Trung Nguyễn, Author at Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam https://bachhac.net Mon, 07 Feb 2022 01:40:26 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=5.8.4 BẢO TẤT ĐỊA THÀNH PHẬT ĐÀ LA NI KINH https://bachhac.net/bao-tat-dia-thanh-phat-da-la-ni-kinh.html Mon, 07 Feb 2022 01:40:26 +0000 https://bachhac.net/?p=4164 Phạn Hán dịch: Đặc Tiến Thí Hồng Lô Khanh_ Chùa Đại Hưng Thiện, Tam Tạng Sa Môn Đại Quảng Trí BẤT KHÔNG phụng chiếu dịch Phạn Việt dịch: HUYỀN THANH Như vậy tôi nghe. Một thời Đức Bạc Già Phạm ngự dưới cây Thất Bảo Như Ý Thọ Vương ,bên cạnh ao sen trắng trong …

The post BẢO TẤT ĐỊA THÀNH PHẬT ĐÀ LA NI KINH appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Phạn Hán dịch: Đặc Tiến Thí Hồng Lô Khanh_ Chùa Đại Hưng Thiện, Tam Tạng Sa Môn Đại Quảng Trí BẤT KHÔNG phụng chiếu dịch

Phạn Việt dịch: HUYỀN THANH

Như vậy tôi nghe. Một thời Đức Bạc Già Phạm ngự dưới cây Thất Bảo Như Ý Thọ Vương ,bên cạnh ao sen trắng trong vườn Thanh Tịnh tại nước Ma Già Đà cùng với hàng Kim Cương Thủ, các Đại Bồ Tát và vô lượng Chúng Thanh Văn , vô số hằng sa chư Thiên, Long Vương, Dược Xoa, La Sát, Đại Chúng khác loài trước sau vây quanh đều lễ chân Phật rồi lui ra ngồi một bên

Bấy giờ Đức Như Lai trụ Đại Tổng Trì Vương Như Ý Bảo Châu Chuyển Luân Bí Mật Tam Ma Địa , từ trong nhục kế trên đỉnh đầu phóng ra ánh sáng lớn tên là Vũ Bảo Mãn Nguyện Thanh Tịnh Trừ Hữu Tình Nghiệp Chướng Quang Minh. Phóng ánh sáng này chiếu chạm mười phương thảy đều cảnh giác các quốc thổ Phật ở mười phương với chung điện lớn của tám Bộ khiến chấn động sáu cách, khắp nơi tuôn mưa hương hoa vô lượng trân bảo rộng làm Phật sự. Trong ánh Quang Minh hiện ra Thiết Lợi Như Ý Bảo Châu (‘Sarira cintamani: Xá Lợi Như Ý Bảo Châu)để làm sự nghiệp lợi ích rộng lớn

Khi ấy trong Hội có Kim Cương Bí Mật Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát cùng với vô lượng trăm ngàn quyến thuộc Kim Cương Tộc đến dự, từ chỗ ngồi đứng dậy lễ dưới chân Phật, chắp tay cung kính rồi bạch Phật rằng:

“Nguyện xin Đức Thế Tôn dùng Đại Từ Bi thương nhớ Hữu Tình cùng với chúng con mà giải thích sự nghi ngờ này. Ngày nay Đức Như Lai vì nhân duyên gì mà phóng ánh sáng lớn và hiện ra điềm báo biến đổi phi thường ? Vì muốn biết nhân duyên, nguyện xin Đức Thế Tôn diễn nói Pháp Yếu”

Lúc đó Đức Phật bảo Kim Cương Thủ Bồ Tát rằng:”Lành thay ! Lành thay ! Ông, Kim Cương Thủ ! Vì muốn lợi ích cho các Hữu Tình nên tự hỏi Như Lai về Pháp Yếu thâm sâu. Nay Ta diễn nói, các ông hãy lắng nghe”

Thời Kim Cương Thủ lại bạch Phật rằng:”Nguyện xin Đức Như Lai diễn nói Bí Yếu, Chúng con vui nghe”

Như vậy thỉnh ba lần rồi lặng yên mà trụ

Đức Phật bảo Kim Cương Thủ Bồ Tát rằng:”Ta dùng mắt Phật quán sát tất cả các loài Hữu Tình tuy ở trong phiền não uế tại các nẻo nhưng viên ngọc báu của Tâm Tính không có ô nhiễm, đầy đủ Đức Lợi như Ta không khác. Có điều các Hữu Tình chẳng biết nhận khổ, chẳng chứng quả vui, thường đắm chìm trong biển khổ không có kỳ hạn thoát ra. Thế nên Như Lai rời Cõi Tịnh của Kim Cương (Kim Cương Tịnh Giới) mà nhập vào Thế Giới thai tạng uế ác, diễn nói Pháp Yếu lợi lạc Hữu Tình, diệt tội sinh phước, hàng phục Ma Vương, thành tựu thân Phật rồi quay lại trụ ở Niết Bàn, rốt ráo bình đẳng không có nơi nào không đến. Chính vì thế cho nên Như Lai ngày nay trụ vào Như Ý Bảo Châu Vương Tam Ma Địa nói Ấn báu cứu cánh của pháp yếu , nghĩa sâu sa của lý thú bình đẳng thanh tịnh này”

Bấy giờ, khi Đức Như Lai nói Pháp này thời tất cả Đại Chúng chứng được Vô Sinh Thậm Thâm Pháp Nhẫn và chứng Như Ý Bảo Châu Quang Minh Tam Ma Địa ngang hàng với nhau không có vị thứ sai biệt giống như sữa với nước

Lúc đó Kim Cương Thủ Bồ Tát dùng Già Đà (Gàtha:Kệ) khen ngợi rằng:

Lành thay ! Lành thay Đại Đạo Sư !

Phóng quang lợi ích các Hữu Tình Lành thay !

Lành thay Đại Điều Ngự !

Mưa báu lợi ích các Hữu Tình Lành thay !

Lành thay Đại Trưỡng Phu !

Diễn nói bí mật lợi quần sinh Lành thay !

Thế Tôn Đại Sư Tử !

Ăn nuốt tát cả các Ma ác Lành thay !

Thế Tôn Đại Long Vương !

Khởi mây mưa lớn thấm Thế Gian

Nguyện Xin Đại Nhật Biến Chiếu Tôn

Mở bày Bát Nhã vào chữ A (狣)

Khi ấy Kim Cương Thủ Bồ Tát nói Kệ này xong liền ném Kim Cương Ngũ Phong đang cầm trong bàn tay phải vào hư không, (Kim Cương Ngũ Phong này) lại quay về trụ trong bàn tay. (Kim Cương Thủ Bồ Tát) quay về trụ tại tòa ngồi của mình để quán ý của Đức Phật, không hế chớp mắt

Bấy giờ Đức Phật bảo Kim Cương Thủ với Đại Bồ Tát thuộc hàng Hư Không Tạng rằng:”Tất cả Hữu Tình cùng với các Như Lai đều cùng có một Pháp là Pháp Thân Bình Đẳng , không có Thể riêng, cũng không có Tâm riêng, Sự Lý bình đẳng giống như hư không, thường trụ một tướng không có sai biệt. Có điều các Chúng Sinh dính sâu vào Tà Kiến, Nhân Duyên các Pháp , chẳng bỏ vọng niệm khởi tướng phân biệt. Chẳng biết Thiết Lợi (Xá Lợi) bền chắc,vạn Đức quang minh của Như Lai thường trụ trong một Tâm Niệm của Hữu Tình,như hoa sen trắng trong sạch , như mặt trăng tròn đầy…. cho nên thường sinh vào chốn thấp hèn nghèo túng trong sáu nẻo, chẳng gần người Trí, gây tạo nghiệp ác, phiêu lưu sống chết, chẳng được Tất Địa, không có kỳ hạn thoát ra

Chính vì thế cho nên, nay Ta vì độ Hữu Tình ấy mà nói Đại Bảo Đà La Ni tên là Pháp Thân Đà Đô Như Ý Bảo Châu Cam Lộ Dược Vương Kim Cương Tinh Tiến Thường Trụ Chân Như Bảo Vương Đại Ấn . Ắt trong đời Mạt Pháp ở cõi Diêm Phù Đề. Nếu có kẻ trai lành, người nữ thiện Được Thiết Lợi (Xá Lợi)của Phật cho đến một phần phân tán của một hạt, tin nhận thọ trì . Nên biết người này là Thiết Lợi của Phật, chính thựa là con của Phật, tức là Pháp Thân , Thể thường trụ của Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Người này tức gọi là Đại Tỳ Lô Giá Na, cũng gọi là Cứu Thế Đại A Xà Lê vậy. Trì giữ Xá Lợi Phật tụng Chân Ngôn này tức được danh hiệu này tức gọi là Đại Trí Tuệ Thiện Xảo Tát Đỏa

Như có Người, Trời, tất cả Đại Chúng. Nếu trì Chú này, suy tư Phật Tính, lễ kính Xá Lợi thì tiêu diệt được tất cả nhóm : Bốn trọng , năm nghịch, chê bai Pháp…. Tất cả tội nặng một thời tiêu diệt. tất cả cát tường thảy đều thành biện

Nếu có kẻ trai lành cùng với người nữ có tâm tin tưởng dũng mãnh chẳng lười biếng. Tâm nghĩ nhớ Phật Tính, quán sát Lý Thú Tiêu Nghiệp thành Thiện , thường nhớ phúng tụng trì niệm thì Chú Trớ, đoản thọ, oán hại một thời tiêu diệt giống như Kiếp Hỏa thiêu đốt cỏ khô không cò dư sót

Nếu có chúng sinh vì nghiệp tham lam nên sinh vào nhà nghèo túng, nhiều bệnh , yếu gầy, tạo tội chẳng lành đáng bị đọa vào Địa Ngục với các nơi có nạn. Người này sám hối nghiệp ác đời trước, quy y Tam Bảo, kính tin Đà Đô, quy mệnh Bản Giác Bảo Châu Thiết Lợi, liền tạo pương tiện trang nghiêm Đạo Trường, khuyến thỉnh Thân Kim Cương Tạng của các Phật Như Lai ở mười phương. Chẳng bung tán tất cả Thiết Lợi của Toàn Thân, Toái Thân, Hóa Thân … sửa soạn đầy đủ hương hoa ắt được tiêu tội sinh phước. Huống chi y theo Pháp, kết Ấn tụng Chú , quán niệm Tự Tính, Xá Lợi Đại Uy Đức của Như Lai thường trụ trong tâm… thì tất cả Tất Địa liền được thành tựu. Tuy chẳng vào Đại Mạn Đà La Quán Đỉnh Đàn Trường nhưng vẫn được vào Phước Trí Bình Đẳng Tam Muội Gia, nhận được Pháp Môn do chư Phật hứa khả là Pháp Đại Quán Đỉnh bí mật thâm sâu. Tức thời chứng được Phật Tính Trí Hải Đại Long Vương Ấn

Lại bảo Kim Cương Thủ rằng:” Trong đời vị lai, ở cõi Nam Diêm Phù Đề , hết thảy người ác cực nặng cùng với thú ác (ác súc) vào lúc lâm chung thời gặp được bậc Đại Độ Lượng Tâm Trí Thượng Tuệ, Cụ Đại Từ Bi Cứu Thế Đại Trí Bồ Tát, Cứu Thế Đại Trí Tôn Giả gấp lấy đất ở dưới Tháp, điện đường tại nơi có để Thiết Lợi, múc lấy nước sạch tẩy rửa đất sạch ấy rồi rưới vào trong miệng của đẳng loại người ác đó và rưới trên đỉnh đầu . Khi người ác đó sắp chết thời đều ngưng dứt não loạn , khéo trụ chính niệm, dần sinh Tàm Quý (hổ trẽn) , vứt bỏ sinh tử, phát ý vãng sinh sẽ được vãng sinh, mau chứng địa vị của Pháp Thân

Nếu có Tỳ Khưu với bốn chúng đệ tử vào thời Mạt Pháp khi Pháp muốn diệt thời tất cả Hữu Tình muốn được thành tựu Pháp Đại Tất Địa nên y theo Pháp Yếu tạo làm Tháp Bà (Stùpa: Tháp để Xá Lợi Phật) với lượng lớn nhỏ tùy theo sức mà làm như: vàng, bạc, thủy tinh với đất, gỗ rồi an trí Phật Cốt. Nếu người bạc phước chẳng được Thiết Lợi thì dùng vàng, bạc , đồng, thiết, Ma Ni, báu vật của biển, Ngưu Vương, Lộc Vương, chân châu, mã não , linh thạch (đá linh thiêng), Kỳ Mộc (cây kỳ lạ) bằng với hạt cải… hiệu là Đà Đô (Dhàtu:Giới) an trí trong Tháp Bà, rương hòm báu với số lượng là: sáu hạt cho đến bảy hạt là số cao nhất (tối thượng) . nếu chỉ có một hạt thì là số thấp nhất (tối hạ). Xong lễ bái cúng dường ắt mau chóng có mưa bảy báu như cơn mưa tuôn xuống đầy dẫy. Một thời viên mãn bốn loại Đại Pháp, ba loại Tất Địa

Này Thiện Nam Tử ! Các ông nên biết Thiết Lợi của Như Lai tức là Vô Thượng, Thế Gian khó có. Các hàng Bồ Tát cũng khó gặp thẳng huống chi là các loại phàm phu của Thế Gian

Thiết Lợi Phật này tức là Vô Tướng Ma Ni, tức là Chân Tính Như Ý Bảo Châu, tức là Bí Mật Đại Tinh Tiến vậy. Hết thảy vật báu trang nghiêm của các cõi Phật ở mười phương như: Phướng phan Như Ý, Ma Ni, Anh Lạc. rèm châu, giường ngọc, chân châu, lọng trời, bình phong bảy báu, ngoạ cụ đủ màu sắc… Trân bảo tối thắng của nhóm loại vật màu nhiệm như vậy cũng chẳng thể so sánh giá trị (với Thiết Lợi Phật) được , cũng lại không có vật nào có thể xứng đáng chứa đựng (Thiết Lợi Phật) được. Chính vì thế cho nên trong Kinh nói dùng vật tròn trịa mới có thể an trí Thiết Lợi

Như hình Tâm của ông. Như hình Tâm của Phật. Tâm của ông và Tâm của Phật cùng trợ nhau an trí Thể của ông và Thể của Phật cùng trợ nhau sáng rực. Xong, Tướng trợ sáng Tính tức chẳng phải là hai Thân Phật. Thiết Lợi có thể trì giữ như vậy. Cũng có thể an trí trong Tháp Ngũ Luân, cũng có thể an trí trong Tháp Đa Bảo, cũng có thể an trí trong Tháp Tam Cổ, cũng có thể an trí trong Tháp Ngũ Cổ, cũng có thể an trí trong Tháp Độc Cổ. Giống như trước đặt vật trợ nhau sáng rực, chẳng khác gì chứng địa vị bình đẳng

Nếu nhóm bốn Bộ Chúng: Tỳ Khưu , Tỳ Khưu Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di được thọ trì Thiết Lợi của Phật cho đến một phần phân tán của một hạt mà thường hành cung kính, thường đeo mang thì nơi người này đi đến đều thành Kim Cương Giới Đại Mạn Đồ La .Tất cả vật gần gũi đều thành Thể của bốn loại Pháp Thân.

Hoặc gần người nam, hoặc gần người nữ, hoặc gần loài bò, hoặc gần loài ngựa, hoặc gần loài chóm hoặc gần loài mèo, hoặc gần tất cả loài chim bay thú chạy, sâu trùng, nhện, súc sinh… các loại hữu tình đều khiến cho đời này nhập vào Bồ Đề Sơ Môn, khiến đắc được Sơ Vị của Bồ Tát

Bấy giờ Đức Thế Tôn liền nói Đà Đô Căn Bản Đà La Ni là: 湡 屹楠 凹卡丫凹 珈鉲她 四加 觜治仗 屹楠 凹卡丫仟 屹四加 合禾帆出囚泏包 切 嫟 圳 趌 嫟 嫟 送扣

Án (1) tát phộc đát tha nghiệt đa ổ sắt-nê sa (2) đà đô mẫu đà-la nê (3) tát phộc đát tha nghiệt đan (4) sa đà đổ vĩ bổ tất đa (5) địa sắt trí để (6) nhược hồng noan hôc (7) hồng hồng (8) sa-bà ha (9)

Đức Phật bảo Kim Cương Dược Xoa Bồ Tát rằng:”Nếu có Hữu Tình muốn thấy chư Phật, Đại Bồ Tát ở mười phương, muốn cầu Tất Địa tối thắng thì đối trước Tháp Thiết Lợi kết Như Lai Đại Bát Ấn, có thể tụng Chân Ngôn hai vạn ba ngàn lần (23000 lần) ắt được thấy toàn thân thường trụ của Ta, quyết định thành tựu tất cả Tất Địa , chẳng nên khởi chút nghi ngờ.

Tướng của Ấn ấy là: Hai Luân (2 bàn tay) trùng nhau, đem tay phải an trên lòng bàn tay trái, hai Không (2 ngón cái) cùng dính đầu ngón. Đây gọi là Pháp Thân Đại Bát Ấn cũng có tên là Bảo Khiếp Kim Cương Ấn

Lại nữa, có Thần Chú tên là Như Ý Bảo Châu Mãn Nguyện Tâm Đà La Ni hay thành tất cả sự nghiệp, tất cả sở niệm trong Tâm không có gì không thành tựu, chỉ trừ kẻ chẳng có chí tâm, chẳng có niềm tin khinh che Pháp yếu. Liền nói Chú là:

湡 才阢亙仗 先寒 向丁份巧 巧伕 在凸 一先 嫟 嫟 送扣

Án, chấn đa ma nê, a la đát na, phộc chỉ duệ na. Na mô phiến để ca la, hồng hồng, sa bà ha

Nếu có người tụng Chân Ngôn này hai lần, ba lần cho đến bảy lần thời diệt tất cả tôi, sinh tất cả Phước. Ngày ngày thường tụng 21 lần ắt được Thiết lợi chân thân của chư Phật, Thiết Lợi của bảy Phật Đỉnh Luân Vương mà Đại Hải Long Vương thâu cất, Thần Biến Bảo Châu đều hay thành tựu Tất Địa Vô Thượng

Lại có Thần Chú tên là Bí Mật Chân Tính Như Ý Châu Ấn . Nếu người hay trì tụng thì mau được tiêu diệt nghiệp chướng từ vô thủy, chẳng cầu tự được vô lượng Phước Trí, hàng phục Ma Oán tức thoát sinh tử. Tất cả Tất Địa không có gì không thành tựu

Tướng của Ấn ấy là: Hai tay kết Bảo Liên Hợp Chưởng, hai ngón trỏ như hình báu, kèm dựng hai ngón cái. Đây gọi là Chân Tính Ma Ni Bảo Ấn, cũng có tên là Đại Tinh Tiến Như Lai Đỉnh Châu Ấn . Liền nói Thần Chú là:

湡 合阢亙仗 四加 嫟 送扣

Án, chấn đa ma ni đà đô hồng, sa bà ha

Mỗi ngày tụng trì 108 lần thảy đều viên mãn Tất Địa của năm Bộ và Báu Như Ý của ba Bộ

Lại có Thần Chú tên là Năng Mãn Sở Nguyện Đại Mãn Hư Không Tạng Bảo. Nếu có người hay trì thì mau được viên mãn tất cả ý nguyện

Tướng của Ấn ấy là: Hai Luân (2 bàn tay) kết Ngoại Phộc, hai ngón trỏ như hình báu, kèm dựng hai ngón cái. Liền nói Chú là:

湡 后盍 在共先 向忝 先寒 湡 切 嫟 圳 趌

Án, mô đà thiết lợi la, phộc nhật la, la đát nẵng, án, nhược, hồng, noan, hộc

Nếu được Thiết Lợi của Phật, chẳng kể tịnh uế, tùy thân cúng dường, chẳng lìa khoảng giữa của ức ngực với Ha Lật Đa Diệu Liên Hoa (? trái tim), thường nhớ Đức của Phật thì thân đời này chứng được thân Thanh Tịnh trụ Kim Cương Đỉnh. Người này có tên gọi là Trì Phật Thân Giả, Trì Kim Cương Giả, Trì Bảo Pháp Giả, là Đại Bồ Tát Ma Ha Tát

Đức Phật lại bảo rằng:”Thiện Nam Tử Đẳng ! Giả sử Thế Gian có Ngu Đồng Hữu Tình, Ngu Phu Hữu Tình, Ngu Hoặc Hữu Tình ,Người già nua, phụ nữ, kẻ ngu si, Tăng, Ni. Hữu Tình như vậy được Thiết Lợi của Phật cho đến một phần chia tán của một hạt cùng với vật chứ đựng Thiết Lợi rồi đeo ở trên thân chẳng kể ngày đêm, hoặc tịnh hoặc bất tịnh, hoặc tiếp chạm hoặc chẳng tiếp chạm, chẳng lìa thân ấy thường có thể đeo mang thời Công Đức đạt được không có số lượng tính đếm được

Hoặc trên đỉnh đầu, hoặc trên cổ, hoặc ở trước trái tim,hoặc phía sau lưng,hoặc hai hông sườn,hoặc ở eo lưng mà đeo Thiết Lợi . Ví như Sừng Tê Giác của Thế Gian nếu có người đeo nó thời tách lìa nước được sáu Xích (6 thước Tàu). Người đeo Thiết Lợi cũng lại như vậy, xa lìa tất cả nghiệp tội. Chẳng thể nhiễm dính nghiệp ác, nẻo ác. Dần sinh căn lành, dần lìa ác chướng. Người Thiện tự đến gặp, người ác tự bỏ đi. Sự nghiệp đã làm đều đồng với Hạnh của Đức Phật, đồng với Thích Ca Mâu Ni Như Lai cho nên thân đó tức là Thế Gian Ứng Hóa , tức là Thanh Tịnh Pháp Thân Đại Tỳ Lô Giá Na Phật. Người ấy ắt nhập vào địa vị của Đại Niết Bàn, ở trong thân đời này chứng được ngọn Đại Tinh Tiến của Pháp Thân vô tướng

Chính vì thế nên biết 12 Đại Thiên, hàng Kim Cương Thiên, tất cả Linh Kỳ (thần đất) thường sẽ ủng hộ, tọ mệnh lâu dài nhìn thấy trăm mùa Thu. Khi sắp chết quyết định sinh lên Cung Trời Đô Sử Đa (Tusta: Đâu Suất Đà Thiên) vui thích nghe Pháp. Tức tùy theo chí nguyện cũng được vãnh sinh mười phương Tịnh Độ, thấy Phật nghe Pháp, chứng Địa Bất Thoái

Nếu có chúng sinh tức thân thành Phật muốn độ Hữu Tình. Kết Hữu Tình Dữ Phật Bình Đẳng Nhất Tướng Diệu Trí Đại Ấn . Hai tay trái phải nắm Quyền, dựng Tả Phong Chỉ (ngón trỏ trái) an trên trái tim. Ấn này cũng có tên là Diệt Vô Minh Hắc Ám Ấn. Do Ấn này gia trì cho nên Hữu Tình và Phật có một tướng bình đẳng. Đây tức là Pháp Thân Thiết Lợi Diệu Trí Đại Ấn , cũng có tên là Như Ý Bảo Châu Vương Thành Biện Nhất Thiết Đại Tất Địa Ấn

Cũng có Đại Đà La Ni tên là Kim Luân Vương Nhất Tự Đà Đô Minh . Liền nói Chú là:

Mẫu-Lỗ-án

Thiện Nam Tử Đẳng ! Chú này tức là Thiết Lợi Bảo Châu Bí Mật Thần Chú. Lại người trì tụng ẩn mật Chú này. Đừng khinh xuất diễn nói trong đám người không có Trí. Nếu thấy kẻ có Pháp Khí thì nên nói Pháp Bí Mật tối thượng thừa này đừng để cho đoạn tuyệt, đều được thành tựu lợi ích Thế Gian. Đều được thành biện: Kim Cương Bất Hoại Đà Đô Pháp Thân, tất cả Tất Địa

Hoặc có Đại A Xà Lê hưng Phật Thừa, hoặc có Đại Lượng Bồ Tát hưng Phật Tích, hoặc có bậc Đại Trí Tuệ cứu đời… có thể cùng với Thiết Lợi của Phật ngày đêm lễ kính, phát Nguyện vô thượng, tuôn mưa tất cả trân bảo diệu tài, rộng lợi tất cả Hữu Tình trong Pháp Giới. Từ chỗ trụ của Ta , trân bảo tài vật sinh ra từ Thiết Lợi của Phật, hiện mạnh mẽ khiến cho sung mãn dần dần tràn khắp Pháp Giới. Dùng Bảo tài này hưng long Phật Pháp, hưng vượng Phật Tích. Tiếp nên lợi nhuận Hữu Tình có duyên dần đến kẻ không duyên khiến cho họ cột buôc sợi dây Từ Bi đến Pháp Giới Kim Cương Bảo Trường

Bấy giờ Đức Thế Tôn nói Pháp này thời mười phương tất cả chân thân, hóa thân, Thiết Lợi của Như Lai, Bồ Tát Ma Ha Tát.Mười phương Phật Sát, Kim Cương Tát Đỏa, Bồ Tát Ma Ha Tát, Kim Cương Vương, Kim Cương Ái Bồ Tát…. Tất cả quyến thuộc của Kim Cương Tộc, Dạ Xoa Đại Tướng, các chúng Phẫn Nộ. Mạn Thù Sư Lợi, Quán Tự Tại, Hư Không Tạng, Bảo Tích, Bảo Tràng… các Đại Bồ Tát. Liên Hoa Nhãn, các Đại Sĩ của hàng Liên Hoa Tộc, Phạm Thích Hộ Thế, mười hai Đại Thiên , Trì Minh Luân Tiên, Ma Vương, Nhân Vương, Đại Hải Chủ Sa Kiệt La Long Vương, Vô Nhiệt Não Trì Long Vương, Thiện Như Long Vương Nữ…. tất cả Đại Chúng nghe trì Bí Pháp đều rất vui vẻ, tin nhận phụng hành

BẢO TẤT ĐỊA THÀNH PHẬT ĐÀ LA NI KINH (Hết)

18/03/2007

The post BẢO TẤT ĐỊA THÀNH PHẬT ĐÀ LA NI KINH appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Chùa Nam Hải – Dưới Chân Đèo Hải Vân – Đà Nẵng https://bachhac.net/chua-nam-hai-da-nang.html Fri, 04 Feb 2022 15:03:15 +0000 https://bachhac.net/?p=4129 Mình có dịp được viếng chùa Nam Hải vào dịp tết Nhâm Dần 2022, chia sẻ lại cùng quý đọc giả một ngôi chùa khá đẹp ở Dưới Chân Đèo Hải Vân về phía Đà Nẵng Chùa Nam Hải được thành lập năm 1968. Do Hòa thượng Thích Viên Minh khai sơn. Sau nhiều biến …

The post Chùa Nam Hải – Dưới Chân Đèo Hải Vân – Đà Nẵng appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Mình có dịp được viếng chùa Nam Hải vào dịp tết Nhâm Dần 2022, chia sẻ lại cùng quý đọc giả một ngôi chùa khá đẹp ở Dưới Chân Đèo Hải Vân về phía Đà Nẵng

Chùa Nam Hải được thành lập năm 1968. Do Hòa thượng Thích Viên Minh khai sơn. Sau nhiều biến động của thời gian khuôn viên chùa có nhiều hư hỏng nên chùa đã được trùng tu dần từ năm 1992 – 2003.

Sau nhiều lần tôn tạo sửa chữa hiện tại chùa được nhiều du khách đánh già là một ngôi chùa có lối kiến trúc đẹp hoành tráng với mái ngói đỏ, thiết kế vườn tược thoáng đãng rộng rãi tạo được không khí an lành thanh tịnh, mang đậm hơi hướng phật giáo Việt Nam

Ngôi chùa này cũng là ngôi chùa đã có vinh hạnh đón tiếp tượng phật ngọc vì hòa bình lớn nhất thế giới đến và trưng bày trong một khoảng thời gian

Ngày 29-4-Bính Thân (4-6-2016), chùa Nam Hải đã trang nghiêm tổ chức lễ khai mạc triển lãm – an vị tôn tượng Phật ngọc hòa bình thế giới

Hiện Nay Hòa Thượng Thích Viên Minh trụ trì.

Tọa lạc tại : Hoà Hiệp Bắc, Liên Chiểu, Tp. Đà Nẵng

Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng

Chùa có hồ cá Koi rất là đẹp luôn

Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng Chùa Nam Hải Đà Nẵng

The post Chùa Nam Hải – Dưới Chân Đèo Hải Vân – Đà Nẵng appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Văn Tế Thập Loại Cô Hồn – Nguyễn Du https://bachhac.net/van-te-thap-loai-co-hon-nguyen-du.html Wed, 26 Jan 2022 01:43:50 +0000 https://bachhac.net/?p=4124 Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt, Toát hơi may lạnh buốt xương khô Não người thay buổi chiều thu, Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng… Đường bạch dương bóng chiều man mác, Dịp đường lê lác đác mưa sa Lòng nào lòng chẳng thiết tha Cõi dương còn thế nữa là cõi …

The post Văn Tế Thập Loại Cô Hồn – Nguyễn Du appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,
Toát hơi may lạnh buốt xương khô
Não người thay buổi chiều thu,
Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng…
Đường bạch dương bóng chiều man mác,
Dịp đường lê lác đác mưa sa
Lòng nào lòng chẳng thiết tha
Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.

Trong trường dạ tối tăm trời đất,
Có khôn thiêng phảng phất u minh…
Thương thay thập loại chúng sinh
Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người
Hương lửa đã không nơi nương tựa
Hồn mồ côi lần lữa bấy niên…
Còn chi ai khá ai hèn
Còn chi mà nói ai hèn ai ngu! 

Tiết đầu thu lập đàn giải thoát
Nước tĩnh đàn sái hạt dương chi
Muôn nhờ đức Phật từ bi
Giải oan cứu khổ độ về Tây phương.

Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh
Chí những lăm cất gámh non sông
Nói chi những buổi tranh hùng
Tưởngn khi thế khuất vận cùng mà đau!
Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở
Khôn đem mình làm đứa thất phu
Giàu sang càng nặng oán thù
Máu tươi lai láng xương khô rụng rời
Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,
Quỷ không đầu đứng khóc đêm mưa
Cho hay thành bại là cơ
Mà cô hồn biết bao giờ cho tan.

Cũng có kẻ màn lan trướng huệ
Những cậy mình cung quế Hằng Nga,
Một phen thay đổi sơn hà,
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?
Trên lầu cao dưới dòng nườc chảy
Phận đã đành trâm gãy bình rơi
Khi sao đông đúc vui cười
Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.
Đau đớn nhẽ không hương không khói
Hồn ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.
Thương thay chân yếu tay mềm
Càng năm càng héo một đêm một dài.

Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,
Ngọn bút son thác sống ở tay
Kinh luân găm một túi đầy
Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.
Thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm,
Trăm loài ma mồ nấm chung quanh
Ngàn vàn khôn đổi được mình
Lầu ca viện hát tan tành còn đâu?
Kẻ thân thích vắng sau vắng trước
Biết lấy ai bát nước nén nhang?
Cô hồn thất thểu dọc ngang
Nặng oan khôn nhẻ tìm đường hóa sinh?

Kìa những kẻ bài binh bố trận
Đổi mình vào cướp ấn nguyên nhung
Gió mưa sấm sét đùng đùng
Phơi thây trăm họ nên công một người.
Khi thất thế tên rơi đạn lạc
Bãi sa trường thịt nát máu rơi
Mênh mông góc bể chân trời
Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào?
Trời thăm thẳm mưa gào gió thét
Khí âm huyền mờ mịt trước sau
Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,
Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

Cũng có kẻ tính đường trí phú
Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn
Ruột rà khôngkẻ chí thân
Dẫu làm nên để dành phần cho ai?
Khi nằm xuống không người nhắn nhủ
Của phù vân dẫu có như không
Sống thời tiền chảy bạc ròng
Thác không đem được một đồng nào đi.
Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm
Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm
Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm
Nén hương giọt nước biết tìm vào đâu?

Cũng có kẻ rắp cầu chữ quý
Dẫn mình vào thành thị lân la
Mấy thu lìa cửa lìa nhà
Văn chương đã chắc đâu mà trí thân.
Dọc hàng qúan gặp tuần mưa nắng
Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng
Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng
Anh em thiên hạ, láng giềng người dưng
Bóng phần tử xa chừng hương khúc
Bãi tha ma kẻ dọc người ngang
Cô hồn nhờ gửi tha phương
Gió trăng hiu hắt lửa huơng lạnh lùng.

Cũng có kẻ vào sông ra bể,
Cánh buồm mây chạy xế gió đông
Gặp cơn giông tố giữa dòng
Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê.

Cũng có kẻ đi về buôn bán
Đòn gánh tre chín dạn hai vai
Gặp cơn mưa nắng giữa trời
Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

Cũng có kẻ mắc vào khóa lính
Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan
Nước khe cơm vắt gian nan
Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời
Buổi chiến trận mạng người như rác
Phận đã đành đạn lạc tên rơi
Lập lòe ngọn lửa ma trơi
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!

Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp
Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa
Ngẩn ngơ khi trở về già
Ai chồng con tá biết là cậy ai?
Sống đã chịu một đời phiền não
Thác lại nhờ hớp cháo lá đạ
Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất
Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi
Thương thay cũng một kiếp người
Sống nhờ hàng xứ chết vùi đường quan.

Cũng có kẻ mắc oan tù rạc
Gửi mình vào chiếu rách một manh
Nắm xương chôn rấp góc thành
Kiếp nào cỡi được oan tình ấy đi?

Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé
Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha
Lấy ai bồng bế xót xa
U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối
Cũng có người sẩy cối sa cây
Có người leo giếng đứt dây
Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.
Người thì mắc sơn tinh thủy quái
Người thì sa nanh sói ngà voi
Có người hay đẻ không nuôi
Có người sa sẩy có người khốn thương.
Gặp phải lúc đi đường lỡ bước
Cầu Nại Hà kẻ trước người sau
Mỗi người một nghiệp khác nhau
Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi
Hoặc là nương ngọn suối chân mây
Hoặc là điếm cỏ bóng cây
Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ
Hoặc là nương thần từ Phật tự
Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông
Hoặc là trong quãng đồng không
Hoặc nơi gò đống hoặc vùng lau tre

Sống đã chịu một bề thảm thiết
Ruột héo khô dạ rét căm căm
Dãi dầu trong mấy mươi năm
Thở than dưới đất ăn nằm trên sương
Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn
Tắt mặt trời lẩn thẩn tìm ra
Lôi thôi bồng trẻ dắt già
Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.
Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ
Phóng hào quang cứu khổ độ u
Rắp hòa tứ hải quần chu
Não phiền trút sạch oán thù rửa không.
Nhờ đức Phật thần thông quảng đại
Chuyển pháp luân tam giới thập phương
Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương
Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.
Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh
Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao
Mười loài là những loài nào?
Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.
Kiếp phù sinh như hình như ảnh
Có chữ rằng:”Vạn cảnh giai không”
Ai ơi lấy Phật làm lòng
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.
Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo
Của có khi bát cháo nén nhang
Gọi là manh áo thoi vàng
Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.
Ai đến đây dưới trên ngồi lại
Của làm duyên chớ ngại bao nhiêụ
Phép thiên biến ít thành nhiều
Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sanh.
Phật hữu tình từ bi phổ độ
Chớ ngại rằng có có không không.
Nam mô chư Phật, Pháp, Tăng
Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài!

The post Văn Tế Thập Loại Cô Hồn – Nguyễn Du appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
NGƯỜI VỀ TÌM DẤU CHÂN XƯA – Thơ Tuệ Minh https://bachhac.net/nguoi-ve-tim-dau-chan-xua-tho-tue-minh.html Wed, 26 Jan 2022 01:42:48 +0000 https://bachhac.net/?p=4122 Lời nói đầu Thơ, tự thân chẳng bao giờ muốn lý luận, bởi nó chỉ toát ra bằng sự cảm xúc sâu xa của tâm hồn, đôi khi là viên ngọc, có lúc là một hạt sương, một chiếc lá bay, một làn mây, một hạt cát, một dòng nước trong xanh mang theo cả …

The post NGƯỜI VỀ TÌM DẤU CHÂN XƯA – Thơ Tuệ Minh appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Lời nói đầu

Thơ, tự thân chẳng bao giờ muốn lý luận, bởi nó chỉ toát ra bằng sự cảm xúc sâu xa của tâm hồn, đôi khi là viên ngọc, có lúc là một hạt sương, một chiếc lá bay, một làn mây, một hạt cát, một dòng nước trong xanh mang theo cả tiếng chim hay những âm thanh kỳ ảo, diệu vợi v.v… Cũng có lúc là một sự quặn thắt của một đắng chát, lại có lúc thật ý vị mặn mà, có khi ngọt lịm, vì chính nó đã hít thở và chung đụng với sự sống thật của con người chưa thoát ngoài định luật vô thường … Rồi có lúc nó buông xả nhẹ nhàng đến không còn gì, nên lắm lúc tự nó bay bổng sâu hút, mất cả không gian và thời gian. Nói cho trọn vẹn thì thơ là một sự giao cảm giữa thiên nhiên và sự sống.

Để tri âm mối giao cảm ấy, mỗi dòng thơ trong tập Người Về Tìm Dấu Chân Xưa này cũng đã được trình tự ghi lại theo sự cảm xúc nào đó để cúng hiến đến quý bạn đọc.

Xin chân thành cảm niệm sâu xa đối với tất cả quý vị đã, cũng như chưa đồng cảm với tác giả vậy. Đặc biệt, xin tri ân tất cả các thân hữu, ân nhân đã giúp đỡ, ủng hộ, và khuyến khích để tác phẩm Người Về Tìm Dấu Chân Xưa đủ duyên chào đời.

Cẩn bút, Jan 22, 2007

Hoa Điệp

 

Chùm hoa điệp
mong manh màu hồng nhạt
Như tơ trời
vẻ man dại mênh mông
Lúc mây tan,
để lộ khoảng trời không
Bên hồ ngọc,
điệp vươn cành tươi mát

Tợ hoa phượng,
điệp đôi khi bàng bạc
Vẫn trải màu giữa cuối hạ,
nắng vương
Điệp nở hoa thêm duyên dáng cho vườn
Không sặc sở,
chỉ phấn hương
dung dị

Dáng cao thon, tỏa ra chiều sang quí
Nghĩa của điệp mang ý vị an vui
Bức thông điệp gởi đi cho mọi người
Sống an lạc, chết rồi cùng an lạc

 

Người về tìm dấu chân xưa

Gót lãng quên giữa nẻo đường vô định
Người về đâu khi giá lạnh hoang vu!
Chợt nhận ra như dấu vết chân trâu
Bước dọ dẫm từng bước đầu đi tới

Gót chân xưa, bước đường xa vời vợi
Đạp chông gai, vấp đá cuội vẫn đi
Dưới mưa sa, trong bảo tố dầm dề
Người vững bước, vẫn chưa hề lay chuyển

Bóng trâu xưa, ngày kia thấp thoáng hiện
Rồi ẩn tàng trong khắc niệm trôi qua
Thả dây thừng, người xỏ mũi trâu già
Lúc vung vẩy, khi lân la kề cận

Núi lạ núi, sông lạ sông, địa chấn
Bước như bay, bước lẩn thẩn ven trời
Dừng một niệm, vàn ý tưởng rụng rơi
Giữa trăng khuya trâu với người thuần thục

Bình minh lên, nắng tươi màu hàng trúc
Vẫn trời cao vẫn chất ngất trời cao
Vẫn núi xanh, vẫn sông nước dạt dào
Chim dậy hót bên mai đào trúc biếc

Cưỡi trâu về giữa hương trời thâm thiết
Giữa đồng xanh, mây quyện với phấn thông
Nghe trúc lay bên dạng ánh trời hồng
Hoa xuân ngát và vạn xuân tươi mát ….

Dã Tràng

Một buổi chiều biển xanh trời nắng nhạt
Chú dã tràng mê xe cát mãi xe
Gió thoảng nhẹ cuối xuân đợi chớm hè
Từng lượn sóng trải loang, xòe trên cát

Chú dã tràng cố vốc lên từng hạt
Như bọt nước, khi sóng bạc vỡ tan
Dã tràng xe, quên nốt cả thời gian
Vùi thân xác trong ngày tàn cuối hạ

Khoảng không gian, khoảng thu tàn nghiệt ngã
Rồi đến đông, xuân-hạ tiếp thu-đông
Mười thanh kiếm dã tràng đã cố công
Lúc tàn hơi vẫn tay không cát phẳng

Vẫn còn đây, vẫn bầu trời yên ắng
Vẫn giao mùa với lúc nắng, lúc mưa
Công dã tràng trên bãi cát mùa xưa
Về đâu nhỉ? chiều gió đưa mây lãng

 

Đừng níu kéo

 

Hãy cho đi
và hãy đừng mong được
Những gì không
những gì có trên đời
Đứng trên sông
nhìn xuyên vào lòng nước
Nước mênh mông
rồi có lúc cạn vơi

Thế đấy bạn
bạn và tôi cũng thế
Vẫn cạn đầy
trong trôi nổi
bể dâu
Có bao giờ
ta nhìn suốt chiều sâu
Nước chảy đi thật nhiệm mầu không nhỉ?
Dùng mắt trí
để nhìn xa vạn lý
Dùng tâm từ
để cảm thấu tâm tư
Rồi sẽ thấy
chẳng có thật
chẳng hư
Mọi lý giải vẫn chỉ là tương đối

Cả thiên hà vẫn chưa hề ly bội
Chính là ta trong hạt cát trần sa
Và cũng là trong biển nước bao la
Cứ tuôn chảy, chảy hòa vào vô thức

 

Tịch diệu

 

Ta cố nắm chiều cao giữa trời rộng
Khi vô tình ôm lấy khoảng không gian
Vạt áo thưa vẫn chải gió đêm trường
Chỉ đọng lại một màn sương ảo ảnh

Ta đứng đó trong không gian buốt lạnh
Trong ngàn sương của tĩnh mịch im hơi
Trong thiết tha, trong sinh tử cuộc đời
Thành chấn động không lời lên vang dội

Khoảng lân hư ta làm vòng tay nối
Muốn dài ra đến thế giới ba ngàn
Nhưng vòng tay mang ý tưởng khô khan
Đã lịm tắt vào cung đàn tê dại

Chiếc thơ ngây ta cố tình giữ lại
Để buồng tim, lá phổi mãi thơ ngây
Biết cuộc đời vấp ngã đã đong đầy
Ta vẫn muốn một vòng tay trống trải

Ta bước đi không chùn chân sợ hãi
Đến làn hơi, đến vạt nắng mờ phai
Ở khoảng không in đậm dấu gót hài
Thành âm hưởng của chiều dài vô tận

Để nhịp tim là độ rung địa chấn
Tâm hồn là hương phấn của loài hoa
Và mắt thơ là ánh sáng trăng ngà
Từng hơi thở là sát na biến dị

Mỗi âm thanh là một viên ngọc quí
Vì chẳng còn nguyên lý để lường cân
Không sát na, không hơi thở hư lân
Không tất cả vì chưa từng, chưa có

Khoảng không kia và đôi tay còn đó
Ta rớt vào trong lặng lẽ vô ngôn
Rớt sâu vào trong tịch diệu càn khôn
Đồng hòa nhịp một tâm hồn đại thể

 

Trái hồn nhiên

 

Dòng sông xanh đôi bời hoa phượng đỏ
Nắng trưa hè, con đò nhỏ lửng lơ
Dưới rặng cây vang tiếng hát trẻ thơ
Khung cảnh đó bây giờ còn sống động

Tuổi học trò đã uống đầy thơ mộng
Uống sương mơ cho sức sống long lanh
Lại nhẹ nhàng như bụi phấn thông xanh
Thơm và dịu, thêm trong lành ý sống

Và mỗi chiều hương tình theo gió lộng
Mang an vui trải rộng đến muôn nơi
Vẫn còn đây, son trẻ tuổi thơ ơi
Tóc gần bạc nhưng hồn tôi vẫn trẻ

Còn trong tôi dù trái tim nhỏ bé
Chứa yêu thương không ngần mé, vô biên
Chứa trong tim cả vũ trụ chân nguyên
Con tim ấy, tim hồn nhiên thơ mộng

 

Vỗ bóng thời gian

Đôi tay vuốt chỉ cuộn thời gian
Nối tóc gò lưng tạo nức thang
Chắn núi, bè sông, cừ vũ bão
Sương giăng mạng nhện vỗ tình tang

Sợi vắt đầu xuân, sợi vắt thu
Chia đôi hai sợi nối sương mù
Cuộn trong ốc đảo quên ngày tháng
Khuyết mặt chùng không, khúc nhạc ru

Thả nốt thời gian xả cụm đời
Từng lời từng tiếng thả buông lơi
Giữa tuần đầy đặn, hạ tuần khuyết
Muôn kiếp vòng trăng đã thế rồi

Buông phút, buông giây, sống thảnh thơi
Bỏ dòng tâm tưởng, bỏ con người
Trung tuần cũng thế, hạ cũng thế
Thể tánh chân như mãi rạng ngời

 

Minh triết sống

 

Thuở thiếu thời tôi thường ngồi đếm cát
Suốt canh giờ cũng cát bụi thế thôi
Mẹ bảo tôi, sao con quá nghịch đời
Tôi thưa mẹ, mẹ ơi! đời đã nghịch

Này con ạ! đừng thốt lời diễn thích
Thiên hạ cười triết lý khích của con
Mẹ mong con giữ đạo nghĩa cho tròn
Mới xứng đáng là người con của mẹ

Mai, ví dầu lắm chuyện đời xâu xé
Sống làm trai, giữ đúng lẽ trung can
Sống làm trai, phải ý chí hiên ngang
Nhớ lánh xa những đúm đàn dua nịnh

Cùng lánh xa những tham tàn bất chính
Thì lấy gì con bảo nghịch đời đâu?
Lời mẹ dạy con phải nhớ khắc sâu
Triết lý sống: chớ tìm cầu, không dễ!

Mai lớn khôn con gặp nhiều dâu bể
Khi đối đầu với những kẻ bất lương
Con phải nhớ phải trải rộng lòng thương
Giúp cho họ một con đường hướng thiện

Giúp cho họ một con đường để tiến
Là triết lý hùng biện đấy con ơi
Ấy là mang hạnh phúc đến cho đời
Là minh triết giúp cho người bớt khổ

Gắng nghĩ sâu, chớ ngông cuồng quá độ
Chớ yếu hèn, hãy năng nỗ làm trai
Trong khốn khó con chớ bước hàng hai
Lưng đứng thẳng, chớ cong người mà nhục

Được như thế nghĩa là đời hạnh phúc
Được người thương kẻ kính, lúc vào ra
Đấy cũng là một đạo lý vị tha
Là minh triết của ông cha di dưỡng!

 

Nước

 

Ta múc nước, nước nhìn chăm ta mãi
Nước thơ ngây, nước non dại không già
Nước ôm trăng khi đụng vỡ khóc òa
Cũng là nước giữa bao la sông biển

Nước không phân lành-nhơ hay hiền-hiểm
Khi uống vào nước vẫn mát như nhau
Nước tẩy đi những chất liệu khổ đau
Sống nhờ nước, sang giàu đều cần nước

Nước vốn dĩ không sau cũng không trước
Nên không buồn không hạnh phúc, đau thương
Nước cho mưa, nước tưới khắp muôn phương
Từ sông núi đến biển nguồn đất đá

Nước vẫn quen không lấy gì xa lạ
Đến nơi nào nước cũng đã dung hòa
Suối, ao, hồ chất nước lại ngọt ra
Vào biển cả nước sẽ là vị mặn

Khi mưa xuống nước không hề đo đắn
Nên xứ nào cũng hòa nhịp đều nhanh
Sóng gió yên nước lắng dịu trong xanh
Thể chất nước vốn hiền lành trong sáng

The post NGƯỜI VỀ TÌM DẤU CHÂN XƯA – Thơ Tuệ Minh appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Lửa Từ Bi – Vũ Hoàng Chương https://bachhac.net/lua-tu-bi-vu-hoang-chuong.html Wed, 26 Jan 2022 01:41:24 +0000 https://bachhac.net/?p=4120 Lửa, lửa cháy ngát tòa SEN Tám chín phương nhục thể trần thân Hiện thành Thơ quỳ cả xuống Hai vầng sáng rưng rưng Đông tây nhòa lệ ngọc Chắp tay đón một mặt trời mới mọc Ánh đạo vàng phơi phới đang bừng lên dâng lên Ôi! Đích thực hôm nay trời có mặt …

The post Lửa Từ Bi – Vũ Hoàng Chương appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Lửa, lửa cháy ngát tòa SEN

Tám chín phương nhục thể trần thân

Hiện thành Thơ quỳ cả xuống

Hai vầng sáng rưng rưng

Đông tây nhòa lệ ngọc

Chắp tay đón một mặt trời mới mọc

Ánh đạo vàng phơi phới đang bừng lên dâng lên

Ôi! Đích thực hôm nay trời có mặt

Giờ là giờ hoàng đạo nguy nga

Muôn vạn khối sân si vừa mở mắt

Nhìn nhau tình huynh đệ bao la

Nam mô Đức Phật Di Đà

Sông Hằng kia bởi đâu mà cát bay

Thương chúng sinh trầm luân bể khổ

Người rẻ phăng đêm tối đất dày

Bước ra Người nhập định ngước về tây

Rọi hết lửa vào xương da bỏ ngỏ

Phập pháp chẳng rời tay

Sáu ngả luân hồi đâu đó

Mang mang cùng hơi thở

Tiếng nấc lên từng nhịp bánh xe quay

Không khi vặn mình theo

Khóc òa lên hởi gió

Người siêu thăng giông bão lắng từ đây

Bóng người vượt chín tầng mây

Nhân gian mát rượi bóng cây Bồ đề

Ngọc hay đá tưởng chẳng cần ai tạc

Lụa hay tre nào khiến bút ai ghi

Chỗ Người ngồi là một thiên thu tuyệt tác

Trong vô hình sáng chói nét từ bi

Rồi đây, rồi mai sau còn chi

Ngọc đá cũng thành tro

Lụa tre dần mục nát

Với thời gian, lê vết máu qua đi

Còn mãi chứ, còn trái tim Bồ tát

Dọi hào quang xuống tận ngục A tì

Ôi ngọn lửa Huyền Vi

Thế giới ba nghìn phút giây ngơ ngác

Từ cõi Vô Minh hướng về Cực Lạc

Vầng điệu của thi nhân chỉ còn là rơm rác

Thơ cháy tan theo với lời Kinh

Tụng cho nhân loại hòa bình

Trước sau bền vững tình huynh đệ này

Thổn thức nghe lòng trái đất

Mong thành quả phúc về cây

Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật

Đồng loại chúng con nắm tay nhau tràn nước mắt

Tình thương hiện tháp chín tầng xây ./.

The post Lửa Từ Bi – Vũ Hoàng Chương appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
BỆNH VÔ CẢM https://bachhac.net/benh-vo-cam.html Tue, 25 Jan 2022 03:26:16 +0000 https://bachhac.net/?p=4117 Có được một xã hội văn minh, hiện đại ngày nay một phần lớn cũng là do những phát minh vĩ đại của con người . Một trong số đó chính là sự sáng chế ra rô-bốt, và càng ngày, rô-bốt càng được cải tiến cao hơn, tỉ mỉ hơn làm sao cho thật giống …

The post BỆNH VÔ CẢM appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
bệnh vô cảm

Có được một xã hội văn minh, hiện đại ngày nay một phần lớn cũng là do những phát minh vĩ đại của con người . Một trong số đó chính là sự sáng chế ra rô-bốt, và càng ngày, rô-bốt càng được cải tiến cao hơn, tỉ mỉ hơn làm sao cho thật giống con người để giúp con người được nhiều hơn trong các công việc khó nhọc, bộn bề của cuộc sống . Chỉ lạ một điều : Đó là trong khi các nhà khoa học đang “vò đầu bứt tóc” không biết làm sao có thể tạo ra một con chip “tình cảm” để khiến “những cỗ máy vô tình” biết yêu, biết ghét, biết thương, biết giận thì dường như con người lại đi ngược lại, càng ngày càng vô tình, thờ ơ với mọi sự xung quanh . Đó chính là căn bệnh nan y đang hoành hành rộng lớn không những chỉ dừng lại ở một cá nhân mà đang len lỏi vào mọi tầng lớp xã hội – bệnh vô cảm .

Nhìn thấy cái xấu, cái ác mà không thấy bất bình, không căm tức, không phẫn nộ . Nhìn thấy cái đẹp mà không ngưỡng mộ, không say mê, không thích thú . Thấy cảnh tượng bi thương lại thờ ơ, không động lòng chua xót, không rung động tâm can . Vậy đó còn là con người không hay chỉ là cái xác khô của một cỗ máy ?

Trước hết là về cái đẹp, bây giờ ra ngoài đường, hiếm ai có thể bắt gặp một người đàn ông đạp xe ung dung dạo mát, thưởng ngoạn cái không khí trong lành, tươi mát dưới những hàng cây cổ thụ vàm bóng quanh bờ hồ ; một người con gái dịu hiền, yêu kiều trong chiếc váy thanh thoát tản bộ trên những con đường hoa sấu, hoa sữa đầy mộng mơ mà hầu hết là những dòng người tấp nập, vội vã, chen lấn xô đẩy trên đường, xe buýt . Lúc ấy cũng chính là lúc mà con người ta mất một phần tâm hồn đẹp đẽ đã bị chôn vùi dưới lớp cát . Phải chăng cũng vì như thế mà họ càng lúc càng khép chặt cánh cửa trái tim mình lại, không còn biết hưởng thụ cái đẹp mà chỉ nghĩ đến tiền, đến công việc ngày mai ?

Vô cảm với cái đẹp mới chỉ là bước đầu . Một khi người ta đã không biết ngưỡng mộ, không biết say mê, rung động trước những điều đẹp đẽ thì trái tim cũng dần chai sạn rồi đến đóng băng . Khi ấy, không chỉ là cái đẹp mà đứng trước những hành động ác độc, vô lương tâm, con người ta cũng cảm thấy bình thường, không oán trách cũng không cảm thông, động lòng với những nạn nhân bị hại . Một tháng trước, tôi đọc được một bài báo trên mạng có đưa tin về vụ một đứa bé Trung Quốc hai tuổi bị xe tải cán . Thương xót, đau lòng làm sao khi nhìn cô bé đau đớn nằm trên vũng máu mà không một người nào qua đường để ý, cuống cuồng gọi cấp cứu . Họ nhìn thấy rồi đấy nhưng họ lại cố tình như không thấy, đi vòng qua cô bé để tiếp tục con đường nhạt thếch, sáo mòn của mình . Càng chua xót, đau lòng, phẫn nộ hơn khi chiếc xe tải tiếp theo nhìn thấy cô bé nằm đó, vẫn thoi thóp thở, bám víu lấy cuộc đời lại vô tình chẹt cả bốn bánh xe nặng trịch đi qua người cô bé, thản nhiên đi tiếp . Người qua đường vẫn thế, vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy ra . Cô bé xấu số chỉ được cấp cứu khi một người phụ nữ nhặt rác đi qua, thấy cảm thông, đau lòng nên đã bế cô đi bệnh viện . Có những con người ích kỷ, vô tâm, tàn nhẫn như vậy đấy . Không những thế, bây giờ ra đường gặp người bị cướp, bị trấn lột, bị đuổi chém nhưng lại không thấy anh hùng nào ra can ngăn, cứu giúp hay chỉ một việc nhỏ nhoi thôi là báo công an . Đó là những con người “không dại gì” và cũng chính “nhờ” những người “không dại gì” đó mà xã hội ngày càng ác độc, hỗn loạn . Chính lẽ đó mà căn bệnh vô cảm càng được thể truyền nhiễm, lây lan .

Vô cảm còn là con đường trực tiếp dẫn đến những cái xấu, cái ác . Nó là một căn bệnh lâm sàng mà trong đó, não của người bệnh vẫn hoạt động nhưng trái tim lại hoàn toàn băng giá . Người ta đã vô cảm thì làm sao có thể thấu hiểu được nỗi đau, tình cảm của người khác , người ta chỉ nghĩ đến mình và lợi ích của riêng mình mà thôi . Nếu không vô cảm, tại sao các cô giáo ở trường mầm non lại nhẫn tâm giật tóc, đánh đập, bịt miệng các cháu bé còn ngây thơ, nhỏ tuổi ? Tại sao một người còn chưa qua tuổi trưởng thành lại vô tư chém giết cả nhà người ta để lấy của cải ? Xa hơn nữa là các công chức bình thản ăn tiền ủng hộ, trợ giúp những số phận đau thương, bất hạnh của người dân để kiếm lợi cho riêng mình . Và còn nhiều, còn nhiều hành động xấu xa hơn nữa . Tất cả những điều vô lương tâm ấy đề xuất phát từ căn bệnh vô cảm mà ra .

Chúng ta biết bệnh vô cảm vô cùng nguy hiểm nhưng lại đặt ra câu hỏi : Rốt cuộc thì nguyên nhân tại sao ? Suy cho cùng, tình cảm là điều chi phối tất cả . Những người vô cảm là những người bị thiếu hụt tình yêu thương . Chính vì không cảm nhận được tình yêu thương mà người ta ngày càng lạnh giá . Một phần nữa cũng là do xã hội hiện đại quá bận rộn và đòi hỏi con người phải làm việc, làm việc và làm việc mà bỏ quên thời gian để trao nhau hơi ấm của tình thương, để ươm mầm cảm xúc .

Tình cảm như những hạt mưa, hạt mưa càng to, càng nặng thì càng dập tắt được những ngọn lửa của lòng thù hận, ghen ghét, bi ai và nó cũng như một ngọn lửa thổi bùng cháy mãnh liệt trong tâm hồn để nuôi dưỡng tiếp nguồn sống cho chúng ta . Vì vậy, điều duy nhất chúng ta có thể làm để cho căn bệnh vô cảm “không còn đất sống” là hãy biết mở cửa trái tim để biết cảm nhận, biết yêu ghét, thương giận và chia sẻ những điều tinh túy đó cho những người xung quanh mình .

“Con người ta không phải là cái đồng hồ và trái tim ta cũng không phải là cái lò xo” – một giáo sư người Anh đã nói như thế . Tóm lại, ta nhận thấy rằng căn bệnh vô cảm đang lan tràn ngày càng rộng lớn và trở nên vô cùng nguy hiểm, biến con người thành một cỗ máy vô tri chỉ biết vận động . Đừng để điều đó xảy ra mà hãy đấu tranh để giành lại phần “người”, giành lại “trái tim” mà tạo hóa đã ban cho chúng ta, đào thải căn bệnh vô tình quái ác ra khỏi xã hội . /.

The post BỆNH VÔ CẢM appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
KÍNH HIẾU CHA MẸ https://bachhac.net/kinh-hieu-cha-me.html Tue, 25 Jan 2022 03:23:36 +0000 https://bachhac.net/?p=4113 Như đã biết, nếu không có cha mẹ sanh thành dưỡng dục, thì không có chúng ta ở trên quả đất nầy. Quả thật vậy: Công Cha như núi Thái Sơn, Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn  chảy ra, Một lòng thờ Mẹ kính Cha, Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con… Ngoài ra, …

The post KÍNH HIẾU CHA MẸ appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Kính hiếu cha mẹ

Như đã biết, nếu không có cha mẹ sanh thành dưỡng dục, thì không có chúng ta ở trên quả đất nầy. Quả thật vậy:

Công Cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn  chảy ra,
Một lòng thờ Mẹ kính Cha,
Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con…

Ngoài ra, trong kinh Tâm Địa Quán, đức Phật cũng đã dạy về công ơn cha mẹ như sau:

Ân cha lành cao như núi Thái,
Đức mẹ hiền sâu tợ biển khơi,
Dù cho dâng trọn một đời,
Cũng không trả hết ân người sanh ta.

Xuyên qua những lời dạy ở trên, tuy đơn sơ ngắn gọn, nhưng nó vô cùng trân quý, bởi bổn phận làm con phải biết hiếu kính với cha mẹ đã được thấm nhuần từ xa xưa của tổ tiên ông bà để lại cho ngày hôm nay. Hơn nữa, nếu xét về Dương Âm tức Trời Đất, thì người Cha tức Dương và người Mẹ tức Âm, chẳng khác nào ban ngày và ban đêm hay nói khác đi, nếu không có Thiên Địa tức Trời Đất, thì không thể tạo nên chúng sanh tức con người được, cho nên nếu không có “Cha sanh, Mẹ dưỡng” thì không thể có chúng ta. Bởi vì:

Có Cha, có Mẹ thì hơn,
Không Cha, không Mẹ như đờn đứt dây.
 (*)

(*) Ở đây ngụ ý nói là khi chúng ta sanh ra rồi, mà mất cha lẫn mẹ thì khốn khổ vô cùng.

Người cha tuy không mang nặng đẻ đau như người mẹ, kể từ cấn thai cho đến nở nhụy khai hoa (sanh nở), mẹ phải mang nặng cái bào thai suốt trên chín tháng nặng nhọc, rồi bị hành thai, ăn uống vô cùng khó khăn, làm cho sức khoẻ của mẹ càng ngày tiều tụy, để rồi đúng ngày sanh nở phải đẻ đau. Nếu việc sanh đẻ suông sẻ, bình thường là tốt đẹp, thì xem như “Mẹ tròn Con vuông” (thành ngữ). Nếu như sanh đẻ khó khăn, đôi khi cũng nguy hiểm đến tánh mạng của mẹ, thì không khác gì người mẹ đi biển một mình, bởi đúng với câu :

Đàn ông đi biển có đôi
Đàn bà đi biển mồ côi một mình
 (tục ngữ).

Sau khi sanh nở xong, mẹ cũng phải cận kề để lo cho con liên tục trong ba năm nhũ bộ, rồi cùng cha lo từ tấm tả, từ manh quần tấm áo, từ giấc ngủ cho đến khi đau ốm. Trái lại, nếu không có cha tạo thành cũng như lao tâm, lao lực, nhọc trí lo lắng cho con từ tinh thần đến vật chất để có sự sống và còn tiếp tay với mẹ dạy dỗ con từ tấm bé cho đến khi khôn lớn, thì không có con ngày hôm nay. Công ơn của cha mẹ đối với các con thật to lớn như trời cao, biển rộng, nào là mớm cơm cho ăn từng bửa, nào là săn sóc cho con từng giấc ngủ canh khuya, nhất là sự lo lắng lúc mọc răng, ấm đầu phải chạy lo từng liều thuốc hay giọt sữa…Để rồi, khi con khôn lớn, việc lo toan đó lại càng chồng chất nhiều hơn nữa và mong sao con sau này sẽ nên danh nên phận, hữu dụng với họ hàng, làng nước.

Ngoài ra, trong thời kỳ mẹ mang thai dạ chửa, cha lúc nào cũng cận kề mẹ, để săn sóc, giúp đỡ mẹ từ miếng ăn, bởi vì mẹ hết thèm món này đến món nọ, nhất là những trái cây có vị chua hoặc vị ngọt hay một nồi chè thật ngon ngọt cũng nên, thay vì ăn cơm bình thường như mọi ngày. Khi con lọt lòng mẹ, cha cũng phải đỡ đần mẹ để pha từng bình sữa, giặt giũ khi mẹ còn non yếu sau khi sanh nở. Khi con được đầy tháng, cha cũng đứng ra lo liệu lễ vật nhang đèn để cúng đầy tháng cho con, cha khấn vái cầu xin mụ bà và các vị thần linh phù hộ cho con mau ăn chóng lớn, có lẽ đó là lần đầu tiên trọng đại trong đời khi cha mẹ có đứa con đầu lòng.

Khi con được hai ba tháng, nằm ngữa hươ tay hươ chân, mở mắt nhìn ngơ ngác, xoay đầu sang phải, sang trái, rồi nở nụ cười  vô tư hồn nhiên, nhưng làm cho cả nhà vui mừng, quả thật nụ cười của con làm cho những nụ cười rạng rỡ của các khuôn mặt người thân thương trong gia đình và xóa mờ những nếp nhăn trên trán của ông bà, bởi vì con đã biết nở nụ cười đầu đời, để rồi thời gian cứ trôi qua, con lần lượt biết lật, biết bò, biết ngồi, biết vịn tay cha mẹ đứng lên được, rồi bước những bước rụt rè. Tiếng reo vui, tiếng khuyến khích người thân trong gia đình vang lên rộn ràng đầm ấm, trong đó có lẫn tiếng của cha mẹ. Hơn nữa, cha cũng thường được phân công đút cho con những miếng ăn đầu tiên…

Ôi! làm sao kể cho hết những công lao của cha dành cho con. Mỗi gia đình, mỗi cặp vợ chồng trẻ mới vừa được làm cha mẹ, sanh được đứa con đầu lòng, thì lúc nào cha mẹ cũng dành hết tình thương cho con, nhứt là cha sẵn sàng làm trò hề để cho con vui hoặc làm thân trâu ngựa để cho con cỡi, miễn sao con vui là được… Đó chính là tình thương của cha dành cho con thật vô bờ bến vậy. Khi con đến tuổi đi học vỡ lòng, cha mẹ lo lắng đưa đón cho con đến trường, thật đúng với câu : “Cha đưa, Mẹ đón” (thành ngữ). và hằng đêm cha lại dạy dỗ từng chữ để con học để nên người sau này. Do vậy, công cha đối với con cũng vô cùng to lớn như mẹ vậy, nào là lo ăn mặc, cho con ăn học, dạy dỗ cho con… bởi vì, chỉ có cha con mới sợ đòn, mà chịu nghe lời dạy bảo hơn mẹ, bởi tục ngữ : 

Mẹ đánh một trăm (*)
Không bằng cha hăm một tiếng

(*) một trăm là để chỉ 100 roi.

Công Cha như thế đó, còn công Mẹ như thế nào?

Như chúng ta đều biết, sau khi con đã chào đời, mẹ lúc nào cũng ở cận kề con hơn cha, để cho con bú với bầu sữa mẹ mỗi khi con khát sữa, (Con không khóc, mẹ không cho con bú), trong suốt ba năm nhũ bộ, mỗi lần con mọc răng, ngứa nướu con thường cắn vú mẹ, nhưng người mẹ vẫn cam chịu đau và lại mừng thầm nữa, bởi vì, biết con đã mọc răng sữa, cho nên người mẹ mới mắng yêu rằng : “Con đã mọc răng, nói năng gì nữa” (tục ngữ). Khi con được vài tháng, mẹ bắt đầu nấu cháo hay nhai cơm cho nhuyễn với cá hay thịt, với nước miếng của mẹ làm cho dễ tiêu, rồi mớm cơm vào miệng cho con ăn. Đó là phương pháp ngày xưa, phương pháp này rất tiện và có cả tình thương của mẹ dành cho đứa con nữa, mặc dù thấy không hạp vệ sanh như ngày nay… Do những công lao của mẹ như trên, đã được trong dân gian truyền khẩu qua ca dao, tục ngữ như sau : 

Con mẹ có thương mẹ thay,
Chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau.
Cha mẹ sanh thành tạo hóa,
Nhai cơm, lựa cá, nhai cá lựa xương.
Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng biển
 (ca dao)

Hay là :

Đố ai đếm được lá rừng,
Đố ai đếm được mấy từng trời cao,
Đố ai đếm được những vì sao,
Đố ai đếm được, công lao mẫu từ.

hoặc là :

Nhớ ơn chín chữ (**) cù lao,
Ba năm nhủ bộ biết bao nhiêu tình (***).

(**) Trong Kinh Thi của Khổng Tử đã nói đến 9 điểm, gọi là 9 chữ cù lao dành cho người mẹ. Đó lả : Sinh (sinh nở), Cúc (nâng đỡ), Phủ (vỗ về), Dục (dạy dỗ), Súc (cho bú), Trưởng (nuôi lớn), Cố (trong nôm), Phục (nuông chiều), Phúc (che chở).

(***) Tình ở đây là tình mẹ dành cho con thật bao la, bát ngát vô tân. 

Mỗi lần mẹ cất tiếng ru con ngủ, thì mẹ cũng nói lên nỗi niềm ấy như sau:

Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi,
Khó đi mẹ dắt con đi,
Con đi trường học, mẹ đi trường đời.

hay  là :

Cha mẹ ngoảnh đi, thì con dại,
Cha mẹ ngoảnh lại, thì con khôn.
 (tục ngữ)

Và mẹ cũng hy sanh, dành nơi khô ráo cho con nằm ngủ, mỗi khi con đái dầm hoặc những đêm vào mùa thu con không ngủ được, vì trái nắng trở trời, mẹ phải thức thâu đêm để đưa võng ru cho con ngủ, bởi có câu:

Gió mùa thu mẹ mẹ ru con ngủ,
Năm canh chày thức đủ năm canh.

Cho đến khi con lên ba tuổi, thì cha mẹ mới đỡ khổ. Quả đúng vậy, bởi vì:

Ai rằng công mẹ như non,

Thực ra công mẹ lại còn lớn hơn.

Khi con khôn lớn, cha mẹ còn lo dựng vợ gả chồng (khi nhắc đến Đám Cưới, thông thường trong dân gian biểu tượng Rồng (Long) và Phượng (Phụng) để chỉ Chồng và Vợ hoặc là trong các nhà hàng ngày nay thường đặt tên  Long Phụng. Bởi do tứ linh Long, Lân, Quy, Phụng mà ra. Nếu phân tích tứ linh së thấy : Long (dương), Lân (âm), Quy (dương), Phụng (âm), cho nên dùng tên Long Phụng cho ngắn gọn, để chỉ sự hạnh phúc bởi có trời (dương) và đất (âm) tức có chồng có vợ và trong dân gian thường chúc Đám Cưới: ).

Nhiều khi còn phải cực khổ với đàn cháu nhỏ cho đến ngày theo ông bà, cho nên bổn phận làm con phải biết kính hiếu cha mẹ, đúng như câu ca dao dưới đây: 

Công cha ba năm tình thâm lai láng,
Nghĩa mẹ đậm đà chín tháng cưu mang

Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,
Biết lấy chi đền đáp khó khăn,

Hai đứa mình lên non lấy đá xây lăng phụng thờ.

Công ơn cha mẹ sâu dày như thế đó, nói làm sao hết được, chỉ khi nào:

Lên non mới biết non cao,
Nuôi con mới biết công lao mẫu từ
 (ca dao).

Nhưng xét cho kỹ, công lao của cha mẹ đều ngang nhau, cho nên nhân mùa Vu Lan, thiết nghĩ bổn phận làm con, không những kính hiếu dành cho người mẹ bằng hoa hồng hay hoa trắng, mà phải lẫn người cha nữa. Bởi vì :

Con có mẹ như măng ấp bẹ (thành ngữ)

hay  là :

Con có cha như nhà có nóc (tục ngữ)

hoặc là :

Còn cha gót đỏ như son,
Đến khi cha chết, gót con đen sì.

hay là :

Còn  cha nhiều kẻ yêu vì,
Một mai cha chết, ai thì yêu con (ca dao).

Hơn nữa,

Con có cha em đẻ,
Không ai ở lỗ nẻ mà lên
 (tục ngữ) …v.v

Ngày nay, có nhiều chùa tổ chức lễ Vu Lan không những chỉ dành cho mẹ mà lẫn cha như : cài bông hồng cho những người nào còn mẹ hay cài bông trắng cho những người đã mất mẹ, còn đối với cha thì cài nơ màu xanh cho những người nào còn cha hay cài nơ trắng cho những người đã mất cha. Đây là một hành động vô cùng công bằng, bởi vì hằng năm đến mùa Vua Lan, cha lẫn mẹ đều được các con kính hiếu. Việc kính trọng và báo hiếu dành cho song thân, thiết nghĩ không chỉ về vật chất là đủ, mà còn tinh thần nữa.

Bởi vì, nếu những người con lâm vào tình trạng nghèo khó, không đủ sinh sống hằng ngày, thì lấy đâu mua quà cáp để kính dâng cho cha mẹ những món ăn ngon vật lạ, mà chỉ có những bửa cơm đạm bạc và lo lắng sức khỏe cha mẹ khi tuổi về chiều hoặc làm cho cha mẹ vui, bởi những lời hỏi thăm hay những hành động không làm cho cha mẹ buồn lòng, cũng là việc kính hiếu vậy.

Trái lại, những người con giàu có thì việc phụng dưỡng cha mẹ già về vật chất thì không khó khăn cho mấy, nhưng lại cho rằng : nay con đã lớn khôn, giàu có, khỏe mạnh hơn cha mẹ, xem cha mẹ không ra gì, có  những hành động, lời nói vô lễ làm cho cha mẹ buồn phiền, thì việc kính hiếu của những người con đó sẽ không được trọn vẹn, đôi khi đưa đến bất kính hiếu là khác, bởi vì, chúng ta dù có giàu có, có lớn xác thì chúng ta cũng là con của cha mẹ, thì bổn phận làm con vẫn là kính hiếu cha mẹ suốt đời không bao giờ thay đổi, có như vậy việc phụng dưỡng cha mẹ mới được kính hiếu trọn vẹn.

Hơn nữa, chúng ta đã thấy việc làm của Đức Phật đáng cho chúng ta suy nghï, vì Ngài đã có ngai vàng, điện các, ngọc ngà, chu báu, vợ đẹp, con ngoan…thế mà Ngài đã hoan hỉ xuất gia từ bỏ tất cả, để ngày nay, Ngài đã đuơc cả trên thế giới kính trọng. Bởi vi, chúng ta nên nhớ rằng : , cho nên chúng ta phải biết thương người như thể thương thân, huống chi kính hiếu cha mẹ.

Việc kính hiếu đối với cha mẹ, không những thờ cha kính mẹ ngang nhau, bởi vì cha mẹ là người sanh thành dưỡng dục, mỗi người đều có công và trách nhiệm để lo lắng, quả đúng với câu : 

Mẹ dạy thì con khéo,
Cha dạy thì con khôn
 (tục ngữ).

Đối với mẹ, chúng ta phải có bổn phận xem người mẹ như :
Mẹ già như chuối ba hương,
Như xôi nếp mật, như đường mía lau.

Hoặc là :  

Mẹ già như chuối chín cây,
Gió đưa trái rụng con rày mồ côi.

Quả đúng vậy, bởi vì khi Mẹ già có khác gì , khi bị một ngọn gió Mẹ sẽ bị đau bịnh rồi chết. 

Hơn nữa nếu nhà nào có trồng chuối nhiều, sẽ thấy buồng chuối chín cây, vì không đốn kịp, mỗi khi có ngọn gió, các trái chuối lần lượt rơi rớt, có khác gì thân Mẹ già bị ngọn gió độc vậy. Đây là, hai câu tục-ngữ rất xác-thực trong dân gian VN, đã tài tình ví tuổi già yếu đuối của Mẹ không khác Chuối chín cây.

Mẹ già ở túp lều tranh.
Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con
 (cao dao).

hay là :

Muốn cho gần mẹ g
Khi vào thúng thóc, khi ra quan tiền

Hoặc, nếu chúng ta ở gần chỉ còn có mẹ, thì phải đem món ngon vật lạ cho mẹ, ví như sau :

Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi,
Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già,

hay là :

Đói lòng ăn đọt Chà Là,
Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.

Hoặc, nếu chúng ta ở xa cha mẹ, người con hiếu kính phải gởi về quà cáp cho cha mẹ, ví như sau :

Ai Về tôi gởi buồng cau,
Buồng trước kính mẹ, buồng sau kinh thầy.

hay là :

Ai về tôi gởi đôi giày,
Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi.

Nếu một khi chúng ta bị lỗi với người mẹ, thì chỉ than như sau:

Me ơi! Đừng đánh con đau,
Để con bắt ốc, hái rau mẹ nhờ.
Mẹ ơi! đừng đánh con hoài,
Để con bắt cá, hái xoài mẹ ăn
 (ca dao).

Để rồi, khi những người con gái của mẹ đến tuổi lập gia đình, nhưng vì thương cha mẹ già, các em còn thơ dại nên rất muốn ở gần, nên thốt ra những lời như sau :

Mẹ ơi! Đừng gả con xa,
chim kêu vượn hú biết nhà mẹ đâu.

Chim đa đa đậu nhánh đa đa,
Chồng gần không lấy, lấy chồng xa.
Một mai cha yếu mẹ già,
Chén cơm ai xới, kỷ trà ai dâng
 (ca dao).

Thời xa xưa, cha mẹ thường có trọn quyền định đoạt mọi việc lớn nhỏ cho con cái, kể cả việc dựng vợ gả chồng. Hể cha mẹ chọn đâu thì con cái phải nghe theo, vì có câu : Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó (tục ngữ). Cho nên, có những anh chàng thất vọng vì không được cha mẹ của nàng chấp nhận, đã than thở như sau:

Cha mẹ biểu ưng, em đừng nói phải,
Em nỡ lòng nào bạc đãi bỏ anh
 (ca dao).

Thế nhưng, nàng lại một mực từ chối việc bỏ nhà theo trai, nên mới thốt ra câu :

Cha sanh mẹ đẻ, không lẽ theo anh,
Xấu cha, xấu mẹ đôi mình tốt chi…
Cha mẹ tôi già như đèn cháy nhấp nhem,
Bổn phận tôi gái, mấy em còn khờ
…(ca dao) .

Những lời của người con gái thốt lên ở trên đối với người yêu quả thật đáng khen vì đã làm tròn bổn phận con cái cũng như giữ gì được danh giá cho gia đình đối với cha mẹ, đó cũng là cách báo đền kính hiếu cha mẹ vậy.

Việc kính hiếu đối với cha mẹ từ xưa đến nay rất nhiều, riêng đối với Đức Khổng Tử chú trọng dạy con người, trước nhứt phải đạt được chữ Nhân nghĩa là con người phải có lòng thành thật, nhân hậu đối với những người thân cận chung quanh mình, ví như cha mẹ, anh chị em, rồi kế đến họ hàng thân tộc, bạn bè, sau cùng là trong thiên hạ. Nếu đối với cha mẹ mà chúng ta không biết kính hiếu, đối với với anh chị em không thuận hòa thì không thể nói đó là người có lòng nhân và thành thật được.

Đối với cha mẹ, chúng ta phải thương và kính, bởi vì: thương mà không kính, thì không thể gọi là hiếu đạo được. Sách Luận Ngữ, Vi Chính II, kể lại câu chuyện như sau : Một hôm người học trò Tử Du hỏi Khổng Tử về chữ Hiếu. Khổng Tử đáp : Có người nói Hiếu là nuôi dưỡng cha mẹ, nhưng nếu nuôi mà không Kính, thì có khác gì nuôi súc vật, lấy gì  để phân biệt. Như vậy, nuôi dưỡng cha mẹ phải cung kính, dầu ăn cơm hẩm, uống nước lã, nhưng cha mẹ vẫn vui lòng. Lúc cha mẹ còn sanh tiền, con nên sống gần gũi cha mẹ để săn sóc lo ăn uống cũng như thuốc thang mỗi khi cha em đau ốm, cho nên con không được đi xa, bởi câu:

“Phụ mẫu tồn, tử bất khả viễn du”
父 母 存, 子 不 可 远 游

(Cha mẹ còn, con không được đi xa).

Ngoài ra, trong thành ngữ cũng có câu : “Con đâu, cha mẹ đó”. Trường hợp con bắt buộc phải đi xa, thì nên cho cha mẹ biết thời gian, nơi chốn rõ ràng để cha mẹ an tâm, khỏi trông lo, bởi câu :

“Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương” (Luận Ngữ, Lý Nhân IV).
父 母 在, 不 远 游, 游 必 有 方

Việc hiếu đạo tức phải có Lễ Nghĩa. Lễ là theo cái Lý phải. Nghĩa la theo cái Đức phải. Nói rõ hơn, việc kính hiếu cha mẹ không có nghĩa là lúc nào cha mẹ làm điều sai trái, người con cũng phải nghe theo. Nhưng bổn phận con phải biết ngăn cản cha mẹ làm việc sai trái, xấu xa, nếu cha mẹ cứ khư khư tiếp tục làm sai trái không nghe theo, thì bổn phận con phải lựa lời nhã nhặn, từ tốn ôn hòa, rồi từ từ  phân tách lẽ phải trái, bẩm thưa nhiều lần, để ngỏ hầu cha mẹ biết kịp mà tránh. Do vậy, nếu cha mẹ biểu làm điều sai trái, xấu xa mà con cứ nhắm mắt làm theo ý cha mẹ, thì con cũng phạm tội bất hiếu như thường :

“Phụ hữu trách tử tức thân bất hảm ư bất nghĩa, đương bất nghĩa tắc trách chi.
父有 责 子 息 亲 不 陷 于 不 义, 当 不 义 则 责 之

Tùng phụ lệnh an đắc vi hiếu” =从  父  令  安  得 为 孝

Vì thế, con luôn luôn phải biết giữ gìn danh giá, tiết nghĩa cho cha mẹ, bằng cách nghe lời dạy bảo những điều hay lẽ phải của cha mẹ và cản ngăn cha mẹ làm những điều sai trái, xấu xa, như vậy con mới được xem là giữ tròn hiếu đạo. Ngoài ra, con có hiếu còn phải tiếp nối chí khí, hành động, việc làm tốt của cha mẹ đã làm, chứ đừng nhắm mắt làm càn, không chịu suy nghĩ tận tường: “Phù hiếu giả thiện kế nhân chi chí, thiện thuật nhân chi sự giả gia”夫 孝 者 善 继 人 之 志, 善 述 人 之 事 者 也  (Trung Dung)

Khi cha mẹ mãn phần, Đức Không Tử cũng dặn dò người con nên chú trọng đến việc thờ cúng cha mẹ, tổ tiên. Hơn nữa, con có hiếu là người còn phải kết kính trọng những người mà cha mẹ tôn trọng và yêu thương những người mà cha mẹ mến thương nữa. Do vậy, người con trước sau phải một lòng tôn kính, thương tưởng cha mẹ khi còn sanh tiền hay đã mất : “Kính kỳ sở tồn, ái kỳ sở thân, sự tử như sanh, sự vong như sự tồn  敬其 所 存, 爱其 所 亲, 事死 如 生, 事亡 如 事 存(Trung Dung).. 

Một người con có hiếu, còn phải biết đến tuổi thọ của cha mẹ để hân hoan vui mừng khi thấy hằng năm cha mẹ tăng thêm một tuổi thọ, được sống lâu với con cháu và lo âu khi thấy sức khỏe cha mẹ càng ngày càng già yếu. Đến khi cha mẹ quá vãng, người con kính hiếu cha mẹ cũng nên nhớ ngày giổ kỵ để cúng kiến cho cha mẹ thật cho đáo. Trên đây, là những đơn cử, trích dẫn về quan niệm chữ hiếu đối với cha mẹ do Đức Khổng Phu Tử đề ra.

Được biết, Đức Khổng Phu Tử 孔 夫 子 sanh vào mùa Đông tháng 10 năm Canh Tuất, năm thứ 21 đời vua Linh Vương nhà Chu tức năm 551 trước Tây Lịch, con của ông Thúc Lương Ngột và bà Nhan Thị, Ông mất vào năm 497, thọ được 72 tuổi, mộ chôn tại Khổng Lâm, cách huyện Khúc Phụ, thuộc tỉnh Sơn Đông 2 dậm.  Đức Khổng Phu Tử  quả là một nhà nhân bản, một bậc thầy vĩ đại của lịch sử Trung Hoa. Trong các tác phẩm của ông và các môn đệ như : Nhan Hồi, Tăng Tử, Tử Lộ, Mạnh Tử… gồm có: Ngũ Kinh là Kinh Thi, Kinh Thơ, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu và Tứ Thư là Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử… Đức Khổng Phu Tử cũng là nhà tư tưởng Trung Hoa đầu tiên đề cập đến các quan hệ căn bản không những của nền Khổng Học mà cả nền Triết Học Trung Hoa về Tu Thân (Se Perfectionner) – Tề Gia (Diriger la famille) – Trị Quốc (Gouverner un pays) – Bình Thiên Hạ (Pacifier le monde) trong đó có Tam Cang là Quân Thần, Phụ Tử, Phu Phụ và Ngũ Thường  là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín đối với nam nhi, còn nữ nhi thì phải làm tròn bổn phận Tam Tòng là “Tại gia tùng phụ, xuất giá tùng phu, phu tử tùng tử” tức khi người con gái ở nhà cha mẹ phải nghe lời cha, khi lấy chồng thì phải theo chồng,  khi chồng chết thì phài theo con. Ngoài ra, còn phải gìn giữ tứ đức là Công, Dung, Ngôn, Hạnh.

Gương kính hiếu cha mẹ rất nhiều trong sách vở như: Nhị Thập Tứ Hiếu, Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên…Đặc biệt, trong Tứ Thư (Luận ngữ, Mạnh Tử) cũng có nói về vua Thuấn là người con chí hiếu, đáng cho chúng ta suy ngẫm. Vạn Chương, đệ tử của Mạnh Tử, có hỏi Mạnh Tử: Không hiểu tại sao khi ông Thuấn còn cày ruộng tại núi Lịch, thường ngó lên trời mà kêu gào khóc lóc như vậy?  Mạnh Tử đáp: Ông Thuấn có lòng thán oán và luyến mộ.  Phàm làm con, được cha mẹ có thương thì con vui mừng và chẳng hề quên ơn cha mẹ.  Nhưng cha mẹ có ghét thì người con làm lụng cực nhọc cha mẹ và chẳng hề than oán. Vậy, tại sao ông Thuấn thán oán cha mẹ?  Ông Công Minh Cao (môn đệ của Tăng Tử) cho rằng: tấm lòng của người con hiếu thảo chưa dứt sầu khổ nếu chẳng được tình thương của cha mẹ, cho nên ông Thuấn mới than!  Ta đem hết sức mình ra cày ruộng, đó chẳng qua là làm tròn bổn phận làm con mà thôi, còn cha mẹ chẳng thương ta, ta có lỗi ở chỗ nào?  Trong khi ông Thuấn làm lụng vất vả ở giữa đồng ruộng, nơi núi Lịch, thì vua Nghiêu sai con mình 9 trai 2 gái  và bá quan phụng sự ông Thuấn, rồi lại cấp cho đủ thứ như bò trừu, kho lẫm.

Kế đến, các nhà trí thức trong thiên hạ lại kéo nhau theo ông Thuấn rất đông, thế rồi ban đầu vua Nghiêu lập ông Thuấn lên cai trị với vua Nghiêu, để về sau nhường ngôi lại cho ông.  Ông Thuấn dầu được cầm quyền nhiếp chánh và làm vua, nhưng vì chẳng được hòa thuận với cha mẹ, ông Thuấn tự coi mình như kẻ khốn khổ chẳng biết nương tựa vào ai.  Ông Thuấn được các nhà trí thức trong thiên hạ hoan nghinh và quí phục, đó là ý muốn của mọi người, thế mà ông Thuấn chẳng đủ giải mối ưu sầu của ông.  Hơn nữa, ông Thuấn lại còn được người đẹp hầu hạ bên ông, đó là sở dục của mọi người, sự giàu có bậc nhứt là làm thiên tử gồm cả thiên hạ mà chẳng đủ giải mối ưu sầu của ông.  Duy chỉ có sự hoà thuận với cha mẹ mớí có thể giải được mối ưu sầu này. Bực đại hiếu trọn đời lúc nào cũng luyến mộ cha mẹ như lúc còn ấu thơ, chỉ thấy gương ở vua đại Thuấn mà thôi.

Một hôm về thăm nhà, cha mẹ sai sửa lẫm lúa, khi ông ở trên nóc nhà bị rút cây thang, rồi cha là ông Cổ Tẩu liền đốt lẫm lúa, ông Thuấn nhờ cặp nách hai cái sàng tre mà bay xuống được bình an.  Một lần khác, cha mẹ lại sai ông đào giếng, khi ông đào tới đáy giếng, thì ông cũng bị ông Cổ Tẩu cùng với ông Tượng là em cùng cha khác mẹ liền lấp đất lại. Nhưng ông Thuấn đã đào sẵn một đường ngách để phòng thủ, cho nên ông theo đường ngách để lên khỏi giếng. Tưởng rằng, ông Thuấn đã chết, ông Tượng bèn hô lên : “Mưu lấp giếng để chôn sống vị đô quân (ông Thuấn được thay quyền vua tại đô thành) hoàn toàn do nơi công của ta. Từ đấy bò và trừu của anh Thuấn, ta sẽ giao cho cha mẹ ta, kho lẫm của anh sẽ thuộc về ta, đồ binh khí như can và qua về phần ta, đờn cầm, cây cung có chạm cũng về ta, hai bà chị dâu sẽ dọn giường cho ta…Rồi ông Tượng bèn đi vào cung vua, thì thấy ông Thuấn đang ngồi trên giường mà khải đờn cầm, khi đó vua Thuấn nói: này bá quan và thứ dân của anh, anh sẽ giao cho em cai trị giúp anh, khi đó ông Tượng mới xấu hổ thẹn đỏ cả mặt.

Ngoài ra, chỗ chí hiếu của người con như ông Thuấn không chỉ lớn bằng làm cho cha mẹ được tôn trọng, mà còn cha mẹ được hưởng nhiều hoa lợi, bởi vì ông Thuấn được làm vua, đương nhiên ông Cổ Tẩu là cha của thiên tử tức là ông Thuấn đã làm cho cha mẹ được tôn trọng, cao quý vậy và đem hoa lợi trong thiên hạ để phụng dưỡng cha mẹ. Đó chính là ông Thuấn đã dày công báo đáp ơn sanh dưỡng của cha mẹ.

Trong Kinh Thi, Thiên Đại Nhã có chép: “Làm con lúc nào cũng nên nghĩ đến hiếu đạo đối với cha mẹ”, nhờ vậy làm giềng mối cho hậu thế, tức con cháu noi gương theo. Ngoài ra, trong Kinh Thơ còn ghi : “Vua Thuấn thờ cha là ông Cổ Tẩu rất kính, mỗi khi đến viếng thăm cha thì rụt rè, nễ sợ. Vì thế, ông Cổ Tẩu mới lần hồi được cảm hóa để trở nên hòa thuận với ông Thuấn là con ruột của mình”. Đối với vua Thuấn, quan niệm ở trên đời là cha mẹ trước nhứt, bất cứ việc gì cũng phải làm cho cha mẹ vui lòng, để cha mẹ thuận hoà, thương yêu với con. Nếu người con làm cho cha mẹ buồn phiền, thì dẫu người con đó làm vua và được mọi người trong thiên hạ kính nể, ngưỡng mộ và hết lòng sủng ái, vua Thuấn không xem quan trọng bằng cha mẹ.  Hành động thờ kính cha mẹ của vua Thuấn, chỉ có vua Thuấn làm được mà thôi. Bởi thế cho nên người đời khen vua Thuấn là bậc đại hiếu trong thiên hạ vậy… (Mạnh Tử).

Riêng về báo hiếu theo Phật Giáo, Đức Phật thường đề cặp đến chữ hiếu nhiều nhứt trong các kinh như : Vu Lan, Lễ Lục Phụng, Phân Biệt, Tăng Chi, Bảo Tạng… Đức Phật dạy cho chúng sanh rất rõ ràng về công ơn sanh thành dưỡng dục sâu dầy, to lớn của cha mẹ, người con phải có bổn phận phụng dưỡng về vật chất lẫn tinh thần, bằng chứng là trong kinh Lễ Lục Phụng, đã chỉ dạy người con phải có bổn phận vơí cha mẹ được tóm lược như sau : Vâng lời và giúp đỡ cha mẹ, chăm  học, siêng làm, giữ gìn gia phong và danh dự gia đình, bảo vệ tài sản, khích lệ cha mẹ làm việc thiện, tu theo đạo giải thoát để khỏi khổ về sau, lúc cha mẹ già phải phụng dưỡng, đến khi cha mẹ mất, đám tang nên theo phong tục và hoàn cảnh…

Ngoài ra, trong kinh Nhẫn Nhục, Đức Phật dạy rằng : “Tất cả các điều thiện, không có gì cao hơn là có hiếu, tất cả các điều ác tệ nhứt là bất hiếu” (Bách  hạnh  hiếu  vi  tiên,  vạn  ác  bất  hiếu  vi  túy = 百行 孝 为 先, 万恶 不 孝 为 最).  Bởi vì, công ơn cha mẹ quá cao dày, to lớn đến nỗi như thế, nếu có người con vai mặt công cha, vai trái cõng mẹ để đi khắp cả đại địa sơn hà, rồi đấm bớp hầu hạ suốt đời, đôi lúc cha mẹ còn đại tiểu trên vai mà không chút than phiền cũng chưa đủ để đền đáp công ơn cha mẹ (Kinh Tăng Chi). Kinh này viết tiếp, người con đền đáp công ơn cha mẹ chỉ bằng cách cung phụng đủ thứ vật chất hay tiền bạc cũng chưa đủ để báo đền ơn sanh thành dưỡng dục.Ngoài ra, người con cũng nên khuyên cha mẹ tu hạnh bố thí, nếu được cha mẹ đồng ý chấp thuận, thì người con xem như trọn vẹn việc hiếu đạo đối với cha mẹ.

Trong kinh Vu Lan mô tả quả nghiệp của mẹ ngài Mục Kiền Liên bị đoạ dày vào ngạ quỷ, vì lúc sanh tiền bà quá bỏn xẻn, tham lam. Mặc dù ngài Mục Kiền Liên đã chứng được thần thông, thấy suốt ba cõi, nhưng ngài cũng không thể tự mình cứu mẹ ra khỏi chốn âm cung, mà phải nhờ sức chú nguyện của chư tăng thập phương, nhân ngày lễ Vu Lan tự tứ. Noi gương ngài Mục Kiền Liên, người phật tử dầu bận rộn trăm bề, nhưng đến ngày lễ Vu Lan báo hiếu cũng về chùa để tụng kinh, bái sám  để cầu cho những người thân, nhứt là những người đã có cha mẹ quá vãng được sớm siêu thoát tịnh độ. Trường hợp, nếu chúng ta có cơ hội kính hiếu mà không thực hiện được hoặc không xem việc kính hiếu là quan trọng hàng đầu hay đôi khi còn đối xử với cha mẹ một cách tệ bạc, vì nghĩ rằng bổn phận của cha mẹ là phải lo cho chúng ta suốt đời. Nếu cha mẹ vì nghèo khó mà khinh khi hoặc đôi khi buông lời trách phiền cha mẹ không cho tiền của để chúng ta có được sống sung sướng suốt đời…

Chúng ta đừng quên rằng : “Không có cha mẹ sanh thành thành dưỡng dục thì không có chúng ta trên cõi đời này” để rồi không lo kính hiếu cha mẹ, đôi khi chúng ta giàu có lại hành động bất kính hiếu đối với cha mẹ lúc tuổi già, vì tập tánh : “Con đóng khố, bố cỡi truồng” (thành ngữ) thì tội nghiệp cho cha mẹ vô cùng. Bởi vậy, một khi chúng ta đã trở thành bậc làm cha mẹ, mới hiểu được công ơn cha mẹ, đúng với câu: Dưỡng tử phương tri phụ mẫu ân 养 子 方 知 父 母 恩 (Đức Khổng Tử) tức nuôi con mới biết được công ơn của cha mẹ.

Và một khi chúng ta mất dịp kính hiếu với cha mẹ, thì sẽ phải hối hận như thầy Tử Lộ, bởi vì khi thầy Tử Lộ đã thành công trong sự nghiệp, muốn nuôi dưỡng thì cha mẹ không còn nữa, cho nên khi cha mẹ còn sống, chúng ta phải tận lực phụng dưỡng cha mẹ, thì mới có ý nghĩa đáng quý và khi cha mẹ theo ông bà, phải  có bổn phận lo mồ mả, cúng kiến để vong linh cha mẹ được sớm vãng sanh về cảnh giới an lành.

Đó là bổn phận của người con đối với cha mẹ phải biết kính hiếu thật đúng nghĩa vậy.

Đối với con cái ngày nay, với văn minh vật chất như đã dẫn thượng, đã làm thay đổi sự sanh hoạt  trong gia đình, bởi vì chúng nó tỏ ra nhanh nhẹn, hấp thụ dễ dàng, lại còn trẻ đi làm có tiền lương riêng.  Trong khi Ông Bà, Cha Mẹ lần lượt nay đã già yếu, chậm chạp, khó khăn hấp thụ văn minh vật chất, tiền của càng ngày không bằng các con cháu, cho nên có một số gia đình chúng nó không lo lắng hết lòng phụng dưỡng Cha Mẹ để đưa đến không KÍNH HIẾU CHA MẸ như xưa nữa.  Bổn phận của người con đối với cha mẹ là phải biết kính hiếu thật đúng nghĩa vậy.

======================

Phần bổ túc thêm:

Sau khi bài KÍNH HIẾU CHA MẸ đã được đăng tải, có nhiều thân hữu viết thơ hài lòng, bởi có ý tưởng giống nhau, rất mong các con các cháu sanh trưởng từ cuối thập niên 20 đến nay, nối tiếp  phong  tục  tập  quán xa xưa từ thời nhà có ba gian hai chái, trong nhà đôi khi có tứ đại đồng đường, các con, cháu chắt ăn ở chung, trên thuận dưới hòa với nhau, mặc dù không có nhà cửa, xe cộ khang trang, văn minh tuyệt vời, có máy móc đủ loại như hiện nay nào là các máy : điện thoại, điện toán (ordinateur =computeur) cầm tay, Internet, truyền hình mặt dẹp… Nhưng thời đó, cuộc sống ềm đềm trong mái ấm gia đình dầy tình thương trên dưói một nhà.

Đổi với con cái ngày nay, với văn minh vật chất như đã dẫn thượng, đã làm thay đổi sự sanh hoạt  trong gia đình, bởi vì chúng nó tỏ ra nhanh nhẹn, hấp thụ dễ dàng, lại còn trẻ đi làm có tiền lương riêng, trong khi Ông Bà, Cha Mẹ lần lượt nay đã già yếu, chậm chạp, khó khăn hấp thụ văn minh vật chất, tiền của càng ngày không bằng các con cháu, cho nên có một số gia đình chúng nó không lo lắng hết lòng phụng dưỡng Cha Mẹ để đưa đến không KÍNH HIẾU CHA MẸ như xưa nữa.

Đó là, tâm trạng chung, làm đau lòng cho Cha Mẹ già không ít.

Hơn nữa, chúng ta nên nằm lòng để bớt đau khổ tuổi già vì:  Cha Mẹ thương con vô hạn,  để nuôi dưỡng con từ mới lọt lòng, mỗi khi con đau ốm Cha Mẹ lo lắng để mau hết bịnh cho đến khôn lớn nên người và còn chọn lựa dựng vợ gả chồng là bổn phận là niềm vui,

Trái lại, con thương Cha Mẹ có hạn, cho nên khi Cha Mẹ đau ốm, con đến dòm ngó, hỏi thăm vài câu là thấy đủ  rồi đi…

Ngoài ra, tiền bạc, nhà cửa của Cha Mẹ là của con, trái lại, tiền bạc, nhà cửa của con Không Phải của Cha Mẹ, vì thế con xài tiền bạc của Cha Mẹ thoải mái, Cha Mẹ cần tiền bạc của con chẳng dễ chút nào

Và ngày nay, con còn đặt Cha Mẹ ở đâu thì Cha Mẹ phải ngồi đó, bởi vì, con đã tự ý chọn Vợ hay Chồng kể ly dị nữa, đáng cho chúng ta suy ngẫm cuộc đời…

Hàn Lâm Nguyễn Phú Thứ

The post KÍNH HIẾU CHA MẸ appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Nghề Vợ Chồng https://bachhac.net/nghe-vo-chong.html Tue, 25 Jan 2022 02:51:31 +0000 https://bachhac.net/?p=4110 Có bao giờ bạn nghĩ đời sống vợ chồng cũng là một nghề không? Chắc chắn mọi người đều nghĩ vợ chồng là chuyện tình cảm yêu đương, cớ sao lại gọi là một nghề?… Vào ngày 7 tháng 1 năm 2008, có một người Mỹ gốc Việt, 38 tuổi đã ném bốn đứa con …

The post Nghề Vợ Chồng appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Nghề vợ CHồng

Có bao giờ bạn nghĩ đời sống vợ chồng cũng là một nghề không? Chắc chắn mọi người đều nghĩ vợ chồng là chuyện tình cảm yêu đương, cớ sao lại gọi là một nghề?…

Vào ngày 7 tháng 1 năm 2008, có một người Mỹ gốc Việt, 38 tuổi đã ném bốn đứa con nhỏ từ bốn tháng đến ba tuổi trên một chiếc cầu tại tiểu bang Alabama, Hoa Kỳ. Theo tin tức thì hai vợ chồng anh thường cãi nhau suốt ngày, hầu như không ngày nào mà hàng xóm không nghe vợ chồng anh to tiếng mắng chửi nhau. Ngoài việc xung đột, bất đồng ý kiến với vợ, anh còn uống rượu và xài thuốc kích thích, nên không kiềm chế nổi cơn sân. Vào ngày nói trên, sau khi cãi nhau với vợ, anh xách bốn đứa con lên xe và đem ra cầu liệng xuống sông, sau đó cảnh sát đã tìm ðược xác của bốn đứa trẻ này. Khi ra tòa anh ðã thú tội và nhận án tử hình.

Câu chuyện này ðã làm rung động giới truyền thông Mỹ nói chung và giới cộng đồng Việt Nam nói riêng.

Ở Việt Nam, những chuyện vợ chồng xung đột, cãi vả, mắng chửi hoặc đánh nhau bể đầu, chảy máu không phải chuyện lạ, nhưng ở một xứ văn minh như Hoa Kỳ mà xảy ra đưa tới án mạng giết bốn đứa con thơ như vậy quả thật là khủng khiếp.

Ở đời nam, nữ lớn lên cưới hỏi nhau là lẽ tự nhiên, không ai thắc mắc tại sao phải như vậy. Thế nhưng đến khi gia đình vợ chồng tan vỡ, ly dị, chửi nhau, đánh nhau, và có lúc giết nhau thì người ta lại ngạc nhiên hỏi: “Ủa, tại sao lại có thể xảy ra như vậy?”

Thông thường, trước khi đi làm kiếm tiền, người ta phải đi học để có nghề trong tay, sau đó mới đi xin việc làm. Một người muốn làm bác sĩ, ít nhất phải học xong tú tài, rồi thi tuyển vào đại học y khoa, và học từ bảy đến mười năm, sau đó mới được phép ra mở phòng mạch. Một người muốn làm kỹ sư cũng phải qua tú tài, rồi thi tuyển vào các trường kỹ sư, học tổng cộng ít nhất năm năm, sau đó mới ra hành nghề kỹ sư. Trong xã hội, tất cả ngành y tế, kỹ thuật, khoa học, v.v… các nhân viên đều phải được học nghề và huấn luyện trước khi được mướn. Và nhiều khi đang hành nghề, hàng năm vẫn phải đi học thêm khóa tu nghiệp để cập nhật hóa những kiến thức mới.

Trong khi đó đa số người ta lập gia đình vào lứa tuổi trung bình từ 18 đến 25, mà không có một chút khái niệm căn bản tối thiểu về đời sống gia đình, tâm lý, sinh lý, tình cảm. Họ chỉ biết xưa nay thấy ai cũng lập gia đình cho có ðôi thì làm theo, vậy thôi.

Có bao giờ bạn nghĩ đời sống vợ chồng cũng là một nghề không? Chắc chắn mọi người đều nghĩ vợ chồng là chuyện tình cảm yêu đương, cớ sao lại gọi là một nghề?

Chữ nghề nghe có vẻ vô tình quá!

Vì nghề là một việc làm kiếm tiền, trong đó không có tình cảm gì hết. Nếu tôi là bác sĩ giỏi chữa bạn hết bệnh thì bạn phải trả tiền cho tôi. Nếu tôi là kỹ sư giỏi, thợ giỏi thì chủ phải trả lương cho tôi, hai bên không có tình cảm gì hết. Nếu bạn mở tiệm làm nhà hàng, nấu ăn ngon thì sẽ đông khách. Mới nhìn qua các cơ sở y tế, kỹ thuật, thương mại dường như không có tình cảm, nhưng thật ra đều có tình cảm bên trong. Nếu bạn là bác sĩ giỏi mà không có tình người, xem bệnh nhân như cỏ rác thì chắc chắn họ sẽ không tới và bạn sẽ ế khách. Nếu bạn là kỹ sư giỏi mà phách lối, làm tàng không biết kính nể sếp trên thì họ sẽ đì bạn, không tăng lương hoặc kiếm cớ đuổi bạn. Nếu bạn nấu ăn ngon mà không khéo tiếp đãi, ân cần phục vụ khách hàng thì họ sẽ bỏ đi ăn tiệm khác. Bất cứ một cơ sở, hãng xưởng nào cũng cần những nhân viên giỏi, ngoài việc rành nghề còn phải biết giao tiếp cư xử với kẻ trên người dưới một cách hòa thuận và có tình người thì mới thành công, phát triển.

Gia đình cũng là một cơ sở nhỏ (small business), trong đó cả hai vợ chồng đều là chủ nhân và đồng thời cũng là người làm. Cả hai cần phải biết hợp tác với nhau về khả năng lẫn tình cảm để đóng góp xây dựng “cơ sở” mang tên là “gia đình” được hạnh phúc. Mỗi người cần phải biết bổn phận cũng như quyền lợi của mình.

Thế nhưng rất tiếc, sau khi trải qua thời trăng mật của “tình yêu”, người ta thường quên đi bổn phận mà chỉ chú ý tới quyền lợi, đòi hỏi, mong muốn người kia phải làm theo ý mình, chiều chuộng mình, phục vụ mình.

Nếu bạn đồng ý với quan niệm “gia đình là một cơ sở nhỏ” thì vợ chồng cũng là một nghề, trong đó người chồng cần phải học nghề làm chồng, và người vợ cần phải học nghề làm vợ. Con người ta mới sinh ra không ai tự nhiên biết nói, biết đọc, biết viết, mà cần phải được dạy nói, dạy đọc, dạy viết. Cái gì cũng phải học thì mới biết làm. Vợ chồng là một nghề làm suốt cuộc ðời, vậy mà không có trường hay lớp nào dạy.

Cùng lắm, trước khi gả con gái về nhà chồng thì người mẹ dạy con vài lời về cách làm dâu.

Đến ngày làm lễ cưới ở nhà thờ hay trong chùa thì các cha và quý thầy cũng chỉ khuyên vợ chồng ăn ở hòa thuận và chung thủy với nhau.

Nghĩ lại ở đời chưa có cái nghề nào, trong đó người ta không được dạy chút nào mà phải vô làm ngay như nghề vợ chồng. Có lẽ người ta nghĩ cái nghề này không cần học, cứ làm đại thì từ từ sẽ biết, tiếng Pháp gọi là “apprendre sur le tas”, tạm dịch là “vừa làm vừa học”, hên thì hưởng, xui thì chịu.

Ngoài ra nghề vợ chồng không phải thích thì làm, chán thì nghỉ dễ dàng như các nghề khác. Đương nhiên thời nay người ta có thể lấy nhau vài năm rồi ly dị, nhưng nếu có con thì vấn đề ly dị, chia gia tài thật là nhiêu khê, phiền toái. Vì thế có những cặp chán ghét nhau mà vẫn phải sống chung vì con cái, kinh tế, thể diện, hay truyền thống, v.v…

Tình yêu suông không đủ đem lại hạnh phúc. Tình yêu chỉ là ðộng cơ thúc đẩy hai người đến với nhau, nhưng sống chung hạnh phúc là một việc khác. Nó đòi hỏi mỗi người phải biết cách cư xử với nhau.

Trong các đạo giáo gọi đó là “đạo vợ chồng”. Đạo vợ chồng thường chỉ dạy “bổn phận” (duty, devoir) của vợ chồng. Biết được “bổn phận” cũng là một điều đáng quý rồi, nhưng vẫn chưa đủ đem lại hạnh phúc, nó chỉ giúp cho gia đình sống bình yên, không sóng gió.

Giống như một nhân viên biết bổn phận của mình là đi làm chăm chỉ, đúng giờ, nhưng chưa chắc anh ta làm việc giỏi, biết tăng lợi nhuận cho chủ. Do đó ngày nay, các hãng xưởng phải gửi nhân viên đi học thêm các lớp tu nghiệp để nâng cao năng xuất. Người nhân viên cũng có quyền lợi như được nghỉ hè một năm hai tuần hay một tháng.

Cũng thế, ngoài “bổn phận” (hay trách nhiệm), người vợ và chồng cũng nên biết mình có những “quyền lợi” gì để không bị đàn áp, bóc lột, lường gạt. Ngoài bổn phận và quyền lợi, vợ chồng cần phải học hỏi thêm những cách thức xây dựng hạnh phúc, gọi tắt là nghệ thuật sống (art of living).

Do đó chữ “nghề” vợ chồng bao gồm nhiều nghĩa: bổn phận, trách nhiệm, đạo nghĩa, quyền lợi, và nghệ thuật.

Nếu được học một chút “nghề” vợ chồng, ít nhất là “bổn phận” thì đã không có những người chồng say rượu, vũ phu đánh đập vợ con, hoặc như người đàn ông ném bốn đứa con xuống sông ở trên, làm tan nát gia đình; không có những ngýời vợ lẳng lơ, say mê cờ bạc, phá hoại gia cang.

Bên đạo Chúa, có những lớp dạy về đời sống gia đình cho những cặp vợ chồng sắp cưới, giúp họ tìm hiểu về tâm sinh lý, tình cảm nam nữ, cách sống làm vợ, làm chồng, làm cha mẹ, hiểu biết về những khó khăn thử thách của đời sống gia đình sau khi cưới, cách giáo dục con cái trở thành người tốt trong xã hội, v.v… Ðây là một điều rất hay cần được bắt chước học hỏi.

Trong đạo Phật, mặc dù nhấn mạnh về sự giải thoát sanh tử luân hồi, đức Phật vẫn không quên dạy cho người tại gia cư sĩ những phương pháp sống hạnh phúc trong cuộc đời như trong các kinh Thiện Sinh, Bảy Loại Vợ, Người Vợ Mẫu Mực, Người Cư Sĩ, Hiền Nhân, v.v… Song le những kinh này không được khai triển rộng rãi nên ít người để ý học hỏi và áp dụng trong cuộc sống.

Có những người suốt ngày ngồi thiền, niệm Phật, tụng kinh và quên mất bổn phận làm vợ làm chồng, làm cha mẹ, khiến người hôn phối đâm ra oán ghét đạo Phật và nghĩ rằng các thầy đã làm mất hạnh phúc gia đình của họ. Từ đó gia đình trở nên xào xáo, bất hòa, càng tu vợ chồng càng cãi nhau, giận nhau rồi cho là tại tu nên đổ nghiệp, ma phá..

Họ đâu ngờ tu một cách ích kỷ, chỉ biết phần mình và bỏ mặc bổn phận nên mới sinh ra phiền não như vậy. Do đó người Phật tử thông minh, khéo léo là người biết dung hòa đời sống gia đình và tâm linh.

The post Nghề Vợ Chồng appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Suối Nguồn Của Báo Hiếu https://bachhac.net/suoi-nguon-cua-bao-hieu.html Tue, 25 Jan 2022 02:40:21 +0000 https://bachhac.net/?p=4107 Khi nghĩ về công ơn sanh thành dưỡng dục, thì chúng ta đã tạo nên một mạch nguồn của ân đức, của nghĩa trọng tình sâu, của dòng tâm thức luân lưu bất diệt. Một suối nguồn của thơ ca, của tiếng nhạc trầm hùng, lúc sâu lắng lúc thì nhẹ nhàng đi vào nhân …

The post Suối Nguồn Của Báo Hiếu appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Suối nguồn của báo hiếu

Khi nghĩ về công ơn sanh thành dưỡng dục, thì chúng ta đã tạo nên một mạch nguồn của ân đức, của nghĩa trọng tình sâu, của dòng tâm thức luân lưu bất diệt. Một suối nguồn của thơ ca, của tiếng nhạc trầm hùng, lúc sâu lắng lúc thì nhẹ nhàng đi vào nhân thế vừa bất hủ vừa rung động thức tỉnh. Thế mới biết, giấy mực trần gian chẳng viết lên nỗi hai chữ “Mẹ ơi” cho trọn vẹn.

Báo hiếu cũng vậy! Báo hiếu là suối nguồn vĩ đại. Bởi lẽ báo hiếu không chỉ trong phạm vi nhớ ơn và biết ơn đến Ông Bà – Cha Mẹ, mà còn phải biết và nhớ ơn cao trọng tình Thầy trò, Tổ quốc, ơn những đồng loại, cộng đồng.  Khi nói đến báo hiếu thì ý nghĩa thật sự rộng lớn, nhưng bao quát lại chính là nỗ lực hồi báo tứ ân: Ơn Tam bảo, ơn Sư trưởng, ơn Cha mẹ và cuối cùng là công ơn của Đàn việt –  Chúng sanh.

Để làm được việc này, chúng ta không những thể hiện những hành động đơn thuần trong phạm vi hiếu đễ theo ý nghĩa thường tình; mà phải lập nguyện thiết tha, phát Bồ-đề tâm dõng mãnh. Khi đã phát Bồ-đề tâm, thì việc tri ân và báo ân mới đầy đủ ý nghĩa của nó.

Phát Bồ-đề tâm chính là lập chí nguyện mong cầu quả vị vô thượng Bồ-đề. Đây là ý nghĩa đầu tiên và quan trọng nhất của người học Phật. Bởi lẽ, Bồ-đề tâm là căn bản của Bồ-tát giới. Phát Bồ-đề tâm là khơi dậy toàn bộ bước đi của tâm thức, là ý niệm chân chánh của muôn vàn sự nhận thức, là sự thành tựu của tất cả muôn hạnh lành, cho đến con đường Phật quả cũng không ngoài việc bắt đầu là phải phát khởi Bồ-đề tâm.

Trong bài văn khuyến Phát Tâm Bồ Đề, chúng ta thấy rằng ngài Thật Hiền đã không có một khoảnh khắc nào lãng quên đến đại sự sống chếtø. Trong sự vô thường mong manh của kiếp người mà ngài đã không quên khuyến khích tất cả người con Phật, phải phát tâm và lập nguyện: Nguyện lập thì chúng sanh độ nỗi, tâm phát thì Phật đạo mới thành được.(1) Tri ân cũng phải khởi phát tâm và Báo ân cũng phải lập nguyện: “Nếu quên mất tâm Bồ-đề mà tu hành các thiện pháp, thì gọi là hành động theo ma vương” (2). Tri ân và báo ân cũng là những lý do để phát khởi tâm Bồ-đề làm các việc lành. Và cũng thế, tâm Bồ-đề là suối nguồn của sự báo hiếu.

Không có nỗi khổ nào lớn nào bằng nỗi khổ cứ thăng trầm mãi trong luân hồi sinh tử, nỗi khổ của kẻ ngu si gây ra biết bao tội lỗi, nỗi khổ của con lừa chở nặng giữa sa mạc cháy nắng cũng không bằng nỗi khổ lên xuống sáu nẽo ba đường. Đức Phật đã thấy như thế, Ngài đã thương xót tạo nhiều phương tiện để giáo hóa, mở nhiều cánh cữa để chúng ta gieo trồng thiện căn, trong lúc chúng ta còn đọa đày đâu đó trong chốn u đồ cho đến khi có được thân người. Không giây nào phút nào Đức Phật tạm thời rời bỏ chúng sanh , để chúng ta hành động sai trái quay về với nẽo ác.

Sở dĩ hôm nay chúng ta có được thân người, lại gặp được Phật pháp, biết được giá trị của thiện căn đã gieo trồng từ trước nên nay lại sinh ra gặp được Phật pháp, và đâu là ác quả nếu bướng làm thì sẽ nhận lãnh quả xấu trong tương lai. Tất cả những hiểu biết ấy mà chúng ta hôm nay có được, không phải từ ân đức của đức Phật thì ở đâu ra? Nghĩ như thế, mới biết rằng chúng ta thọ hưởng ân đức của chư Phật thậm thâm vô lượng, núi non sông biển không thể sánh bằng và chúng ta chỉ còn một con đường: phải nỗ lực báo đáp. Cách báo đáp duy nhất, có ý nghĩa cao cả, chân chánh, là phải phát tâm Bồ-đề, lập hạnh Bồ-tát để cứu độ chúng sanh, gìn giữ Phật pháp trường tồn mang lợi lạc đến cho mọi loài, như đức Phật đã từng làm trải qua vô lượng kiếp. Phát tâm như thế chính là cửa ngõ của sự tri ân và báo ân Tam Bảo của người con Phật.

Sự cực nhọc của mười tháng cưu mang, ba năm bú mớm, nhường khô nằm ướt, nuốt đắng nhả ngọt, tranh đấu trong từng giây phút để con được trưởng thành, khôn lớn; là một quá trình vật lộn lâu dài không từng ngưng nghĩ, là sự kết tinh của tất cả tâm huyết từ Cha mẹ đối với con thơ. Để làm gì?

Chỉ thầm ước vọng làm sao con thành người đúng với nghĩa của nó, hy vọng con cái đủ khả năng thừa kế được gia phong, làm rạng danh tiên tộc trong ý nghĩa đời thường. Thế mà trong chúng ta, vẫn có người không nhận thức được công ơn sâu dày ấy. Khi Cha mẹ còn sống thì không có ngày cung phụng hầu hạ, cơm nước đỡ đần, chết thì quên ngày, cúng tế chạp kỵ không chu toàn. Khi Cha mẹ còn sanh tiền thì chúng ta không có khả năng nuôi dưỡng, lúc chết thì chúng ta bất lực trong việc trợ lực nghiệp thức. Đối với cha mẹ, đường nào cũng thiếu sót, suy nghĩ như vậy mới thấy chúng ta tội lỗi vô biên, bất hiếu trầm trọng. Cần phải tỉnh thức phát tâm rộng lớn, luôn luôn nhớ nghĩ đến công ơn đó và nỗ lực thực hành Phật đạo mới hầu mong tri ân và báo ân nghĩa nặng của Cha mẹ.

Như vậy, chỉ có phát tâm rộng lớn tu hành, khắp độ chúng sanh trong trăm đời nghìn kiếp, lúc ấy chúng ta mới dám nghĩ đến công ơn sanh thành dưỡng dục và con đường của báo hiếu chân chánh. Có phát tâm như vậy thì không những chúng ta báo ân được Cha mẹ trong một đời mà Cha mẹ trong nhiều đời cũng đầy đủ lợi lạc, đều được siêu thăng. Phát tâm như vậy, chính là khơi nguồn của tấm lòng tri ân và báo ân đến Cha mẹ của người con Phật.

Cha mẹ cho chúng ta tấm thân, những vị Thầy tôn kính, bậc Sư trưởng cho chúng ta cái chữ nếu là ở đời. Đối với đạo, bậc Sư trưởng chính là người cho chúng ta giới thân huệ mạng để vững bước đi trên con đường đạo thênh thang và cũng lắm chông gai. Chúng ta sở dĩ biết lễ nghĩa với Cha mẹ, tôn kính đến bậc trưởng thượng, hòa ái với mọi người chính là được sự giáo dưỡng của Thầy và các bậc Sư trưởng. Nếu chúng ta sống ở đời mà không biết lễ nghĩa, không dùng lễ nghĩa để làm khuôn phép trong giao tiếp thì có khác gì loài cầm thú. Lễ giáo ở đời, kiến thức trong Phật pháp không hiểu thì chẳng khác gì những hạng tục tử, phàm phu. Hôm nay, chúng ta có được sự trang sức của lễ nghĩa trong giao tiếp, phép tắc trong hành xữ, ân đức ấy chính là tấm lòng tha thiết, ước vọng của Thầy, Tổ, Sư trưởng trao truyền. Như vậy, chẳng vì lợi ích của bản thân, mà phải phát khởi Bồ-đề tâm, làm lợi lạc hết thảy chúng sanh, trong đó không những Thầy ở thế gian, mà Sư trưởng xuất thế đều được lợi ích. Phát tâm như vậy, chính là cội nguồn của tri ân và báo ân đến Thầy, Tổ, Sư trưởng của người con Phật.

Thế giới chúng ta đang sống là một sự kết hợp hài hòa giữa cái này và cái khác, giữa cái thiện và cái ác, nếu không có cây cỏ, đất nước, ánh sáng thì bầu trời này sẽ thiếu sự thăng bằng, con người sẽ sống trong sự khập khễnh, bệnh tật và buồn chán. Sự sống này sẽ vô nghĩa biết bao nếu thiếu tiếng chim hót lúc ban mai, thiếu hoa cỏ giữa mùa xuân, thiếu tiếng kêu róc rách của mạch nước từ hang đá lạnh trong đêm khuya, thiếu tiếng ào ạt liên tục của dòng thác tạo thành bản nhạc rừng vĩ đại.

Con người sẽ không phải là con người toàn diện khi thiếu đồng loại của mình, mỗi ý tưởng cá nhân là một sự hưng khởi cho dòng tâm thức cộng đồng được luân lưu. Xung quanh con người nếu không có bằng hữu thì con người sẽ sống trong cô độc, tẻ nhạt và thiếu vắng tất cả những thứ ấy thì tâm thức con người sẽ héo mòn mỗi ngày, rồi sẽ trở thành trơ trọi, mất sức sống.

Thế giới chúng ta đang sống là một thế giới của sự tương tức tương nhập, trùng trùng duyên khởi, thế giới của cái này có thì cái kia có, và cái này không thì cái kia cũng không. Thế giới chúng ta đang sống là thế giới như một sự vay trả nhiều đời. Chính tấm thân của chúng ta cũng là một sự vay mượn, tâm thức của chúng ta là một dòng luân lưu ý thức từ nhiều người khác nhau, của ngoại cảnh và nội giới. Suy nghĩ và hiểu được sâu sắc như vậy, chúng ta mới biết được rằng hiện tại ta và chúng sanh có thể đã chung nhà, có thể đã từng lieä hệ với nhau như cha với con, vợ chồng, anh chị trong quá khứ và khác nhau trong hiện tại, tất cả đều nằm trong một thể bình đẳng nhân quả nghìn đời.

Như vậy, khi tất cả là một thể bình đẳng thì chúng ta không thể không nghĩ đến nỗi thống khổ của người khác mà không cân nhắc trong hành động; để không làm hại người và hại mình, suy nghĩ sâu sắc như vậy là chúng ta đã biết được cách phát tâm rộng lớn để tri ân và báo ân giữa người và người, giữa người và môi trường xung quanh; tạo nên một thế giới loài người sống có hòa ái. Phát tâm như vậy, chính là khơi nguồn của lòng tri ân và báo ân đến với đàn việt và chúng sanh.

Bên cạnh nỗ lực tri ân và báo ân rộng lớn được tóm tắt trong tứ trọng ân, khi phát tâm và lập nguyện như vậy thì chúng ta đã biết sống trong đạo lý làm người, và thấy con đường thoát khổ. Khi biết được sự tri ân và báo ân dựa trên căn bản phát tâm Bồ-đề. chính là chúng ta đã tôn trọng nhân cách toàn diện của kẻ khác và cũng chính là tôn trọng tánh linh của chúng ta và của mỗi con người.

Khi phát tâm rộng lớn để báo ân thì chính chúng ta đã làm cho bản thân trở nên hoàn thiện, bởi lẽ không có điều ác nào ác hơn tội bất hiếu, không có điều thiện nào thiện hơn là hiếu thảo. Suy nghĩ như vậy chính là sự hoàn thiện bản thân, là biết hỗ thẹn với những hành động sai trái của mình mà sám hối vậy.

Phát tâm Bồ-đề rộng lớn để tri ân và báo ân chính là bước đi của ý thức vô ngã và muốn khẳng định rằng, tâm thức của chúng ta thư thái, tự do và không sống trong sự lừa đảo, giả dối; không bị vướng kẹt bởi bên này và bên kia, cũng không có khiếm khuyết. Sự hoàn hảo trong tâm thức chính là dấu hiệu của an lạc và giải thoát, nếu chúng ta biết gìn giữ và biết phát tâm dõng mãnh để phát triển trạng thái tâm ấy thì cõi Tịnh độ đâu có xa, Niết bàn đã ngay trần thế.

Phát tâm và lập nguyện như vậy, để báo hiếu, để tri ân và báo ân, để đền ơn, đáp trả không phải là sự phát tâm một chiều, và như vậy không phải là tà phát tâm. Tuy nhiên, sự tri ân và báo ân không phải là việc dễ làm, có đôi lúc hiểu nhưng đã không làm, và có khi làm nhưng không hiểu, cũng không phải là việc nhỏ, không phải là việc làm chỉ trong một đời người. Tuy nhiên, chúng ta phát tâm rộng lớn dám làm và dám nghĩ trong chuyên cần, nhớ nghĩa trong nhiều đời nhiều kiếp, như vậy đâu phải là tiểu phát tâm. Từ sự tri ân và báo ân mà nghĩ đến nỗi thống khổ sinh tử, phát khởi lòng cầu đạo Bồ-đề để làm lợi lạc cho tất cả chúng sanh, phát tâm như vậy đâu phải là ngụy phát tâm báo hiếu? Suy nghĩ đến tri ân và báo ân mà phát khởi tâm Bồ-đề đối với chúng sanh mà thấy tự tánh là chúng sanh nên nguyện độ thoát, đối với tự tánh Phật đạo nên nguyện thành tựu, từ tấm thân này mà thấy là Phật thân. Phật thân là pháp thân tròn đầy thường hằng, chính là ý nghĩa phát tâm viên mãn.

Phát tâm và lập nguyện như vậy chính là căn bản của phát Bồ-đề tâm của Bồ-tát đạo, là suối nguồn của báo hiếu. Đây cũng chính là ý nghĩa báo hiếu đầu tiên và quan trọng của người con Phật.

The post Suối Nguồn Của Báo Hiếu appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Tại Sao TAM BẢO Là Ba Ngôi Quý Hiếm https://bachhac.net/tam-bao-la-ba-ngoi-quy-hiem.html Tue, 25 Jan 2022 02:31:56 +0000 https://bachhac.net/?p=4101 Tam Bảo: Phật – Pháp – Tăng là ba ngôi báu quý hiếm nhất trên đời này vì Tam Bảo là cội nguồn của mọi phước báu thế gian và xuất thế gian cho tất cả chúng sanh. Đức Thích Tôn trong kinh Niệm Phật Ba La Mật thuyết: “Tam Bảo là chỗ về nương …

The post Tại Sao TAM BẢO Là Ba Ngôi Quý Hiếm appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
tại sao tam bảo là 3 ngôi quý hiếm

Tam Bảo: Phật – Pháp – Tăng là ba ngôi báu quý hiếm nhất trên đời này vì Tam Bảo là cội nguồn của mọi phước báu thế gian và xuất thế gian cho tất cả chúng sanh. Đức Thích Tôn trong kinh Niệm Phật Ba La Mật thuyết: “Tam Bảo là chỗ về nương tựa của muôn loài, là ngọn đèn phá tan mọi hắc ám, là con thuyền đưa chúng sinh qua thấu bờ bên kia.”

Nương tựa vào Tam Bảo với một niềm tin chân thật và vững chãi, chúng ta trở thành những kẻ vô úy, từ bi hỷ xả, an nhiên sống trong thế giới loạn động và thọ hưởng hương vị pháp lạc vì chúng ta biết chuyển hóa những buồn vui, vinh nhục của thế gian nhờ vào thực hành những lời Phật dạy trong đời sống tu hành và đời sống hàng ngày.

Tuy nhiên, bài tiểu luận ‘nông cạn’ này không triển khai ý niệm này mà chỉ tập trung khai thác sự quý hiếm của ba ngôi báu về mặt thời gian và không gian trên cơ sở kinh điển và thực tiễn cùng với những tâm sự của bút giả với các đồng tu quý mến.

1. Sự quý hiếm của Tam Bảo về mặt thời gian:

Tỷ lệ thời gian ‘Có Tam Bảo’ và ‘Không có Tam Bảo là 1/10.000.

Tam bảo là 3 ngôi quý hiếm

Các đạo hữu phát hiện gì trong đường tròn trên (Hình 1) ? Một vệt sáng bé tí tẹo là biểu thị thời gian có Tam Bảo và thời Gian không có Tam Bảo là cả một vòng tròn màu đỏ.

Phật Pháp được chia thành ba thời kỳ là thời Chánh Pháp, thời Tượng Pháp, và thời Mạt Pháp. Các thời kỳ Pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được ghi chép trong các kinh điển thì không đồng nhất, nhưng hầu hết các bậc cổ đức đều theo thuyết định thời kỳ Chánh Pháp là 500 năm, thời kỳ Tượng Pháp là 1.000 năm, và thời kỳ Mạt Pháp là 10.000 năm [1]. Hiện thời chúng ta đang ở thời Mạt Pháp hơn 1.100 năm. Căn cứ vào số liệu trong Kinh Điển Đại Thừa, thời kỳ Mạt Pháp còn kéo dài khoảng 8.900 năm. Cuối thời Mạt Pháp theo Phật Thuyết Kinh Pháp Diệt Tận, kinh điển dần dần ẩn mất cho đến chỉ còn lại câu Phật hiệu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT trụ thế thêm 100 năm nữa (theo Kinh Vô Lượng Thọ) và cuối cùng cũng biến mất. Đó là thời kỳ Phật Pháp bị tận diệt và Tam Bảo không còn tồn tại ngay cả danh từ Tam Bảo cũng trở nên xa lạ. Phật nói, “từ đó về sau không biết chuyện gì xảy ra cho đến ức triệu năm sau Đức Di Lặc Hạ sanh thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác” [2]. Trong khi đó theo Kinh Di Lặc Hạ Sanh, năm mươi sáu ức bảy ngàn năm sau, Đức Di Lặc mới giáng trần. Đơn vị ức có một số cánh tính khác nhau như sau:

Mười vạn = 1 ức, trăm vạn = 1 ức, ngàn vạn = 1 ức, 4 vạn vạn = 1 ức [3].

Nói chung là rất lâu xa. Để phát họa biểu đồ đường tròn so sánh  ở trên, bút giả chỉ căn cứ vào đơn vị nhỏ nhứt của 1 ức là 100.000 và ức triệu năm sau khi kinh pháp tận diệt thì Đức Từ Thị hạ sanh thành Phật.

2. Sự quý hiếm của Tam Bảo về mặt không gian

So với dân số thế giới, số lượng người theo Đạo Phật quả thật khiêm tốn và chỉ tập trung ở một số nước Châu Á như Thái Lan, Nhật Bản, Nam Hàn, Trung Quốc, Việt Nam, Sri-lanka, Lào, Cam-pu-chia, Đài Loan, Miến Điện, Ấn Độ…

a) Tỷ lệ Phật tử với dân số thế giới rất thấp

Theo số liệu năm 2010 của Cơ Quan Tình Báo Trung Ương Hoa Kỳ (CIA) trong tập World Fact-book  về lĩnh vực tôn giáo thế giới, số lượng người theo đạo phật là 380 triệu chiếm 5.4% số thế giới [4]. Hình 2 cho thấy người theo đạo Phật chiếm một phần ‘khiêm tốn’ so với phần còn lại của dân số thế giới.

b) Tỷ lệ người theo đạo Phật so với các tôn giáo lớn khác trên thế giới thấp nhất

So với những tôn giáo lớn khác trên thế giới, đạo Phật chiếm tỷ lệ thấp nhất như đồ thị minh họa (Hình 2) trong tập World Fact-book cho thấy tỷ lệ người theo đạo Phật thấp hơn 1/2 lần đạo Hindu (13.26%), thấp hơn nhiều so với đạo Hồi (21.01%)  trong khi đó tín đồ Cơ Đốc Giáo (Christian: 33.32%) cao hơn gần sáu lần tín đồ Phật Giáo.

Tam bảo là 3 ngôi quý hiếm

c) Phật Giáo chỉ phát triển mạnh tập trung ở một số nước Châu Á

Số liệu của Adherents.com cho thấy những quốc gia có số lượng phật tử cao đều là những nước Châu Á như bảng số liệu dưới đây. Trung Quốc có số lượng Phật tử nhiều nhất. Về tỷ lệ so với dân số quốc gia, Thái Lan cao nhất chiếm 95% và Việt Nam ở vị trí thứ sáu chiếm 55% (49.690.00 người) trong Top Ten những nước có tỷ lệ dân số theo Phật Giáo cao nhất [5].

Mười Quốc Gia có số Phật tử nhiều nhất thế giới

Quốc gia Số lượng Phật tử Quốc gia Số lượng Phật tử
 Trung Quốc 102.000.000 Sri Lanka 12.540.000
Nhật Bản 89.650.000 Nam Hàn 10.920.000
Thái Lan 55.480.000 Đài Loan 9.150.000
Viet Nam 49.690.000 Cambodia 9.130.000
Miến Điện 41.610.000 Ấn Độ 7.000.000

3/ Tâm tình của bút giả

a) Trân quý Ngôi Tam Bảo

Chư Phật tử quý mến! Chúng ta quả thực may mắn có được thân người trong thời gian Giáo Pháp của Đức Thế Tôn đang tồn tại và phát triển. Có thể nhận ra sự may mắn này qua tỷ lệ chênh lệch quá lớn: 1 năm có Tam Bảo và 10.000 năm không có Tam Bảo.  Càng may mắn hơn nữa là chúng ta được sinh ra và lớn lên ở những nơi Tam Bảo Phát triển mạnh như Việt Nam. Cuối cùng, chúng ta đầy phước báu và thiện căn trở thành những Phật Tử được bảo vệ, che chở và trưởng dưỡng trí tuệ giải thoát – Niết Bàn bởi Ngôi Tam Bảo quý hiếm này. Vì thế, chúng ta phải trân quý ba Ngôi Báu này và quý thân người khó có đặng của mình bằng cách dành thời gian tu tập hạnh nhân thiên, giải thoát – Niết Bàn.

b) Hộ trì Chánh Pháp

Bằng cách tu tập và làm theo những giáo huấn của Đức Phật trong các Kinh điển Đại Thừa và Tiểu Thừa. Hãy cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm tu tập với các bạn đồng tu. Phật tử của những tông phái Phật Giáo phải đoàn kết, tôn trọng lẫn nhau và coi nhau như thành viên của một đại gia đình Phật Giáo và hơn thế nữa đối xử với những ngoại đạo như những Phật tử đương lai.  Để Chánh Pháp được trường tồn và phát triển trong thế giới hiện đại, hãy siêng bố thí cúng dường, xây chùa, dựng tháp, ấn tống kinh sách và đem giáo pháp của Như Lai (dù chỉ một bài kệ) tùy duyên mà gieo duyên với nhiều người khác nhằm mang ánh sáng trí tuệ và từ bi của đạo Phật đến với càng nhiều người càng tốt. Cuối cùng, Ban Giáo hội và Các Chư Tôn Đức Thế Giới cùng nhau chủ động xây dựng chương trình phát triển Phật Giáo ở những nơi chưa có Tam Bảo.

c) Siêng tu hạnh lành và tiêu trừ tật xấu

Đừng bỏ qua bất kỳ cơ hội thực hiện một hạnh lành nào dù chỉ nhỏ như việc tình nguyện nhường ghế ngồi cho người lớn tuổi trên xe buýt vì “để thành tựu một hạnh lành cũng phải trải qua nhiều kiếp”[6]. Sống trong thế giới Ngũ trược ác thế này trong thời có Tam Bảo ngắn ngủi và ở những nơi có Tam Bảo phát triển như Việt Nam, Trung Quốc, Lào vv là một ruộng phước lớn cho những ai tu pháp lành như Bồ tát Hạnh. Ví dụ ‘ thô thiển’ là cơ hội làm từ thiện ở Việt Nam cao hơn nhiều so với những nước phát triển như Úc, Mỹ, Đức.  Muốn làm hạnh phóng sanh thì sẽ thực hiện được ngay ở Việt Nam nhưng ở Úc thì khó hơn nhiều. Kiên tâm tiêu diệt vô lượng tật xấu. “Để tiêu diệt  một tật xấu nhỏ thôi cũng đòi hỏi nhiêu kiếp” [7]. Vì thế hãy luôn giữ chánh niệm và kiên tâm với pháp môn mình đã chọn với niềm tin chân thật và vững chãi thì sẽ tiêu trừ được vô lượng nghiệp xấu và trí huệ hiển phát.

d)/ Phóng sanh và Niệm Phật

Những chúng sanh (Hóa sanh, thai sanh, hóa sanh và thấp sanh) sống chung với nhau ở những nơi có Tam Bảo phát triển mạnh như Việt Nam đều có một nghiệp chung, đó là cộng nghiệp nên mới ở cùng chung với nhau để báo ân và trả nghiệp. Hãy nhận thức rằng chim, cá, dê, gà vv… đều là cha mẹ, anh em với ta thậm chí còn rất gần với ta. “Chuyện kiếp xưa” là một mẩu chuyện cổ Phật Giáo kể lại rằng cách thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập niết bàn 700 năm, có một vị A La Hán Kỳ Dạ Đa ở Kệ Tân miền Bắc Ấn Độ thần thông quảng đại cùng với những môn đệ của ngài vân du về phía Nam và khi đi ngang qua những sườn núi, hai bên đường có những ngọn cây cao vút, tôn giả tình cờ ngước đầu nhìn lên cành cây có một con quạ đen đang đậu. Tôn giả nhìn kỹ rồi nhẹ mỉm cười, gật gật đầu. “Bạch Tôn Giả, vì sao ngài lại mỉm cười với con quạ đó? Tôn giả ôn tồn trả lời: con quạ đó là con trai của ta, không ngờ  nó lại đến nổi này. Coi như còn có duyên nên hơn mười kiếp qua rồi mà còn gặp mặt nhau” [8]. Vì thế, hãy tích cực phóng sanh và tăng cường ăn chay để trưởng dưỡng tâm từ bi.

Sau khi Pháp bị tận diệt, thế giới này chìm trong ‘bóng tối’ ít nhất 100 triệu năm trong khoảng thời gian này danh từ Tam Bảo không được biết đến huống gì nói đến lời kinh, tiếng kệ, và tiếng niệm Phật. Vì thế, hỡi các Phật tử bất kể tông phái nào, hãy cùng nhau cầu nguyện, rãi tâm từ, tụng kinh, trì chú cầu nguyện đến cho muôn loài gần ta và ở trong tất cả các pháp giới. Riêng đối với hành giả Tịnh Độ Tông, thì hãy đặt niềm tin vững chãi nơi Thánh hiệu  NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT và sẵn sàng ban cho bất kể chúng sanh nào với niềm tin rằng nghe danh hiệu Phật được phước báu vô lượng như nhiều Kinh Đại Thừa đã nói. Hãy tin rằng Biển Đại Nguyện Bi Trí Viên Mãn vô lượng công đức bất khả thuyết của A DI ĐÀ PHẬT là cứu cánh rốt ráo, không một chúng sinh hay bất kể hữu tình nào, nhất là chúng sanh chịu tội khổ ở Tam Ác Đạo (Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh) mà Ngài bỏ sót, bỏ rơi như Nguyện 1 và 2 trong 48 lời Đại Nguyện ‘Cõi nước tôi không có Địa Ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, và Chúng sanh ở Tam Ác đạo về cõi nước tôi, thọ giáo pháp tôi thì sẽ thành Chánh Đẳng Chánh Giác” [9].

Nguồn Tham Khảo

[1] Hiền Kiếp, Ma-Ha-Ma-Gia, và Đại Tập Nguyệt Tạng

[2] Phật Thuyết Kinh Pháp Diệt Tận và Đại Bi Kinh

[3] Phật Thuyết A DI ĐÀ Kinh Yếu Giải Giảng Ký – Pháp Sư Tịnh Không

[4]  World religions by percentage, according to the CIA World Factbook. June 20, 2010

[5] http://www.adherents.com/largecom/com_buddhist.html

[6] và [ 7] Bồ Tát Hạnh. Phạn Văn: Sàntideva; Việt Văn: Thích Trí Siêu

[8] Truyện Cổ Phật Giáo

[9] Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh

Nguyện đem công đức này

Hướng về chúng sanh khắp các pháp giới

Đồng sanh cõi Cực Lạc.

Tâm Tịnh

The post Tại Sao TAM BẢO Là Ba Ngôi Quý Hiếm appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>