt được.

Nếu bạn có thể noi theo gương Ḥa thượng Quảng Khâm mà học tập th́ tốt nhất. Học Ḥa thượng ở cái ǵ ? Học cái khổ hạnh của ngài, mấy mươi năm tu tập trên núi không thọ nhận của đàn na đă đành, thế nhưng sau khi trở về thế gian được thí chủ cúng dường ngài không bao giờ có tâm tham trước, ngài ăn mặc rất đạm bạc thô sơ giản dị, bao nhiêu của ngon ngọt của đàn na cúng dường cho ngài, ngài đều chia cho đại chúng, đều lo cho Phật sự. V́ thế bạn muốn học đạo cho tốt, hăy nên lấy ngài làm tấm gương mà học tập. Nếu bạn không học, không khổ công tu hành, lại vọng tưởng làm cái này cái nọ thật chẳng khác nào bỏ gốc mà theo ngọn, giống như người nông dân không có cày bừa, không cần cù siêng năng mà lại muốn lúa khai hoa kết nhụy. V́ thế kính thỉnh chư vị sơ phát tâm, phải khổ luyện cho vững chắc, có khổ luyện mới có thành tựu lớn, như vậy mới không phụ công lao học Phật của chính ḿnh.

Ḥa thượng Quảng Khâm không hề thuyết pháp hay giảng kinh, thế nhưng ngài lại là một đại Pháp sư, mọi người thấy ngài đều quy kính, lễ lạy, ngài không có học vị tiến sĩ, thạc sĩ hay bác sĩ, thế nhưng thành phần đệ tử quy y với ngài đều là những hạng người đó. Chúng ta thử xem, Ḥa thượng Quảng Khâm không có giảng kinh mà đă có thể độ ngh́n vạn người, hà huống ǵ ngài thuyết pháp giảng kinh sẽ độ biết bao nhiêu người ? Ngài dựa vào cái ǵ ? Dựa vào công đức tŕ giới trang nghiêm, dựa vào công phu thiền định tịch tịnh, dựa vào niệm Phật. Chư vị nên biết, Ḥa thượng không phải là không giảng kinh được, song, chỉ v́ ngài không lấy đó làm nhu yếu, ngài chỉ lấy giới đức trang nghiêm, lấy công phu chân thật là đă đủ độ người rồi. Cho nên nói thân giáo bao giờ cũng quan trọng hơn khẩu giáo. Như vậy tại sao chúng ta không thể noi theo học tập Ḥa thượng được ? Chỉ v́ chúng ta quá ư giải đăi, bạn có bao giờ thấy người nào giải đăi mà đạo nghiệp hay học vấn thành tựu không ? Do đó, chúng ta chỉ có tinh tấn niệm Phật mới có thành tựu văng sinh Tịnh độ được.

5.- Tâm miệng niệm Phật dễ tương ưng

Chư vị về đây tham dự Phật thất, thông thường mà nói, niệm Phật chỉ dụng tâm niệm, mà không dụng khẩu niệm. Song, chúng ta tu pháp môn Tịnh độ trọng ở tŕ danh niệm Phật, pháp tŕ danh là từ kim khẩu của Đức Thế Tôn thuyết, cho nên lấy miệng chấp tŕ danh hiệu cũng rất trọng yếu. Như trên đă nói, niệm Phật là dụng tâm niệm, không cần dụng khẩu niệm; nên biết rằng tâm niệm đương nhiên là trọng yếu, song không thể phế bỏ khẩu niệm. Người xưa căn tính rất lanh lợi nên dụng tâm niệm, niệm Phật Thật tướng, đương nhiên là có thể được. Song, hiện tại chúng ta đang ở thời đại mạt pháp, căn tính không thể sánh với người xưa được. Cho nên, chúng ta không thể phế bỏ khẩu niệm, khẩu niệm nếu có thể tương tục không gián đoạn, niệm niệm rơ ràng, tuy tu tŕ danh nhưng cũng có thể đạt đến Thật tướng.

Mọi người cần phải biết, chữ “niệm” trong hai chữ “niệm Phật” là do hai chữ “kim tâm” hợp lại mà thành. Chúng ta tu tŕ danh niệm Phật, cố nhiên là phải dùng miệng niệm, song không phải là quên tâm đi, mà nhất định dụng tâm mà niệm. Dụng tâm như thế nào ? “Kim tâm” chữ “kim” tức là chỉ cho hiện tại, là giây phút hiện tại, giây đầu tiên là hiện tại, thế nhưng khi bước sang giây thứ hai, th́ giây thứ nhất đă trở thành quá khứ rồi, giây đồng hồ chạy tích tắc, tích tắc rất có quy luật. Tâm chúng ta niệm Phật cũng như giây đồng hồ vậy, từng giây từng giây, tích tắc tích tắc, không ngừng niệm A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật… câu này tiếp nối câu kia, niệm không cho gián đoạn, câu này qua liền chú ư vào câu kế tiếp, niệm niệm phải từ tâm mà lưu xuất, nếu tâm không có chú ư tức tâm bạn đă tán loạn, tâm tán loạn làm sao mà thành tựu việc văng sinh được ?

Chúng ta niệm Phật là nhờ vào tha lực, tức là nhờ vào nguyện lực đại từ bi của Phật A Di Đà. Song, trong khi niệm bạn không được quên tâm chí thành, tâm cung kính, mỗi câu danh hiệu từ tâm thành kính mà lưu xuất, miệng niệm từng câu từng chữ rơ ràng, tai nghe từng câu từng chữ rơ ràng. Nếu miệng bạn niệm mà tâm không có chú ư tức bạn sẽ bị vọng tưởng khởi lên, cho nên điều quan trọng bạn phải dụng tâm mà niệm. Mọi người phải chú ư, nếu bạn không dụng tâm mà niệm, th́ giống như Đại sư Hám Sơn có nói : “Miệng niệm Di Đà tâm tán loạn, chỉ luống phí mất công”, cho nên khi niệm Phật mà bạn không có dụng tâm chú ư vào câu Thánh hiệu, tán loạn sẽ khởi lên. Nếu có chú ư th́ tâm khó mà tán loạn được. Khi công phu niệm Phật, chúng ta phải tùy trước vào thời gian, không lo ngại đến tán tâm hay hôn trầm. Nếu bạn có thể chân thật dụng “kim tâm” mà niệm, th́ càng niệm tâm bạn sẽ càng an lạc, càng niệm tâm càng thanh tịnh. Một giờ công phu là một giờ an lạc, một giờ công phu là một giờ giải thoát. Bạn niệm Phật mà cảm thấy khổ đau hay khó chịu, không thích thú chứng tỏ trong quá tŕnh dụng công niệm Phật tâm bạn có nhiều vọng tưởng, do có vọng tưởng nên tâm không an, tâm không an tức là tâm tán loạn, tâm tán loạn th́ làm sao có an lạc được.

Bạn cần phải biết “Phật” có nghĩa là giác, chúng ta niệm Phật tức là chúng ta thời thời giác ngộ. Bạn có thể dụng “kim tâm” mà niệm, từng giây từng phút niệm niệm rơ ràng, bạn sẽ có được an lạc và tự tại. Bạn muốn có pháp lạc chỉ cần bạn niệm niệm tương ưng, tương tục là có thể đạt được rồi, pháp lạc của việc tu hành, không có một thú vui nào trong thế gian có thể sánh bằng.

Nếu bạn có thể dụng “kim tâm” mà niệm, th́ một ngày công phu bạn có thể đạt đến mười vạn câu. Thế nhưng đối với người sơ phát tâm, một ngày công phu niệm được bốn hay năm vạn câu là khá lắm rồi, chư vị sơ phát tâm phải chú ư điều đó, v́ chúng ta là người mới tập tểnh bước vào công phu, chư vị chỉ cần quy định bốn hay năm vạn câu là khá nhiều, không nên học đ̣i theo những người có công phu thành thục, mong muốn ḿnh như họ niệm mười vạn câu. Thế nhưng khi vào công phu chúng ta mới thấy được, ḿnh không thể làm được việc đó, lư do vọng tưởng ḿnh quá nhiều, từ chỗ công phu không thành tựu như người thành thục sẽ dẫn đến tâm lư bức xúc, đó là kinh nghiệm tu hành xin chư vị sơ phát tâm chú ư cho. Điều thiết yếu công phu niệm Phật không chú trọng ở nhiều hay ít, mà là ở chỗ tâm có an định hay không.

6.- Tánh, vô tánh niệm niệm sinh diệt

Nói đến tâm, chúng ta chung quy là có tâm hay không ? Thực tế là không có tâm, tại sao lại không có tâm ? V́ không kể là hữu t́nh hay vô t́nh đều có bốn giai đoạn sinh, trụ, dị, diệt. Kỳ thật nói là “trụ” nhưng thực thể của nó vốn niệm niệm biến diệt, lấy thí dụ cái bàn chẳng hạn, tuy nh́n bên ngoài b́nh thường như thế, thế nhưng thực thể bên trong của nó biến diệt không ngừng, một sát na trôi qua, nó đă không c̣n như trước nữa. Bất kể là sơn hà đại địa, t́nh hay vô t́nh đều phải chịu bốn quy luật sinh, trụ, dị, diệt, ngay như con người của chúng ta cũng vậy, nó cũng phải chịu bốn quy luật sinh, lăo, bệnh, tử.

Tâm chúng ta thay đổi so với vật chất nhanh hơn nhiều, nhanh đến tốc độ nào ? Trong kinh luận thường nói : “Trong một cái khảy tay có chín mươi sát na, trong một sát na có chín trăm niệm sinh diệt”. Tốc độ đó nhanh hay không ? Lấy thí dụ cho dễ hiểu, như máy cắt giấy chẳng hạn, chỉ cần bấm máy một cái “cạch” thôi, trong nháy mắt đă có một ngh́n trang giấy bị cắt, thời gian máy cắt là một sát na, c̣n một ngh́n trang giấy bị cắt là biến đổi của một sát na, trong một sát na sinh diệt đó cũng có sát na biến diệt quá khứ, hiện tại và tương lai. Cũng là một lần cắt, thế nhưng trang này cắt trước, trang kia cắt sau, tuy không được cắt đồng thời một lần, nhưng có chung một sát na.

Tốc độ biến đổi của một sát na cực nhanh, cực ngắn, nhăn quan phàm phu chúng ta không thể nh́n thấy được. Duy chỉ có nhăn quan của Phật mới nh́n thấy được thôi. Hiện tại các nhà khoa học nghiên cứu chưa đạt đến tŕnh độ đó. Chúng ta cũng biết rằng tốc độ điện đàm của máy điện thoại nhanh đến mức độ nào, chỉ cần chúng ta bấm số thôi, trong giây lát đă có thể nói chuyện với người ḿnh cần gặp, như đang đối diện trước mặt, dù cách xa nhau đến hàng ngh́n cây số. Sự hiểu biết chúng ta có giới hạn không được thông suốt như Phật. Bạn muốn đạt được nhăn quan như Phật, muốn thấy được bản lai của các pháp, xin hăy tinh tấn mà niệm Phật.

7.- Tu hành theo đệ nhất nghĩa đế

Bạn phải biết rằng vui thế gian là nguồn gốc của đau khổ, nếu bạn không hiểu biết điểm này, mà lại tham đắm vào tài của, sắc đẹp, danh lợi, ăn ngon, ngủ nghỉ th́ không bao giờ có ngày liễu sinh thoát tử. Đă không biết thú vui thế gian là nguồn gốc của đau khổ, th́ làm sao có thể xả bỏ nó được ? Không xả bỏ nó làm sao có được tự tại ? Hưởng thọ t́nh ái, ngũ dục thế gian có bao giờ t́m thấy được chân hạnh phúc. Bạn nên biết rằng ngũ dục trong thế gian như nước muối vậy, bạn càng uống càng khát, cho nên người học Phật chúng ta nên giác ngộ mà xả bỏ nó đi, nếu không th́ măi măi ch́m đắm trong bể khổ sinh tử, làm sao có ngày giải thoát được. V́ thế, mọi người hăy đem thế gian t́nh mà đoạn trừ nó đi. Phật pháp không có giảng nói thế gian t́nh, mà chỉ nói đến t́nh xuất thế gian, đó là liễu sinh thoát tử. V́ thế chư vị tự ḿnh phải giác ngộ mới có thể tu hành được.

Phật pháp giảng nói đệ nhị nghĩa đế, đương nhiên cũng có nói đến trung hiếu, nhân nghĩa… song, chúng ta chân chính tu hành th́ không thể y theo đệ nhị nghĩa đế, hay thế gian t́nh được, mà chỉ có y theo đệ nhất nghĩa đế tu hành mới có thể giải thoát, cho nên mới có nói : “Không y đệ nhất nghĩa đế, không thể đắc Bát nhă giải thoát”. Nếu có thể như vậy mà dụng công tu hành th́ đạo nghiệp mới thành tựu, mới có thể trở lại độ chúng sinh được, mới chân chính được gọi là : “Phật pháp tại thế gian, không ĺa thế gian mà giác ngộ, nếu ĺa thế gian mà t́m Bồ đề, chẳng khác đi t́m lông rùa sừng thỏ”. Bạn muốn độ chúng sinh nhất định đạo nghiệp phải viên thành, phước tuệ viên măn, phải liễu sinh thoát tử mới trở lại độ chúng sinh được. Bằng không, mơ mơ hồ hồ, không theo thứ lớp, không phân biệt được trước sau, th́ càng tu càng hỏng bét. Làm sao có thể liễu sinh tử ? Muốn liễu sinh thoát tử, kính thỉnh mọi người nên chí tâm mà niệm Phật.

NGÀY THỨ BẢY

Dụng công diệu pháp là gì?

Tŕ danh niệm Phật tối thượng thừa.

Đối với phương pháp niệm Phật, giả như b́nh thường mọi người đă có phương pháp thực hành rồi, lại thấy phương pháp đó thích hợp, công phu có thành tựu th́ cứ nên theo đó mà thực hành. Những người sơ phát tâm nếu chưa có phương pháp nào thực hành th́ xin hăy lắng tâm nghe tôi nói đây.

1.- Ba nghiệp tương ưng công phu thành tựu

Công phu niệm Phật không phải một ngày, hai ngày mà có thể thành tựu, làm sao cho nhanh chóng ? Nếu ngày nay dụng công không tốt, th́ ngày sau lại dụng công, nếu ngày sau nữa lại không tốt th́ lại tiếp tục ngày ngày sau nữa, cứ thế dụng công đến khi nào thấy tốt mới dừng. Dụng công như thế nào là tốt ? Đó là ba nghiệp thân, khẩu, ư có thể tương ưng với Phật, không loạn tưởng, ngày đêm an lành, tâm nhớ Phật, miệng niệm Phật, thân lễ Phật, có thể chấp tŕ danh hiệu không quên không gián đoạn như vậy mới là tốt.

Trước tiên nói thân nghiệp, khi chúng ta ngồi cần phải thẳng thắn, thân không được cúi về phía trước hay ngă về phía sau quá, mà luôn giữ cho lưng thẳng đứng. Chân cần phải ngồi xếp bằng bán già hoặc kiết già tùy theo năng lực. Đầu không nghiêng qua phải qua trái mà luôn giữ sao cho thẳng thắng, không nên cúi tới trước, hoặc ngă về phía sau. Đối với tay, lấy tay phải để lên tay trái đặt trên đùi. Mắt không liếc trái, liếc phải, mà nh́n theo sống mũi, cách chỗ ngồi khoảng ba, hoặc bốn tấc, nếu thấy trong người mệt mỏi, hoặc buồn ngủ nên mở mắt, nếu nhắm ắt hẳn sẽ đưa đến hôn trầm. Trong khi công phu nếu thấy tinh thần sảng khoái nên khép mắt lại. Chú ư toàn thân các cơ luôn buông thả, chỉ giữ sao cho cột sống luôn thẳng đứng, lưng không được cong, v́ cong ắt sẽ dẫn đến đau lưng, cũng không được ưỡn về phía trước quá, v́ ưỡn quá sẽ dẫn đến tức ngực.

Đối với khẩu nghiệp, không kể là niệm thầm, niệm lớn hay niệm trung b́nh, kim cang niệm hay mặc niệm tất cả đều tốt, chỉ quư ở chỗ là làm sao “niệm niệm tương tục”, không cho gián đoạn.

Trong quá tŕnh công phu, bạn thấy ḿnh bị hôn trầm hay tán loạn nên niệm lớn, niệm lớn không có nghĩa là bạn niệm quát tháo lên, để cho tốn hao thần lực, mà niệm ở đây là niệm vang rền từng câu từng chữ rơ ràng, âm thanh vừa đủ tai nghe, âm thanh niệm không nên cao quá, cũng không được nhỏ quá, mà nên trung b́nh, đó là những phương pháp bạn xem thử ḿnh thích hợp với phương pháp nào, rồi chọn lấy một mà thực hành. Song, hiện tại chư vị đang tu tập theo đại chúng, nhất nhất đều nên theo chúng. Không nên chúng niệm nhanh ḿnh lại niệm chậm, chúng niệm chậm ḿnh lại niệm nhanh, mà cần phải ḥa đồng với chúng, cùng chúng dị khẩu đồng âm mới dễ thu nhiếp thân tâm, tâm mới có thanh tịnh được.

Kim Cang niệm, tức là niệm chỉ có một ḿnh bạn biết, người bên cạnh không thể thấy biệt được, nếu miệng không động, chỉ niệm trong tâm gọi là mặc niệm, mặc niệm là niệm không ra tiếng. Tuy không niệm ra tiếng, song tự tâm của bạn phải niệm từng chữ từng câu cho rơ ràng, tai cũng nghe từng chữ từng câu rơ ràng, có như thế mới dễ tương ưng.

Như thế nào là ư nghiệp tương ưng ? Trong khi niệm Phật bạn cần phải chú ư, nắm lấy câu danh hiệu mà niệm, ư niệm từng câu, từng chữ rơ ràng, như vậy bạn niệm ngh́n vạn câu mà trong tâm không có tạp loạn, dụng công lâu ngày ắt sẽ có tự tại và an lạc, không hôn trầm, không tán loạn, công phu trở nên thành thục tương ưng “một niệm tương ưng một niệm Phật” công đức niệm Phật như thế không thể nghĩ bàn, kính thỉnh mọi người thành tâm dụng công niệm Phật. Mỗi câu danh hiệu có thể niệm như trên, th́ mỗi một câu niệm Phật ba ngàn thế giới đều có thể nghe được, âm thanh chu biến khắp ba ngàn thế giới, công đức như thế có lớn không ? Nếu có thể “niệm niệm tương ưng niệm niệm Phật” th́ mười phương các nước chư Phật đều nghe được, như vậy một câu danh hiệu, âm thanh chu biến khắp pháp giới, công đức đó mới chân thật là lớn. Kính thỉnh chư vị chí tâm niệm Phật, nếu không thời gian trôi qua thật tiếc thay ! Thật tiếc thay !

2.- Phật thủ bất tận dụng bất kiệt

Chúng ta mở mắt ra thấy tượng Phật, nhắm mắt lại thấy tượng Phật đó là quán tượng niệm Phật. Hiện tại ở đây chúng ta chỉ chú trọng tŕ danh niệm Phật, nên quán tưởng như thế nào ? Quán nghĩa là quán chiếu, cũng có nghĩa là chú ư, tập trung tâm lực lại một chỗ, chúng ta tu tŕ danh là tập trung chú ư vào danh hiệu, niệm từng câu từng chữ sao cho rơ ràng, chú ư vào âm thanh câu thánh hiệu, dụng nhĩ căn quán chiếu. Nếu miệng niệm mà tâm không có chú ư, đó là tâm bạn đă bị loạn tưởng rồi, người niệm Phật là đem âm thanh danh hiệu tập trung lại, phản quan nghe lại âm thanh, tức là tu nhĩ căn, từng tiếng từng tiếng rơ ràng tâm nhớ không quên đó là bạn nhớ Phật niệm Phật. Niệm Thánh hiệu là Phật A Di Đà, tai nghe rơ ràng là Quán Thế Âm, nhớ Phật là Đại Thế Chí, như vậy người niệm Phật là lấy Tây phương tam Thánh làm cảnh giới y chính trang nghiêm, làm cảnh giới cho chánh niệm.

Danh hiệu Phật phải lưu xuất từ đâu ? Phải lưu xuất từ tâm của bạn, lưu xuất từ tâm mới có thể tŕ niệm lâu dài, như thế mới có thành tựu. V́ tâm là chủ thể của các pháp, tâm được ví như nguồn nước không bao giờ cạn, bạn thấy giếng nước có những mạch nước luôn luôn chảy không gián đoạn, nó cung cấp nước cho chúng ta, có bao giờ bạn xài hết giếng nước không ? Cho nên tục ngữ mới có câu “thủ chi bất tận, dụng chi bất kiệt” là vậy.

The post Bảy Ngày Khai Thị Phật Thất appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/bay-ngay-khai-thi-phat-that.html/feed 0
BA HẠNG NGƯỜI NÓNG GIẬN https://bachhac.net/ba-hang-nguoi-nong-gian.html https://bachhac.net/ba-hang-nguoi-nong-gian.html#respond Sat, 22 Feb 2020 02:49:40 +0000 https://bachhac.net/?p=2774 Một thời Thế Tôn trú ở Bàrànasi, tại vườn Nai, dạy các Tỷ kheo : Này các Tỷ kheo, có ba hạng người này xuất hiện ở đời. Thế nào là ba ? Hạng người như chữ viết trên đá, Thế nào là hạng người như chữ viết trên đá ? Này các Tỷ kheo, …

The post BA HẠNG NGƯỜI NÓNG GIẬN appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
ba hạng người nóng giận

Một thời Thế Tôn trú ở Bàrànasi, tại vườn Nai, dạy các Tỷ kheo :

Này các Tỷ kheo, có ba hạng người này xuất hiện ở đời. Thế nào là ba ?

  • Hạng người như chữ viết trên đá,

Thế nào là hạng người như chữ viết trên đá ?

Này các Tỷ kheo, có người luôn luôn phẫn nộ và phẫn nộ của người này tiếp tục lâu dài. Ví như chữ viết trên đá không bị gió hay nước tẩy xóa nhanh chóng, được tồn tại lâu dài.

  • Hạng người như chữ viết trên đất,

Và này các Tỷ kheo, thế nào là hạng người như chữ viết trên đất ? Ở đây, này các Tỷ kheo, có người luôn luôn phẫn nộ và phẫn nộ của người này không có tiếp tục lâu dài. Ví như chữ được viết trên đất bị gió hay nước tẩy xoá mau chóng, không tồn tại lâu dài.

  • Hạng người như chữ viết trên nước.

Thế nào là hạng người như chữ viết trên nước ? Này các Tỷ kheo, có người dẫu bị nói một cách kịch liệt, bị nói một cách ác độc, bị nói một cách thô lỗ, tuy vậy, vẫn dễ dàng hòa hợp, thân thiện và hoan hỷ. Ví như chữ viết trên nước được mau chóng biết, không tồn tại lâu dài.

LỜI BÀN – Giải thích: BA HẠNG NGƯỜI NÓNG GIẬN – Quảng Tánh

(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ I, chương 3, phẩm Kusinàra, phần Chữ viết trên đá-trên đất-trên nước, VNCPHVN ấn hành, 1996, tr 517)

Con người sống ở đời thường hân hoan khi gặp những điều gì vừa ý đồng thời phản ứng giận dữ, gay gắt lúc gặp cảnh chẳng đẹp lòng. Phẫn nộ, sân hận với những điều trái ý là tâm lý bình thường của chúng sanh. Tuy nhiên, tùy theo nghiệp lực nặng nhẹ của mỗi người mà biểu lộ sự giận dữ với những sắc thái và cấp độ khác nhau.

Có hạng người rất dễ bị sân hận, chỉ cần nghịch ý thì lập tức đùng đùng nổi giận. Người dễ giận mà khó nguôi thì gần như vô phương cứu chữa, chẳng mấy ai dám gần gũi và thân thiết với hạng người này. Bởi giận thì mất khôn, không thể làm chủ lời nói cũng như hành vi một khi đã nổi giận. Sự phẫn nộ tồn tại lâu dài sẽ thiêu đốt thân tâm, làm cho ai ôm ấp nó phải héo hon, cằn cỗi.

Nếu như mau giận mà chóng quên, nóng nảy chỉ vì trực tính, có chuyện liền nói ra không để bụng thì vẫn còn được cảm thông. Một người có nóng giận nhưng rồi sau đó biết lỗi, nhận thức được sự nguy hiểm mà tìm cách khắc phục, rất đáng được ca ngợi. Bởi chúng sanh thì ai cũng có nóng giận nhưng phải biết kiềm chế và nhẫn nhịn để điều phục. Người có giận cũng không nên giận lâu, nhanh chóng chuyển hóa cho thân tâm nhẹ nhàng, mát mẻ.

Không giận là trường hợp hiếm có ở trên đời, một người thành tựu tuệ giác vô ngã mới đạt đến khả năng này. Bậc Thánh giả luôn hoan hỷ với những nghịch cảnh nhờ có đầy đủ trí tuệ và từ bi, chẳng có gì có thể làm lay động tâm tư của những vị này. Người con Phật trong quá trình hướng đến không sân hận của bậc Thánh trước phải biết nhẫn nhịn đồng thời phát huy bi và trí để từng bước điều phục, chuyển hóa nóng giận của chính mình.

QUẢNG TÁNH

The post BA HẠNG NGƯỜI NÓNG GIẬN appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/ba-hang-nguoi-nong-gian.html/feed 0
Địa Tạng Bồ Tát Thánh Đức Vấn Đáp https://bachhac.net/dia-tang-bo-tat-thanh-duc-van-dap.html https://bachhac.net/dia-tang-bo-tat-thanh-duc-van-dap.html#respond Fri, 18 Oct 2019 08:38:40 +0000 https://bachhac.net/?p=2435 Do Lý Viên Tịnh Cư Sĩ Biên Thuật Hỏi: Địa Tạng Bồ Tát Thánh đản là ngày nào? Đáp: Ngày 30 tháng 7 hạ lịch. Hỏi: Lấy gì làm căn cứ ? Đáp: Năm Vĩnh Huy thứ 4 đời nhà Đường, ở Đông Phương có nước Tân La (tức là nước Cao Ly hiện nay), …

The post Địa Tạng Bồ Tát Thánh Đức Vấn Đáp appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
dia tang bo tat

Do Lý Viên Tịnh Cư Sĩ Biên Thuật

Hỏi: Địa Tạng Bồ Tát Thánh đản là ngày nào?

Đáp: Ngày 30 tháng 7 hạ lịch.

Hỏi: Lấy gì làm căn cứ ?

Đáp: Năm Vĩnh Huy thứ 4 đời nhà Đường, ở Đông Phương có nước Tân La (tức là nước Cao Ly hiện nay), Thái Tử Kim Kiều Giác sau khi xuất gia, dùng thuyền đến Trung Quốc, đến ngọn núi Cửu Chỉ Sơn trên núi Cửu Hoa Sơn ở tỉnh An Huy, tu hành 75 năm.

Đến đời Đường Huyền Tông khai nguyên, năm thứ 16 ngày 30 tháng 7 thành đạo, sau lại nhập định 20 năm. Đến ngày 30 tháng 7 Đường Chính Đức năm thứ 2, nhà Đường hiển thánh dựng tháp, cho nên Địa Tạng Thánh đản tức là ngày đó.

Hỏi: Cửu Hoa Sơn có phải là đạo tràng ứng hóa của Bồ Tát?

Đáp: Phải, Cửu Hoa Sơn đạo tràng ở huyện Thanh Dương tỉnh An Huy. Hằng năm vào tháng 7, những người đến hành hương trên Cửu Hoa Sơn rất đông, giao thông tiện lợi (Khởi hành từ Thượng Hải, đi thuyền đến huyện Đại Thông tỉnh An Huy, rồi đi đò đến Tiền Gia Cung, rồi ngồi ghế có mấy người khiêng lên Cửu Hoa Sơn).

Hỏi: Tại sao khi niệm Thánh hiệu thường xưng là Đại Nguyện Địa Tạng Bồ Tát?

Đáp: Hai chữ Đại Nguyện rất là có lai lịch, trong Địa Tạng Bản Nguyện Kinh có nói. Bồ Tát kiếp trước từng là con gái của Bà La Môn, từng là con một trưởng giả, từng là Quang Mục Thánh Nữ, từng là Quốc Vương. Khi còn là con gái Bà la môn, Ngài ở trước Tháp Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, phát đại nguyện rằng: “Ta nguyện tận vị lai kiếp, độ những chúng sinh có tội, mở mọi phương tiện, để chúng được giải thoát”.

Khi là con trưởng giả, Ngài ở trước Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai, phát đại nguyện rằng: “Ta tận vị lai chẳng kể kiếp số, vì tội khổ của lục đạo chúng sinh, mở rộng phương tiện, là cho giải thoát hết, thì bản thân ta mới thành Phật”.

Khi là Quang Mục Thánh Nữ, Ngài phát đại thề nguyện rằng: “Ta thề từ nay về sau, trước tượng của Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, từ sau trong trăm nghìn vạn ức kiếp, trong mọi thế giới. Tất cả địa ngục và tam ác đạo, mọi tội khổ của chúng sinh thề nguyện cứu bạt, để họ rời khỏi địa ngục, ác thú, súc sinh, ngạ quỷ v.v…, như là người có tội ác đều thành Phật rồi ta mới thành Chánh Giác”.

Lúc là Quốc Vương, Ngài phát đại nguyện rằng: “Nếu không độ hết tội khổ chúng sinh để họ được an lạc, đến nơi Bồ Đề, tôi vẫn chưa thành Phật”. Cho nên Địa Tạng Bồ Tát, không biết rằng đã trải qua bao nhiêu vô lượng đại kiếp, độ không biết bao nhiêu chúng sinh vô biên, đến bây giờ cũng vẫn là Bồ Tát, chưa chịu thành Phật. Nguyện lực của Bồ Tát, đơn chẳng thành Phật.

Ta thử nghĩ xem, nguyện lực của Bồ Tát lớn lao biết bao! Làm sao mà nói cho hết được. Trong các Đại Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát biểu hiện Đại Trí, Phổ Hiền Bồ Tát biểu hiện Đại Hạnh, Quan Âm Bồ Tát biểu hiện Đại Bi, còn Địa Tạng Bồ Tát biểu hiện Đại Nguyện.

Trong Pháp Hội Đức Thích Ca, thề điều phục cang cường chúng sinh, và thề độ thoát cực khổ ác của chúng sinh, phải công nhận đó là Đại Nguyện của Địa Tạng Bồ Tát vậy.

Hỏi: Nghe nói Địa Tạng Bồ Tát chỉ độ chúng sinh dưới địa ngục, có phải vậy không?

Đáp: Trong Bản Nguyện Kinh, Phật nói: “Địa Tạng Bồ Tát với cõi Diêm Phù có nhân duyên lớn, nếu nói đến mọi sự Kiến Văn Lợi Ích của chúng sinh thì trăm ngàn vạn kiếp cũng kể không hết được”.

Trong Chiêm Sát Kinh, Phật tuyên bố rõ ràng là: “Địa Tạng Bồ Tát từ khi phát tâm đến nay qua vô lượng vô biên trải qua không biết bao nhiêu A Tăng Kỳ kiếp, đã lâu đã từng độ Tát Bà Nhược Hải.

Công đức đầy đủ rồi, dựa vào bản nguyện tự tại lực, ảnh hiện thập phương. Tuy đi đến nhiều quốc độ nhưng thường khởi công nghiệp. Ở tại ngũ trược ác thế, tạo ra sự lợi ích sâu dày trong tư hội, thân tướng đoan nghiêm, uy đức thù thắng, chỉ trừ Như Lai ra, không ai sánh bằng.

Lại tất cả sở hữu hóa nghiệp trên thế giới, ngoài trừ Biên Cát, Quan Thế Âm, tất cả đại Bồ Tát cũng không bì kịp”. Bản nguyện thề lực của Bồ Tát, đủ để thành tựu mọi sở cầu của chúng sinh. Có thể diệt mọi trọng tội của chúng sinh, trừ mọi nghiệp chướng, sẽ được yên ổn”.

Thế nhân cho rằng Bồ Tát chỉ độ chúng sinh dưới cõi địa ngục, mà không nghĩ đến cõi người, đó là một sự hiểu lầm rất lớn. Trong kinh sách có nói: “Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả”. Cứu quả cố nhiên là cần, cứu nhân lại càng cần gấp.

Trong cõi người, chúng sinh tạo thập ác tội nghiệp là nhân, kiếp sau này phải xuống địa ngục đó là quả. Địa Tạng Bồ Tát đối với những kẻ ở dưới địa ngục còn cứu bạt, huống hồ với những kẻ chưa xuống địa ngục.

Hỏi: Tôi còn nghe Địa Tạng Bồ Tát công đức lợi ích vượt khỏi các Đại Bồ Tát, có phải hay không?

Đáp: Các Đại Bồ Tát phần lớn là các vị cổ Phật tái lai, không ai hơn ai, nhưng chúng sinh từ nhiều kiếp đến nay hay kết pháp duyên có sâu có nông, tránh sao cho khỏi.

Nhưng Địa Tạng Bồ Tát đối với thế giới này có đại nhân duyên, cho nên Thế Tôn khen là tối thắng, chúng sinh nào vững niềm tin thì được lợi ích. Trong Thập Luân Kinh, Đức Phật có nói: “Giả sử có người nào cho rằng Di Lặc Bồ Tát Diệu Cát Tường và Quán Tự Tại Bồ Tát, Ngài Phổ Hiền Bồ Tát là thượng thủ Khắc Ca Sa Đại Bồ Tát và Ma Ha Diễn ở trong trăm kiếp chí tâm quy y, xưng niệm danh hiệu, đọc tụng, lễ bái, thờ cúng mọi điều sở cầu.

Không bằng có một người trong một bữa ăn, mà chí tâm quy y, xưng danh, niệm tụng, lễ bái, thờ cúng Địa Tạng Bồ Tát, thì những sự cầu xin sẽ sớm được y nguyện. Vị Đại Sĩ có mối nhiệt tình quen với lòai hữu tình từ lâu vững tin đại nguyện, đại bi dũng mãnh vượt các Đại Bồ Tát.

Cho nên các ngươi nên cúng dường.” Trong Kinh Bổn Nguyện cũng có nói: “ Địa Tạng Bồ Tát Diêm Phù Đề có đại nhân duyên như Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Âm, Di Lặc cũng hóa muôn thân hình để độ lục đạo.

Còn có điều chưa hết, như Địa Tạng giáo hóa mọi chúng sanh trong lục đạo, phát ra những thệ nguyện kiếp số như hàng vạn ức hằng hà sa số.

Hỏi: Chúng ta thờ cúng Địa Tạng Bồ Tát có công đức lợi ích gì?

Đáp: Thờ cúng Địa Tạng Bồ Tát thì công đức lợi ích nói không hết.

Hỏi: Có những công đức và lợi ích gì rất rõ rệt?

Đáp: Nếu muốn cầu phước đức và trí tuệ, không thể không được nơi hiện thế, mà sự hiển linh như việc cầu xin như xuất ngoại lữ hành, sanh con trai hay gái, bệnh nặng hay mắc bệnh khó chữa, đều rất linh nghiệm.

Hỏi: Khi đi du lịch cung phụng Địa Tạng Bồ Tát có ích lợi gì?

Đáp: Trong Bản Nguyện Kinh có nói rằng nếu có chúng sinh nào vào rừng, vượt biển, gặp phải sóng gió, hay qua các đường nguy hiểm, thì niệm đọc danh hiệu Bồ Tát vạn lần, trên đường nguy hiểm sẽ có thổ công và quỷ thần hộ vệ tránh mọi nguy hại.

Hỏi: Mới sinh con trai hay gái thì cúng Địa Tạng Bồ Tát có lợi ích gì?

Đáp: Kinh nói: Nếu có sinh con trai hay gái, thì trong 7 ngày, tụng đọc Bản Nguyện Kinh và niệm danh hiệu Bồ Tát vạn lần, đứa trẻ sẽ được hết mọi tai ương kiếp trước, được an lạc, trưởng thành tăng thêm phúc thọ.

Hỏi: Nếu mắc bệnh nặng, cung phụng Địa Tạng Bồ Tát có ích lợi gì?

Đáp: Trong Kinh có nói nếu có chúng sinh nào khi lâm chung được nghe tiếng tên Bồ Tát bên tai. Sau khi chết, xa lìa vĩnh viễn ba đường ác. Lúc đó Cha Mẹ hay quyến thuộc đem nhà cửa, hay đồ quý báu và quần áo đem bán mà tạc tượng hay họa hình Bồ Tát, để người bệnh trước khi chết được mắt thấy tai nghe, thì túc nghiệp báo hay kẻ bị bệnh nặng sẽ được khỏi và tăng thọ. Nếu có nghiệp báo hay mạng đã tận, hoặc có tội nghiệp phải xuống địa ngục, thì cũng được tiêu trừ nghiệp chướng, siêu sinh nhân thiên mà hưởng lạc.

Hỏi: Mắc chứng ác bệnh, cung phụng Địa Tạng Bồ Tát có ích lợi gì?

Đáp: Trong Kinh sách nói: “ Nếu có chúng sinh nào nằm triền miên trên giường bệnh đã lâu năm, cầu sống không được, cầu chết cũng không được, đêm nằm thường mơ thấy ác quỷ, hoặc đi đường hiểm nghèo và cùng quỷ đi chơi, bệnh tình ngày càng thêm nặng, kêu khổ trong khi ngủ.

Đó là do nghiệp đạo thảo luận, chưa định tội là nặng hay nhẹ, cho nên bệnh tạm thời chưa khỏi. Nhưng đối trước tượng chư Phật và Bồ Tát lớn tiếng đọc Bản Nguyện Kinh một biến, hay lấy thứ vật gì mà bệnh nhân yêu quý nhất, như quần áo bảo vật, trang viện hay nhà ở, đối trước bệnh nhân nói rằng: Tôi là XX vì bệnh nhân mà bỏ đi mọi vật này, thờ phụng Kinh tượng hoặc tạc hình Bồ Tát và tượng Phật, hoặc xây tháp và cất Chùa, hoặc quyên dầu đèn, và làm việc thiện thường xuyên.

Nói trước bệnh nhân 3 lần, để bệnh nhân nghe cho rõ. Nếu bệnh nhân khó sống, từ 1 đến 7 ngày lớn tiếng đọc Kinh, thì bệnh nhân sau khi chết được giải thoát hết mọi tội.

Hỏi: Cứ gặp 10 ngày chay cung phụng Địa Tạng Bồ Tát có lợi ích gì hay không?

Đáp: Có, trong Kinh có nói, các cử chỉ hay ý nghĩ của Nam Diêm Phù Đề chúng sinh đều là nghiệp. Nếu có thể trong 10 ngày chay, tức là những ngày mùng 1, mùng 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29 và ngày 30, đến trước tượng Phật và Bồ Tát đọc Địa Tạng Bản Nguyện Kinh một lượt, thì bốn bên chỗ ở của mình không có tai nạn, người trong nhà này bất luận già hay trẻ, hiện nay và sau này, vĩnh viễn lìa khỏi tội ác, không sinh bệnh tật, ăn mặc phong phú.

Hỏi: Nghe nói Địa Tạng Bồ Tát tu địa đại Viên Thông chứng Như Lai Tạng tánh. Trong Thập Luân Kinh có nói Địa Tạng Bồ Tát khi đến Pháp Hội, mọi người cảm thấy địa đại tăng cường, thấy mình nặng khó cử động. Nếu vậy những nhà ở và kẻ làm nông cung phụng Địa Tạng Bồ Tát có phải là có ích hay không?

Đáp: Đúng, Bản Nguyện Kinh có nói: “Ở phía Nam đất đai thanh khiết, lấy đất, đá, tre, gỗ làm cái thất để thờ, bên trong tạc hay vẽ tượng Bồ Tát, phụng thờ, thắp hương, chiêm lễ và tán thán, thì người ở khu đó được 10 điều lợi ích:

Là Đất đai thu hoạch gặt hái phong phú.
Là Gia đạo bình an.
Là Tiên vong sinh thiên.
Là Hiện tồn phúc thọ.
Là Sở cầu toại ý.
Là Vô tai nạn thủy hỏa.
Là Tránh mọi hư hao.
Là Đoạn tuyệt ác mộng.
Là Sớm chiều ra vào có thần phù hộ.
Là Gặp nhiều Thánh ân.

Hỏi: Xin nói lại kẻ làm ruộng cung phụng Bồ Tát có ích lợi gì?

Đáp: Thập Luân Kinh có nói: “Tùy ở nơi đó, nếu các hữu tình gieo các hạt giống ở ruộng hoang hoặc ruộng tốt, hoặc siêng năng làm việc, hoặc không làm việc mà có thể chí tâm xưng niệm danh hiệu, đọc tụng, quy kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, kẻ thiện nam này công đức, diệu định, uy thần lực cố. Tất cả mọi cây trái đều được nhiều hơn. Sở dĩ được như vậy, người thiện nam này đã từng trải qua vô lượng vô số đại kiếp bởi vô số lượng cõi Phật Thế Tôn, sở phát đại tinh tấn, kiên cố thệ nguyện. Do sức của thiện nguyện đó, vì muốn thành các lọai hữu tình. Thường phổ nhiệm trì mọi đại địa. Thường phổ nhiệm trì mọi hạt giống, khiến cho mọi hữu tình đều tùy ý thọ dụng. Đó là vị thiện nam nầy do thần lực mà ra. Có thể làm cho gốc rễ mọi thảo mộc, cây cối, lá, hoa, đều được sanh trưởng. Mọi thuốc mầm non của cây đều nẩy nở thành thục và nhuận trạch thanh khiết đẹp đẽ.

Hỏi: Xin nói rộng lớn hơn lợi ích của Địa Tạng Bồ Tát?

Đáp: Bản Nguyện Kinh có nói: Nếu chúng sinh nào được thấy hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát và nghe Bản Nguyện Kinh, và đọc tụng hay dùng hương hoa, ẩm thực, y phục và châu báu cung phụng cúng dường, hay tán thán chiêm lễ, sẽ được 28 thứ lợi ích:

Là Được Thiên Long hộ niệm.
Là Thiện Quả càng ngày càng tăng.
Là Tập Thánh Thượng ân nhân.
Là Bồ Đề không phai.
Là Y thực phong phú.
Là Bệnh tật không đến.
Là Khỏi thủy hỏa tai.
Là Vô đạo tặc nguy.
Là Mọi người kính nể.
Là Thần Quỷ hộ trì.
Là Nữ chuyển nam thân.
Là Làm Vua thần nữ.
Là Tướng tốt đoan chính.
Là Đa sinh Thiên thượng.
Là Có thể là đế vương.
Là Túc trí mệnh thông.
Là Hữu cầu giai toại.
Là Quyến thuộc vui vẻ.
Là Mọi ngang trái đều tiêu diệt.
Là Nghiệp đạo vĩnh trừ.
Là Nơi đi tận thông.
Là Đêm nằm an lạc.
Là Chết trước lìa khổ.
Là Sống trong phúc đức.
Là Chư Thánh tán thán.
Là Thông minh lợi căn.
Là Có lòng từ bi.
Là Cuối cùng thành Phật.

Hỏi: Phát Đạo Tâm, phụng thờ Địa Tạng Bồ Tát, có phải được lợi ích lớn hơn không?

Đáp: Phải! Trong Kinh nói: Nếu có chúng sinh nào phát Đại Từ Tâm, cứu độ mọi chúng sinh, muốn tu vô thượng Bồ Đề, muốn thoát khỏi tam giới, người này nếu thấy hình Bồ Tát, hoặc nghe danh Bồ Tát, chí tâm quy y cung phụng chiêm lễ, thì sở nguyện tốc thành và sở cầu tất thành.

Hỏi: Ngoài ra còn có điều gì mà cung phụng Bồ Tát, còn lợi ích gì không?

Đáp: Còn rất nhiều, có thể đọc Địa Tạng Bản Nguyện Kinh, Phẩm thứ 6 và cùng 11 đến phẩm 13.

Hỏi: Địa Tạng Bồ Tát có những sự tích linh cảm?

Đáp: Rất nhiều, đời nhà Tống thường Cẩn Tập, có Tượng Bồ Tát Linh Nghiệm Ký và trong Tục Tạng Kinh. Tôi chỉ thu thập được, đã liệt kê vào Địa Tạng Bồ Tát Bản Tích Linh Cảm Lục, đây không thể kể là ghi sự chép đầy đủ.

Hỏi: Xưng niệm Địa Tạng Bồ Tát, và xưng niệm Địa Tạng Vương Bồ Tát có phân biệt không?

Đáp: Không phân biệt gì! đều có thể niệm. Các Kinh sách phần nhiều xưng là Địa Tạng Bồ Tát, Duy có Đại Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán Kinh thì xưng là Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Hỏi: Những Kinh sách nào nói về Địa Tạng Bồ Tát?

Đáp: Có Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh, Thập Luân Kinh, Chiêm Sát Kinh, còn Kim Cang Tam Muội Kinh và Đại Tạp Tu Di Tạng Kinh cũng có nói đến. Những Kinh sách có liệt tên Địa Tạng Bồ Tát thì rất nhiều. Bình thường phần nhiều đọc Địa Tạng Bản Nguyện Kinh, Linh Thừa Đại Sư Tuyển lựa ra chú thích. Gần đây người ở Hồ Trạch Phạn có cuốn Bạch Thoại giải thích cũng khá tốt. Chiêm Sát Kinh là của Bồ Tát Địa Tạng nói, Ngẫu Ích Đại Sư tuyển cuốn nghĩa sớ, mọi người nên đọc.

Hỏi: Những sách chú thuật về Địa Tạng Bồ Tát, loại nào ta nên đọc?

Đáp: Cuốn Ngẫu Ích Đại Sư viết khen ngợi Địa Tạng Bồ Tát Sám Nguyện nghi quỹ, và Chiêm Sát Hành Pháp là cuốn sách tốt. Và gần đây Hoằng Nhất Pháp Sư biên soạn cuốn Địa Tạng Bồ Tát Thánh Đức Đại Quan, Lư Thế Hầu vẽ Địa Tạng Bồ Tát Cửu Hoa thùy tích đồ tán, Ấn Quang Pháp Sư giám tu cuốn Cửu Hoa Sơn Chí,( khỏang Dân Quốc thứ 26) Nông Phụng Trì viết cuốn Địa Tạng Bồ Tát Vãng Kiếp Cứu Mẫu Ký, và tác phẩm của tôi biên soạn cuốn Địa Tạng Bồ Tát Bản Tích Linh Cảm Lục cũng là những sách đáng đọc.

Hỏi: Cư Sĩ cũng thường tụng niệm Địa Tạng Bản Nguyện Kinh, xin cho biết cảm tưởng đối với cuốn Kinh đó ra sao?

Đáp: Tôi đọc Bản Nguyện Kinh và Chúng Sinh Nghiệp Duyên phẩm mới biết chúng sinh nghiệp duyên quá nặng, đọc Chúc Lụy Thiên Nhân Chi phẩm mới biết Phật và Bồ Tát lòng từ bi rất sâu rộng, đọc Đao Lợi Thiên Cung Thần Thông Chi phẩm mới biết Địa Tạng Bồ Tát phát nguyện lớn lao. Chúng ta sống trong kiếp vận giữa lục đại nạn lâm đầu, chỉ còn cách chí thành quy kính Đại Nguyện Bồ Tát mà thôi.

Hỏi: Địa Tạng Bồ Tát có dạy chúng ta pháp môn tu hành hay không?

Đáp: Có ! Địa Tạng Bồ Tát dạy chúng ta niệm Phật, sống trong thời đại mạt pháp. Pháp môn niệm Phật là chắc chắn hơn cả. Bản Nguyện Kinh xưng danh hiệu Phật là phẩm Trung. Cố nhiên là tường tận liệt kê danh hiệu Chư Phật. Trong Thập Luân Kinh có nói rõ, sẽ sinh nước Tịnh Độ, nơi Đạo Sư ở đấy”. Chiêm Sát Kinh cũng nói: “Nếu có người muốn sống tha phương, hiệu là Tịnh Độ, nên theo danh xưng thế giới Phật mà tụng niệm, nhất tâm bất loạn, như kẻ quan sát trên, nhất định được sống ở nước của Phật. Cho nên Ngẫu Ích Pháp Sư ở trong Chiêm Sát Hành Pháp phát nguyện rằng: “Xả thân tha thế, sinh tại Phật tiền, gặp được Di Đà, cận kề Chư Phật, sẽ được thọ ký, hồi nhập trần lao, phổ hội quần mê, đồng quy bí tạng.”

Hỏi: Sự phát nguyện lớn lao của Địa Tạng Bồ Tát ta đã biết rồi, sao lại còn thấy nghiệp duyên chúng sinh còn nặng như vậy?

Đáp: Đã từng thấy trong Bản Nguyện Kinh, từ Phẩm thứ 3 đến thứ 5 có nói rõ. Trong đó, Địa Tạng Bồ Tát từng đem sự việc nhân quả báo ứng, sự quả báo của chúng sinh ở dưới địa ngục nói rõ tường tận. Mọi tội của tội nhân, Bồ Tát đã nói với họ về quả báo của từng tội, nhưng họ vẫn chưa tỉnh ngộ sám hối, nên còn phải xuống địa ngục để chịu khổ. Ở trong các địa ngục, khổ nhất là ở Vô Gián địa ngục. Vì sự khổ không hề gián đoạn, chứa chất tội nhân cũng không gián đoạn và tội nhân chịu khổ cũng không gián đoạn.

Hỏi: Những loại người nào đáng xuống địa ngục Vô Gián?

Đáp: Một là những người bất hiếu với Cha Mẹ, hoặc giết người. Hai là làm thân Phật chảy máu, phỉ báng Tam Bảo, bất kính tôn Kinh. Ba là xâm tổn hại của thường trú, làm ô uế Tăng Ni hay dâm dục trong chốn Già Lam, hoặc sát hoặc hại. Bốn là giả làm Thầy tu. Trong lòng không phải Thầy tu, phá của thường trụ, lừa dối bạch y. Năm là trộm cướp tài vật, gạo thóc, đồ ăn và quần áo, cho đến không cho mà lấy của người. Những loại người này đáng xuống địa ngục, khó mong kỳ hạn được thoát ra.

Hỏi: Làm sao thấy được lòng từ bi rất lớn của chư Phật và Bồ Tát?

Đáp: Đức Phật Thích Ca khi ở Đao Lợi Thiên Cung đã giơ cánh tay vàng ngàn vạn ức hóa thân Địa Tạng Bồ Tát và nói rằng: “Ta từ lũy kiếp cần khổ, độ thoát những kẻ tội khổ cang cường khó cảm hóa tội khổ chúng sinh. Còn những kẻ chưa điều phục, tùy nghiệp mà báo ứng. Nếu xuống địa ngục, lúc chịu cực khổ. Người nên nghĩ đến lời Ta ở Đao Lợi Thiên Cung ân cần dặn dò, những chúng sinh từ Ta Bà thế giới đến Di Lặc xuất thế đến nay dù cho có được giải thoát, vĩnh lìa đau khổ, ngẫu nhiên gặp Phật thọ ký. Thường căn dặn trong phẩm Chúc Lũy Nhân Thiên phẩm “Phật lại sờ đầu Bồ Tát, khen thần lực Bồ Tát thật không thể nghĩ bàn được. Từ Bi cũng không thể nghĩ bàn. Biện tài cũng không thể nghĩ bàn, và ân cần đem mọi chúng sinh nhân thiên chưa ra khỏi tam giới, còn ở trong nhà lửa giao phó cho Địa Tạng Bồ Tát, và dặn nếu có nhân thiên nào ở trong Phật pháp còn thiếu thiện căn thì cần phải ủng hộ, dạy cho họ tăng trưởng đừng để cho thoái thất. Nếu có chúng sinh nào bị đọa vào chỗ tội ác, nếu có thể niệm danh hiệu Đức Phật, một vị Bồ Tát, một câu một kệ kinh điển Đại Thừa, ông nên dùng thần lực mà cứu vớt họ, để họ được sinh lên cõi trời hưởng những sự vui”. Địa Tạng Bồ Tát nhất nhất nhận lời và mong Thế Tôn đừng lo. Đó cho thấy rõ lòng từ bi của Phật và Bồ Tát rất là rộng lớn bao la.

Hỏi: Phó chúc ý nghĩa là thế nào?

Đáp: Phó Chúc Ý nghĩa mười phần trọng đại. Vì hiện tại, vị lai, mọi tội khổ chúng sinh đều do phó chúc của Thế Tôn. Mọi điều đều ở trong Địa Tạng bi nguyện. Tất cả mọi chúng sinh đã biết mà quy ngưỡng. Thế Tôn độ chưa tận, thì nên độ chúng sinh là ở Địa Tạng Bồ Tát, là không còn nghi ngờ gì nữa. Hạnh nguyện của Thế Tôn tức là hạnh nguyện của Địa Tạng Bồ Tát, từ hộ của Bồ Tát tức là từ hộ của Thế Tôn. Cho nên nếu được Bồ Tát cứu hộ thì có thể coi Địa Tạng như là Phật vậy.

Hỏi: Còn ý nghĩa gì khác nữa không?

Đáp: Còn! Phàm phát Đại Bồ Đề tâm thì không khác gì Địa Tạng Bồ Tát nhận sự phó chúc ở Thiên cung.

Hỏi: Hiện nay tôi nên làm cách gì , về việc hoan hỷ cảm ơn ? Từ nay tôi biết rằng nên làm thế nào rồi. Mỗi ngày kính lễ Địa Tạng Bồ Tát, ông có thể giúp tôi viết một bản văn hồi hướng chăng?

Đáp: Tốt lắm! Tôi đã từng biên soạn một bài Địa Tạng Bồ Tát phát nguyện hồi hướng, ai ai cũng có thể đọc như sau:

Một lòng quy y

Đại từ bi phụ

Công đức lớn lao

Cùng kiếp nan tuyên

An nhẫn bất động

Do như đại địa

Tĩnh lũy thâm mật

Do như bí tàng

Thường hành huệ thí

Như xe hằng chuyển

Trì giới kiên cố

Như Diệu Cao sơn

Tinh tiến nan hoại

Như kim cương bảo

Trí huệ sâu xa

Giống như đại hải

Chúng sinh chướng dày

Thật nặng thật sâu

Địa Tạng hoằng từ

Chẳng sợ chẳng bỏ

Gíup sự sợ hãi

Như thân như hữu

Phòng chưa oán địch

Như khảm như thành

Giết giặc phiền não

Giống như thần kiếm

Cứu các chúng sanh

Giống như phụ mẫu

Con nếu yếu đuối

Phụ ái biện cường

Nhi bất tiêu hề

Mẫu lân phiên trọng

Đệ tử XX

Ân thâm duyên thâm

Thề dĩ thân tâm

Phụng Địa Tạng Chủ

Phục nguyện hoằng tu

Thường giác ngộ con

Khiến con hằng nhớ

Ức Bồ Đề tâm

Quyết định sinh Tây

Được gần Di Đà

Thừa bản nguyện lực

Hóa độ hữu tình

Tùy nơi trần kiếp

Ở trong xứ khổ

Thay chúng sanh khổ

Làm thành Phật trước

Mới chứng Bồ Đề

Địa ngục chưa trống

Thề chẳng thành Phật

Tận đời vị lai

Không có mệt nhọc

Kiếp đá hóa được

Nguyện này chẳng đổi

Sở tu phúc nghiệp

Sám hối phát nguyện

Đảo loại thiện căn

Thể đồng pháp giới

Mỗi mỗi hồi hướng

Phổ thí hàm thức

Tất chứng chân thường

Quy Tịch Quang độ.

Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Hiệu đính xong ngày 28.6.2012

Nhân sinh nhật lần thứ 64

Thích Như Điển

Đức Quốc Viên Gíac Tự Phương Trượng Hòa Thượng.

The post Địa Tạng Bồ Tát Thánh Đức Vấn Đáp appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/dia-tang-bo-tat-thanh-duc-van-dap.html/feed 0
Sanh Tử Như Ngủ Thức https://bachhac.net/sanh-tu-nhu-ngu-thuc.html https://bachhac.net/sanh-tu-nhu-ngu-thuc.html#respond Fri, 18 Oct 2019 08:27:54 +0000 https://bachhac.net/?p=2432 Từ vô lượng kiếp đến nay chúng ta sinh ra rồi tử, tử rồi lại sinh giống như con người tỉnh rồi lại ngủ, ngủ rồi lại tỉnh. Tối đến đi ngủ giống như hình thức chết, sáng lại tỉnh ra xem như người mới sanh, chẳng qua đối với sanh tử nầy thời gian …

The post Sanh Tử Như Ngủ Thức appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
sanh tử như ngủ thức

Từ vô lượng kiếp đến nay chúng ta sinh ra rồi tử, tử rồi lại sinh giống như con người tỉnh rồi lại ngủ, ngủ rồi lại tỉnh. Tối đến đi ngủ giống như hình thức chết, sáng lại tỉnh ra xem như người mới sanh, chẳng qua đối với sanh tử nầy thời gian ngắn ngủi thôi.

Thọ mạng của chúng ta, thời gian so ra dài hơn một chút, song chuyện sanh tử giống như chuyện ngủ thức mà thôi. Vì sao thế? Vì chúng ta có lúc mê mờ, có lúc minh bạch. Minh bạch tức là sinh, mê mờ tức là tử. Cho nên một niệm minh bạch, niệm đó mình sống; một niệm mê mờ, niệm đó mình chết.

Ðó là một thời gian ngắn tạm bợ của cuộc sanh tử, vô luận thời gian sanh tử ngắn cũng vậy, dài cũng vậy, đều là trong vòng sanh tử luân hồi, trôi lăn chìm hụm vô tận. Có lúc được sanh vào nhà giàu có, có lúc sanh vào nhà bần tiện, có lúc sanh làm trâu, làm ngựa, có lúc làm ngạ quỷ, súc sanh, hoặc xuống địa ngục.

Ðó là kiếp sống sanh tử luân hồi trong biển khổ nổi trôi bất định, vì sanh tử tuần hoàn không bao giờ dứt. Ðức Phật Thích Ca thấy kiếp sống của chúng sanh thật lả thảm hại, cho nên Ngài chờ không nổi mà “vô vấn tự thuyết”, không ai hỏi mà Ngài tự nói ra Pháp Môn Tịnh Ðộ. Pháp Môn Tịnh Ðộ là pháp môn phương tiện rất dễ tu hành. Ðường đi rất ngay thẳng, chỉ cần quý vị niệm Nam Mô A Di Ðà Phật với lòng tin, lòng phát nguyện, và tâm thực hành là đủ rồi.

Cho nên tín, nguyện, hạnh là ba chất liệu cần thiết để vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, đó là ba loại lộ phí. Thứ nhất phải tin Ðức A Di Ðà Phật, tin Thế Giới Cực Lạc, tin pháp môn niệm Phật nhất định sẽ đến được cảnh giới Cực Lạc diện kiến Ðức A Di Ðà. Phải có lòng tin, chớ nói chưa thấy chưa tin, hay điều nầy không căn cứ nên không thể nào tin được. Chỉ cần quý vị có lòng tin, ngoài ra không cần gì khác. Kế đến là phát nguyện gặp đức A Di Ðà, nguyện sanh vào thế giới Cực Lạc, nguyện tu pháp môn niệm Phật. Sau khi đã phát nguyện, cứ y chiếu theo pháp môn Tịnh độ niệm Phật tu hành, phải thật thà niệm Phật, phải chân thật niệm Phật. Niệm thật nhiều rồi, mới có thể trở thành một khối (đả thành nhất phiến), mà nhất tâm bất loạn, đạt được Niệm Phật Tam Muội, thời nhất định sẽ sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc.

Thế giới Ta Bà muôn cảnh khổ giao qua xắn lại, đầy rẫy muôn điều ác, cấu xé tranh giành, không có một lúc nào bình an. Ở thế giới Tây phương chẳng có phiền não và không có vấn đề gì phát sanh, cho nên chúng ta phải cầu sanh về cõi Cực Lạc thế giới, diện kiến đức Phật A Di Ðà, liên hoa hóa sanh, đắc không thối chuyển.

Không thối chuyển là vị không thối chuyển, niệm không chuyển, và hành không thối chuyển. Vị không thối lùi là quả vị chứng được không thối đọa. Niệm không thối chuyển tức là tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng thời khắc nào tâm cũng không thay đổi. Hành không thối chuyển tức tu hành theo pháp môn nầy không thối lùi.

Quý vị chứng đắc tam bất thối, tương lai nhất định thành Phật. Có đủ ba tư lương: tín, nguyện, hạnh rồi, thời đường đến thế giới Cực Lạc, diện kiến đức Phật A Di Ðà rất dễ dàng, bởi vì đây là nguyện lực của Ngài.

Tại mười phương thế giới, nếu có chúng sanh nào thành tâm niệm danh hiệu Nam Mô A Di Ðà Phật, thời lúc lâm chung, người đó được đức Phật A Di Ðà đến tiếp dẫn thành Phật.

Khi niệm Phật tức là đánh điện tín đến Thế Giới Cực Lạc. Một lần niệm Phật là một lần đánh điện tín, niệm Phật hai lần là đánh điện tín hai lần. Mỗi ngày đều đánh điện đến đức A Di Ðà, đức A Di Ðà ở thế giới Cực Lạc, cũng có ra-đa, có máy nhận điện tín. Máy ra-đa, máy nhận điện tín là cái gì? Ðó là ao sen thất bảo đó quý vị. Quý vị niệm Phật một câu, hoa sen lớn lên một chút. Quý vị niệm liên tục A Di Ðà Phật, hoa sen sẽ lớn lên to như bánh xe, chờ quý vị đến thế giới Cực Lạc. Phật tánh của quý vị, nhất linh chơn tánh của quý vị sẽ đến hoa sen nầy hóa sanh. Khi hoa nở, Phật tánh của quý vị sẽ hiển hiện. Nên nói:

“Nguyện sanh Tây Phương Tịnh độ trung,

Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu,

Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,

Bất thối Bồ Tát vi bạn lữ.”

Chúng ta nguyện ý đắc được thượng phẩm thượng sanh, hoa sen là cha mẹ, hoa nở thấy được đức Phật A Di Ðà, ngộ nhập Vô sanh pháp nhẫn, bấy giờ tức là chứng đắc bất sanh bất diệt, thoát khỏi sanh tử, cùng làm bạn với chư bất thối Bồ Tát. Khi chúng ta đến Thế Giới Cực Lạc, bạn bè quyến thuộc của chúng ta đều là Ðại Bồ Tát, ngày ngày cùng nhau giảng kinh thuyết pháp, cùng hướng về phía trước mà tiến.

Giảng ngày 17 tháng 12 năm 1985
Hòa thượng Tuyên Hóa

The post Sanh Tử Như Ngủ Thức appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
https://bachhac.net/sanh-tu-nhu-ngu-thuc.html/feed 0