Bồ Tát Đạo | Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam https://bachhac.net Fri, 13 Aug 2021 08:16:52 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=5.8.4 NUÔI DƯỠNG TÂM BỒ ĐỀ https://bachhac.net/nuoi-duong-tam-bo-de.html Fri, 13 Aug 2021 08:16:52 +0000 https://bachhac.net/?p=3619 Nếu bạn hỏi ta tham dự vào việc lắng nghe, suy niệm và thiền định về giáo lý như thế nào thì câu trả lời là ta cần làm những điều đó không chỉ vì lợi ích của ta, nhưng bởi lợi lạc của tất cả chúng sinh. Như vậy bạn phát triển Bồ Đề …

The post NUÔI DƯỠNG TÂM BỒ ĐỀ appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Nuôi Dưỡng Bồ Đề Tâm

Nếu bạn hỏi ta tham dự vào việc lắng nghe, suy niệm và thiền định về giáo lý như thế nào thì câu trả lời là ta cần làm những điều đó không chỉ vì lợi ích của ta, nhưng bởi lợi lạc của tất cả chúng sinh. Như vậy bạn phát triển Bồ Đề tâm ra sao? Trước hết bạn thiền định về lòng từ ái, và sau đó là lòng bi mẫn. Làm thế nào bạn biết là mình có Bồ Đề tâm hay không? Người không phân biệt giữa bạn và thù, người ấy có Bồ Đề tâm. Điều này rất khó khăn đối với người mới bắt đầu, bạn nghĩ thế phải không? Vậy tại sao khó khăn? Từ vô thủy chúng ta đã bám chấp vào ý niệm sai lầm của cái tôi và đã lang thang suốt trong sinh tử.

Rốt cuộc vào lúc này, cho dù bạn thiền định về Bồ Đề tâm nhưng nó không dễ dàng phát khởi. Vậy ta làm thế nào để có thể phát triển Bồ Đề tâm? Nó giống như việc nuôi con. Bạn bắt đầu bằng cách cho chúng thức ăn mềm, dễ tiêu. Khi lần đầu tiên ngài Xá Lợi Phất phát triển Bồ Đề tâm, một người đàn ông đã hỏi xin nhãn cầu (mắt) của ngài. Xá Lợi Phất trao nó cho ông ta và người đàn ông để nó trên mặt đất rồi đạp lên. Khi Xá Lợi Phất hỏi lý do tại sao thì ông ta nói khi đạp lên một nhãn cầu, nó tạo nên một âm thanh thật hay. Vì thế thay vì phát triển Bồ Đề tâm Xá Lợi Phất đã quyết định đi theo con đường Thanh Văn. Jigten Sumgon nói rằng khi bạn thực hành tonglen bạn không nên lập tức nhảy vào phòng tuyến cuối cùng. Khi thực hành tonglen ta nhận vào mình bệnh tật, đau khổ, và sự bất hạnh của những người khác và hiến tặng họ hạnh phúc của ta. Tonglen là như thế. Nếu chúng ta thực hành tận đáy lòng mình thì sẽ xảy ra việc ta có thể nhận bệnh tật của những người khác vào mình. Nếu điều này xảy ra và bạn đã đi quá nhanh, bạn có thể hối tiếc việc thực hành, nó sẽ bị uổng phí. Khi ấy mọi lợi ích của việc thực hành của bạn sẽ mất đi.

Vì thế khi nào là lúc thích hợp để bắt đầu thực hành tonglen? Nếu bạn biết tâm bạn sẽ không xao động cho dù kinh nghiệm tiêu cực nào xuất hiện thì bạn nên thực hành tonglen. Những người mới bắt đầu nên thực hành tonglen như thế nào? Họ có thể nhìn thấy nỗi khổ của những người khác, có lòng bi mẫn và sự cảm thông đối với họ và cầu nguyện cho họ. Những lời cầu nguyện này có thể có rất nhiều năng lực. Chỉ ngồi xuống và nói rằng bạn đang thực hành tonglen thì không đủ. Nó đòi hỏi một tâm thức kiên cố để có đủ năng lực hoàn thành thực hành này. Nếu bạn khao khát mang lại lợi ích cho người khác thì những lời cầu nguyện của bạn sẽ thành công. Nhưng nếu bạn thiếu sự nhất tâm thì những lời cầu nguyện ấy không có lợi lạc.

Như vậy chúng ta phát triển Bồ Đề tâm ra sao? Tôi đã giảng điều này trước đây vì thế nó đã trở nên quen thuộc. Đức Phật đã dạy rằng bạn có thể bắt đầu thực hành sự rộng lượng (bố thí) bằng cách chuyển vật nào đó từ bàn tay này sang bàn tay kia. Bạn có thể bắt đầu bằng cách biếu tặng những vật không có giá trị lớn, như cho đi những rau trái úa vàng. Nếu bạn đi từng bước một thì sự bố thí của bạn sẽ càng lúc càng phát triển. Jigten Sumgon nói rằng trước khi bạn củng cố tâm bạn thì bạn không thể nào hiến tặng thân thể bạn. Một vài truyền thống nói bạn nên bắt đầu với pháp tonglen và cho đi càng nhiều càng tốt trong khả năng của bạn. Nhưng nếu bạn thực hành con đường từng bước một thì bạn sẽ thấy rằng bạn không thể bắt đầu với tonglen hay hiến tặng thân thể bạn. Nếu chúng ta tham dự vào việc bố thí từng bước một bằng cách cho đi những rau trái úa vàng thì ta sẽ đạt tới chỗ có thể hiến tặng thân thể ta. Vào lúc đó bạn sẽ không tham luyến thân thể hơn những rau trái úa vàng. Nếu bạn đạt tới chỗ này thì bạn có thể dấn mình vào việc bố thí thân thể.

Khi bạn tham dự vào những thực hành này tâm bạn trở nên trong sáng và bạn đạt tới chỗ không có đau khổ. Vào lúc này việc chặt đứt chân tay sẽ không làm bạn đau khổ. Một tu sĩ hiến tặng thân thể mình trong khi thực hành. Trời Đế Thích hỏi ông có hối tiếc điều gì không. Tu sĩ trả lời: “Không, bởi tôi không tham luyến. Và nhờ năng lực của sự thiền định của tôi, tôi có thể thay thế chân tay tôi bằng những lời cầu nguyện.” Có một lần Jigten Sumgon mắc bệnh cùi rất nặng. Ngài nói rằng ngài không quan tâm tới cái chết nhưng chết vì một bệnh tật kinh hãi như thế làm ngài buồn bã. Sau đó ngài thiền định về lòng bi mẫn và nhận ra rằng bệnh tật của riêng ngài thì thật nhỏ bé nếu so sánh với những đau khổ của tất cả chúng sinh. Ngài bắt đầu thiền định vào buổi sáng khi những thú vật được đưa tới cánh đồng cỏ. Vào buổi tối khi đàn thú trở về thì ngài đã thành tựu một lòng bi mẫn không thể bị lay chuyển đối với tất cả chúng sinh và được chữa lành bệnh. Đó là điều được nói tới trong tiểu sử bí mật của ngài. Trong tiểu sử thông thường của ngài có nói rằng ngài được chữa khỏi bệnh trong ba ngày, bởi ngài nghĩ rằng mọi người sẽ không tin ngài nếu ngài nói ngài lành bệnh trong một ngày. Khi ta bắt đầu thiền định về lòng bi mẫn, trước hết ta nên phát triển lòng bi mẫn đối với bà mẹ của ta trong đời này. Tôi đã giảng cách nhớ lại thiện tâm của bà mẹ của ta trong những bài giảng trước đây.

Vào lúc bắt đầu ta cần có giáo huấn của Lạt Ma của chúng ta, cần đọc Kinh điển và lắng nghe giáo lý. Nhưng chỉ nghiên cứu thì không đủ. Những gì chúng ta học cần được cất giữ trong tâm ta. Nếu bạn thiền định về việc bà mẹ của bạn quý báu ra sao thì bạn sẽ cảm nhận được điều đó từ tận đáy lòng bạn. Nếu bạn không thực hành thì giả sử có ai xuất hiện và phê bình mẹ bạn, bạn có thể bị lung lay bởi ý kiến đó. Đó là bởi tâm bạn không kiên cố. Bạn cần thiền định từng bước một, bắt đầu với những thành viên trong gia đình bạn. Vậy chúng ta đang nỗ lực để đạt tới cái gì? Để tới một thời điểm khi ta không thể phân biệt được ai là kẻ thù và ai là bằng hữu của ta. Vào lúc đó có thể nói rằng bạn thực sự có Bồ Đề tâm.

Từ tiểu sử của Jigten Sumgon chúng ta có thể thấy được năng lực của Bồ Đề tâm. Nó là cội gốc của 84.000 Pháp môn. Nếu bạn không có Bồ Đề tâm, cho dù bạn thực hành điều gì thì bạn cũng không thể giác ngộ. Năng lực của Bồ Đề tâm thật vĩ đại. Không gian không thể bị cạn kiệt, nhưng năng lực của thần chú thì còn vĩ đại hơn thế. Sức mạnh đứng sau thần chú là Bồ Đề tâm. Có một câu chuyện về một pháp sư có năng lực vĩ đại bằng cách sử dụng thần chú và trở nên thật giàu có và nổi tiếng. Những vị pháp sư có thể dùng năng lực của các thần chú để gây tổn hại cho những người khác. Có một lần ông ta bao quanh một torma ba vòng xích và bằng năng lực của việc trì tụng thần chú, ông làm đứt tung sợi dây xích. Nhưng bởi vị pháp sư này không có Bồ Đề tâm nên ông bị tái sinh làm một con cá lớn trong một cái hồ. Tất cả đệ tử của ông bị sinh làm những con cá nhỏ ăn thịt con cá lớn. Vì sao xảy ra điều này? Nếu bạn chỉ phán đoán từ quan điểm thực hành các sadhana thì ông ta đã thực hành Pháp, nhưng ông không có Bồ Đề tâm, vì thế ông ta rớt xuống con đường lầm lạc. Tất cả những yoga và tantra đều có những năng lực vĩ đại, nhưng nếu bạn không có Bồ Đề tâm thì nó giống như những thực hành của một truyền thống phi-Phật Giáo. Nếu bạn không có thời gian để ngồi xuống và thiền định về Bồ Đề tâm, bạn có thể thực hành nó trong đời sống hàng ngày của bạn. Nếu bạn làm việc với ước muốn giúp đỡ những người khác, bạn có thể phát triển Bồ Đề tâm theo cách này.

Chúng ta không thành tựu Phật Quả là bởi ta bám chấp vào một cái “tôi.” Cách đối trị siêu việt cho điều này là Bồ Đề tâm. Bằng cách thực hành Bồ Đề tâm, sự bám chấp của ta càng lúc càng bớt đi. Sự đau khổ xuất phát từ việc bám chấp vào một cái ngã. Nhờ thực hành Bồ Đề tâm sự chấp ngã này giảm bớt. Nguồn mạch của hạnh phúc là Bồ Đề tâm. Khi chúng ta có sự may mắn và tiện nghi, ta nghĩ rằng ta hạnh phúc. Nhưng đây không phải là hạnh phúc bởi những hoàn cảnh của ta có thể thay đổi. Nhưng nếu ta có Bồ Đề tâm thì hạnh phúc của ta sẽ tồn tại từ đời này sang đời khác.

Bây giờ chúng ta sẽ có những câu hỏi.

Hỏi: Chúng con có thể tu hành tâm thức ra sao để tâm không bị ảnh hưởng bởi những nỗi khổ và những vấn đề của thân xác?

Đáp: Thân thể chúng ta là kết quả của những hành động trước đây của ta và tâm ta phụ thuộc vào chúng. Tư tưởng “tôi mệt” do tâm tạo ra. Khi ta già đi, ta mắc bệnh và ta nghĩ “Tôi đau yếu,” điều này làm những đau khổ của ta tăng trưởng. Bởi ta bám chấp vào những kinh nghiệm, ta phóng đại những nỗi khổ của ta. Nếu một hành giả không bị tác động bởi những tư tưởng này thì họ sẽ không đau khổ. Một tu sĩ trong tu viện của tôi mất vào năm 88 tuổi, nhưng khỏe mạnh cho tới lúc mất. Hai tháng trước đó ông nói: “Hôm nay là một ngày lành.” Ông dùng bữa và qua đời. Những hành giả cao cấp này không bị rơi vào sự thống trị của thân thể họ. Khi tôi đang nhập thất ở Ấn Độ thì một ni cô mất. Chúng tôi đưa cô vào bệnh viện và cô rất an định và nói: “Nếu chết thì chết.” Cô giải tán mọi người, ngồi thẳng lên và thị tịch. Nếu chúng ta có một thực hành mãnh liệt ta sẽ không quên nó khi chết và nhờ đó ta làm chủ được những đời sau của ta.

Hỏi: Trong tonglen nếu có ai nhận lãnh bệnh ung thư của người khác thì họ có cảm nhận sự đau đớn của bệnh ung thư đó không?

Đáp: Khi thích hợp để thực hành tonglen, bạn sẽ nhận đau khổ của những người khác. Nhưng nếu bạn đã phát triển Bồ Đề tâm, tâm bạn sẽ có sự tự do, tự chủ và bạn sẽ kiên trì trước nỗi khổ đau. Bạn có thể bị đau khổ và bệnh tật dữ dội xuất phát từ thực hành này. Ví dụ như khi Milarepa bị đầu độc, người làm điều đó yêu cầu được nhận nỗi đau đớn của ngài. Milarepa nói: “Ông không thể chịu đựng nổi điều đó. Tôi sẽ chỉ cho ông một phần của nó.” Chỉ sau vài phút ông ta xin ngài thu hồi sự đau đớn ấy. Ông ta sám hối và ăn năn về hành động của mình.

Hỏi: Thầy thuốc Tây Tạng có sử dụng tonglen?

Đáp: Tôi đoán là một số vị có sử dụng. Jigten Sumgon đã dạy rằng đó là một cơ hội đúng đắn cho thực hành này.

Hỏi: Sự đau đớn có thể xuất hiện với một bác sĩ chỉ bởi lòng bi mẫn của họ đối với bệnh nhân?

Đáp: Nếu bạn không thiền định về tonglen, bạn sẽ không nhận nỗi khổ của người khác một cách tự nhiên. Nếu điều này xảy ra khác đi, nó là kết quả của nghiệp của bạn. Nhưng bạn có thể thực hiện những sự cầu nguyện và nguyện ước khi bạn bị bệnh và bao gồm cả chúng sinh khác trong lời cầu nguyện của bạn.

Có hai loại thiền định: thiền định phân tích (vipashyana, quán) và thiền định an tĩnh (shamatha, chỉ.) Với thiền định phân tích chúng ta xem xét quan điểm Trung Đạo, nhìn những đối tượng và xem xét bản tánh của chúng. Đây là một phương pháp để chứng ngộ tánh Không. Thiền định an tĩnh được phân chia thành thiền định có sự hỗ trợ và thiền định không có sự hỗ trợ. Khi ta thiền định có sự hỗ trợ, ta có thể sử dụng bất kỳ điều gì thích hợp với ta, như một cây gậy hay một hòn đá. Hoặc ta có thể dùng một tượng Phật và tập trung vào sợi lông giữa cặp lông mày của Ngài. Sau đó ta kiểm tra xem sự chú tâm của ta có đi trệch khỏi điểm này không. Trước tiên tâm bạn sẽ lang thang, nhưng nó không thành vấn đề. Đây là bởi ta đang nhận ra rằng tâm ta không yên tĩnh. Điều tương tự như thế cũng xuất hiện trong đời sống hàng ngày của ta nhưng ta không ý thức về nó. Như thế nếu tiếp tục thực hành tâm ta sẽ có thể an trụ trên đối tượng thiền định. Khi bạn có thể làm điều này, bạn nên thực hành thiền định không có sự hỗ trợ. Khi tâm bạn có thể thiền định mà không có ý niệm, mọi loại kinh nghiệm hỉ lạc sẽ xuất hiện trong thân bạn. Một vài người nói rằng điều này rất kỳ diệu và ước muốn an trụ trong đó. Một số người có thể an trụ trong trạng thái hỉ lạc này bao lâu theo ý muốn của họ. Nhưng đây không phải là mục đích của việc thiền định, và bạn không nên bám chấp vào điều đó. Nếu bạn không dính mắc vào sự hỉ lạc, bạn sẽ có kinh nghiệm về sự trong sáng của tâm. Sau đó bạn sẽ có những kinh nghiệm về sự vô niệm, ở đó bạn thấy toàn bộ sinh tử là tánh Không.

Thuật ngữ chỉ sự thiền định trong tiếng Tây Tạng có nghĩa là thâu hoạch những kinh nghiệm. Nói mọi sự trống không thì không đủ. Sự thực hành đòi hỏi phải nhận ra nó. Một số người bị lạc trong cái thấy đức hạnh và ác hạnh đều không hiện hữu. Bởi cái thấy này họ thâu nhận rất nhiều ác hạnh. Vì thế bây giờ chúng ta sẽ thực hành shamatha trong năm phút. Nếu thân bạn khỏe mạnh thì tốt nhất là ngồi trong tư thế bảy điểm. Nhưng vấn đề là đừng bị dính mắc trong tư thế, nó có thể hoàn toàn thư thản. Nó giống như việc cắt đứt sợi dây cột một bó cỏ. Bó cỏ nằm yên khi rơi xuống. Hãy để thân và tâm bạn tự nhiên và thư dãn.

Trước đây chúng ta đã nói về lòng từ ái và bi mẫn. Có một mối liên kết giữa lòng từ ái và bi mẫn với thiền định shamatha không?

Nyima đã trả lời: “Nếu bạn không nuôi dưỡng Bồ Đề tâm thì khi bạn cố gắng thiền định tâm bạn sẽ ngập đầy những cảm xúc tiêu cực.” Pete đã nói rằng: “Khi bạn thực hành shamatha tâm bạn rộng mở và bạn bi mẫn một cách tự nhiên.” Michael nói rằng: “Khi bạn thấy tánh Không và nhận ra rằng những người khác không thấy và đau khổ vì điều đó, tâm bạn tự nhiên phát triển lòng bi mẫn đối với họ.”

Như thế tất cả các bạn có một vài kinh nghiệm thiền định. Giống như các bạn đã đề cập, có hai loại Bồ Đề tâm, là Bồ Đề tâm tương đối và tuyệt đối. Tánh Không là Bồ Đề tâm tuyệt đối. Điều quan trọng nhất là vị Lạt Ma có lòng bi mẫn đối với tất cả chúng sinh. Khi đã chứng ngộ tánh Không, Lạt ma cảm thấy lòng bi mẫn đối với chúng sinh không chứng ngộ nó. Lòng bi mẫn và tánh Không thì bất khả phân. Nếu ta nghĩ rằng ta không phải lo lắng về hành động (hạnh) sau khi chứng ngộ tánh Không, thì điều đó không đúng. Nếu bạn muốn xác định một người có chứng ngộ tánh Không hay không, hãy xem họ nói về nhân và quả ra sao. Nếu họ đã chứng ngộ tánh Không, họ nói về điều đó rất thận trọng. Jigten Sumgon đã nói rằng nếu bạn tham gia vào ác hạnh, thì ngay cả một Bồ Tát thập địa cũng sẽ phải chịu nhân quả. Vấn đề chính là nhận ra sự hợp nhất của tánh Không và lòng bi mẫn.

Những gì bạn đã nói thì tốt đẹp. Nó tốt đẹp đối với việc nghiên cứu Pháp, nhưng sau đó bạn phải đặt tâm bạn trong sự quân bình thiền định. Pháp rất quý báu. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói về việc nghe một câu kệ thì quý báu ra sao. Trong một đời trước Đức Phật đã cúng dường thân Ngài như một ngọn đèn để được nghe một câu kệ duy nhất. Trong tiểu sử của Tilopa và Milarepa có nói về việc các ngài coi Pháp quý báu ra sao. Nó quý báu bởi nếu ta thực hành thì ta cũng thành công như thế. Tilopa nói: “Giáo lý của ta chỉ quý báu nếu con thực hành nó.” Khi bạn thấu hiểu sự hợp nhất của tánh Không và lòng bi mẫn thì nếu có ai hỏi mua nó, họ sẽ không thể mua được cho dù trả bao nhiêu chăng nữa. Nhưng với sự thực hành bạn có thể tạo ra nó cho bản thân bạn.

Tất cả chúng ta đều nói ta muốn hạnh phúc. Nếu có người phát khởi Bồ Đề tâm, họ sẽ giúp đỡ chúng sinh dù trong tình huống nào và những người khác sẽ hài lòng về họ. Nếu có ai nghèo khổ nhưng có lòng từ ái và bi mẫn, họ sẽ không có những vấn đề tinh thần bất kể hoàn cảnh nào. Nếu bạn có lòng từ ái và bi mẫn thì nếu bạn gặp một kẻ thù bạn sẽ thích thú vì có cơ hội thực hành Bồ Đề tâm.

Như thế chúng ta đã có được thân người quý báu này với những sự tự do và phú bẩm của nó và đã gặp và có một cơ hội để thực hành Pháp. Việc đạt được thân người này là một kết quả của sự tích tập công đức và trí tuệ trong nhiều đời. Khi chúng ta nói về tantra, là giáo lý mang lại sự Giác ngộ trong một đời người, nếu không làm việc cực nhọc trong nhiều đời trước thì chúng ta không gặp được tantra hay nếu chúng ta có gặp thì ta cũng không có niềm tin và lòng sùng mộ đối với nó. Vì thế chúng ta đã trải qua nhiều đời tích tập công đức và trí tuệ. Có thể chúng ta được sinh ra vào thời này để truyền bá Giáo Pháp tại Mỹ. Trước khi có Phật Giáo ở Tây Tạng, nhiều vị đã tái sinh ở Tây Tạng để Phật Giáo có thể phát triển ở đó. Cùng cách thế đó, trong những đời trước của ta, hẳn chúng ta đã từng lập những ước nguyện và phát triển nghiệp khiến ta có thể gặp nhau ở đây. Nếu các bạn lấy tôi làm một ví dụ thì tôi rời Tây Tạng bởi có một nạn đói sau khi người Trung Quốc tới đó. Vào thập niên 1980 tôi cảm thấy Giáo Pháp quý báu nên tôi đi Ấn Độ để thực hành. Điều đó rất nguy hiểm nhưng tôi đã thành công, nhờ đó tôi có thể thực hành. Khi rời Tây Tạng tôi không có kế hoạch đi Mỹ, tôi hoàn toàn bị nghiệp mang đi.

Hỏi: Ngài có thể giảng về những sự cúng dường torma cho những tinh linh địa phương?

Đáp: Có nhiều loại sự vật chúng ta cúng dường cho những tinh linh này. Đó là những sự cúng dường khói, những sự cúng dường torma đặc biệt, những sự cúng dường sur (thịt) trắng và đỏ. Sự cúng dường sur đỏ chỉ được thực hiện bởi các Lạt Ma cao cấp. Có những sự cúng dường serkyim.

Hỏi: Ngài muốn nói gì khi nói chúng ta nên có niềm tin ở Pháp?

Đáp: Có những loại niềm tin khác nhau. Đó là niềm tin trong sáng, niềm tin mong mỏi hay khát khao, và niềm tin xác quyết. Niềm tin quan trọng nhất là niềm tin xác quyết. Trước hết chúng ta phải phân tích xem Pháp nó có ích lợi hay không. Nó giống như việc bạn kiểm tra vàng khi đi mua vàng. Sau khi kiểm tra bạn có sự xác tín rằng nó là vàng. Cùng cách thế đó, sau khi khảo sát bạn quyết định là Pháp thật ích lợi. Đây là niềm tin xác quyết.

Hỏi: Ngài có thể giảng làm thế nào chúng con có thể mang sự thực hành theo mình vào công việc?

Đáp: Nói chung thì lý do chính khiến chúng ta làm việc là tiền bạc. Nhưng khi ta đi tới sở làm, ta nên cố gắng hoàn thành mục đích của ông chủ của ta và ta nên làm điều này một cách chân thành không giả dối. Một vài ông chủ tốt lành và một số thì không. Cho dù ông chủ của bạn không tốt nhưng nếu bạn duy trì thiện tâm này thì bạn sẽ chuyển hóa được ông ta. Chúng ta không nên phê bình những người khác, đó là điều chỉ mang lại những đau khổ, mà hãy hành động khiến ta có thể chuyển hóa thái độ của họ. Nếu có ai làm hại bạn, bạn nên thực hành nhẫn nhục ba lần. Khoảng 90% những trường hợp đó người khác sẽ bị ấn tượng. Nhưng số còn lại thì họ sẽ không thay đổi thái độ. Sau lần thứ ba, hãy lên tiếng. Một vài người bị tràn ngập bởi những cảm xúc phiền não và không thể sửa đổi.

Hỏi: Người ta nói suốt ngày: “Tôi thích cái này..,” điều đó chỉ làm tăng thêm tánh ích kỷ (chấp ngã) của riêng ta. Ngài xử sự ra sao với việc này?

Đáp: Chúng ta cần có lòng bi mẫn. Bạn hiểu vấn đề chấp ngã, nhưng họ thì không. Hãy cố gắng nhẫn nhục ba lần. Nếu ta không nhẫn nhục thì sự tiêu cực của người khác còn tác hại hơn nữa trong chúng ta và ngược lại.

Khi ta thực hành Pháp, ta cần lập đi lập lại nhiều lần. Cuối cùng thì tâm bạn sẽ trở nên vững chắc. Chúng ta phải làm cho quen thuộc với tâm. Nếu ta không làm thế thì những cảm xúc phiền não sẽ nhập thất cùng chúng ta. Nếu thực hành ta sẽ gặp Bổn Tôn của ta trong ẩn thất. Nếu những niệm tưởng và phiền não của ta mạnh mẽ thì trong ẩn thất những tư tưởng của ta sẽ chỉ trở nên mạnh mẽ hơn. Trong ẩn thất ta sẽ nhìn thấy những người chúng ta không thích và họ sẽ trò chuyện với ta, mặc dù đây chỉ là một phóng chiếu của tâm. Tôi có biết một thiền giả có thể sống trong ẩn thất mà không cần tới thực phẩm. Nhưng bởi ông sân hận người Trung Quốc nên việc thực hành Pháp của ông không vững chắc và ông mắc bệnh. Ông nói hiện nay các gián điệp Trung Quốc ở khắp mọi nơi, họ vào nhà chúng ta vào ban đêm khi ta ngủ. Vấn đề chính là không kẻ thù nào có thể làm hại ta trong từng giây phút bởi họ có cuộc đời của họ. Nhưng những cảm xúc phiền não của ta làm hại ta trong mọi lúc, ngay cả trong những giấc mộng khi chúng ta ngủ./.

Nguyên tác: Cultivating Bodhicitta

by Chagme Rinpoche

The post NUÔI DƯỠNG TÂM BỒ ĐỀ appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Nghi Thức Phát Tâm Bồ Đề https://bachhac.net/nghi-thuc-phat-tam-bo-de.html Fri, 13 Aug 2021 05:34:04 +0000 https://bachhac.net/?p=3615 I . Sám hối (Phần quán sát về nguyên do tại sao phải sám hối) Đệ tử….. con, từ vô thủy sinh tử đến nay, trôi lăn trong luân hồi, mang đủ thứ thân, từ thân cõi trời đến thân địa ngục, tạo đủ loại nghiệp, từ nghiệp nhân thiên đến nghiệp ác đạo, chiêu …

The post Nghi Thức Phát Tâm Bồ Đề appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Nghi Thức Phát Bồ Đề Tâm

I . Sám hối

(Phần quán sát về nguyên do tại sao phải sám hối)

Đệ tử….. con, từ vô thủy sinh tử đến nay, trôi lăn trong luân hồi, mang đủ thứ thân, từ thân cõi trời đến thân địa ngục, tạo đủ loại nghiệp, từ nghiệp nhân thiên đến nghiệp ác đạo, chiêu cảm quả báo luân hồi, chịu bao đọa đày, trải bao cam khổ, vẫn không tỉnh ngộ, đam mê trong nhà lửa ba cõi, đắm đuối trong vũng lầy tử sinh.

Được chút phúc báo cõi trời, thì tự kiêu tự mạn, coi thường lời giáo huấn của Thế Tôn, lơ là tâm thương xót của chư Phật. Nô lệ trong xiềng xích của ngũ dục, mà tưởng đâu là hạnh phúc chân thật, mù lòa giữa tăm tối của vô minh, mà ngỡ đâu là tri kiến chính xác. Thế nên, rời xa Tam bảo, thân cận tà đồ, lạc đường ngoại đạo, muôn kiếp sai lầm. Đệ tử ngày nay khẩn thiết, phát lộ sám hối các tội lỗi trên !

Tuy nhiên, một mai chợt tỉnh, chỉ biết lo cho chính mình, hết lòng cần cầu giải thoát, chán ghét thế gian, sợ hãi luân hồi, kinh hoàng sinh tử. Thế nên, bất tín Đại thừa, nghi ngờ đại Đạo. Là con của Phật – mà không dám phát tâm thành Phật cứu độ chúng sinh; là con của Phật – mà không dám thọ nhận bao kiếp luân hồi, hành Bồ tát đạo lợi ích chúng sinh; là con của Phật – mà bỏ mặc sự nghiệp thành Phật độ sinh, cho bất cứ ai khác gánh vác, không chút quan tâm ủng hộ, không chút tán thán khích lệ; là con của Phật – mà lại hủy báng giáo pháp Đại thừa, cho đó là pháp ngoại đạo, hoặc là ô nhiễm thế gian. Chẳng qua cũng vì tập khí ích kỷ ngã chấp xưa nay, nên nay gặp được đại Đạo, cũng chỉ bo bo thủ giữ tự kỷ, chẳng dám phát tâm vì người. Khiến nên lìa xa đại Đạo, tương lai Phật chủng cằn khô, mưa pháp mai sau không còn người tuôn, chúng sinh khổ đau nhờ ai đắc độ ?

(Phần phát nguyện : Qùy thẳng lên, chắp tay phát nguyện sám hối)

Nên con ngày nay thành tâm khẩn thiết, sám hối tâm tính ích kỷ, chỉ biết lợi mình. Nguyện cùng mười phương chư Phật, vô lượng Bồ tát thánh hiền, xót thương cho con mà chứng minh gia hộ :

Từ nay cho đến tận cùng vị lai, xin bảo bọc con, xin chở che con, cho con thoát khỏi mọi tội vô minh ái đắm thế gian, mọi tội tà kiến chấp trước ngoại đạo, mọi lỗi lợi kỷ không màng cứu khổ thế gian.

(Trước khi đảnh lễ nương về Tam Bảo, quán tưởng chư Phật cùng các hội chúng Bồ tát Thanh văn của các Ngài hiện thân ra sáng rực cùng khắp hư không xung quanh mình để chứng minh và gia lực hộ trì cho mình.)

Nam Mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo Tác Đại Chứng Minh (3 lậy)

*****

II . Quy y Tam Bảo

1. Quy Y Phật

(Nhiếp tâm chân thành vừa đọc lên các lời lẽ sau đây vừa quán sát ý nghĩa chư Phật là nơi nương tựa giữa thế gian khổ đau này, và quán các lời lẽ này chính thật là tâm nguyện của mình 🙂

Con xin hướng về đảnh lễ và nương theo mười phương vô lượng chư Phật. Vì luôn thương tưởng đến con cùng với tất cả chúng sinh, vì hằng muốn cứu độ con cùng với tất cả chúng sinh, vì nguyện che chở cho con cùng với tất cả chúng sinh, nên các ngài thị hiện ra đời, như các bậc tối tôn trong thế gian này. Để giữa biển khổ bao la con có hải đảo kiên cố, và giữa sóng cả não phiền con có bờ bến vững bền, cho con và cho tất cả chúng sinh, luôn có được nơi nuơng tựa, luôn có được chốn an lành, để tiêu đi bao sợ hãi, để tan hết mọi ưu phiền.

(Phần phát nguyện : Qùy thẳng, chắp tay và chân thành phát nguyện quy y)

Thế nên con nguyện một lòng, chân thành quay về nương tựa – mười phuơng vô lượng chư Phật, từ nay cho đến tận cùng vị lai, các ngài là các Thế tôn của con, mà con duy nhất tôn quí đảnh lễ, tin tưởng nương theo…

(Quán tưởng chư Phật đồng đưa tay trái của các ngài lên theo ấn an úy để an ủi và trấn an cho mình. Tưởng xong đảnh lễ)

Nam Mô Mười Phương Vô Lượng Chư Phật – Thế Tôn (1 lậy)

(Nhiếp tâm chân thành vừa nói lên các lời lẽ sau đây vừa quán sát ý nghĩa về sự liên hệ giữa tâm từ bi của chư Phật và tâm vô minh tội lỗi của mình như sự liên hệ giữa người cha bao dung thương con bất tận và người con dại dột lỗi lầm.Và an tâm tin tưởng nương tựa dứt khoát vào các Ngài)

Con xin hướng về đảnh lễ và nương theo mười phương vô lượng chư Phật, các Ngài là các cha lành của con, mà luôn coi con như là con một, ví dù tạo bao ác nghiệp, đưa con tận đến địa ngục, các Ngài cũng vẫn vào theo, để mà ra công cứu độ; dù con bao kiếp đọa đày, các ngài cũng vẫn theo cùng, để mà bảo bọc nhắc nhở, kéo con ra khỏi đọa đày; dù con huỷ báng tàn hại, các Ngài vẫn cứ một lòng, bất động thiết tha cứu vớt, cho con thoát khỏi ác quả.

(Phần phát nguyện : Qùy thẳng, chắp tay và chân thành phát nguyện quy y)

Thế nên con nguyện một lòng, chân thành quay về nương tựa – mười phương vô lượng chư Phật, từ nay cho đến tận cùng vị lai, các ngài là các cha lành của con, mà con duy nhất kính thương tưởng niệm – tìm về nương náu…

(Quán tưởng chư Phật đồng đưa bàn tay phải xuống theo ấn dữ nguyện để tiếp đón mình với vô lượng từ ái và hoan hỉ. Tưởng xong đảnh lễ )

Nam Mô Mười Phương Vô Lượng Chư Phật – Từ Tôn (1 lậy)

(Nhiếp tâm chân thành vừa đọc lên các lời lẽ sau đây vừa quán sát ý nghĩa năng lực tối thượng của chư Phật qua từ bi, trí huệ và phương tiện giác tha của các ngài. Và an tâm nương tựa vào chư Phật xả hết mọi sợ hãi)

Con xin hướng về đảnh lễ và nương theo mười phương vô lượng chư Phật, các Bậc từ bi trải rộng, thẩm nhập mười phương pháp giới, để mà che chở cho con để mà bảo bọc cho con với cùng toàn thể thế gian lìa xa hết mọi khổ ải.

Con xin nương về chư Phật, các Bậc trí huệ sắc bén, như thanh bảo kiếm kim cương, cắt đứt xích xiềng tham ái, đã bao kiếp nay trói chặt lấy con, giam trong nhà lửa ba cõi ngục tù; đâm thủng lưới thép vô minh, đã bao kiếp nay bủa vây kín con, chìm trong đêm dài luân hồi bất tận; nhổ bật gốc rễ não phiền, đã bao kiếp nay chôn chặt lấy con, vùi trong mảnh đất sáu nẻo tử sinh.

Con xin nương về chư Phật, các Bậc ánh sáng giác ngộ, như vầng thái dương rạng ngời, xua tan tất cả bóng ma nhân ngã chập chờn, đã bao kiếp nay luôn rình rập con, để mà đe dọa đàn áp khủng bố; phá tan tất cả các cơn mộng mị, của bao hành nghiệp lao xao hư vọng, tạo nên vô lượng thế gian hư ảo. Để đánh thức giậy trong con ánh sáng trí huệ chân thật, ánh sáng chan hòa vô biên, ánh sáng chứa chan vô lượng, ánh sáng vô trụ bất động.

(Phần phát nguyện : Qùy thẳng, chắp tay và chân thành phát nguyện quy y)

Thế nên con nguyện một lòng, chân thành quay về nương tựa – mười phương vô lượng chư Phật, từ nay cho đến tận cùng vị lai, các ngài là các đạo sư tối thượng của con, mà con duy nhất tuyệt đối vâng lời – triệt để tuân hành – mãi mãi nương theo tu học…

(Quán tưởng chư Phật kéo mình lên về phía ngực của Ngài bằng bàn tay phải và bàn tay trái của Ngài hạ xuống để đỡ lấy mình mà thành ấn chuyển pháp luân, nghĩa là các Ngài sẽ nói Pháp để cứu độ mình. Tưởng xong đảnh lễ 🙂

Nam Mô Mười Phương Vô Lượng Chư Phật – Vô Thượng Tôn (1 lậy)

***

2. Quy Y Pháp

(Nhiếp tâm vừa đọc lên vừa quán sát ý nghĩa công năng tối thượng của Pháp, chỉ dành để cứu độ mình và toàn thể chúng sinh, để mà nhiếp tâm quy y)

Con xin hướng về đảnh lễ và nương theo mười phương vô lượng tối tôn Pháp là Pháp chư Phật tuyên thuyết. Các giáo pháp tối tôn này mà bản thể là đại Bi, mà thật tướng là Trí huệ, mà công năng là đại Nguyện, đã do mười phương vô lượng chư Phật một lòng thiết tha ban bố. Các giáo pháp tối tôn này mà như phương thuốc trường sinh đưa con đến miền bất tử, hay như ngọc chúa Ma Ni cho con thỏa mọi ước nguyện, và như phương tiện tối xảo để mà cứu vớt chính con cùng với toàn thể chúng sinh đến nơi bến bờ an ổn.

(Phần phát nguyện : Qùy thẳng, chắp tay và chân thành quy y)

Thế nên con nguyện một lòng, chân thành quay về nương tựa – mười phương vô lượng tôn Pháp, từ nay cho đến tận cùng vị lai, các giáo Pháp này chính là ánh sáng – soi đường chỉ lối cho con, mà con duy nhất xin nguyện lắng nghe – bằng đôi tai nhiếp thọ – bằng con tim tuỳ thuận – bằng khối óc sáng tỏ, để mà nương theo – tôn kính tuân hành…

(Quán tưởng chư Phật chuyển vận tâm từ khơi động khẩu nghiệp, từ lưỡi các Ngài phóng ra ánh sáng chan hòa biến chiếu mười phương, rồi trở về bao trùm quanh mình, như nước Pháp tưới rửa cho mình. Tưởng xong đảnh lễ 🙂

Nam Mô Mười Phương Vô Lượng – Vô Thượng Quang Minh Pháp (1 lậy)

(Nhiếp tâm vừa đọc lên vừa quán sát ý nghĩa Pháp vốn là chân lý thường trụ bất biến, là lối thoát cứu cánh cho bất cứ ai, bất cứ cảnh giới nào hay điều kiện nào, để mà tuyệt đối tin tưởng quy y)

Con xin hướng về đảnh lễ và nương theo mười phương vô lượng thường trụ Pháp là Pháp chư Phật giác ngộ. Các giáo pháp thường trụ này, vốn là ánh sáng chân thật, và là chân lý muôn đời của chung tất cả mọi loài, dù với muôn vàn sai khác. Thế nên, cho dù thế gian tràn đầy đau khổ, song chân thật Pháp vẫn thường tịch lạc; cho dù chúng sinh vô minh tối mò, nhưng thật tướng Pháp vẫn soi rạng ngời; và dù luân hồi nổi trôi bất tận, bản thể Pháp vẫn như như bất động; dù cho chư Phật vắng bóng nơi đời, Pháp chư Phật giác vẫn thường có mặt. Nhờ thế mà dù vô minh hay dù phiền não dầy đặc, con và tất cả chúng sinh chắc chắn đều sẽ được độ.

(Phần phát nguyện : Qùy thẳng, chắp tay và chân thành phát nguyện quy y)

Thế nên con nguyện một lòng, chân thành quay về nương tựa – mười phương vô lượng thường Pháp, từ nay cho đến tận cùng vị lai, các giáo pháp này chính là hướng đi – vĩnh viễn mãi mãi của con, mà con duy nhất hướng đến noi theo – không để bao giờ mất dấu…

(Quán tưởng ánh sáng ấy chiếu sáng thấu qua cả thân lẫn tâm, như nước Pháp cam lồ gội rửa thân tâm mình sạch hết mọi trần cấu, làm cho cả trong lẫn ngoài mình đều sáng rực thanh tịnh. Tưởng rồi đảnh lễ 🙂

Nam Mô Mười Phương Vô Lượng – Thường Trụ Tịch Chiếu Pháp (1 lậy)

(Nhiếp tâm vừa đọc lên vừa quán sát ý nghĩa Pháp chính là thể tính giải thoát trong sáng của mình, nên nương tựa vào Pháp là hoàn toàn hợp lý, và không có lý nào lại không thể được)

Con xin hướng về đảnh lễ và nương theo, mười phương vô lượng pháp tính Pháp, là Pháp chư Phật khai thị, cho con và mọi chúng sinh ngộ nhập. Các Pháp mà là bản thể chân thật của con : bản thể của con chiếu sáng, song luôn thường hằng bất động, chính là trí huệ chân thật, tự giác tịch diệt cứu cánh; bản thể của con chiếu sáng, chiếu khắp bao la vô hạn, chính là đại bi bình đẳng, thể nhập pháp giới chúng sinh; bản thể của con chiếu sáng, chiếu soi tất cả không sót, chính là phương tiện thiện xảo, cứu độ trọn hết muôn loài; bản thể của con chiếu sáng, chiếu mãi không bao giờ tận, chính là công đức vô lậu, nhiêu ích tất cả hữu tình.

(Phần phát nguyện : Qùy thẳng, chắp tay và chân thành phát nguyện quy y)

Thế nên con nguyện một lòng, chân thành quay về nương tựa – mười phương vô lượng thật Pháp, từ nay cho đến tận cùng vị lai, các giáo pháp này chính là hơi thở – mạng sống muôn đời của con, mà con duy nhất khuôn theo trì giữ – như giữ lấy chính mạng mình…

(Quán tưởng ánh sáng trong ngoài hòa nhập làm một, thân tâm theo đó tan vào ánh sáng, trở thành vô tướng, như ánh sáng duy nhất biến khắp, chính là Pháp thân của mình bao la vô hạn. Tưởng rồi đảnh lễ 🙂

Nam Mô Mười Phương Vô Lượng – Pháp Tính Biến Chiếu Pháp (1 lậy)

***

3. Quy Y Tăng

(Nhiếp tâm vừa đọc lên vừa quán sát ý nghĩa công đức lợi tha thiết thực của Tăng, để mà nhiếp tâm quy y)

Con xin hướng về đảnh lễ và nương theo mười phương vô lượng hải hội chúng, bao la như mây như biển, vây quanh vô lượng các đấng Như Lai.

Các ngài là các bậc con đích tử của khắp mười phương chư Phật, là các dòng dõi chính thống của trọn mười cõi Pháp vương, và là các đấng Như Lai của mọi chúng sinh mai hậu, cùng là các bậc Thế tôn của khắp muôn loài mai sau. Cũng vì lợi lạc cho con và cho tất cả chúng sinh, mà các ngài sinh vào dòng dõi Như Lai, cũng vì an nguy cho con và cho toàn thể chúng sinh, mà các ngài dưỡng nuôi Phật chủng bất đoạn.

(Phần phát nguyện : Qùy thẳng, chắp tay và chân thành phát nguyện quy y)

Thế nên con nguyện một lòng, chân thành quay về nương tựa – mười phương vô lượng thánh Chúng, từ nay cho đến tận cùng vị lai, các ngài là các chúng hội của con, mà con duy nhất quy kính nương theo – tôn thờ đảnh lễ…

(Quán tưởng Chư thánh chúng ở khắp mười phương đều hướng quay về mình hoan hỉ tiếp nhận. Tưởng rồi đảnh lễ 🙂

Nam Mô Mười Phương Vô Lượng Hải Hội – Vô Thượng Chúng (1 lậy)

(Nhiếp tâm vừa đọc lên vừa quán sát ý nghĩa công năng của Tăng nhằm để làm phát khởi mầm Đạo của mình)

Con xin hướng về đảnh lễ và nương theo mười phương vô lượng hòa hợp chúng, mênh mang như mây như biển, bao quanh vô lượng các đấng Như Lai.

Các ngài cùng nhau hòa hợp thanh tịnh, như nước hòa cùng với sữa, để cho Giới pháp trường tồn, chúng sinh có nơi nương tựa.

Các ngài cùng nhau hòa hợp đồng tu, vây quanh chư Phật hỏi pháp, khiến cho chính Pháp tỏa rộng, chiếu sáng thế gian mù lòa, như các tia sáng quanh vầng thái dương, tụ hội để mà toả rộng sáng soi mười phương tối ám.

Các ngài cùng nhau hòa hợp lợi sinh, tụ hợp vô lượng công đức, hợp lực phát triển mầm Đạo của con và mọi chúng sinh, như mảnh đất ruộng phì nhiêu, tụ hợp vô lượng mầu mỡ, tăng trưởng phát triển phong thịnh, tất cả các mầm lúa non.

(Phần phát nguyện : Qùy thẳng, chắp tay và chân thành phát nguyện quy y)

Thế nên con nguyện một lòng, chân thành quay về nương tựa – mười phương vô lượng tịnh Chúng, từ nay cho đến tận cùng vị lai, các ngài là các phước điền của con, mà con duy nhất gần gũi cúng dường – tin tưởng phụng sự…

(Quán tưởng chư thánh chúng tụ tập lại quanh mình, che chở ủng hộ khích lệ. Tưởng rồi đảnh lễ 🙂

Nam Mô Mười Phương Vô Lượng Hải Hội – Phước Điền Chúng (1 lậy)

 

(Nhiếp tâm vừa đọc lên vừa quán sát ý nghĩa phương tiện tối xảo của Tăng làm cho mọi vô minh tội lỗi của mình tan biến, và nhờ Tăng mà cả hai mặt trí và bi của mình đều được viên mãn trang nghiêm)

Con xin hướng về đảnh lễ và nương theo mười phương vô lượng trang nghiêm chúng, man mác như mây như biển, theo quanh vô lượng các đấng Như Lai.

Các ngài nguyện làm bằng hữu của con và của chúng sinh, nên mới cùng nhau hòa hợp, góp bao Trí huệ chiếu soi, để cho màn tối vô minh, của con trở thành trong sáng. Cũng như vô lượng các vì sao đêm, tụ hợp lại trên bầu trời, lấp lánh như ngàn kim cương, làm cho cả màn đêm đen, trở nên trong sáng thanh tịnh.

Các ngài cùng nhau hòa hợp, tụ bao tịnh Giới trong sạch, để bao tội lỗi của con, được hoà tan vào thanh tịnh. Cũng như vô lượng giọt nước trong xanh, hợp lại thành biển trong sạch, làm cho một nắm bùn con, trở nên tan loãng trong lành.

Các ngài cùng nhau hòa hợp, hòa tan vô phân biệt trí, để cho ngã tướng của con, khi hòa vào với các ngài, sẽ được tháo gỡ tan rã, để với Pháp thân làm một. Cũng như vách tường mái trần gỡ đi, cho khoảng không nhỏ trong nhà, chan hòa vào cõi hư không, bao la vô lượng bất động.

(Phần phát nguyện : Qùy thẳng, chắp tay và chân thành phát nguyện quy y)

Thế nên con nguyện một lòng, chân thành quay về nương tựa – mười phương vô lượng đạo Chúng, từ nay cho đến tận cùng vị lai, các ngài là chúng thiện hữu của con, mà con duy nhất thiết tha hòa hợp – cộng trụ hòa tan như một bản thể…

(Quán tưởng từ ngực của chư thánh chúng phóng ra vô lượng ánh sáng nhiếp hộ làm cho mọi đức tướng thanh tịnh thuộc trí và bi đều được thành tựu nơi thân tâm mình. Mình không còn là mình nữa mà chính là báo thân của trí và bi hiển hiện. Tưởng rồi đảnh lễ 🙂

Nam Mô Mười Phương Vô Lượng Hải Hội – Trang Nghiêm Chúng (1 lậy)

III. Phát tâm

1. Phát Tâm Bồ Đề

(Nhiếp tâm vừa đọc lên vừa quán sát ý nghĩa mọi hoạt động của tâm mình đều là tâm chấp ngã. Trong khi Tâm bồ đề hoàn toàn không có nơi mình, thế nên cần phải phát khởi lên loại Tâm siêu việt tối thượng này để thay thế cho tâm chấp ngã của mình, thì mới cứu độ được mình và mọi chúng sinh được)

Xét rằng con đã bao kiếp gặp vô lượng Phật, nghe vô lượng Pháp, tu vô lượng hành. Mà ngày nay đây vẫn cứ luẩn quẩn trong vô minh, loanh quanh nơi phiền não, ra vào chốn tử sinh, tới lui trong luân hồi. Cũng bởi gốc chẳng biết phát Tâm đại Đạo, để cho ngã kiến hằng tồn, để cho ngã chấp chủ động, gieo nhân gặt quả trọn đều y nơi tâm Ngã :

Như khi chưa gặp Phật nghe Pháp, thì nhất cử nhất động, đều do ngã làm chủ, sống chỉ biết lo cho Ta, xây dựng cho Ta, ích lợi cho Ta và những gì của Ta. Mọi hoạt động của đời sống mình, chỉ là hoạt động của một cái Ta. Do đó mà ích kỷ nẩy sinh, chỉ lo cho mình nên tham lam nẩy sinh, so đo với người thì kiêu căng, tật đố, sân hại, nẩy sinh… Nhân đó mà thúc đẩy thân khẩu tạo nghiệp. Nghiệp tạo thành nhân, triêu cảm quả báo, cứ thế mà nhân quả kéo dài, thành ra là luân hồi bất tận !

Nếu có hành thiện, thì cũng vẫn do bản ngã điều động; trên mặt hình tướng thì thiện ác là hai đối cực tương phản, song nơi mặt bản thể thì chỉ là một cái Ta mà thôi. Thế nên, thiện ấy vẫn chỉ là các hành nghiệp luân hồi, đưa vào các cõi thú nhân thiên. Khi được hưởng các phước trời người, thì lại sinh ái đắm, hoặc là sinh kiêu mạn; cho nên có gặp Phật nghe Pháp, thì hoặc là lơ là không thích hợp, hoặc là hạch hỏi xem Phật có danh vọng thế lực gì trong đời không mà phục, hoặc là nhìn ngắm xem Pháp có mang lại được hưởng thụ nào không mà theo, hoặc chỉ biết thực hành các pháp hữu lậu để mà hưởng công đức, hoặc lại sử dụng phật Pháp để chỉ tìm lợi dưỡng riêng tư. Do đó mà gặp Phật nghe Pháp cũng chỉ là luống qua không, thế tục vẫn hoàn thế tục; đôi khi lại thành oan gia hủy báng, tạo thành ác nghiệp đọa lạc !

Hoặc nếu có kính Phật tin Pháp, mong muốn nương theo về Phật, thì chỉ mong sao cho được an thân, không dám phát Tâm đại Đạo; cần cầu được hành theo Pháp, thì cũng bị Ngã chủ động : Tôi tu, Tôi hành, Tôi đắc, Tôi chứng, cho mọi hoạt động của Ngã, mọi hành nghiệp của Tôi, là chân thật cụ thể để đưa đến Đạo quả, còn đối với việc phát Tâm, thì cho là tâm tưởng xuông, không phải là điều chủ yếu. Thế nên tu hành bao nhiêu, cũng chỉ khác với thế tục, so trên phương diện hình tướng, còn thì ở nơi bản thể, cũng vẫn là một hoạt động, của cùng một cái Ta thôi. Do đó nên tận cùng sức, cũng lạc vào cõi Thiền, Định, vòng vo không khỏi luân hồi.

(Phần phát nguyện : Qùy thẳng, chắp tay và chân thành phát tâm tìm cầu thành tựu cho được Vô Thượng Bồ Đề)

Thế nên, từ nay cho đến tận cùng vị lai, con Nguyện chân thành phát Tâm đại Đạo : khát khao Phật quả, thiết tha cần cầu con Đường đưa đến Phật quả, hân hoan mong muốn thực hành con đường đại Đạo.

Con Nguyện dồn hết bao nhiêu năng lực thiết tha mong cầu trong con, một lòng mong được Trí huệ vô thượng Bồ Đề.

Bên ngoài Trí huệ và Phật quả ra, con Nguyện xả bỏ và không nương theo, bất cứ mục tiêu mong cầu nào khác, dù là trí huệ chân thật của bậc Nhị thừa, dù là kết quả tối cao của hàng La Hán, hay dù trọn hết vô lượng công đức, của mọi cõi trời cộng lại.

Con Nguyện duy nhất một lòng – chỉ cầu thành Phật mà thôi.

(Quán tưởng chư Phật đồng thời đưa tay ra xoa đảnh ấn khả thọ ký cho mình. Tưởng rồi đảnh lễ 🙂

Nam Mô Mười Phương Thường Trụ Tam Bảo Tác Đại Chứng Minh (3 lậy)

*****

2. Phát Tâm Đại Bi

(Nhiếp tâm vừa đọc lên vừa quán sát ý nghĩa Tâm từ bi siêu việt lên trên tâm Nhị thừa và công năng vi diệu tối thiện xảo của Tâm đại bi nhằm phối hợp Tâm bồ đề và tâm chấp ngã làm thành phương tiện độ sinh)

Nếu thành Phật chỉ để tự lợi mà thôi, thì Bồ Đề của Nhị thừa chính là cứu cánh. Nay con cần cầu vô thượng Bồ Đề của mười phương vô lượng chư Phật, chính là để cứu độ vô biên pháp giới chúng sinh, mà cũng là do vì phải cứu độ hết vô biên pháp giới chúng sinh, thì con mới chứng đắc được vô thượng Bồ Đề:

Bởi Tâm đại Đạo vô thượng Bồ Đề là Tâm giác ngộ, thấy rõ thật tướng của tất cả các Pháp là Không, vô ngã, tịch diệt, vắng lặng cứu cánh. Do tất cả các Pháp sở duyên là tịch diệt vô ngã, nên Tâm Bồ Đề năng chiếu, cũng vô ngã tịch diệt. Tâm và Cảnh đều không tịch vắng lặng, thì đó vốn là cảnh giới cứu cánh tự lợi của Nhị thừa. Tâm giác của Phật không ngừng tại đó, bởi Tâm giác tuy tịch mà chiếu : chiếu thấy có ta có người, vô lượng chúng sinh đều như huyễn hóa không thật, chính tức là Không, vô ngã, tịch diệt; song vì chúng sinh không giác, nên khởi đủ thứ hành nghiệp vọng động, tạo nên vô lượng cảnh giới hư ảo. Chư Phật với Tâm bồ đề, chiếu rõ cảnh giới chúng sinh, huyễn ảo không thật như thế, các Ngài mới hưng khởi giậy, bản Tâm đại Từ đại Bi, ứng theo nhân duyên chúng sinh, mà thành có ta có người.

Ta đó của Phật, nhân duyên theo chúng sinh mà có, thể là Đại Bi, dụng hay hành nghiệp là phương tiện độ sinh, cứu cánh là thường hằng tịch diệt, Không, vô ngã. Ta đó của Phật vì muốn cứu độ vô lượng vô biên pháp giới chúng sinh, mà ở trong nhân duyên của chúng sinh, phát tâm thành Phật, tu vô lượng công đức, hành viên mãn lục độ, trong bao vô lượng kiếp, để nhiêu ích chúng sinh, để thủ hộ hữu tình, mà độ tận không sót. Ta đó của Phật không phải là Ngã kiến, không phải là Ngã chấp, không phải là một cái “Tự”, đối lại các cái “Tha” khác của tất cả chúng sinh; mà Ta đó do nhân duyên nơi chúng sinh mà có, Ta đó có vì tất cả chúng sinh và cho tất cả chúng sinh, Ta đó là để độ sinh và để ích lợi cho tất cả chúng sinh. Ta đó chính là Tâm đại Từ Bi cứu độ vô lượng chúng sinh, của khắp mười phương vô lượng chư Phật.

(Phần phát nguyện : Qùy thẳng, chắp tay và chân thành phát nguyện không bao giờ xả bỏ chúng sinh cho đến bao giờ độ tận hết mới thôi)

Thế nên, từ nay cho đến tận cùng vị lai, con Nguyện chân thành phát Đại Bi Tâm : khát khao cứu độ chúng sinh, thiết tha thực hành lục độ lợi ích chúng sinh, hân hoan tùy thuận nhiêu ích chúng sinh.

Con Nguyện dồn hết bao nhiêu năng lực tình cảm thiết tha trong con, đều chuyển thành Đại Bi Tâm : chúng sinh mà độ chưa hết, thì năng lực Bi Nguyện trong con, sẽ không cùng tận.

Con Nguyện vĩnh viễn, sẽ không bao giờ xả bỏ chúng sinh, dù có vì thế, mà phải lìa xa Niết Bàn, trôi lăn ở trong sinh tử; dù cho tất cả tội lỗi, phiền não cũng như khổ đau, đều từ do nơi chúng sinh mà ra; dù bao gian nan khổ nhọc, con phải nhẫn nại chịu đựng, để mà lợi ích chúng sinh; chỉ miễn nhiêu ích chúng sinh, thì dù chúng sinh bất tận, phiền não chúng sinh không cùng, con nguyện cam tâm hoan hỉ.

Con nguyện duy nhất một lòng – độ tận chúng sinh mà thôi.

(Quán tưởng mười phương chư Phật và chư Bồ Tát thánh chúng cùng với vô biên pháp giới chúng sinh đều được thu nhiếp trọn hết vào Tâm nguyện đại bi của mình, kết thành một khối quang minh duy nhất, vô tướng vô lượng, không trong không ngoài, không đến không đi, không thủy không chung, sáng rực biến chiếu vô hạn vô ngại, song tịch diệt và dứt lặng. Quán tưởng tất cả thân tâm đều lắng diệt không tịch, rồi đảnh lễ 🙂

Nam Mô Mười Phương Thường Trụ Tam Bảo Tác Đại Chứng Minh (3 lậy)

IV. Hồi hướng

(Nhiếp tâm vừa đọc lên vừa quán sát ý nghĩa công đức vô lượng và tối thượng của Tâm bồ đề đối với tất cả mọi loại tâm thức. Tin tưởng hoàn toàn vào công đức tối thượng của sơ phát Tâm này)

Mười phương chư Phật Thế Tôn, cùng chư đại Bồ Tát, đều do phát đại Tâm Bồ Đề, mà thành chính đẳng chính Giác. Bồ Đề Tâm như dũng tướng vô địch, Bồ Đề Tâm như vũ khí tối lợi hại, chiến thắng và đánh bại tất cả các Ma quân ở trong cũng như ngoài. Bồ Đề Tâm là đất bằng an ổn, lìa xa sóng gió của phiền não; Bồ Đề Tâm là đầu non cao ngất, mà bao ngọn sóng xô của biển khổ, cũng không bao giờ bén mảng tới được. Bồ Đề Tâm là Tâm tối thắng trong tất cả các tâm, là Tâm tối thượng trong tất cả các tâm, bao la to lớn nhất trong tất cả các tâm, vì Bồ Đề Tâm tổng trì hết tất cả các tâm, nhiếp thọ hết tất cả các tâm, như hư không dung chứa trọn hết mọi pháp. Bồ Đề Tâm là Tâm tối thiện, đại thiện, đệ nhất thiện, đệ nhất chân thật thiện trong tất cả các tâm thiện, vì Bồ Đề Tâm là năng lực duy nhất làm chuyển hóa và cứu độ được vô lượng chúng sinh. Bồ Đề Tâm là Tâm chân thật nhất, thanh tịnh nhất, tôn quý nhất trong tất cả các tâm, vì Bồ Đề Tâm là năng lực bất tận phát sinh vô lượng vô biên không cùng tận chư Phật và chư đại Bồ Tát…

(Phần phát nguyện hồi hướng : Qùy thẳng, chắp tay và chân thành phát nguyện hồi hướng với tất cả tấm lòng từ bi)

Công đức của sơ phát tâm Bồ Đề này, do đó mà vốn vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn. Chỉ trong một niệm phát Tâm, công đức cũng đủ không bao giờ tận, huống gì nay con lập nguyện – phát Tâm vô thượng Bồ Đề : cho đến tận cùng vị lai, độ tận chúng sinh không sót. Công đức bất tận bất khả thuyết này, con nguyện không chút xẻn tiếc, không hề một niệm lưỡng lự, mà xin hồi hướng trọn vẹn, trao về cho mọi chúng sinh, nguyện cho toàn thể pháp giới chúng sinh, cùng con chứng đắc vô thượng Bồ Đề, đồng đẳng cùng với mười phương vô lượng chư Phật, không có chút gì sai biệt.

(Quán tưởng tất cả cảnh giới của Pháp giới chúng sinh đều trở thành trang nghiêm thanh tịnh đồng với các cõi Tịnh độ của chư Phật. Tưởng rồi đảnh lễ 🙂

Nam Mô Mười Phương Thường Trụ Tam Bảo Tác Đại Chứng Minh (3 lậy)

*****

Trí huệ hoằng thâm đại biện tài,
Đoan cư ba thượng tuyệt trần ai,
Tường quang thước phá thiên sinh bệnh,
Cam lồ năng trừ vạn kiếp tai,
Thúy liễu phất khai kim thế giới,
Hồng liên dũng xuất ngọc lâu đài,
Ngã kim khể thủ phần hương tán,
Nguyện hướng nhân gian ứng hiện lai.

Ôi, Đấng trí huệ thăm thẳm bao la, với biện tài rạt rào quảng đại. Cao vút bên trên các ngọn sóng cả xô dạt nhận chìm của trần gian, Ngài ngự trị bất động và oai nghiêm, mà không một bụi trần nhỏ nhoi nào có thể thấm nhiễm được. Trên đó, ánh sáng an lành từ nơi Ngài tỏa chiếu, thiêu sạch hết bệnh khổ trong bao đời đầy đọa; cam lồ tươi mát từ nơi Ngài rẩy tưới, trừ tuyệt hết tai ương trong vạn kiếp hiểm nghèo. Với bàn tay này vi diệu, Ngài khẽ phất nhẹ nhành liễu biếc, để khai mở ra cho chúng sinh cả một thế giới chân thật bất tử, thanh tịnh và chiếu sáng như vàng ròng. Với bàn tay kia nhiệm mầu, ngài đưa ra đóa sen hồng, để vọt hiện ra cho muôn loài một thế giới tràn đầy công đức trang nghiêm, với lâu các điện đài chập chùng bằng bảo ngọc… Con nay xin khấu đầu dâng hương, cúng dường, tán thán và ca ngợi. Nguyện xin Ngài hãy đến giữa nhân gian này mà ứng hiện để cứu độ cho muôn loài.

The post Nghi Thức Phát Tâm Bồ Đề appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Mười Nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền https://bachhac.net/muoi-nguyen-cua-bo-tat-pho-hien.html Fri, 13 Aug 2021 05:26:41 +0000 https://bachhac.net/?p=3612 Ðiểm đặc sắc của Phổ Hiền hạnh nguyện là Tâm lượng rộng lớn như hư không pháp giới. Do đó mười nguyện của Ngài, nguyện nào cũng thật là cứu cánh viên mãn. Thứ nhất: LỄ KÍNH CHƯ PHẬT Chư Phật là gì ? Trong kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy chúng ta rằng: “Tình dữ …

The post Mười Nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
mười nguyên hạnh của bồ tát phổ hiền

Ðiểm đặc sắc của Phổ Hiền hạnh nguyện là Tâm lượng rộng lớn như hư không pháp giới. Do đó mười nguyện của Ngài, nguyện nào cũng thật là cứu cánh viên mãn.

Thứ nhất: LỄ KÍNH CHƯ PHẬT

Chư Phật là gì ? Trong kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy chúng ta rằng: “Tình dữ vô tình, đồng viên chủng trí”, đây chính là chư Phật.

“Tình” là nhất thiết hữu tình chúng sanh nghĩa là tất cả động vật

“Vô tình” là cây cỏ, khoáng chất.

Như vậy chư Phật có nghĩa là bao gồm tất cả mọi loài Hữu tình và Vô tình.

Ðem tấm lòng cung kính của chúng ta đối với Phật chuyển sang đối với chúng sanh. Ðó là tâm Phổ Hiền, khác với tâm của hàng Bồ tát. (Nghĩa là Tâm này vượt bực hơn cả Tâm của Bồ tát).

Người học Phật đối với Phật rất là thành kính, thực ra sự cung kính và thành khẩn này chưa phải là chân thật. Bởi vì sao? Quý vị thử nghĩ xem, trong lúc quý vị đang nghe giảng kinh, nếu gặp một người nào, một việc nào mà quý vị cho là quan trọng hơn, thì lập tức việc nghe giảng kinh sẽ trở thành thứ yếu, Phật cũng không màng nữa. Do đó mới thấy sự thành kính này chưa phải là chân thuần (hoàn toàn chân thật). Nếu lòng chí thành chí kính đó chân thuần thì việc nghe giảng kinh thuyết pháp là việc lớn nhất trong cuộc đời của mình.

Trong lúc nghe giảng Phật pháp, có người đến nói rằng: “Ðang có một việc làm ăn có thể kiếm lời tới bạc triệu Mỹ kim”. Bảo đảm quý vị sẽ bỏ việc nghe pháp đi theo họ ngay. Ðiều này cho thấy tấm lòng cung kính, thành khẩn của chúng ta thật không kham nổi sự thử thách và chẳng đáng một đồng xu! Cũng không chân thật chút nào!

Sự cung kính trong hạnh nguyện Phổ Hiền mới là chân thật, đối với tất cả chúng sanh cũng như đối với Phật không có khác.Tại sao vậy? Bởi vì tất cả chúng sanh vốn là Phật. Ðắc tội với một chúng sanh tức là đắc tội với một vị Phật, là không cung kính với một vị Phật.

Ðối với người thì phải cung kính, còn đối với vật như bàn ghế, súc vật thì sao? Nó cũng là chúng sanh vậy. Chữ chúng sanh ở đây có nghĩa là “chúng duyên hòa hợp” tạo thành hiện tượng. Vậy đối với vật phải cung kính như thế nào? Có phải mỗi ngày đều lễ nó ba lạy không? Nếu học Phật pháp như vậy hóa ra như con “mọt Phật” rồi. Ðối với đồ vật chúng ta sắp xếp cho ngăn nắp. Ðối với thú vật nuôi dưỡng đàng hoàng sạch sẽ. Ðối với sách vở – chúng ta cẩn thận xếp gọn trên kệ sách.

Như thế gọi là cung kính đối với vật. Còn làm việc thì chúng ta phải có trách nhiệm, siêng năng hết lòng làm cho thật tốt, gọi là cung kính đối với việc làm.

Ðối với người, vật, cũng như đối với việc làm đều phải tỏ ra thái độ bình đẳng cung kính. Ðây là đại hạnh của Bồ tát Phổ Hiền. Cho nên Bồ tát tu tập lục độ vạn hạnh đến khi rộng lớn, tròn đầy thì gọi là Hạnh Phổ Hiền. Cho nên Hạnh Phổ Hiền là phương pháp tu tập thù thắng, viên mãn nhất.

Thứ hai: XƯNG TÁN NHƯ LAI

Chúng ta cần chú ý điểm quan trọng ở đây câu thứ nhất nói “Lễ kính chư Phật” câu thứ hai lại nói “Xưng tán Như Lai”, mà Ngài không nói “Xưng tán chư Phật”? Dụng ý ở đây rất là thâm sâu.

Thứ nhất “Lễ kính chư Phật” là nói về mặt hình tướng, đối với tất cả nguời thiện kẻ ác, đối với tất cả chánh pháp, tà pháp đều nhất mực cung kính không hề phân biệt hoặc tỏ ra bấùt kính.

Thứ hai “Xưng tán Như Lai” là nói về mặt Tánh. Ở đây, điều thiện ta xưng tán, điều bất thiện ta không xưng tán. Chổ khác biệt giữa Lễ kính chư Phật và xưng tán Như Lai là như vậy. Thiện Tài đồng tử trong năm mươi ba lần tham vấn đã có những điển hình như sau: Ngài đối với mỗi một vị thiện tri thức đều lễ kính tán thán, duy chỉ đối với ba vị, ngài lễ kính mà không có tán thán. Ba vị này là :

– Thứ nhất: Thắng Nhiệt Bà La Môn, một người ngoại đạo, đại diện cho si mê. Do đó Thiện Tài đồng tử chỉ cung kính mà không tán thán.

– Thứ nhì: Cam Lồ Hỏa Vương, tượng trưng cho sân giận Vị này rất nóng tính, chỉ đắc tội với ông ta một chút liền bị trị tội – thả vào chảo dầu, bắt leo lên núi đao. Do đó Thiện Tài đồng tử ra đi trong cung kính mà không tán thán.

– Thứ ba: Phát Tô Mật Ða, một dâm nữ, Thiện Tài đồng tử vẫn cung kính mà không tán thán. Ba người này tiêu biểu cho Tham, sân, si (ba thứ độc phiền não), Ngài cung kính mà không tán thán. Do đó, Tán thán là dựa trên tiêu biểu tính đức, nhứt định phải là THIỆN, nhứt định là CHÁNH PHÁP mới tán thán; nếu không phải thiện pháp, không chánh pháp thì không tán thán, nhưng vẫn cung kính. Bởi vì cung kính là Tâm thanh tịnh, Tâm bình đẳng.

Ðối với tôn giáo khác chúng ta cũng phải cung kính, nếu là chánh pháp, chánh giáo, chúng ta càng thêm tán thán. Như Thiên Chúa giáo là Chánh giáo, giúp người sanh lên cõi Trời, mặc dù chưa phải là cứu cánh nhưng vẫn tốt hơn đưa người xuống địa ngục! Do đó chúng ta cần phải tán thán. Những Tà giáo dẫn dụ người tạo nghiệp, tạo tội đọa tam đồ (ba đường ác). Chúng ta tuyệt đối không tán thán. Cho nên điều nguyện thứ nhì so với điều nguyện thứ nhất trong thập nguyện có sự khác biệt to lớn như vậy. Hơn nữa trong điều nguyện thứ nhì Tâm địa của hành giả là tâm địa tuyệt đối thanh tịnh viên mãn (tròn đầy).

Thứ ba: QUẢNG TU CÚNG DƯỜNG

Như đã nói: Ðiểm đặc sắc của Hạnh Nguyện Phổ Hiền là Tâm lượng rộng lớn không gì sánh bằng. Trong Phật pháp đại thừa gọi đó là khởi dụng của tánh đức tròn đầy. Bồ tát tuy đã Kiến tánh nhưng chưa tròn đầy cho nên sự Khởi Dụng của Tánh đức mới chỉ là một phần thôi. Duy chỉ có tánh đức Phổ Hiền Bồ tát mới là Khởi Dụng tròn đầy. Bởi vì mỗi điều nguyện của ngài đều tận hư không biến pháp giới. Ðây là điểm khác biệt so với Lục độ Bồ tát. Ðối với ngài cúng dường một là cúng dường tất cả, cúng dường một vị Phật như cúng dường tất cả Phật, không phải chỉ cúng dường riêng những vị Phật đã thành Phật; đối với hữu tình và vô tình cũng đều như thế. Vì tất cả là một, một là tất cả. Ðây là phương pháp tu học của Bồ tát cũng là cảnh giới của Hoa Nghiêm mà chúng ta thường được nghe nói đến. Với tâm lượng như vậy mới hoàn toàn thoát khỏi sự phân biệt và giới hạn.

Ngài Phổ Hiền thường dạy chúng ta rằng: “Trong tất cả cúng dường, cúng dường pháp là tối thượng”. Bởi vì chỉ có Phật pháp mới chỉ dạy phá mê khai ngộ, giúp chúng ta chứng đắc, hồi phục tự tánh tròn đầy của mình. Những việc cúng dường bố thí khác không thể đạt được. Trong pháp cúng dường “Y giáo tu hành cúng dường” (y theo lời chỉ dạy mà tu đó là cúng dường) là hàng đầu. Tôi xin đặc biệt nhắc quý vị đồng tu điều này, Phật pháp là thầy dạy đạo. Cho nên chúng ta nhất định phải kính thầy trọng đạo, y theo sự chỉ dạy của thầy mà tu học, chúng ta sẽ đạt được công đức, lợi ích vô cùng thù thắng không gì sánh bằng.

Bàn về Phật pháp, ta thử nghĩ bộ kinh nào được xếp hàng đầu? Vào đời nhà Ðường, các vị cao tăng đại đức Trung quốc, Nhựt, Ðại Hàn từng đem tất cả những kinh điển trong bốn mươi chín năm thuyết pháp của Thế Tôn ra so sánh. Hầu hết các ngài đều nhất trí công nhận kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh đứng đầu. Từ đó kinh Hoa Nghiêm được xem như môn học đạt mức cứu cánh, viên mãn nhất trải qua nhiều thế kỷ.

Sau đó chư đại đức một lần nữa đem so sánh kinh Vô Lượng Thọ với kinh Hoa Nghiêm, các ngài nói kinh Vô Lượng Thọ là bộ kinh hàng đầu. Vì sao? Chư cổ đức nói rằng “Hoa Nghiêm, Pháp Hoa” là hai bộ kinh lớn và quan trọng duy nhất được xưng là nhất thừa viên giáo trong Phật pháp Trung Hoa. Tuy nhiên hai bộ kinh nầy đều là sự dẫn nhập của kinh “Vô Lượng Thọ”, chính vì thế kinh Vô Lượng Thọ mới thật sự là bộ kinh đứng đầu trong những bộ kinh quan trọng. Khi đọc đến lời nói này của chư cổ đức, tôi vô cùng vui mừng bởi vì chính tôi cũng có sự cảm nhận sâu sắc như thế. Sở dĩ tôi đi theo Tịnh độ tông là do sự dẫn nhập của kinh Hoa Nghiêm.

Trong suốt thời gian mười bảy năm qua, việc giảng kinh Hoa Nghiêm của tôi chưa từng gián đoạn. Nhưng hiện giờ thì chỉ giảng phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện. Mười bảy năm thuyết pháp đã đưa tôi từ Hoa Nghiêm tiến sâu vào Tịnh độ. Bởi vì tôi cảm nhận được ý vị dẫn nhập về Cực lạc hết sức sâu sắc trong mười đại nguyện sau cùng của ngài Phổ Hiền Bồ tát. Cực lạc là thắng cảnh của kinh Vô Lượng Thọ. Kinh Vô Lượng Thọ là nơi về nguồn của Hoa Nghiêm, là tinh túy của Hoa Nghiêm. Những lời nói của người xưa thật không sai.

Do đó, tất cả những điểm thù thắng, đặc sắc nhất mà đức Thích Ca Mâu Ni giảng trong 49 năm đã đuợc tìm thấy và đề bạt ra. Tuy nhiên, nếu không phải do vị cư sĩ lão thành Hạ Liên Cư đem năm bản nguyên gốc hội tập lại thành một bản hoàn chỉnh thì chúng ta cũng không thể có được pháp thù thắng, viên mãn lợi ích như vậy. Quá trình của việc làm vĩ đại này chứng tỏ ngài chính là Phật – Bồ tát tái sanh, tuyệt đối không phải là người thường có thể làm được. Sự thật đây cũng là tấm lòng bi mẫn của các Ngài đối với chúng sanh trong đời này và cũng do cơ duyên của chúng sanh đã chín mùi, nên khiến các đại Bồ tát xuống thế để chỉnh đốn cho pháp môn Tịnh độ có thể hoằng dương, rộng độ vô lượng chúng sanh trong chín ngàn năm thời mạt pháp.

Tôi đến Bắc kinh, cư sĩ Huỳnh Niệm Tổ tặng tôi một tấm ảnh của thầy ông tức là cư sĩ Hạ Liên Cư. Sau khi về Ðài Loan, tôi mang tấm ảnh đi phóng đại và in ra nhiều tấm để mọi người chiêm ngưỡng cúng dường. Tấm ảnh này tuy đã in lại nhiều lần, hình không được rõ lắm, nhưng vẫn có thể từ nơi tấm ảnh thấy rõ được vài điểm cảm ứng không thể nghĩ bàn: Phía sau Ngài là tấm bình phong, trên đỉnh đầu có hình Phật ngồi trên tòa sen, đang phóng hào quang.

Chúng ta cúng dường cư sĩ Hạ Liên Cư để bày tỏ tấm lòng biết ơn vị Bồ tát này, và cảm niệm ơn đức của Ngài đã hội tập một bộ kinh hoàn chỉnh giúp chúng ta dựa vào đó mà chuyên tu và hoằng dương chánh pháp.

Trong kinh Vô Lượng Thọ có tất cả bốn mươi tám phẩm. Vậy thì phẩm nào là quan trọng nhất? Chúng ta nên thận trọng tìm hiểu.

Ngài Thiện Ðạo đại sư nói: “Như Lai sở dĩ hưng xuất thế, duy thuyết Di Ðà Bổn Nguyện Hải” (Như Lai phải nhiều lần ra đời cũng vì giảng nói hạnh nguyện bao la của Phật A Di Ðà).

Như trên, chúng ta đã hiểu rõ kinh Vô Lượng Thọ là bộ kinh đứng hàng đầu trong các kinh, cũng là bộ kinh chính yếu mà chư Phật Như Lai dùng để hoằng dương độ sanh. Ngoài ra những bộ kinh khác là bổ xung cho bộ kinh này. Trong bốn mươi tám phẩm, phẩm thứ sáu là quan trọng nhất. Phẩm này do chính Phật A Di Ðà tự nói, đức Thích Ca Mâu Ni thuật lại. Bởi thế nên nói Phật Phật đạo đồng (Phật với Phật, mối đạo đều cùng một hướng). Thế Tôn thuật lại cũng như chính đức Phật A Di Ðà nói vậy.

Bây giờ chúng ta triển khai toàn bộ kinh Vô Lượng Thọ. Ðức Thích Ca Mâu Ni giới thiệu hình ảnh của thế giới Tây phương Cực lạc, không một câu nào trái ngược với bốn mươi tám nguyện, từng câu từng chữ đều tương ưng.

Trong bốn mươi tám nguyện, nguyện nào xếp thứ nhất? Theo chư vị cao tăng đại đức từ xưa đến nay đều công nhận là nguyện thứ mười tám. Vậy nguyện thứ mười tám là gì? Là “Mười niệm vãng sanh”. Mặc dầu nói mười niệm, nhưng nếu nhất tâm chỉ cần “Một niệm” cũng được vãng sanh. Như vậy mới chứng tỏ cảnh giới của Phật pháp thật sự viên mãn, thù thắng không thể nghĩ bàn.

Thiếu thời, khi tôi bắt đầu học Phật, trong lòng tôi có một điều thắc mắc: “Giả sử có người tạo nghiệp tội rất nặng, tức khắc phải đọa xuống địa ngục A Tỳ chẳng lẽ Phật không có khả năng cho họ lập tức thành Phật được ư? Nếu Phật không có khả năng này thì trí huệ năng lực của ngài còn bị giới hạn lắm. Chúng ta tán thán ngài là “vạn đức vạn năng” chẳng qua chỉ là lời khen ngợi mà thôi không đúng sự thật. Ngược lại nếu ngài có thể cho người mang tội ác phải đọa địa ngục có thể lập tức thành Phật thì trí huệ, thần thông của ngài mới thật là viên mãn và chúng ta không thể không bái phục sát đất.

Vì vậy khi tôi đọc đến bốn mươi tám nguyện của Phật A Di Ðà trong kinh Vô Lượng Thọ, tâm hoài nghi của tôi mới hoàn toàn được giải tỏa. Mới biết rằng trí đức của Phật hoàn toàn cứu cánh viên mãn không một chút thiếu sót. Ngài thực sự có khả năng khiến người gây tội sâu dày lập tức thành Phật, vấn đề là ở chỗ người ta có tin hay không? Có chấp nhận hay không? Nếu như không tin không chấp nhận thì lỗi ở nơi người tạo tội chứ không phải Phật – Bồ tát không có đủ khả năng. Do đó việc tán thán Phật là bậc “Vạn đức vạn năng” trong kinh Vô Lượng Thọ không hề hư dối hay khoa trương. Hiểu như vậy chúng ta mới thực sự nhận ra được chánh pháp vi diệu mà chư Phật mười phương dùng để độ sanh. Dựa vào pháp môn này tu học, không ai mà không được thành tựu.

Ngài Ðế Nhàn dạy đệ tử chỉ một câu A Di Ðà Phật chuyên tâm trì niệm suốt ba năm, đến lúc mãn phần vị đệ tử biết rõ ngày giờ mình ra đi và đã vãng sanh trong tư thế đứng thẳng. Sự vãng sanh này chắc chắn là bậc thượng phẩm thượng sanh chứ không phải tầm thường. Ông đã ra đi trong thế đứng và đứng suốt ba ngày để chờ đợi sư phụ ông đến chôn cất. Như thế mỗi câu niệm Phật của ông đều tương ưng và thành tựu như lời nguyện thứ mười tám của Phật A Di Ðà. Vì vậy nếu ai tin được pháp môn này, người đó nhất định là người có nhiều thiện căn, nhiều phúc đức. Nói theo kinh Vô Lượng Thọ thì người này đã từng cúng dường vô lượng chư Phật Như Lai mới có thể Tín – Thọ – Phụng Hành, vì nếu không có căn lành sâu sắc, thì dù có khuyên bảo thế nào thì người đó cũng không tin.

Danh hiệu A Di Ðà có vô lượng nghĩa, nhưng nghĩa rốt ráo là “Tận hư không biến pháp giới” tức là bao gồm hết tất cả. Như vậy toàn bộ kinh Vô Lượng Thọ chỉ để giải thích một danh hiệu này thôi. Nếu muốn hiểu rõ kinh Vô Lượng Thọ thì Ðại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh chính là chú giải của vô Lượng Thọ và toàn bộ Ðại Tạng kinh là chú giải cho kinh Hoa Nghiêm. Quí vị từ từ hiểu thấu mới thấy rõ câu danh hiệu này công đức thật sự không thể nghĩ bàn!

Danh hiệu này là toàn bộ Phật giáo, trùm hết hư không, trải khắp pháp giới và gồm thâu tất cả các pháp. Do đó niệm một câu A Di Ðà Phật là niệm đủ tất cả. Ngày xưa, thời vua Càn Long thuộc triều đại nhà Thanh, có một vị pháp sư lỗi lạc trong lịch sử Phật giáo Trung quốc – Từ Vân Quán Ðảnh pháp sư. Ngài có nhiều trứ tác, trong đó có bài “Kinh Vô Lượng Thọ chỉ quán”. Ngài nói: “Người thế gian cầu tai qua nạn khỏi, dùng kinh, dùng chú hoặc dùng phương pháp sám hối đều có hiệu lực. Nhưng với người tội chướng sâu nặng thì tụng kinh bái sám không có tác dụng. Công đức của câu A Di Ðà Phật mới có thể tiêu trừ nghiệp chướng và tội nạn. Rất tiếc nhiều người không tin không hiểu, thường dùng công đức tụng kinh Dược Sư cho hết bịnh hoặc tụng Phổ Môn để được tai qua nạn khỏi, thực tế công đức của câu A Di Ðà Phật vượt bực hơn mọi thứ công đức”.

Nếu vậy đức Thích Ca Mâu Ni Phật vì sao không dạy chúng ta đơn giản một câu danh hiệu là đủ rồi? Ngài lại đem đủ thứ kinh, chú, sám pháp để nói với chúng ta? Bởi vì chúng ta không tin, không chấp nhận nên ngài phải phương tiện đem loại hàng thượng hạng này tái chế! Cũng giống như chúng ta ở Ðài Loan đi tham quan cung Vua. Trong cung món đồ quý giá nhất là những loại đồng khí của thời Thương – Châu. Nhưng theo một số người cho đó là những thứ đồng hư, sắt vụn, không thích thú chút nào, đến khi nhìn thấy những loại ngọc khí (đồ chế tạo của đời Minh Hán như cẩm thạch, mã não) họ trầm trồ khen ngợi. Thực tế ngọc khí làm sao bì được với đồ cổ đồng khí thời Thương Châu. Những thứ chúng ta cho là đồng hư sắt vụn đó mới thực sự là “vô giá chi bảo” (bảo vật vô giá). Cũng như vậy, “Người đời không hiểu rõ được công đức của câu niệm A Di Ðà Phật, Thế Tôn bất đắc dĩ phải nói đủ thứ kinh để phương tiện dẫn dắt chúng sanh hướng về thế giới Cực lạc”. Ngài Thiện Ðạo đại sư nói câu này thật không sai chút nào.

Chúng ta hiểu rõ được đường lối tu tập, để chuyên tu, chuyên hoằng dương Tịnh độ Tông cũng là nhờ sự gia hộ của Tam Bảo, đồng thời căn cơ của chúng sanh đời này đã chín mùi. Trong năm, sáu năm qua tôi đã cố gắng tích cực đẩy mạnh sự giới thiệu rộng rãi những bộ kinh Vô Lượng Thọ khác nhau với số lượng hơn mấy triệu quyển đến khắp nơi trên toàn thế giới, những người vui vẻ tin và chấp nhận hành trì theo cũng rất nhiều. Thấy mọi người siêng năng thật lòng tu học như vậy, tôi cảm thấy an ủi vô cùng, niềm pháp hỷ tràn ngập trong lòng, khiến tôi quên hết mọi sự nhọc nhằn.

Tóm lại chúng ta y theo pháp môn này tu và đẩy mạnh truyền bá rộng rãi pháp môn này. Chúng ta đã thực hiện đầy đủ ý nghĩa câu “Quảng Tu Cúng Dường”, rồi vậy.

Phương tiện tiếp dẫn của chư Phật-Bồ tát thật là vô lượng vô biên, đây chính là sự biểu hiện của tâm đại từ đại bi nơi các Ngài, để rồi sau cùng đều dẫn về Thế giới cực lạc của đức A Di Ðà Phật.

Trong Mật tông Long Thọ Bồ tát mở tháp sắt ra nhìn thấy Kim Cang Tát Ðỏa Thượng sư, vị tổ đầu tiên của Mật Tông. Kim Cang Tát Ðỏa Thượng sư đem mật pháp truyền cho Long Thọ Bồ tát, từ đó truyền đến nhân gian. Kim Cang Tát Ðỏa còn gọi là Kim Cang Thủ Bồ tát, là hóa thân của Bồ tát Phổ Hiền. Ngoài ra còn một vị đại đức lỗi lạc của Mật Tông là Chuẩn Ðề Bồ tát chính là hóa thân của Quan Thế AÂm Bồ tát.

Trong tâm của phàm phu phân biệt có Hiển giáo, Mật giáo. Ở chư Phật-Bồ tát hòan tòan viên mãn, tự tại, bình đẳng, không có phân biệt.

Hiểu dược như thế mới biết rằng tám vạn bốn ngàn pháp môn đều trở về một nơi! Phật vì muốn dẫn dắt chúng sanh căn tánh không giống nhau cho nên phải hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức, chúng sanh muốn học thứ gì các Ngài dạy thứ đó. Sau cùng khi trở về nhà, mọi người gặp được Phật A Di Ðà, mới biết thì ra tất cả đều giống nhau.

Khi biết rõ được sự thật như vậy rồi, đối với bất cứ một tông phái, một pháp môn nào, chúng ta đều phải chân thành cung kính. Bởi vì phương pháp tu học tuy khác nhưng mục đích hòan tòan giống nhau.

Thứ tư: SÁM HỐI NGHIỆP CHƯỚNG

Nghiệp chướng, con người ai cũng có. Vừa “khởi Tâm động Niệm” là đã tạo nghiệp và sanh chướng ngại rồi.

Chướng là gì? Là ngăn trở Bổn tánh của chúng ta. Trong bổn tánh chân thật của chúng ta, vốn nó tự đầy đủ vô lượng trí tuệ và đức năng khôn cùng. Nhưng vì sao tất cả những trí tuệ, đức năng thần thông đó, bây giờ không còn xử dụng được nữa? Vì do chướng ngại.

Chướng ngại chia làm hai loại chính:

– Thứ nhất là phiền não chướng.

– Thứ hai là sở tri chướng.

Ðối với sở tri chướng chúng ta chẳng nhũng tiếc rẻ không tiêu trừ nó, mà mỗi ngày còn tạo thêm nhiều hơn.

Quý vị thử nghĩ xem, có khi nào quý vị không chấp trước? Trong kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy chúng ta rằng “Tất cả chúng sanh đều có trí tuệ, đức tướng giống Như Lai, do vì vọng tưởng, chấp trước mà không thể chứng đắc”. Qua câu nói này Phật đã chỉ rõ tận gốc căn bệnh của chúng ta cũng giống như Bác sĩ trong nháy mắt đã tìm ra nguyên nhân gây ra bệnh tật:

– “Vọng Tưởng” là gốc của Sở tri chướng

-“Chấp trước” là gốc của Phiền não chướng

Cho nên việc tu học Phật pháp chẳng có gì khác, dù có vô lượng pháp môn, phương pháp, thủ đoạn khác nhau, chẳng qua là giúp chúng ta ÐOẠN VỌNG TƯỞNG, PHÁ CHẤP TRƯỚC, một khi đã phá sạch hai thứ chướng này sẽ KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT. Cho nên “Sám hối nghiệp chướng” trong việc tu học là “mấu chốt” quan trọng. Tất cả các pháp tu học đều vì sám hối nghiệp chướng.

Tuy nhiên, nghiệp chướng không phải dễ mà đoạn trừ được! Nhưng nếu còn nghiệp chướng thì việc tu học quyết định không thể thành tựu!

Trong vô số pháp môn, pháp môn Tịnh độ dễ hành trì và có kết quả thù thắng nhất cho dù chúng ta tạo nhiều nghiệp tội sâu dầy. Thậm chí tạo tội ngũ nghịch phải đọa địa ngục A Tỳ, nghiệp chướng tuy chưa sám hối, tiêu trừ hết, chỉ cần phát lòng chân thành nguyện từ nay sửa đổi. Niệm hồng danh A DI ÐÀ PHẬT cầu sanh Tịnh Ðộ, bao nhiêu tội chướng cũng sẽ tiêu hết, lập tức có thể thành Phật.

Ngài Từ Vân Ðại Sư nói: “Một câu A DI ÐÀ PHẬT có thể tiêu trừ hết những nghiệp chướng mà những kinh, chú khác không tiêu nổi”. Lời này không phải tùy tiện mà nói, sự thật rõ ràng chính xác được chứng minh trong những bộ kinh lớn.

Mấy năm vừa qua, một số người nêu vấn đề: “Phải tiêu trừ hết nghiệp mới vãng sanh, chưa sạch nghiệp thì không thể vãng sanh được”. Những lời nói như thế gây chấn động tinh thần trong giới Phật giáo và làm hoang mang tín tâm của người niệm Phật ở Ðài Loan cũng như ở Mỹ.

Năm 1984, cư sĩ Chu Tuyên Ðức ra phi trường đón tôi, vừa gặp mặt ông liền hỏi: “Thưa thầy, hiện nay có người nói rằng, người còn nghiệp không thể vãng sanh, phải sạch nghiệp mới được vãng sanh, như vậy đời này chúng con niệm Phật không được vãng sanh thì phải làm sao đây? Có uổng phí hoài công không?” Tôi mỉm cười trả lời ông ta rằng: “Ông à, nếu người còn mang nghiệp mà không được vãng sanh thì cũng chẳng đi làm gì!”.

Lão cư sĩ kinh hoàng vội thưa: “Vậy !vậy là sao thưa thầy?”

Tôi nói: “Nếu còn mang nghiệp không được vãng sanh thì cảnh giới Tây phương Cực lạc chỉ có một mình đức Phật A Di Ðà, ông lên đó để làm gì!”.

Lão cư sĩ thành thật thưa: “Thưa thầy tôi vẫn chưa hiểu”.

Tôi nói: “Ông thử nghĩ xem, thế giới Tây phương Cực lạc có Tứ Ðộ, Tam Bối, Cửu Phẩm không?”

Lão cư sĩ nói: “Thưa có, trong kinh Phật có nói đến”

Tôi nói: “Nếu bảo không còn nghiệp mới được vãng sanh vậy thì danh từ Tứ Ðộ, Tam Bối, Cửu Phẩm do đâu mà có?”.

Vừa nghe xong ông ta liền chợt hiểu. Thật ra, danh từ Tứ Ðộ, Tam Bối, Cửu Phẩm là để phân cấp nghiệp chướng nhiều hay ít. Còn mang nghiệp nhiều thì phẩm vị thấp, ngược lại mang nghiệp ít thì sẽ được phẩm vị cao hơn.

Tôi nói tiếp với vị cư sĩ: “Ông thử nghĩ xem Bồ tát Quan AÂm, Bồ tát Văn Thù, Bồ tát Phổ Hiền, các ngài đều là đẳng giác Bồ tát”. Trong kinh Phật nói với chúng ta rằng “Bồ Tát Ðẳng giác” vẫn còn một phẩm vô minh chưa phá hết, đó không phải là nghiệp hay sao?”

Lần nầy, lão cư sĩ mới vui vẻ cười nói: “Ồ, đó chính là nghiệp, đẳng giác Bồ Tát vẫn còn mang nghiệp vãng sanh, nếu nói không còn nghiệp chỉ có Phật A Di Ðà, ngoài Phật ra không ai mà không mang nghiệp”.

Tôi nói: “Vậy thì ai bảo rằng người còn mang nghiệp không thể vãng sanh”.

Lão cư sĩ đã thật sự hiểu rõ và phá lên cười dòn: “Thì ra Thế giới Cực Lạc đều có thể mang nghiệp vãng sanh”.

Phật pháp là nói đến sự viên mãn, hằng thuận không kết oán với người khác; do vậy tôi xin bổ xung thêm một câu: “Cần phải tiêu nghiệp thì cũng không sai, vì sao vậy? Mong rằng hiện tại tiêu bớt một phần nghiệp, sẽ mang ít đi một phần, khi đến thế giới Cực Lạc sẽ được dự vào hàng phẩm vị cao hơn người còn mang nhiều nghiệp, đó là điều rất tốt”.

Tôi đến Nữu Ước (New York) vừa xuống phi trường, lão cư sĩ Trầm Gia Trân đến đón cũng đem vấn đề tương tự như trên ra hỏi. Ðiều này chứng tỏ rằng nhiều người chưa hiểu thấu đáo như tôi đã giải thích. Do đó họ bị ảnh hưởng đến công phu niệm Phật. Một khi đã hiểu thì cách nói “không mang nghiệp” hay “phải sạch nghiệp” đều có ý tốt giúp chúng ta nhận thức rõ là phải luôn luôn “Sám hối nghiệp chướng”. Niệm một câu A DI Ðà PHẬT chính là chân thành sám hối vậy!.

Tuy nhiên, trong khi niệm Tâm của ta cũng phải tương ưng với tâm của Phật A Di Ðà. “Hành, Giải” của ta cũng phải tương ưng với “Hành, Giải” của Phật A Di Ðà. Vậy làm thế nào mới có thể tương ưng? Khi quý vị tụng kinh Vô Lượng Thọ, quý vị phải siêng năng nỗ lực làm theo tất cả những đạo lý, lời dạy trong kinh, được như thế gọi “tương ưng”. Như vậy, quý vị mới là người niệm Phật chân chính.

Niệm Phật tuyệt đối không phải là “Hữu khẩu Vô tâm” – miệng niệm Phật mà lòng thì suy nghĩ vẩn vơ, niệm Phật như vậy không được một chút lợi ích gì hết. Trong khi niệm Phật, tâm mình nhất định phải giống với tâm của Phật, nguyện mình giống với nguyện của Phật, không một chút sai khác. Ðem bốn mươi tám đại nguyện của ngài biến thành bổn nguyện của chính mình. Như thế mới là chân chính niệm Phật và thật sự tiêu trừ hết tất cả nghiệp chướng.

Thứ năm: TÙY HỶ CÔNG ÐỨC

Nguyện thứ năm “Tùy hỷ công đức” là dùng để đối trị với bịnh phiền não nặng nề của phàm phu đó là sự đố kỵ. Tâm đố kỵ đã hình thành và theo ta nhiều đời kiếp đến nay. Quý vị hãy xem một đứa trẻ, vừa ra đời được vài tháng hoặc một năm, khi cho nó ăn kẹo khi thấy đứa khác được nhiều hơn, tâm đố kỵ của nó liền biểu hiện ra một cách tự nhiên! Tâm đố kỵ là một chướng ngại lớn đối với việc tu học. Cho nên, Ngài Phổ Hiền Bồ Tát, mới đặc biệt đề ra nguyện “Tùy hỷ công đức” này để dạy cho chúng ta. Chúng ta chẳng những không đố kỵ với người khác mà còn phải sanh tâm vui vẻ khi thấy, biết, cái đẹp, cái tốt của họ để hết lòng giúp đỡ họ hoàn thành việc làm tốt đẹp. Nhà Nho có câu: “Thành nhân chi mỹ, thành nhân chi thiện”.

Nếu chúng ta không đủ khả năng, không thể giúp đỡ, nhưng chúng ta có lòng vui vẻ ca ngợi, như thế cũng gọi là tùy hỷ công đức. Trường hợp chúng ta có khả năng lại không chịu giúp đỡ, mặc dù không có tâm đố kỵ. Như vậy không thể gọi là tùy hỷ. Cho nên trong lúc tùy hỷ không những không mang tâm đố kỵ mà còn hết lòng giúp đỡ nữa, mới thật sự là tùy hỷ.

Chúng ta phải luôn nhớ rằng khi giúp người khác thành tựu chính là thành tựu cho mình. Bởi vì công đức tùy hỷ thù thắng nhất chính là Tâm rộng rãi vui vẻ, chấp nhận người khác vượt bực hơn mình. Nền giáo dục thời xưa của Trung quốc đều hy vọng thế hệ sau có những thành tựu siêu việt hơn mình nếu không thì nền giáo dục đó coi như hoàn toàn thất bại. Khác với người thời nay, tâm đố kỵ, chướng ngại nhiều và sợ người khác hơn mình nên khi dạy thì dấu nghề hoặc giữ lại “một chiêu”, không thực tâm truyền hết. Như vậy gọi là “bần pháp”. Bần pháp sẽ bị quả báo ngu dốt, keo kiệt sẽ bị nghèo khó, hạng người như vậy không biết những điều đáng sợ của quả báo!

Ngày xưa, ở Trung quốc, cái nón của người làm quan đội gọi là “hiền quan”, nón này là biểu pháp mang ý nghĩa rất thâm sâu, nó có hai cấp như cầu thang, vành nón phía trước thấp, vành phía sau cao hơn. Phần thấp tượng trưng cho chính mình, phần cao tượng trưng cho hậu thế (thế hệ sau), có nghĩa là người làm quan luôn luôn hy vọng kẻ hậu thế vượt bực giỏi hơn mình về đức hạnh, học vấn, khả năng cho đến mọi sinh hoạt trong cuộc sống đều luôn tiến bộ và không ngừng nâng cao. Nền giáo dục được gọi là thành công là phải tiến bộ chứ không phải thụt lùi.

Riêng nón của vua chỉ có một vành bằng thẳng – tượng trưng cho tâm bình đẳng. Y phục của vua và các đại thần đều nói lên nghĩa vụ và trách nhiệm phải làm, cũng như nhắc nhở họ từng giờ từng phút phải thận trọng, ý thức việc làm của mình.

Qua đến giáo dục hiện nay của chúng ta, nếu đức hạnh, học vấn, năng lực của chúng ta không đạt đến mức độ cao, thì chúng ta sẽ không thể nào độ cho chúng sanh ở thế hệ sau. Vì sao thế?

Quý vị xem nền giáo dục hiện nay chỉ chú trọng về mặt cung cấp cho giới trẻ những kiến thức khoa học kỹ thuật và xã hội bên ngoài càng ngày càng phức tạp hơn.

Do đó, người nào muốn hóa độ cho họ, cần phải có tâm thanh tịnh hơn, trí tuệ cao hơn, đức hạnh thâm hậu hơn, thì mới có thể ứng phó với thời cơ và thời đại hiện tại, cho nên “tùy hỷ công đức” rất là quan trọng.

Tóm lại, đố kỵ, sân hận đều có tác hại trầm trọng đến tự tánh của chúng ta. Cần phải nhổ tận gốc rễ, phương pháp dùng để nhổ tận gốc đó là “tùy hỷ công đức”.

Thứ sáu: THỈNH CHUYỂN PHÁP LUÂN

Là Phật tử, chúng ta nhận sự giáo dục của Phật và được lợi ích chân thật, vậy chúng ta phải dùng phương pháp này để báo đáp Thầy – Phật.

Chúng ta cảm niệm ân đức của Ngài, mỗi ngày dâng hương, hoa, quả, cúng dường trước hình tượng của Phật-Bồ Tát. Như thế, gọi là báo ân Phật rồi phải không? Chẳng phải như thế.

Dâng cúng trước hình tượng hoặc lễ bái cúng dường, những việc đó chỉ là dựa trên nghi thức nhằm nhắc nhở chúng ta luôn luôn tôn kính biết ơn và đền ơn Ngài.

Sự báo ân chân chính là làm thế nào để thực hiện được nguyện vọng của Phật. Tâm nguyện của Phật là mong muốn tất cả chúng sanh đều được nghe chánh pháp, y theo giáo pháp tu học, sớm đạt thành quả vị Phật.

Ðể thực hiện tâm nguyện của Ngài, chúng ta phải lấy Tâm Phật làm Tâm của mình. Như thế, mới thật sự gọi là báo đáp ân Phật. Mà báo đáp ân Phật một cách chân chính tức là “Thỉnh chuyển pháp luân”. Nói theo ngôn ngữ hiện nay là lễ thỉnh Pháp sư, Ðại đức đến giảng kinh thuyết pháp, hoằng pháp lợi sanh. Sự lễ thỉnh này có phúc đức vô cùng to lớn, vì sao vậy? Vì làm như vậy chính là mang pháp đến cúng dường cho cả một khu vực. Tuy rằng việc giảng pháp do Pháp sư đảm trách, nhưng nếu không có người trợ duyên lễ thỉnh các vị Pháp sư, Giảng sư thì các vị đó không thể tự động đến giảng. Nên nói phúc đức của người lễ thỉnh lớn lắm là vậy.

Khi nói đến tu phước, dù tu riêng cho cá nhân hoặc vì đại chúng hay vì người quá cố như tổ tiên, ông bà, cha mẹ, thân nhân v..v.. Công đức tụng kinh rất lớn. Nếu có thể nhân đó thuyết pháp thì công đức càng nhiều gấp bội. Việc tụng kinh giúp người gieo trồng được một ít thiện căn, nhưng không hiểu ý nghĩa thâm áo bên trong. Nếu thỉnh Pháp sư giảng giải thì được thông suốt mọi điều trong kinh. Do hiểu ý nghĩa trong kinh mà sanh tâm ưa thích trì tụng, y giáo phụng hành. Cho nên phúc đức của việc giảng kinh so với việc tụng kinh lại lớn hơn không biết bao nhiêu lần.

Hiện nay, Pháp sư giảng kinh rất ít, muốn thỉnh mời cũng không có. Tôi nghe nhiều người đến đây nghe pháp nói:”Bây giờ muốn mời Pháp sư đến hoằng pháp thật là khó!”.

Tôi cười nói: “Việc mời Pháp sư đến hoằng pháp, giảng kinh cho quý vị nghe đó là chuyện nhân quả, có quả tất phải có nhân. Quý vị không tu nhân lại muốn hưởng quả, làm sao có chuyện dễ dàng như vậy được.”

Thế nào là tu nhân? “Tu nhân” là phải đào tạo, nuôi dưỡng Pháp sư. Những vị Pháp sư lớn tuổi giảng hay, ai cũng đua nhau đến nghe, tranh dành cúng dường, còn Pháp sư trẻ hoặc mới học giảng không được hay thì không ai đoái hoài tới nghe, khiến họ bị thối chí và nghĩ rằng: “Ôi! Việc giảng kinh khó quá, không muốn tập luyện nữa, chi bằng ta trở về lo việc tụng kinh cho nhẹ nhàng.”

Làm thế nào để đào tạo Pháp sư?

Vị Pháp sư càng trẻ, nói không hay chúng ta càng phải đến ủng hộ, khuyến khích, cổ động cho họ được phấn chấn, Pháp sư đó sẽ nghĩ rằng: “Chắc mình không đến nỗi tệ lắm, mình cũng có khả năng tập luyện tiến bộ”. Hơn nữa, chúng ta chớ nên coi thường những vị Pháp sư mới học, đối với họ, chúng ta nên trân trọng đến nghe và không bỏ sót một buổi giảng nào. Chúng ta đến nghe thuyết pháp nhưng không tán thán. Quý vị có biết rằng đôi khi sự tán thán làm hại người hơn cả sự phỉ báng! Người bị phỉ báng, tuy giận lắm, nhưng đối với người có chí khí, càng bị chê bai chừng nào họ càng nỗ lực, tinh tấn để đạt đến những thành tựu cao siêu. Biến những lời phỉ báng thành một thứ trợ duyên thượng thặng. Một khi được ca tụng, tán thán họ sẽ nghĩ: “Ồ! Nhiều người ca ngợi mình quá, có lẽ mình không tệ”, và họ sẽ mãn nguyện với những gì họ có được rồi không thèm trau dồi để tiến xa hơn nữa.

Cho nên tán thán rất dễ làm hại người. Vì vậy, đối với giới trẻ, với người mới học, chúng ta tuyệt đối không nên tán thán, không nên cúng dường quá nhiều. Bởi vì tiền tài nhiều, danh vọng lên cao, lập tức sẽ sa đọa ngay. Những Pháp sư trẻ, phát tâm bồ đề xuất gia, thường bị tín đồ ca ngợi, cúng dường làm cho Pháp sư trẻ đọa lạc. Như vậy sự đọa lạc của họ là do tín đồ gây nên. Sau này, những vị Pháp sư đó bị quả báo thì tất cả những người ca ngợi, cúng dường không thể thoát nạn bị đọa.

Vậy đối với những ai chúng ta nên mạnh mẽ cúng dường? Ðó là những vị giảng sư, Pháp sư “Bát phong xuy bất động” (tám luồng gió của được, mất, khen, chê, vinh, nhục, khổ, vui không làm họ lay động). Những người này dù chúng ta có tán thán họ cũng không sanh lòng vui mừng, chúng ta phỉ báng họ cũng không sanh tâm phiền muộn. Vì tâm của họ luôn giữ sự bình lặng an nhiên. Những người như vậy mới thật sự xứng đáng cho chúng ta tán thán. Vì sao? Vì sự tán thán không làm hại họ, cho nên chúng ta phải tuyên dương khiến cho nhiều người biết đến và tin tưởng họ. Nhờ vậy họ có thể độ được nhiều chúng sanh.

Nhân đây nói đến “cúng dường”. Thọ nhận cúng dường không phải là chuyện đơn giản. Trong nhà Phật thường nói: “Một hạt gạo của thí chủ lớn như núi Tu Di, đời này mà không liễu đạo, phải mang lông, đội sừng để trả”.

Cho nên người không tu làm sao dám nhận sự cúng dường và hưởng thụ sự cúng dường? Làm kiếp người, ai có thể biết được phước báu của mình được bao nhiêu? Ngay cả chư Phật, Bồ Tát cũng không hưởng thụ sự cúng dường. Nhưng nếu có người đến cúng dường với lòng chân thành, muốn gieo trồng ruộng phước, đương nhiên chúng ta không thể từ chối, tuy nhiên sau khi thọ nhận của cúng dường, chúng ta nhất định phải luân chuyển sự cúng dường đó.

Trong thời cận đại, Ngài Ấn Quang Ðại sư là hình ảnh mẫu mực rất tốt cho chúng ta. Ðệ tử quy y ngài nhiều đến nỗi không thể tính đếm được. Tất cả những tài vật do đệ tử cúng dường, Ngài đều đem ra ấn tống kinh sách để “cúng dường” lại cho mọi người, Ngài lập ra “Sở Hoằng hóa” ở Tô Châu Trung quốc để ấn tống và lưu hành kinh sách. Sau khi tôi tu học Phật pháp, tôi hoàn toàn noi gương của ngài, nghĩa là có bao nhiêu tiền cúng dường, tôi đều đem ra in kinh sách để phân phát khắp nơi cho mọi người.

Tôi nghĩ: “Nếu kiếp này không liễu đạo, tôi cũng không phải mang lông đội sừng để trả. Vì sao thế? Vì những người nhận kinh sách trả nợ dùm cho tôi”.

Ðem tài vật của những người cúng dường triển chuyển bố thí cúng dường, như vậy, cái phước của những người cúng dường và người nhận sẽ trở nên rộng lớn vô lượng vô biên.

Làm như thế mới gọi là như pháp.

Nếu dùng tài vật của người cúng dường để hưởng thụ cá nhân thì tuyệt đối không thể như Pháp. Cho dù dùng tài vật cúng dường của thí chủ để xây chùa, xây đạo tràng cũng phải vì mục đích hoằng pháp lợi sanh. Ðược như vậy người bố thí cúng dường mới thật sự có công đức. Nếu như ở trong chùa mà không tu hành, cũng chẳng hoằng pháp, ngôi chùa đó sẽ trở thành nơi tranh chấp. Cho nên cất chùa xây đạo tràng phải đặc biệt cẩn thận!

Thầy Lý Bỉnh Nam thường nói rằng:”Khi xây chùa, mọi người là Bồ Tát, sau khi cất xong rồi thành La Sát!”.

Vì sao? Bởi vì tranh dành quyền lợi – biến chất rồi! Sự phát tâm ban đầu đem quăng lên tận chín tầng mây cao!

Cúng dường Pháp sư phải hết sức thận trọng. Phật dạy chúng ta: “Tứ sự cúng dường”. Tứ sự là gì?

1 / Ẩm thực: Pháp sư là người sống ở thế gian, không thể không ăn cơm, cho nên chúng ta cúng dường ẩm thực cho Pháp sư để duy trì mạng sống của họ

2 / Y phục: Pháp sư cũng cần có áo quần để mặc. Nếu áo của Pháp sư cũ rách, ta nên cúng dường cho họ một bộ, khi thấy còn tốt thì không cần thiết cúng dường.

3 / Y dược: Khi Pháp sư có bịnh, chúng ta cúng dường thuốc uống để chữa bịnh cho họ.

4 / Ngọa cụ: Pháp sư cũng cần có chỗ nghỉ ngơi, chúng ta cúng dường giường, mền vân vân.

Thời nay có người đem nhà cửa hoặc những vật quý giá dâng cúng cho Pháp sư khiến cho Pháp sư sống thật sung sướng đến nỗi Tây phương Cực Lạc cũng không muốn đi nữa. Vì ở thế gian này cũng tốt quá rồi, đến Tây phương để làm gì? Cái tâm mong thành Phật đạo, liễu sanh thoát tử tan thành mây khói. Ðiều này đối với việc thành tựu cho pháp sư, đào tạo Pháp sư thật là một tai hại lớn không gì bằng!

Pháp sư xuất gia nghĩa là “cắt ái ly gia”, không có nhà, chúng ta lại tặng cho họ cái nhà, tức là kéo họ về nhà trở lại. Như vậy là hại chết họ rồi, họ có đủ quyền lực, tài sản, thế là không còn ý chí của người xuất gia, chẳng khác gì người phàm tục! Ai đã hại họ? Chính là tín đồ đã hại Pháp sư! Những tín đồ này không biết rằng hành động như vậy là phá hoại Phật Pháp, tổn hại Tam Bảo. Mà họ lại nghĩ rằng mình đã tạo rất nhiều công đức, làm được nhiều việc tốt! Than ôi! Khi mạng chung, đọa xuống địa ngục gặp Diêm Vương, chừng đó còn chối cãi gì được nữa!

Ðứng về mặt tu phước trong nhà Phật, chúng ta cần phải có trí tuệ chân chính và điều này cần phải giải thích rõ ràng. Nhiều Pháp sư không dám nói rõ vì sợ khi nói rõ thì Phật tử, tín đồ không cúng dường nữa. Riêng đối với tôi, tôi chỉ muốn lên Thế giới Cực Lạc ở phương Tây, tôi không muốn ở đây lãnh tội, cho nên tôi hết sức chân thật nói với quý vị rằng: “Tôi không sợ quý vị không cúng dường cho tôi, không cúng dường cũng tốt vì rằng tôi không phải lo lắng đủ điều”.

Chính vì vậy tôi lập “Hội Phật Ðà giáo dục Cơ Kim” chuyên in tặng kinh sách. Tôi dặn dò ông Giảng cư sĩ, phụ trách cơ quan ấn tống kinh sách, luôn áp dụng một nguyên tắc như sau: “Tiền cúng dường nhiều, in sách nhiều, tiền cúng dường ít in sách ít, không có thì không in, vậy là tốt nhất!”.

Bởi vì khi sự cúng dường nhiều lại phải bận tâm lo nghĩ nên chọn bộ sách nào in trước? In như thế nào? Ngược lại, nếu không có cúng dường thì không phải bận tâm, thanh nhàn biết bao! Cho nên mọi người cần phải hiểu.

Không cầu cúng dường, không cầu đạo tràng, điều gì cũng không cầu, tâm sẽ thanh tịnh, đó chính là đạo tâm. Chính mình tu tâm thanh tịnh, giúp người khác tu thanh tịnh tâm. Tuyệt đối xa lìa danh vọng lợi dưỡng, như vậy mới là Phật pháp chân chính.

Muốn thành tựu cho các Pháp sư trẻ, muốn lo lắng cho họ, phải chấp nhận cho họ chịu cực khổ một chút. Ðừng nên nói là thấy họ cực khổ ta không đành. Nếu như vậy là hại chết họ đó!

Lúc Phật Thích Ca còn tại thế, tất cả đệ tử của Ngài chỉ ăn một bữa, ngủ dưới gốc cây, cuộc sống khổ cực thiếu thốn như vậy. Nếu ta nhìn thấy, thật không nhẫn tâm, rồi đem họ về nhà. Như vậy làm sao họ có thể thành đạo được? Trong kinh Phật dạy chúng ta rằng: “Dĩ khổ vi sư” nghĩa là lấy cái khổ làm thầy của mình. Thông thường trong cuộc sống đau khổ, người ta mới có tâm đạo chân chính, mới có tâm niệm cương quyết, vượt ra khỏi thế gian này.

Cho nên khổ là tốt! Chúng ta không kham nổi khổ cực, nhưng khi thấy người khác chịu đựng khổ cực ta phải sanh lòng cung kính, đừng nên gây chướng ngại và lôi kéo họ trở lui. Chúng ta phải chân thành, dựa trên thực tế mà đào tạo Pháp sư, thành tựu Pháp sư. Làm được như thế chúng ta mới có thể mời được Pháp sư, mới có Pháp sư chân chính, tốt lành đến hoằng pháp lợi sanh.

Thứ bảy: THỈNH PHẬT TRỤ THẾ

Như nguyện thứ sáu nói “Thỉnh chuyển pháp luân” mục đích chính là truyền bá Phật pháp. Ðem Phật pháp phổ biến, truyền bá giới thiệu cho mọi người.

Trong cuộc đời của chúng ta, sự tu học muốn đạt đến mức thành tựu, nếu chỉ thỉnh chuyển pháp luân thì chưa đủ. Quý vị thử nghĩ, có ai mới nghe kinh một hai lần mà được khai ngộ đắc quả đâu? Lúc Phật còn tại thế thì có. Sau khi Phật diệt độ rồi không có nữa. Cho nên chúng ta cần phải “thỉnh Phật trụ thế” nghĩa là thỉnh vị thầy tốt thường trụ, để có thể mỗi ngày chỉ dẫn chúng ta, khiến chúng ta trường kỳ được giáo huấn, từ đó mới đạt đến chỗ thành tựu.

Khi tôi còn đi học ở Ðài Trung, có một hôm thầy Lý Bỉnh Nam hỏi chúng tôi: “Cách ngôn dĩ chí” – giống như ngài Khổng Phu Tử hỏi học trò: “Mỗi người tự nói lên chí hướng, nguyện vọng của mình cho thầy nghe”.

Ngài hỏi đến tôi, tôi liền thưa rằng: “Con hy vọng sau này sẽ đi hoằng pháp lợi sanh ở khắp nơi”.

Ngài nghe xong gật đầu và nói: “Tốt lắm, tuy nhiên con chỉ có thể thành tựu cho chính mình, không thể thành tựu cho người khác”.

Tôi hỏi: “Thưa thầy, vì sao thế?”

Ngài trả lời: “Con chỉ đạt tới kết quả là truyền bá Phật Pháp thôi”.

Ngài nói tiếp: “Thầy sống ở Ðài Trung hơn ba mươi năm, do đó người thành tựu mới được nhiều. Nếu ở Ðài Trung, mỗi năm chỉ đến giảng một, hai ngày sẽ không có một người nào thành tựu được.”

Tôi nghe xong hiểu rõ đạo lý thật sự là như vậy, tuy nhiên trong nhà Phật có nói đến duyên phận “Phật bất độ vô duyên chi nhân” nghĩa là Phật không thể độ người không có duyên với Ngài.

Ði khắp nơi để tuyên dương hoằng pháp, dù duyên cạn cũng vẫn có thể độ. Còn nếu trụ ở một nơi để giáo hóa chúng sanh, cần phải có duyên sâu dày lắm mới độ được. Cho nên bao nhiêu năm qua tôi đều đi du hóa ở nước ngoài!

Ðiều này đối với tôi rất tốt. Ðiểm tốt nhất là cái quan niệm có ngôi nhà (Chùa) hoàn toàn nguội lạnh. Mỗi ngày đi đây đó ở khắp nơi (lữ quán) làm sao mà có chùa? Mặc dù có đạo tràng, một năm ở không quá mười ngày, lại tiếp tục đi, tất cả chỉ là như lữ quán thôi. Quan niệm “Nhà”hoàn toàn phá tan rồi, với tôi đây là điều giải thoát, muốn được như vậy không phải dễ, nay tôi đã thật sự thể nghiệm được.

Quý vị muốn thành tựu, nhất định phải “Thỉnh Phật trụ thế”. Phật đã nhập diệt rồi, không phân biệt là người xuất gia, hoặc tại gia cư sĩ, chỉ cần họ là người tu hành chân chính, có học, có đạo hạnh, có thể làm gương mẫu cho chúng ta, chỉ dạy cho chúng ta tu học. Chúng ta đều nên thỉnh họ thường xuyên ở lại nơi đây, khiến cho vùng này được sự giáo huấn trường kỳ, như thế mới có sự thành tựu chân chính. Cho nên ngoài việc muốn thành tựu “thỉnh chuyển pháp luân”, nhất định phải phát tâm chân chính “thỉnh Phật trụ thế”. Nếu chúng ta là người Phật tử thuần thành, thật sự muốn đạt được lợi lạc trong Phật pháp, chúng ta phải dẫn đầu trong việc lễ thỉnh Pháp sư, Ðại đức ở một chỗ và tận tâm tận lực cúng dường.

Những vị Ðại đức chân chính, cuộc sống của họ rất đơn giản, rất dễ chiếu cố, đây là đạo lý tất yếu.

Ðạo tràng là nơi tiếp đón đại chúng. Do đó phải trang nghiêm, nếu không người ta sẽ nghĩ: “Ðạo tràng này chắc cũng chẳng ra gì!”.

Nếu như đạo tràng trang nghiêm đẹp đẽ họ sẽ nghĩ: “Ồ! Chỗ này chắc cũng được lắm” và tự nhiên sanh tâm vui vẻ cung kính.

Bởi vì, đa số người ta chỉ ham chuộng bề ngoài, không biết được nội dung bên trong. Do đó, chúng ta cũng cần phải làm cho hình dáng bên ngoài coi được một chút mới thu hút nhiều người tới. Mặc dù nói người biết được gía trị của đồ vật không chuộng bề ngoài, nhưng để hấp dẫn đại chúng, một đạo tràng trang nghiêm cũng cần thiết lắm.

Tuy nhiên, đạo tràng càng trang nghiêm lộng lẫy bao nhiêu, nơi sinh hoạt ăn ở của người tu thì phải hết sức đơn giản. Cảnh này nếu chúng ta đi qua Trung Hoa lục địa sẽ thấy rõ. Chùa ở Trung quốc xây theo kiểu cung điện của Vua, vô cùng trang nghiêm. Tuy nhiên, phòng ở của người xuất gia thì lại rất đơn sơ, phòng của trụ trì cũng thế. Ðiểm này cho ta thấy bề mặt lộng lẫy trang nghiêm của đạo tràng, mục đích là để thu hút đại chúng.

Chúng ta cần quan sát để hiểu, sau đó mới biết nên dùng thái độ gì, phương pháp và nghi thức nào để “thỉnh Phật trụ thế”, khiến Phật pháp thật sự ở một địa phương có thể xuống gốc ra rễ, khai hoa, kết trái.

Trong mười nguyện Phổ Hiền, bảy nguyện ở trên là hạnh nguyện của Bồ Tát, ba nguyện sau là hạnh hồi hướng của Bồ tát.

Thứ tám: THƯỜNG TÙY PHẬT HỌC

Thường tùy Phật học là nói cho ta rõ: Phật là tấm gương, là điển hình, là mô phạm cho chúng ta học hỏi. Nay Phật không còn tại thế, kinh điển của Ngài vẫn còn, chúng ta y theo kinh điển tu hành. Ðó là “Thường tùy Phật học, là tiêu chuẩn tối cao cần có để tu học Phật pháp”.

Thứ chín: HẰNG THUẬN CHÚNG SANH

Nghĩa là đối với tất cả hữu tình chúng sanh nhất định phải thuận. “Thuận” là điều rất khó làm, cho nên người Trung quốc nói chữ “Hiếu” kế tiếp nói chữ “Thuận”, không thuận tức là không hiếu. Học Phật là tận đại hiếu, thuận chúng sanh, ở trong hằng thuận để quán cơ duyên, hướng dẫn chúng sanh bỏ ác làm lành, giúp họ phá mê khai ngộ. Nhất định phải biết rõ nhân duyên thời tiết, khi nào, phải làm gì? Ðược như vậy mới gặt hái được kết quả lợi ích viên mãn. Cho nên phải có trí tuệ, phương tiện thiện xảo mới có thể hằng thuận chúng sanh.

Thứ mười: PHỔ GIAI HỒI HƯỚNG

Là đem tất cả những công đức mà chúng ta tu học được đều hồi hướng trọn vẹn đến tất cả Pháp giới chúng sanh, hồi hướng Bồ đề, hồi hướng đến Thật tế, trải rộng tâm lượng của chúng ta đến tận hư không, khắp pháp giới, đó chính là chân ngã. Ðạt đến cảnh giới này mới gọi là đại viên mãn.

Tóm lại, những y cứ của Tịnh độ Tông mà chúng ta tu học đó là “Ngũ Kinh, Nhất Luận” (năm quyển kinh, một quyển luận). Năm kinh gồm: A Di Ðà, Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, Phẩm Phổ Hiền Bồ Tát trong kinh Hoa Nghiêm, chương Ðại Thế Chí niệm Phật viên thông trong kinh Lăng Nghiêm.

Nhất luận là Vãng sanh luận của Bồ Tát Thiên Thân).

Về phương pháp tu học có năm đề mục:Tam phước (ba thứ phước)

1.Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu mười thiện nghiệp.

2.Thọ trì tam qui, cụ túc chúng giới, bất phạm uy nghi.

3.Phát bồ đề tâm, thâm tín nhân quả, đọc tụng đại thừa, khuyến tấn hành giả.

– Lục hòa

– Tam học: Giới, định, tuệ

– Lục độ

– Thập đại nguyện vương

Những đề mục trên rất đơn giản rõ ràng, không một chút phức tạp. Chúng ta trọn đời dựa theo nguyên tắc này để tu học, quyết định thành tựu, đúng như lời cổ đức “Vạn người tu vạn người vãng sanh”.

Chúng ta có luận cứ rồi, có phương pháp tu hành rồi. Nhưng trong sinh hoạt hàng ngày, chúng ta dùng thái độ gì, tâm thái nào khi chúng ta đối với người, với vật? Làm theo năm đề mục trên đây thì nhất định không sai. Sau đó nhất tâm niệm Phật cầu vãng sanh, không một ai mà không thành tựu.

MƯỜI ÐIỀU TÂM NIỆM

1/ Nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không bệnh khổ, vì không bệnh khổ thì dục vọng dễ sinh.

2/ Ở đời đừng cầu không hoạn nạn, vì không hoạn nạn thì kiêu sa nổi dậy.

3/ Cứu xét tâm tánh thì đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo.

4/ Xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không bị ma chướng, vì không ma chướng thì chí nguyện không kiên cường.

5/ Việc làm đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng khinh thường kiêu ngạo.

6/ Giao tiếp đừng mong lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa.

7/ Với người đừng mong đều thuận theo ý mình, vì thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng.

8/ Thi ân đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp là thi ân có mưu đồ.

9/ Thấy lợi đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si mê phải động.

10/ Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là nhân ngã chưa xả.

Lời Phật dạy:

Lấy bệnh khổ làm thuốc thần

Lấy hoạn nạn làm giải thoát

Lấy khúc mắc làm thú vị

Lấy ma quân làm bạn đạo

Lấy khó khăn làm thích thú

Lấy kẻ tệ bạc làm người giúp đỡ

Lấy kẻ chống đối làm nơi giao du

Coi thi ân như đôi dép bỏ

Lấy xả lợi làm vinh hoa

Lấy oan ức làm cửa ngỏ đạo hạnh.

Thế nên, ở trong chướng ngại mà vượt qua tất cả. Ðức Thế Tôn được giác ngộ chính trong mọi sự chướng ngại. Ương Quật hành hung, Ðề Bà khuấy phá, mà Ðức Phật giáo hóa cho thành đạo tất cả. Như vậy há không phải sự tác nghịch là sự giúp đỡ cho ta ?

Ngày nay những người học Ðạo, trước hết không dấn mình vào mọi sự trở ngại, nên khi trở ngại xáp tới thì không thể nào đối phó. Chánh Pháp chí thượng vì vậy mà mất tất cả đáng tiếc đáng hận biết ngần nào ?

Trích “LUẬN BẢO VƯƠNG TAM MUỘI”

The post Mười Nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Lý tưởng Bồ Tát: Một tia sáng trong bóng tối của thời đại chúng ta https://bachhac.net/ly-tuong-bo-tat-mot-tia-sang-trong-bong-toi-cua-thoi-dai-chung-ta.html Fri, 13 Aug 2021 05:16:33 +0000 https://bachhac.net/?p=3609 Bài này là chương IV trích từ quyển Living Buddhism for the West do Maurice Walshe dịch từ tiếng Đức (Buddhismus fur das Abendland), NXB Shambala, Mỹ, 1991, trang 72-93. Những chú thích của tác giả sẽ được ghi là của tác giả. Những chú thích còn lại là của Tổ dịch thuật Trúc Lâm …

The post Lý tưởng Bồ Tát: Một tia sáng trong bóng tối của thời đại chúng ta appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Bài này là chương IV trích từ quyển Living Buddhism for the West do Maurice Walshe dịch từ tiếng Đức (Buddhismus fur das Abendland), NXB Shambala, Mỹ, 1991, trang 72-93. Những chú thích của tác giả sẽ được ghi là của tác giả. Những chú thích còn lại là của Tổ dịch thuật Trúc Lâm

— o0o —

Ly tưởng bồ tát

Lời giới thiệu: Tác giả Lama Anagarika Govinda

Lama Anagarika Govinda là tu sĩ Phật giáo, học giả, giáo sư Phật học, và họa sĩ người Đức. Thế danh của ông là Ernst Hoffman. Ông sinh năm 1898 ở Waldheim (Đức) và mất 1985 ở California (Mỹ). Ông tu theo đạo Phật lúc 18 tuổi. Năm 30 tuổi ông sang Tích Lan và Miến Điện học đạo rồi sau đó thực hành Mật giáo Tây tạng. Ông sống ở Darjeeling, dưới chân dãy núi Hy Mã Lạp Sơn trong nhiều năm, dạy ở Đại học Patna và Shantiniketan, vùng Tây Bengal, Ấn Độ (Đại học do văn hào Ấn Độ Rabindranath Tagore thành lập), dạy Phật học tại nhiều đại học ở châu Âu, Á, Phi, và Mỹ, và thành lập đạo tràng Arya Maitreya Mandala tại Ấn Độ, Đức và Mỹ. Ông sang Mỹ hành đạo từ năm 1967. Ông được xem như một trong những người có công lớn đưa Phật giáo vào phương Tây và là nhịp cầu hiện đại nối liền văn hóa Đông Tây.

Ông để lại nhiều tác phẩm Phật học có giá trị và đựơc dịch ra nhiều thứ tiếng. Tác phẩm chính của ông là Nền tảng Mật giáo Tây Tạng (Foundations of Tibetan Mysticism, NXB Samuel Weiser, Mỹ, 1969), Thái độ tâm lý trong triết học Phật giáo nguyên thủy (The Psychological Attitude of Early Buddhist Pholosophy, NXB Rider, Anh, 1969), Con đường mây trắng (The Way of the White Clouds, NXB Shambala, Mỹ, 1988, được Tiến sĩ Nguyễn Tường Bách dịch từ tiếng Đức sang tiếng Việt, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 1999), Cấu trúc nội tại của Kinh Dịch (The Inner Structure of The I Ching, NXB Weatherhill, Mỹ, 1981), Biểu tượng tâm lý và vũ trụ của các bảo tháp Phật giáo (Psycho-cosmic Symbolism of the Buddhist Stupa, NXB Dharma, Mỹ, 1976), Thiền định sáng tạo và tâm thức đa diện (Creative Meditation and Multi-Dimensional Consciousness, NXB Quest, Mỹ, 1979), Suy tưởng Phật giáo (Buddhist Reflections, NXB Samuel Weiser, Mỹ, 1991), Đạo Phật đi vào cuộc sống phương Tây (Living Buddhism for the West, NXB Shambala, Mỹ, 1990).

—o0o—

Lý tưởng khác với chủ nghĩa giáo điều ở chỗ nó không khép kín. Lý tưởng thúc đẩy và khuyến khích sự tự do quyết định của cá nhân, và do đó, khác với chủ nghĩa giáo điều, nó không cần sự biện hộ của tư liệu lịch sử hay lý luận. Lý tưởng có sức thuyết phục trực tiếp vì nó luôn tạo niềm cảm hứng mới mẽ cho con người và giúp con người định hướng một cách sáng tạo cho tương lai. Nhờ chính điều này mà lý tưởng có giá trị ngay trong hiện tại và cho chính cuộc sống hiện tại.

Lý tưởng Bồ tát cũng thế. Nó đã có ảnh hưởng lớn trên đời sống, tư tưởng và hành động của người Phật tử trong suốt hơn hai ngàn năm nay, mà không cần sự biện minh của triết học kinh viện, chủ thuyết giáo điều hay các dữ kiện lịch sử tôn giáo. Lý do chính là vì nó là sự thể hiện thường trực của một nội tâm có sức mạnh chuyển hóa và kêu gọi con người thực hiện mục tiêu cao cả mà Đức Phật đã soi sáng cho chúng ta bằng chính tấm gương cuộc đời Ngài.

Đây không phải là con đường giản dị và dễ dàng. Bất cứ ai bắt đầu đi trên con đường này sẽ cảm thấy trách nhiệm ngày càng lớn và tự thân người đó sẽ dần dần vượt ra khỏi cái thế giới an toàn, nhỏ bé, và dễ nhận biết của những tình cảm vui buồn cá nhân để cống hiến tất cả năng lực của mình cho hoạt động vì lợi ích tất cả chúng sanh. Đây không phải là chỗ trú yên tĩnh cho những ai muốn thoát ly cuộc đời. Ở đây, vấn đề mấu chốt là làm sao chủ động “đi qua” cuộc đời nầy. Nói khác đi, con đường này không đưa chúng ta “ra khỏi cuộc đời” mà “đi xuyên và vượt qua bên kia cuộc đời.” Những ai đi trên con đường này đều cảm thấy nội tâm tràn đầy hạnh phúc khi họ bắt đầu cảm nhận là họ đã hòa nhập làm một với tất cả muôn loài. Và như thế, ngày hôm nay và mãi về sau, lý tưởng Bồ Tát luôn kêu gọi những tình cảm sâu kín nhất từ trong trái tim của mỗi người chúng ta. Nó thắp lên trong lòng chúng ta ngọn lửa hiến dâng vì một mục đích cao cả và vĩ đại, chúng ta sẵn sàng làm bất cứ hy sinh nào mà vẫn không cảm thấy đó “là” một sự hy sinh.

Ngày xưa khi đức Phật còn sống bên cạnh các đệ tử của Ngài cuộc đời Ngài là sự thể hiện sống động của lý tưởng Bồ Tát. Nên lúc đó không có nhu cầu đặt ra những lý thuyết hay triển khai những ý kiến và quan niệm về bản chất của Bồ Tát Đạo. Nhưng sau khi Thế Tôn nhập diệt, lần đầu tiên trong đời, các đệ tử của Ngài mới cảm nhận được toàn bộ sự vĩ đại của Ngài, giống như chúng ta chỉ có thể thấy được toàn bộ bề cao và chiều rộng của một ngọn núi khi chúng ta đứng nhìn nó từ một khoảng cách không gian nào đó. Cũng tương tự như thế từ một khoảng cách thời gian nào đó nhìn về Đức Phật hình ảnh đức Phật đã ngày càng hiện rõ hơn trong trái tim của những người con Phật. Hình ảnh ấy mỗi lúc một hoàn chỉnh hơn, để rồi cuối cùng Đức Phật đã được cảm nhận hoàn toàn như thật rằng: Ngài là chính là người mà qua tấm gương của cuộc đời ngài đã chỉ ra con đường mà mỗi Phật tử chân chánh phải đi—đó là con đường lý tưởng Bồ Tát nhằm phục vụ tất cả chúng sanh, con đường dẫn chúng ta đến một mục đích cao thượng–mục đích của sự giác ngộ toàn thiện mà thực chất là một sự tỉnh thức vĩ đại.

Cho nên, mặc dù sách vở viết về Bồ Tát đạo ra đời tương đối muộn, lý tưởng Bồ Tát không phải là “phát minh” của những thế kỷ sau khi Phật nhập Niết Bàn (parinirvana). Trái lại, nó là một trong những tư tưởng then chốt của Phật giáo Nguyên thủy. Điều này được thể hiện rõ ràng qua các Chuyện Tiền Thân Đức Phật (Jàtakas) thuộc truyền thống xưa nhất của Phật giáo và những chuyện này rõ ràng đã có ảnh hưởng rất lớn trên toàn thể văn hóa Phật giáo qua hàng mấy ngàn năm trên toàn Châu Á, trong văn chương, hội họa và điêu khắc ở các vùng Nam, Trung và Đông Á. Để chứng minh điều này, chúng ta chỉ cần nêu lên vài thí dụ như các bích họa và tượng điêu khắc ở hang động Ajanta và những chạm trỗ kỳ diệu của thánh tích Borobudur.

Ajanta là một làng ở tỉnh Maharashtra, miền trung Ấn Độ, nổi tiếng với 29 hang động trong một khe suối sâu. Đây là một tu viện và đền thờ Phật giáo đuợc xây vào thế kỷ thứ II sau công nguyên với những bích họa, tường và tuợng điêu khắc đẹp nổi tiếng thế giới. Borobudur là di tích Phật giáo ở Java (Nam Dương), xây khoảng thế kỷ thứ VII sau công nguyên. Trên một ngọn đồi thấp gần Jogjakarta, Borobudur có hơn 3 km tường đá bao quanh theo hình bậc thang, được chạm trổ tuyệt đẹp theo các chuyện trong kinh điển Phật giáo, nhất là Kinh Hoa Nghiêm. Trên đỉnh là một bảo tháp lớn với các tháp nhỏ bao quanh, mỗi tháp chứa một tượng Phật bên trong. Từ trên nhìn xuống, Borobudur giống như một Mandala vĩ đại. Ajanta và Borobudur được cơ quan Liên Hiệp Quốc UNESCO xếp hạng là Di sản văn hóa thế giới.

Là Phật tử, chúng ta không nhất thiết phải tin vào những chuyện tái sinh này, mặc dù trong các bài thuyết giảng, Đức Phật có đề cập đến tiền kiếp của Ngài. Với tinh thần này, chúng ta không xem Phật giáo là một giáo điều. Nhưng qua những chuyện tiền thân này, chúng ta thấy rõ ràng và sống động cái lý tưởng nền tảng của Đạo Phật: Đó là tinh thần vô ngã, sẵn sàng hy sinh bản thân mình vì lòng từ bi, và dẹp bỏ quyền lợi riêng của mình vì lợi ích của người khác. Đây là con đường mà Đức Phật, qua tấm gương sinh động của đời Ngài, đã vạch ra, và qua những bài giảng về giáo lý và phương pháp thiền định, đã truyền đạt cho các đệ tử của Ngài.

Rồi trên mảnh đất Ấn, trong những thế kỷ đầu sau thời đức Phật, những tính khí khác nhau va những tâm lý quá hướng nội hoặc quá hướng ngoại trong hàng đệ tử Phật đã làm nẩy sinh những khác biệt trong sự đánh giá và diễn giải một số lời giảng dạy của Đức Phật. Từ đó, những con đường thể hiện Đạo Phật khác nhau đã ra đời và dẫn tới sự tranh luận giữa lý tưởng A La Hán (Arahat) và lý tưởng Bồ tát. Sự phát triển của cuộc tranh luận này về sau đã dẫn đến niềm tin cho rằng Hệ phái Phật giáo nguyên thủy, đã từng bị biệt lập tại Tích Lan trong nhiều thế kỷ, đem mục tiêu cao nhất của quá trình tu tập là thực hiện (và cùng với Hệ phái nầy là toàn bộ truyền thống kinh tạng Pali) lý tưởng A La Hán, giống như mười tám trường phái “Tiểu thừa” mà thực chất đã biến mất từ lâu trong lịch sử Phật giáo. Tuy nhiên chính trong hệ kinh tạng Pàli, chúng ta đã tìm thấy một trong những lời phát nguyện xưa nhất của Bồ tát như sau:

Qua việc thành tựu tất cả hạnh Ba la mật: trì giới, xuất gia (từ bỏ các dục, kiết sử…), trí tuệ và các hạnh còn lại (như bố thí, tinh tấn, nhẫn nhục, chân thật, quyết tâm, tâm từ và tâm xả), qua việc thực hành rốt ráo nhất các hạnh Ba la mật này, xin cho con đạt đến quả vị Phật tối thượng.

Bản Pali: Sila-nekkhamma-pannadim, puretva sabba-paramim, parami-sikkham patva, Buddho hessam anuttaro. Trưởng lão Anagarika Dharmapala, nguòi sáng lập Hội Đại Bồ Đề (Maha Bodhi Society) ở Tích Lan năm 1891, đã cho chư tăng của Hội tụng niệm lời phát nguyện này trong các thời công phu (puja) mỗi ngày (tác giả chú thích). Mục đích chính của Hội Đại Bồ Đề là khôi phục lại thách tích Bodh Gaya và Đạo Phật ở Ấn Độ.

Lời phát nguyện của vị Bồ tát trên đây cho thấy chúng ta không thể hiểu một cách đơn giản là Phật giáo Nguyên thủy là một bộ phận của Phật giáo Tiểu thừa: Vì rằng khi có sự phân biệt về ý thức hệ giữa Phật giáo Tiểu thừa và Đại thừa, Phật giáo Nguyên Thủy đã biến mất từ lâu trên đại lục Ấn, ngoại trừ một nhóm nhỏ biệt lập gần Amaràvatì ở phía Nam. Cũng trong nội dung nầy, chúng ta nên ghi nhận thêm một sự kiện là “tất cả” các hệ phái Phật giáo đều công nhận giá trị thật sự của hệ thống kinh tạng Pali. Dĩ nhiên Phật giáo Nguyên thủy là một trong những hệ phái xưa nhất và nhờ sự kiện nó bị biệt lập tại Tích Lan trong một thời gian dài, nó đã bảo lưu được toàn bộ hệ thống kinh sách hơn bất kỳ trường phái nào. Tuy nhiên chúng ta sẽ sai lầm nếu cho rằng chỉ những kinh sách thuộc hệ Pali mới là “lời nói thật sự của Đức Phật” và rằng Đức Phật là người nói tiếng Pali. Sự thật là, Đức Phật nói tiếng Ma-kiệt-đà (Màgadhì), một ngôn ngữ thuộc miền bắc Ấn Độ, ngôn ngữ ấy về sau được dịch sang tiếng Phạn và Pali, lúc đầu dưới dạng truyền khẩu, và sau đó, qua nhiều lần được xét duyệt tại các kỳ kết tập kinh điển, được viết lại thành văn (khoảng 90 năm trước công nguyên).

Như vậy việc sưu tầm kinh điển đã được nhiều hệ phái Phật giáo khác nhau thực hiện cùng lúc và tiếp tục tồn tại song song nhau. Phần lớn các bộ kinh được sưu tập hiện nay chỉ còn lại những mảng lẻ tẻ, đa phần được dịch ra Tạng ngữ hoặc Hán ngữ. Ngay cả những người ủng hộ Phật giáo Đại thừa nhiệt thành nhất cũng chưa bao giờ nghi ngờ tính xác thực của kinh tạng Pàli và sự thành tâm của những người theo hệ này. Nhưng những người theo Phật giáo Đại thừa và các học phái khác bác bỏ ý kiến cho là chỉ có kinh tạng Pàli mới là nguồn tài liệu xác thực duy nhất của Phật âm. Điều này cho thấy rõ rằng, các đệ tử nghiêm túc khác của đức Thế Tôn thời ấy cũng đã ghi chép và bảo lưu các mặt khác nhau của lời Phật dạy. Điều này đã được chính truyền thống Phật giáo Nguyên thủy công nhận, thể hiện ở việc họ ghi nhận sự hiện diện của trưởng lão Phú Lâu Na (sthavira Purana) cùng 500 vị Tỳ kheo tại Kỳ kết tập kinh điển lần thứ nhất sau khi các Thượng tọa đã biên tập và đúc kết lời giảng của Đức Phật thành kinh sách. Tại Đại hội, sau khi được nghe qua kết quả việc kết tập các kinh điển và được Đại hội kêu gọi sự đồng ý, Trưởng Lão Phú Lâu Na khen là việc kết tập kinh điển đã được tiến hành rất tốt nhưng ngài cho biết là ngài vẫn thích “ghi nhớ lại những lời dạy mà bản thân ngài được nghe từ chính kim khẩu của đức Thế Tôn” hơn. Phát biểu xong, Ngài cùng với các vị Tỳ kheo rời Đại hội.

Tinh thần tự do trong việc ghi nhận và bảo tồn lời giảng dạy của Đức Phật cũng đã được Tổ Huệ Năng (Tổ thứ sáu của dòng Thiền Trung Quốc) xác nhận khi ngài tuyên bố: “Những kinh sách Đại thừa, Tiểu thừa và mười hai bộ kinh đã được kết tập để thích hợp với tính khí và nhu cầu khác nhau của nhiều người.”

Vì thế những người có khuynh hướng suy luận trừu trượng và triết học đã đi vào việc nghiên cứu Luận tạng (Abhidharma). Những vị khác, với đầu óc ít triết lý hơn, thích những vấn đề đạo đức được nêu trong các Kinh (Sutras), trong khi những ai quan tâm đến nếp sống tu viện thì quay về với Luật tạng (Vinaya). Nhưng những ai rung cảm sâu sắc với con người của Đức Phật thì tập trung quán tưởng cuộc đời và công phu tu tập đến chỗ toàn thiện xuất chúng của Đức Thế Tôn và xem những chuyện tiền thân là những tác phẩm thể hiện hoàn hảo nhất lý tưởng của họ.

Trên quan điểm lịch sử tôn giáo, chúng ta cần lưu ý rằng cái mà các hệ phái Phật giáo gọi là ‘Tạng thứ ba’ (Abhidharma Pitaka hay Luận tạng), cùng với những bài kinh khác thật ra chỉ là bản tóm tắt giáo lý Phật một cách hệ thống được thực hiện sau khi Phật nhập diệt (parinirvana). Các pháp thiền trong Luận tạng được biên soạn một cách hệ thống kèm theo các định nghĩa và phân loại các trạng thái tâm lý là công trình triết học kinh viện mà về mặt lý luận và nhất quán đều dựa trên cơ sở của những lời Phật dạy.

Cũng giống như thế, chính bản thân Đức Phật không chế đặt ra Lý tưởng Bồ tát. Lý tưởng Bồ Tát đã được những vị chọn đi theo con đường của Đức Thế tôn xiển dương, chủ yếu không phải vì những lời thuyết giảng mà vì chính cuộc đời mẫu mực của Đức Phật—một cuộc đời thể hiện đúng chánh Pháp. Kiên trì với lý tưởng này, các vị tu hạnh Bồ tát lấy nếp sinh hoạt thường ngày, quá trình tu tập phát triển tâm linh, và những hoạt động hy sinh vì lợi ích chúng sanh của Đức Thế Tôn làm lý tưởng và ngôi sao dẫn đường cho cuộc đời và việc tu tập của họ. Còn gì thuyết phục người đệ tử Phật hùng hồn hơn, giữa những cuộc tranh luận của các quan điểm và dư luận trái ngược nhau, là chính cuộc đời mẫu mực của Đức Phật? Ngay cả những lúc thời thế thay đổi, người đời có thể diễn dịch lời dạy của Đức Phật theo những cách khác nhau, nhưng tấm gương cuộc đời của Đức Phật vẫn là thứ ngôn ngữ vượt thời gian mà ngày nào con người còn sống trên trái đất này, ở bất cứ thời đại nào, cũng có thể hiểu được. Điều này giải thích sự thành công đáng ngạc nhiên của tác phẩm Ánh Sáng Á Châu (The Light of Asia) của Ngài Edwin Arnold (1879)–tác phẩm đã thuyết phục nhiều người hướng về đạo Phật hơn là những bài dịch các bản kinh gốc thật chính xác về ngữ học hay những bài luận văn về triết học tôn giáo, mặc dù những tác phẩm này rất có giá trị và cần thiết.

Sự kiện nầy cho chúng ta thấy rõ là đối với nhân loại, nhân cách của Đức Phật và những biểu tượng sâu sắc, mang tính lịch sử hoặc thần thoại, về cuộc đời Ngài mà nội dung chính là sự tu tập và phát triển tâm linh có một giá trị vô cùng to lớn, to lớn hơn cả mọi hệ thống triết học dựa trên lời Ngài dạy hay phương pháp phân loại trừu tượng của văn học A tỳ đàm (Abhidhamma). Vì có sự diễn đạt nào tế nhị và sâu sắc hơn về tinh thần vị tha, giáo lý Vô ngã, Tứ đế, Bát thánh đạo, Duyên Khởi, và con đường giải thoát và giác ngộ toàn thiện hơn cuộc đời của Đức Phật, một cuộc đời bao gồm cả tầm cao và chiều sâu của vũ trụ? Phải chăng toàn bộ cuộc đời và hoạt động của Ngài là sự thể hiện sống động cái cốt lỏi của đại nguyện Bồ tát: ‘Xin cho con thành tựu giác ngộ vô thượng vì lợi ích của tất cả chúng sanh’?

Như một họa sĩ chọn các bậc thầy lớn trong ngành hội họa làm mẫu mực để noi theo mặc dù người này chưa biết khi nào mình sẽ thành đạt như các bậc thầy mình, những ai tìm cầu sự phát triển tâm linh đều phải hướng đến một mô hình lý tưởng cao nhất dựa trên sự hiểu biết của họ, và điều này sẽ giúp họ nỗ lực và phấn đấu hơn để thực hiện lý tưởng của họ. Không ai biết trước được khả năng sáng tạo của mỗi con người. Nhưng chắc chắn sự tinh tấn mãnh liệt và sức mạnh của lòng tận tụy vì lý tưởng sẽ quyết định năng lực sáng tạo nầy để rồi những ai muốn tìm cầu mục tiêu tối thượng nhất với toàn bộ năng lực tâm linh của mình sẽ tìm thấy ở chính bản thân họ sức mạnh vĩ đại nhất và cùng với việc này, những mặt giới hạn của họ sẽ dần tan đi trong khoảng không vô tận.

Đối với người đã chọn con đường này, vấn đề có hay không một vị Phật xuất hiện trong kiếp (kalpa) này không là điều quan trọng.

Kiếp được dịch từ Phạn ngữ Kalpa, tiếng Anh là Eon, có nghĩa là một khoảng thòi gian dài không thể nghĩ bàn được của thế giới từ lúc thành lập đến lúc bị hủy diệt. Một Kalpa có 4 giai đoạn: hủy diệt, hỗn loạn, tái lập, và trưởng thành. Kalpa có thể dài hay ngắn. Trong văn chương Phật học, thông thưòng một Kalpa ngắn là 16.8 triệu năm. Kalpa dài là 1,347 triệu năm.

Người ấy sẽ và phải luôn hành động với tâm niệm là công phu tu tập của họ sẽ giúp cho vị Phật tương lai ra đời. Có một điều quan trọng hơn cả tất cả những suy đoán về việc có bao nhiêu đức Phật xuất hiện trong một kiếp và đã được mọi trường phái Phật giáo chấp nhận. Đó là quan niệm cho rằng các bậc giác ngộ xuất hiện theo một chu kỳ ẩn tàng trong vũ trụ. Điều này có nghĩa là cho dù sự xuất hiện của bậc Chánh Đẳng Giác (samyak-sambuddha) rất hiếm khi xảy ra, nhưng ‘chủng tử’, tiềm lực và xu hướng dẫn đến sự hiển lộ của “tâm thức giác ngộ” (bodhicitta hay bồ đề tâm) là tiềm tàng khắp trong vũ trụ và, do đó, tiềm tàng trong từng chúng sanh và chỉ chờ dịp để được đánh thức mà thôi.

Khi nguyên tắc căn bản này đã được công nhận, vấn đề biểu số không còn quan trọng nữa. Chẳng hạn, các trường phái Phật giáo thuộc hệ Bắc tông (dù các trường phái nầy cho rằng các chư Phật thể hiện những khuôn mẫu lý tưỏng và đức hạnh tâm linh khác nhau cùng ra đời trong một kiếp) không bác bỏ sự tồn tại của vô số chư Phật và Bồ tát khác, và họ chỉ nhấn mạnh khả năng bừng ngộ của tất cả muôn loài ở tất cả các mức độ phát triển tâm linh khác nhau. Vì trong một cảnh giới mà thời gian và không gian không còn tác dụng, tất cả những quan niệm mang tính giáo điều hoặc dựa trên các con số đều không còn ý nghĩa nữa. Nói một cách tích cực hơn, điều này có nghĩa là: Thế giới tâm linh không có giới hạn nào khác ngoài những giới hạn mà chính nó tự tạo ra.

Hiểu như thế thì trong truyền thống Đại Thừa, sự ra đời của vô số chư Phật và Bồ tát chỉ là sự diễn đạt ý niệm cho rằng sự chứng ngộ có thể thành tựu ở bất cứ lúc nào và tại bất cứ nơi nào, và nó không tùy thuộc vào thiên tượng, điều kiện địa phương hoặc một số hoàn cảnh đặc biệt nào đó. Từ đó, chúng ta suy ra rằng, trong Phật giáo, không có hiện tượng phép mầu hiểu theo nghĩa là một thách thức hay một sự phá vỡ trật tự đang có trong cuộc sống. Cái mà chúng ta gọi là “những phép mầu thật ra chỉ là những biểu hiện đột xuất từ một trạng thái tâm thức trong chúng ta. Phép mầu không phải là những biến cố đặc biệt của thế giới tự nhiên mà là những trạng thái tâm thức đặc biệt. Đó là lý do vì sao đức Phật gọi sự chuyển hóa tâm là “sự chuyển hướng trong vùng sâu thẳm nhất của tâm thức” chúng ta – nghĩa là, sự chuyển hướng từ một thái độ chấp ngã sang thái độ vô ngã – và chỉ có sự chuyển hướng nầy mới thật sự xứng đáng mang tên là mầu nhiệm.

Sự mầu nhiệm này sẽ đến khi chúng ta bắt đầu ý thức về khả năng giác ngộ ở chính mình và khi tâm thức giác ngộ bắt đầu chỉ đạo cuộc đời chúng ta. Tâm Bồ đề, một khi lóe lên trong ta, sẽ đem lại cho đời ta một ý nghĩa mới và một định hướng không gì lay chuyển được trên đường tiến đến mục tiêu vĩ đại. Sự thay đổi cơ bản trong thái độ tinh thần và tình cảm nầy là sự kiện quan trọng duy nhất. So với điều này, mọi cố gắng để “thống kê” số người có khả năng thành tựu quả vị giác ngộ trong thời hạn nào đó chỉ là những hý luận, cũng giống như một số người hời hợt nhân danh “khoa học” phê phán lý tưởng Bồ Tát đã cố gắng tìm cách xác định thời gian cần thiết để con người có thể thành tưụ quả vị giác ngộ.

Sự phi lý của cố gắng trên đã được đề cập đến trong kinh Lăng già (Lankavatara Sutra) trong một đối thoại sâu sắc giữa đức Phật và ngài Đại Tuệ (Mahamati).

Xin xem thêm T.D. Suzuki, Nghiên cưú Kinh Lăng Già (Tỳ Kheo Thích Chơn Thiện và Cư Sĩ Trần Tuấn Mẫn dịch sang tiếng Việt), Giáo hội Phật Giáo Việt Nam xuất bản, TP Hồ Chi Minh, 1992

Như phần lớn những người hoài nghi đương thời, ngài Đại Tuệ thắc mắc không biết làm thế nào và khi nào ngài sẽ được giải thoát và muốn biết ngay bây giờ khả năng đạt đến Niết Bàn của một vị Bồ Tát. Ngài thỉnh cầu “Xin Thế Tôn chỉ dạy cho chúng con, làm thế nào để các vị Bồ tát chắc chắn thành tựu quả Niết Bàn?” Phật trả lời, “Này Đại Tuệ, cái chắc chắn này thì không phải là cái chắc chắn dựa trên con số hay logic, cái chắc chắn này không đến từ tư duy mà đến từ tâm thức. Cái chắc chắn [đạt đến Niết bàn] của vị Bồ Tát đến từ sự hiển bày của trí tuệ xuất hiện khi các triền cái tham độc được trừ khử, khi các phiền não chướng ngại được quét sang một bên, khi tấm lòng vô ngã vị tha được mở rộng một cách trong sáng và đón nhận trong kiên trì.”

Câu cuối của đoạn trích trên cho thấy khá rõ ràng là Bồ Tát Đạo không khác chút nào với Bát Chánh Đạo của Đức Phật và do đó, không có chỗ cho những tư tưởng xằng bậy như “việc kềm giử tham dục một cách ý thức” mà các người chống đối lý tưởng Bồ Tát thường vu khống. Nuôi dưỡng trí tuệ sâu dày qua việc thiền định, chế ngự và khắc phục tham dục qua việc giử gìn giới luật, khai sáng hiểu biết qua việc học tập, đạt đến trạng thái vô ngã (nairatmya) qua tấm lòng vị tha và tâm tỉnh giác – đây là những chỗ dựa trụ cốt của lý tưởng Bồ Tát.

Tư tưởng cho rằng ta phải tự độ trước rồi mới có thể độ người khác là một sự thật chỉ đúng một nửa và đầy nguy hại. Cuộc sống luôn cho chúng ta thấy là chúng ta không thể nào tự giúp mình nếu cùng lúc chúng ta không giúp người khác, vì không phải sự thành công hay kết quả thấy được bên ngoài mà chính cái động lực, thái độ nội tâm, nhu cầu và tinh thần sẵn sàng giúp người mới là quan trọng. Chỉ với tấm lòng sẵn sàng giúp người thôi cũng đủ để phá vỡ bức tường ngăn cách chúng ta với người khác và giải thoát chúng ta khỏi sự cô đơn vốn là nét nổi bật của thời đại chúng ta và giúp chúng ta vượt lên trên chính mình.

Người nào hiểu được lý tưởng Bồ Tát rồi sẽ bị thôi thúc bởi tinh thần sẵn sàng giúp đở và hổ trợ người khác trên lộ trình của họ và giảng dạy người khác về Bồ tát đạo—với trình độ hiểu biết lúc đó của mình. Nhiều nhà phê bình đại diện cho tư tưởng chính thống đã phản đối điều nầy cho dù họ đã quen thuộc với kinh tạng Pali (Đại Phẩm Kinh Mahavagga 1.23) với câu chuyện về sự bừng ngộ của ngài Xá Lợi Phất (Sariputta) qua lời chỉ dạy giản dị mộc mạc của ngài Mã Thắng(Assaji), người vừa mới được Đức Phật nhận làm đệ tử. Và phải chăng có những trường hợp trong đó người đang học đạo vẫn có thể hướng dẫn những người mới vào đạo còn gặp nhiều khó khăn tốt hơn cả những người nghĩ rằng mình biết tất cả và vì vậy, đã mất đi khả năng tiếp nhận và lĩnh hội cái mới? Người mới bắt đầu học đạo thường ý thức những giới hạn của mình, và vì thế, trong khi truyền đạt kiến thức, họ tự hạn chế ở những gì họ hiểu rõ hay những kinh nghiệm chứng ngộ của riêng họ. Người ấy muốn chia xẻ niềm vui và hạnh phúc đã thành tựu với những người khác mà không chút kiêu ngạo hay tự đắc.

Chia xẻ kiến thức và kinh nghiệm với niềm vui và ý thức hoàn toàn về những hiểu biết giới hạn của mình khác hẳn với sự sốt sắng và nồng nhiệt quá độ của những nguòi có tinh thần truyền đạo cho rằng tư tưởng mới của họ sẽ đem lại ‘lợi lạc’ cho cuộc đời. Nên việc nhắc nhở mọi người bình tĩnh và tiết chế trong khi truyền giáo là rất cần thiết. Chúng ta không nên bao giờ quên rằng chúng ta chỉ có thể phục vụ con người ngày càng nhiều hơn nếu trong từng phút từng giây chúng ta vận công tu tập, kết hợp thân khẩu y, và biến chúng thành một công cụ ngày càng hoàn thiện hơn giúp chúng ta mang lại hạnh phúc cho muôn loài và thành tựu quả vị Phật ‘để cứu độ tất cả chúng sanh còn chìm đắm đau khổ’. Để thành tựu mục đích cao thượng này, chúng ta nên xem việc hành trì Ba la mật

Ba la mật (Pàramità). Sự liệt kê theo tạng Pàli (Nguyên thủy) và tạng Đại thừa khác nhau. Trong tạng Pàli, các Ba la mật gồm: Bố thí, trì giới, xuất gia, trí tuệ, tinh tấn, nhẫn nhục, sự thật, quyết trạch, lòng từ và xả. Sáu Ba la mật đầu của Đại thừa về sau được tăng dần thành mười để tương ưng với các bước mà con đường Bồ tát vạch ra, đó là: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ và 4 Ba la mật sau: thiện xảo, cương quyết, lực, kiến thức. (Tác giả chú thích)

là điều tiên quyết không thể thiếu trên bước đường hành Bồ tát hạnh. Những hạnh Ba la mật này không chỉ bao gồm việc tránh làm điều ác và bất thiện hoặc gieo trồng việc tốt và từ thiện, mà quan trọng hơn cả, là những hành động hy sinh đầy từ tâm và bi mẫn, được sinh ra và tôi luyện trong ngọn lửa khổ đau chung của muôn loài, nơi đó sự đau khổ của người khác được cảm nhận như chính nỗi khổ đau của riêng mình.

Vị bồ tát không ấp ủ tham vọng luôn chỉ dạy người khác bằng những lời thuyết giảng. Quan trọng hơn cả, vị ấy ao ước được dạy bằng chính tấm gương của cuộc đời mình. Và vì thế, trên đường tu tập, vị ấy không bao giờ quên được sự an lạc của những chúng sanh quanh mình, cố gắng thành thục tâm linh trên lộ trình tiến gần đến cứu cánh, và tạo nguồn cảm hứng để kêu gọi người khác cùng tu tập. Trên lộ trình này không có sự hy sinh vì lợi ích chúng sanh nào là vô ích, ngay cả nếu người khác bác bỏ hoặc lợi dụng sự hy sinh này. Bất cứ sự hy sinh nào, dù đó là việc xuất gia hay sự tự nguyện từ bỏ những lạc thú thế gian, cũng là một chiến thắng vượt qua bản thân mình, và do đó, là một hành động giải thoát. Bất kể tác động bên ngoài như thế nào, sự hy sinh đó đưa chúng ta đến gần mục tiêu giải thoát, và biến sự hiểu biết thuần lý của chúng ta về lý tưởng vô ngã (anatman) thành một loại tri thức sống động và một niềm tin vững chắc dựa trên kinh nghiệm tu chứng nội tại. Khi chúng ta càng vượt qua cái ngã hẹp hòi tầm thường của mình và phá toang bức tường ngục tù trong tâm do chính ta tự tạo, con người của chúng ta sẽ càng trong sáng và niềm tin thể hiện trong cuộc sống mẫu mực của chúng ta ngày sẽ càng vững mạnh. Chỉ bằng cách nầy, chúng ta mới giúp được người khác—Điều này hiệu quả hơn cả những công tác từ thiện, và hơn cả những lời nói đạo đức hay những bài giảng pháp.

Vị nào đó nghĩ rằng có thể đạt đến mục đích giải thoát nhanh hơn bằng cách trốn đời và tự mình cắt tuyệt mọi giao tiếp với đời, tự họ đã tước bỏ những dịp để được hy sinh, được thực hành sự đìều độ và tiết chế, được tập từ bỏ những của cải lợi lộc mà họ đã cật lực tạo ra, và tập từ chối những gì họ ham thích, hay tập tránh xa những cám dỗ trên đời. Từ bỏ cuộc đời thế tục hoàn toàn để sống cuộc đời xuất gia là quan điểm của những người gặp nhiều đau khổ trong cuộc sống và chỉ quan tâm đến nỗi khổ riêng của họ đến nỗi họ không thể cảm nhận được nỗi khổ đau lớn hơn của những người khác, và do đó, chỉ biết lo thoát khổ cho riêng họ mà thôi. Tuy nhiên, vẫn có những người thấy được sự đau khổ của những chúng sanh chung quanh họ, cảm nhận sâu sắc được sự đau khổ đó, và sẵn sàng chấp nhận tất cả đau đớn và khó khăn về phần mình để mang lại niềm an ủi cho những chúng sanh đang đau khỗ.

Những người thuộc nhóm thứ nhất là những người chỉ thấy nỗi khổ của riêng họ và chỉ lo đi tìm sự giải thoát cho riêng họ. Họ bị kẹt và giam hãm trong bản ngã và trở thành cứng nhắc một cách ích kỷ. Họ cần khắc phục điều này vì, như lời Phật dạy, đây là nguồn gốc của tất cả sự đau khổ. Nếu chúng ta xuất phát từ quan điểm hạn hẹp này và hành trì những phương pháp quán sát thuần phân tích (để hiểu những đau khổ của riêng mình) thì tầm nhìn trong tâm thức chúng ta sẽ bị thu hẹp về một điểm duy nhất, đó là sự hiểu biết thuần lý và dựa trên bản ngã. Cuối cùng, chính tư duy hữu ngã nầy sẽ làm cho những gì đang xảy ra trong cuộc sống thành vô nghĩa và từ đó, trở thành hư vô. Chỉ khi nào sự quán sát mang tính phân tích này được bổ xung bằng cái nhìn trí tuệ xuyên thẳng vào bản chất sự vật nhằm dung nạp và hòa hợp tất cả, khi đó chúng ta mới thật sự tiến bộ về tâm linh.

Đây cũng chính là sự hiểu biết bằng trực giác tính duyên khởi và tùy thuộc lẫn nhau của các pháp.

Vì vậy, người tu tập thiền định phải tập quán sát mọi việc từ một quan điểm chung mà không đưa vào cái bản ngã đã bị tách rời khỏi toàn bộ những sự kiện. Và chỉ bằng cách đó, người đó mới quán sát được tính tùy thuộc lẫn nhau (duyên khởi) của mọi hiện tượng. Chỉ khi thành tựu được điều này, cái bản ngã sẽ tự động không còn cứng nhắc và trở nên trong suốt, mà người đó không cần làm một cố gắng đặc biệt nào để tiêu hủy nó. Điều nầy khẳng định lại một sự thật. Đó là “thực tại” huyễn ảo của cái ngã. Cũng trên cùng quan điểm, nếu có ai đó cho là không có sự tồn tại tương đối của bản ngã, người đó thật ra đang tự lừa dối mình. Vì ngày nào mà tất cả hành động của chúng ta đều hướng về việc duy trì bản thân chúng ta, và ngày nào mà mỗi tư tưởng của chúng ta đều chỉ để chăm lo quyền lợi riêng của chúng ta, thì mọi cố gắng nhằm đả phá sự tồn tại của cái ngã là hoàn toàn vô ích. Có những hoàn cảnh mà trong đó chúng ta nên chân thành chấp nhận là mình vẫn còn cái ngã, hay đúng hơn, là vẫn còn bị cái ngã chi phối, giống như những nhà tư tưởng còn bị kẹt trong những thành kiến hay những suy nghĩ hoang tưởng của họ, và chúng ta chỉ thành thật mong là một ngày nào đó, chúng ta sẽ thoát ra khỏi những ràng buộc nầy.

Nhưng để đạt đến mục tiêu này, trước nhất chúng ta phải xác định cái nhìn của mình, nghĩa là chúng ta phải thấy thật rõ chúng ta trong quan hệ với vạn hữu. Cảnh quan như thật đó sẽ hiển bày ra trước mắt khi tâm chúng ta phủ trùm và vượt lên trên vạn hữu như Thế Tôn đã dạy qua các pháp thoại và qua chính cuộc đời mẫu mực và đầy sức truyền cảm của ngài. Ngày nào mà chúng ta còn mang cái nhìn hạn hẹp và giới hạn của cuộc sống hàng ngày, cuộc sống chúng ta sẽ không có ý nghĩa gì hết. Nhưng người mà có được cái nhìn bao trùm và xuyên suốt vạn hữu sẽ hiểu được cái vạn hữu phản ánh trong tâm các vị đã chứng đắc và sẽ tìm thấy ý nghĩa trong cuộc đời này. Nhưng cái biết ưu việt thù thắng nhất nầy không thể diễn đạt bằng ngôn ngữ bình thường của con người, ngoại trừ những danh hiệu như Chánh Đẳng Giác (Samyaksambodhi) hay Niết bàn mà đức Phật đã định nghĩa rất rõ là “không tham, sân và si,” tương phản với lời giải thích trong Phạm thư của Ấn giáo, trong đó khái niệm toàn giác hay Niết bàn chỉ là một thực thể siêu hình và mờ ảo.

Trong đạo Phật, chúng ta không bao giờ đặt câu hỏi “Cuộc đời này tự nó có ý nghĩa hay không?”: Theo quan điểm Phật pháp, đây là một câu hỏi vô nghĩa. Điều quan trọng trong việc thực hành chánh Pháp là mỗi người chúng ta nên tạo cho cuộc đời mình một ý nghĩa riêng biệt. Như qua bàn tay của một nghệ nhân giàu cảm hứng, khối đất sét vô dụng có thể trở thành tác phẩm nghệ thuật vô giá, cũng vậy, chúng ta có thể làm tương tự để biến khối “đất sét” của cuộc đời mình thành một cái gì đó có giá trị, thay vì cứ than vãn là cuộc đời nầy không có giá trị gì hết. Cuộc sống và thế giới của chúng ta sẽ mang đúng cái “ý nghĩa” mà chúng ta gán cho chúng và gửi gắm vào trong đó.

“Con người cũng bất tử như lý tưởng của họ và con người cũng thật như chính năng lựơng mà họ dùng để phục vụ lý tưởng của họ.” Câu nói nầy của triết gia người Đức Keyserling đã vạch ra đúng hướng.

Herman Keyserling là triết gia Đức (1880-1946), nổi tiếng với tác phẩm Nhật ký du lịch của một triết gia (1911). Ông nhấn mạnh nhu cầu phục hưng đời sống tâm linh con người và xem nhẹ giá trị kinh viện trong triêt học phương Tây.

Những vấn đề thuộc về giá trị và thực tại đều tùy thuộc vào thái độ và việc thực hiện sáng tạo những lý tưởng của chúng ta chứ không phải tùy vào cái”khách quan” [mà thật ra vẫn phải] dựa trên suy luận nào cả.

Do đó, nếu chúng ta tôn kính những bậc giác ngộ và xem mục tiêu giác ngộ là mục tiêu cao đẹp nhất của cuộc đời mình, chúng ta sẽ chủ động và đem hết năng lực của mình sống theo gương các bậc giác ngộ trên con đường Bồ Tát hạnh. Chúng ta sẽ ý thức ngay từ đầu là trên đường Bồ Tát hạnh, chúng ta sẽ không có cơ hội để chạy trốn hay tránh né các khó khăn và đau khổ. Con đường nầy đòi hỏi chúng ta dốc toàn bộ năng lực tâm linh của mình, và sẵn sàng nhận lãnh sự đau khổ của tất cả chúng sanh. Nhưng gánh vác đau khổ của chúng sanh ở đây không có nghĩa là chúng ta cam chịu khổ đau để được tiếng khen hay chịu kham khổ như một hình thức sám hối mà một số nhà tu khổ hạnh của một số tôn giáo đã làm và đang làm. Đây là một thái cực chúng ta cần phải tránh cũng như chúng ta cần phải tránh một thái cực khác trong đó con người chỉ biết lo cho hạnh phúc riêng của họ và chìm đắm trong dục lạc.

Ở đây chúng ta chỉ cần làm một việc. Đó là tập sống hòa nhập với tất cả chúng sinh (Khái niệm này đồng nghĩa với Thể nhập thực tại trong Thiền tông). Thái độ này không những giúp chúng ta tránh được bịnh chỉ xem sự đau khổ của mình là quan trọng và cứ bám víu vào nó (mà đìều này chỉ làm tăng trưởng bản ngã và bịnh tự ám ảnh của chúng ta mà thôi); Thái độ sống hòa nhập với tất cả chúng sanh còn giúp chúng ta khắc phục được tâm lý ngã mạn và làm nhẹ đi nỗi đau khổ của mình trước cái khổ đau của người khác. Bằng cách này một thời đức Phật đã chỉ dạy cho bà Kisà-Gotamì, người bị điên loạn vì không thể chấp nhận cái chết của đứa con duy nhất của bà. Để bà vượt qua khổ đau, đức Phật đã giúp bà thấy và kinh nghiệm rằng cái chết là kinh nghiệm chung, mà tất cả chúng sinh đều phải đi qua. Và qua đó, Ngài chỉ cho bà thấy là bà không phải là người duy nhất hứng chịu nỗi đau khổ nầy, và những ai có thể mở rộng tâm mình và chấp nhận nỗi đau đó, nỗi đau của người đó tự nó đã vơi đi một nửa nếu không phải là toàn bộ.

Khi đức Phật dạy về sự diệt khổ, Ngài không hề nói đến việc ‘chạy trốn khổ đau’. Theo truyền thống Phật giáo, nếu trốn tránh khổ đau là mục đích của Đức Phật, thì Ngài có thể chọn con đường tắt đi đến giải thoát, nằm trong khả năng của Ngài trong thời Ngài là đức Phật Nhiên Đăng: Ngài không cần phải trãi qua vô số kiếp tái sanh đầy đau khổ. Nhưng với trí tuệ, Ngài biết rằng chỉ những ai đi qua sự thanh lọc của ngọn lửa khổ đau, vị ấy sẽ thành tựu quả vị giác ngộ cao nhất trên con đường phục vụ chúng sanh. Con đường của Ngài không phải để trốn tránh mà là để vượt qua và chinh phục khổ đau. Đây là lý do vì sao Ngài cũng như các đức Phật ra đời trước Ngài được mệnh danh là những “bậc chiến thắng” (jina).

Ngài và các bậc đi trước Ngài đã khắc phục khổ đau bằng cách anh dũng đối đầu với nó. Đối với người đang đi trên đường tiến đến quả vị toàn giác, sự đau khổ không còn là sự lo buồn cá nhân và trăn trở về hạnh phúc của riêng mình; sự đau khổ riêng của vị đó sẽ ngày càng trở thành sự đau khổ chung và thuộc về bản chất của tất cả chúng sanh. Chính trong tinh thần nầy mà tất cả những ai muốn đi theo con đường thánh thiện của đức Phật đều phát lời thệ nguyện Bồ Tát : ‘Với tất cả thành quả tâm linh được chứng đắc, con nguyện xoa dịu khổ đau cho tất cả chúng sinh hữu tình. Với tất cả thành quả tâm linh được chứng đắc trên cuộc đời, thể hiện qua thân, khẩu, ý, con xin quên mình, hiến dâng tất cả, nhằm mang lại sự an lạc và giải thoát cho tất cả chúng sanh. Niết Bàn là từ bỏ tất cả, và tâm con thành khẩn mong đạt đến Niết Bàn. Vì con phải từ bỏ tất cả, có phải tốt hơn chăng nếu con cống hiến tất cả cho tất cả chúng sinh? – Con xin hiến dâng cuộc đời mình cho hạnh phúc của tất cả chúng sanh. Hãy để họ phỉ báng con, ném đất cát dơ bẩn vào con, và biến con thành đối tượng chế nhạo của họ. Hãy để họ giết chết con theo ý của họ. Con đã hiến dâng thân xác của con cho họ, thì tại sao con phải lo âu về điều đó? Những người mắng chửi con, hãm hại con hay nhạo báng con – con mong tất cả đều sẽ đạt quả vị giác ngộ.’ (Sàntideva, Bodhicaryàvatàra ,Tác giả chú thích)

Việc thực hiện lý tưởng Bồ Tát đòi hỏi chúng ta phải vượt qua tất cả giới hạn hẹp hòi riêng của mình và thừa nhận những thực tại vượt khỏi giới hạn cá nhân (và qua đó, thừa nhận những quyền năng vượt khỏi giới hạn cá nhân) trong tâm thức của chúng ta. Như thế những ai mong muốn thực hành bồ tát đạo, ngay từ lúc đầu cần phải có một thái độ– đó là thái độ thoát khỏi sự ràng buộc của bản ngã và hướng về cái chung phủ trùm vạn hữu. Những người chỉ tìm cầu sự giải thoát cho riêng mình hay muốn trốn tránh khổ đau bằng con đường ngắn nhất mà không quan tâm đến khổ đau của người đồng loại, tự họ đã tước lấy khỏi tầm tay của họ nhũng phương tiện cơ bản và cần thiết nhất để đạt đến mục tiêu giác ngộ. Chỉ cần từ bỏ được những hoạt động nhỏ nhiệm và tinh tế nhất của bản ngã và tu tập Tứ vô lượng tâm (brahmavihàras), Bồ Tát Đạo sẽ mở ra thêng thang trước mắt chúng ta.

Có hay không một khả năng thật sự và khách quan để giải thoát toàn bộ thế gian nầy? Đây không phải là vấn đề cần bàn cải. Ngay cả trong suốt cuộc đời của Đức Phật, Ngài cũng đã không thành tựu được điều này. Nhưng tư tưởng mang tính chung nhất và siêu việt nhất của Ngài đã có tác động lâu dài khiến cho ngay ngày hôm nay nhân loại vẫn cảm nhận sự có mặt của Ngài và tiến trình giải thoát giác ngộ mà Ngài thuyết giảng cách đây 2,500 năm đã tiếp tục và sẽ tiếp tục tác động đến thế gian này cho đến ngày nào mà vẫn còn có người cần đến. Trong lãnh vực này, không phải vấn đề thành tựu hay chứng đắc là quan trọng mà điều quan trọng là thái độ tâm linh thấm nhuần lý tưởng Bồ tát, thể hiện ở việc mỗi cá nhân sống với tất cả kiến thức và năng lực của mình, mà không một chút dè dặt hay kiềm chế, trên đường đạt đến quả vị vô thượng. Người đó luôn luôn ý thức là mỗi một cố gắng của họ là phải nhằm đem lại an lạc cho tất cả chúng sanh. Và ngay cả lúc mà chúng ta đạt đến cảnh giới hỷ lạc cao nhất (trong thiền định), chúng ta cũng không ngừng làm việc vì lợi lạc tất cả chúng sanh, vẫn tiếp tục chia xẻ niềm vui và nỗi buồn của họ, và vạch ra con đường dẫn đến giải thoát cho họ.

Kinh tạng Phật giáo có ghi là ngay cả sự nhập diệt thầm lặng của một vị La hán cũng mang lại phước lành cho đời và điều này quả là đúng thật. Nhưng vì sao đức Phật đã từ giả cội cây Bồ đề [nơi Ngài đã chứng đắc] để trở lại với cuộc đời và tự nguyện đón nhận những phiền muộn, sống đời một tu sĩ khổ hạnh không nhà, nếu sự chứng đắc tâm linh tối thượng của Ngài tự nó cũng đủ để Ngài tận dụng tất cả khả năng phục vụ nhân loại? Phải chăng sự hy sinh vĩ đại và tối thượng này của Đức Phật cho thấy Niết bàn tự nó vẫn không được xem như là lý tưởng cao nhất trong đạo Phật?

Khi thế giới tâm linh của đạo Phật càng phát triển với những thành quả về các mặt thực tiển, lý luận, và siêu hình của nó, dựa trên những nguyên tắc nền tảng của Phật pháp, thì tư tưởng Niết bàn càng lùi lại và nhường chỗ cho lý tưởng Bồ tát. Bởi vì Niết bàn là – nếu chúng ta đi xa hơn định nghĩa Niết bàn là sự tận diệt của tham, sân và si – một mục tiêu mà Phật giáo và các tôn giáo hướng đến sự giải thoát ở Ấn độ thời đó đều nhắm tới. Nhưng lý tưởng Bồ tát đã mang lại cho Phật giáo nét đặc trưng khác hẳn với các hệ phái Ấn giáo khác và đã giúp đạo Phật vẽ vang vượt xa khỏi biên cương Ấn quốc và trở thành một trong những sức mạnh văn hóa và tinh thần lớn nhất của loài người.

Sức mạnh của lý tưởng Bồ tát – sức mạnh đã chinh phục vùng đất trên thế giới mang tên Á Châu bằng con đường hòa bình chưa từng có trong lịch sử loài người—bắt nguồn ở sức mạnh tổng hợp của tâm từ và tâm bi mẫn vô biên dành cho vạn hữu và ý chí tầm cầu giác ngộ đã kêu gọi và thôi thúc khối óc và con tim của mỗi con người biết suy nghĩ độc lập. Trong bối cảnh này, cái kinh nghiệm mà chúng ta gọi là Niết Bàn chỉ là một bộ phận của quá trình tiến tới giác ngộ hoàn toàn, và vì thế nó nằm trong cái chung nhất của tất cả kinh nghiệm giác ngộ. Bởi vì bản chất của sự toàn giác (Samyak-sambodhi) không cho phép tính độc quyền, không phải là sự thành đạt và cũng không phải là sự chiếm hữu. Nó tỏa sáng vô biên và vô tận ở mọi phương, để tất cả chúng sanh đếu thọ hưởng ánh sáng và sự ấm áp của nó, giống như mặt trời tỏa sức sáng và ấm vô hạn tới tất cả những ai có thể thấy được ánh sáng, cảm nhận được độ ấm và tiếp thu được năng lực đem lại sự sống của mặt trời.

Giống như mặt trời tỏa sáng không phân biệt trên thế gian nhưng lại có tác động khác nhau trên từng con người tùy mức độ tiếp thu và cởi mở của mỗi người, tác năng diệu dụng của một đấng giác ngộ cũng thế. Mặc dù tâm của vị ấy dung nạp không phân biệt tất cả chúng sanh, nhưng vị ấy biết rằng không phải tất cả mọi người đềụ có thể được giải thoát cùng một lúc: Hạt giống giải thoát mà vị ấy gieo sẽ mang lại kết quả sớm hơn cho người này và muộn hơn cho người khác tùy theo sự tiếp nhận hay thuần thục của những chúng sanh khác nhau. Tuy nhiên, vì trong kinh nghiệm giải thoát không có khái niệm thời gian và không gian, nên sự thành tựu của một đấng giác ngộ cũng hàm chứa sự giải thoát của tất cả chúng sanh đang trụ trong kinh nghiệm toàn giác (samyak-sambhodi) Điều này bao gồm ý nghĩa là Phật tánh nằm trong tâm của tất cả chúng sanh và đây chính là con đường hành trì lời phát nguyện của Bồ tát.

Nhưng đối với người chịu ảnh hưởng sâu sắc của bồ đề tâm, quyết tâm thệ nguyện và chọn con đường lý tưởng Bồ tát, hình ảnh của đức Phật sẽ là trọng tâm trong đời sống tôn giáo của vị ấy. Đối với vị này, hình ảnh này là hiện thân của mục đích cao thượng mà mỗi người đệ tử Phật có tránh nhiệm phải thực hiện.

Nơi đây, chúng ta sẽ không tìm thấy nội dung sâu thẵm của đạo Phật trong khuôn khổ phi thời gian và phi không gian của tư duy trừu tượng và cũng sẽ không tìm thấy đạo Phật như một giáo thuyết được thiêng liêng hóa từ ngàn xưa. Trái lại, chúng ta sẽ tìm thấy đạo Phật trong một mặt bằng cùng với nhịp độ phát triển và mở rộng về không gian và thời gian của nó. Đìều này có nghĩa là chúng ta sẽ tìm thấy đạo Phật trong sức sống ngày càng lớn mạnh về tư tưởng, tình cảm, và trong sự trực diện của nó đối với cuộc đời – nói ngắn gọn là chúng ta sẽ tìm thấy đạo Phật trong cái thể phổ biến nhất của nó. Ở đây chúng ta không quan tâm đến những điều mà các nhà biện tài triết học thường khuyến khích bàn cải như vấn đề thế giới này có thật hay không có thật, thế giới bên ngoài quan hệ với kinh nghiệm nội tâm như thế nào, hay có hay không một ‘cảnh giới’ giải thoát hay ‘vô dư Niết bàn’. Cái hệ quả duy nhất mà người đệ tử Phật trên con đường Bồ Tát hạnh có được là nhận ra được sự thật rằng những gì mà chúng ta tìm cầu để nắm bắt bằng trực giác qua các tên gọi như ‘Ba la mật’, ‘Giác ngộ’ hay ‘Phật tánh’… thật ra đã một thời, có một người thật sự thành tựu–Người đó là Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, và do đó, bất cứ ai cố gắng đạt đến cùng một mục tiêu cao thượng này ắt sẽ có ngày thành tựu.

Nhưng, như chúng ta đã thấy, con đường này không phải là một trong những con đường trốn đời, mà trái lại, nó là con đường vượt lên trên cuộc đời bằng cách phát huy sự hiểu biết và trí tuệ (prajna), thực hành từ tâm (maitri), chia xẻ sâu sắc nỗi đau khổ và niềm vui của người khác (karuna, mudita), đồng thời xả tâm đối với những bất hạnh và hạnh phúc riêng của mỗi người. Người chỉ đường và tấm gương để chúng ta noi theo trên con đường này chính là đức Phật. Cho nên, dù giáo chủ của các trường phái khác nhau có bàn cãi và tranh luận đến đâu đi nữa, còn gì chắc chắn đối với chúng ta hơn là việc noi theo tấm gương của Bậc Đại Giác? Từ cuộc đời mẫu mực của Ngài, chúng ta sẽ càng tin tưởng chắc chắn là chúng ta cũng phát tâm và cũng sẽ thành tựu giác ngộ vô thượng, nếu chúng ta biết phá vỡ những rào chắn chấp ngã cứng chắc do chính mình tạo dựng và qua đó, giải thoát chúng ta ra khỏi tất cả những sợ hãi. Tinh thần vô úy là đặc điểm nổi bật nhất của tất cả các vị Bồ Tát và những ai đang đi trên Bồ tát đạo. Đối với họ, cuộc sống không còn bị khủng bố đe dọa và nỗi đau khổ cũng không còn gay gắt. Thay vì nguyền rủa cuộc sống trần gian này hay lên án những “thíếu sót” của nó, họ đưa vào cuộc đời một ý nghĩa mới.

Họ đã ý thức rằng lên án cuộc đời là xấu xa và từ bỏ nó, bác bỏ những khả năng vươn đến những lý tưởng cao đẹp của con người, trước khi con người có thể hiểu biết thấu đáo về cuộc đời, và trước khi con người có thể phát huy trọn vẹn những khả năng nhận thức cao nhất của mình và đạt đến sự khai ngộ, mà thực chất là hoa trái và là sự thành tựu cao nhất của cuộc sống, là một hành động không những kiêu mạn mà còn điên rồ nữa. Những ai đi ngược lại con đường này giống như người cắn vào một trái cây chưa chín. Họ quăng bỏ trái cây chưa chín đó rồi tuyên bố rằng tất cả các trái cây loại này là không thể ăn được, thay vì chờ đến ngày trái chín.

Một nguy hiểm khác cần lưu ý. Do diễn giải sai về giáo lý vô ngã, nhất là trong giới Phật tử ở phương Tây, cá tính thường bị xem như một chướng ngại trên đường hành Pháp, vì người ta thường đồng nghĩa sự phát triển của cá tính với sự chấp thủ bản ngã. Ngoài sự kiện đức Phật được các người đương thời tôn vinh là Mahàpurusa, nghĩa là một nhân vật vĩ đại, có cá tính riêng, không thể nhầm lẩn với ai hết, và đứng cao vượt lên trên những người cùng thời, các đại đệ tử và tín đồ lớn của Ngài – những người đã chứng đạt quả vị giác ngộ cao nhất, là những người đã phát huy cá tính của mình qua việc chứng ngộ nội tâm. Dưới mắt chúng ta, họ là những thể hiện độc đáo của kinh nghiệm tu chứng nội tại đầy sáng tạo.

Trên con đường Bồ tát hạnh, chúng ta phải tránh tất cả cực đoan và phụng hành giáo lý của bậc Đạo sư bằng cách đi theo Trung Đạo. Do đó, những người tìm cách đè nén những hoạt động và chức năng tự nhiên của các giác quan thay vì cố gắng sử dụng chúng đúng đắn cũng giống hệt như những người chìm đắm không biết kiềm chế trong nhục dục. Họ sẽ không thành tựu quả vị thánh được. Người chìm đắm trong nhục dục sống thấp hèn hơn con người, trong khi người sống ức chế tình cảm chỉ là gỗ đá. Sự thánh thiện chỉ dựa trên những đạo đức tiêu cực, trên sự tránh né hoặc ức chế, có thể tạo ấn tượng trên người khác rằng đây là một mẫu mực về sự tự tại và sức mạnh nội tâm. Nó có thể làm thân xác chúng ta tan biến đi, nhưng sẽ không đưa chúng ta đến bờ giác ngộ, vì nó là con đường dẫn đến sự chết và bế tắt về tâm linh. Đó là việc đánh đổi con đường thoát khổ bằng chính giá trị cuộc sống và tia sáng sống động nằm ngay trong tâm giác ngộ của mỗi người chúng ta.

Lúc chúng ta bắt đầu nhận ra tia sáng Bồ đề tâm này cũng là lúc chúng ta bắt đầu con đường Bồ tát hạnh. Con đường nầy giải thoát chúng ta khỏi khổ đau và những kềm kẹp của tự ngã và không buộc chúng ta phải khước từ cuộc sống. Trái lại chúng ta sẽ thoát ly khổ đau qua việc phục vụ người bạn sống bên cạnh chúng ta, cùng lúc với việc tu tập để thành tựu quả vị giác ngộ tối thượng, bởi vì khi tia sáng Bồ đề tâm bắt đầu chiếu rọi từ sâu thẳm tâm thức chúng ta, nó sẽ khai mở một quá trình giác ngộ bằng cách chuyển hóa những năng lực tiềm tàng và ẩn dấu bên trong chúng ta thành những năng lực sống động, thẩm thấu và xuyên suốt. Từ đó, cuộc đời chúng ta không còn là một cuộc chạy đua loanh quanh vô nghĩa. Nhưng để chúng ta có thể đi sâu vào và tiếp xúc với những tiềm lực đó, Đức Phật và các đại đệ tử của ngài đã chỉ con đường giúp chúng ta nhìn thấu chiều sâu của tâm thức mình. Trong quá trình thiền định, chúng ta sẽ hiểu ra rằng thế giới quan và sự hiểu biết của chúng ta về thế giới nầy chính là sản phẩm của tâm thức chúng ta. Điều này cho chúng ta thấy rằng thế giới mà chúng ta đang sống tùy thuộc vào điều kiện tâm lý và tinh thần cá biệt của mỗi người chúng ta; nói khác đi, chúng ta sống trong một thế giới mà chính chúng ta đang sáng tạo ra trong từng giây phút và vì thế, không ai khác hơn là chúng ta mới là người “xứng đáng” thừa hưởng cái thế giới mà mình đã tạo tác.

Do đó, chúng ta không thể thoát ly khổ đau bằng cách chạy trốn khỏi thế giới này mà chỉ bằng con đường thanh lọc tâm thức và quay về với nội tâm của mình. Tuy nhiên, điều này chỉ thực hiện được nếu chúng ta hiểu được bản chất của tâm và những năng lực vận hành trong tâm mình. Rồi chúng ta sẽ nhận ra rằng cái tâm có khả năng nhận ra ánh sáng của các vì sao ở cách xa chúng ta hàng triệu năm ánh sáng cũng tuyệt vời như chính bản chất ánh sáng của các vì sao đó. Và chúng ta sẽ thấy rằng cái ánh sáng nằm ẩn sâu trong tâm thức chúng ta sẽ còn kỳ diệu và vĩ đại hơn nhiều! Đi xuyên qua chiều sâu của tâm thức để đánh thức cái tâm thăm thẳm ấy trong chúng ta– Đây chính là mục đích của con đường tỉnh thức giải thoát và giác ngộ (bodhisattvamarga). Con đường xuyên qua tâm thức và trực chỉ Phật tánh trong mỗi người của chúng ta.

Nếu những nhóm người nào đó trong giới Phật giáo chính thống đến ngày hôm nay vẫn cho rằng phải trải qua mấy ngàn năm mới có một cá nhân đạt quả vị toàn giác, thì việc theo đuổi mục tiêu giải thoát nầy là hoàn toàn vô ích, và tư tưởng này chỉ là lời thú nhận về cái tâm linh nghèo nàn và giáo điều cứng nhắc của họ. Một tôn giáo mà chỉ hướng về một quá khứ hay tương lai xa vời nào đó không thể có giá trị cho cuộc sống hiện tại. Cũng vậy, giáo Pháp khi bị tách rời khỏi nhân cách sống động của đức Phật, sẽ không còn chất người và trở thành một hệ thống của những giá trị tiêu cực và ‘những trường hợp đặc biệt’ mang tính khoa học giả tạo. Trong một hệ thống như vậy, kinh nghiệm thiền định dễ trở thành một công việc thuần phân tích không lành mạnh và đầy nguy hiểm trong đó mỗi thực thể sống động bị mổ xẽ và chia cắt nát vụn hay trở thành chức năng là hợp thể của một cơ chế không còn cảm giác.

Một người đi trên con đường của Bồ tát sẽ tránh được nguy hiểm này mà không rơi vào cực đoan khác. Sống thể nhập thực tại, vị này sẽ nhận ra tính vô thường và duyên khởi của tất cả các hợp thể và sẽ không quay tâm lại với những đau khổ của cuộc sống. Vị ấy sẽ ý thức rằng sự già cỗi, bịnh tật và chết chóc là quy luật của cuộc sống và sẽ không tìm cách ức chế các hiện tượng này ngay trong tâm thức của mình. Vì lý do này mà các bậc thầy thuộc Kim cang thừa thưòng chọn các nhà mồ hoặc các nơi hỏa thiêu để thiền định. Họ làm điều này không phải để ghê tởm tránh xa mà để làm quen với tất cả khía cạnh của cuộc sống, trong đó sự vô thường phải được xem như một tiến trình tự nhiên và không bị những xúc động tình cảm bóp méo.

Họ cũng tìm đến các nhà mồ và các giàn hỏa táng, nơi mà người đời thường kinh hãi hay ghê sợ xa lánh để không bị quấy rầy và có thể tập trung thiền định. Hơn thế nữa, đối với những đệ tử của họ, đây là nơi luyện tập để vượt qua những cảm giác ghê tởm và sợ hãi, đạt đến tâm xả bỏ và có cái nhìn như thật về cuộc đời. Kinh tạng dạy rằng chính đức Phật đã từng thổ lộ là trong suốt quá trình tu tập, Ngài thường chủ tâm tìm đến những nơi hẻo lánh và đầy nguy hiểm như vậy để tập khắc phục nỗi sợ hãi trong tâm. Việc lân la ở những nơi đầy chết chóc như vậy – cũng như việc quán niệm quá trình thối rửa của thi haì và các đối tượng gây kinh tởm và ghê sợ khác – chỉ có ý nghĩa nếu nó giúp người hành thiền khắc phục nỗi sợ hãi, nhìn thẳng vào sự thật đang hiện hữu và biết được thực chất của các hiện tượng với cái tâm không còn chút tham cầu hay sân hận.

Nhưng mục đích của sự quán niệm (các xác chết và đối tượng ghê tởm) nầy sẽ thất bại hoàn toàn nếu người quán chiếu không thể quét sạch những cảm giác ghê tởm, khiếp đảm và sợ hãi ra khỏi tâm mình. Dùng tình cảm ghê tởm để xua đuổi lòng tham dục chẳng khác nào xua đuổi quỷ Satan bằng ma Beelzebub.

Trong văn học tôn giáo phương Tây, Beelzebub là hoàng tử của thế giới ma quỷ. Trong tác phẩm nổi tiếng Thiên Đàng Bị Đánh Mất (Paradise Lost) của văn hào Anh John Milton (1608-1674), Beelzebub là một thiên thần phạm tội và trở thành ác quỷ, đứng hàng thứ nhì sau quỷ Satan

Có thể ít ai trong chúng ta sợ hãi khi nhìn lá rơi hay những đóa hoa khô héo . Và niềm vui khi nhìn thấy muôn hoa đua nở không sút giảm dù chúng ta biết là hoa sẽ úa tàn. Tuy nhiên, nếu chúng ta biết là những lá hoa mềm mại nầy rồi sẽ bị hoại diệt, chúng ta sẽ càng yêu quý chúng hơn khi chúng đang đâm chồi nở nụ. Điều này cũng giống như cuộc đời vô thường nầy, mỗi phút phù du trôi qua đều mang trong nó một giá trị đặc biệt. Và chính vì lý do nầy mà theo học thuyết của Kim Cang thừa, mỗi người chúng ta có trách nhiệm biến thân xác hoại diệt của mình thành một nơi không gì có thể hủy hoại được– Đó là ngôi chùa tâm linh trong mỗi người chúng ta.

Trong Kim Cang thừa, quá trình chuyển hóa này được thực hiện bằng cách quán chiếu hình ảnh của các vị hiền thần và phẩn nộ thần mà Kim Cang Thừa gọi là các vị đại Bồ tát. Khi người quán chiếu càng đồng hóa mình với các vị đại Bồ Tát nầy, niềm hỷ lạc sẽ xuất hiện trong tâm của họ. Trong quá trình tập trung thiền định sáng tạo, người hành thiền tạo bên trong họ một vùng sức mạnh tâm linh có thề vượt khỏi tầm mức của một kinh nghiệm cá biệt, tác động vào ngoại cảnh và qua đó, tạo sự thay đổi trong chính bản thân của họ.

Khi hình ảnh của các vị đại bồ tát trở thành sống thật với chính chúng ta trong quá trình thiền định, chúng ta gọi các vị ấy là Bồ tát thiền định (Dhyani-bodhisattvas).

Bodhi là giác ngộ; sattva là bản chất hay thực thể; dhyana là thiền định. Dhyani-bodhisattvas là bản chất giác ngộ đạt được hay thấy được trong lúc hành thiền. (Tác giả chú thích)

Mỗi vị trong số các Bồ tát như đức Quan Âm, Văn Thù hay Di Lặc là hiện thân cụ thể của một đức tính đặc biệt nào đó của lý tưởng Bồ Tát. Bởi vì cũng như con người, các cá nhân có thể có cùng lý tưởng và quan điểm nhưng cá tánh vẫn khác nhau, các vị bồ tát cũng thế. Dù các ngài đều là hiện thân của lòng từ, tâm bi, giàu tình nhân ái, có khả năng thấy cùng khắp, và biết tất cả, tuy nhiên, các ngài thể hiện tâm giác ngộ này bằng nhiều cách độc đáo khác nhau.

Tất cả các ngài đã kết hợp nhuần nhuyễn đến mức tuyệt hảo tâm đại bi (upaya) và trí tuệ Bát nhã (prajna),

Upaya là tình cảm dung nạp và san sẻ khổ đau với tất cả muôn loài

nhưng các ngài khác nhau trong cách dụng công. Điểm chung của các ngài là khả năng thấy đưọc bản chất thống nhất của vạn thể. Khả năng nầy có được là nhờ các vị có thể đặt mình vào vị trí của ngưòi khác (Tha tâm thông). Bất cứ ai đã đi qua còn đường Bồ tát hạnh bằng cách quán chiếu và đồng hóa mình với các đức tánh Bồ tát, đó là người được giải thoát và tự do. Người đó không những chỉ ‘thánh thiện’ hay ‘thoát khỏi phiền não chướng’ theo nghĩa tín ngưỡng thông thường chỉ là được cứu khổ — họ chính là người đạt được quả vị toàn giác và tâm thức đã hòa vào bản thể tuyệt đối. Bước nhảy vọt vào vùng tâm thức giải thoát này có nghĩa là vị đó đã vượt qua mọi giới hạn cá nhân và đã chứng ngộ được những thực tại vượt khỏi tầm mức cá nhân trong tâm mình. Và vì kinh nghiệm chứng ngộ này là kinh nghiệm bao trùm và phổ quát nhất mà tâm thức con người có khả năng đạt đến, nó đòi hỏi chúng ta ngay từ đầu một thái độ cơ bản–Đó là mở rộng tâm vô biên của chúng ta đến với cái phổ quát tận cùng của cuộc sống.

Một lần nữa chúng ta hãy cùng nhau nhớ lại bài pháp đầu tiên của Đức Phật tại vườn Lộc Uyển gần Vàràịasi, trong đó Ngài đã thuyết về Sự Giác Ngộ Tối Thượng (Anuttara samma-sambodhi, Hán dịch là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề) mà không nói về một Niết bàn trong nghĩa tiêu cực của nó tức là chỉ gồm sự đoạn diệt các lậu hoặc (Asravas) và khổ đau. Khái niệm Niết bàn khi được đề cập đến ở đây đều có nghĩa là hệ quả của Sự Giác Ngộ Tối Thượng nầy.

Chúng ta cũng phải ghi nhớ rằng những gì mà đức Phật đã giảng và diễn tả bằng lời chỉ là một phần nhỏ của những gì Ngài đã dạy qua nhân cách và tấm gương của Ngài. Mà ngay cả những lời dạy cùng với nhân cách vĩ đại ấy cũng chỉ phản ánh một phần nhỏ kinh nghiệm tâm linh của Ngài. Đức Phật rất cảnh giác về giới hạn của ngôn ngữ ngay từ lúc đầu khi ngài do dự không muốn tuyên bố giáo lý của mình và diễn đạt nó bằng lời. Bởi vì Ngài nhận định là những gì Ngài đã thấy là ‘thậm thâm, khó hiểu, khó nhận ra, không dễ nắm bắt bằng hiểu biết suông’. Và khi cuối cùng Ngài quyết định thuyết giảng chân lý vì lòng thương tưởng đối với một số ít người mà ‘mắt còn dính chút bụi mờ’, Ngài đã thận trọng không nói về ‘những điều tối hậu nầy’.

Ngài đã từ chối trả lời những câu hỏi liên quan tới lãnh vực siêu hình trong nhận thức tâm linh, và cũng yên lặng về những vấn đề vượt ngoài tầm hiểu biết của con người. Ngài không làm bạn với loại tư duy suy đoán biện tài. Ngài chỉ giới hạn ở việc chỉ ra con đường chúng sanh có thể đi và con đường có khả năng giúp chúng sanh giải quyết tất cả vấn đề thuộc về thực chất. Ngài trình bày con đường này sao cho nó thích nghi với khả năng trí thức và tình cảm của người nghe. Ngài hướng dẫn học trò mình theo trình độ phát triển của từng người, và chỉ truyền lại những phần sâu sắc hơn của giáo Pháp và những lời chỉ dẫn hành thiền thâm diệu hơn cho một nhóm giới hạn gồm các đệ tử có trình độ cao hơn của Ngài.

Những trường phái Phật giáo về sau nầy vẫn trung thành với nguyên tắc nầy. Họ điều chỉnh các phương pháp dạy giáo lý và thiền định sao cho hợp với nhu cầu của cá nhân và điều kiện phát triển lịch sử của thời đại. Và cũng giống như chính đức Phật đã hướng dẫn đệ tử của Ngài theo những cách khác nhau tùy theo sự trưởng thành về tâm linh của mỗi ngườiﬠdạy cho họ những cách hành trì khác nhau, những trường phái sau này đã dành những phần phức tạp hơn trong giáo lý và những bài tập thiền định tương ứng cho những ai đã phát triển được những kiến thức và thiện xảo cần thiết.

Những phương pháp hướng dẫn dạy dỗ cao cấp nầy về sau được gán tên là bí truyền hay giáo lý ‘mật’. Nhưng phương pháp tu tập nầy hoàn toàn không có ý định ngăn cản bất cứ ai đạt đến những trình độ nhận thức cao hơn. Ngược lại, phương pháp này chỉ nhằm mục đích tránh những hý luận vô ích và những suy đoán mò mẫm dễ đưa những người còn sơ cơ đến chỗ chỉ mong đạt đến những trạng thái chứng ngộ cao hơn bằng con đường thuần tri thức mà không chịu khó đi qua con đường tu tập thiền định. Vì sự mong mỏi đạt đến những kinh nghiệm tâm linh thuần trí thức có thể dễ dàng đưa hành giả thiếu kinh nghiệm đến chỗ cho rằng chỉ có hiểu biết thuần lý là cần thiết, và điều này sẽ ngăn chặn quá trình thiền định mà chỉ có kinh nghiệm thiền định nầy mới giải phóng được nguồn năng lực cần thiết đưa đến sự chuyển hóa trong tâm thức con người.

Ngày nay bất cứ ai mong cầu đi theo con đường Bồ tát hạnh phải theo dấu chân của đức Phật, tập giữ tâm mình luôn khai mở qua việc thực hành chánh niệm liên tục. Vị ấy phải tự mình rèn luyện, qua việc hướng tâm và quán tưởng về đạo (vtarka-vicara, tầm tứ), xem xét kỹ lưỡng và tìm hiểu đúng sai trong khi học pháp (dharmavicaya, trạch pháp), không chấp thủ (viveka), đạt được trí tuệ và hiểu biết bằng trực giác (Jnana và vidya, tuệ và minh), qua việc giử gìn giới luật dựa trên trách nhiệm cá nhân (sila, giới; paramitas, ba la mật; brahmaviharas, tứ vô lượng tâm), qua lòng tận tụy tôn kính và siêng năng lễ Phật (puja), thiền định (samatha, chỉ; vipasyana, quán; smrti, niệm; bhavana, quán tưởng; dhyana, thiền na; samadhi, định), để tránh bị lệch lạc, và tận lực công phu để đạt đến sự hợp nhất và chuyển hóa trong nội tâm hầu có một nhân sinh quan đủ rộng mở để có thể thấu đáo bao quát và toàn bộ về cuộc sống con người. Bằng cách phát triển bề sâu tâm thức, vị ấy sẽ có thể nhìn thẳng và sâu vào lòng của mọi hiện tượng, và trong cuộc sống, vị ấy có thể sử dụng và biến bất cứ hoạt động nào của thân tâm mình thành một bước tiến lên trên con đường giác ngộ.

Trong giai đoạn đầu chuẩn bị cho lộ trình giác ngộ này mà cũng là giai đoạn khởi động các năng lực trí thức và tình cảm của hành giả, hành giả sẽ dùng tư duy lý luận sáng suốt của mình để điều chỉnh tâm và làm nền cho kinh nghiệm trực giác nẩy nở. Vị ấy sẽ biến năng lực tình cảm của mình thành sức mạnh của hành động toàn tâm hướng về mục tiêu giải thoát. Vị ấy sẽ làm chủ tâm ý bằng cách nắm vững những quy luật tư duy để rồi sau đó vượt qua biên giới của suy luận và tư duy, toàn tâm toàn ý tìm tới một trạng thái tâm thanh tịnh và tỉnh thức đối với tất cả chúng sinh đau khổ. Rồi một ngày nào đó, tâm bồ đề (bodhicitta) sẽ tự nhiên xuất hiện. Và rồi trong con người mà nhân cách đã đủ cao đẹp đó sẽ thình lình xuất hiện một con người mới với tâm ý duy nhất là làm sao giúp loài người “hoàn toàn” thoát khỏi đau khổ. Rồi tất cả những buồn phiền, dằn vặt và thống khổ riêng tư của người ấy dường như không còn quan trọng nữa. Tâm thức của vị ấy chỉ còn một ao ước duy nhất: làm sao cho tất cả chúng sanh này được giải thoát và hạnh phúc.

Kinh nghiệm tập trung hướng về một mục tiêu duy nhất — mục tiêu giải thoát tất cả chúng sinh — và buông bỏ tất cả những ước vọng khác sẽ tác động sâu sắc trên cuộc đời vị ấy. Ngay cả khi kinh nghiệm nầy trôi qua và tắt đi như âm thanh của tiếng chuông chỉ vang lên một lần, và khi tác động của nó trên cuộc đời nầy chìm sâu vào quên lãng, nó vẫn tiếp tục là nguồn năng lượng chỉ đạo và mang tính quyết định trong đời sống nội tâm của hành giả.

Nhưng chúng ta không thể cảm nhận được trạng thái “vô ngã” này chỉ thuần bằng cách chấp hành giới luật và phát nguyện, ngay cả khi chúng ta phát nguyện 18 lời nguyện căn bản và 44 lời nguyện phụ. Những công thức, quy ước, lời phát nguyện và nguyên tắc luôn là sản phẩm của thời mạc Pháp trong đó kinh nghiệm chứng ngộ nội tại không còn nữa, và để bù lại, con người thường dựa vào hình thức và nghi lễ. Và như thế, với mỗi nghi thức, chúng ta chỉ dựng thêm những bức tường dày hơn bao quanh cái nhà tù tự ngã được xây lên bằng khát vọng được sống an toàn và ổn định của chúng ta. Để rồi cuối cùng chúng ta sẽ không còn chỗ để vùng vẫy.

Nếu trong thế giới này có một chất liệu nào đó có khả năng chuẩn bị cho lộ trình của bồ đề tâm, thì chất liệu đó không gì khác hơn là sự mở rộng và đồng cảm đầy tình thương và hiểu biết với muôn loài, không phải để chiếm hữu hay mong cầu bất kỳ phần thưởng nào, dù là nhỏ nhiệm và vi tế, và càng không phải để ‘tạo ra phước đức’. Việc làm vị tha với tâm an tịnh vì lòng từ, tâm bi mẫn và chia xẻ niềm vui với tất cả chúng sanh – đây là chìa khóa duy nhất. Và bất cứ ai có thể yêu thương bất kỳ một chúng sanh nào mà không đòi hỏi hay có những ý đồ ích kỷ– người đó, qua tình thương đối với một chúng sanh, sẽ có khả năng thương yêu tất cả muôn loài, và qua đó, có thể phát Bồ đề tâm, hay nói đúng hơn, làm cho Bồ đề tâm nẩy mầm và hiển lộ. Và rồi có lẽ vị ấy sẽ thốt lên những lời tương tự như Bồ tát Santideva đã một lần thệ nguyện:

Con nguyện mang trên con gánh nặng của tất cả sự đau khổ.

Con quyết tâm mang lấy nó

Con sẽ không thối lui.

Con sẽ không chạy trốn hay run sợ

Con sẽ không nhường bước hay do dự.

Vì sao? Vì cứu độ tất cả chúng sanh là lời phát nguyện của con.

[Shantideva, Bodhicaryavatara (Tác giả chú thích)].

— o0o —

Tổ dịch thuật Trúc Lâm

Tổ dịch thuật Trúc Lâm (TDTTL) là nhóm dịch thuật gồm một số tăng, ni, và cư sĩ Phật giáo. Mục đích chính của TDTTL là giới thiệu những tác phẩm Phật học có giá trị về kinh nghiệm tu tập cũng như về giáo lý Phật pháp của các tu sĩ Phật giáo và tác giả Phật học phương Tây với đọc giả Việt Nam. TDTTL rất mong nhận được sự góp ý và chỉ giáo của quý bạn đọc.

Nguồn: Lama Anagarika Govinda

Tổ dịch thuật Trúc Lâm chuyển ngữ

The post Lý tưởng Bồ Tát: Một tia sáng trong bóng tối của thời đại chúng ta appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRỞ THÀNH MỘT BẬC BỒ TÁT SÁNG RỰC KHẮP BỐN PHƯƠNG https://bachhac.net/lam-the-nao-de-tro-thanh-mot-bac-bo-tat-sang-ruc-khap-bon-phuong.html Fri, 13 Aug 2021 05:05:46 +0000 https://bachhac.net/?p=3605 1. Những điều kiện cần thiết trước khi đọc tụng kinh Phật Cần thực hành những nghi thức trì tụng kinh Phật, như bài tán lư hương, chơn ngôn tịnh pháp giới, chơn ngôn tịnh khẩu nghiệp, chơn ngôn tịnh ba nghiệp, chơn ngôn phổ cúng dường, bài văn phát nguyện và bài kệ khai …

The post LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRỞ THÀNH MỘT BẬC BỒ TÁT SÁNG RỰC KHẮP BỐN PHƯƠNG appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRỞ THÀNH MỘT BẬC BỒ TÁT SÁNG RỰC KHẮP BỐN PHƯƠNG

1. Những điều kiện cần thiết trước khi đọc tụng kinh Phật

Cần thực hành những nghi thức trì tụng kinh Phật, như bài tán lư hương, chơn ngôn tịnh pháp giới, chơn ngôn tịnh khẩu nghiệp, chơn ngôn tịnh ba nghiệp, chơn ngôn phổ cúng dường, bài văn phát nguyện và bài kệ khai kinh:

“Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,

Bách thiên vạn kiếp nan tao ngộ,

Ngã kim kiến văn đắc thọ trì,

Nguyện giải Như Lai chơn thiệt nghĩa.”

Và cung kính xưng danh niệm Phật cúi lạy Đấng Bổn Sư ba lần. Theo truyền thống lâu đời của Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Trung Hoa, đây là những điều kiện tâm linh để mở rộng cõi lòng mình, tha thiết kính ngưỡng quì lạy chư Phật, quì lạy Tam Bảo thường trụ, tri ơn và phát nguyện lớn cứu khổ tam đồ, phát Bồ Đề Tâm và nguyện hết lòng trì tụng kiến giải chân thực nghĩa của chân ngữ Như Lai.

Nói theo ngôn ngữ bình thường, trước khi làm bất cứ việc gì tinh thần chúng ta phải cần sạch sẽ và sáng suốt, cần phải linh động, uyển chuyển nhịp nhàng, tinh thành mở rộng ra cõi bao la linh thiêng đang hiện ra ngay trước mắt. Bất cứ việc gì, dầu là việc nhỏ nhặt tầm thường nhất, đều tạo ra những hậu quả lớn lao bất ngờ, huống chi là đọc tụng kinh Phật. Phải trải qua biết bao nhiêu trăm ngàn vạn kiếp mà vẫn khó có thể gặp nghe thấy được kinh Phật trong hiện tại thoáng mất; chúng ta đã tạo ra được vô lượng phước đức trong tiền kiếp, cho nên kiếp này mới được dịp tốt để nghe kinh Phật một lần hy hữu trong đời người.

Nguyên động lực nào khiến ta tìm đọc kinh Phật? Mở rộng kiến thức? Để khoe rằng mình hiểu Phật Giáo? Để thỏa mãn tính hiếu kỳ? Để có lòng tin vững chắc vào Phật Pháp? Có rất nhiều động lực thúc đẩy mình, và ít khi mình ý thức được trọn vẹn những động lực tiềm ẩn trong lòng vào lúc mình bắt đầu đọc tụng kinh Phật. Tất cả nguyên động lực của thế gian đều sai lầm. Chỉ có một nguyên động lực duy nhất để đọc tụng kinh Phật một cách đứng đắn là phát dậy Bồ Đề Tâm, dũng mãnh quyết tâm đọc tụng kinh Phật để tu hành ngay lập tức, vì lợi ích bao la cho tất cả chúng sanh. Chỉ có sự hoài nghi chính đáng là hoài nghi về chính bản ngã và bản thân. Khi mình đã hoài nghi tất cả mọi sự mà bỏ quên sự hoài nghi về chính cái “tôi” và cái “của tôi” ở chính mình thì tất cả sự hoài nghi đã mất hết nền tảng hiện hữu.

Ngôn ngữ của chư Phật và chư Bồ Tát là ngôn ngữ tự xóa mất trong từng chữ và từng tiếng để bất ngờ khai mở một thế giới vô tận và mới lạ, và chỉ khi nào cái bản ngã hạn hẹp của mình bị nghiền nát thành tro bụi thì may ra lúc ấy mới bừng sáng lên tất cả chân thực nghĩa vô lượng của Như Lai.

Mình phải đọc tụng kinh Phật với tất cả tinh thần khẩn trương của một kẻ bị xử tử hình đang quì cúi lạy trong xà lim tối đen, đang lắng nghe sự im lặng trườn mình qua nỗi chết sắp đến…

Mình cũng có thể đọc tụng kinh Phật như người đã bị tước đoạt mất hết tất cả trong đời sống, và bỗng nhiên bất thần lại được tìm thấy một kho tàng trân bảo vô lượng trước mắt mình; niềm vui sướng vô tận, cơn khoái lạc tràn trề tràn ngập cả thể xác lẫn tinh thần mà trọn cả đời người chưa bao giờ có được cảm thức phi thường như vậy.

2. Kinh Phổ Minh Bồ Tát trong Bộ Kinh Đại Bảo Tích

Kinh Phổ Minh Bồ Tát là tập kinh được coi như bản kinh nguyên thủy của Kinh Bảo Tích (Ratnakuta sutra) còn giữ lại trong Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh (Kinh số 43, Đại Chính 310, trang 631-638). Tất cả những yếu chỉ của Đại Thừa Phật giáo đã được thu nhiếp trọn vẹn trong Phổ Minh Bồ Tát Hội.

“Tôi nghe như vậy. Một lần ấy Đức Phật đang ở trên núi Kỳ Xà Quật (Grdhrakuta) gần nơi thành Vương Xá (Rajagraha), cùng tám ngàn đại tỳ kheo câu hội. Cùng tham dự ở đó có mười sáu ngàn vị Bồ Tát Ma Ha Tát đi đến từ những Phật độ, tất cả chư Đại Bồ Tát này đều đạt tới bực bất thối chuyển và đều là những bậc sắp được Giác Ngộ viên mãn vào kiếp sau (tức là bậc nhất sinh thành Phật)”.

Như thị ngã văn: Tôi nghe như vậy, đây là chứng tín tự của tất cả kinh Phật. Đức Phật dạy ngài A Nan Đà bắt đầu khai mở kinh Phật bằng câu văn như vậy để khởi phát tín tâm vào đúng lời Phật dạy. Tổ sư Long Thọ đã nói lên sáu duyên để thành tựu sự kết tập một bộ kinh:

· Tín thành tựu (như thị)

· Văn thành tựu (ngã văn)

· Thời thành tựu (nhất thời)

· Chủ thành tựu (Phật)

· Xứ thành tựu (ở đây là núi Kỳ Xà Quật, nơi thành Vương Xá)

· Chúng thành tựu (tám ngàn đại tỳ kheo và mười sáu ngàn vị Đại Bồ Tát)

Lục thành tựu là sáu điều tựu thành sự chứng tín trọn vẹn của kinh tạng Phật Giáo.

Phần mở đầu Kinh Phổ Minh Bồ Tát Hội đã được dịch ở trên và sau đây xin dịch trọn vẹn những phần kế tiếp với những lời giảng nghĩa cần thiết đúng lúc.

3. Bốn Điều Làm Lùi Mất Trí Huệ Của Bồ Tát

“Vào ngày ấy, Đức Thế Tôn dạy bảo Trưởng Lão Mahakasyapa (Ma Ha Ca Diếp) rằng: Này Đại Ca Diếp! Có bốn điều khiến cho trí huệ của một Bồ Tát bị sút giảm hoặc bị đánh mất. Bốn điều này là bốn điều gì? Đây là bốn điều làm thối thất, làm lùi mất đi trí huệ của một Bồ Tát:

1. Không tôn kính Phật Pháp và không kính trọng những vị Pháp sư, những bậc thầy dạy Phật Pháp;

2. Giữ lại Phật Pháp thâm sâu bí ẩn mà mình đã thụ lãnh và không chịu khai mở cho người khác một cách trọn vẹn;

3. Làm chướng ngại tinh thần những kẻ vui sướng tu hành Phật Pháp bằng cách gây tạo những nhân duyên lý lẽ làm cho họ hoang mang nản lòng;

4. Có lòng tự cao, tự đại, kiêu ngạo, ngạo mạn, và khinh thường những kẻ khác hay miệt thị những kẻ khác.

Đó là bốn pháp làm thối thất lùi mất trí huệ của Bồ Tát”.

Con người bình thường không thể nào so sánh được với bậc Bồ Tát; chỉ có những kẻ phi thường xuất chúng mới tiến lên gần gũi đôi chút với trí huệ Bồ Tát. Nhưng trí huệ của Bồ Tát cũng được thể hiện trong nhiều cấp bậc khác nhau từ địa thứ nhất (hoan hỷ địa) cho đến địa thứ mười (pháp vân địa). Những bậc Bồ Tát còn ở những giai đoạn thấp phải thường trực thức tỉnh, giữ gìn tâm thức trong sáng và trong sạch trọn vẹn để khỏi phải đánh mất trí huệ phi thường của mình. Đức Phật đã chỉ dạy bốn điều vô cùng quan trọng cho tất cả chúng ta, mỗi khi chúng ta muốn dấn bước vào con đường Bồ Tát Hạnh, chỉ khi nào lên tới bất động địa (địa thứ tám) thì mới hẳn là bất thối chuyển. Phải tu chứng bao nhiêu kiếp khó khăn mới may ra được lên địa đầu tiên thứ nhất (hoan hỷ địa). Tất nhiên, khi đã là bậc Bồ Tát ở sơ địa, ở địa thứ nhất (hoan hỷ địa), bốn pháp làm thối thất trí huệ không hẳn không còn tác động một cách vi tế, âm thầm lặng lẽ, khó nhận thấy dễ dàng.

Do đó, đức Phật đã dạy bảo Bồ Tát ngay từ đầu bốn điều cực trọng:

Mình sẽ đánh mất đi sự thông minh của mình, mỗi khi mình không kính trọng Phật Pháp và không kính trọng sư phụ.

Mình sẽ đánh mất đi sự thông minh của mình, mỗi khi mình cố tình giữ giấu đạo lý bí ẩn thâm sâu mà mình đã được và không chịu mở bày, truyền đạt, giảng giải cho kẻ khác để đem lợi phúc cho họ.

Mình sẽ đánh mất đi sự thông minh của mình, mỗi khi mình gây chướng ngại cho những kẻ vui sướng tu hành Phật Pháp bằng cách cho họ những lý do duyên cớ để họ chán nản, thoái chí thất vọng trong việc hành đạo.

Mình sẽ đánh mất đi sự thông minh của mình, mỗi khi mình nỗi lên lòng kiêu mạn, kiêu ngạo và kiêu hãnh, tự cao, tự phụ, khinh thường kẻ khác, không biết quý trọng kẻ khác.

Thế nào là không kính trọng Phất Pháp? Có nhiều dạng thái dễ nhận thấy, nhưng có nhiều hình thái khác rất khó nhận ra, nhưng rất nguy hiểm, như những trường hợp sau đây:

Bên ngoài lộ vẻ kính trọng Phật Pháp, nhưng bên trong tận đáy lòng thì vẫn dửng dưng thờ ơ;

Tách rời Phật Pháp với bản thân, với tâm thức của mình; có thái độ nhị tướng (phân ra hai thực thể tách biệt với nhau), một bên là Phật Pháp và một bên là bản thân tâm thức của mình;

Coi Phật Pháp như một môn ở trường ốc để biến thành đề tài hý luận, để khoa trương sở học “uyên bác” của mình;

Không thực hành Phật Pháp, không tu hành Phật Pháp vẫn là hình thức rõ rệt nhất về việc bất tôn trọng Phật Pháp; tuy là hình thức rõ rệt nhất nhưng vẫn khó nhận ra nhất, vì sự tu hành chỉ được thể hiện trong chiều kín đáo nhất và sâu thẳm bí mật nhất của tâm thức mình.

Thế nào là không kính trọng Pháp sư? Tất cả những thầy dạy Phật Pháp đều là những Pháp sư của mình, dù có vị chỉ dạy một chữ duy nhất thôi hay chỉ dạy bằng cách mỉm cười hay bằng một cái nhìn đầy từ bi hay bằng sự im lặng liên tục từ năm này qua năm khác. Kính trọng Sư phụ là luôn luôn nhìn Sư phụ với cái nhìn trong sạch (chữ Tây Tạng gọi là “dag snang” mà người Anh Mỹ dịch là “pure vision”, “pure perception”, tức là coi tất cả chúng sinh đều là trong sạch, hoàn thiện tự bản lai nguyên ủy).

Trong Kinh Ứng Hiện Về Tịnh Kiến (Dag snang sprul pa’i legs bam) Bồ Tát Thánh Tăng Shabkar của Phật giáo Tây Tạng đã giải thích về việc cần phải khai triển cái nhìn trong sạch trong việc tin tưởng và tôn trọng kính ngưỡng tất cả những bậc Đạo sư, dù có những bậc Đạo sư không từ bỏ ngũ dục và đã sử dụng ngũ dục như là sự trang nghiêm cho mật hạnh của họ. Mình không là Phật và không được có cái nhìn dơ bẩn về những bậc Đạo sư thọ hưởng ngũ dục này và phải luôn kính trọng hoàn toàn tất cả bậc Đạo sư, không phân biệt gì cả. (Tất nhiên, khi mới bắt đầu học đạo thì cần phải biết phân biệt đâu là minh sư, đâu là tà sư, nhưng sau khi đã tu hành sâu rộng hơn thì tất cả mọi sự đều là cảnh hoạt hiện huyễn ảo của Đạo sư và tất cả hoàn cảnh xấu tốt đều trở thành bậc Thầy dạy đạo cho chính bản thân, cho chính tâm thức lưu chuyển vô tận của mình).

Tuy nhiên, một Đạo sư chân chính không bao giờ vướng kẹt vào ngũ dục, không bao giờ nô lệ vào sắc, thanh, hương vị và xúc. Một Đạo sư đúng nghĩa chẳng bao giờ bị trói buộc bởi tiền tài, danh vọng, sắc dục, ăn uống và ngủ nghĩ. Một Đạo sư đáng kính không bao giờ chỉ trích tấn công những Đạo sư khác một cách trực tiếp, một cách gián tiếp hay một cách mỉa mai ám muội.

Một trong những điểm nổi bật nhất dễ nhận thấy nơi một Đạo sư là lòng từ bi tự nhiên, tự phát và không có tính cách thảm kịch theo điệu tình cảm thường nhân.

Điểm sáng rực nhất ở một Đạo sư là sự khiêm tốn lạ lùng nhất và lòng kiên nhẫn phi thường nhất, đồng thời thể hiện sự đồng nhất dị thường siêu việt giữa Phật Pháp và Pháp sư. Không bao giờ có sự dị biệt hay tách rời mảy may giữa Phật Pháp và người dạy Phật Pháp. Mỗi một cử chỉ của bậc Thầy làm sống lại tất cả cử chỉ của chu Phật và chư Đại Bồ Tát. Mỗi một bậc Thầy là một vị Phật di động tự tại giữa sinh tử luân hồi. Do đó, kính trọng Phật Pháp cũng đồng nghĩa với việc kính trọng những vị Pháp sư, và kính trọng những vị Pháp sư cũng chính là tôn trọng Phật Pháp.

Điều thứ hai nêu ra ở trên: “nhận thọ giáo pháp thâm sâu bí ẩn mà chẳng nói hết cho những kẻ khác biết tới để tu hành”, “ôm lại những pháp môn thâm sâu bí ẩn mà mình đã lãnh thọ và không chịu khai mở truyền lại cho người khác một cách trọn vẹn”, điều này không có nghĩa rằng lúc nào cũng cần phải rao giảng, lúc nào cũng giảng nghĩa Phật Pháp, vì tất cả đều tùy thuộc vào thời, vào tiết, vào nhân và vào duyên. Phải có đủ bốn yếu tô hiện diện đồng lúc (thời, tiết, nhân và duyên) thì mới khai mở được trọn vẹn bất cứ việc gì trên đời này; hơn nữa, tùy thuộc vào căn cơ và tập khí từng người mà sự tương giao liên hệ mới được thiết lập một cách hữu hiệu tốt đẹp. Điều thứ hai ở đây chỉ nói lên lòng Bố Thí bao la của bậc Bồ Tát, và tất nhiên sự Bố Thí lớn lao nhất là Bố Thí Phật Pháp, bố thí hiến dâng tất cả giáo lý pháp môn của Phật Pháp toàn diện cho tất cả chúng sinh, vì lợi phúc hưng thịnh vô tận cho tất cả chúng sinh để long thịnh Phật chủng.

Điều thứ ba: “Làm chướng nạn cho những người ưa thích tu hành vì nói ra những lý lẽ giải thích khả dĩ gây ra sự chán nản thất vọng cho việc tu hành của họ”, “làm chướng ngại tinh thần những kẻ vốn vui sướng tu hành Phật Pháp bằng cách bày biện những duyên cớ lý do khiến cho họ hoang mang nản chí…”

Xin cử ra đây một trường hợp thường xảy ra: có những bậc chân tu lại bị trói buộc vào “chủ nghĩa khoa học vạn năng” (scientism) hoặc bị ảnh hưởng bởi một cách nông cạn bởi thuyết “triệt tiêu thần thoại” (demythologization) hay “phá hủy huyền thoại” theo điệu thần học Tin Lành của nhà thần học Rudolf Bultmann (gọi là “Ent-mythologisierung” trong Đức ngữ mà người Anh Mỹ gọi là “dethologizing” hay “religion without myth”, “tôn giáo không cần thần thoại”, loại bỏ huyền thoại”), họ liền đề nghị một thứ đạo Phật không còn thần thoại hay linh thoại gì cả. Họ đả kích những lời lẽ trong kinh Phật có liên hệ tới những điều khó hiểu như việc đức Phật sinh ở nách hay hông của hoàng hậu mẫu thân hay như 32 tướng của đức Phật, và họ tự cho rằng “ người đời sau tự ý bày đặt thêm vào những điều thần thoại như việc đức Phật hiện thân làm con voi trắng sáu ngà vào thai mẹ , đức Phật từ hông của mẹ mà nhập thai, 32 tướng tốt của đức Phật, vân vân, nghĩa là người đời sau làm interpolation, vân vân…”

Dù với thiện chí cao cả nào đi nữa trong việc “canh tân” hay “hiện đại hóa” giáo lý Phật Giáo, những việc làm vừa nêu ra ở trên của những bậc chân tu (hay những bậc “thiền sư hiện đại”) đều vô tình phô bày ra những hiện trạng quái lạ sau đây:

Gây ra nỗi hoang mang, lòng bối rối ngờ vực hoài nghi trong tinh thần yếu đuối của những Phật tử thuần thành chất phác.

Khiến cho họ trọng vọng những tiêu chuẩn nhất thời của những khoa học hữu hạn thuộc phạm vi thế tục, hơn là sống hồn nhiên trọn vẹn vào trong cõi bí mật linh thiêng của thế giới tâm linh.

Ngờ vực hoài nghi là điều rất tốt để tránh khỏi tất cả mê tín dị đoan, nhưng có khả năng biết ngờ vực, biết hoài nghi đúng chỗ là điều vô cùng khó khăn, không dễ thực hiện được, nếu chúng ta không ý thức được trọn vẹn giới hạn của ngôn ngữ, của lý trí và của sự hiểu biết.

Hơn nữa, sau đây là đôi điều đáng lưu ý:

Không phải tất cả những thần thoại đều là “hoang đường” hay đều là “huyền thoại”, mỗi một thần thoại đều chứa đựng những ý nghĩa bí ẩn siêu việt vô cùng phong phú khả dĩ nuôi dưỡng chiều tâm linh sâu thẳm nhất của linh thức con người (tất cả sự nghiệp khảo cứu của Joseph Campbell đều nói lên điều đáng nói này);

Đối với Phật Pháp, tất cả đều giống như mộng, huyễn, bào, ảnh, vân vân và tất cả đều nằm trong tinh thần “bản lai vô nhất vật” của Lục Tổ Huệ Năng, do đó, không thể lấy tiêu chuẩn và lý do từ những “cái có thực” để giải trừ những “cái không có thực”, khi tất cả những gì người ta cho rằng “có thực” đều bị Phật Pháp phủ nhận rằng tất cả những cái ấy đều không có thực. Vì ngay đến cả bản thân của con người chỉ là sự giả hợp của ngũ uẩn, tức là sự giả hợp của năm loại “thần thoại” khủng khiếp nhất: “thần thoại” do sắc tạo ra, “thần thoại” do thọ tạo ra, do tưởng, hành, và thức tạo ra; “thần thoại” do năm uẩn tạo ra đồng lúc. Và chính những danh từ như sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều là những “giả danh” hay “những thần thoại”, “những huyễn thoại” của ngôn ngữ vọng niệm và của vọng tưởng.

Không thể áp dụng phương pháp thần học Tin Lành hay thần học Thiên Chúa Giáo vào trong lãnh vực Phật Giáo, vì một lý do dễ hiểu nhất là thần học đặt trọng tâm vào cái Hữu (viết hoa) và cái hữu (viết thường) đang khi Phật giáo đã phủ nhận hữu và phủ nhận vô từ bước đầu, mặc dù do lòng Đại Bi mà không bao giờ bỏ quên tục đế hay thế đế, thế mà vẫn vô ngại chứng nhập đệ nhất nghĩa đế (Trí Tuệ Khôn Tính, Trí Tuệ Bát Nhã vô tự tính) và đồng hóa thuyết duyên khởi với Không Tính siêu việt. Vào lúc cuối đời, nhà thần học Tin Lành Paul Tillich đã muốn áp dụng cái nhìn của Phật giáo vào nên thần học của mình, sau khi ông đã được gặp gỡ thảo luận với những thiền sư Nhật Bản, đang khi ấy, những thiền sư của Việt Nam lại làm chuyện ngược và lạ lùng: áp dụng Thần Học Tin Lành vào Phật Giáo!

“Do duyên cớ gì mà Đức Phật hiện thân tợ bạch tượng sàu ngà vào thai mẹ?”, “Do duyên cớ gì Bồ tát từ hông của mẹ mà nhập thai”, vân vân, đều được giải đáp cặn kẽ một cách viên thông trong kinh Đại Thừa Phương Tiện Hội (Kinh 38, Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh 310, trang 594-607), chúng ta chỉ cần tụng đọc lại đầy đủ kinh luận thích ứng thì tránh được cái tội đổ oan cho “người sau bày đặt thêm thắt vào” (“interpolation”).

Còn riêng về 32 tướng của Đức Phật thì cần đọc tụng lại Tổ Sư Long Thọ (Nagarjuna) nơi luận Rājaparikathā-ratnamāla (đoạn thi kệ thứ 176 cho đến đoạn thi kệ thứ 200). Nơi những đoạn thi kệ này, Tổ sư Long Thọ đã giải thích những nhân duyên nào lại tạo ra 32 tướng của Chuyển Luân Thánh Vương và của chư Phật. Đồng thời ngài cũa cho ta thấy được ý nghĩa siêu việt diệu tướng của 32 tướng của tất cả chư Phật.

Tất cả kinh điến Phật giáo đều liệt kê 32 tướng của chư Phật, nhưng vì sợ chấp tướng và hiểu sai ý nghĩa “vô tướng” trong Phật Giáo; vì hiểu sai câu kinh “Như Lai sở thuyết thân tướng tức phi thân tướng” hoặc mấy câu kinh “Như Lai thuyết tam thập nhị tướng tức thị phi tướng, thị danh tam thập nhị tướng” của Kinh Kim Cương Bát Nhã; vì chỉ giữ lại “tức phi” và “tức nhị phi” mà không đồng lúc giữ lại luôn “thị danh”; hoặc vừa giữ vừa bỏ đồng lúc; hoặc chỉ nhấn mạnh “sắc bất dị không” mà bỏ quên “không bất dị sắc” cho nên các nhà thiền sư hiện đại lại thoải mái hoạt hiện thái độ “tẩy trừ thần thoại” (demythologizing) theo điệu thần học Tin Lành Rudolf Bultmann vào lòng kinh điển Phật Giáo! Đây là điều ngộ nghĩnh, rất tức cười, nhưng chúng ta không nên cười, chỉ cần mỉm cười nhẹ nhàng, vì không nên bao giờ bỏ quên điều thứ tư mà đức Phật đã dạy chúng ta: “Kiêu mạn tự cao và khinh thường kẻ khác là điều thứ tư làm cho thối thất trí huệ Bồ Tát.”

Chúng ta thường lầm lẫn ý nghĩa đích thực của sự phê bình với thái độ chỉ trích hạ thấp người khác. Phê bình đúng nghĩa là để cho ánh sáng được là ánh sáng và để cho bóng tối được là bóng tối, dù không thể làm cái việc “để cho…” thì chỉ tỏ cho kẻ khác nhìn thấy đâu là sáng và đâu là tối, đâu là trưa, đâu là chiều và hoàng hôn, vân vân. Có những thế lực vô minh mà mình không thể đồng lõa được. Cần nói lên những điều cần nói với tất cả khiêm tốn và khiêm hạ đúng mức, và không giả vờ khiêm tốn để tự cao kiêu mạn một cách vi tế kín đáo. Một người bình thường chỉ im lặng cho lắng xuống tận đáy lòng chừng vài ba phút thì đủ thấy tất cả sự tối tăm lù mù của tâm thức mình và không thể nào tự dám lường gạt với dáng điệu kiêu căng ngạo mạn hay dám khinh thường bất cứ ai trên đời này. Trí huệ của Bồ Tát sẽ tắt ngay lập tức nếu Bồ Tát móng lên một ý tưởng mảy may khinh thường bất cứ chúng sinh nào.

Khinh thường người khác chính là tự khinh thường mình, vì mình là tất cả người khác, tất cả chúng sinh khác. Kiêu mạn và tự cao chỉ là ảo ảnh của mình về vị thế “độc lập” của tự thể: Phật giáo phá vỡ những cái gọi là “độc lập” của “tự thể”, của “bản thể” và của “hữu thể”. Tất cả những cái gọi là “thể” đều là giả danh, đều không có “tự tính”. Bồ Tát còn phiền não lay động từ “bản thể” và “tha thể” thì liền đánh mất Trí Huệ siêu thể và bị trói buộc vào nhị tướng (tướng phân hai).

4. Kiêu mạn là gì?

Bốn điều khiến cho lùi mất trí huệ của Bồ Tát đều liên hệ mật thiết với nhau: Vì không tôn trọng Phật Pháp, cho nên không kính trọng Pháp sư, cho nên giữ lại Phật Pháp thâm sâu và làm chướng ngại cho những kẻ vui sướng tu hành, cho nên có lòng kiêu mạn và khinh thường hạ thấp người khác. Hoặc cũng có thể hiểu từ điều thứ tư (kiêu mạn) trở lui đến điều thứ nhất (không tôn trọng Phật Pháp); vì có lòng kiêu mạn cho nên không tôn trọng Phật Pháp và tôn kính Pháp sư.

Kiêu mạn là gì?

Kiêu khác với mạn; kiêu có liên hệ với những cái mình đang có tạm thời, còn mạn có liên hệ tới những gì mình không có mà tưởng rằng mình có. Kiêu và mạn gọi chung là kiêu mạn để nói lên thái độ tâm thức về những cái mình đang có tạm thời và sẽ mất (kiêu), và về những gì mình không có mà vọng tưởng rằng mình có. Hai thái độ (kiêu và mạn) đều xuất phát từ cái vọng tưởng về sự xác nhận: “tôi là” (như “tôi hiện là thế”, “tôi bằng ngang với…”, “tôi thấp thua đối với…”, “tôi lớn cao hơn đối với…”)

Trong kinh Phúng Tụng (Sangiti Sutta) đức Phật đã dạy rằng có ba điều gọi là kiêu:

I. Vô bệnh kiêu (arogya-mado; kiêu ngạo về sức khỏe lành mạnh của mình)

II. Niên tráng kiêu (yobbana-mado; kiêu ngạo về tuổi trẻ của mình)

III. Hoạt mệnh kiêu (jivita-mado; kiêu ngạo về đời sống sinh tiền của mình)

“Vô bệnh kiêu”, “niên tráng kiêu”, “hoạt mệnh kiêu” là những điều đang tạm có đó nhưng sẽ mất. Mình đừng nên tự phụ và khoe khoang rằng mình không bệnh, rằng mình còn trẻ, rằng mình đang sống, vì tất cả đều vô thường. Ba điều “kiêu” này khiến mình làm điều ác về thân, khẩu và ý, để rồi “sau khi thân hoại mạng chung, bị sinh vào cõi dữ, đọa xứ, địa ngục”; cũng vì ba cái “kiêu” này mà kẻ tu hành đã “từ bỏ Phật Pháp và trở lui lại đời sống thế tục” (Anguttara Nikaya, Kinh Bộ Tăng Chi, chương Ba, tiết 39).

Còn về mạn, đức Phật dạy rằng có ba mạn:

I. Thắng mạn (atimana; tự phụ cho rằng mình cao quí hơn…);

II. Đẳng mạn (māna; tự phụ cho rằng mình bằng ngang như…);

III. Ty liệt mạn (omāna; tự phụ cho rằng mình kém thua…).

Theo kinh Phúng Tụng (Sangiti Sutta), đây là ba hình thức của mạn:

a) “Tôi tốt đẹp hơn…” (“seyyo’ham asmiti vidha…)

b) “Tôi ngang bằng với…” (“sadiso’ham asmiti” vidha…)

c) “Tôi tệ thua đối với…” (“hino’ham asmiti” vidha…)

Kinh luận Phật giáo thường nói đến ba mạn, bảy mạn và mười hai mạn, nhưng tất cả đều xuất xứ từ ngã mạn (Asmimana).

Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm (quyển 9) có liệt kê ra bảy mạn (thất mạn):

I. Mạn (māna: hơn ít mà tưởng hơn nhiều)

II. Ngã mạn (asmimāna: tưởng mình tài giỏi, khinh thường kẻ khác)

III. Tà mạn (mithyamāna: ngạo vì chấp trước tà kiến)

IV. Quá mạn (abhimāna: bằng mà tự cho là hơn hoặc thua mà cho là bằng)

V. Mạn quá mạn (manatimana: thua nhiều mà tự cho là hơn)

VI. Tăng thượng mạng (adhimāna: chưa chứng đạo mà tự cho chứng đạo)

VII. Ty liệt mạn (unamāna: thua nhiều mà cho là thua ít hoặc không thua; có ít lại khoe nhiều)

Chúng ta cũng có thể hiểu bảy cái mạn một cách cụ thể rõ ràng trong những trường hợp khác như vầy:

a) Thấy tưởng mình cao siêu hơn một người nào đó kém thua mình;

b) Thấy tưởng mình cao siêu hơn một người nào đó ngang hàng với mình;

c) Thấy tưởng mình cao siêu hơn một người nào đó cao siêu hơn mình;

d) Thấy tưởng mình có bản ngã cao siêu hơn mọi người về nhiều phương diện (cá tính, màu da, vị thế xã hội, quốc tịch, giáo dục, vân vân);

e) Thấy tưởng mình cao siêu về những đức tính mà mình tưởng rằng mình đạt được nhưng thực ra đó chỉ là tưởng tượng;

f) Thấy tưởng mình cao siêu vì tự cho rằng mình ngang hàng hay gần ngang hàng với những kẻ quá vĩ đại hơn mình đến một trời một vực, chẳng hạn cho rằng mình ngang hàng với Phật, với chư Đại Bồ Tát, với những bậc Đại Thánh Tăng, Đại Sư Trưởng, Đại Thiền Sư hay Đại Vĩ Nhân, vân vân.

g) Thấy tưởng mình cao siêu vì tưởng rằng mình hơn người qua những tài vặt, như kiểu anh hùng rơm qua những thành công có tính cách thế tục như đào hoa, trụy lạc, buôn lậu, thể thao, săn bắn, đánh bạc, du côn, đàng điếm hay bất cứ mánh khóe bịp bợm nào khả dĩ qua mặt và lường gạt người khác.

Có một điều dễ nhận rõ ràng: bất cứ kẻ nào còn có một chút mảy may kiêu ngạo thì không bao giờ có thể học được Phật Pháp một cách đứng đắn; tu hành chứng nhập những giáo lý cơ bản ở ngay bước đầu hành trình cần phải dẹp trừ tính kiêu căng, khinh mạn, tự phụ, tự cao, tự đại.

Kiêu mạn làm dơ bẩn tâm thức và đóng chặt lại trí óc. Một Phật tử kiêu mạn là người phá hoại Phật Pháp, và một thầy Tỳ kheo kiêu mạn là kẻ chỉ mang danh hiệu “Tỳ kheo” mà thực chất thì tệ hại hơn kẻ phàm phu tục tử, vì chính sự kiêu mạn trong hàng tăng chúng sẽ đưa Phật Pháp đến chỗ tiêu diệt. Đó là lý do mà đức Phật đã nêu ra về sự thối thất trí huệ của bậc Bồ Tát: “Không tôn trọng Phật Pháp, không kính Pháp sư, kiêu mạn tự cao, và khinh bỉ, làm thấp hèn kẻ khác”.

5. Những biến thái đa dạng của sự kiêu mạn.

Tự tin khác hẳn sự kiêu mạn. Tự tin rằng mình có khả năng dẹp bỏ tất cả mọi kiêu mạn; tự tin rằng mình có khả năng vô tận để tiêu diệt tất cả những phiền não; tự tin rằng mình có khả năng vô biên để thành Phật vì lợi ích bao la cho tất cả chúng sinh; tự tin rằng mình có sức mạnh tâm linh mênh mông để giúp tất cả chúng sinh thoát khỏi tất cả nỗi sợ hãi và đau khổ trong cõi luân hồi; tự tin rằng mình không khác gì ảo tưởng phù du và như một giấc chiêm bao; tự tin rằng lúc chết mình sẵn sàng hóa kiếp xuống địa ngục để cứu giúp những kẻ đọa đày bi thảm, vân vân…

Có thể tự tin như vậy, vì thấy hiểu rằng cái “tôi” không có thực, và “mình” chính là tất cả những gì được thấy và được hiểu; chính là tất cả những gì chưa được thấy và chưa được hiểu; chính là tất cả những gì không thể thấy và không thể hiểu.

Còn sự kiêu mạn chỉ là xây dựng tất cả những “thần thoại” và “huyễn thoại” chung quanh ngũ uẩn vô thường. Sự kiêu mạn được thành hình từ vọng tưởng về cái “tôi là thế này” hay “tôi là thế kia”, “tôi không là thế này”, “tôi không là thế kia”, “tôi đã như thế” và “tôi sẽ như vậy”, vân vân…

“Mặc cảm tự tôn” chỉ là hình thức khác của “mặc cảm tự ty”, và chính “mặc cảm tự ty” lại là hình thức ẩn giấu vi tế của “mặc cảm tự tôn”: thấy tưởng rằng mình hơn chỉ là hình thức khác của việc thấy tưởng mình thua, còn thấy tưởng rằng mình ngang hàng với ai hoặc với cái gì đó chỉ là kết quả của sự so sánh, sự đo lường, sự tính toán, sự phân biệt giữa cái này và cái kia, đây là bước đầu phá vỡ sự kiêu mạn.

Từ ba mối đầu của Mạn:

I. Tôi cao siêu hơn kẻ khác (thắng mạn)

II. Tôi ngang hàng kẻ khác (đẳng mạn)

III. Tôi kém thua kẻ khác (liệt mạn)

Chúng ta có thể nhìn thấy bao nhiêu biến thái đa dạng của sự kiêu mạn (gọi chung là “kiêu mạn”, nhưng mạn vẫn trọng hơn kiêu và tất cả kiêu đều khởi phát từ mạn, từ ngã mạn); trong kiêu đã hàm ý mạn, do đó, chúng ta có thể diễn giải ba kiêu như sau:

I. Vô bệnh kiêu: tôi lành mạnh hơn kẻ khác;

II. Niên tráng kiêu: tôi trẻ tuổi hơn kẻ khác

III. Hoạt mệnh kiêu: tôi linh động tràn trề sức sống hơn kẻ khác.

Chỉ có chứng nhập pháp vô thường là dẹp bỏ mọi kiêu, mọi mạn, và mọi kiêu mạn. Một người sắp chết khó lòng tiếp tục giữ được tâm kiêu mạn. Sự bất khuất của một anh hùng trước cái chết không phải là kiêu mạn mà là thái độ bất lay chuyển của một người dám hy sinh bản thân cho một cái gì siêu việt cao cả vượt lên trên kiếp người.

Sau đây, cũng nên liệt kê ra những biến thái đa dạng của kiêu mạn để chúng ta dễ nhận những phiền não đã trói buộc mình và khiến cho mình đánh mất trí huệ Bồ Tát:

a) Mình tưởng rằng mình cao siêu, vì mình cho rằng mình hơn kẻ khác;

b) Mình tưởng rằng mình cao siêu, vì mình cho rằng mình bằng kẻ khác;

c) Mình tưởng rằng mình cao siêu, vì mình cho rằng mình kém thua kẻ khác.

Điều kiêu mạn thứ ba ở trên có vẻ mâu thuẫn, sự thực thì sự kiêu mạn càng tăng trưởng qua sự mâu thuẫn bề ngoài: có những sự “khiêm tốn” hay “hạ mình” chỉ là hình thức tế nhị của kiêu mạn; nhận rằng mình thua kém chỉ là lùi lại để nhảy thực xa hơn nữa… Nói một cách văn chương: có sự toàn thiện của cái bất toàn… Hay nói một cách thơ mộng cải lương: “tình chỉ đẹp lúc dang dở…” hay nói một cách triết lý: sự thành tựu của cái gì chưa xong, sự có mặt của cái vắng mặt…

Ngoài ba hình thức kiêu mạn chính yếu trên, có thể nhìn ra những dạng thái phồn thịnh khác của kiêu mạn:

a) Mình tưởng rằng mình cao siêu, vì mình cho rằng mình hơn cả cái hơn của kẻ khác;

b) Mình tưởng rằng mình cao siêu, vì mình cho rằng mình ngang bằng cái hơn của kẻ khác;

c) Mình tưởng rằng mình cao siêu, vì mình cho rằng mình thua kém hơn cái hơn của kẻ khác;

d) Cao siêu, vì hơn cả cái trung bình của kẻ khác;

e) Cao siêu, vì ngang bằng với cái trung bình của kẻ khác;

f) Cao siêu, vì thua kém với cái trung bình của kẻ khác;

g) Cao siêu, vì hơn cái kém của kẻ khác;

h) Cao siêu, vì bằng với cái kém của kẻ khác;

i) Cao siêu, vì thua kém với cái kém của kẻ khác…

Tóm lại, tất cả mọi dạng thái của kiêu mạn đều là trò hý luận chằng chịt của tâm thức vọng động, xô đẩy con người ra ngoài sự tịch lặng của Phật Pháp, khiến cho mình đánh mất trí huệ của Bồ Tát, vì khinh thường chúng sinh, tự tôn tự đại, không tôn trọng Phật Pháp và không tôn kính Đạo sư, chướng ngại cho chúng sinh và chướng nạn cho sự thành tựu Phật Đạo ra ngoài sáu nẻo luân hồi.

6. Bốn Điều Khiến Cho Bồ Tát Đạt Được Đại Trí Huệ

“Hỡi này, Ca Diếp, có bốn điều khiến cho một bậc Bồ Tát đạt được Đại Trí Huệ. Bốn điều ấy là gì?

1. Luôn luôn tôn kính Phật Pháp và tôn thờ những vị Pháp sư;

2. Thuyết giảng khắp nơi bất cứ pháp môn nào của Phật Pháp mà mình đã học được, thuyết giảng rộng rãi với cái lòng trong sạch, không dơ bẩn vì danh thơm tiếng tốt hoặc vì lợi lộc tiền tài;

3. Phải biết rằng trí huệ phát khởi từ sự siêng học Phật Pháp càng nhiều càng tốt, và siêng năng học Phật Pháp với sự cố gắng nỗ lực khẩn cấp liên tục giống như giải cứu cái đầu mình khỏi bị lửa cháy sém;

4. Phải tụng đọc những kinh Phật mà mình đã học được, và thực hành những điều mình đã học một cách vui sướng bất tận mà không bị vướng kẹt chằng chịt bởi ngôn từ, ngôn thuyết”.

“Tôn trọng Phật Pháp” cũng có nghĩa đồng thời là “cung kính những bậc Thầy giảng dạy Phật Pháp”. Có người thích nói rằng: “Tôi chỉ nghe Pháp, chứ không theo Sư” lời nói này chỉ nói lên tính ngạo mạn của người đời và chỉ làm phương hại đến lòng cầu đạo của bản thân thôi. Biết nhìn tất cả Pháp sư với đôi mắt trong sạch, với tâm thanh tịnh, là đã nhập đạo rồi. Đại Trí Huệ của Bồ Tát bắt đầu phát khởi từ tất cả tấm lòng sùng kính thiết tha trọn vẹn đối với Tam Bảo, đối với Phật, Pháp và Tăng. Mỗi một vị tăng vô danh và khiêm tốn nhất đều là Pháp sư của mình, nếu mình nhìn thấy được sự liên tục thiêng liêng của truyền thống đạo pháp từ trên 2.500 năm trôi qua sau biết bao nhiêu đảo điên dâu bể bi đát của lịch sử loài người.

Điều thứ hai để được Đại Trí Huệ của Bồ Tát là rao truyền rộng rãi Chánh Pháp với tất cả tâm thanh tịnh trong sáng, “không cầu tất cả danh văn và lợi dưỡng”, nghĩa là không bị trói buộc vào tám pháp thế gian mà Đức Phật đã giảng trong kinh Phúng Tụng (Sangiti sutta).

Tám pháp thế gian (loka-dhamma) là:

1. Được; chữ Hán: đắc (chữ Phạn: lābhah)

2. Mất; bất đắc (alābhah)

3. Danh tiếng; danh văn (yasah)

4. Tủi nhục/tiếng xấu; ác văn (ayasah)

5. Chê; phỉ báng (nindā)

6. Khen; tán thán (prasamsa)

7. Sướng; lạc (sukham)

8. Cực; khổ (duhkham)

Trong kinh Chúng Tập thuộc bộ Kinh Trường A Hàm, cách dịch chữ Hán bản xưa cũng đồng nghĩa như trên:

1. Thay vì đắc thì gọi là lợi

2. Thay vì bất đắc thì gọi là suy

3. Thay vì danh văn thì gọi là dự

4. Thay vì ác văn thì gọi là hủy

5. Thay vì phỉ báng thì gọi là cơ

6. Thay vì tán thán thì gọi là xưng

7. Cũng gọi là lạc

8. Cũng gọi là khổ

Thuyết giảng Phật Pháp, dù có được thành công hay thất bại (đắc hay bất đắc), dù có lợi lộc hay chẳng được lợi lộc tài sản gì cả (lợi hay suy), dù có được tiếng tốt hay tiếng xấu đi nữa (danh văn hay ác văn, dự hay hủy), dù bị phỉ báng chê cười hay được khen ngợi ca tụng (phỉ báng hay tán thán, cơ hay xưng), dù được sướng hay cực khổ bực mình đi nữa (lạc hay khổ), dù ở bất cứ hoàn cảnh tốt hay xấu nào đi nữa, Bồ Tát vẫn thuyết giảng rộng rãi Phật Pháp khắp nơi, tâm trạng của Bồ Tát lúc nào cũng cảm thấy yên ổn và không bị lay động bởi tám thế pháp hay tám cơn gió độc. Điều quan trọng khiến cho Bồ Tát đạt được Đại Trí Huệ vẫn là giữ được tấm lòng trong veo trắng bạch như bầu trời không gợn một bóng mây xưa.

Điều thứ ba là siêng học Phật Pháp: Bồ Tát phải được đa văn; đừng bao giờ lầm tưởng rằng mình có thể trở thành Bồ Tát mà chẳng cần học hành gì cả; đừng bao giờ tưởng rằng mình có thể hoắc nhiên đốn ngộ mà chẳng cần tụng đọc kinh Phật !

Ngay cả Lục Tổ Huệ Năng, dù không biết đọc chữ Tàu, nhưng vẫn nghe rất nhiều kinh Phật, trong Pháp Bảo Đàn Kinh có trích dẫn rất nhiều kinh điển quan trọng của Phật Pháp. Hiện nay ở Việt Nam và ở những cộng đồng Việt Nam tại khắp thế giới thường có phong trào tu thiền mà chẳng cần đọc tụng kinh luận Phật Giáo, đây là một điều sai lầm nên nêu ra thường xuyên để cảnh cáo những kẻ phá hoại Phật Pháp. Không phải chỉ cần đọc bài ba quyển về thiền học của D.T.Suzuki là có thể tự nhận là thiền sư hay thiền giả. Người ngồi tham thiền suốt cả ngày lẫn đêm mà không chịu niệm Phật A Di Đà, không chịu tụng đọc kinh luận Phật giáo thì chắc chắn chỉ thực hành tà đạo và trở nên cuồng thiền rất nhanh như chớp. Trước khi cuồng vọng đốt bỏ Kinh Kim Cang thì cũng nên thiêu đốt cái bản ngã của mình đi. Đừng bao giờ bắt chước ngôn ngữ dị thường của những bậc Thiền sư Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn hay Việt Nam. Chúng ta chỉ là những con sâu cái kiến và chỉ nên cố gắng bò thật chậm rãi trên những trang kinh cổ kính… Nếu kiếp này chưa đốn ngộ, chưa được là Bồ Tát, chưa thành Phật, vậy kiếp sau xin nguyện đầu thai làm chú tiểu quét lá sân chùa, như thế còn có ý nghĩa thơ mộng hơn là kiêu mạn phá hoại lòng tin trong sáng của bao nhiêu Phật tử hiền lành.

“Siêng năng tu học Phật Pháp với sự cố gắng nỗ lực khẩn cấp liên tục, giống như giải cứu cái đầu mình khỏi bị lửa cháy sém”, lời dạy này của Đức Phật cần được ghi tạc bằng vàng ngọc trong tất cả thiền viện, tu viện và chùa chiền Việt Nam.

Điều thứ tư là đọc tụng kinh Phật một cách sung sướng hoan lạc và thực hành tất cả lời Phật dạy trong đời sống thường nhật và đừng để tâm trí kẹt vào ngôn thuyết. “Như thuyết thực hành” mà chẳng chấp vào ngôn thuyết, chẳng đeo níu vào ý nghĩa thông thường của ngôn ngữ mà phải nắm lấy cái tinh túy sáng rực vượt ra ngoài tất cả ý nghĩa quen thuộc của ngôn từ: học cách phá vỡ tất cả ý nghĩa hữu hạn của ngôn thuyết mà thể nhập vào tận bên trong vô lượng nghĩa của từng chữ xuất hiện trong bất cứ kinh luận Phật Pháp nào mà mình đang trì tụng.

7. Bốn Điều Khiến Cho Bồ Tát Đánh Mất Bồ Đề Tâm.

“Này hỡi Ca Diếp (Kasyapa), có bốn điều khiến cho một vị Bồ Tát đánh mất lòng Bồ Đề của mình. Bốn điều ấy là những điều nào?

1. Lường gạt Thầy dạy đạo của mình, không tôn kính những pháp môn và những Kinh Phật mà mình đã được truyền dạy;

2. Gây tạo sự ngờ vực không xác đáng và sự ân hận hối tiếc vô cớ vào trong lòng kẻ khác;

3. Chửi rủa phỉ báng những kẻ cầu đạo Đại Thừa, rồi bêu xấu họ khắp nơi;

4. Xun xoe nịnh hót và lòng dạ quanh co, không được thẳng thắn thật lòng khi tiếp xúc tùng sự với người đời.

Bồ Đề Tâm (Bodhicitta) là Lòng Bồ Đề, tức là Lòng Giác Ngộ. Hiểu cho trọn vẹn tất cả ý nghĩa phong phú của Bồ Đề Tâm không khác gì phải hiểu toàn diện giáo lý của tất cả Đại Thừa Phật Giáo: lòng thành tâm dũng mãnh đạt tới Giác Ngộ viên mãn vì phúc lợi mênh mông cho tất cả chúng sinh. Chính Bồ Đề Tâm làm Bồ Tát thành ra Bồ Tát, không có Bồ Tát Tâm thì tất cả Phật giáo sẽ bị tiêu diệt trên mặt đất. Bồ Đề Tâm gồm có hai mặt:

1. Mặt bình thường: Bồ Đề Tâm được thực hiện qua lòng từ bi.

2. Mặt phi thường: Bồ Đề Tâm được chứng nhập qua Đại Trí Huệ.

Mặt bình thường chính là phương tiện thiện xảo được cụ thể hóa qua năm ba la mật đầu: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn và thiền định ba la mật.

Về mặt phi thường, đó chính là Bát Nhã ba la mật, tức Không Tính.

Cả hai mặt đều dính líu mật thiết với nhau, như sự liên hệ thiết thân giữa tục đế và chân đế. Và sáu ba la mật đầu tương ứng với sáu địa đầu của lộ trình thập địa Bồ Tát; mười ba la mật (sáu ba la mật được phát triển sâu rộng thành mười ba la mật) tương ứng với thập địa (từ hoan hỷ địa đến pháp vân địa).

Trên đây là nói sâu rộng về toàn diện của Đại Thừa Phật Giáo. Trở về khía cạnh thường nhật của cuộc sống con người, Đức Phật chỉ dạy bốn điều giản dị, giúp đỡ chúng ta thoát khỏi tình trạng khủng khiếp nhất: đánh mất Bồ Đề Tâm. Bồ Tát đánh mất Bồ Đề Tâm thì Bồ Tát không còn là Bồ Tát nữa.

Điều thứ nhất là khi trá sư trưởng: dối gạt, lường gạt, đánh lừu bậc Thầy của mình. Điều này xảy ra trong nhiều trường hợp dễ nhận: bên ngoài lộ vẻ cung kính Thầy, nhưng bên trong tâm thức lúc nào cũng sẵn sàng phản bội Thầy; bước đầu tỏ vẻ khiêm hạ từ tốn run rẩy trước mặt Thầy, nhưng bước sau là muốn đạp Thầy xuống để giành lấy vị thế của Thầy hoặc tưởng rằng mình lại vượt cao hơn Thầy rất xa, hoặc cho rằng mình đã thành Phật và tưởng rằng Thầy chỉ là một người tầm thường. Trước mặt Thầy thì quì lạy, nhưng sau lưng thì dùng những tiếng lóng bất kính để ám chỉ Thầy. Đó là chưa kể những sự dối gạt theo điệu thế gian về ba mặt thân, khẩu và ý. Đứng về mặt sâu thẳm thiêng liêng của Phật giáo Mật tông, điều đáng sợ nhất và điều dối gạt lớn nhất đối với Thầy là không tu hành đúng theo giới nguyện và không thực hiện mật nguyện (samaya) riêng biệt của một đệ tử đối với bổn sư của mình. Đó cũng là lý do khiến cho mình không cung kính những pháp môn, những kinh điển mà sư phụ đã mật truyền hoặc biệt truyền cho riêng mình để tùng sự cho tất cả chúng sinh.

Điều thứ hai khiến cho mình đánh mất Bồ Đề Tâm là gây ra những “nghi hối” không xác đáng và không đúng chỗ, khiến cho người khác trở nên nghi hối và mất hăng hái thiết tha trong việc thi hành.

Điều thứ ba làm cho Bồ Tát đánh mất Lòng Bồ Đề là chê bai bêu xấu những kẻ cùng đi con đường lớn như mình, những kẻ cũng cầu Đại Thừa. Chẳng kể chi những người theo Tiểu Thừa thường chê bai Đại Thừa, ngay cả những người theo Đại Thừa lại chỉ trích bêu xấu lẫn nhau: người theo Thiền tông lại bêu xấu Tịnh Độ tông; hoặc người theo Luật tông lại chê bai bêu xấu Mật tông, vân vân… Phật giáo Tàu chê bai Phật giáo Tây Tạng, hoặc Phật giáo Tàu bêu xấu Phật giáo Việt Nam, vân vân… Thực ra, Phật giáo đúng nghĩa thì chẳng có “chê bai” và “bêu xấu”, và cũng chẳng có phân biệt xứ sở hay quốc tịch như Tây, Tàu, Việt, Ấn, vân vân…

Điều thứ tư làm đánh mất Bồ Đề Tâm là tâm siểm khúc, là dua nịnh (siểm nịnh) tức là ton hót, tâng bốc, nịnh nọt mọi người để cầu an, cầu thực, cầu lợi, cầu sắc, cầu danh, cầu tài, vân vân… Tóm lại, nịnh hót để cầu cho được ngũ dục của thế gian.

8. Bốn điều làm cho Bồ Tát nuôi dưỡng Bồ Đề Tâm từ kiếp này đến kiếp khác.

“Hỡi này, Ca Diếp, lại có bốn điều làm cho một vị Bồ Tát nuôi dưỡng được Bồ Đề Tâm từ kiếp này đến kiếp khác, khiến cho Bồ Đề Tâm vẫn hiện diện một cách tự nhiên trong lòng Bồ Tát ấy cho đến khi Bồ Tát ấy thành Phật. Đó là bốn điều gì?

1. Không nói láo, dầu thân mệnh đời sống mình có phải hiểm nguy, lại càng không nên nói láo để giỡn đùa cười cợt;

2. Luôn luôn đối xử với người đời một cách chính trực và thành thực, không nịnh hót bợ đỡ, hoặc tà ý quanh co vặn vẹo;

3. Nghĩ đến những bậc Bồ Tát như là chư Phật, coi Bồ Tát như Phật, ca tụng tôn danh của chư Bồ Tát ở khắp bốn phương;

4. Không vui thích với những giáo lý Tiểu Thừa, và giáo hóa ai đều khiến cho mọi người có tín tâm với Phật Pháp, đều tu hành an trụ ở pháp Bồ Đề vô thượng”.

Làm thế nào để cho Bồ Đề Tâm không mất từ đời này đến đời khác? Làm thế nào Bồ Đề Tâm vẫn xuất hiện tự nhiên (tự nhiên hiện tiền) nơi Bồ Tát cho mãi đến khi thành Phật (cho đến ngồi đạo tràng)?

Điều thứ nhất là không bao giờ nói dối, không bao giờ vọng ngữ, dù có phải mất mạng đi nữa. Đối với Phật Giáo, mạng người rất quí báu, nhưng thà mất mạng còn hơn là sống mà nói dối. Vì sao? Vì không chịu nói dối mà chịu chết đi kiếp này, liền đầu thai lên trời lập tức! Còn nói dối kiếp này, phải chịu đầu thai bất tận vào ba nẻo xấu (ngạ quỷ, súc sinh, địa ngục). Ngày xưa các bậc đạo sư thánh tăng chỉ cần thệ nguyện xứng danh sự thực, lập tức tất cả thần thông liền xuất hiện: lửa phải tắt, mù thành sáng, gương vỡ lại lành, vân vân… Người đời bây giờ cho rằng đôi khi nói dối để vui đùa thôi và điều này chẳng hại đến ai cả, thực ra dù mất mạng còn không nói dối, huống chi phải nói dối mà không mất mạng! Đối với chư Bồ Tát, phải hiểu như thế này: không mất mạng mà tại sao phải cần nói dối? Cho cả đến việc mất mạng mà cũng nhất định không nói dối, vậy tại sao còn mạng mà cũng phải nói dối? Không nói dối ngay cả lúc ở vào hoàn cảnh trầm trọng trang trọng nhất, tại sao lại nói dối ở vào những hoàn cảnh bình thường? Dù nói láo để đùa chơi vẫn là vọng ngữ, cái nhân tưởng chỉ là một lỗi nhẹ vô thưởng vô phạt, nhưng cái quả sẽ trở thành hậu quả vô cùng lớn lao kinh khủng ở kiếp này và những kiếp sau, như cái hạt giống tí tẹo sinh ra cả rừng cây sầm uất ở tương lai.

Điều thứ hai là vẫn giữ cái lòng thẳng thắn, gọi là trực tâm, lìa bỏ tất cả siểm khúc, tất cả nịnh hót (siểm) và tất cả tà ý quanh co vặn vẹo (khúc). Đừng lợi dụng và sử dụng sai ý nghĩa trực tâm để nóng giận ăn nói sỗ sàng và tự cho rằng mình “thành thực chân thành” để phỉ báng chỉ trích người khác. Trực tâm đúng nghĩa là trực tâm đều luôn luôn đầy lễ độ, lễ phép, đầy lòng tôn kính và từ bi. Phải xem tất cả vị Bồ Tát như là chư Phật, đúng là chư Phật, vì Bồ Tát đúng nghĩa Bồ Tát đều nhất định thành Phật: ba vô số kiếp chỉ là một khoảnh khắc ngắn hơn một sát-na! Thờ lạy chiêm ngưỡng trăng non, vì trăng non sắp là trăng rằm.

Điều thứ tư chỉ là nhắc nhở chúng ta đừng ngừng lại ở chặng đường đầu (Tiểu Thừa) và phải tiếp tục lên đường cho đến lúc ngừng lại an ổn (an trụ) ở cứu cánh Giác Ngộ viên mãn, tức là Bồ Đề vô thượng.

9. Hai mươi bốn điều khiến cho Bồ Tát đánh mất Bồ Đề Tâm.

Phần mở đầu kinh Phổ Minh Bồ Tát Hội chính là phần quan trọng nhất, tất cả diệu nghĩa phong phú của Phật Pháp đã được Đức Phật giảng dạy một cách cô đọng súc tích trong tám điều tích cực và tám điều tiêu cực có liên hệ đến trí huệ và đại trí huệ của Bồ Tát, và Đại Trí Huệ của Bồ Tát chính là Lòng Bồ Đề, tức là Bồ Đề Tâm. Điều quan trọng nhất ở đây là tôn kính Phật Pháp và tôn trọng Pháp sư. Lòng tôn trọng Phật Pháp và kính trọng Sư Trưởng đã được thực hiện cụ thể qua sự thực hành tu chứng Bồ Đề Tâm cho đến khi Giác Ngộ viên mãn, cho đến lúc ngồi đạo tràng, ngộ nhận Bồ Đề vô thượng.

Phần kế tiếp ở kinh Phổ Minh là khai triển đủ mọi dạng thái tích cực và tiêu cực của việc tăng trưởng chứng nhập Bồ Đề Tâm và việc đánh mất Bồ Đề Tâm, rồi đúc kết lại những điều thành tựu của một bậc Bồ Tát, xứng danh với danh hiệu Bồ Tát.

Để giữ tính cách liên tục của những đề tài đề cập trong kinh có liên hệ trực tiếp với việc đánh mất Bồ Đề Tâm và với việc tăng trưởng chứng nhập Bồ Đề Tâm, chúng tôi xin liệt kê tất cả đề tài (theo hình thức bốn điều) cùng chung lại với nhau cho dễ nhớ, nội dung tích cực theo loại tích cực (gồm có 40 điều) và nội dung tiêu cực theo loại tiêu cực (gồm có 24 điều). Lúc trì tụng, mình cần theo thứ tự quen thuộc, tách rời một đoạn kinh, chú tâm vào 4 vế cho kinh kệ dễ nhập, dễ huân tập vào thần trí. Nhưng khi tu học, mình cần nhập chung tất cả đề tài tích cực (pháp lành) vào một nhóm, và tất cả đề tài tiêu cực (pháp xấu) vào một nhóm khác để dễ có một cái nhìn nhất lãm, một cái nhìn tổng quan về những pháp môn đa dạng của Phật Pháp.

Căn cứ vào lời Đức Phật dạy Trưởng Lão Ma Ha Ca Diếp, xin liệt kê 24 điều khiến cho Bồ Tát đánh mất Bồ Đề Tâm:

1. Đọc tụng, nghiên cứu kinh điển thế tục, vì do lòng kiêu mạn;

2. Đi đến nhà người cúng dường với cái lòng ham muốn thèm khát tiền bạc, lợi lộc vật chất;

3. Phẫn hận thù ghét phỉ báng những vị Bồ Tát khác;

4. Chẳng tin và nói nghịch lại với những kinh Phật mà mình chưa được nghe lần nào.

Bốn điều này làm những pháp lành của Bồ Tát bị giảm kém đi, chẳng những chẳng được tăng trưởng mà lại phải bị mất hẳn đi.

5. Ôm giữ mối nghi ngờ đối với Phật Pháp và hối tiếc vì đã chấp nhận Phật Pháp;

6. Phẫn hận thù ghét và kiêu mạn đối với chúng sinh;

7. Đố kỵ, ghen tỵ với những kẻ khác, vì họ được thành công lừng lẫy, giàu sang, sung sướng, vẻ vang, hạnh phúc;

8. Mạt sát nói xấu những Bồ Tát khác và mạ lỵ họ khắp nơi.

Bốn điều ở trên này là những điều thuộc tâm siểm khúc mà một bậc Bồ Tát cần phải tránh xa, lìa bỏ dứt khoát.

9. Sau khi đọc tụng Kinh Phật, một Bồ Tát hư họng bại hoại là kẻ chỉ trích chơi chữ, thích hý luận, thay vì thực hành, tu hành đúng theo Phật Pháp;

10. Không vâng lời, tôn trọng và làm vui lòng những vị Sư Trưởng;

11. Phí tổn sự cúng dường của tín đồ, vẫn nhận của tín thí, dù mình đã phá giới;

12. Khinh thường và không kính phục những bậc Bồ Tát có đầy đủ giới hạnh thanh tịnh.

Bốn điều kể ở trên là bốn cái dấu hiệu tướng trạng tự nói lên sự bại hoại hư nát của Bồ Tát.

13. Đồng ý, đồng lõa, đồng dạ với một người không đáng tin cậy;

14. Giảng dạy một pháp môn tu hành sâu thẳm cho một kẻ không đủ sức lãnh nhận;

15. Ca tụng Tiểu Thừa giữa những kẻ vui sướng tu hành theo Đại Thừa;

16. Chỉ bố thí cho những bậc chân tu giữ giới hạnh hoàn toàn mà không chịu bố thí cho những người hung dữ.

Bốn điều trên là bốn điều sai lầm mà một bậc Bồ Tát dễ vướng mắc.

17. Thanh văn không thể là thiện tri thức (người bạn tốt) và một người bạn đường tốt (thiện đẳng lữ) cho một vị Bồ Tát, vì Thanh văn (sravaka) chỉ muốn tự lợi cho cá nhân thôi;

18. Kẻ cầu Duyên Giác (Pratyekabuddha) cũng không thể là người bạn tốt, cũng chẳng phải kẻ đồng hành với một vị Bồ Tát, vì họ chỉ thích hưởng thụ chăm lo chút ít việc nhẹ thôi;

19. Những học giả thế tục cũng không thể là bạn tốt và bạn đồng hành với Bồ Tát, vì họ chỉ lo nghiên cứu thư điển ngoại đạo và khoái sướng với hư văn mỹ lệ, với văn từ nghiêm sức điểm trang;

20. Cũng không phải là thiện tri thức và thiện đẳng lữ với vị Bồ Tát, bất cứ những kẻ thân cận nào chỉ lo tăng trưởng những lợi lộc tài sản thế tục, thay vì thâu đắc Phật Pháp.

Bốn điều trên là bốn hạng người “phi thiện tri thức”, “phi thiện đẳng lữ” đối với một vị Bồ Tát.

21. Hạng người có vẻ giống như Bồ Tát mà không phải thực là Bồ Tát: đó là hạng người chỉ thèm khát tài sản lợi lộc vật chất, ham cầu lợi dưỡng mà chẳng tìm cầu Phật Pháp;

22. Cũng như trên, hạng người ham muốn nổi danh, nổi tiếng vang dậy, mà chẳng ham cầu những đức hạnh, phước đức;

23. Cũng thế, hạng người chỉ thích tìm kiếm hạnh phúc riêng cho mình, thay vì chỉ đường cho chúng sinh tu hành để tiêu diệt khổ đau;

24. Cũng như trên, hạng người chỉ thích sướng sum vầy với rất nhiều đệ tử (tụ họp đồ chúng), và chán ghét sống viễn ly, sống tách biệt một mình trong tịch lặng.

Bốn hạng người trên là hạng người có vẻ tương tợ như bậc Bồ Tát mà thực ra là “phi Bồ Tát”, chẳng phải Bồ Tát gì cả.

Tất cả những điều trên là hai mươi bốn điều làm cho Bồ Tát đánh mất Bồ Đề Tâm.

10. Bốn mươi điều làm tăng trưởng Bồ Đề Tâm của một bậc Bồ Tát.

Bốn mươi điều này đều có thể khiến cho những sự tu hành thiện pháp của Bồ Tát được tăng trưởng không ngừng, chứng đạt tâm bình đẳng và chứng nhập Bồ Đề Tâm, đạt tới Bồ Đề vô thượng.

1. Bậc Bồ Tát lìa bỏ những tà thuyết tà đạo và cầu tìm những kinh điển Phật giáo chân chính, như những kinh điển về Sáu Ba la mật đa, tức là Pháp Tạng của Bồ Tát, và lúc cầu đạo tu hành như vậy, liền vứt bỏ tính kiêu mạn và giữ lòng khiêm tốn, khiêm hạ đối với tất cả chúng sinh;

2. Một bậc Bồ Tát chấp nhận những sự cúng dường quà tặng, thuận theo Phật Pháp, bằng lòng, biết vừa đủ với những gì mình nhận được, không sinh sống với những tà hạnh, tà mạng, và biết vui sống an lành trong bốn thánh hạnh. Tứ thánh hạnh là biết vừa lòng, vừa đủ với việc ăn mặc giản dị, ăn uống sơ sài, ngủ nghỉ không cần tiện nghi, tu hành thiện pháp vứt bỏ phiền não. Phấn tảo y làm lương dược để đối trị lòng ham muốn quần áo (y dục). Khất thực để đối trị với lòng ham ăn uống cao lương mỹ vị (thực dục). Thọ hạ (ngồi nghỉ dưới cây) để đối trị lòng thèm ngủ giường cao gối đẹp êm ấm (ngọa cụ dục). Và thân tâm tịch tĩnh đối trị với lòng ham muốn vật chất tài sản (hữu dục);

3. Bậc Bồ Tát không vạch trần những tội lỗi của những người khác, dù những điều ấy có đúng hay sai, có thực hay không. Bồ Tát không bới lông tìm vết, cố tìm cho ra những sơ hở khuyết điểm của người khác;

4. Mỗi khi bậc Bồ Tát cảm thấy rằng một số giáo lý Phật Pháp có vẻ khó hiểu thì bậc Bồ Tát phải nghĩ rằng Phật Pháp có những phẩm tính vô lượng, vô hạn định, vì giáo pháp được thuyết giảng tùy theo những khuynh hướng riêng biệt của chúng sinh. Chỉ có Đức Phật là thông đạt biết rõ những điều khó hiểu ấy, chứ riêng mình thì chưa đủ khả năng. Mình phải tùy thuận vào Đức Phật như là chứng tín, chứ không nên nuôi lòng trái nghịch, bất thuận và chống đối lại chánh pháp.

Còn những điều kế tiếp sau đây là những dấu hiệu nói lên tướng trạng của lòng ngay thẳng, trực tâm của Bồ Tát:

5. Bậc Bồ Tát không che giấu những điều phạm tội của mình, phải phơi bày thú nhận những điều phạm tội của mình cho kẻ khác biết để cho cõi lòng của mình được thoát khỏi những phiền muộn che đậy thắt buộc;

6. Bồ Tát chẳng bao giờ nói dối, chẳng bao giờ vọng ngữ, ngay đến phải chịu mất thân mệnh, sinh mệnh, quê hương hay quốc độ;

7. Lúc Bồ Tát gặp tai nạn nghịch cảnh bi đát, bị chửi rủa, mắng nhiếc, đánh đập, bêu xấu, trói buộc xiềng xích giam cầm hoặc bị tổn thương bằng mọi cách khác, Bồ Tát chỉ tự trách mình và khép mình chịu đựng tuân theo nghiệp báo, chớ không giận hờn thù ghét ai cả;

8. Bồ Tát giữ gìn sức mạnh của đức tin mình một cách vững chắc. Lúc nghe Phật Pháp, gặp điều gì sâu thẳm và khó tin, chính lòng trong sạch của Bồ Tát khiến cho mình có khả năng nhận lãnh thọ trì Phật Pháp, nhận lãnh thọ trì những điều thậm thâm khó tin của Phật Pháp một cách thuần thành trọn vẹn.

Kế đó là những điều, những dấu hiệu, tướng trạng chỉ tỏ lòng thiện thuận, điều thuận của Bồ Tát:

9. Bồ Tát lãnh nhận Kinh Phật với tất cả lòng tin sâu đậm ngay vào lần đầu tiên được nghe kinh và thực hành như đã được giảng dạy (tín thọ thực hành), nương tựa vào Phật Pháp, chứ không nương cậy vào những lời, những chữ (y chỉ nơi Phật Pháp, không y theo ngôn thuyết, vì ngôn thuyết chỉ là biểu tượng dụng cụ cho Phật Pháp);

10. Bồ Tát thuận theo những lời dạy đạo của Sư Trưởng, biết rõ những ý định, ý chỉ của Sư Trưởng và thưa hỏi học đạo với Thầy một cách cởi mở; bất cứ việc làm gì cũng đều thuận hợp với đức độ và thuận hợp với ý định của Thầy mình;

11. Bồ Tát không bao giờ thối chuyển trong giới luật và thiền định, chấp nhận những sự cúng dường với một tâm thức điều thuận;

12. Mỗi khi bậc Bồ Tát lại nhìn thấy một vị Bồ Tát đầy đủ đức hạnh thiện lành thì liền cung kính, ngưỡng mộ và gắng sức noi gương thực hành thiện hạnh.

Kế tiếp là những chánh đạo, những con đường chân chính cho một bậc Bồ Tát:

13. Đối xử tất cả chúng sinh một cách bình đẳng, với lòng không thiên vị và không phân biệt;

14. Giảng dạy, giáo hóa Phật Pháp cho tất cả chúng sinh với lòng bình đẳng như trên và đều đồng phát từ Trí Huệ của chư Phật;

15. Thuyết pháp cho tất cả chúng sinh mà không có tâm phân biệt kỳ thị, bình đẳng như trên;

16. Khiến cho tất cả chúng sinh đều được đồng đều an trụ trong hành động chân chính (chính hạnh).

Sau đây là những hạng người làm bạn tốt và kẻ đồng hành tốt cho một vị Bồ Tát:

17. Những kẻ nào kêu gọi một bậc Bồ Tát để cầu xin giúp đỡ, đó là những người bạn tốt (thiện tri thức) của Bồ Tát, vì họ khiến cho Bồ Tát được bước trên con đường của chư Phật;

18. Những kẻ nào có thể thuyết giảng Phật Pháp đều là thiện tri thức của Bồ Tát, vì họ trải rộng lan truyền Trí Huệ;

19. Những kẻ nào có thể làm cho kẻ khác lìa bỏ đời sống thế tục (để xuất gia) đều là thiện tri thức, vì họ làm tăng trưởng những thiện pháp;

20. Tất cả chư Phật, tất cả đấng Thế Tôn đều là những thiện tri thức của Bồ Tát, vì chư Phật khiến cho tất cả Phật Pháp được tăng trưởng phồn thịnh.

Kế tiếp theo là hạng Bồ Tát chơn thực, Bồ Tát thực sự là Bồ Tát:

21. Những hạng Bồ Tát chân thực là hạng người chẳng những hiểu tin Không Tính thôi mà cũng tin cả thuyết nghiệp báo nữa;

22. Hạng Bồ Tát chân thực biết rằng tất cả pháp đều không có tự tính mà vẫn giữ trọn lòng Đại Bi cho chúng sinh;

23. Hạng Bồ Tát chân chính yêu thích Niết Bàn một cách thâm thiết mà vẫn thong dong tiếp tục lang thang trong cõi luân hồi;

24. Hạng Bồ Tát chân chính thực hành bố thí xả thân vì lợi ích chúng sinh mà vẫn không cần báo đáp trả ơn.

Kế đó là những kho tàng quí báu vĩ đại của một Bồ Tát, những “đại tạng” của Bồ Tát:

25. Đại tạng của Bồ Tát là gặp được chư Phật;

26. Đại tạng của Bồ Tát là nghe được sáu Ba la mật (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, Bát Nhã) và được nghe giảng giải về ý nghĩa siêu việt của sáu Ba la mật;

27. Đại tạng của Bồ Tát là tôn trọng ngó nhìn một bậc Pháp Sư với tâm vô ngại (lòng không bị chướng ngại ngăn trở);

28. Đại tạng của Bồ Tát là thích tu hành viễn ly, xa lìa thế tục với lòng không giải đãi (lười biếng, trễ biếng).

Tiếp theo là những điều khiến cho một bậc Bồ Tát vượt thắng những chướng ngại ma quái, vượt thắng những ma sự;

29. Không bao giờ lìa xa ly cách với Lòng Bồ Đề (Bodhicitta: Bồ Đề Tâm);

30. Không bao giờ mảy may giận hờn, không bao giờ có một mảy may ác cảm muốn làm hại chúng sinh;

31. Biết rõ ràng đủ loại tri và kiến (ngộ nhập Tri Kiến);

32. Không bao giờ có lòng khinh bỉ, coi nhẹ xem thường bất cứ chúng sinh nào.

Đây là những điều khiến cho Bồ Tát nhiếp được các thiện căn:

33. Tránh lìa tâm địa siểm khúc lúc sống trong sự cô độc;

34. Thực hành bốn nhiếp pháp giữa lòng chúng sinh mà không cần mong đợi bất cứ sự đền đáp ban thưởng nào (tứ nhiếp pháp là bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự);

35. Tìm cầu học Phật Pháp một cách dũng mãnh tinh tiến, dù phải tan thân nát mạng;

36. Tu hành rất nhiều thiện căn mà không bao giờ biết chán.

Sau đây là những sự trang nghiêm tạo ra những phước đức vô lượng:

37. Giảng dạy Phật Pháp (Pháp thí) với lòng trong trắng thanh tịnh;

38. Có lòng Đại Bi đối với những kẻ phá giới;

39. Tuyên dương ca tụng Lòng Bồ Đề (Bồ Đề Tâm) giữa lòng chúng sinh;

40. Thực hành tu tập lòng Nhẫn Nhục mỗi khi bị hạng người thấp hèn lăng mạ mình, sỉ nhục mình tồi tệ.

11. Ba mươi hai điều thành tựu danh hiệu Bồ Tát.

Đoạn quan trọng nhất trong Kinh là đoạn này:

“Hỡi này, Ca Diếp, một bậc Bồ Tát (đúng nghĩa) không phải chỉ là một bậc Bồ Tát trên danh hiệu thôi. Đó là kẻ thực hành được những thiện pháp, thực hành lòng bình đẳng, như thế mới gọi là một bậc Bồ Tát. Nói lược cho gọn lại, kẻ nào thành tựu được ba mươi hai điều này thì mới được gọi là một bậc Bồ Tát. Ba mươi hai điều ấy là những điều nào?

Tâm bình đẳng là gì? Đây là thuật ngữ đặc biệt của Phật Giáo, không có nghĩa thông thường giống như ý nghĩa bình đẳng quen dùng trong đời sống hằng ngày. Bình đẳng trong dụng ngữ Phật Pháp có nghĩa là Bất Nhị không phân ra hai phần tách biệt đối nghịch lẫn nhau, không có hai tướng, hai thể, hai tánh. Bình Đẳng đồng nghĩa rằng không có sự phân biệt, không giống, không khác, không một, không hai, không sinh, không diệt, không đến, không đi, không thường, không đoạn.

Tại sao nói đến 32 pháp thành tựu danh hiệu Bồ Tát? Tại sao lại là pháp số ba mươi hai? Tám điều tiêu cực ở phần đầu và 24 điều tiêu cực được khai triển sau đó, cộng lại nhau thành 32 điều tiêu cực. Phải chăng 32 điều thành tựu tích cực của Bồ Tát ở đây là để đối trị 32 điều tiêu cực kể trên về việc đánh mất Bồ Đề Tâm? Có chăng sự liên hệ trực tiếp hay gián tiếp giữa 32 tướng đại nhân, 32 tướng của chư Phật, 32 thân ứng hiện của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát và 32 pháp thành tựu của Bồ Tát? Đi sâu vào những sự liên hệ bất ngờ này có thể khai mở ra những cõi bất tư nghị khác của Phật Pháp, nhưng đối với chúng ta hiện nay, những điều khó hiểu này chưa cần phải được liễu nghĩa ngay bây giờ; chúng ta chỉ cần trì tụng giữ nhớ 32 pháp thành tựu sau đây để thực hành tu học, mong được trở thành bậc Bồ Tát đúng chân thực nghĩa, đúng như danh hiệu Bồ Tát thực thụ:

Tóm lại, người thành đạt được 32 điều mới được gọi là một bậc Bồ Tát. Ba mươi hai điều ấy là những điều nào vậy?

1. Thiết tha mong mỏi đem đến thanh bình và hạnh phúc cho chúng sinh, đem an lạc cho chúng sinh;

2. Khiến giúp cho tất cả chúng sinh được an trú trong Trí Huệ Hiểu Biết Tất Cả (an trụ trong Nhất Thiết Trí);

3. Không thù ghét, ganh ghét trí huệ của người khác;

4. Phá vỡ tính kiêu ngạo ngã mạn của mình;

5. Vui sống khoan khoái hoan lạc trên con đường của chư Phật (Phật Đạo);

6. Thương yêu và tôn kính tất cả chúng sinh một cách chân thành tha thiết;

7. Vẫn giữ lòng tốt trọn vẹn, đồng đều đối với bạn thân và với kẻ thù cho mãi đến khi đạt tới Niết Bàn;

8. Luôn luôn nói chuyện với miệng mỉm cười và là kẻ đầu tiên chào hỏi trước tiên;

9. Không bao giờ ngừng lại giữa chừng lúc đang thực hiện công việc, không bỏ dở dang việc làm đã bắt đầu rồi;

10. Trải ra Lòng Đại Bi một cách bình đẳng cho tất cả chúng sinh;

11. Tìm tòi tu học, học tập sâu rộng (đa văn) không mỏi mệt, không hề chán;

12. Tự tìm ra những lỗi lầm của chính mình, chớ không nói đến những khuyết điểm hay lỗi lầm của người khác;

13. Nhất cử, nhất động, trong mỗi oai nghi, đều được hứng khởi từ Bồ Đề Tâm;

14. Thực hành việc ban ơn, bố thí, giúp đỡ người khác mà chẳng cần đáp trả, chẳng cần người ta tri ơn báo đáp cho mình;

15. Giữ gìn giới luật mà chẳng vì mục đích đầu thai lên cõi cao đẹp hơn;

16. Tu hành thực hiện đức Nhẫn Nhục với lòng vô ngại khi sống giữa chúng sinh;

17. Cố gắng thực hành sự Siêng Năng Tinh Tấn để vun trồng tất cả thiện căn;

18. Tu hành thiền định mà không cần mong muốn tái sinh ở cõi vô sắc;

19. Thực hành thích ứng trí huệ cùng với phương tiện thiện xảo;

20. Ứng dụng tứ nhiếp pháp (bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự);

21. Có lòng tốt, lòng từ đối với cả chúng sinh thiện và ác, đồng đều, không phân biệt kẻ ác hay kẻ hiền;

22. Lắng nghe Luật Pháp với sự tập trung tư tưởng, một cách nhất tâm;

23. Lòng an trụ viễn ly, tách biệt xa lìa, không trước nhiễm thế tục;

24. Lòng chẳng ưa thích những sự việc thế tục;

25. Không vui thích Tiểu Thừa, mà vẫn luôn luôn tìm thấy lợi ích lớn lao (về mặt tâm linh đạo lý) trong Đại Thừa;

26. Tránh xa những bạn xấu (ác tri thức) và gần gũi thân cận với bạn tốt;

27. Thành tựu bốn Vô Lượng Tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả) và đạt được việc chủ trị ngũ thông (thần túc thông, thiên nhỉ thông, tha tâm thông, túc mạng thông, thiên nhãn thông);

28. Luôn luôn nương cậy vào trí huệ chân chính (Chân Trí);

29. Chẳng bỏ bất cứ chúng sinh nào, dù hành động của họ có đúng hay sai;

30. Luôn luôn nói năng đầy lòng quyết định, nhất quyết dứt khoát;

31. Quí trọng Chân Thực Pháp, tức là Phật Pháp;

32. Tâm Bồ Đề dẫn đầu mọi việc, hồi hướng tất cả hành vi, hành động của mình cho Bồ Đề, cho Giác Ngộ.

Hỡi này, Ca Diếp, nếu một người nào thành tựu được ba mươi hai pháp kể trên thì người ấy mới được gọi là một bậc Bồ Tát.”

Chúng ta thấy 32 điều trên lại trở lại điều thứ nhất ở phần mở đầu Kinh: quí trọng Chân Thực Pháp, quí trọng tôn kính Phật Pháp là điều thứ nhất ở đầu Kinh và cũng là điều sau ở cuối 32 pháp thành tựu Bồ Tát.

Từ bước đầu tiên đến bước cuối cùng, từ vô lượng kiếp quá khứ đến vô lượng kiếp vị lai, bất cứ ai muốn đi trên con đường Bồ Tát dẫn đến Bồ Đề vô thượng đều phải tôn kính quí trọng Phật Pháp với bao nhiêu ý nghĩa phong phú đã được khai triển sâu rộng ở trên.

Tất cả Phật Pháp đều bắt đầu và chấm dứt oanh liệt với Lòng Bồ Đề (Bồ Đề Tâm). Tôn kính Phật Pháp cũng đồng nghĩa với tôn kính Bồ Đề Tâm. Tôn trọng Bồ Đề Tâm có nghĩa là tôn trọng chúng sinh, đem lợi ích an vui, đem lại thanh bình và hạnh phúc cho chúng sinh như điều thứ nhất trong 32 điều trên.

Trong Nhiếp Đại Thừa Luận, Tổ sư Vô Trước cũng đề cập đến 32 pháp mà Bồ Tát phải thành tựu mới được gọi là Bồ Tát, ngài Vô Trước đã trình bày 32 pháp thành tựu được trích dẫn từ kinh Phổ Minh Bồ Tát Hội tức là bản kinh xưa nhất làm căn nguyên, nguyên bản cho bộ Kinh Đại Bảo Tích (Maharatnakuta sutra) mà chúng ta đang đề cập tại đây. Theo Bồ Tát Vô Trước, 32 điều thành tựu Bồ Tát đều là những chi tiết được khai triển từ điều đầu: đem thanh bình và hạnh phúc cho tất cả chúng sinh, làm lợi ích an lạc, yên vui cho tất cả chúng sinh.

Điều sau cùng cần thiết nhất là hồi hướng. Hồi hướng là gì? Những bậc Đạo sư thuộc tông phái Kadampa (mà Tổ sư là Thánh Tăng Atisa) trong truyền thống Phật giáo Mật Tông Tây Tạng đều giảng dạy rằng có hai điều trọng yếu cần phải nên ghi tạc tận đáy lòng của người tu hành Phật Pháp: phải bắt đầu mọi việc với một nguyên động lực thiện lành trong sáng và phải chấm dứt kết thúc mọi việc với sự hồi hướng đúng nghĩa.

Hồi hướng đúng nghĩa là gì? Là hồi hướng tất cả hành vi thiện lành trong sạch của thân, khẩu, ý với mục đích Giác Ngộ viên mãn cho sự an lạc lợi ích của tất cả chúng sinh. Lòng hồi hướng sâu thẳm nhất là hiệp nhất Phương Tiện Thiện Xảo với Trí Huệ Bát Nhã. Hồi hướng tất cả công đức cho tất cả chúng sinh mà đồng thời không quên Không Tánh: vô nhân, vô ngã, vô chúng sinh, vô thọ giả; tục đế và chân đế dung nhập, phước và trí dung hòa, sắc và không giao chuyển nhịp nhàng trong tinh thần Bình Đẳng Bất Nhị siêu việt của Diệu Pháp hoạt hiện giữa lòng đời.

Xin tha thiết hồi hướng công đức cho tất cả chúng sinh và cầu mong tất cả chúng sinh đều tôn trọng Phật Pháp và tôn kính Pháp sư, đều thành tựu 32 điều thành đạt Bồ Tát, được chứng nhập Bồ Đề Tâm liên tục từ kiếp này đến kiếp khác và được đắc Bồ Đề Vô Thượng như tất cả chư Phật ở khắp mười phương…

Sarva Mangalam.

The post LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRỞ THÀNH MỘT BẬC BỒ TÁT SÁNG RỰC KHẮP BỐN PHƯƠNG appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn https://bachhac.net/khuyen-phat-bo-de-tam-van.html Fri, 13 Aug 2021 04:48:22 +0000 https://bachhac.net/?p=3602 Thật Hiền tôi, một kẻ xuất gia phàm phu, đã bất tiếu lại ngu hèn, khóc mà lạy, khẩn thiết khuyến cáo đại chúng hiện tiền, cũng như nam nữ có đức tin thuần thành trong thì vị lai. Xin quý vị thương xót, gia tâm một chút mà nghe và xét cho. Tôi từng …

The post Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn

Thật Hiền tôi, một kẻ xuất gia phàm phu, đã bất tiếu lại ngu hèn, khóc mà lạy, khẩn thiết khuyến cáo đại chúng hiện tiền, cũng như nam nữ có đức tin thuần thành trong thì vị lai. Xin quý vị thương xót, gia tâm một chút mà nghe và xét cho.

Tôi từng nghe, cửa chính yếu để nhập đạo thì sự phát tâm đứng đầu, việc khẩn cấp để tu hành thì sự lập nguyện đứng trước. Nguyện lập thì chúng sanh độ nổi, tâm phát thì Phật đạo thành được. Cái tâm quảng đại không phát, cái nguyện kiên cố chẳng lập, thì dẫu trải qua đời kiếp nhiều như cát bụi, cũng y nhiên vẫn ở trong phạm vi luân hồi. Tu hành dẫu có, cũng toàn là lao nhọc, khổ sở một cách vô ích. Do đó mà kinh Hoa nghiêm đã nói, quên mất tâm bồ đề mà tu hành các thiện pháp thì gọi là hành động theo ma vương. Quên mất còn thế, huống chi chưa phát. Nên muốn học Như lai thừa thì trước phải phát bồ đề nguyện, không thể chậm trễ.

Nhưng tâm nguyện vốn có nhiều sắc thái khác nhau, nếu không trình bày thì làm sao biết mà xu hướng. Nay xin vì đại chúng mà nói vắn tắt. Sắc thái tâm nguyện có tám, là tà chánh, chân ngụy, đại tiểu, thiên viên.

Tà chánh, chân ngụy, đại tiểu, thiên viên là thế nào? Đời có kẻ tu hành mà chỉ tu hành một chiều, không cứu xét tự tâm, chỉ lo những việc ở ngoài, hoặc vụ lợi, hoặc háo danh, hoặc ham cái thú hiện tại, hoặc cầu cái vui mai sau: phát tâm như vậy gọi là tà. Danh lợi không ham, vui thú không màng, chỉ vì thoát sinh tử, vì chứng bồ đề: phát tâm như vậy gọi là chánh. Ý niệm này nối tiếp ý niệm khác, ngước lên mà mong cầu Phật đạo, tư tưởng trước liên tục tư tưởng sau, nhìn xuống mà hóa độ chúng sanh, nghe Phật đạo lâu xa cũng không thoái chí khiếp sợ, xét chúng sanh khó độ mà không chán nản mệt mỏi, như trèo núi cao cả vạn trượng cũng quyết tận đỉnh, như lên tháp lớn đến chín tầng cũng cố tột nóc: phát tâm như vậy gọi là chân. Có tội không sám hối, có lỗi không trừ bỏ, trong bẩn ngoài sạch, trước siêng sau nhác, tâm tốt dẫu có cũng phần lớn bị danh lợi xen lấn, thiện pháp dẫu tu cũng phần nhiều bị vọng nghiệp nhuốm bẩn: phát tâm như vậy gọi là ngụy. Chúng sanh giới hết nguyện ta mới hết, bồ đề đạo thành nguyện ta mới thành: phát tâm như vậy gọi là đại. Coi ba cõi như lao ngục, nhìn sanh tử như oan gia, chỉ mong tự độ, không dám độ người: phát tâm như vậy gọi là tiểu. Nếu ngoài tâm thấy có chúng sanh, có Phật đạo, rồi nguyện độ, nguyện thành, công phu không xả, thấy biết không tan: phát tâm như vậy gọi là thiên. Nếu biết tự tánh là chúng sanh nên nguyện độ thoát, tự tánh là Phật đạo nên nguyện thành tựu, không thấy một pháp nào ngoài tâm mà có, đem cái tâm vô tướng phát cái nguyện vô tướng, làm cái hạnh vô tướng, chứng cái quả vô tướng, cái tướng vô tướng cũng không thấy có được: phát tâm như vậy gọi là viên.

Biết tám sắc thái khác nhau trên đây là biết cứu xét, biết cứu xét thì biết lấy bỏ, biết lấy bỏ là có thể phát tâm. Cứu xét như thế nào? Là coi cái tâm của ta phát ra, trong tám sắc thái trên đây, nó là tà hay chánh, chân hay ngụy, đại hay tiểu, thiên hay viên. Lấy bỏ như thế nào? Là bỏ tà, ngụy, tiểu, thiên, lấy chánh, chân, đại, viên. Phát tâm như vậy mới được gọi là chân chánh phát bồ đề tâm.

Bồ đề tâm là chúa tể mọi thứ thiện pháp, phát khởi tất phải có lý do. Lý do ấy, nay nói tóm lược thì có mười thứ, là 1 nhớ ơn nặng của Phật, 2 nhớ ơn cha mẹ, 3 nhớ ơn sư trưởng, 4 nhớ ơn thí chủ, 5 nhớ ơn chúng sanh, 6 nhớ khổ sanh tử, 7 trọng linh tánh của mình, 8 sám hối nghiệp chướng, 9 cầu sanh tịnh độ, 10 làm cho Phật pháp tồn tại lâu dài.

Nhớ ơn nặng của Phật là thế nào? Thích Ca như lai của ta, lúc mới phát tâm, đã vì ta mà thực hành bồ tát đạo, trải qua vô lượng kiếp chịu đủ khổ cực. Khi ta tạo tội, Phật đã xót thương, phương tiện giáo hóa, mà ta ngu si, không biết tin tưởng, tiếp nhận. Ta đọa địa ngục, Phật càng đau xót, muốn chịu thay khổ sở cho ta, nhưng nghiệp ta quá nặng, hết cách cứu vớt. Ta sinh loài người, Phật liền dùng phương tiện làm cho ta gieo trồng thiện căn. Đời đời kiếp kiếp, Phật theo dõi ta, lòng không lúc nào rời bỏ chốc lát. Khi Phật xuất thế thì ta còn chìm đắm, nay được thân người thì Phật đã diệt độ. Tội lỗi gì mà phải sinh nhằm thời kỳ mạt pháp, phước đức nào lại được dự vào hàng ngũ xuất gia, nghiệp chướng gì mà không được thấy thân vàng của Phật, may mắn nào lại được thân gặp xá lợi của ngài. Suy nghĩ như vậy mới thấy, giả sử quá khứ không trồng thiện căn thì làm sao được nghe Phật pháp, không nghe Phật pháp thì làm sao được biết lúc nào cũng hưởng thụ ân đức của Phật. Ân đức như vậy, núi non cũng khó sánh cho bằng. Trừ phi phát tâm quảng đại, làm hạnh bồ tát, xây dựng Phật pháp, giáo hóa chúng sanh, thì dẫu xương tan thịt nát cũng khó mà đáp trả. Đó là lý do thứ nhất của sự phát bồ đề tâm.

Nhớ ơn cha mẹ là thế nào? Thương thay cha mẹ sinh ta cực nhọc, mười tháng ba năm thai mang bú mớm, nhường khô nằm ướt, nuốt đắng nhả ngọt. Mới được thành người, đã đặt hy vọng tiếp nối gia phong, lo phần tế tự. Vậy mà nay ta đã xuất gia, lạm xưng Thích tử, nhục hiệu Sa môn, đồ ngon vật ngọt đã không cung phụng, cúng tế chạp dẫy càng không chu tất. Sống, ta đã không có khả năng nuôi dưỡng cơ thể, chết, ta lại bất lực trong việc tiếp dẫn nghiệp thức. Phương diện thế gian ta đã rất hại, phương tiện xuất thế ta lại vô ích. Hai đường mất cả thì tội nặng khó mà thoát cho khỏi. Suy nghĩ như thế mới thấy chỉ còn có cách thường hành Phật đạo trong trăm ngàn đời kiếp, khắp độ chúng sanh trong mười phương ba đời. Như vậy thì không phải chỉ cha mẹ một đời, mà song thân nhiều kiếp đều được siêu thoát; không phải chỉ song thân một người, mà cha mẹ tất cả cùng được siêu thăng. Đó là lý do thứ hai của sự phát bồ đề tâm.

Nhớ ơn sư trưởng là thế nào? Cha mẹ tuy sinh dưỡng thân ta, nhưng nếu không có sư trưởng thế gian thì không biết lễ nghĩa, không có sư trưởng xuất thế thì không hiểu Phật pháp. Lễ nghĩa không biết thì khác gì cầm thú, Phật pháp không hiểu thì cũng như phàm tục. Nay ta được biết qua loa về lễ nghĩa, được hiểu sơ lược về Phật pháp, giới pháp thấm mình, ca sa phủ thân, hết thảy ân đức ấy đều nhờ sư trưởng mà có được. Vậy nếu ta chỉ cầu quả vị nhỏ nhặt thì chỉ ích lợi được cho bản thân mà thôi. Hãy theo đại thừa, nguyện ước ích lợi hết thảy chúng sanh. Như thế thì sư trưởng thế gian cũng như sư trưởng xuất thế đều được ích lợi mà ta cung hiến. Đó là lý do thứ ba của sự phát bồ đề tâm.

Nhớ ơn thí chủ là thế nào? Chúng ta ngày nay, mọi thứ nhu yếu đâu phải của mình. Cơm cháo ba buổi, quần áo bốn mùa, tật bịnh cần dùng, thân miệng tiêu thụ, toàn xuất từ sức lực kẻ khác mà đem đến cho ta hưởng dụng. Họ dốc sức cày cấy, vẫn khó nuôi miệng, ta ngồi không mà ăn, còn không vừa ý. Họ dệt đan mãi hoài mà vẫn chịu khốn khổ, còn ta bận mặc thừa thải mà không biết thương tiếc. Họ nhà tranh cửa lá, cực nhọc suốt đời, còn ta phòng lớn sân rộng, thong thả cả năm. Đem cái cực nhọc của họ cung phụng cái an nhàn cho ta, làm sao yên bụng. Lấy cái nhu dụng của người cung cấp cái thân xác của mình, làm sao hợp lẽ. Do đó, trừ phi vận dụng song song cả hai thứ bi trí, trang nghiêm đồng đều cả hai mặt phước tuệ, để thí chủ nhờ ơn, chúng sanh được phước, thì dẫu gạo chỉ một hạt, vải chỉ một tấc đi nữa, vẫn có phần trong sự trả nợ, vẫn khó tránh trong quả báo xấu. Đó là lý do thứ tư của sự phát bồ đề tâm.

Nhớ ơn chúng sanh là thế nào? Ta với chúng sanh, từ bao kiếp đến giờ, đời đời làm cha mẹ nhau, có ơn với nhau. Nay tuy cách đời mờ ám, không biết nhau được, nhưng lấy lẽ mà suy cứu thì làm sao có thể không có sự báo bổ. Ngày nay là thú vật, nhưng biết đâu ngày trước ta đã không là con cái của chúng. Hiện tại là vi sinh, nhưng biết đâu quá khứ chúng đã không là cha mẹ của ta. Thường thấy nhỏ mà xa cha mẹ thì lớn lên đã quên hết hình dáng song thân, huống chi cha mẹ bà con đời trước, thì ngày nay kẻ họ Trương người họ Vương, khó mà nhớ nhau cho được. Họ gào thét trong địa ngục, ngất ngư trong ngạ quỉ, thống khổ ai biết, đói khát kêu ai. Ta dẫu không thấy không nghe, nhưng họ tất cầu cứu cầu vớt. Kinh mới dạy được việc ấy, Phật mới tả rõ cảnh này, còn kẻ tà kiến thì đâu có đủ sức mà biết. Nên bồ tát nhìn sâu kiến cũng thấy toàn là cha mẹ quá khứ và chư Phật vị lai, thường nghĩ cách lợi ích cho chúng và thường nhớ trả ơn cho chúng. Đó là lý do thứ năm của sự phát bồ đề tâm.

Nhớ khổ sinh tử là thế nào? Ta với chúng sanh, bao kiếp đến giờ, ở mãi trong phạm vi sinh tử, chưa được siêu thoát. Không ở trong loài người thì ở trên loài trời, hết ở thế giới này thì ở thế giới khác, ra vào đủ cách, lên xuống liền liền. Thoáng cái làm trời, thoáng cái làm người, thoáng cái làm địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Cửa đen sáng ra chiều vào, hang sắt mới thoát lại sa. Lên núi đao thì cả mình không còn mảnh da nguyên vẹm, víu cây kiếm thì một vuông một tấc cũng bị cắt xả. Sắt nóng không hết đói, mà nuốt vào thì ruột gan nát cả, đồng sôi đâu khỏi khát, mà uống vào thì xương thịt tan hết. Cưa sắt mà xả thì xả ra là liền lại, gió quái mà thổi thì chết rồi lại sống ngay. Trong thành lửa dữ chỉ nghe cái thảm thét gào, trên bàn chưng nướng toàn nghe cái tiếng thống thiết. Băng tuyết đông lại thì xanh như sen xanh hết nhụy, máu thịt rã ra thì đỏ như sen đỏ mới nở. Tại địa ngục, một đêm chết sống thường bị đến cả vạn lần, cũng ở đó, một buổi thống khổ mà nhân gian đã trăm năm. Mãi hoài làm cho ngục tốt mệt nhọc, nhưng có ai chịu nghe Diêm vương khuyên bảo. Khi chịu mới biết quá khổ, dẫu hối hận cũng đâu có kịp; lúc thoát thì lại quên ngay, sự tạo nghiệp vẫn y như cũ. Đánh con lừa đến đổ máu, đâu biết đó là cái thảm của mẹ mình; lôi con heo đến lò thịt, nào hay đích thị cái đau của cha ta. Ăn thịt con ruột mà không biết, Văn vương còn như thế; ăn thịt cha mẹ mà không hay, phàm phu đều như vậy. Đời trước ơn nghĩa mà đời nay thành oán thù, ngày xưa oán thù mà ngày nay thành ruột thịt. Quá khứ là mẹ mà hiện tại là vợ, túc thế là cha mà hiện tiền là chồng. Nếu có cái trí túc mạng để biết thì thật đáng hổ đáng thẹn, nếu có con mắt thiên nhãn để nhìn thì quả đáng cười đáng thương. Trong rừng dơ bẩn mà mười tháng bị gói lại thì thật khó chịu, ở chỗ máu huyết mà một lần bị dốc xuống quả thật đáng thương. Nhỏ thì ngây ngô, trước mặt sau lưng cũng chẳng rõ, lớn lên hiểu biết, tham lam dục vọng đều tự hiện. Nhưng, thoáng cái là già bịnh truy tầm, chốc lát mà chết chóc hiện đến. Bấy giờ, gió với lửa giao tranh nên tâm thức bấn loạn trong đó, khí với huyết kiệt lực nên da thịt teo khô từ ngoài, không một sợi lông nào mà không như bị chích đốt, không một kẽ huyệt nào mà không như bị cắt xả. Con rùa đem nấu, sự thoát vỏ của nó tương đối còn dễ; nghiệp thức lúc tàn, sự thoát xác của nó quả thật quá khó. Tâm không phải chủ thể vĩnh viễn nên in như thương khách bôn ba đủ chỗ, thân không có hình dáng cố định nên khác nào phòng ốc thay đổi đủ cách. Bụi cả thế giới cũng khó sánh thân luân hồi, nước cả đại dương vẫn không bằng lệ biệt ly. Xương mà chất thì hơn núi cao, thây mà sắp thì tràn mặt đất. Giả sử không được nghe lời Phật thì việc ấy ai thấy ai nghe, chưa được đọc văn Kinh thì lẽ này ai hay ai biết. Vậy mà có kẻ hoặc vẫn tham luyến như cũ, si mê như xưa, thì chỉ e rằng muôn kiếp ngàn đời mới được làm người, nhưng một lần hư hỏng là hư hỏng đến cả trăm kiếp. Thân thể con người khó được mà dễ mất, thì giờ quí báu dễ trôi mà khó kéo. Rồi đường hướng mờ mịt, biệt ly mãi hoài, ác báo tam đồ lại phải tự chịu, thống khổ hết nói mà ai chịu thay. Mô tả đến đây, há chẳng buốt dạ. Vì vậy, hãy triệt dòng sinh tử, vuợt bể ái dục, để mình cùng người thoát, cùng lên bờ giác. Hết thảy công việc phi thường trong bao đời kiếp sắp đến đều bắt nguồn từ cơ hội này. Đó là lý do thứ sáu của sự phát bồ đề tâm.

Trọng linh tánh của mình là thế nào? Nhất tâm hiện tiền của chúng ta cùng ngay với đức Thích ca thế tôn không khác. Vậy mà tại sao Thế tôn từ vô lượng kiếp sớm thành chánh giác, còn chúng ta thì ngu si thác loạn, vẫn làm phàm phu. Thế tôn thì có vô lượng thần thông tuệ giác, công đức trang nghiêm, còn chúng ta chỉ có vô biên nghiệp chướng phiền não, sinh tử thắt buộc. Tâm tánh duy nhất mà mê ngộ lại một trời một vực. Lặng đi mà nghĩ mới thấy khả sỉ. Ngọc báu vô giá lún xuống bùn lầy mà nỡ coi như ngói gạch, không chút quí trọng. Hãy vận dụng vô lượng thiện pháp mà đối trị vô biên phiền não. Tu đức có công, tánh đức mới lộ. Bấy giờ thì như ngọc báu được rửa, treo trên phướn cao, ánh sáng rực rỡ, chói lấp tất cả. Thế mới gọi là không phụ sự giáo hóa của Phật, không phụ tánh linh thiêng của mình. Đó là lý do thứ bảy của sự phát bồ đề tâm.

Sám hối nghiệp chướng là thế nào? Kinh dạy, phạm một kiết la cũng đọa địa ngục bằng năm trăm tuổi thọ của bốn Thiên vương. Kiết la là tội nhỏ mà bị quả báo đến thế, huống chi tội nặng, quả báo thật khó tả. Nay chúng ta, hằng ngày, mỗi một cử chỉ cũng như mỗi một động tác, luôn luôn trái với giới luật, mỗi một bữa ăn cũng như mỗi một lần uống, thường thường phạm vào thi la. Một ngày tội lỗi phạm vào, theo lẽ cũng đã vô lượng, huống chi trọn đời nhiều kiếp, tội lỗi phát ra quả báo khó mà nói hết. Hãy lấy ngũ giới mà nói, thì mười người đã có đến chín kẻ vi phạm, bày tỏ thì ít mà dấu diếm lại nhiều. Ngũ giới chỉ là giới tại gia mà còn không giữ đủ, huống chi các giới sa di, tỷ kheo, bồ tát, thôi thì khỏi nói. Hỏi cái tiếng thì nói là tỷ kheo, hỏi cái thật thì hãy còn chưa đủ làm ưu bà tắc, như thế mà không xấu hổ được sao. Phải biết, giới Phật không thọ thì thôi, thọ thì không được phạm, vì không phạm thì thôi, phạm thì chung cục tất bị sa lạc. Trừ phi cảm thương thân mình, lại xót xa kẻ khác, thân và miệng cùng bi thiết, tiếng và lệ đều tuôn đổ, để khắp vì chúng sanh khẩn cầu sám hối, thì ngàn đời muôn kiếp ác báo cũng khó tránh cho khỏi. Đó là lý do thứ tám của sự phát bồ đề tâm.

Cầu sinh tịnh độ là thế nào? Tu hành cõi này thì sự tiến đạo rất khó, vãng sinh cõi kia thì sự thành Phật cũng dễ. Dễ nên một đời đã có thể thấu đáo, khó nên lắm kiếp vẫn chưa chắc hoàn thành. Do đó mà thánh ngày xưa, hiền ngày trước, ai cũng khuynh hướng; kinh cả ngàn, luận cả vạn, đâu cũng chỉ qui. Quả thật sự tu hành trong thời kỳ mạt pháp này, không có cách nào hơn pháp ấy. Có điều kinh luận đã nói, điều lành mà tính chất nhỏ thì không thể vãng sanh, cái phước mang tính chất lớn mới chắc chắn đến được. Cái phước mang tính chất lớn thì không chi bằng sự chấp trì danh hiệu, điều lành hàm tính chất to thì không chi bằng sự phát tâm rộng lớn. Nên nhất tâm chấp trì danh hiệu của Phật hơn cả sự bố thí đến trăm năm, nhất niệm phát tâm bồ đề rộng lớn vượt cả sự tu hành trong nhiều kiếp. Lý do là vì niệm Phật vốn mong làm Phật, vậy tâm lớn không phát thì có niệm cũng không làm gì, phát tâm vốn để tu hành, vậy tịnh độ không sanh thì có phát cũng dễ thoái chuyển. Nên gieo giống bồ đề, cày bằng cái cày niệm Phật, thì trái hạt tuệ giác tự nhiên lớn lên; ngồi thuyền đại nguyện, nhập vào bể cả tịnh độ, thì tây phương cực lạc quyết định vãng sanh. Đó là lý do thứ chín của sự phát bồ đề tâm.

Làm cho Phật pháp tồn tại lâu dài là thế nào? Thế tôn của ta, từ vô lượng kiếp, vì ta mà tu đạo bồ đề, khó làm làm được, khó nhẫn nhẫn nổi, nhân trọn vẹn, quả đầy đủ, mới được thành Phật. Phật thành rồi, ngài giáo hóa châu đáo, và nhập vào niết bàn. Nay thì thời kỳ Phật pháp nguyên chất và thời kỳ Phật pháp tương tự đã mất tất cả, còn lại chỉ là thời kỳ Phật pháp cuối cùng. Phật pháp có đó mà hành trì vô nhân, tà chánh bất phân, đúng sai hổn tạp, tranh dành nhân ngã, cầu trục danh lợi. Mở mắt ra là thấy nhan nhãn, cả thiên hạ đều như vậy. Chẳng ai biết Phật là bực nào, Pháp là nghĩa gì, Tăng là người chi. Suy tàn đến thế, bất nhẫn nói đến. Mỗi khi nghĩ ngợi, bất giác rơi lệ. Thân làm con Phật mà ta không thể báo đáp ân đức của ngài. Trong vô ích cho mình, ngoài vô ích cho người, sống vô ích đương thời, chết vô ích mai hậu. Trời cao cũng không che ta nổi, đất dày cũng khó chở ta được. Tội nhân cực trọng, phi ta thì ai. Vì thế mà đau đớn không thể nhẫn nổi, nhưng toan tính thì lại không thấy có cách gì khác hơn, nên quên ngay tư cách quê kệch, phát liền tâm chí rộng lớn. Như thế thì dẫu không thể vãn hồi mạt vận ngay lúc này, nhưng quyết có thể hộ trì Phật pháp trong mai sau. Nên hợp cùng thiện hữu, qui tụ đạo tràng, soạn thuật sám pháp, lập pháp hội này, phát đại nguyện đến bốn mươi tám điều mà nguyện nnào cũng hóa độ chúng sanh, mong thâm tâm suốt trăm ngàn đời kiếp mà tâm nào cũng có thể làm Phật, khởi đầu từ ngày hôm nay cho đến cùng tận biên cương thì gian. Hết một đời này thì nguyện sanh Cực lạc, lên chín phẩm xong thì trở lại Ta bà. Mong sao mặt trời Phật pháp sáng lại, cửa ngõ Phật pháp mở nữa, để tăng giới được trong lặng ở cõi này, dân chúng được tiếp hóa ngay nơi đây, vận hội nhờ đó mà kéo dài thêm nữa, Phật pháp vì vậy mà tồn tại lâu bền. Đó là ưu tư chân thành, tha thiết ấp ủ. Đó là lý do thứ mười của sự phát bồ đề tâm.

Như vậy mười lý do đã biết, tám sắc thái đã rõ, thì khuynh hướng có lối, khai phát có chỗ. Chúng ta đã được thân thể nhân loại, ở chỗ văn hóa, giác quan kiện toàn, cơ thể thanh thoát, tín tâm đầy đủ đã có, ma chướng may mắn lại không. Huống chi còn được xuất gia, được thọ cụ túc giới, được gặp đạo tràng, được nghe Phật pháp, được chiêm bái xá lợi, được tu tập sám pháp, được hội ngộ thiện hữu, được hoàn cảnh tốt đẹp. Như vậy nếu ngày nay không phát tâm rộng lớn như trên, thì còn chờ đến ngày nào.

Cúi xin đại chúng thương cho thành tâm ngu muội của tôi, xét cho chí nguyện khổ sở của tôi, mà cùng lập nguyện ấy, cùng phát tâm này. Chưa phát thì nay phát, phát rồi thì tiến triển, tiến triển rồi thì liên tục. Đừngsợ khó mà khiếp hải, lùi bước, đừng cho dễ mà khinh thường, hời hợt, đừng ham mau mà không lâu bền, đừng biếng nhác mà thiếu dũng tiến, đừng uể oải mà không phấn khởi, đừng chần chờ mà kỳ hẹn mãi, đừng vì trí tuệ thiếu thông minh mà nhất thiết không lưu ý, đừng vì trình độ thiếu lanh lẹ mà tự khinh không có phần. Như trồng cây, trồng lâu thì rễ cạn ngày càng xuống sâu; như mài dao, mài mãi thì dao đùi cũng thành bén sắc; không thể vì cạn mà không trồng, mặc cây khô héo, vì đùi mà không mài, để dao vô dụng.

Lại nữa, nếu cho tu là khổ sở thì không biết nhác lại còn khổ hơn. Tu thì khó nhọc tạm thời mà an vui vĩnh viễn, còn nhác thì một đời thư thả nhưng lắm kiếp khổ đau. Huống chi lấy pháp môn tịnh độ làm thuyền tàu thì lo gì thoái chuyển, lấy tuệ giác vô sanh làm sức nhẫn thì sợ gì khó khăn. Nên biết, tội nhân địa ngục mà còn phát bồ đề tâm từ kiếp trước, huống chi đã làm người, lại làm con Phật, mà không lập đại nguyện ngay trong đời này. Vô thỉ ôn mê, cái gì qua rồi đã không thể cản, thì ngày nay tỉnh ngộ, những cái sẽ đến còn có thể theo. Mê mà chưa tỉnh, cố nhiên đáng thương, biết mà không làm, mới càng đáng tiếc. Hễ sợ cái khổ địa ngục thì sự tinh tiến tự sinh, nhớ cái mau chết chóc thì tính biếng nhác tự diệt. Điều cần thiết là lấy Phật pháp làm roi dục, lấy thiện hữu làm tay dắt, trong cơn vội vã cũng không tách rời, suốt cả một đời vẫn cố bám víu, thì không làm gì còn có sự thoái chuyển được nữa. Đừng nói chỉ nghĩ một thoáng là nhỏ nhẹ, đừng cho mới nguyện mà thôi là vô ích. Tâm chân thì sự thật, nguyện rộng thì hạnh sâu. Không gian đâu có lớn, tâm vương mới lớn. Kim cương đâu có chắc, nguyện lực mới chắc. Đại chúng quả thật không bỏ lời tôi, thì bà con giác ngộ từ đây kết hợp, bạn hữu sen vàng từ đây kết giao, sở nguyện đồng sanh tịnh độ, đồng thấy Di đà, đồng hóa chúng sanh, đồng thành chánh giác. Như vậy thì biết đâu bâm hai tướng hảo và trăm phước trang nghiêm sau này chẳng bắt đầu từ sự phát tâm lập nguyện trong ngày hôm nay. Nguyện cùng đại chúng chung nhau nỗ lực, như thế thật vô cùng may mắn.

Phụ Lục: Giải thích từ ngữ “Phát bồ đề tâm”

Phát bồ đề tâm là căn bản của việc học Phật, nhưng bồ đề là gì, bồ đề tâm là thế nào, phát bồ đề tâm cách nào, cả ba câu hỏi ấy vẫn cần phải giải thích.

I. Giải thích “Bồ Đề”

1. Danh nghĩa của bồ đề: Danh nghĩa của bồ đề tức là định nghĩa về chữ ấy. Bồ đề là dịch âm Phạn ngữ Bodhi. Dịch ý chữ này, nhiều chỗ nói phái cũ dịch là đạo, phái mới dịch là giác. Nhưng cũ là ai, không thấy chỉ rõ, còn mới thì chính là ngài Huyền Trang. Chữ đạo có hai nghĩa: nghĩa thông thường là đường, nghĩa suy diễn là đức lý (bản thể siêu việt). Bồ đề mà dịch là đạo, là lấy cái nghĩa đức lý, và đức lý ấy chính là sở y của bồ đề sẽ nói ở nghĩa thứ 8.

Bồ đề mà dịch là giác, là cái giác trong chữ giác ngộ. Tuy giác là nghĩa chính của bồ đề, nhưng không bao hàm được nghĩa đức lý, huống chi còn có thể lẫn lộn với cảm giác, tri giác, ác giác, là những cái giác trái với bồ đề. Tất cả cái giác này, đối với bồ đề, đích thị gọi là mê. Do đó, bồ đề là giác, nhưng là cái giác chống mê, hết mê, cái giác thuần chính mới là nghĩa chữ bồ đề.

Vì nghĩa của chữ bồ đề như trên đây nên ngài La Thập đã dịch là vô thượng trí tuệ – tuệ giác siêu việt (Trí độ luận cuốn 44), và ngài Tăng Triệu cho biết không có chữ nào hơn để dịch, vì bồ đề là cái chân trí giác ngộ bản thể siêu việt một cách chính xác (Duy ma kinh chú).

2. Loại biệt của bồ đề: Loại biệt của bồ đề là phân loại về tuệ giác ấy. Bồ đề là giác, giác thì phải hết mê. Nên giác hiện hành thì mê phải tiêu diệt. Do đó mà phải là tuệ giác của liệt vị thánh giả hết mê mới là bồ đề. Ngoài ra, không có tuệ giác của ai được gọi bằng danh hiệu ấy. Thánh giả hết mê có thể phân ra ba, nên bồ đề có ba loại khác nhau, đó là Thanh văn bồ đề, Độc giác bồ đề, Vô thượng bồ đề.

3. Tự tánh của bồ đề: Tự tánh, hay tự thể tướng, ở đây nghĩa là bản thân. Bản thân bồ đề, theo tam thừa cọng pháp, tức là cả ba loại bồ đề, thì nó là vô lậu tuệ (tuệ này chính là tuệ tâm sở trong 5 tâm sở biệt cảnh); còn theo đại thừa bất cọng pháp, tức riêng vô thượng bồ đề, thì nó là 4 trí thanh tịnh.

Lấy 4 trí thanh tịnh làm bồ đề thì thật tam thừa thánh giả chưa được gọi là bồ đề, vì lẽ Thanh văn và Độc giác chưa phải biến tri, còn Bồ tát chưa phải vô thượng, mà phải vô thượng chánh biến giác của Phật địa mới thật là bồ đề. Như vậy, nói tam thừa bồ đề chỉ là bình đẳng tướng, nói vô thượng bồ đề mới là thù thắng tướng. Thù thắng tướng có nghĩa viên mãn cả 4 trí, còn bình đẳng tướng có nghĩa chỉ được một phần của diệu quán sát trí trong 4 trí ấy. Lấy diệu quán sát trí mà nói bồ đề thì cả tam thừa đều được gọi là bồ đề, nhưng lấy cả 4 trí mà nói bồ đề thì chỉ Phật địa mới được gọi là bồ đề thôi. Lấy 4 trí làm bồ đề, nghĩa này Thiên thai tôn gọi là “thật trí bồ đề”.

Tuy nhiên, lấy 4 trí làm bản thân bồ đề chỉ là thuyết của Duy thức. Ngoài thuyết này, Câu xá luận nói là 2 trí, Mật giáo nói là 5 trí, đặc biệt và quan trọng, Trí độ luận nói là 3 trí.

4. Tương ưng của bồ đề: Tương ưng của bồ đề là nói về phụ thuộc của tuệ giác ấy. Như ai nấy đều biết, toàn bộ tâm thức chia ra ba hệ thống, là đệ bát thức, đệ thất thức và tiền lục thức. Ba hệ thống của thức khi chuyển thành trí thì lại có 4 hệ thống gọi là 4 trí: đại viên cảnh trí (đệ bát thức), bình đẳng tánh trí (đệthất thức), diệu quán sát trí (đệ lục thức) và thành sở tác trí (tiền ngũ thức). Nói tương ưng của bồ đề là nói tâm vương tâm sở của 4 trí này.

Như trên đã nói, bản thân của 4 trí đích thị là vô lậu tuệ. Khi chuyển thức thành trí, thì vì đề cao trí nên dẫu vô lậu tuệ chỉ là tuệ tâm sở trong 5 tâm sở biệt cảnh, vẫn giáng thức xuống làm tâm vương tương ưng với nó, đưa nó lên làm chủ và gọi là trí. Tâm vương tâm sở tương ưng với 4 trí, trí nào cũng có 21 thứ: tâm vương: tức thức của nó, 1. tâm sở: biệt cảnh, 4. biến hành, 5. thiện pháp.

5. Năng sinh của bồ đề: Năng sinh là những cái có khả năng phát sinh, tức là duyên. Bồ đề hiện hành là do tiêu diệt mê, vậy nó cũng là pháp duyên sinh. Duyên sinh bồ đề, như các pháp khác, cũng có: Nhân duyên: chủng tử của vô lậu tuệ (loại bản hữu). Tăng thượng duyên: thiện hữu (Phật, Bồ tát, sư trưởng, đồng học) và thánh giáo (Phật pháp). Đẳng vô gián duyên: sự liên tục dẫn sinh vô lậu tuệ của hữu lậu thiện. Sở duyên duyên: cảnh thánh đã quán tưởng và cảnh khổ đã thấy nghe. Bốn duyên này chỉ là tổng mục. Chi tiết của duyên sinh bồ đề còn nhiều nữa, như kinh luận đã đề cập không ít.

6. Sở đoạn của bồ đề: Sở đoạn là những thứ bị tiêu diệt, gọi là chướng. Được bồ đề nghĩa là được thánh quả. Do đó, dầu sự được thánh quả của các vị hữu học vẫn có thể gọi là được bồ đề. Nên sơ quả sắp lên của nhị thừa, sơ địa sắp lên của đại thừa, đều do bồ đề tiêu diệt chướng của nó mà thực hiện. Chướng ấy là gì, và trí nào tiêu diệt chướng ấy?

– — nhị thừa, phiền não chướng là sở đoạn, bồ đề trí phần sinh không là năng đoạn.

– — đại thừa, sơ địa thì lấy phần phân biệt của phiền não chướng và sở tri chướng làm sở đoạn, đến Phật địa thì lấy phần chủng tử của 2 chướng ấy làm sở đoạn, còn năng đoạn là cả 4 trí của bồ đề (gồn cả 2 phần sinh không và pháp không).

Luận nói, bồ đề, bồ đề đoạn và bồ đề xứ đều gọi là bồ đề. Bồ đề là tự tánh và tương ưng của nó (tức nghĩa thứ 3 và nghĩa thứ 4 ở trên) bồ đề đoạn là sở đoạn của nó (tức nghĩa thứ 6 ở đây) bồ đề xứ là sở duyên của nó (tức nghĩa thứ 7 ở sau). Khi hai chướng đã đoạn, có nghĩa đã đoạn hoặc: hoặc đoạn thì nghiệp không còn, và khổ (tức sanh tử luân hồi) cũng chấm dứt.

7. Sở duyên của bồ đề: Sở duyên là những đối tượng bị biết, gọi là cảnh. Như đã nói, 4 trí bồ đề tương ưng với tất cả tâm vương tâm sở vậy, vậy hết thảy đối tượng của tâm vương tâm sở đều là sở duyên của bồ đề, có nghĩa bồ đề không pháp nào không biết. Bồ đề lại còn tự biết tự tánh (bản thân) của nó, vì nó là pháp vô lậu. Như vậy, tâm vương tâm sở thuần tính chất vô lậu của các đấng Vô thượng chánh biến tri có khả năng giác ngộ tất cả, có nghĩa tất cả các pháp đều là đối tượng của 4 trí bồ đề. Tuy nhiên, vẫn có một chút khác biệt trong đó, là thành sở tác trí chỉ duyên tục không duyên chân, còn 4 trí khác thì tự tha đều biết, chân tục đều ngộ. Do đó mà trí của Phật đã biến tri cảnh giới của mình, lại biến tri cảnh giới chúng sanh, cả đến chân như cũng là sở duyên của vô phân biệt trí của Phật.

8. Sở y của bồ đề: Sở y là chỗ y cứ, tức bản thể. Bồ đề là pháp do duyên sinh thì cũng là pháp do duyên diệt, có nghĩa bồ đề sinh diệt ngay trong từng sát na. Nhưng, bồ đề sinh diệt mà vẫn liên tục là nhờ thân chứng chân như, tức bản thể bất sinh diệt. Bồ đề lại không một sát na nào không tương ưng với chân như, nên bồ đề luôn luôn hiện hành. Bản thể chân như mà bồ đề y cứ này, Thiên thai tôn gọi là “chân tánh bồ đề”.

9. Sở khởi của bồ đề: Sở khởi là những cái được phát khởi ra. Những cái bồ đề phát khởi chính là những gì Phật địa phát hiện. Những cái ấy là thân độ (cơ thể và vũ trụ) của Phật địa. Thân độ này gồm có tự thọ dụng (đồng đẳng pháp giới), tha thọ dụng (cho thập địa bồ tát) và thắng ứng hóa (cho các thánh giả khác), liệt ứng hóa (cho cả phàm thánh). Thứ 1 là thù thắng tướng của đại thừa, thứ 2, 3 và 4 là bình đẳng tướng, quán thông nhân quả, đại thừa và tiểu thừa.

10. Sở tác của bồ đề: Sở tác nghĩa là việc làm. Việc bồ đề làm chính là việc làm của Phật mà kinh Pháp hoa đã nói là khai thị tuệ giác của Phật cho chúng sanh ngộ nhập. Vì việc làm này, Phật hiện làm đến cả rừng ao (kinh Địa tạng), tôi tớ (luận Khởi tín). Như vậy, chúng sanh mà đoạn chướng chứng quả, tất cả đều do năng lực phương tiện xuất từ nguyện lực đại bi của Phật – đều là năng lực của bồ đề.

Nghĩa này cùng nghĩa thứ 9 ở trên, Thiên thai tôn gọi là “phương tiện bồ đề”.

II. Giải Thích “Phát Bồ Đề Tâm”

Trong nghĩa loại biệt (thứ 2) đã nói tam thừa đều là bồ đề, nhưng ở đây chỉ căn cứ Vô thượng bồ đề mà giải thích về bồ đề tâm.

1. Bồ đề tâm nghĩa là tâm cầu bồ đề: Tâm cầu vô thượng bồ đề gọi là bồ đề tâm, tâm ấy là thệ nguyện, tức dục tâm sở trong 5 tâm sở biệt cảnh. Dục tâm sở không cầu bồ đề của Thanh văn, Độc giác và Bố tát, mà chỉ cầu Vô thượng bồ đề, nên gọi là bồ đề tâm. Và như vậy, chữ phát trong từ ngữ phát bồ đề tâm có nghĩa là lập: lập cái chí nguyện mong cầu vô thượng bồ đề, gọi là phát bồ đề tâm. Đó là cái nghĩa đầu tiên và quan trọng nhất về sự phát bồ đề tâm của người học Phật.

2. Tâm có bồ đề gọi là bồ đề tâm: Tâm có bồ đề gọi là bồ đề tâm, thì tâm ấy chỉ cho tất cả tâm vương tâm sở tương ưng với bồ đề. Tất cả tâm này có cái tuệ giác bồ đề nên gọi là bồ đề tâm.

3. Bồ đề là tâm gọi là bồ đề tâm: Bồ đề là tâm gọi là bồ đề tâm, nghĩa này có ba: Thứ nhất, tâm chỉ cho tất cả tâm vương tâm sở tương ưng với bồ đề, bồ đề chỉ cho tuệ tâm sở: trong tất cả 4 hệ thống tâm vương tâm sở của 4 trí, hệ thống nào cũng có tuệ tâm sở nên hệ thống nào cũng gọi là bồ đề tâm. Thứ hai, tâm vẫn chỉ cho tất cả tâm vương tâm sở, bồ đề vẫn chỉ cho tuệ tâm sở: tuệ tâm sở cũng là tâm nên gọi là bồ đề tâm. Như một người cũng là người nên nói một người cũng là nói về loài người. Nghĩa này không đáng quan tâm. Thứ ba, tâm vẫn chỉ cho tất cả tâm vương tâm sở, bồ đề chỉ cho năng duyên, đặc tính của tâm vương tâm sở. Đặc tính này chính là cái mà ta gọi là linh giác: tâm vương tâm sở có linh giác bồ đề nên gọi là bồ đề tâm.

Giải Thích “Phát” Bồ Đề Tâm

Chữ phát có nhiều nghĩa: phát sinh, phát khởi, phát hiện, phát triển, phát minh. Làm thế nào để phát khởi cái chí nguyện mong cầu Vô thượng bồ đề? Lại làm sao để phát sinh cho đến phát minh tuệ giác bồ đề? Nói chung, làm cách nào để phát bồ đề tâm? Dưới đây giải thích về 5 cách ấy.

1. Tự tánh phát: Tự tánh phát là bản thân bồ đề tự phát. Cách này có hai: Thứ nhất, bản thân ấy là đặc tính linh giác (năng duyên) của hết thảy tâm vương tâm sở. Linh giác tự phát triển thì sẽ thành toàn giác, gọi là tự tánh phát bồ đề tâm. Điều đáng nói, đặc tính tâm vương tâm sở là linh giác (năng duyên), nên khi còn phiền não thì đặc tính ấy cũng vẫn y nguyên, nhưng phiền não chỉ là hiện tượng thác loạn, như bịnh cũng là của cơ thể, nhưng chỉ là thứ hiện tượng thất thường. Do đó mà linh giác bồ đề của tâm không phát triển thì tâm không bao giờ ổn định được. Thứ hai, bản thân ấy là chủng tử vô lậu (loại bản hữu) của tất cả tâm vương tâm sở. Tất cả tâm vương tâm sở vô lậu gọi là bồ đề; chủng tử vô lậu phát khởi hiện hành vô lậu, gọi là tự tánh phát bồ đề tâm.

2. Tư trợ phát: Tư trợ nghĩa là hổ trợ. Tự tánh bồ đề mà tự phát được là nhờ sự hổ trợ. Sự hổ trợ này có 2: Thứ nhất là thiện hữu, là sự giáo hóa của chư Phật và Bồ tát. Thứ hai là thánh giáo, là sự huân tập của giáo lý trong ba tạng. Cả 2 yếu tố này hổ trợ cho sự phát bồ đề tâm nên gọi là tư trợ phát.

3. Thiện căn phát: Các thiện căn được thiện hữu giáo hóa và thánh giáo huân tập mà phát sanh và phát triển, các thiện căn ấy tác động và hổ trợ cho thiện tuệ thành vô lậu tuệ, vô lậu tuệ thành vô thượng bồ đề: đó là thiện căn phát bồ đề tâm.

4. Đẳng lưu phát: Đẳng lưu nghĩa là bản thân tự liên tục phát triển. Bản thân bồ đề là vô lậu tuệ. Vô lậu tuệ do hữu lậu tuệ dẫn ra, nghĩa là chính bản thân vô lậu tuệ tự phát triển từ hữu lậu đến vô lậu, phát triển cho đến thành vô thượng bồ đề thì gọi là đẳng lưu phát.

5. Đoạn chứng phát: Là phát bồ đề tâm bởi sự đoạn chướng chứng chân. Trải qua các địa vị tu chứng, hễ đoạn chướng chứng chân bao nhiêu, thì vô lậu hiện hành, nghĩa là bồ đề phát hiện bấy nhiêu. Do đó, sự đoạn chứng phát là Sơ địa thì phát hiện, các địa thì phát triển, cho đến Phật địa thì cứu cánh đoạn chứng nên thành cứu cánh phát bồ đề tâm.

The post Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Bồ Tát Hạnh Trong KINH VIÊN GIÁC https://bachhac.net/bo-tat-hanh-trong-kinh-vien-giac.html Fri, 13 Aug 2021 04:37:56 +0000 https://bachhac.net/?p=3599 Chúng ta phải nhận ra, mọi lời thuyết pháp của chư Phật đều nhằm chỉ thẳng tâm, không nên bám chặt vào tên và lời, bởi đó chỉ là ngón tay đưa lên, còn đích chúng ta thấy phải là mặt trăng vằng vặc vượt ra khỏi giới hạn của ngón tay kia. 1. Ý …

The post Bồ Tát Hạnh Trong KINH VIÊN GIÁC appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Chúng ta phải nhận ra, mọi lời thuyết pháp của chư Phật đều nhằm chỉ thẳng tâm, không nên bám chặt vào tên và lời, bởi đó chỉ là ngón tay đưa lên, còn đích chúng ta thấy phải là mặt trăng vằng vặc vượt ra khỏi giới hạn của ngón tay kia.

Bồ Tát Hạnh Trong Kinh Viên Giác

1. Ý nghĩa Bồ-tát:

Bồ-tát (菩薩), nói cho đủ là Bồ-đề-tát-đỏa (菩提薩鬌), phiên âm tiếng Phạn là Bodhisattva. Bồ đề dịch là Giác ngộ; tát-đỏa dịch là chúng sanh. Bồ-tát là vị đã giác ngộ nhưng còn trụ lại kiếp chúng sanh để độ đời. Bồ-tát, từ người mới bắt đầu (sơ phát tâm) cho đến những vị đã nhiều đời sống theo hạnh Bồ-tát (Đại Bồ-tát) đều có một hướng đi rõ rệt: nỗ lực sống giải thoát và giác ngộ bằng chính cuộc đời mình và dùng cuộc đời đó để giúp đỡ những người khác giải thoát và giác ngộ. Hơn thế nữa, chính trong nỗ lực giúp đỡ người khác giải thoát và giác ngộ mà vị ấy thành tựu giải thoát và giác ngộ. Thâu tóm lại, Bồ-tát có hai công việc chính:

• Cơ sở hoá độ của Bồ-tát (cũng gọi là Phẩm tính Bồ-tát): Tự mình giải thoát và giác ngộ. Đây là công việc của Trí tuệ soi thấy tánh Không hay Vô tự tánh của tất cả các hiện tượng (vạn pháp), của tất cả không gian và thời gian. Công việc này được gọi là tích tập trí tuệ.

• Phương pháp hoá độ của Bồ-tát (cũng gọi là Lý tưởng Bồ-tát): Phụng sự chúng sanh (để họ được giải thoát và giác ngộ). Đây là công việc của lòng đại bi. Sở dĩ gọi là “Đại” vì đó không phải là công việc của một đời mà là công việc của một số đời bằng công việc số đời của tất cả chúng sanh; công việc của một đời sống “không bỏ chúng sanh” và do đó mà “không sợ sanh tử luân hồi”. Phụng sự, làm lợi lạc cho chúng sanh phải trải qua nhiều đời, trong mọi mặt. Công việc này được gọi là tích tập phước đức.

Bồ-tát là một đời sống hòa hợp được hai mâu thuẫn: một mặt là giải thoát ra khỏi sanh tử; mặt khác không lìa bỏ sanh tử, hay là sự giải thoát sanh tử bằng Tánh Không (sự thật Vô ngã và Vô pháp) đồng thời không bỏ sanh tử vì lòng đại bi. Như thế, trên con đường Bồ-tát cuối cùng, hai cái mâu thuẩn chừng như mâu thuẫn đó trở thành một, bất khả phân. Kinh Viên Giác nói lên lý tưởng Bồ-tát dựa trên tinh thần liễu tri sanh tử. Hành giả tu tập thấy sanh tử không phải là một thứ gì đáng ghét và ghê gớm như một đống rác hôi hám nên vứt bỏ càng sớm càng tốt, mà rác cũng có tính ưu việt của nó, đây là mặt tích cực của sinh tử trên con đường chứng đắc Phật quả. Cũng nhờ đó mà chúng ta bảo, Bồ-tát có sự nhớ ơn sâu sắc sanh tử và chúng sanh.

2. Cơ sở hoá độ của Bồ-tát:

Danh từ Bồ-tát, không biết từ lúc nào đã đi vào lòng người như một hình ảnh lung linh và điển hình. Chúng ta có thể bắt gặp Bồ-tát qua những hình ảnh rất quen thuộc như Bồ-tát Di Lặc, Bồ-tát Quán Thế Âm, Bồ-tát Phổ Hiền v.v… hoặc qua hình ảnh chư vị Thánh tăng trọn đời hy sinh cho sự nghiệp xiển dương chánh pháp, hóa độ chúng sanh. Bên cạnh đó, vị Bồ-tát còn được biết đến dưới nhiều hình tướng dung dị tùy cơ nghi phụng sự cõi Ta-bà.

Bồ-tát đạo là con đường không dễ thực hành trọn vẹn. Nếu tâm niệm không kiên định, ý chí không vững bền, không mang trong mình đại nguyện “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh” thì hành giả sẽ chẳng bao giờ đi trọn trên hành trình nhiệm mầu mà lắm gian nan đó cả.

Dĩ nhiên, chúng ta không thể nói hết những phẩm tính của Bồ-tát, bởi trong quá trình thăng tiến qua nhiều kiếp sống, những đức tính nào con người có thể có, đều được khai triển một cách hoàn hảo ở nơi một Bồ-tát. Trong bài viết giới hạn này, chúng ta chỉ đề cập đến những phẩm cách của Bồ-tát dựa trên tinh thần Kinh Viên Giác mà thôi. Cơ sở hoá độ là kết quả có được của hành giả, hay có thể hiểu, đó là con đường mà một vị Bồ-tát phải đi, phải thành tựu dựa trên vô lượng pháp môn tu tập từ sơ phát tâm đến khi vượt qua Thập địa. Căn cứ vào đó mà Viên Giác chia Bồ-tát thành bốn đẳng cấp theo quá trình tu chứng gồm: phàm phu, trước Thập địa, nhập Thập địa và Phật địa Viên Giác. Tu theo từng cấp độ như thế gọi là tiệm tu, còn tu tập và thành đạo nhanh chóng nhờ thượng căn gọi là đốn tu.

Qua từng phẩm Kinh Viên Giác, chúng ta thấy phẩm cách Bồ-tát được Thế-tôn dạy rất căn bản và cặn kẽ sau mỗi vấn đề được đặt ra của các vị Đại Bồ-tát như Văn Thù, Phổ Hiền, Phổ Nhãn, Kim Cang Tạng, Oai Đức Tự Tại… Phẩm cách thuộc về phần tự độ, chính là pháp môn tu tập. Và xuyên suốt cả bổn Kinh, Thế-tôn không dạy gì ngoài giáo lý căn bản như Duyên Khởi, Ngũ uẩn, Niệm Xứ, … đó gọi là Đại Đà-la-ni (大陀羅尼), lưu xuất hết thảy Chân như thanh tịnh, Bồ đề, Niết bàn cũng như Ba-la-mật, cũng gọi là Nhân địa của Như-lai (因地如來) hay Pháp hạnh Nhơn địa (因地法行). Bồ-tát phải tu tập diệt trừ vô minh như trừ đi cơn bệnh lâu ngày. Tiếp theo những câu hỏi của Ngài Văn Thù và Phổ Hiền, Ngài Phổ Nhãn đã đặt vấn đề cầu xin đức Phật khai thị thật vô cùng thiết thực và trở thành nội dung chuẩn mực thâu tóm toàn bộ bản Kinh: “Mong Phật vì những chúng Bồ-tát trong hội này và vì tất cả chúng sanh đời mạt pháp giảng nói các vấn đề thứ lớp tu hành của Bồ-tát: Làm sao tư duy? Làm sao trú trì? Chúng sanh chưa ngộ làm phương tiện gì khiến cho tất cả đều được khai ngộ?”

(云 何 思 惟? 云 何 住 持? 眾 生 未 悟 作 何 方 便 普 令 開 悟 ?) (Phẩm Phổ Nhãn Bồ-tát vấn Phật, thứ 3).

Câu hỏi trên cũng tương tự như câu mà Trưởng lão Tu-bồ-đề đã hỏi đức Phật ở Kinh Kim Cương: “Thế-tôn! Những thiện nam và thiện nữ muốn phát tâm vô thượng Chánh đẳng giác thì nên trú tâm vào đâu? Nên điều phục tâm như thế nào?”

(世 尊! 善 男 子, 善 女 人, 發 阿 耨 多 羅 三 藐 三 菩 提 心, 應 云 何 住? 云 何 降 伏 其 心?) (Kinh Kim Cương, đoạn Thiện Hiện khải thỉnh, thứ 2).

Xuyên suốt bản Kinh với những lời cầu thỉnh về phương pháp tu tập của chư Đại Bồ-tát, Thế-tôn đã trả lời với những cách khác nhau nhưng đều y cứ những pháp môn căn bản dựa trên nền tảng Thiền định. Trong Thiền định, hành giả phải liễu đạt rõ ràng bản chất của Vô minh. Chính vô minh là đầu mối của mọi sanh tử khổ đau và gây không biết bao nhiêu nhiệt não chông gai cho người hành đạo.

Ở những phẩm đầu tiên, đức Phật đề cập tổng quát về Vô minh, trong những phẩm tiếp theo, Ngài đã chỉ tận gốc rễ sự vô minh gây khổ đau là vì tham ái và dục phát sinh mà không thể chánh niệm tỉnh giác được. Phẩm Di-lặc Bồ-tát vấn Phật, Như-lai đã dạy rất rõ, sở dĩ chúng sanh luân hồi mãi trong bùn lầy tử sinh là do bị tham ái và dục chiếm hữu. Vì thế, Bồ-tát tu tập cần phải thấy một cách tường tận: vòng xoáy luân hồi, Ái là căn bản. Do các dục giúp ái tánh phát sinh, nên khiến sanh tử nối nhau. Dục nương ái sanh, Mạng nương dục mà có. Ái mạng của chúng sanh lại nương nơi gốc dục. Ái dục là nhân, Ái mạng là quả.

Nói như vậy có nghĩa hành giả muốn bước đi trên lộ trình của Bồ tát phải quán chiếu gốc rễ sanh tử do ái để từ đó đoạn trừ, tức phải nhìn thấy bản chất của ái, vị ngọt của ái, sự tập khởi của ái và sự đoạn diệt của ái một cách triệt để. Điều này không phải dễ dàng vì chúng ta có mặt ở cuộc đời này cũng từ tham ái, cần phải nỗ lực thắng lướt mọi thói quen, mọi tư duy sai lầm bằng cách khởi Chánh tri kiến nhằm bỏ Lý chướng và quyết tâm cắt đứt nguyên nhân sanh tử nhằm bỏ Sự chướng.

Bồ-tát phải cầu tất cả Chánh tri kiến để định hướng việc tu tập chuẩn mực, điều này cần đến những tinh tấn trong thiền định mà phẩm Oai Đức Tự Tại Bồ-tát Vấn Phật đã sơ lược có ba phương pháp:

Thứ nhất, tu tập Xa-ma-tha (奢 摩 他) dần dần khiến tâm vắng lặng như gương chiếu. Đây cũng gọi là tu Thiền Chỉ. Thứ hai, tu tập Tam-ma-bát-đề (三 摩 缽 提) dần dần nhìn thấy các pháp đều như huyễn như mộng nhằm viễn ly tham muốn chấp thủ. Đây cũng gọi là tu Thiền Quán. Thứ ba, tu tập Thiền-na (禪 那) dần dần lặng dứt mọi tâm niệm như âm thanh im bặt trong đồ vật, không bao giờ còn cơ hội vọng thanh nữa. Đây cũng gọi là đoạn phân biệt nhằm thấy thật tướng.

Vận dụng ba pháp Thiềp tập này, cũng có nghĩa là chúng ta hành trì Thiền Tứ Niệm Xứ:

Niệm Thân tức quay lại quán chiếu thân Tứ Đại dựa trên những đặc tính Khổ, Vô thường, Vô ngã;

Niệm Thọ tức nhìn vào những cảm thọ về khổ, vui, không khổ không vui dựa trên những đặc tính Khổ, Vô thường, Vô ngã;

Niệm Tâm tức trở lại nhìn vào những chuyển biến của tâm thức nhằm có thể điều khiển tâm một cách thiện xảo dựa trên những đặc tính Khổ, Vô thường, Vô ngã;

Niệm Pháp tức nhìn vào những hiện tượng hiện hữu giữa cuộc đời dựa trên những đặc tính Khổ, Vô thường, Vô ngã.

Đó chính là những pháp tu truyền thống mà bất kì Kinh điển nào chúng ta cũng có thể thấy được, và Kinh Viên Giác cũng không nằm ngoài trường hợp ấy. Bên cạnh đó, có một điều mà Bồ-tát luôn luôn khắc ghi trong từng tâm niệm, đó chính là vấn đề giữ giới. Ngài Phổ Nhãn sau khi hỏi pháp tu tập cho Bồ-tát đã được Thế-tôn dạy, muốn cầu tâm thanh tịnh viên giác của chư Như-lai, phải nên chánh niệm xa lìa các huyễn, trước y theo hạnh Xa-ma-tha của Như-lai, giữ kỹ cấm giới, xử an đồ chúng… (欲 求 如 來 淨 圓 覺 心, 應 當 正 念, 遠 離 諸 幻, 先 依 如 來 奢 藦 他 行, 肩 持 禁 戒, 安 處 徒 眾…). Giới là pháp hành không thể thiếu với một đệ tử Phật xuất gia cũng như tại gia. Giới là chánh thuận với căn bản của Giải thoát, nhờ giới mà Thiền định được thành tựu, và Trí tuệ nương đây mà được quán triệt. Trong các chúng hội, giới luật nào cũng được đặt nền tảng dựa vào Ngũ giới, những giới sau đều khai triển từ đây mà thành.

Bồ-tát vì lòng từ bi, giới luật trở thành phục sức tốt đẹp nhất trên bước đường tu tập và hoằng hoá. Giới là hiện thân của Tánh giác. Khi chưa thấy Tánh, một người chìm đắm trong mê mờ sanh tử cùng những ràng buộc nhỏ hẹp, tự giết chết tâm Phật của mình, đây là tội giết người nặng nhất trong những tội giết người. Khi những tư tưởng mê lầm tiếo tục sanh khởi và kéo dài, ta tự huỷ báng kho tàng Phật pháp, làm hư hao công đức, đó là lúc ta trở thành tên cướp giựt nguy hiểm.

Khi những mê lầm sanh khởi và tiếp tục được nuôi dưỡng, ta sẽ mãi tạo thêm nghiệp bất thiện, mãi bắt tay mê mờ theo những thói quen đau khổ, đó là lúc ta mắc tội tà hạnh. Khi mù quáng với những tư tưởng sai lầm, ta dù diễn nói pháp tới đâu cũng rơi vào tội đại vọng ngữ chứ có ích gì. Khi bị cô lập trong tư tưởng sai lầm, trí tuệ không thể phát sinh, mọi thấy biết đều mập mờ, đó là lúc tâm trí ta không khác gì một gã say rượu. Ngược lại với những điều trên là một hành giả được mệnh danh giữ giới thanh tịnh, không có chút tỳ vết, hàng được bậc Thánh ca ngợi. Một vị Bồ-tát phải nhìn giới luật trên bình diện đó nhằm thăng tiến hơn đạo hạnh, để biết rằng, giữ giới chân thật là con đường giác ngộ nhanh nhất trong việc thấy bộ mặt rõ ràng của bản tánh.

Khi những phẩm cách Bồ-tát đã thành tựu thì lại bước qua địa vị khác-địa vị Bồ tát thượng thủ, “Bồ-tát chẳng cầu pháp trói buộc, chẳng cầu pháp cởi mở, chẳng ưa Niết-bàn, chẳng kỉnh người trì giới, chẳng ghét người phá giới, chẳng trọng kẻ quen lâu, chẳng khinh người mới học, vì tất cả đều là giác tánh” (不 與 法 缚, 不 求 法 脫 , 不 厭 生 死 , 不 愛 涅 槃, 不 敬 持 戒, 不 憎 毀 禁, 不 重 久 習, 不 輕 初 學, 何以 故? 一 切 覺 故!) (Phẩm Phổ Nhãn Bồ-tát vấn Phật, thứ 3).

Vì thế, theo Kinh Viên Giác, Bồ-tát được định nghĩa là người xa lìa cấu huyễn (對 離 幻 垢, 說 名 菩 薩), cũng đồng với nghĩa “Tất cả Bồ-tát và chúng sanh đời mạt pháp trước hết phải dứt hết vô thỉ cội rễ luân hồi” (一 切 菩 薩, 及 未 世 眾 生 先 斷 無 始 輪 回 根 本) (Phẩm Kim Cang Tạng Bồ-tát vấn Phật, thứ 4).

Ngay đây đã thiết lập một niềm tin lớn để hành giả nỗ lực tu tập nhằm đoạn tận mọi tham ái chấp trước – vốn là căn bản luân hồi. Niềm tin hễ đã lớn mạnh thì vạn pháp rất chóng thành tựu. Lời dạy đã đầy đủ cho một vị Bồ-tát, chúng ta chỉ còn việc lên đường, dấn thân mới mong thể nhập được vào chân lý thù thắng được.

3. Phương tiện hoá độ của Bồ-tát:

Bồ-tát vào cuộc đời vì nguyện lực từ bi hoá độ vô sô chúng sanh chứ không phải do nghiệp lực luân hồi như bao loại khác. Trong và sau khi hành trì chánh pháp, Bồ-tát luôn giữ trong mình những lý tưởng cao quý. Tất cả những lý tưởng đó không nằm ngoài mục đích tự độ và độ tha dựa vào các tác nhân Trí tuệ và Từ bi.

Nhờ Trí tuệ và Từ bi soi rọi mà Bồ-tát nhận chân được thế nào là con đường sáng, thế nào là hạnh phúc tối thượng, thế nào là con đường đem hạnh phúc tối thượng đó ban trải cho hết thảy chúng sanh một cách thù thắng. Tất nhiên, lý tưởng độ tha của Bồ-tát phải song hành cùng tinh thần tự độ như sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nước với sữa không thể tách rời. Hạnh phúc tự độ được nhắc nhở khá rõ ràng ở bài kệ Phẩm Phổ Nhãn:

普 眼 汝 當 知
一 切 諸 眾 生
身 心 皆 如 幻
身 相 屬 四 大
心 性 歸 六 塵
四 大 體 各 離
誰 為 和 合 者
如 是 漸 修 行
一 切 悉 清 淨
一 切 佛 世 界
猶 如 虚 空 崋
三 世 悉 平 等
畢 竟 無 來 去
初 發 心 菩 薩
及 未 世 眾 生
欲 求 入 佛 道
應 如 是 修 習

“Phổ Nhãn ông nên biết
Tất cả các chúng sanh
Thân tâm đều như huyễn
Thân tướng thuộc bốn đại
Tâm tánh thuộc sáu trần
Thể bốn đại đều lìa
Cái gì là hoà hợp?
Thứ lớp tu như vậy
Tất cả đều thanh tịnh
… …
Hết thảy thế giới Phật
Cũng như hoa hư không
Ba đời đều bình đẳng
Rốt ráo không lai khứ
Bồ tát mới phát tâm
Cùng chúng sanh đời mạt
Muốn cầu vào Phật đạo
Phải tu tập như thế.”

Từ việc ý thức tự độ như thế, Trí tuệ phát khởi khiến Bồ-tát tự nhiên nuôi dưỡng lớn mạnh và thành tựu hạnh Từ bi, tức hạnh nguyện cứu độ hết thảy chúng sanh. Cả bản Kinh Viên Giác đều thể hiện mục đích Độ tha rất rõ ràng và thiết thực. Mỗi phẩm Kinh đều được bắt đầu với những câu hỏi của chư Đại Bồ-tát, cụ thể từ phương pháp hành trì (Trí tuệ), đến hạnh nguyện hoằng hoá (Từ bi). Thật ra, khi chúng ta biết trau dồi phẩm hạnh cho mình thì từ bi hay nói cách khác, ánh mắt nhìn chúng sanh cũng sẽ rộng rãi và bao dung hơn. Không thể tìm thấy lòng yêu thương đích thực ở một người chẳng bao giờ biết chăm sóc tâm linh cho chính mình. Vì thế, ở Kinh Viên Giác, tất cả những câu hỏi của chư Bồ-tát đặt ra đều thành tựu hai mặt Cơ sở và Phương tiện hoá độ, tức thành tựu “Thượng cầu Phật đạo, hạ hoá chúng sanh”. Bồ-tát tu tập thấy rõ lý Duyên Sinh, không một pháp nào tồn tại độc lập, Sự Lý viên dung và tương tức tương nhập, dù tất cả đều hiện hữu như Hư Không hoa nhưng phải khởi từ bi tâm quảng đại để biến cõi Ta-bà thành Hoa Tạng Thế Giới Hải, như Kinh Lăng Già có dạy:

世 間 離 生 滅
猶 如 虚 空 華
智 不 得 有 無
而 興 大 悲 心
“Thế gian ly sanh diệt
Do như hư không hoa
Trí bất đắc hữu vô
Nhi hưng đại bi tâm”.

Mười hai vị Bồ-tát đặt mười hai câu hỏi thiết thực trên lộ trình giải thoát. Mỗi câu hỏi mở ra một phương trời sáng cho chúng ta nhuyền nhuyễn trong lý tưởng thanh cao. “Bồ-tát trở vào trần lao độ các chúng sanh phải lập bao nhiêu phương tiện giáo hoá?” (迴 入 塵 勞, 當 設 幾 種 教 化 方 便 度 諸 眾 生?) (Phẩm Di-lặc Bồ-tát vấn Phật, thứ 5). Câu hỏi trên của Ngài Di-lặc cùng tất cả những câu hỏi tương tự vậy đều thiết lập niềm tin cho mỗi hành giả, giúp hành giả có cơ hội nhập vào hàng Thánh chúng. Lý tưởng Bồ-tát nhờ đây được thành mãn. Nhờ có Chánh Tri Kiến (điều mà Thế-tôn đã dạy đi dạy lại nhiều lần trong bản Kinh), Bồ-tát tu hành như thế, thứ lớp như thế, tư duy như thế, trụ trì như thế, phương tiện như thế, khai ngộ như thế, cầu pháp như thế, thấy năng sở đều không, chẳng cầu cảnh chứng. Và nhờ vào niềm tin kiên lập, Bồ-tát vào đời hoá độ chúng sanh không biết mệt mõi, chỉ mong chúng sanh thành tựu đạo nghiệp nhằm viễn ly mọi ràng buộc của ác pháp.

Như mũi tên bắn ngang đường chim bay khiến nó đoạn mạng, cũng như thế, Bồ-tát vào đời với tâm từ bi, dùng mọi phương tiện thiện xảo đoạn tận nghiệp chướng cho chúng sanh, khiến tất cả đều được thâu nhiếp trong căn bản của Pháp. Đây chính là lý tưởng tột vời mà hành giả cần định hướng và tinh tấn tu tập.

Bồ-tát khi trở lại suy xét chính mình thì cũng trong lúc ấy thấy được những tâm tánh ở chúng sanh. Sở dĩ như vậy vì tâm chúng sanh không ngoài tâm hành giả, cùng đeo mang những cảnh nghiệp, cùng chung nguyên nhân luân hồi, do đây tâm từ bi thêm lan toả trùm phủ lên người thân kẻ sơ, người nhanh kẻ lụt. Dần dần, khi tâm từ câu hữu lên khắp mọi đối tượng thì khái niệm về Ngã tướng, Nhơn tướng, Chúng sanh tướng, Thọ giả tướng sẽ nhanh chóng được đoạn tận, như một người nhìn thấy huyễn pháp thì huyễn pháp tự trừ, biết được huyễn thuật sư đang biểu diễn thì những cảnh tượng mê hoặc được tạo ra không làm ta chướng ngại nữa. Cầu tất cả chánh tri kiến thì chánh tri kiến đó chính là thiện hữu, nhờ đó bốn thứ bệnh về Tác (làm), Nhậm (mặc), Chỉ (ngăn), Diệt (đứt) lập tức tiêu trừ và không còn cơ hội trở lại hại Thánh chủng của ta nữa.

Tất cả điều này sẽ thành tựu khi nào hành giả vào đời dùng tâm từ bi làm phương tiện mở bày những người chưa ngộ (菩 薩 唯 以 大 悲 方 便, 入 諸 世 間 開 發 未 悟). “Tâm đại bi (mahàkarumà) vốn là tinh thể của tam muội (samàdhi) vì bi tâm là thân thể (saria), là cửa ngõ (mukha), là tiền đạo (Purvangama) của nó và là phương tiện tự hiện thân khắp vũ trụ. Nếu không có lòng từ bi, Tam muội của Phật dù có siêu nhập thế nào sẽ không có giá trị trong cuộc diễn xuất của một Kịch trường tâm linh vĩ đại. Đây quả là chỗ sai biệt giữa Đại thừa và tất cả các giáo thuyết đã có trước trong lịch sử đạo Phật…” (Thiền luận, Suzuki tập hạ, trích dẫn theo HT. Đức Thanh, Giáo trình Viên Giác, HVPGVN tai Huế 2007, tr 34). Đó được gọi là y cứ nguyện lực từ vô thỉ mà tâm thanh tịnh trong mỗi chúng ta đều viên chiếu tròn đầy.

Cuộc sống dù thế nào đi nữa, việc tu tập dù gặp bao nhiêu trắc trở đi nữa, hành giả cũng phải một lòng thương tưởng đến các chúng sanh đời mạt pháp, phải làm sao khiến tất cả đều an trú trong chánh pháp tuyệt đối mà chư Phật trong mười phương ba đời luôn tán thán. Tâm từ bình đẳng như hư không chẳng luận gò đồi hay vực thẳm, được Kinh Viên Giác gọi là “Bất xả vô giá đại bi” (不 捨 無 这 大 悲). Đạo quả này được thành tựu nhờ Bồ-tát đã quán triệt tâm mình và quán triệt tâm tha nhân, thấy rõ Tứ đế, Duyên khởi, Vô ngã y như cảm nhận được hơi thở của mình. Khi đã giác ngộ hay đang tiến dần trên con đường giác ngộ, Bồ-tát không bao giờ để rơi chúng sanh để an vui trong Niết-bàn. Mười hai vị Đại Bồ-tát trong Kinh Viên Giác chắc chắn đã thâm đạt giáo lý Như-lai, các Ngài phương tiện đặt câu hỏi trước đức Phật chỉ nhằm mục đích khiến các chúng sanh khác nương nơi đây mà biết được pháp môn tu tập, bởi trí tuệ phàm phu làm sao có thể hiểu được chân lý biểu hiện như thế nào mà thỉnh cầu. Chừng đó thôi, cũng đủ để thấy được lý tưởng Bồ-tát thâm sâu và đáng thực tập đến chừng nào.

Để kết thúc một vài nhận định về lý tưởng Bồ-tát trong Kinh Viên Giác, xin trích lời dạy vô cùng rõ ràng mà đức Phật đã thuyết giảng ở Phẩm Phổ Giác Bồ-tát vấn Phật: “Trong đời mạt, chúng sanh muốn cầu Viên giác, nên phát tâm mà nói lên rằng, tất cả chúng sanh tận cõi hư không, ta đều khiến vào hết trong Viên Giác rốt ráo” (末 世 眾 生, 欲 求 圓 覺, 應 當 發 心 作 如 是 言: 盡 於 虚 空, 一 切 眾 生, 我 皆 令 入 究 竟 圓 覺).

Nhận định và kết luận:

“Này các Tỷ-kheo, Ta đã được giải thoát khỏi tất cả bẫy sập ở Thiên giới và Nhân giới. Này các Tỷ-kheo, các Ông cũng được giải thoát khỏi tất cả bẫy sập ở Thiên giới và Nhân giới. Này các Tỷ-kheo, hãy du hành vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Chớ có đi hai người một chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Hãy tuyên thuyết Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Có các chúng sanh sanh ra ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe pháp sẽ đi đến hoại diệt. Họ sẽ trở thành những vị thâm hiểu Chánh pháp. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ đi đến Uruvelà, thị trấn Senà để thuyết pháp…” (ĐTKVN, Tương Ưng Bộ I, Tương Ưng Ác Ma, Phẩm thứ I, Bẫy Sập, tr234-235).

Đây được xem như lời nói nhân bản đầu tiên bắt đầu cho cuộc hoằng dương chánh pháp với sự góp mặt của các đại đệ tử đức Phật, và việc làm lợi ích cho số đông này vẫn mãi được duy trì cho đến ngày nay. Có thể khẳng định, rằng, tư tưởng Bồ-tát đạo đã được manh nha và phát triển trong những ngày đầu từ lúc Thế-tôn thành tựu Vô thượng Chánh Đẳng Giác, bởi tinh thần sống của Tăng chúng không phải hưởng thụ những lợi ích riêng mình, không phải khổ hạnh mong xa lìa nghiệp cảm, mà vì hạnh phúc cho cả cộng đồng những nơi các Ngài có mặt. Các Tỷ-kheo đã bắt đầu hành Như Lai sự với tinh thần dấn thân; đi khất thực; tùy duyên giáo hóa; đem đời sống xuất ly ươm mầm trong tâm thức tha nhân; chỉ cho mọi người thấy được đâu là con đường sáng để thành tựu phạm hạnh, đâu là ngõ cụt có thể đưa đến thối đọa. Giáo đoàn hầu như đã thiết lập lại một trật tự sống phát xuất từ nội tâm cho tất cả các tầng lớp thời bấy giờ, bằng những lời dạy hết sức bình thường mà bất kì ai, thuộc tầng lớp giai cấp nào cũng có thể hành trì được.

Thế-tôn đã khẳng định, Ngài thuyết pháp không vì tranh chấp, tranh cãi, chiến tranh, luận tranh, mà vì mục đích giải thoát, cho nên, những gì bậc trí tán thán, Ngài cũng tán thán; những gì bậc chân nhân không chấp nhận, Ngài cũng không chấp nhận (Xem Tương Ưng Bộ III, Phẩm V, Bông Hoa, Tu Thư Phật Học Vạn Hạnh, 1982, tr 165-166).

Chúng sanh có tám vạn bốn ngàn căn bệnh khó chữa gói gọn trong tham-sân-si thì giáo lý Phật-đà có đến tám vạn bốn ngàn pháp môn đối trị và diệt trừ tận gốc mọi căn bệnh đó.

Giáo lý mỗi nơi phô diễn mỗi cách khác nhau, theo mỗi ngôn ngữ khác nhau, theo
một trình độ nhận thức khác nhau tuỳ vào căn cơ đối tượng, đôi khi nó được ám chỉ là Pháp Độc Nhất và Kỳ Diệu; đôi khi là Viên Giác; đôi khi là Tổng trì (Đà-la-ni); đôi khi là Cõi Giới, đôi khi là Tịnh Độ; có nơi là Pháp Giới của Hoa Nghiêm; có nơi là Như-lai Tạng; có nơi là Phật Hương Tích, A Di Đà, Dược Sư, Phổ Hiền, Văn Thù, Di Lặc, Biện Âm,… Tất cả tên này đều chỉ rõ Nhất Tâm. Bản tánh của tâm này là bản nguyên chư Phật, nó là tên của tất cả các Kinh. Kinh Viên Giác cũng nằm trong nghĩa thâm mật đó.

Chúng ta phải nhận ra, mọi lời thuyết pháp của chư Phật đều nhằm chỉ thẳng tâm, không nên bám chặt vào tên và lời, bởi đó chỉ là ngón tay đưa lên, còn đích chúng ta thấy phải là mặt trăng vằng vặc vượt ra khỏi giới hạn của ngón tay kia. Nếu không như vậy, tất cả pháp ấy sẽ trở thành thuốc độc, hành giả sẽ phải thừa tự, sẽ phải là chủ nhân của ác nghiệp. Bất kỳ ở thời pháp và bản Kinh nào, chúng ta cũng phải dùng trí tuệ soi rọi, thấy được cốt yếu nội dung không ra ngoài Cơ sở hoá độ (Phẩm Cách tu tập) và Phương pháp hoá độ (Lý tưởng hoá độ chúng sanh). Hai nội dung này đan xen vào nhau không thể tách rời, một nội dung thành tựu thì nội dung còn lại cũng dựa vào đó để viên mãn. Sở dĩ phải phân chia bố cục như trên chỉ để chúng ta thấu hiểu được dễ dàng mà thôi, chứ thật ra, chỉ cần đọc, hoặc là Cơ sở hoá độ của Bồ-tát, hoặc là Phương pháp hoá độ của Bồ-tát, thì chúng ta có thể hiểu được chi phần còn lại. Kinh Viên Giác đã trình bày rất cụ thể hai nội dung trên từ phẩm đầu tiên cho đến phẩm cuối cùng.

Điểm then chốt trong mỗi từ mỗi ngữ nhằm giúp chúng sanh Kiến tánh để không phụ lòng với lời dạy, Giáo pháp của Như-lai là đến để mà thấy chứ không phải để chiêm ngưỡng như một triết lý mông lung. Giáo lý ấy thật dễ hiểu, gói gọn hoàn toàn vào hai từ “Trí Tuệ” và “Từ Bi”, nhưng chứng đạt được thì điều không phải dễ dàng. Và đó là chân trời mênh mông mà mỗi chúng ta đều có quyền lựa chọn và dấn thân!

Bồ-tát phát nguyện hoá độ tất cả chúng sanh vào Niết-bàn (Hạ hoá chúng sanh – lý tưởng độ tha) mà thật ra không thấy chúng sanh nào chân thật được độ (Thượng cầu Phật đạo – phẩm cách tự độ) (善 男 子, 善 女 人, 發 阿 耨 多 羅 三 藐 三 菩 提 心 者, 當 生 如 是 心: 我 應 滅 度 一 切 眾 生 已 而 無 有 一 眾 生 實 滅 度 者) (Kinh Kim Cương, đoạn 17, Cứu cánh Vô ngã), đó là tư tưởng cốt yếu của tất cả những bản Kinh Phật giáo.

Kinh Viên Giác với cái nhìn như thật đang là của các pháp cũng mở ra phương trời rất mới, ở đó chúng ta thấy được đường đi của chư Bồ-tát cũng như nền tảng hoá độ chúng sanh của các Ngài. Sự thông biện giáo pháp, tâm từ bi bình đẳng luôn là những gì được đề cao và được đức Phật nhắc đi nhắc lại, tạo thành chuẩn mực sống của đệ tử Như-lai trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai.

Viên Giác, tựa đề bản Kinh cũng đã cho ta thấy được phần nào diệu dụng của bản Kinh, muốn hết thảy chúng sanh thực hành Bồ-tát đạo và đều được an trú trong sự nhiệm mầu này nhờ thành mãn Vô ngã, Vô nhơn, Vô chúng sanh, Vô thọ giả. Chúng sanh bệnh là Bồ-tát bệnh, vì thế, Bồ-tát phải nỗ lực tìm cầu diệu dược cứu độ cho mình và cứu độ cho chúng sanh. Những căn bệnh do Vô minh, Tham ái, Dục vọng, Chấp thủ… hễ còn hoành hành là Bồ-tát còn hiện thân chữa trị cứu độ, có nghĩa là tinh thần Viên Giác vẫn còn lưu bố rộng khắp.

Chúng ta, những hành giả đang đi trên con đường thiêng liêng cao quý đó, cũng phải tinh tấn lòng dặn lòng nuôi dưỡng tâm từ cùng tăng trưởng trí tuệ, tự mình vượt qua bộc lưu và giúp người khác vượt qua bộc lưu. Đó chính là sự tri ân Tam bảo đúng nghĩa và thiết thực nhất, cũng là mục đích mà Kinh Viên Giác muốn trao truyền.

THAM KHẢO:

1. Lăng già a bạt đa la bảo kinh

楞伽阿跋多羅寶經. Lưu Tống, Cầu Na Bạt Đà La dịch, ĐTK 16, 479. Số hiệu 670.

2. Đại thừa nhập lăng già kinh

大乘入楞伽經. Đường, Thật Xoa Nan Đà dịch, ĐTK 16, 587. Số hiệu 672.

3. Kim cương bát nhã ba la mật kinh 金剛般若波羅蜜經. Diêu Tần Tam

Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch, ĐTK 8, 78. Số hiệu: 235.

4. Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm

Kinh Nhập Pháp Giới Phẩm 大方廣佛華嚴經入法界品. Đường Địa Bà Ha La dịch. ĐTK số hiệu 295.

5. Kinh Viên Giác. Thích Viên Đức dịch.Saigon: Bản in Ronéo.

Thích Nguyên Tịnh

The post Bồ Tát Hạnh Trong KINH VIÊN GIÁC appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Bồ Đề Tâm – SỰ VIÊN THÀNH CỦA PHẬT PHÁP https://bachhac.net/bo-de-tam-su-vien-thanh-cua-phat-phap.html Thu, 12 Aug 2021 10:21:18 +0000 https://bachhac.net/?p=3596 Trang trải tình thương đến chúng sanh cần thiết vô cùng, không còn gì để nghi ngờ điều đó nữa. Tình thương là điều quan trọng của bồ đề tâm, là thái độ của bồ tát đạo, là con đường bình an, là pháp thiền dễ tu nhất. Không có bất cứ triết lý, khoa …

The post Bồ Đề Tâm – SỰ VIÊN THÀNH CỦA PHẬT PHÁP appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Sự Viên Thành Của Phật Pháp

Trang trải tình thương đến chúng sanh cần thiết vô cùng, không còn gì để nghi ngờ điều đó nữa. Tình thương là điều quan trọng của bồ đề tâm, là thái độ của bồ tát đạo, là con đường bình an, là pháp thiền dễ tu nhất. Không có bất cứ triết lý, khoa học hay môn tâm lý nào có thể bất đồng với điều đó. Bồ Đề Tâm không xung đột giữa Đông hay Tây.

Con đường này là con đường bình yên nhất, hoàn hảo nhất, con đường tuyệt đối trăm phần trăm không nguy hiểm đưa hành nhân vào ngõ cụt. Không có Bồ Đề Tâm không tu pháp môn nào thành tựu. Và hơn tất cả, hành thiền không như ý cũng như tri kiến giác ngộ cũng sẽ không đến.

Tại sao Bồ đề tâm cần thiết cho sự thành tựu của thiền định? Bởi, tâm tham đắm ích kỷ. Hành thiền nhiều mà không phát Bồ Đề Tâm sẽ tham chấp vào những hỷ lạc nhỏ nhoi: “tôi, tôi, tôi muốn nữa, tôi muốn thêm nữa”. Thế là những kinh nghiệm tốt đẹp trong khi thiền ấy vụt mất ngay lập tức. Tham chấp là điên đảo lớn nhất chướng ngại sự nhiếp tâm chánh giác trong thiền định. Với nó, ta luôn hướng đến hạnh phúc cho riêng mình: “tôi, tôi đang đau khổ, tôi muốn hạnh phúc nên tôi hành thiền”. Cách đó không được, vì lý do đó nên việc hành thiền đúng pháp và hoa trái của nó là sự an vui, thoải mái và hỷ lạc cũng sẽ không đến.

Thêm nữa, nếu không Bồ Đề Tâm rất khó tích tụ công đức. Ta tạo công đức rồi cũng chính ta phá hủy, buổi trưa chưa đến mà bao nhiêu công đức buổi sáng đã mất hết, như lau nhà, mới lau tiếng đồng hồ trước tiếng đồng hồ sau đã dơ trở lại. Bạn gột sạch tâm rồi liền lập tức quấy động nó lên. Quả thật là một việc làm lỗ lã. Nếu muốn thành tựu công đức phải có bồ đề tâm. Có Bồ Đề Tâm ta trở nên rất đáng trân quí, ví như vàng bạc, kim cương, sánh như một chất liệu nào đó hoàn hảo nhất trên thế giới, vượt xa hơn bất kỳ chất liệu nào khác.

Với quan niệm vật chất hóa của người Tây phương, sẽ thật tuyệt nếu như có một mạnh thường quân nào đó tuyên bố rằng “tôi muốn làm việc từ thiện, tôi sẽ tặng toàn thế giới này mỗi người 100 đô la”. Thậm chí người giàu có đó còn tặng bằng cả tấm chân thành chăng nữa, thì công đức đó cũng không là gì so với chỉ một khởi niệm “nguyện cho con được thực hành bồ đề tâm vì lợi ích chúng sanh và tu tập sáu pháp ba la mật bằng hết sức mình” .

Thế nên tôi luôn thưa rằng thực hành bồ đề tâm là con đường hoàn hảo nhất cho chúng ta đi.

Nhớ gương Thầy Kadampa khi thấy một người đàn ông đi nhiễu chung quanh tháp chăng? Ngài nói “anh đang làm gì đó?”, người đàn ông trả lời “con đi nhiễu tháp”. Rồi Thầy hỏi: “Thôi anh thực hành pháp có hơn không?”. Lần sau Thầy lại thấy anh ta đang lễ lạy, Thầy hỏi tiếp “Anh đang làm gì đó?” Anh ta trả lời “con lạy một trăm ngàn lạy”. Rồi Thầy vẫn hỏi: “Thôi anh thực hành Phật pháp có hơn không?”. Câu chuyện còn tiếp tục, nhưng điểm chính là ở chỗ chỉ thực hành những điều ra vẽ tôn giáo như nhiễu tháp hay lễ lạy thôi chưa chắc đã là cần thiết trong thực hành Phật pháp.

Điều chúng ta cần phải làm là chuyển hóa những ràng buộc, những tâm lý nuông chìu tự thân, nếu tâm không thay đổi theo cách này thì những việc khác ta hành đều vô ích, có làm cũng chỉ cho vui thôi. Thậm chí cố gắng hành thiền theo Mật tông đi nữa, nếu không chuyển hóa tâm cũng sẽ chẳng thành tựu. Phật pháp có nghĩa là hoàn toàn thay đổi thái độ, đó mới là cách đem đến cho mình niềm hạnh phúc nội tâm, mới thật là Phật pháp chứ không phải những gì nói suông. Bồ đề tâm không nuôi lớn bản ngã, không bám víu ràng buộc, cũng không trưởng dưỡng luân hồi đau khổ. Đó là cách chuyển hóa tuyệt vời không thể nghĩ bàn, là con đường bình yên, chắc chắn nhất, hoàn toàn không bao giờ thấy chán. Sẽ có khi buổi hành thiền không an định, tâm cứ rong chơi. Thiền với Bồ Đề Tâm nghĩa là thật sự muốn chuyển hóa tâm, hành và toàn bộ cuộc sống.

Tất cả chúng ta đều hòa chung trong tình người với nhau, sao có khi ta nói “tôi thương anh” lại có lúc “tôi ghét anh” ? Cái tâm lên xuống bất thường như thế bắt nguồn từ đâu ? Từ chỗ nuông chìu bản ngã, hoàn toàn thiếu hẳn bồ đề tâm. Ta nói “tôi ghét anh vì anh không mang lại thoải mái cho tôi, anh làm tôi khổ, anh không làm tôi vui. Là thế đó. Tôi, cái ngã của tôi, tham chấp của tôi bảo rằng vì anh không đem sự vừa lòng đến cho tôi, nên tôi ghét anh”. Thật tức cười !

Tất cả những chướng ngại trong mối quan hệ như thế đều do thiếu Bồ đề tâm, do tâm không chuyển hóa.Thế nên bạn thấy không? chỉ hành thiền thôi chưa đủ. Giả sử Thầy Kadampa thấy chúng ta đang ngồi thiền chăng nữa, Thầy cũng sẽ nói “Thôi anh thực hành Phật pháp có hơn không?” Nhiễu tháp, lễ lạy hay hành thiền đều không phải là Phật pháp? Ồ, vậy Phật pháp là gì? Đây chính là vấn đề của người đàn ông trong câu chuyện, anh ta đã không biết làm gì hơn.

Như vậy, thực hành Phật pháp một cách đúng đắn, hoàn hảo và thực tế nhất không gì hơn là thực hành Bồ đề tâm.
Bạn có thể lấy khoa học để chứng minh Bồ đề tâm là pháp thực hành đệ nhất. Tâm lý ngã ái là cội nguồn cho tất cả phiền não con người. Nó làm cuộc sống khó khăn đến tội nghiệp. Giải pháp cho ngã ái hay phương thuốc giải trừ phiền não độc hại đó là khởi tâm đi hoàn toàn ngược lại – Bồ đề tâm. Tâm ngã ái luôn chỉ lo cho bản thân, tôi, tôi, tự thể của tôi, trong khi Bồ đề tâm thay mình bằng tất cả.

Năng lực của Bồ đề tâm mạnh như năng lượng nguyên tử chuyển hóa nội tâm, điều đó hoàn toàn rất khoa học, không hề tín ngưỡng mù quáng vào tôn giáo. Ngày nay mọi người đều sợ hãi chiến tranh hạt nhân, nhưng nếu tất cả đều có bồ đề tâm thì chẳng lẽ chúng ta không an toàn hay sao? Dĩ nhiên là quá an toàn rồi. Với Bồ đề tâm ta kiềm chế tất cả những khát vọng chiến thắng, sát phạt kẻ khác. Và như Đại sư Tông Khách Ba nói, khi có Bồ đề tâm tất cả những thiện lành trong cuộc sống sẽ kéo đến tuôn xuống như mưa, sở dĩ giờ đây ta hay gặp những điều thiếu may mắn vì ta thường mang tâm vị kỷ. Có Bồ đề tâm ta sẽ thu hút được bạn lành, thức ăn ngon và mọi sự đều tốt đẹp.
Như gần đây Đức Đạt Lạt Ma nói, nếu chúng ta muốn ích kỷ, hãy ích kỷ cho thật nhiều, ích kỷ nhiều sẽ có lợi hơn ích kỷ ít. Vậy Ngài muốn nói gì ? Ngài bảo rằng, dưới cách nhìn nào đó, Bồ đề tâm là thái độ ích kỷ vĩ đại bởi vì khi ta cống hiến riêng bản thân mình cho người khác bằng tình thương, ta sẽ nhận lại tình thương gấp nhiều lần hơn mình đã ban bố. Hiện tại thái độ nhỏ nhen tầm thường thường mang lại niềm vui rất ít, và những gì mình đang có rất dễ bị mất đi. Với “ích kỷ nhiều” ta giúp người cũng như giúp chính ta, trong khi lối ích kỷ ít lúc nào mình cũng thấy tôi, tôi, tôi và mọi thứ đều dễ dàng bay xa.

Tất nhiên Bồ đề tâm không dễ thực hiện. Những gì dễ thường hay mau chán. Bồ đề tâm tương đối khó nhưng sẽ không bao giờ thấy chán. Phải thật là thông minh mới hành phát Bồ đề tâm được, đối với một số người, không cách chi thực hành nỗi. Họ sẽ hỏi lại rằng “Quên đi bản thân và có chút quan tâm đến người sao?, đó vốn không phải văn hóa của chúng tôi”. Thật ra, rất khó để thay đổi thay vì thương mến bản thân bằng sự thương yêu người khác, đây quả là việc làm khó khăn nhất mà ta có thể gánh vác. Nhưng đó mới chính là việc xứng đáng nhất và mang lại niềm hỷ lạc lớn lao nhất.

Bạn nhớ lần đầu tiên Ngài Quán Tự Tại (Avalokiteshvara) thọ giới Bồ tát không? Ngài nguyện sẽ đứng sau để dẫn dắt hết thảy chúng sanh trong thế giới đi đến giác ngộ, tựa như người chăn cừu vậy. “Tôi không muốn đạt đạo Bồ đề trước khi hết thảy chúng sanh chưa thành Phật. Đối với tôi, đó là niềm hoan hỷ nhất.” Ngài thực hành hết năm này qua năm khác, đưa hàng ngàn chúng sinh đến giác ngộ giải thoát, khi nhìn lại những gì đã qua Ngài thấy vẫn còn vô lượng chúng sinh. Ngài tiếp tục hoằng pháp hết năm nọ đến năm kia, khi xem lại vẫn thấy chúng sinh được độ chẳng bao nhiêu. Cứ thế Ngài tiếp tục mãi, cuối cùng Ngài chán quá rồi tự nghĩ rằng: “hết niên kỷ này qua niên kỷ kia, ta đã chiến đấu để dẫn dắt chúng sinh đến bờ giải thoát nhưng vẫn còn quá nhiều chúng sanh ở lại. Ta nghĩ chắc nguyện ta sẽ không thể nào viên mãn”. Và bởi do cảm xúc quá mãnh liệt đó đầu Ngài đã phân ra thành mười một mảnh (*). Thế rồi Phật A Di Đà đã đến hộ trì dẫn dắt Ngài đến khi thành tựu viên mãn.

Tôi tin chắc rằng nhiều người trong chúng ta đều có thể giống như Đức Quan Thế Âm (Chenrezig). Điểm chính yếu là phải có một động cơ mạnh mẽ. Thậm chí cho dù chỉ bộc phát mạnh một lần cũng hết sức to lớn. Rất hiếm khi có được suy nghĩ này. Một tia sáng yếu ớt thôi cũng rất đáng giá, hãy thực hành dù mỗi ngày chỉ một phút thôi…

Chú thích: (*) Trong Phật Giáo Tây Tạng, ta thường thấy tượng Đức Quan Thế Âm Bồ Tát thập nhất diện (11 mặt), tượng này bắt nguồn từ lịch sử này.

The post Bồ Đề Tâm – SỰ VIÊN THÀNH CỦA PHẬT PHÁP appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Bố Thí Ba La Mật https://bachhac.net/bo-thi-ba-la-mat.html Thu, 12 Aug 2021 10:05:07 +0000 https://bachhac.net/?p=3593 1. Mở Ðầu Ða số chúng ta ngày nay hầu như không còn biết bố thí, cúng dường một cách trong sạch và lợi ích nữa! Bố thí là bố thí chứ có gì mà trong sạch với không trong sạch? Nói như vậy không phải là Phật tử! Nếu không phải Phật tử thì …

The post Bố Thí Ba La Mật appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Bố Thí Ba La Mật

1. Mở Ðầu

Ða số chúng ta ngày nay hầu như không còn biết bố thí, cúng dường một cách trong sạch và lợi ích nữa! Bố thí là bố thí chứ có gì mà trong sạch với không trong sạch? Nói như vậy không phải là Phật tử! Nếu không phải Phật tử thì muốn nói sao cũng được, nhưng nếu là con Phật thì cần phải học đạo, hiểu đến nơi đến chốn. Có nhiều người trong chúng ta thường hãnh diện nói rằng: ‘Tôi tu lâu, ăn chay trường, tụng kinh mấy chục năm rồi, biết Hòa Thượng này Hòa Thượng nọ từ lúc các vị ấy mới tu, chùa này là do tôi giúp từ lúc mới lập,…, và đa số đều là Bồ Tát tại gia (tức là thọ Bồ Tát giới). Thọ Bồ Tát giới tức là muốn bước trên Bồ Tát đạo; và Bồ Tát đạo thì gồm có Lục độ (Ba La Mật). Trong đó thì Bố thí đứng đầu. Bồ Tát mà không biết bố thí thì đó không phải là Bồ Tát. Vậy Bố thí là gì? Có mấy loại Bố thí? Phải Bố thí những gì: Bố thí làm sao, khi nào,…?

Trước khi đi vào giải đáp xin đọc giả phá bỏ thành kiến sai lầm xưa nay, cho rằng Bố thí là đem tiền cúng chùa, cúng Thầy, đó chỉ là một hình thức nhỏ của sự Bố thí. Không những Phật tử tại gia hiểu lầm mà ngay cả giới xuất gia cũng lơ là hay cố ý chỉ muốn dạy cho Phật tử sự Bố thí đó mà thôi, nên luôn luôn kêu gọi Phật tử phát tâm Bồ Tát (phát tài) cúng chùa, cúng Phật… Riết rồi Phật tử không dám đến chùa nữa, vì sợ đến thì phải cúng, nếu không cúng thì sợ tội, nên hay hơn hết là ở nhà cho xong. Ðó là nói người biết sợ tội phước, còn có những người học Phật mà bất chấp tội phước, hoặc quá si mê, là những người hay đi rêu rao chùa này nhiều tiền, chùa kia ít tiền, Thầy này giàu, Thầy kia nghèo,… Nói cho sướng cái miệng mà đâu có hay là mình đang tạo khẩu nghiệp, đó là chưa kể đã phạm vào các giới trọng, giới khinh của Bồ Tát.

Chùa là gì? Tại sao phải đến chùa? Là Phật tử, chúng ta ai cũng biết rõ lịch sử của đức Phật Thích Ca, biết Tứ Diệu Ðế, biết đời là khổ, biết quay về nương tựa nơi Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng). Chùa là nơi tượng trưng cho Tam Bảo, nhưng nơi nào chỉ có tượng Phật và kinh sách thôi mà không có chư Tăng thì không được gọi là Tam Bảo; và đúng lý ra thì chùa phải là nơi thoát tục của người trần tục. Khi bước chân vào một ngôi chùa, với không khí thoảng mùi hương thơm, với tiếng chuông tiếng mõ, ta sẽ cảm thấy tất cả những ưu phiền, bon chen của cuộc sống bên ngoài lắng xuống và tâm hồn ta trở nên lâng lâng thoát tục. Trước khi vào chùa, ta đầy phiền não, vào đến chùa được tắm mình trong sự thanh tịnh (sự trở về với chính ta), nên phiền não tiêu tan, và khi ra về ta cũng đem luôn sự thanh tịnh của chùa về tưới vào gia đình. Ðược như vậy thì ta là người biết đến chùa.

Nhưng trên thực tế thì không phải như vậy. Mặc dù thân của ta vẫn đến chùa đều đều, nhưng ta không còn biết đến chùa thực sự là gì nữa! Chúng ta đã biến cảnh chùa chiền thành chợ chiều. Thay vì đến chùa để lấy sự thanh tịnh, ta lại đi đem những ô uế và phiền não nhét đầy vào chùa. Thay vì đến chùa để hỏi đạo, ta lại đem chuyện đời kể cho quý Thầy nghe; thay vì đến chùa làm công quả kiếm chút phước, ta lại đi tạo khẩu nghiệp nói chuyện người này, kể chuyện người kia. Rồi cứ thế, ngày qua tháng lại, một ngày kia ta sực tỉnh, nhận thấy rằng từ bao lâu nay ta đến chùa mà chả học được gì hữu ích cả. Kinh băng, sách Phật chất đầy nhà, vậy mà tâm ta vẫn không an, và hình như tham, sân, si vẫn còn đầy, thế rồi ta hoảng sợ vội vàng chạy đến chùa để cầu cứu, thì ô hay! Sao chùa bây giờ giống như cái chợ chiều? Tìm các Thầy để hỏi đạo thì các Thầy chỉ nói chuyện đời, nếu không thì lại kêu gọi ta phát tâm cúng dường… Thế rồi ta chán nản bỏ ra về, ghê tởm và xa lánh chùa! Lòng tin nơi Tam Bảo của ta càng ngày càng giảm. Ta nào có biết đâu rằng tất cả những gì xảy đến cho ta đều có nguyên nhân, đâu phải tự nhiên mà có; mà nguyên nhân thủ phạm lại chính là Ta. Vì ta không biết điều đó nên ta rao rằng: chùa này làm tiền, chùa kia làm tiền! Vì sao lại có tình trạng tệ hại như vậy? Tại vì trước kia đến chùa ta không chịu học đạo cho đàng hoàng, chỉ học lý thuyết suông cho vui, nên ta đã bố thí cúng dường không đúng đắn, không trong sạch. Chính chúng ta đã biến cái chùa thành cái chợ, thì nay cũng chính chúng ta phải biến cái chợ thành cái chùa như thuở nào, và nhất là những ai có thọ Bồ Tát giới. Công việc này không phải một người có thể làm nỗi, mà tất cả hàng Phật tử tại gia cũng như xuất gia. Tuy nhiên điều đầu tiên là chúng ta phải ý thức được sự tệ hại và đình trệ của Phật giáo Việt Nam (hải ngoại). Có ý thức được thì chúng ta mới mong muốn sửa đổi, còn nếu không thì chẳng có gì để nói nữa cả. Nhược bằng ý thức được thì ta hãy lên đường làm lại cuộc đời Phật tử của mình, cũng tức là cuộc đời của Phật Giáo Việt Nam vậy. Ta hãy can đảm đừng ngại ngùng học lại những giáo lý căn bản, rồi đem ra áp dụng vào đời sống hằng ngày. Chúng ta có thói quen là thân thì ngồi dưới đất, mà tâm trí thì cứ tưởng ở trên mây. Có nghĩa là sao? Nghĩa là trình độ tu học thì rất kém (tham, sân, si chưa trừ) mà lại hay nói những lý lẽ cao siêu, chỉ thích tụng kinh Ðại Ðại Thừa Ðại Ðại Phương Quảng, v.v… Nhất là có những Kinh nào nguyên văn bằng chữ Hán thì ta lại mù tịt, không hiểu gì cả. Ta quên mất rằng đức Phật có nói: ‘Nếu tin ta mà không hiểu ta thì đó là hủy báng ta,’ vậy nếu ta tụng kinh Phật mà không hiểu thì không biết một ngày ta đã hủy báng Phật bao nhiêu lần rồi? Với mục đích giúp cho đọc giả nào muốn làm lại cuộc đời Phật tử của mình, tôi xin biên soạn về ‘Bố thí Ba La Mật’, là một trong sáu hạnh của Bồ Tát. Vì sao lại chỉ nói về Bố Thí thôi mà không nói cả sáu hạnh của Bồ Tát? Ðó là tùy tình cảnh, tùy thời. Tùy tình cảnh vì Bố Thí là hạnh đầu tiên trong Lục Ðộ và nó dễ thực hành cho Phật tử tại gia. Còn tùy thời là vì ngày nay rất nhiều Phật tử than phiền là chùa này nhiều tiền, hoặc Thầy này giàu, Thầy kia nghèo,… Bố thí mà biết cách thì được phước đức vô biên cho cả người cho lẫn người nhận. Còn Bố thí mà không biết cách thì chỉ có một bên hoặc chả có bên nào được lợi cả. Do đó, Bố thí mà không biết cách thì tốt hơn là đừng bố thí!

2. Bồ Tát Ðạo

I. Bồ Tát Ðạo

Ðịnh nghĩa Bồ Tát.

Bồ Tát là nói tắt của Bồ Ðề Tát Ðỏa tức Bodhisattva (Sanscrit). Bodhi là giác, Sattva là hữu tình. Bodhisattva có nghĩa là người giác ngộ. Nói như vậy thì hơi mơ hồ, vì đức Phật cũng là người giác ngộ, A-La-Hán cũng là người giác ngộ, vậy Bồ Tát khác Phật, khác A-La-hán chỗ nào? Có nhiều lối giải thích:

1. Trên phương diện độ sanh: A La Hán tự độ (độ mình), Bồ Tát độ tha (độ người), còn Phật là giác hạnh viên mãn (độ mình và độ người đã xong).

2. Trên phương diện phát nguyện thì:

  • – A La Hán chỉ cầu thoát khỏi sinh tử luân hồi.
  • – Bồ Tát là người phát tâm cầu thành Phật để độ tất cả chúng sinh thoát khỏi sinh tử luân hồi. Trên quảng đường từ lúc mới phát Bồ đề tâm (Bodhicitta) cho đến lúc thành Phật thì gọi là Bồ Tát.

3. Trên phương diện chứng đắc thì:

  • – A La Hán đã phá được ngã chấp, tức chứng được ‘ngã không’ (Sattvàsùnyatà), không còn chấp vào một cái Ta (Atman) hiện hữu.
  • – Bồ Tát cũng chứng được ‘ngã không’, nhưng chưa hoàn toàn được ‘pháp không’ (Dharmasùnyatà).
  • – Phật thì đã phá hoàn toàn ngã chấp và pháp chấp, tức là thấy được thực tướng của vạn pháp, thấy được các pháp không sinh (anutpanna), không diệt (anirudha).

4. Trên phương diện tu trì:

  • – A La Hán tu theo Tứ Ðế, ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
  • – Bồ Tát hành Lục độ (Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ).
  • – Phật thì cũng giống như Bồ Tát nhưng đã tới đích. Trên đây chỉ là khái lược sơ về sự khác biệt giữa Phật, Bồ Tát và A La Hán.

Chúng ta là hàng Sơ phát tâm Bồ Tát thì cần chú trọng nhiều về hai phương diện phát nguyện và tu trì. Phát nguyện là phát Bồ đề tâm tức tâm nguyện thành Phật để cứu độ chúng sinh thoát khỏi sinh tử luân hồi, còn tu trì là luôn luôn tìm mọi cách để thực hành Lục độ.

II. Tầm quan trọng của phát nguyện và hồi hướng

Trong đạo Phật, ta thường nghe nói về Tam Ðộc tức là lòng ham muốn, giận tức và si mê, chúng trói buộc ta trong vòng sinh tử luân hồi. Và muốn giải thoát thì ta phải dẹp trừ chúng bằng cách bớt ham muốn, mở rộng lòng từ bi, trau dồi giáo lý Phật Pháp. Do hiểu như vậy, 0nên nhiều người trong chúng ta không dám mong cầu gì cả, đến chùa tụng Kinh cho vui vậy thôi chứ không thành tâm phát nguyện và hồi hướng (trong các thời Kinh ở chùa đều có văn phát nguyện và hồi hướng, nhưng vì không chú tâm hoặc không hiểu nên gọi là không thành tâm), khi bố thí thì bố thí vậy thôi chứ không nghĩ gì hết. Rồi ta cho như vậy là đúng, vì trong Thiền Tông thường nói giữ ‘Tâm Không’, nên ta không dám nghĩ, không dám mong cầu gì hết, chỉ giữ Tâm Không thôi. Nếu ta cứ làm như vậy hoài thì kiếp sau ta sẽ đầu thai thành cục đá bên lề đường, vì cục đá cũng có Tâm Không, vô tri vô giác, không nghĩ, không biết gì cả. Cõi Ta Bà mà chúng ta đang ở đây thuộc về cõi Dục. Chúng sanh ở đây luôn luôn ham muốn, ham muốn ngũ dục: tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon, ngủ ấm. Nhưng chúng ta quên mất một điều là tất cả chư Phật đều thị hiện thành Phật ở cõi này, chứ không thành Phật ở hai cõi Sắc và Vô Sắc. Ðức Phật dạy ta lìa bỏ ngũ dục chứ đâu có dạy ta lìa bỏ Niết Bàn dục (tức lòng ham muốn đạt được Niết Bàn). Ở đời, khi làm một việc gì thì ta thường có lý do và mục đích. Lúc nhỏ ta cắp sách đến trường, lý do là cha mẹ ta muốn cho ta nên người. Mục đích của sự học là để được bằng tú tài. Có tú tài để được vào Ðại Học. Vào Ðại Học mấy năm để có được một văn bằng (diplôme). Có văn bằng để đi ra làm việc. Làm việc để có tiền. Có tiền để nuôi thân hoặc nuôi gia đình,… Tất cả những cái ‘để’ đó đều là mục đích của những hành động và việc làm của ta. Khi có mục đích là có sự mong cầu. Sự mong cầu hay ham muốn được xem là tốt hay xấu tùy theo mục đích của nó tức là đối tượng của sự mong cầu. Nếu ta ham muốn ngũ dục thì đó là xấu vì kết quả là ta sẽ đau khổ, ngược lại nếu ta ham muốn học đạo, tu đạo, thì đó là một sự ham muốn tốt vì kết quả là ta sẽ giải thoát, hưởng sự an vui của Niết Bàn. Khi ta ham muốn vừa vừa thì gọi là mong cầu, khi ta hết lòng ham muốn và quyết chí đạt cho được mục đích thì gọi là nguyện. Tất cả chư Phật và Bồ Tát đều là những người đã mong cầu, đã phát nguyện năm xưa. Ta há không nhớ Ðức Phật Thích Ca đã phát nguyện gì dưới gốc cây Bồ Ðề? Ngài nguyện: ‘Dù máu khô, thịt nát, xương tan, nếu không giác ngộ (thành Phật) ta thề không rời khỏi nơi đây.’

Ngoài ra đọc trong Túc Sanh Truyện (Jataka) kể về các tiền thân của đức Phật, ta sẽ thấy là mỗi khi làm một hạnh gì, ngài đều phát nguyện và hồi hướng. Phát nguyện cầu thành Phật để cứu độ chúng sanh và hồi hướng tất cả công đức cho quả vị Phật.

Hồi hướng là gì?

Là gom góp tất cả để đặt vào một chổ. Người làm phước nhiều mà không biết hồi hướng sẽ giống như người đi làm cho có thật nhiều tiền đem về chất đầy nhà, rồi không biết làm gì với đống tiền đó.

Hãy lấy một thí dụ:

1. Ta đến chùa làm một việc công đức, mà trong tâm ta luôn luôn nghĩ đến sự giàu sang sung sướng, thì kiếp sau ta sẽ được giàu sang sung sướng.

2. Cũng một việc công đức đó, mà ta hồi hướng được giải thoát sinh tử luân hồi, thì trong những kiếp sau ta sẽ được giải thoát khỏi sinh tử luân hồi.

3. Cũng một việc công đức đó, mà ta hồi hướng cầu thành Phật thì chắc chắn một kiếp xa xôi nào đó ta sẽ thành Phật.

Tại sao trong thí dụ (1) nói kiếp sau, thí dụ (2) nói những kiếp sau, và thí dụ (3) nói một kiếp xa xôi, ý nghĩa là sao?

Thí dụ (1) nói về sự giàu sang sung sướng ví như một cái áo bành tô (manteau) trị giá 700 quan. Thí dụ (2) nói về sự giải thoát sinh tử luân hồi ví như một chiếc xe hơi trị giá 70.000 quan. Thí dụ (3) nói về sự cầu thành Phật ví như một căn nhà villa trị giá 700.000 quan.

Nếu ta đi làm lương một tháng là 5000 quan, và trong đầu ta không có một mục đích gì cả, thì khi đi đường, nếu thấy một cái áo bành tô đẹp, vừa giá ta có thể mua được thì ta mua ngay không chần chờ.

Cũng với số lương đó mà ta muốn có một chiếc xe hơi thì ta phải dành dụm năm này qua năm nọ, không dám lấy tiền lương xài vào việc khác như mua quần áo, thì khoảng vài năm là ta có thể có được một chiếc xe hơi.

Cũng với số lương đó mà ta muốn có một căn nhà villa thì ta phải dành dụm lâu hơn nữa vì lương của ta quá ít so với giá tiền của cái nhà. Do đó ta phải gom góp dành dụm tiền lương không dám xài hoang phí vào việc khác, mà cốt chỉ để mua nhà. Vậy thì khoảng hai mươi năm hay hơn nữa ta mới hoàn toàn làm chủ cái nhà (vì ở bên Pháp cho trả Crédit).

Sau ba thí dụ trên, ta thấy rằng cũng cùng một hành động (karman) cùng một nhân (hetu) mà có quả báo khác nhau. Ðó là do tâm hồi hướng mà ra. Nếu ta tạo công đức nhiều mà không biết hồi hướng thì uổng lắm, vì sao? Dĩ nhiên là khi tạo công đức thì chắc chắn ta sẽ gặp quả báo tốt, nhưng uổng vì đó là quả báo hữu lậu của thế gian, sau một thời gian ta sẽ còn lại hai bàn tay trắng mà thôi.

Nếu thấy được tầm quan trọng của sự phát nguyện và hồi hướng thì sau này : trước khi, trong khi, và sau khi làm một việc gì tốt ta nên phát nguyện và hồi hướng. Và hơn nữa khi ta gặp một việc công đức nào ta sẽ vui mừng vì đó là một cơ hội cho ta tiến mau đến mục đích (nếu là trường hợp ta thích xe hơi hoặc căn nhà, mà không thích áo bành tô).

Vậy theo ta hiểu thì Bồ Tát là phải nhớ đến Bồ đề tâm, nhớ phát nguyện và hồi hướng cầu thành Phật, nhưng không hiểu tại sao khi ta đọc Tâm Kinh thì thấy trong đó có nói câu ‘vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố’. Lúc đó ta nên khởi tâm nghĩ như vầy : Bồ Tát Quán Tự Tại là bậc Diệu Giác Bồ Tát, còn ta đây là Bào thai Bồ Tát (Bồ Tát còn nằm trong bụng mẹ). Hơn nữa Quán Tự Tại Bồ Tát đã hiểu, đã thấy, đã chứng được tánh Không, tức thực tướng của vạn pháp, còn ta đây không biết cái gì là phải cái gì là trái, cái gì tốt cái gì xấu, cái gì là Từ Bi cái gì là ác độc, nói chi đến tánh Không với tánh Có. Ta đừng làm giống như người đang đi trên sông, thấy người khác đến bờ vứt bỏ con thuyền, mà ở đây ta cũng vội vàng lấy búa ra đập thủng thuyền của mình. Ta phải luôn luôn ý thức nhìn lại xem mình là ai? Em bé lên 3, thanh niên 20, hay ông lão 70. Nếu là em bé lên 3 thì ta hãy vui vẻ tập đi, không nên bắt chước lấy cây gậy của ông già bảy mươi mà chết sớm. Còn ngược lại nếu thấy mình là ông lão bảy mươi thì ta cứ việc ‘vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố’, không ai cấm cản vì đạo Phật là đạo tự giác không có bắt buộc hay độc tài.

Sau khi hiểu được sự phát Bồ đề tâm cũng như sự phát nguyện và hồi hướng của Bồ Tát, ta bước sang phần thực hành của Bồ Tát tức Lục Ðộ.

À, hình như chúng ta quên mất một điều, là không biết tại sao Bồ Tát lại phát Bồ đề tâm? Mục đích của Bồ đề tâm là thành Phật cứu độ chúng sanh, nhưng lý do và căn nguyên của sự phát Bồ đề tâm là gì? Bồ Tát phát Bồ đề tâm, lý do vì Bồ Tát thấy chúng sanh đau khổ nên muốn cứu khổ chúng sanh, muốn cứu khổ chúng sanh nên mới cầu thành Phật tức cầu sự giác ngộ hoàn toàn.

Bồ Tát là những người ý thức được sự đau khổ của cuộc đời, thấy rõ được sự bất công, sự đàn áp, bóc lột, lợi dụng, tàn hoại, ác độc của chính con người tạo cho con người. Nếu Bồ Tát chỉ ngồi một chỗ, cần gì hô lên một tiếng, có người đem đến dâng cho, thì Bồ Tát khó ý thức được sự khó khăn, đổ mồ hôi sôi nước mắt của người dâng cho mình. Nếu không tự thân chứng nghiệm đau khổ, thì ít nhất Bồ Tát cũng tập ý thức sự có mặt của đau khổ nơi mọi loài. Vì có đau khổ nên mới có đạo Phật, nếu không có đau khổ thì không có đạo Phật. Bồ Tát ý thức được sự đau khổ không phải để sợ hãi, mà là để nuôi dưỡng lòng từ bi của mình. Bồ đề tâm của Bồ Tát cũng ví như ngọn lửa được đốt bằng dầu đau khổ. Nếu không có dầu đau khổ thì ngọn lửa Bồ đề tâm sẽ tắt. Do đó đối với Tứ Diệu Ðế, Bồ Tát đã thấu triệt hoàn toàn. Nếu chúng ta muốn đi theo con đường của Bồ Tát thì chúng ta cũng cần phải học cho thông suốt Tứ Diệu Ðế, nếu không được thì ít nhất chúng ta cũng cần phải hiểu được ‘Nhị diệu đế’ tức là hai Diệu đế đầu: Khổ Ðế và Tập Ðế. Và sau khi hiểu rõ rồi thì ta hãy tiến bước trên Bồ Tát đạo, nếu không như thế thì ta chỉ là ‘danh tự Bồ Tát’, tức là ta đến chùa thọ bồ tát giới cho vui mà thôi.

Sau khi hiểu được nguyên nhân và mục đích của Bồ Tát, ta bước sang con đường đi của Bồ Tát, tức Bồ Tát đạo (Bodhisattvamàrga).

Bồ Tát đạo thường được biểu hiện qua Lục độ, tức sáu hạnh, còn gọi là Lục Ba La Mật (Pàramità) gồm có: Bố thí (Dàna), Trì giới (Sila), Nhẫn nhục (Ksànti), Tinh tấn (Vìrya), Thiền định (Dhyàna), Trí tuệ (Prajna). Pàramità dịch âm là Ba La Mật Ða, dịch chữ là Ðáo Bỉ Ngạn có nghĩa là đến bờ bên kia. Lục Ba La Mật là sáu phương tiện có khả năng đưa (độ) Bồ Tát sang đến bờ bên kia là bờ Ðại Giác, tức Phật.

Trong phạm vi nhỏ hẹp, sách này chỉ xin nói về Bố thí Ba la mật thôi. Vì bố thí đúng với ý nghĩa của nó thì nó bao gồm cả sáu Ba la mật, nếu không thì nhiều khi nó cũng không được gọi là Bố thí nữa.

3. Bố thí là gì?

I. Bố thí là gì?

Bố thí là hạnh đầu tiên trong sáu hạnh của Bồ Tát. Nguyên âm chữ Phạn là Dàna có nghĩa là sự cho, dịch sang tiếng Hán Việt là Bố thí. Bố là khắp, thí là cho. Bố thí là cho khắp tất cả. Nếu nói như vậy thì hơi đơn giản và mơ hồ. Vì cho khắp tất cả có nghĩa là cho khắp tất cả những gì mình có, hay cho khắp tất cả chúng sinh?

Khi ta đi đường gặp một kẻ nghèo khó đứng xin ăn, ta lấy năm đồng hay một cắc ra cho họ, thì ta gọi đó là bố thí cho kẻ nghèo. Trong gia đình khi ta cho con cái vật gì thì ta chỉ gọi đó là cho. Ðối với những người có địa vị xã hội cao hơn ta, hay đối với hàng ông bà chú bác thì ta không gọi là cho mà gọi là Tặng hay Biếu. Rồi khi vào chùa đối với Tam Bảo ta lại có tiếng gọi khác là cúng dường. Cũng là một hành động cho mà lại có nhiều tên gọi khác nhau vì đó là tùy ở nơi đối tượng của sự cho, tức là người nhận. Mùa Xuân Tết đến, ta không thể đem một món quà đến gặp ông chủ của mình mà nói rằng: ‘Tôi xin bố thí cho ông chủ món quà’, hoặc gặp một vị Thầy ta nói: ‘Con xin bố thí cho Thầy’, hoặc ta cũng không thể nói: ‘Ba cúng dường cho con một hộp bánh’, v…v… Tiếng Việt của ta rắc rối lắm, không phải dễ dàng đâu! Nếu không chú ý cẩn thận một chút là ta có thể gây phiền phức cho chính mình và cả người khác nữa.

Như ta đã thấy Bố thí gồm có nhiều nghĩa: cho, tặng, biếu, cúng dường, bố thí. Nhưng để giản tiện bớt cho những trang sau, ta tạm gọi tất cả những cái đó là Bố thí.

II. Vì sao phải bố thí?

Vì Bố thí đem lại nhiều lợi ích sau đây : Bố thí là một kho tàng phước đức luôn luôn đi theo người chủ (tức người cho) đời này sang đời khác; bố thí xây dựng hạnh phúc và tiêu trừ đau khổ; người biết bố thí thì ai cũng thương mến; bố thí làm cho tâm (người cho) được an vui, khi gần chết tâm không sợ hãi; bố thí tiêu trừ lòng tham lam bỏn xẻn; người biết bố thí thì chư Thiên ủng hộ; bố thí là con đường trong sạch mà tất cả Thánh nhân đều đã đi qua; bố thí là một thiện nghiệp sẽ cho ra quả báo tốt; bố thí là hành động của những người hùng; bố thí sẽ tiêu trừ sự nghèo và đóng cửa dẫn đến ba đường ác (địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh); bố thí giữ gìn công đức; bố thí là điều kiện đầu tiên của con đường dẫn đến Niết Bàn; bố thí là gốc rễ của tất cả thiện pháp; bố thí là nhà ở của những người cao quý, là thú vui của những bậc Thánh (Arya) và Vĩ nhân; bố thí là một cái gương sáng đáng để cho những người thiếu phước đức và trí huệ noi theo.

* Người trí và người ngu trong cuộc hỏa hoạn.

Khi có một cuộc hỏa hoạn, người có trí khôn biết nhận xét xem lửa có thể lan đến nhà mình hay không? Nếu có thì vội vàng thâu góp tài sản dời đi chổ khác yên ổn trước khi lửa cháy tới. Ðến khi lửa lan tới và mặc dù căn nhà của mình bị cháy tiêu rụi, nhưng người ấy vẫn còn nguyên những gì quý giá, và nhờ đó có thể xây cất lại căn nhà khác. Cũng như thế, người trí biết được cái thân xác của mình rất mong manh dễ tàn, và của cải vật chất cũng vậy nay còn mai mất, thừa dịp tốt lúc thân xác và của cải chưa mất, người ấy trau giồi tích tụ công đức bằng cách thực hành bố thí, cũng giống như người khôn biết thâu nhặt đồ vật quý giá trước khi nhà cháy; và trong những kiếp sau người ấy (người bố thí) sẽ được hưởng lại sự bố thí do phước báo đã tạo, giống như người khôn xây lại căn nhà mới vậy.

Ngược lại, cũng trong một cuộc hỏa hoạn, người ngu không biết làm gì, chỉ vì tham lam không muốn rời bỏ căn nhà; đến khi lửa cháy tới nơi, hoảng hốt lo chạy thoát thân một mình, không đem theo được đồ vật nào cả; người này không có trí khôn nhận xét được sự lan tràn nhanh chóng của lửa (nhất là khi có gió to), để rồi dưới sức gió mãnh liệt và ngọn lửa vô tình, căn nhà của mình chỉ trong vài phút là cháy rụi ra tro. Tệ hơn nữa là chờ đến giờ phút chót mới lo chạy thoát thân nên không đem theo được tài sản nào hết. Do đó sau cuộc hỏa hoạn, người này phải chịu đói khát, chịu nóng lạnh và sống cực khổ cho đến hết cuộc đời. Trường hợp của một người tham lam, bỏn xẻn, keo kiệt cũng giống như người ngu vừa kể trên, tức là không biết rằng thân xác, của cải và mạng sống rất mong manh, dễ tàn nay còn mai mất, không thể nào giữ mãi mãi được, chỉ trong một tíc tắc đồng hồ thôi là có thể tiêu tan mất hết. Vì không biết được như vậy nên trong suốt cuộc đời, người ngu chỉ chúi đầu vào việc tích tụ của cải, vơ vét tiền bạc, rồi bảo vệ, giữ gìn chúng một cách tham lam ích kỷ. Nhưng rồi bất thình lình một ngày nào đó ‘Thần chết’ đến gõ cửa nắm đầu lôi đi (không thể từ chối được). Xác thân tứ đại này tan rã trở về với đất rừng, những của cải, tài sản khổ công tích tụ đều phải bỏ lại không đem theo được, và kiếp sau tái sinh trong cảnh nghèo khổ, đói rét giống như người ngu hoảng hốt trong cơn hỏa hoạn vậy.

Người trí, rộng lượng biết được rằng: khi bố thí cho người khác tức là làm lợi ích cho chính mình. Ngược lại người ngu, bần tiện, không biết được rằng: nếu không bố thí hay giúp đỡ người khác tức là chả làm được lợi ích gì cho chính mình cả.

 4. Bố thí có mấy loại?

Nếu ta là người học Phật lâu năm ta sẽ nhanh nhẹn trả lời rằng có 3 loại:

  • 1) Tài thí: tức bố thí tiền.
  • 2) Pháp thí: tức bố thí pháp.
  • 3) Vô úy thí: tức bố thí sự không sợ hãi.

Trả lời như vậy xong, ta yên chí cho là mình đã hiểu xong Bố thí Ba La Mật, rồi ta bỏ qua, đi lấy Kinh Hoa Nghiêm ra đọc, hoặc lấy sách Tổ Sư Thiền ra coi. Nhưng than ôi! Ta đã lầm to, Bố thí Ba La Mật đâu phải chỉ có bấy nhiêu thôi!

Khi nói đến sự bố thí, thì ta nhận ra có ba yếu tố tạo ra nó, đó là: người cho (năng thí), món đồ (vật thí), và người nhận (sở thí).

Ba món Bố thí mà ta vừa kể trên (Tài, Pháp, Vô úy) thuộc về vật thí. Còn người cho và người nhận, ta đã sơ xuất bỏ quên. Ba yếu tố cho ra sự Bố thí quan trọng lắm, nếu thiếu một trong ba cái đó thì sẽ không có sự Bố thí.

Có người cầm trong tay một món đồ muốn cho mà không có ai nhận thì không có sự bố thí. Có món đồ mà không có người cho và người nhận thì cũng không có sự bố thí. Có người sẵn sàng nhận đồ mà không có ai cho thì cũng không có sự bố thí.

Nếu muốn phân loại thì ta phải căn cứ trên ba yếu tố của sự Bố thí mà phân loại:

  • – Trên phương diện người cho (dayaka) thì có hai loại: Bố thí trong sạch (visuddhadàna) và không trong sạch (avisudha).
  • – Trên phương diện vật thí (deya) thì có ba loại: Tài thí (Dravyadàna), Pháp thí (Dharmadàna) và Vô úy thí (Abhayadàna).
  • – Trên phương diện người nhận (tức đối tượng của sự bố thí), còn được gọi là ruộng phước (phước điền) thì có hai loại: ruộng phước nhỏ (karunàpunyaksetra) và ruộng phước lớn (satkàrapunyaksetra).

Trên đây chỉ là tạm phân loại tổng quát thôi, vì mỗi loại lại được phân ra làm các phần nhỏ nữa mà ta sẽ đi sâu vào chi tiết sau.

I. Trên phương diện người thí

Có hai loại bố thí: Trong sạch và không trong sạch.

1) Thế nào là bố thí không trong sạch?

Ðó là bố thí vì: tư lợi, bất kính, chán ghét, yếu hèn, muốn dụ dỗ, sợ chết, muốn chọc tức, ghen tức, ganh đua, kiêu ngạo, cầu danh, tránh né sự nguy hiểm, muốn mê hoặc lòng người,… Tóm lại bố thí vì một cái tâm xấu xa, không nghĩ đến sự an vui hay lợi ích cho người nhận.

2) Thế nào là bố thí trong sạch?

Nói một cách giản dị, đó là sự bố thí có tánh cách ngược lại những gì đã tả ở phần trên. Còn có nghĩa là Bố thí mà muốn đem lại lợi ích cho người nhận.

Vừa kể trên là sự bố thí trong sạch cho tất cả mọi người. Riêng cho Phật tử thì Bố thí trong sạch còn có nghĩa là bồi đắp công đức cho sự giải thoát, tức Niết Bàn (Nirvàna).

Phải bồi đắp cách nào? Bằng cách bố thí với tâm trong sạch, không cầu phước báo của Trời (Deva), người (Manusya), không cầu sự sung sướng trong đời này và đời sau, chỉ cầu giải thoát của Niết Bàn, bố thí với tấm lòng cung kính (satkàra) hoặc từ bi (maitrìkarùna). Trong lúc chưa chứng được hoàn toàn quả Niết Bàn, ta vẫn tái sinh ở cảnh an vui của Trời, người (mặc dù không cố ý cầu), đó là do nghiệp báo tốt của sự bố thí trong sạch. Ðức Phật có nói rằng: ‘Trên đời này có hai hạng người rất là hiếm có: 1) Một vị Tỳ Khưu đã hoàn toàn giải thoát trong số các tu sĩ lang thang (pravajita); 2) Một người biết bố thí trong sạch trong số các cư sĩ tại gia’ (Anguttara I).

II. Trên phương diện vật thí

Có ba loại: Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí.

Trong mỗi loại trên lại chia ra: chân chính và không chân chính.

1) Tài thí

Tài thí lại chia ra hai loại: Ngoại thí và Nội thí.

a) Ngoại thí (bàhyadàna): Ngoại thí là bố thí những đồ vật bên ngoài như: vàng, bạc, của cải, quần áo, đồ ăn thức uống…

b) Nội thí (àdhyàtmika): Nội thí là bố thí những gì trong thân thể con người chúng ta; như xưa kia đức Phật còn làm Bồ Tát đã bố thí đầu, mắt, chân, tay… Ngày nay ta không làm nổi như vậy thì ta có thể ra công giúp sức như làm công quả cho chùa, kéo xe cho người già, v…v… Hoặc tiếp máu cho bệnh nhân ở nhà thương, hoặc ký giấy cho những bộ phận trong thân thể mình nếu bị chết bất đắc kỳ tử.

c) Tài thí chân chính: là những đồ vật được bố thí không phải do từ trộm cắp hay cướp giật. Nếu ngược lại là tài thí không chân chính.

Ngoài ra nếu ta bố thí trong những trường hợp sau đây thì phước báo sẽ tăng lên gấp bội:

  • 1. Bố thí đúng lúc. Có nghĩa là bố thí cho: những người đi xa, người từ xa mới đến, người bịnh, người trông coi kẻ bịnh, trong những mùa giá lạnh.
  • 2. Bố thí luôn luôn mà không thấy mệt mỏi hay chán nản.
  • 3. Bố thí tùy theo sở thích của người xin.
  • 4. Bố thí những vật quí giá.
  • 5. Bố thí cho những người làm việc cho Chùa, làm vườn, đào mương …
  • 6. Bố thí cho chư Tăng.
  • 7. Bố thí mà kính trọng người nhận.
  • 8. Bố thí cho những người có đức hạnh.
  • 9. Bố thí tất cả những gì mà mình có.

* Sự bố thí toàn vẹn của Họa sĩ Karna (Sùtralamkara).

Thuở đó ở làng Puskaravàvati có một người họa sĩ tên là Karna. Vì làm ăn không khá nên anh ta đã từ giả gia đình vợ con, lên đường một mình sang nước lân cận là Taksasila. Nơi đây anh ta tận tụy làm việc, kết quả là sau mười hai năm, anh ta đã dành dụm được ba chục đồng tiền vàng. Hớn hở, anh ta trở về quê cũ, trên đường về làng nghe thấy một hồi chuông trống báo hiệu sắp có một cuộc hội họp quan trọng của Chư Tăng, thế là anh ta lần mò đến. Với một đức tin trong sạch anh đi gặp vị Tăng Tri sự (tức vị Tăng phân phối chỉ huy buổi họp) mà hỏi rằng: ‘Thưa ngài, buổi họp như vậy nếu kéo dài một ngày thì phải cần chi phí bao nhiêu để có thể cúng dường (vật thực) đầy đủ cho chư Tăng?’ Vị Tăng Tri sự trả lời: ‘Khoảng ba mươi đồng vàng thì đủ cho một ngày’. Nghe vậy xong, anh liền móc túi lấy ra ba mươi đồng vàng đưa hết cho vị Tri sự mà thưa rằng: ‘Con xin thành tâm, dâng cúng vật thực một ngày cho chư Tăng’. Sau đó anh ta trở về nhà với hai bàn tay trắng.

Về đến nhà, vợ anh mừng rỡ chạy ra đón và hỏi: ‘Trong suốt mười hai năm anh đã làm được bao nhiêu tiền?’ Anh ta trả lời: ‘Ðược ba mươi đồng vàng’. Vợ anh hỏi tiếp: ‘Thế ba mươi đồng vàng đâu anh hãy cho xem?’ Anh ta nói: ‘Tôi đã gieo tất cả vào một ruộng phước (punyaksetra) rồi’. Vợ anh hỏi ruộng phước nào thì anh trả lời: ‘Tôi đã cúng dường hết cho Giáo đoàn Tăng Già (Sangha)’. Vừa nghe như vậy xong, người vợ liền nổi giận la hét mắng chửi và đánh đập anh, rồi lôi kéo anh ra tòa nhờ quan trên xét xử và trừng phạt anh. Ra đến tòa, quan hỏi có chuyện gì thì vợ anh thưa rằng: ‘Chồng tôi là một tên khùng nặng ! Trong suốt mười hai năm trời đi làm ở nước ngoài, dành dụm được ba mươi đồng vàng. Nhưng về đến đây không biết nghĩ và thương hại đến vợ con, nên chồng tôi đã phung phí, cho người ta hết không còn đồng nào. Chiếu theo pháp luật, tôi lôi anh ta đến đây xin quan trên xét xử’. Quan tòa hỏi người chồng: ‘Tại sao anh lại đưa cho người ta hết thay vì đem về đưa cho vợ con?’ Anh trả lời: ‘Trong những kiếp sống trước của tôi, tôi đã không biết làm các hạnh lành, vì thế nên trong kiếp này tôi phải chịu cảnh nghèo và cực khổ. Nhưng cũng trong kiếp này, tôi có duyên may gặp được một ruộng phước, và nếu tôi không nắm lấy cơ hội gieo vào đó những hạt giống lành, thì chắc chắn trong những kiếp vị lai tôi sẽ phải chịu mãi mãi cảnh nghèo khổ không biết đến bao giờ mới hết. Vì muốn thoát khỏi cảnh nghèo khổ nên ngày hôm nay tôi đã cúng dường hết số vàng của tôi cho đoàn Tăng Già’.

Vị quan tòa này lại là một Ưu bà tắc (Upàsaka), có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, nên sau khi nghe anh họa sĩ trả lời như thế, liền hết lòng tán thán: ‘Việc làm của anh quả thật là cao thượng, anh đã biết bố thí toàn vẹn cho Giáo đoàn số tiền dành dụm được sau bao năm làm lụng cực khổ. Thật là cao quý, tôi đây thiệt không bằng’. Thế rồi vị quan tòa liền tháo cái vòng ngọc đang đeo ở cổ đưa tặng anh ta, cùng lúc cho anh ta con ngựa của mình đang cưỡi và một làng nhỏ. Rồi cuối cùng quan tòa lại nói thêm: ‘Anh vừa mới hiến tặng cho Giáo đoàn, thì tôi đây cũng xin hiến tặng lại anh, nhưng đó chỉ gọi là một chút quả báo hiện tại, chắc chắn trong những kiếp tới phước đức quả báo của anh sẽ vô lượng’.

* Sự cúng dường của Ma Ha Ca Diếp (Maha Kasyapa)

Ca Diếp có nghĩa là Ẩm Quang, vì thân hình của ngài lúc nào cũng tỏa ra ánh sáng rực rỡ và trang nghiêm. Do nhân duyên nào mà được như thế? Trong một tiền kiếp quá khứ xa xưa vào thời Ðức Phật Tỳ Bà Thi (Vipasyin), lúc đó tôn giả Ca Diếp tiền thân là một thợ bạc chuyên đúc tượng. Một ngày nọ, có một thiếu nữ nghèo vào tiệm trên tay mang theo một thoi vàng, nhờ ông đúc một pho tượng Phật. Người thợ bạc thấy thế liền hỏi : ” Vàng ở đâu mà cô có? ” Thiếu nữ trả lời :” Trên đường đi lễ Phật về đã nhặt được.”

Người thợ bạc lấy làm ngạc nhiên hỏi : ” Tôi thấy cô nghèo khổ quá, không đủ cơm ăn, áo mặc, sao cô không đem vàng này bán đi để chi dụng cho cuộc sống mà lại đem đúc tượng Phật? “

Thiếu nữ nói : “Vì tôi có phát lời nguyện tại chùa là nếu có đủ thuận duyên thì tôi sẽ đúc một pho tượng Phật bằng vàng đẻ cho chúng sinh chiêm ngưỡng lễ bái. Và hôm nay làm được như vậy là tôi mãn nguyện lắm rồi, không còn mong cầu chi khác hơn.”

Cảm động trước sự phát tâm bố thí cúng dường quá rộng lớn của thiếu nữ, người thợ bạc cũng phát tâm : ” Ðược, tôi sẽ đúc cho cô pho tượng Phật này và tôi cũng xin nguyện cúng dường không lấy tiền công.”

Do nơi công đức bố thí và cúng dường này mà chín mươi mốt kiếp sau, hai người sinh ra lúc nào thân hình lúc nào cũng trong sáng trang nghiêm và gặp được nhiều thiện hữu tri thức, cho đến kiếp sau cùng sinh vào nước Ấn Ðộ gặp Phật Thích Ca xuât gia học đạo đồng chứng quả A La Hán.

2) Pháp thí

Thế nào là pháp thí?

Ðược xem là pháp thí gồm có:

  • 1. Tất cả những lời nói chân thật, hữu ích có thể đem lại an lạc cho người nghe.
  • 2. Giảng dạy chánh pháp của đức Phật (Buddhadharma).
  • 3. Giảng dạy ba Tạng pháp: Kinh (Sùtra), Luật (Vinaya) và Luận (Abhidharma).
  • 4. Giảng dạy cho người biết hai pháp: Thanh văn (Sravaka) và Bồ Tát (Bodhisattva).

Nghi vấn: Tại sao Ðề Bà Ðạt Ða (Devadatta) cũng giảng dạy ba Tạng pháp, pháp Thanh văn và Bồ Tát mà lại bị đọa xuống Ðịa ngục? Lý do tại sao?

Ai cũng biết Ðề Bà Ðạt Ða là người chuyên môn ganh đua tìm cách hại đức Phật, lại còn hay chia rẽ phá rối sự hòa hợp của Tăng đoàn. Ngoài hai trọng tội này ra, Ðề Bà Ðạt Ða lại còn tạo rất nhiều tội về tà kiến. Sự giảng dạy thuyết pháp của Ðề Bà Ðạt Ða không phải là một sự bố thí Pháp trong sạch, nhằm cầu sự giải thoát, mà là cầu danh, cầu lợi, cầu sự kính trọng, … Chính vì sự Pháp thí không trong sạch này nên Ðề Bà Ðạt Ða chẳng gặt hái được công đức nào, và vẫn bị xuống địa ngục như thường.

  • * Pháp thí không chân chính là giảng dạy những giáo pháp của ngoại đạo, không đưa con người đến sự giải thoát sinh tử luân hồi (như dạy xuất hồn, dạy làm bùa phép, v…v…)
  • * Pháp thí chân chính là giảng dạy những giáo pháp đưa con người đến giải thoát rốt ráo của Niết Bàn (Nirvàna).

3) Vô úy thí

Vô úy thí có nghĩa là bố thí sự không sợ hãi, tức là làm cho người khác được an tâm yên chí, không sợ gì cả.

Theo nguồn gốc Kinh tạng nguyên thủy (Anguttara, Itivuttaka) thì chỉ có hai loại Bố thí, đó là Tài thí và Pháp thí. Nhưng theo giáo lý Ðại thừa (Mahayàna), có thêm vào một loại bố thí thứ ba là Vô úy thí.

Theo ý kiến cá nhân, thì tôi thấy Vô úy thí nằm trong Tài thí hoặc Pháp thí. Vì sao? Vì khi bố thí, tức là cho, thì có hai cách: một là cho bằng hành động, hai là cho bằng lời nói. Nếu bằng hành động thì đó thuộc Tài thí, còn nếu bằng lời nói thì đó thuộc Pháp thí.

Thí dụ:

  • * Nếu có một người đi đường ban đêm sợ cướp giật, thấy thế ta liền đi theo bảo vệ cho người đó hết sợ. Ta gọi đó là Vô úy thí. Nhưng hành động đi theo của ta chính là thân thí (có nghĩa là vác cái thân của ta đi theo người đó), vậy tức là thuộc tài thí rồi.
  • * Nếu có người sợ chết, sợ xuống địa ngục, ta liền đem giáo lý an ủi họ, chỉ cho họ làm lành hoặc biết niệm Phật thì sau khi chết sẽ về Cực Lạc. Nhờ đó họ không còn sợ chết nữa. Ta gọi đó là vô úy thí. Nhưng những lời lẽ mà ta an ủi họ, đó chính là Pháp thí rồi.

Ta không thể nào tự nhiên làm cho người khác hết sợ hãi được. Ta phải làm một cái gì đó (một lời nói, một sự hiện diện, một sự an ủi, một sự giúp sức,…) cho người ấy thì người ấy mới hết sợ (vô úy) được. Sự hết sợ chính là kết quả của Tài thí hoặc Pháp thí. Vì vậy Vô úy thí không thể được xem là một loại bố thí riêng biệt không tùy thuộc gì nơi hai sự bố thí kia cả (Tài và Pháp thí).

* Thế nào là vô úy thí chân chính?

Vô úy thí chân chính hay không chân chính đó là tùy thuộc ở Tài thí và Pháp thí có chân chính hay không? Thí dụ:

  • – Có một người sợ chết. Ta bảo họ đừng sợ, cứ lo niệm Phật, ăn chay, làm phước, đến khi chết sẽ về Cực Lạc. Thế rồi họ nghe theo và hết sợ chết. Ðó là vô úy thí chân chính.
  • – Cũng cùng một người, nếu ta bảo họ đừng sợ chết, vì chết là hết, không có gì phải lo cả, không có địa ngục, không có thiên đàng. Nếu họ tin ta mà không sợ chết nữa, thì đó là Vô úy thí không chân chính (vì ta dạy họ chấp đoạn).

4. So sánh ba loại Bố thí

Vì thấy Vô úy thí nằm trong Tài thí hoặc Pháp thí nên ở đây tôi chỉ so sánh Tài thí với Pháp thí thôi.

Ða số chúng ta ai cũng biết trước là Pháp thí quý hơn Tài thí. Chính đức Phật đã nói: ‘Trong hai loại Bố thí này, thì Pháp thí là trên’ (Anguttara I). Vì sao? Vì nhiều lý do:

  • – Phước báo của Tài thí vẫn thuộc cõi Dục giới (Kàmadhatu) còn phước báo của Pháp thí có thể nằm trong ba cõi (Traidhàtuka) hoặc ngoài ba cõi.
  • – Sự Bố thí tài (tiền của, đồ vật) có giới hạn, còn sự Bố thí Pháp không có giới hạn (apramàna), vì tiền cho lâu rồi cũng hết, còn giáo pháp cho hoài không bao giờ hết.
  • – Quả báo của Tài thí còn thuộc về hữu lậu, trong khi quả báo của Pháp thí thuộc vô lậu.
  • – Bố thí tài cần phải đòi hỏi nhiều sức lực, ra công trong khi bố thí pháp chỉ cần sự thông minh và trí tuệ.
  • – Chỉ có bố thí Pháp mới có thể gặt hái được những phước báo giống như các hàng Thanh Văn (Sravaka), Bích chi Phật (Pratyekabuddha) hay Bồ Tát (Bodhisattva).
  • – Chỉ có bố thí Pháp mới có thể dẫn người khác đến con đường giác ngộ (Bodhimàrga).
  • – Ta có thể thực hành Tài thí trong bất cứ thời đại (Kalpa) nào, dù có Phật hay không có Phật ở đời. Ngược lại, chỉ trong thời đại có một đức Phật ra đời ta mới có thể thực hiện Pháp thí được. Vì thế Pháp thí hiếm hơn Tài thí.

Ta có thể nêu ra nhiều lý do nữa, nhưng tóm lại bố thí Pháp sẽ gặt hái được nhiều công đức hơn bố thí tài.

III. Trên phương diện người nhận hay ruộng phước

Tại sao lại gọi người nhận (pratigràhaka) ruộng phước (punyaksetra)? Tại vì chính ở nơi họ mà ta gieo hạt giống phước đức nên gọi là ruộng phước. Nhờ có họ mà ta mới thực hiện được sự Bố thí.

Có hai loại ruộng phước:

1) Ruộng phước nhỏ (Karunàpunyaksetra) : Vì lòng thương hại (karunà) người nhận nên ta phát tâm bố thí. Những hạt giống thương hại sẽ cho ra những cây lúa nhỏ, nên gọi là ruộng phước nhỏ.

2) Ruộng phước lớn (satkàrapunyaksetra) : Vì có tâm kính trọng (satkàra) người nhận nên ta phát tâm bố thí. Những hạt giống kính trọng sẽ cho ra những cây lúa lớn, nên gọi là ruộng phước lớn.

* Sự Bố thí của vua A Dục (Asoka)

Một hôm đức Phật đi tản bộ cùng với ngài A nan trên thành Vương Xá (Ràjagrha). Ðến một quãng đường có hai trẻ nhỏ Jaya và Vijaya đang vui đùa lấy đất sét nắn thành những cái nhà nhỏ. Khi thấy đức Phật đến gần, chúng rất vui mừng hớn hở. Jaya lấy đất sét nắn thành một cái bánh, thành kính cúi đầu cúng dâng cho đức Phật, còn Vijaya lức đó cũng chắp hai tay lại cúi lạy theo bạn. Jaya, trong lúc cúng dường cái bánh đất, phát nguyện rằng sau này sẽ làm vua an trị cả một thế giới, rồi em tụng lên một bài kệ cúng dường đức Phật. Ðức Phật hoan hỷ đưa tay đón nhận cái bánh đất của em và mỉm cười. Thấy đức Phật mỉm cười, ngài A nan lấy làm lạ nên hỏi lý do, và đức Phật trả lời rằng: ‘Một trăm năm, sau khi ta nhập Niết Bàn, đứa bé này sẽ là một vị Chuyển luân thánh vương (Cakravartin) trông coi một trong bốn châu thiên hạ, và trong thành phố Kusumapura (Pàtaliputra), nó sẽ làm một vị minh vương tên là A Dục (Ásoka). Sau khi chia phát những xá lợi của ta xong, nó sẽ xây cất 84.000 bảo tháp để làm lợi ích cho muôn loài’.

Sự tích trên cho ta thấy ý nghĩa phước báo của một sự bố thí với lòng kính trọng người nhận, tức ruộng phước lớn.

* Sau khi phân tách tỉ mỉ, đi sâu vào chi tiết từng loại bố thí, ta có thể tóm tắt lại như sau:

Một sự bố thí được xem là trong sạch và đem lại phước đức quả báo vô lượng vô biên cần phải có ba yếu tố sau đây:

  • 1) Người bố thí phải có tâm trong sạch.
  • 2) Vật được thí phải chân chính.
  • 3) Người nhận phải được kính trọng tối đa.

5. Bố thí ba la mật

Thế nào gọi là bố thí Ba La Mật?

Về Bố thí (Dàna) thì chúng ta đã được trình bày trong các phần trước rồi. Bây giờ chúng ta tìm hiểu chữ Ba La Mật (paramità).

Paramità dịch âm là Ba La Mật Ða. Nhưng ở đây chúng ta nói tắt là Ba La Mật (parami). ‘Para’ có nghĩa là bờ bên kia, ‘mi’ có nghĩa là đi đến. Bố thí Ba La Mật có nghĩa là băng qua con sông Bố thí (dànanadi) và đến được bờ bên kia. Chữ ‘đến được bờ bên kia’ quan trọng lắm. Vì sao? Vì có nhiều khi ta bắt đầu qua sông, nhưng đến nửa đường ta lại quay trở về, đó không gọi là Ba La Mật.

1. Ngoài ra ‘bờ bên này’ còn có nghĩa là bờ tham lam, bỏn xẻn, con sông là sự Bố thí, ‘bờ bên kia’ là bờ đại bi (mahakarunà).

2. ‘Bờ bên này’ là bờ tà kiến chấp trước (mithyàdrsti), ‘bờ bên kia’ bờ Trí huệ (prajnà).

3. ‘Bờ bên này’ là bờ sanh tử luân hồi (Samsàra), ‘bờ bên kia’ là bờ Niết Bàn giải thoát (Nirvàna).

4. Ngoài ra, Bồ Tát khi bố thí thấy rằng sự bố thí không sanh, không diệt, không có thiệt, tức là không thấy có người cho, vật được cho, và người nhận, đó gọi là Bố thí Ba La Mật.

Ở chỗ này ta nên dừng lại, phân tách một chút, vì đa số chúng ta đều lầm lẫn cho rằng mình Bố thí Ba La Mật nhưng thực sự thì không phải vậy. Ta thường được nghe giảng trong Kinh Kim Cang nói rằng bố thí mà không phải bố thí thì mới thực là bố thí, hoặc bố thí mà không chấp nhân, ngã, chúng sinh, thọ giả mới thực là bố thí, hoặc bố thí mà không thấy ta là người cho, đây là vật được cho, và kia là người nhận mới là bố thí,v…v…

Chữ Bố thí mà ‘không thấy’ ở đây không có nghĩa là bố thí mà nhắm mắt lại để khỏi thấy, hoặc bố thí mà tâm không dám nghĩ gì hết. ‘Không thấy’ ở đây là kết quả của một sự quán chiếu nhân duyên thấy được các pháp không có tự tánh. Vì thấy các pháp không có tự tánh nên thấy sự bố thí không có tự tánh. Như ta đã xem qua ở các phần trước, bố thí không thể là một cái gì tự nhiên có được, phải có đầy đủ ba yếu tố (người cho, vật cho, người nhận) hợp lại mới có nó. Nếu thiếu một trong ba thì không thể có sự bố thí. Do đó bố thí không có thiệt, nó chỉ là giả danh của một hợp thể (yếu tố). Xa hơn nữa, ba yếu tố vừa kể trên, chúng cũng lại là giả danh của một hợp thể nào đó. Như người cho và người nhận là giả danh của hợp thể ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), đồ vật được cho là giả danh của một hợp thể vô số chất liệu. Và cứ thế ta quán chiếu để thấy không có một yếu tố nào có thực tướng, nó hiện hữu vì vô số các yếu tố khác hiện hữu. Thấy được như vậy gọi là thấy ‘Không’ (sùnya). Ðem áp dụng cái thấy ‘Không’ vào sự bố thí ta sẽ thấy không có cái gì thực sự là bố thí cả, mà chỉ có một sự biến chuyển, diễn tiến, sinh diệt của vô số nhân duyên, đây gọi là Bố thí Ba La Mật.

Chúng ta nên cẩn thận, đừng vội vã hấp tấp thực hành ‘Bố thí Không’, nếu ta chưa thực sự hiểu được ‘tánh Không’ (Sùnyatà), hay thấy được sự duyên khởi của các pháp. Tốt hơn là ta nên thực hành sự Bố thí trong sạch như đã nói ở phần trước. Còn nếu ta cố chấp cứ muốn bố thí theo kiểu (hiểu lầm) Kim Cang, tức là nhắm mắt để khỏi thấy ta, thấy vật, thấy người, hoặc bố thí mà tâm không nghĩ gì cả thì đó chẳng khác gì một người máy ‘Rô bô’ cầm hộp bánh bố thí cho một em bé. Ðó gọi là Bố thí Rô bô máy, chứ không phải là Bố thí Ba La Mật ! Dĩ nhiên là Rô bô chả được phước báo gì hết !

* Bồ Tát thực hiện Bố thí Ba La Mật ra sao?

  • – Bồ Tát thực hiện tất cả các loại bố thí trong sạch, Tài thí, Nội thí, Ngoại thí, Pháp thí không bao giờ hối tiếc.
  • – Bồ Tát bố thí một cách bình đẳng với tất cả mọi loài, không bao giờ nghĩ rằng:
  • – Phải bố thí cho người lớn chứ không cho trẻ em.
  • – Phải bố thí cho người tu hành chứ không cho người thường.
  • – Phải bố thí cho người chứ không cho thú vật.
  • – Phải bố thí cho Hòa Thượng chứ không cho chú tiểu.
  • – Bồ Tát bố thí không cầu được phước báo.
  • – Bồ Tát bố thí không kể ngày hay đêm, mùa đông hay mùa hè, trời tốt hay trời xấu.
  • – Bồ Tát bố thí để thực hiện thực tướng (bhùtalaksana) của sự bố thí.

6. Bố thí và Sáu Ba La Mật

Trong sáu Ba La Mật (Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ) thì Bố thí đứng đầu, vì nó làm nền tảng cho cả sáu Ba La Mật.

I. Bố thí làm nền tảng cho bố thí

Bố thí gồm có ba trình độ: hạ, trung, thượng. Nghĩa là sao?

Khi mới bắt đầu bước chân vào Bồ Tát đạo, Bồ Tát tập bố thí trong sạch, nhưng chỉ bố thí những đồ vật tầm thường như : đồ ăn, thức uống, đèn, dầu,v…v… Ðó gọi là bố thí hạ (avara).

Từ chỗ luôn luôn thực hành bố thí hạ, tâm của Bồ Tát bắt đầu phát triển, Bồ Tát tập bố thí nhiều hơn như : quần áo, thuốc men, nhà, cửa, vàng, bạc, những món đồ quý giá, v…v… Ðó gọi là bố thí trung (madhya).

Từ chỗ thực hành bố thí trung, hảo tâm của Bồ Tát phát triển tới mức cùng tột, tức là bố thí tất cả những gì mà mình có (nội thí và ngoại thí) không ngần ngại hay hối tiếc như: đầu, mắt, tay, chân, v…v… Ðó gọi là bố thí thượng (agra).

II. Bố thí làm nền tảng cho trì giới

Bồ tát biết rằng nếu ta tham lam, bỏn xẻn, keo kiệt, không bao giờ biết làm phước bố thí cho ai, thì kiếp sau ta sẽ chịu cảnh nghèo khổ. Vì nghèo khổ nên ta có những ý tưởng trộm cắp, lường gạt.Và nếu đi trộm cắp hay cướp giật thì ta dễ phạm phải tội giết người. Vì nghèo khổ nên ta khó có thể thỏa mãn dục lạc, dục lạc không được thỏa mãn thì ta sẽ dễ phạm vào tà hạnh dâm dục.Vì nghèo khổ nên ta phải chịu làm những việc hạ tiện, hạ cấp. Vì hạ tiện, hạ cấp nên ta luôn luôn sợ chủ và ta sẽ dễ phạm phải tội nói dối, nịnh bợ, v…v… Như vậy, vì nghèo khổ, ta sẽ dễ phạm vào mười điều ác của thân, miệng, ý.

Ngược lại, Bồ Tát nghĩ, nếu thực hành bố thí, ta sẽ tái sinh trong cảnh giàu sang, tiền của đầy đủ, nhờ đó sẽ dễ giữ gìn giới luật.

* Chuyện tích con rắn, con ếch và con rùa (Jàtaka)

Ðề Bà Ðạt Ða (Devadatta), trong một tiền kiếp xa xưa, là một con rắn. Con rắn này ở trong một cái lạch cùng với một con ếch và một con rùa, và cả ba con đều làm bạn giao du với nhau. Thế rồi một hôm hạn hán, nước ở trong lạch cạn dần và sắp hết, trong lạch chả còn gì để ăn. Mỗi con chia nhau ra đi kiếm ăn. Vì quá đói không tìm được gì nên con rắn đã nghĩ chuyện tính ăn con ếch. Nó bèn nhờ con rùa đi tìm con ếch lại nhà nó chơi. Ðến khi rùa gặp được ếch thì ếch trả lời rằng:

  • Khi rơi vào cảnh nghèo đói, túng thiếu
  • Người ta thường quên hết nghĩa ban đầu
  • Không kể gì đến đạo đức,
  • Chỉ biết làm sao
  • Cho hết đói mà thôi!

Hãy nhớ những gì ta vừa nói và về bảo với rắn rằng: ‘Con ếch sẽ không bao giờ trở về gặp rắn nữa đâu!’.

III. Bố thí làm nền tảng cho nhẩn nhục

1. Khi Bồ Tát thực hành hạnh bố thí mà đối tượng (người nhận) từ chối, xua đuổi, hay đòi hỏi hơn, hoặc xin không đúng lúc, hoặc không cần xin mà cứ xin. Lúc đó Bồ Tát sẽ nghĩ như vầy: ‘Nay ta thực hành bố thí, cốt để cầu giác ngộ thành Phật; không có ai bắt buộc ta phải cho cả. Bố thí đây là làm cho chính ta, tại sao phải nổi giận?’ Suy tư như vậy, Bố Tát thực hành nhẫn nhục.

2. Khi Bồ Tát bố thí mà người nhận không bằng lòng, nổi giận hay mắng chửi, thì Bồ Tát lại nghĩ như vầy: ‘Nay ta cho tất cả những tài sản quý giá của ta. Ta tập xả bỏ những gì khó xả bỏ. Có lý đâu ta lại không chịu được những lời mắng chửi vô nghĩa lý này? Nếu ta không nhẫn nhục thì sự bố thí của ta sẽ không trong sạch. Bố thí mà không kiên nhẫn cũng giống như con voi trắng (bạch tượng), sau khi tắm ở dưới sông, vừa lên trên bờ lại nằm ềnh ra đất dơ.’ Suy tư như vậy, Bồ Tát thực hành nhẫn nhục.

IV. Bố thí làm nền tảng cho tinh tấn

Trong lúc thực hành bố thí, Bồ Tát cũng thực hành luôn cả tinh tấn (Vìrya). Khi mới bắt đầu thực hành bố thí, phước đức quả báo của Bồ Tát rất ít nên Bồ Tát không thể thực hiện nhiều sự bố thí. Nhưng vì muốn bố thí nhiều, cho tất cả mọi loài, nên Bồ Tát phải tinh tấn thực hành bố thí. Nhờ tinh tấn bố thí nên phước đức (Tài, Pháp) của Bồ Tát càng tăng trưởng khiến Bồ Tát lại càng say mê bố thí nhiều hơn, và cho nhiều người. Cứ thế Bố thí và Tinh tấn vừa làm nhân vừa làm duyên cho nhau.

V. Bố thí làm nền tảng cho thiền định

Người tu Thiền định,ban đầu luôn luôn gặp phải năm chướng ngại (ngũ cái) : tham lam, giận tức, hôn trầm, trạo cử và nghi hối. Nếu không diệt trừ được năm chướng ngại này thì không thể tiến xa trong Thiền định.

Thực hành Bố thí trong sạch tức là đang diệt trừ năm chướng ngại. Vì sao?

  • – Bố thí là diệt trừ tham lam, bỏn xẻn.
  • – Bố thí trong sạch tức có nhẫn nhục, có nhẫn nhục thì tiêu trừ được giận tức.
  • – Khi bố thí để cầu quả vị Phật, Bồ Tát cần nhiều Tài và Pháp để có thể bố thí rộng rãi cho tất cả mọi loài. Vì cần nhiều Tài, Pháp nên Bồ Tát phá trừ được lười biếng, giải đãi là nguyên nhân đưa đến hôn trầm.
  • – Khi bố thí Bồ Tát khởi tâm trong sạch, tâm kính trọng người nhận, chú ý đến hành động của mình không dám suy nghĩ bậy bạ, nên luôn luôn tỉnh thức không chạy theo vọng tưởng, do đó diệt trừ trạo cử.
  • – Khi thực hành bố thí, Bồ Tát biết chắc là sẽ gặt được phước đức quả báo vô lượng, vì thế nên Bồ Tát luôn luôn tìm cơ hội để bố thí. Nhờ bố thí nên được nhiều phước báo và từ đó lại càng tin nơi sự bố thí. Nhờ lòng tin vững chắc này Bồ Tát phá trừ nghi hối.

VI. Bố thí làm nền tảng cho trí huệ

1. Nhờ bố thí đời này qua đời khác, Bồ Tát gặt được nhiều phước đức, do đó Bồ Tát tin nơi Tam Bảo, nhờ tin nơi Tam Bảo, Bồ Tát phát tâm học chánh pháp, nhờ học chánh pháp, Bồ Tát phá trừ tà kiến,và vô minh, nhờ phá trừ vô minh mà trí huệ tăng trưởng.

2. Hơn nữa, khi thực hành Bố thí Ba La Mật, Bồ Tát luôn luôn suy tư về thực tướng của ba yếu tố (người cho,vật được cho, người nhận). Nhờ luôn luôn suy tư như vậy, Bồ Tát hiểu được thực tướng của Bố thí. Hiểu được thực tướng tức là trí huệ bát nhã.

3. Tất cả mười phương chư Phật đều bắt đầu con đường giác ngộ bằng một hạnh đầu tiên là bố thí. Cũng vậy, một ngàn vị Phật quá khứ của hiền kiếp, mỗi vị trong lúc phát Bồ đề tâm (tức tâm cầu thành Phật) lần đầu tiên, đều là đang bố thí cúng dường cho một đức Phật nào đó: có vị thì cúng dường một hoa sen, có vị cúng dường một cái áo, có vị cúng dường một cái tâm xỉa răng, v…v… và trong lúc cúng dường như vậy, các ngài đều phát Bồ đề tâm (bodhicitta). Do đó Bố thí là nền tảng của Phật đạo.

 7. Những điều lầm lẫn về bố thí

Qua những phần trước, ta đã có một ý niệm về thế nào là bố thí trong sạch, hay không trong sạch, đúng đắn hay không đúng đắn. Nhưng đó là trên phương diện giáo lý tổng quát. Sợ có nhiều người tâm tính thành thật, chất phác không hiểu rõ, nên trong phần này ta hạy tạm lấy những thí dụ cụ thể xảy ra thường xuyên trong đời sống sinh hoạt của chùa chiền, để mọi người hiểu rõ hơn.

* Về Pháp thí :

Thường đi song song với pháp thí là sự khinh người. Nếu ta là một vị thầy, thì ta không thể thực hành tài thí được, mà chỉ có thể bố thí Pháp thôi.

Bố thí pháp là một việc rất tốt, nhưng nếu không khéo thì song song với việc bố thí ta sẽ nhiễm phải cái tánh khinh người. Tánh này là một tánh rất xấu, không những đạo Phật mà tất cả các đạo khác đều khuyên ta phải trừ bỏ nó. Trong một Hội Ðoàn Phật Giáo, Tăng già khinh Tăng trẻ, Tăng trẻ khinh Phật tử già, Phật tử già khinh Phật tử trẻ thì hậu quả của nó sẽ ra sao? Hậu quả sẽ là Phật tử trẻ bất kính Phật tử già, Phật tử già bất kính Tăng trẻ, Tăng trẻ bất kính Tăng già. Và trong một Hội Ðoàn mà từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên có một sự khinh thường và bất kính như vậy thì chắc là Hội viên sẽ sớm rút lui. Ðạo phật không dạy ta khinh người, mà ngược lại dạy ta tánh bình đẳng, có nghĩa là kính trọng tất cả mọi người như nhau. Xưa kia đức Phật đâu có khinh ai, ngay cả đối với một em bé cũng vậy (Xem tích chuyện Asoka). Chúng ta hãy noi theo hạnh của Thường Bất Khinh Bồ Tát trong Kinh Pháp Hoa, gặp ai ngài cũng lễ lạy và nói : “Tôi chẳng dám khinh quý vị, vì quý vị đều sẽ làm Phật”.

Nếu ta có cơ duyên học nhiều, hiểu rộng thì khi có người đến hỏi đạo, ta nên vui lòng chỉ dẫn. Trong trường hợp ta bận tu trì, tụng niệm hay nghiên cứu thì ta có thể dời lại khi khác, chứ ta không nên khinh người đến hỏi ta, cho họ là chúng sinh ngu tối không biết gì. Chính vì không biết nên họ mới đến hỏi, chứ nếu biết rồi thì họ đâu có đến, mà nếu họ không đến thì làm sao ta có cơ hội bố thí pháp? Vì vậy ta cần phải cảm ơn họ. Trước khi, trong khi và sau khi bố thí Pháp, ta cũng nên phát nguyện và hồi hướng. Nguyện cho người hỏi đạo trước mặt ta mau có được trí huệ sáng suốt và hồi hướng công đức pháp thí này cho sự giải thoát luân hồi, hoặc quả vị Phật (nếu ta là Bồ Tát).

Hoặc giả ta tu lâu năm, có chùa to mà khinh người mới tu, có chùa nhỏ, thì ta coi chừng sẽ có một ngày đức Phật hiện ra trách mắng ta đó! Nhưng chỉ sợ lúc đó ta lại không nhận ra đức Phật, hoặc nếu có nhận ra đi nữa ta cũng làm bộ nhắm mắt bịt tai không muốn nghe. Nếu vậy thì đức Phật cũng phải lắc đầu chịu thua.

Và nếu ta để ý một chút thì ta sẽ thấy danh từ “Tu” rất nguy hiểm, vì nó gây ra nhiều hiểu lầm và tai hại.

Ðối với một người tánh tình chất phác, khi họ nghe nói ta tu lâu rồi, họ sẽ nể và kính trọng ta lắm, vì họ nghĩ rằng ta đã chứng được gì rồi, không chứng được A La Hán thì chắc cũng chứng được Thượng Tọa hay Ðại Ðức. Trong tâm họ, cho “Tu” là được cái gì, giống như đi lính vậy. Vì đi lính lâu năm thì được lên chức quan ba, quan năm, có quyền ra oai với lính binh nhì, binh nhất hay sĩ quan dự bị. Nhưng sự thực thì không phải vậy, Tu có nghĩa là sửa. Thí dụ ta có một chiếc xe hơi mới mua mà bị hư, thì ta phải sửa nó. Nếu ta là một người thợ giỏi thì chỉ trong một ngày là ta sửa xong. Nhược bằng sửa năm ngày rồi mà chưa xong, thì ta quả là một người thợ dở. Trong trường hợp này, ta sẽ không dám chạy cùng làng khắp xóm mà la lên rằng: ‘Tôi sửa (xe) lâu rồi, tôi sửa lâu rồi’. Cũng như thế, khi ta nói với mọi người rằng ta Tu lâu năm rồi, đó có nghĩa là ta sửa lâu năm rồi. Sửa cái gì? Sửa những tánh hư, tật xấu, nhất là cái tánh ngã mạn của ta. Sửa xong chưa?

Ở đây có hai giả thuyết. Nếu xong rồi thì ai lại đi nó rằng tôi sửa (tu) lâu! Nếu nói rằng tôi sửa (tu) lâu tức là chưa xong. Nếu sửa chưa xong thì ta phải biết mắc cở chứ ! Ta tu theo đạo Phật cốt để trừ bỏ cái tánh ngã mạn và khinh người của ta, nhưng không khéo ta lại để cho chính chữ “Tu” nó đánh lừa ta, làm cho lòng ngã mạn, khinh người của ta lại tăng thêm. Nếu ý thức được sự tai hại tạo nên do chữ “Tu” thì ta đừng ngần ngại thưa và đề nghị với quý Thầy từ nay trở đi không dùng chữ “Tu” nữa mà thay thế bằng chữ “Sửa”. Hơn nữa chữ “Tu” là một danh từ Hán việt, còn chữ “Sửa” là tiếng Việt, nó chính xác, rõ ràng, và dể hiểu hơn, và nó lại có công năng rất lớn, khiến cho ta ý thức được luôn luôn là mình có những tánh hư tật xấu cần phải sửa cho xong, và cũng diệt được cái tánh ngã mạn, khinh người của ta nữa.

Chỉ có người dại dột mới hay khinh người. Vì sao? Vì khinh người tức là khinh mình vậy ! Nếu ta khinh người thì người sẽ khinh lại ta, đó tức là ta khinh ta. Nhân quả là thế ! Nếu ta hay khinh người mà lại thích người kính trọng ta thì không thể có được. Trừ ra trường hợp ta làm quan lớn dùng thế lực hay quyền hành bắt người khác phải kính phục ta thì có. Ngoài mặt thì họ kính phục ta, nhưng ta đâu có biết trong tâm họ chửi rủa ta. Và nếu ta không biết điều đó thì ta vẫn là kẻ ngu mà thôi !

Trên đây là nói về Pháp thí khinh người, đó thuộc vào loại Pháp thí không trong sạch (avisuddha dana). Trong trường hợp ta học nhiều, hiểu rộng mà lại có tài có tài ăn nói nữa, thì rất là may mắn cho đạo Pháp. Nhưng nếu ta ưa thuyết pháp với mục đích cho mọi người nể ta, kính trọng ta thì đó là Pháp thí cầu danh, cũng thuộc vào loại pháp thí không trong sạch.

Trong sự Pháp thí không trong sạch này, hiệu quả của nó cũng có hai loại: lợi và hại. Trước hết là xét về giáo lý mà ta bố thí, xem đúng hay sai với chánh pháp. Ðúng, là khi người nhận nghe theo đó hành trì, tu tâm sửa tánh, tạo thiện nghiệp (kusalakarma), trong trường hợp này thì người nhận được lợi, còn ta chả được gì cả vì lửa ngã mạn đã đốt hết rừng công đức Pháp thí của ta. Trong trường hợp giáo lý sai với chánh pháp thì cả hai bên đều bị hại cả.

* Về Tài thí :

Là Phật tử tại gia tức Ưu bà tắc (Upàsaka), Ưu bà di (Upàsika), ta có bổn phận phải hộ trì Tam Bảo, có nghĩa là giúp đỡ và gìn giữ cho Phật giáo được dài lâu. Tại sao dài lâu? Vì ta biết rõ Phật giáo dạy ta con đường giải thoát, có lợi ích cho tất cả mọi người nên ta muốn nó dài lâu. Tùy theo khả năng cá nhân, ta có thể giúp đỡ, bố thí tiền của hay sức lực.

Như ta đã đọc qua các phần trước, bố thí là một việc rất tốt đem lại nhiều phước báu cho ta, và bố thí lại là một hạnh đầu tiên của Bồ Tát. Nhưng bố thí mà không biết cách bố thí thì không đem lại lợi ích gì cả! Ta hãy tự nhìn lại mình xem, sau bao năm bố thí, bây giờ ta thế nào? Ta bỏ chùa, ở nhà tu rị (tức là tu một mình) ta sợ đến chùa vì đến đó có người ra quyên tiền ta, rồi ta bất mãn rao lên rằng chùa này làm tiền, chùa kia làm tiền. Tất cả những cái đó có là do tại ta, vì trước kia ta đã không học cách bố thí. Gặp Thầy nào bố thí Thầy đó, nhất là hay ưa bố thí các Thầy tu lâu để được phước hay để lấy danh. Rồi Thầy muốn cái gì là ta dâng cái ấy. Dâng riết đến lúc hết dâng được thì ta chạy trốn luôn, không dám gặp Thầy nữa.

Khi đến chùa, gặp một việc kêu gọi bố thí hay cúng dường thì ít nhất ta phải suy tư một chút, xem việc đó nếu có lợi cho Thầy, cho ta, cho mọi người thì ta hãy vui lòng bố thí. Nếu việc đó không có lợi cho Thầy, hoặc cho ta mà có lợi cho tất cả mọi người thì ta cũng sẵn lòng bố thí (trong trường hợp ta là Bồ Tát).

Ngoài ra đúng theo như luật xưa đức Phật để lại thì bổn phận của cận sự nam (upasaka) và cận sự nữ (upasika) là bố thí cúng dường bốn việc cho chư Tăng : nơi ở, quần áo, thức ăn và thuốc men. Nơi ở thì có chùa, ta có thể đóng góp hàng tháng cho Hội, rồi Hội chi phí cho chùa. Quần áo thì ở xứ Tây phương này quý Thầy, người nào cũng rất là đầy đủ. Thức ăn thì ta xem chừng, lâu lâu mua gạo, hay mua rau cải đến tiếp tế, hoặc nếu không có thời giờ thì ta có thể đưa tiền cho vị Tri khố lo giùm. Còn về thuốc men thì ta cần lưu ý, vì ở bên Pháp này quý Thầy không đi làm chính thức nên không có ‘bảo hiểm xã hội’ (Sécurité sociale), tức là khi có bệnh tật gì thì quý Thầy ráng chịu. Vì lý do đó ta không nên bắt quý Thầy tụng đám, cầu an, cầu siêu nhiều quá, rủi quý Thầy cảm cúm, ho lao … hay mệnh hệ nào thì ta không có đủ tiền lo thuốc men, lúc đó ta sẽ ân hận lắm đấy!

Ða số quý thầy ngày nay thường hay kêu gọi ta đóng góp để làm chùa to. Có nhiều người không hiểu, cho rằng thầy tu gì mà còn ham danh lợi. Sau đó đi rao là chùa làm tiền hoặc chùa giàu, vv… Là Phật tử chúng ta nên hiểu rằng quý thầy do lòng từ bi muốn độ nhiều chúng sinh, đền đáp ơn Tam Bảo, hoằng truyền chánh pháp mà bất đắc dĩ phải làm như thế. Nếu quý thầy ích kỷ chỉ lo ngồi yên trong một cái cốc nhỏtự tu tự độ thì đỡ khổ cho quý thầy biết mấy. Kêu gọi như vậy vừa nhọc mệt lại thêm mang tiếng, đâu có vui thú gì !

* Khi Ta bố thí cho chùa, ta phải tập ý thức việc làm của ta, có nghĩa là ta biết lý do và mục đích của sự bố thí, còn có nghĩa là ta phải biết phát nguyện và hồi hướng công đức bố thí của mình. Ðược vậy thì ta sẽ không ân hận, hay hối tiếc, mà ngược lại sẽ cảm thấy vui vẻ và an tâm. Ðây gọi là Ý thức bố thí.

* Khi bố thí (cúng dường) cho quý Thầy. Cũng vậy, ta phải tập ý thức việc bố thí của mình. Quý Thầy là đối tượng của sự bố thí, còn gọi là ruộng phước (punyaksetra). Vì sao? Vì chính nơi quý Thầy là chỗ để ta gieo hạt giống phước nên gọi là ruộng phước.

– Khi ta thương hại hay tội nghiệp một vị Thầy nào đó, tu hành khổ cực mà ta bố thí, thì vị Thầy đó trở thành ruộng phước nhỏ, vì được gieo bởi những hạt giống thương hại (karunà), nên sẽ cho ta cây lúa nhỏ.

– Khi ta kính trọng một vị Thầy nào mà ta bố thí, thì vị Thầy đó trở thành ruộng phước lớn, vì được gieo bởi những hạt giống kính trọng (satkàra), nên sẽ cho ta những cây lúa lớn.

– Nếu ta vừa kính trọng vừa thương hại mà bố thí thì ta sẽ gặt được cả hai loại lúa lớn có nhỏ có.

Trước khi cúng dường cho quý Thầy ta biết được vì thương hại hay kính trọng, và khi đang cúng dường ta cũng biết được là ta đang cúng dường, cúng dường xong ta biết hồi hướng công đức mà ta vừa tạo cho sự giải thoát sinh tử của mình, hay cho quả vị Phật (nếu ta là Bồ Tát). Ðó gọi là Bố thí trong sạch và ý thức. Ta đừng lầm lẫn ‘ý thức’ với ‘chấp trước’. ‘Ý thức’ ở đây có nghĩa là chánh niệm, biết ta đang làm gì, phải làm gì, sẽ làm gì. Còn bố thí chấp trước không nằm trong bố thí trong sạch, vì khi bố thí cho rằng ta đây là người cho, đây là vật bố thí, còn kia là người nhận, rồi khởi tâm ngã mạn khinh người, hoặc trước khi bố thí đã có cái tâm cầu danh hay ngã mạn rồi, nên khi vừa tác động thì sự bố thí đã là bố thí chấp trước rồi.

– Khi gặp một vị Thầy nào, ta lấy tài của ra gọi là cúng dường hoặc có nhiều khi ta đưa cho vị Thầy ấy mà chả nói chả rằng gì cả, thì đó là bố thí vô tâm và vô ý thức. Bố thí vô ý thức ta đã thấy ở trên rồi. Còn vô tâm là sao? Vô tâm ở đây cũng có nghĩa là vô ý thức nhưng thêm vào vô ký và vô tư. Ta học trong Kinh Kim Cang thấy nói rằng bố thí mà không bố thí mới thực là bố thí, hoặc bố thí mà không thấy có ta là người bố thí, đây là vật bố thí, và kia là người được bố thí. Học như vậy xong nên khi bố thí ta không dám nghĩ gì cả, vì sợ suy nghĩ thì rơi vào chấp trước, hoặc có bố thí thì làm sao cho nhanh để khỏi kịp ý thức được việc làm của mình, hoặc trong lúc bố thí thì miệng nói, mắt nhìn chổ khác. Ðó gọi là bố thí vô tâm. Bố thí vô tâm cũng phát xuất từ một tấm lòng tốt, nhưng vì không hiểu đạo nên phước báo của nó thuộc loại hữu lậu.

Ta không nên lầm lẫn vô tâm bố thí với Tánh Không bố thí. Vô tâm bố thí là tâm không nghĩ và không ý thức được sự bố thí trong lúc đang bố thí. Còn tánh không bố thí thì hiểu và thực hiện được tánh Không của sự bố thí trong lúc đang bố thí. Tánh Không bố thí chính là Bố thí Ba La Mật (dànaparamità), nghĩa là thấy cả ba yếu tố tạo ra sự Bố thí đều không có tự tánh. Trước khi thực hành Tánh Không bố thí, ta cần phải thực tập quán chiếu nhiều về lý nhân duyên, tức thấy được sự tương duyên tương sinh của mọi vật, thấy rằng các pháp phải nương vào nhau mà hiện hữu, nên không có một tự thể riêng biệt. Khi ta quán chiếu thuần thục về Tánh Không của các pháp rồi, ta đem sự quán chiếu đó áp dụng vào việc Bố thí, đó gọi là Tánh Không bố thí.

Khi thực hành bố thí, ta hãy nên thành thực với chính ta, xem lại ta còn chấp trước hay không chấp trước, có lầm tánh Không với Vô tâm không? Nếu có thì ta sửa lại, vì đó là việc nội tâm của mình, bên ngoài không ai hay cả, cũng không có ai chấm điểm hay thưởng phạt ta cả, chỉ có chính hành động của ta thưởng phạt ta mà thôi.

Cũng cần nói thêm về Tánh Không (Sùnyata). Tánh Không là con dao hai lưỡi. Nếu ta hiểu được nó thì nó giúp ta sớm chặt đứt các giây vô minh trói buộc ta. Còn ngược lại, nếu ta hiểu lầm thì nó sẽ khiến ta tạo những hành động vô phước. Vì thế Cổ nhơn có câu: ‘Thà chấp có như núi Tu Di còn hơn chấp không như hạt cải’. Nếu ta chưa hiểu được tánh Không thì ta cứ thực hành hữu tướng bố thí, tức là phát nguyện, ý thức, và hồi hướng, trước khi, trong khi và sau khi bố thí. Ðó gọi là biết cách bố thí.

– Trên đây là nói qua trường hợp bố thí vì thương hại hay vì kính trọng một vị Thầy mà ta bố thí. Còn trong trường hợp đối với một Thầy từ xa mới đến mà ta chưa quen biết thì sao? Thì đó lại là một việc dễ xử đối với ta, vì ta không biết quá khứ riêng tư của Thầy đó, nên ta dễ khởi tâm kính trọng mà bố thí. Và trong lúc bố thí ta có thể nguyện như vầy: ‘Con thành tâm cúng dường Thầy, cầu cho Thầy mau đắc đạo để cứu khổ chúng sinh’. Ta có thể niệm thầm hoặc nói thẳng ra ngoài được thì càng tốt. Ðây là một sự bố thí trong sạch và quả báo của nó sẽ vô lượng. Vì sao? Vì người cho thành tâm và người nhận được kính trọng . Người nhận được kính trọng hay không là tùy ở nơi tâm người cho. Nếu ta khôn khéo biết được phước bào do sự bố thí của mình sẽ vô lượng hay hữu lượng tùy ở nơi tâm người cho thì ta sẽ luôn luôn khởi tâm kính trọng người nhận. Ðó là biết cách bố thí vậy.

– Bây giờ nếu có trường hợp ta không thương hại, không kính trọng, mà cũng không ưa một vị Thầy nữa thì ta phải làm gì? Có phải bố thí không?

Ở đây lại là một vấn đề khác. Ta cần tự xét lại mình trước. Tại sao không ưa? Không ưa chỗ nào? Sau khi xét lại nội tâm xong ta có thể xin đến gặp vị Thầy đó để giải tỏa những điều thắc mắc đã tạo ra sự bất hòa (khi có một sự bất hòa thì cả hai bên đều có lỗi cả). Trong trường hợp thầy và trò đều có chí cầu tiến và phục thiện thì tốt quá. Nhưng nếu cả thầy lẫn trò đều nhận thấy mình là đúng và người kia sai thì lúc đó đường ai nấy đi, ta được quyền rút lui nhưng phải có trật tự, nghĩa là không được tạo khẩu nghiệp. Sau khi rút lui xong ta nên đi tìm một vị Thầy khác để nương cậy. Vì sao? Vì ta là một cận sự nam hay cận sự nữ. Cận sự có nghĩa là ở gần để giúp đở và học hỏi.

Không phải vì không ưa một Thầy mà ta ghét tất cả các Thầy khác. Không phải vì không ưa một chùa mà ta xa lánh tất cả các chùa khác. Nếu làm như vậy thì gọi là ‘Vơ đũa cả nắm’. Thái độ nầy không tốt vì nó làm cho ta không mở mang được kiến thức, không thực hiện được các hạnh tốt, cùng lúc đó thì cái gọi là ‘ngã kiến’ của ta sẽ tăng trưởng. Và nếu ta cứ giữ mãi thái độ ‘Vơ đũa cả nắm’ thì ta sẽ biến thành ‘Con ếch ngồi đáy giếng’.

* Lầm lẫn bố thí với trả công

Bố thí là một hành động phát ra từ tấm lòng thành, muốn cho người nhận được an vui hạnh phúc.

Còn trả công là một hành động vô tình, tức là không có tình nghĩa gì cả, nó dựa trên một sự đổi chác.

Khi ta đi ra ngoài đường gặp một người nghèo xin ăn, ta lấy năm cắc ra cho họ. Ta cho vì ta thương hại, chứ không phải vì người đó làm gì cho ta. Ta cho mà không cần được trả lại, ta chỉ cần người đó nhận cho là ta đã vui rồi. Ðó gọi là bố thí.

Còn trả công thì khác, nó là kết quả của một sự đổi chác. Thí dụ như ta là ông chủ một hãng. Ðến cuối tháng ta phát tiền cho nhân viên. Hành động phát tiền của ta không được gọi là bố thí mà phải gọi là trả công. Vì sao? Vì suốt một tháng vừa qua nhân viên đã làm việc cho ta, nên bây giờ ta phải trả lương cho họ. Và khi ta đưa tiền cho họ, trong tâm của họ đâu có mang ơn ta, vì họ biết đó là tiền của họ phải được. Trong tâm ta cũng vậy, tuy nhân viên làm việc cực nhọc suốt tháng vừa qua cho sự sản xuất của hãng ta, nhưng ta cũng đâu có mang ơn họ, vì ta trả tiền cho họ rồi mà! Giữa hai bên không có tình nghĩa gì hết, cũng không ai mang ơn ai cả. Ta đưa tiền vì người kia đưa công, người kia đưa công vì ta đưa tiền.

Sau khi hiểu rõ thấy được sự khác biệt giữa bố thí và trả công rồi, ta hãy đưa mắt nhìn về chùa của mình xem sao? Xem mình có phạm cái lỗi lầm đó không?

Ngày thường ta chả bao giờ đến chùa, tự nhiên đến bố thí hay cúng dường các Thầy. Ðến khi trong gia đình có cha mẹ chết, lúc đó ta mới đến chùa thưa thỉnh lễ phép rước Thầy về nhà tụng Kinh cầu siêu cho cha mẹ ta. Rồi sau khi đám sám xong, ta rút vài tờ giấy bạc bỏ vào phong bì cúng dường cho Thầy. Làm xong việc như vậy, ta ra về thở phào nhẹ nhõm, trong tâm nghĩ rằng đã làm xong bổn phận đối với cha mẹ, đã làm xong bổn phận đối với ông Thầy, và cùng lúc lại làm phước nữa chứ! Thử hỏi hành động của ta được gọi là gì? Tuy nhiên trong cuộc thì cũng có người được chút ít. Ðó là người được thí, tức ông Thầy : ông Thầy có được vài trăm bỏ túi đi xe lửa. Vì lầm lẫn như thế nên ta cứ tiếp tục bố thí cái kiểu trả công. Riết rồi ban đầu Thầy đi xe lửa, sau đến xe hơi, rồi đến tàu bay. Tới lúc đó thì ta la lên rằng chùa giàu! Chùa giàu hay nghèo đều do ta cả. Ta phải tự hỏi ta chứ! Chùa giàu để làm gì? Nghèo để làm gì? Nếu ta ý thức rằng sự phát triển của chùa có lợi cho chúng ta nên phải cần tài chánh thì ta làm cho chùa giàu. Còn nếu thấy cần nghèo thì ta làm cho chùa nghèo. Giàu không phải là một cái tội, nghèo cũng không phải là một cái phước.

Tiền dùng đúng tiền hiền như Phật,

Bạc xài lầm bạc ác hơn ma.

Phật, ma cũng tại người ta

Chớ tiền bạc nó vốn là vô tri.

(Thanh Sĩ)

Ngoài ra ta phải thông cảm cho quý Thầy chứ! Ban đầu vì lòng từ bi mà Thầy đi cầu siêu. Cầu siêu xong ta lại bố thí cái kiểu trả công cho Thầy. Vì sự si mê của ta, ta đã biến lòng từ bi của Thầy, ban đầu vô giá, dần dần xuống giá còn khoảng hai ba trăm bạc. Rồi tội nghiệp quý Thầy, cứ phải è cổ ra nhận tiền của người chết. Ta đã biến quý Thầy thành giống như các nhà Hòm (pompes de funèbre) tức là sống nhờ người chết. Thật đáng buồn cho đạo Phật! Sao ta có thể nhẩn tâm được như vậy?

Nói như vậy không có nghĩa là từ nay về sau ta không cầu an, cầu siêu cho cha mẹ ta, hoặc cầu siêu xong ta không trả công cho quý Thầy nữa. Ta vẫn tiếp tục làm, nhưng phải biết các, thêm vào nữa là lâu lâu ta lui tới chùa xem trong chùa có cần gì giúp đỡ không thì ta phát tâm bố thí cúng dường, không phải chờ đến khi có ai chết hay đau mới tới. Còn trong trường hợp rước Thầy đi tụng đám xong mà ta muốn cúng dường thì ta phải tập suy nghĩ như vầy: ‘Thầy đã vì lòng từ bi tụng niệm cho cha mẹ ta, công ơn thật vô cùng, ta chỉ biết thành tâm phát nguyện tu học Phật để mau thoát sinh tử luân hồi và hồi hướng công đức (bố thí, phát nguyện) này cầu cho cha mẹ ta được siêu sanh Cực lạc’. Từ lúc trước khi, trong khi, và sau khi cúng dường, ta phải lập đi lập lại như vậy. Ta thành tâm, phát nguyện và hồi hướng, cùng lúc đó ta xem vị Thầy trước mắt tượng trưng cho Từ bi (chứ không phải thợ tụng) và ta hết lòng kính trọng. Nếu làm được như vậy thì ta đã biến sự trả công thành sự bố thí trong sạch.

* Không phải chỉ có chùa chiền mới là nơi cho ta thực hiện hạnh Bố thí

Ta có thể thực hiện bố thí ở khắp nơi với tất cả mọi loài : như cho con chó một khúc xương, con chim một mẩu bánh mì, con kiến một hạt đường, v…v…. Cụ thể nhất là khi ta đi ngoài đường bố thí cho người xin ăn. Tuy nhiên khi bố thí ta cũng phải tập bố thí cho đàng hoàng không được khinh người. Bố thí đàng hoàng hay trong sạch là ta biết phát nguyện, ý thức, và hồi hướng trước khi, trong khi và sau khi bố thí. Thí dụ như ta gặp một bà lão ở trong góc Metro đứng xin tiền. Ta lại gần lấy tiền ra, nhưng không đưa liền, đứng ngay lại sửa soạn phát nguyện. Có hai trường hợp:

1) Ta xem đối tượng tức bà lão là một vị Bồ Tát hóa thân làm bà già để ta thực hiện bố thí. Như vậy ta sẽ phát nguyện thành Phật để cứu độ chúng sinh và hồi hướng công đức bố thí này cho quả vị Phật.

2) Nếu ta không thể xem bà lão là một hóa thân Bồ Tát được thì ta nguyện như vầy: ‘Nguyện cho bà mau thoát khỏi cảnh khổ của sinh, già, bệnh, chết, và ta hồi hướng công đức bố thí này cầu mau giải thoát sinh tử, hoặc mau thành Phật’ (nếu ta là Bồ Tát).

Có một điều lầm lẫn mà ta hay phạm phải, đó là khi ta không ưa một vị Thầy nào rồi thì ta ngưng luôn việc bố thí ! Một vị Thầy không phải là đối tượng duy nhất của sự Bố thí. Ta có thể về nhà bố thí cho con cho cháu, cho gia đình họ hàng, hay cho bạn bè, xa hơn nữa là bố thí cho các Hội Từ Thiện (Croix Rouge, Unicef, Médecins du Monde, Médecins sans frontières, …) hoặc cho những loài khác như chim, gà, kiến, … Ðối tượng của sự bố thí rất rộng rãi và bao la, quan trọng ở chỗ là ta có muốn bố thí hay không? Nếu muốn thì ta luôn luôn tìm thấy đối tượng, còn không thì ta sẽ chả thấy ai là người đáng cho ta bố thí cả.

* Ta nên bố thí trực tiếp

Lâu lâu nhớ đến Phật, ta mua hoa quả đem vào chùa cúng dường cho Phật. Nhưng khi vào chùa ta không nên đưa hết cho vị Hương đăng mà nói rằng: ‘Này, cô hay chú cúng hộ tôi cho Phật’. Làm như vậy mất cả tình nghĩa của ta đối với Phật. Và hơn nữa là ta sẽ không có cơ hội phát nguyện và hồi hướng công đức của sự bố thí. Như thế thì dù cho ta có mua mấy xe hoa đem vào chùa cúng Phật, cũng chả được phước đức gì cả, nhiều lắm là làm cho chùa thêm vui mắt mà thôi. Ở ngoài đời người ta còn biết nói ‘của ít lòng nhiều’, huống chi ta là con Phật mà lại bố thí ‘của nhiều lòng ít’ hay sao?

8. Kết luận

Ðọc đến đây ta tự hỏi, chỉ có mỗi một việc bố thí thôi mà sao tác giả lại viết ra dài dòng quá vậy? Ta nên thông cảm cho tác giả vì những lý do đã nêu ra ở phần đầu quyển sách. Tác giả bất đắc dĩ phải nói ra dài dòng vì lâu nay ta đã coi thường hạnh bố thí, từ chỗ coi thường ta đi đến chỗ hiểu sai lầm, từ chỗ sai lầm ta đã làm liên lụy đến uy tín Tam Bảo. Trong khi đó thì Bố thí là một hạnh rất quý, là hạnh của các vĩ nhân, của Bồ Tát, của Phật. Tuy nhiên, sau khi đọc xong nếu ta không thể nhớ hết có bao nhiêu loại bố thí, phải bố thí kiểu nào cho đúng thì ta có thể tóm tắt lại đơn giản ba điều : phát nguyện, ý thức, và hồi hướng. Trước khi bố thí ta đứng ngay lại, nhắm mắt phát nguyện, không phải đi đâu mà vội, vì việc bố thí cũng quan trọng như việc tụng Kinh vậy. Phát nguyện xong rồi ta bố thí, trong lúc bố thí ta phải chăm chú cẩn thận xem đối tượng của ta ( người nhận) cũng như một vị Bồ Tát hay một ân nhân vậy. Sau khi bố thí xong ta nhắm mắt lại một phút để hồi hướng công đức bố thí cho sự giải thoát sinh tử, hoặc vãng sanh Cực lạc (nếu ta tu Tịnh Ðộ) hoặc cho quả vị Phật (nếu ta là Bồ Tát).

Việc phát nguyện và hồi hướng rất là quan trọng. Ta hãy để ý xem, cứ sau mỗi thời Kinh ở chùa cũng như bất cứ ở đâu đều có một bài hồi hướng ngắn. Nhưng vì đọc quen quá, giống như ăn cơm bữa nên ta chả cần để ý làm chi cho mệt.

Tóm lại chúng ta cần bố thí nhiều, biết bố thí, tập bố thí trong sạch, vì Bố thí (bao gồm: cho, tặng, biếu, dâng, cúng dường) là một hành động đẹp đẽ nhất mà con người có thể cho con người, và bố thí cũng là nền tảng rất quan trọng mà người hành Bồ Tát đạo không thể thiếu sót được.

Sau cùng, nếu ta gặp những Phật tử mới quy y Tam Bảo chưa biết Bố thí làm sao, thì ta hãy vui lòng hướng dẫn và khuyên nhủ họ, còn nếu ta gặp những Phật tử đã đi chùa lâu năm mà quên, lơ là hay không còn nhớ cách Bố thí đứng đắn thì ta hãy thực hiện Pháp thí bằng cách đưa cho họ xem tập sách này, đó là ta đã góp phần xây dựng lại đạo Phật vậy.

Hắc Vân Lộ, mùa đông năm Ðinh Mão 1988

Thích Trí Siêu

The post Bố Thí Ba La Mật appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo https://bachhac.net/ba-muoi-bay-phap-hanh-bo-tat-dao.html Thu, 12 Aug 2021 09:33:27 +0000 https://bachhac.net/?p=3590 Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát Con đem thân khẩu ý chí tâm đảnh lễ vị đạo sư vô thượng và (thủ hộ chủ) ngài Quán Tự Tại Bồ Tát. Trong khi quán chiếu sự bất lai bất khứ của vạn pháp, ngài chuyên tâm nỗ lực đem lại lợi lạc cho chúng sinh. …

The post Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
37 pháp hành bồ tát đạo

Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát

Con đem thân khẩu ý chí tâm đảnh lễ vị đạo sư vô thượng và (thủ hộ chủ) ngài Quán Tự Tại Bồ Tát. Trong khi quán chiếu sự bất lai bất khứ của vạn pháp, ngài chuyên tâm nỗ lực đem lại lợi lạc cho chúng sinh.

Chư Phật toàn giác, cội nguồn của tất cả an vui hạnh phúc, là nơi phát sanh sự thành tựu các giáo lý tối thắng. Đấy là nhờ do sự hiểu biết các pháp hành đạo, bởi vậy tôi sẽ giảng giải về pháp hành Bồ tát đạo.

1/ Đã được thân người quý hiếm đầy đủ sự tự do và may mắn, vậy hãy chuyên cần lắng nghe, suy tư và thiền quán bất kể ngày đêm để giải thoát cho chính mình và chúng sanh khỏi biển khổ luân hồi – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

2/ Vì quyến luyến người thân, ta bị khuấy động như sóng nước. Vì hận ghét kẻ thù, ta bị thiêu đốt như lửa cháy. Bởi vậy trong bóng tối của sự hỗn độn, ta quên bẳng những gì nên làm và những gì không nên làm. Hãy từ bỏ bản ngã – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

3/ Xa lánh các đối tượng xấu, phiền não sẽ dần giảm thiểu. Gìn giữ không để thất niệm, các pháp thiện sẽ tự nhiên trong sáng, đức tin ở giáo lý sẽ phát khởi. Hãy tu tập thanh tịnh – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

4/ Thân bằng quyến thuộc lâu năm vẫn sẽ phải chia tay. Tài sản tạo dựng bằng mồ hôi nước mắt cũng sẽ phải bỏ lại. Thần thức, khách trọ trong căn nhà thân xác, rồi sẽ phải ra đi. Đừng bám víu vào kiếp sống này – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

5/ Liên hệ với ác tri thức/bạn xấu sẽ làm tam độc gia tăng trong những lúc ta học hỏi, suy tư và tu tập. Họ sẽ làm tâm từ bi của ta thối thất. Hãy tránh xa ác tri thức/bạn xấu – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

6/ Nương cậy nơi đạo sư/thiện tri thức, lỗi lầm của ta sẽ tiêu trừ, và đức hạnh ta sẽ viên mãn (tiến triển như trăng tròn). Hãy quý trọng các vị đạo sư hơn cả thân xác của mình – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

7/ Bị trói buộc trong ngục tù của luân hồi sanh tử, làm sao những vị trời phàm tục có thể mang lại sự hộ trì cho ta được? Bởi vậy có quy y thì hãy quy y nơi Tam Bảo, nơi nương tựa chân thật – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

8/ Đấng Toàn Giác từng nói tất cả những nỗi thống khổ không thể tả trong ba đường ác đều là hậu quả của ác nghiệp. Bởi vậy dù có mất mạng, ta quyết không làm điều ác [gây nghiệp xấu] – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

9/ Nhu giọt sương trên đầu ngọn cỏ, lạc thú trong ba cõi chỉ trong thoáng chốc rồi tan biến. Hãy phấn đấu đạt đến trạng thái tối thượng của giải thoát – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

10/ Khi những bà mẹ từng yêu thương ta từ vô thỉ đang chịu khổ đau, thì hạnh phúc của riêng mình có ích lợi gì? Bởi vậy muốn cứu độ vô lượng chúng sanh phải đào luyện chí hướng vị tha – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

11/ Tất cả khổ đau đều do sự ước muốn hạnh phúc cho bản thân, trong khi chư Phật toàn giác xuất phát từ tâm vị tha. Bởi vậy hãy đánh đổi hạnh phúc của ta lấy sự khổ đau của chúng sanh – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

12/ Mặc dù có kẻ vì lòng tham khôn cùng, thúc đẩy hắn trộm cắp hoặc bảo kẻ khác tước đoạt tài sản của ta, hãy tha thứ/hiến cho hắn thân thể, của cải và công đức ta đã góp nhặt, trong quá khứ, hiện tại và tương lai – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

13/ Mặc dù có kẻ muốn chặt đầu ta trong khi ta không hề làm điều gì sai trái, hãy phát tâm từ bi thọ nhận tất cả tội ác của họ – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

14/ Mặc dù có kẻ tuyên cáo cho cả ngàn thế giới những chuyện xấu xa về ta, hãy lấy tâm từ bi hoàn trả lại bằng cách tuyên dương những đức tính của họ – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

15/ Mặc dù có kẻ phỉ báng chế nhạo ta giữa công cộng trước đám đông, hãy cúi lạy và tôn kính họ, xem họ như một vị đạo sư – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

16/ Mặc dù kẻ mà ta chăm sóc thương yêu như con xem ta như kẻ thù, hãy đối xử với họ như một bà mẹ hiền yêu thương đứa con bệnh hoạn – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

17/ Nếu có kẻ ngang hàng hoặc thấp kém hơn ta, chỉ vì kiêu mạn, lại đi gièm pha ta, hãy đặt họ lên đỉnh đầu với sự tôn kính như ta làm đối với vị bổn sư – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

18/ Mặc dù sống trong nghèo khó và thường xuyên bị khinh miệt, mặc bệnh hiểm nghèo và bị tà ma quấy rối, nhưng ta không chút sờn lòng. Hãy gánh nhận tội ác và khổ đau của chúng sanh – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

19/ Dù ta có nổi tiếng và được mọi người trọng vọng, cũng như giàu có tương đương với Tỳ sa môn thiên vương [vị trời chủ về của cải], hãy nhận rõ sự phù phiếm của danh lợi, chẳng có gì đáng để tự phụ – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

20/ Khi mà sân hận là kẻ thù chính [nội ma] chưa thể khống chế được, thì dù có chinh phục được những kẻ thù bên ngoài, cũng chỉ làm cho chúng [kẻ thù bên trong ta] gia tăng mà thôi. Bởi vậy ta hãy điều phục tâm bằng hai đạo quân Từ và Bi – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

21/ Dục lạc cũng như nước muối, càng uống càng thèm khát. Hãy buông bỏ ngay những gì gây ra tham ái – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

22/ Vạn pháp đều do tâm tạo. Từ khởi thủy, bản tánh tâm không hề bị chấp trước trong các biên kiến [vọng tưởng cực đoan]. Hãy hiểu biết điều này như thế, và đừng để tâm bị lôi cuốn vào vòng nhị nguyên [chủ thể và đối tượng] năng sở đối đãi – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

23/ Khi đối diện với các đối tượng hấp dẫn, dù thấy chúng đẹp đẽ như cầu vồng giữa hạ, hãy biết rằng chúng không có tự tánh và hãy xả bỏ luyến ái chấp thủ – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

24/ Mọi hình thức khổ đau đều như mộng ảo (tựa cái chết của đứa con trong giấc ngủ của bà mẹ). Chấp các huyễn ảnh là thật có sẽ làm nhọc tâm ta. Bởi vậy khi gặp nghịch cảnh, hãy xem chúng như ảo huyễn – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

25/ Kẻ tầm cầu giác ngộ có khi phải xả bỏ cả thân mạng, vậy cần gì phải để ý đến vật chất bên ngoài. Hãy bố thí mà không cầu mong sự đền đáp – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

26/ Nếu không giữ giới, ta không thể gặt hái được thành quả gì, đừng nói chi đến ước muốn làm lợi ích chúng sanh, điều này thật đáng buồn cười. Bởi vậy hãy trì giới mà không có sự mong cầu của thế gian – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

27/ Đối với những vị Bồ tát muốn vun bồi công đức, thì những kẻ làm hại họ lại là những bảo vật quý báu. Bởi vậy hãy tập nhẫn nhục với tâm không hận thù – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

28/ Ngay như hàng Thanh văn và Độc giác, chỉ mong cầu tự giác, cũng gắng công tu tập miên mật như đang khẩn trương dập tắt lửa cháy trên đầu. Bởi vậy nỗ lực tinh tấn để lợi lạc cho chúng sanh là căn nguyên của mọi thiện căn – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

29/ Nên biết rằng các phiền não đều bị tiêu trừ bởi thiền chỉ và thiền quán. Hãy luyện tập chú tâm để siêu việt bốn cõi vô sắc – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

30/ Có năm Ba la mật mà thiếu Trí tuệ ba la mật thì không thể dẫn đến đạo quả. Bởi vậy hãy tập luyện các phương tiện thiện xảo cùng với trí tuệ để khỏi lạc vào ba cõi – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

31/ Nếu không chịu tự quán xét lỗi lầm, tức là ta chỉ mang danh là hành giả mà không có thực hành. Bởi vậy, hãy luôn luôn quán xét và loại trừ lỗi lầm của mình – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

32/ Nếu vì sự thôi thúc của phiền não mà ta vạch lỗi lầm của người khác, thì chính ta tự hại mình. Bởi vậy đừng khơi dậy lỗi lầm của những hành giả khác – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

33/ Danh lợi chỉ gây ra sự tranh chấp, làm cho sự học hỏi, suy tư và tu tập suy thoái. Bởi vậy hãy từ bỏ đừng dính mắc đến thân quyến bạn hữu, những mối tương quan, thí chủ, v.v… – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

34/ Ác khẩu làm xáo động tâm trí kẻ khác và làm hư hoại Bồ tát hạnh. Bởi vậy hãy tránh những lời lẽ khắc nghiệt gây ra sự bất an cho kẻ khác – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

35/ Phiền não khi đã được huân tập thì thật khó ngăn chận bằng các pháp đối trị. Hãy trang bị bằng các vệ binh chánh niệm và tỉnh giác, diệt trừ những phiền não như tham ái – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

36/ Nói tóm lại, bất luận đang làm gì, ta phải tự hỏi “Tâm ta đang ở trạng thái nào?” Hãy luôn giữ chánh niệm và tỉnh giác để lợi lạc cho chúng sanh – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

37/ Giải trừ nỗi thống khổ của vô lượng chúng sanh, thấu suốt sự thuần tịnh của ba cõi. Hãy dùng công đức của những nỗ lực này để hồi hướng đến giác ngộ – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.

************

Tôi đã soạn ba mươi bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo cho tất cả những ai muốn đi trên con đường Bồ tát, theo lời giảng giải ý nghĩa kinh điển, mật điển và luận điển của chư vị tổ sư.

Vì trí tuệ kém cỏi cũng như sự hiểu biết thiếu sót nên lời lẽ tôi không được văn hoa hấp dẫn đối với các học giả, tuy nhiên tôi đã dựa trên kinh điển và lời giáo huấn của các bậc tổ sư nên tôi nghĩ rằng các pháp hành Bồ tát đạo này không có gì sai trái.

Tuy nhiên, đại hạnh của chư vị Bồ tát thật khó lường cho những người tâm trí thô thiển như con. Con cúi xin các ngài lượng thứ cho những khuyết điểm của con, chẳng hạn như sự mâu thuẫn và những ý nghĩa thiếu mạch lạc.

Công đức này nguyện chúng sanh đạt được Bồ đề tâm (chí hướng vị tha, chân đế lẫn tục đế) và nhờ đó sẽ trở thành Bồ tát Quán Tự Tại, vị Bồ tát thoát khỏi hai kiến chấp (chấp thế gian và chấp an lạc xuất thế gian).

Bài này được soạn ra bởi tỳ kheo Thogme, một luận sư về kinh điển và lý giải trong một hang động ở Ngulchu Rinchen để tự lợi và lợi tha.

Đại sư Ngulchu Thogme Zangpo (Vô Trước)

The post Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>