Trung Nguyễn – Bạch Hạc – Phật Giáo Việt Nam https://bachhac.net Fri, 15 Oct 2021 03:29:12 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=5.8.1 10 điều tối kỵ để tránh Khẩu Nghiệp https://bachhac.net/10-dieu-toi-ky-de-tranh-khau-nghiep.html Fri, 15 Oct 2021 03:29:12 +0000 https://bachhac.net/?p=4010 1/ Đa ngôn (nhiều lời) Bệnh từ miệng mà vào, họa từ miệng mà ra, vì thế không nên nói quá nhiều, đa ngôn tất thất (nói nhiều ắt sẽ có sai sót). Trong cuốn “Mặc Tử” có ghi chép rằng, học trò của Mặc Tử từng hỏi ông: “Nói nhiều có lợi không?” Mặc …

The post 10 điều tối kỵ để tránh Khẩu Nghiệp appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Tu khẩu nghiệp

1/ Đa ngôn (nhiều lời)

Bệnh từ miệng mà vào, họa từ miệng mà ra, vì thế không nên nói quá nhiều, đa ngôn tất thất (nói nhiều ắt sẽ có sai sót). Trong cuốn “Mặc Tử” có ghi chép rằng, học trò của Mặc Tử từng hỏi ông: “Nói nhiều có lợi không?”

Mặc Tử trà lời: “Ếch nhái kêu suốt ngày đêm, kêu nhiều đến mức mỏi miệng nhưng nào có ai nghe chúng kêu. Sáng sớm nay nhìn thấy một con gà trống, mặt trời vừa ló rạng nó liền cất tiếng gáy, cả thiên hạ chấn động, người người lục đục trở dậy.

Vậy kêu nhiều, nói nhiều có gì tốt đẹp? Chỉ vào những lúc hợp lý nhất, ta cất tiếng nói, như vậy lời nói mới có tác dụng mà thôi.”

2/ Khinh ngôn (nói năng khinh suất)

Lời nói một khi được nói ra, tuyệt đối không nên khinh suất, thiếu thận trọng. Nếu nói ra mà phải đính chính, sửa lại, thà rằng không nói còn hơn! Những người nói năng khinh suất luôn phải đối mặt với sự chỉ trích và xấu hổ.

Không nên dễ dãi hứa hẹn với người khác, bởi một khi không làm được, bạn sẽ trở thành người thất tín, bội tín.

3/ Cuồng ngôn

Làm người, nên nhận thức và phân biệt được khinh – trọng trong từng tình huống hoàn cảnh. Một khi đã nói ra những lời cuồng ngôn, thiếu suy nghĩ, bạn ắt sẽ phải hối hận về sau.

Thứ mà con người có thể thể hiện trước mặt người khác nhiều nhất chính là ngôn từ và hành động, đặc biệt là ngôn từ. Thế nên, khi nói năng, cuồng ngôn là điều tối kỵ.

Cuồng ngôn sẽ gây ra sự khó chịu cho đối phương, gây ra thù hận… và dễ rước họa vào người.

4/ Trực ngôn

Những lời nói quá thẳng thắn trong nhiều hợp cũng gây rắc rối. Thế nên, thay vì nói thẳng, hãy tìm một cách nói mềm mại hơn, những lời nói lạnh như băng, hãy cho thêm chút nhiệt…

Hãy để ý đến lòng tự tôn của đối phương, chúng ta sẽ biết nên nói thế nào cho vừa lòng nhau.

5/ Tận ngôn

Nói năng cần phải hàm xúc và phải để lại một đường lui cho đối phương. Những người sống biết người biết ta sẽ không bao giờ nói lời tận ngôn, thay vào đó họ sẽ để lại cho người khác vài “lối thoát”, lưu lại chút khẩu đức cho bản thân.

Ngay cả khi trách người cũng không nên khắt khe đến mức không để cho họ một đường lùi, dành cho họ một lối thoát, lòng bao dung của mình sẽ được mở rộng.

6/ Lậu ngôn (tiết lộ chuyện cơ mật)

“Sự dĩ mật thành, ngữ dĩ lậu bại” câu nói này ý chỉ một việc thành hay bại, một phần là do khả năng giữ bí mật của người trong cuộc. Đối với những việc cơ mật có liên quan đến một cá nhân hay tổ chức, tuyệt đối đừng để lọt ra ngoài.
Lậu ngôn là vấn đề về nhân phẩm và hậu quả của nó thậm chí có thể nghiêm trọng đến mức khó lường. Khi sự việc chưa được xác định rõ ràng, tốt nhất không nói những lời khẳng định để tránh những ảnh hưởng xấu.

7/ Ác ngôn

Không nên dùng những lời vô lễ, ác ý để làm tổn thương người khác.

Cổ ngữ nói “đao sang dị một, ác ngữ nan tiêu”, ý chỉ vết thương do đao kiếm gây ra có thể sẽ mai một phôi pha nhưng những lời ác ý thì mãi găm sâu trong lòng người khác, chẳng thể nào gạt bỏ, lãng quên một cách dễ dàng.

Những tổn thương trong tâm lý do cái gọi là ác ngôn gây ra luôn luôn đau hơn cả những vết thương trên thể xác.

8/ Căng ngôn

Căng ở đây nghĩa là kiêu căng, tự cao tự đại. Những người thường xuyên nói những lời này, không phải là kẻ kiêu ngạo hẳn sẽ là người vô tri và dù họ thuộc nhóm nào đi nữa, thì cách ăn nói căng ngôn cũng bất lợi cho quá trình trưởng thành của họ, thậm chí khiến người khác ghét bỏ.

9/ Sàm ngôn

Sàm ngôn chỉ những lời nói xấu sau lưng người khác. Người hay nói những lời sàm ngôn phần lớn đều là những kẻ tiểu nhân.

Nhà triết học thời Đông Hán – Vương Sung từng nói: “Sàm ngôn thương thiện”, ý chỉ những lời nói xấu sau lưng sẽ vùi dập những điều lương thiện, tốt đẹp.

Một người có khẩu đức tuyệt đối không nói xấu người khác, bởi hậu quả của việc này thậm chí có thể nghiêm trọng đến mức khiến cho thiên hạ không thể thái bình.

10/ Nộ ngôn

Nộ ngôn là những lời nói được thốt ra lúc nóng nảy, mất lý trí. Những lời nói này khi nói ra sẽ làm tổn thương người khác rất nhiều.

Nói không nghĩ, bị cảm xúc lấn át lý trí dẫn đến những lời nói tức tối, giận dữ không chỉ khiến người khác khó chịu mà bản thân người nói ra câu đó cũng khó có thể vui vẻ.

Thế nên khi giận dữ, hãy lấy một tờ giấy trắng và một cây bút, nghĩ gì, quyết định gì… hãy viết ra. Sau một vài ngày, hãy xem lại “sản phẩm” lúc trước, nếu vẫn duy trì suy nghĩ cũ, vậy thì hãy làm theo.

Còn nếu cảm thấy đó chỉ là cách nghĩ lúc giận, hãy đem tờ giấy đó đi đốt để cuộc sống nhẹ nhàng hơn.

Nguồn: Sưu tầm

The post 10 điều tối kỵ để tránh Khẩu Nghiệp appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Sự Linh Ứng Của BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM https://bachhac.net/su-linh-ung-cua-bo-tat-quan-the-am.html Sat, 18 Sep 2021 14:31:08 +0000 https://bachhac.net/?p=4002 Có 3 nguồn gốc mà Bồ tát Quán Âm xuất hiện: 1/ Ngài xuất hiện trong kinh điển Đại thừa rất sớm, sau Phật khoảng 500 năm. Bản kinh nổi tiếng đó là Kinh Pháp Hoa – phẩm Phổ môn, nói về hạnh nguyện Bồ tát Quán Âm mà ta thưởng trì tụng và rất …

The post Sự Linh Ứng Của BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Sự Linh Ứng Của BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM

Có 3 nguồn gốc mà Bồ tát Quán Âm xuất hiện:

1/ Ngài xuất hiện trong kinh điển Đại thừa rất sớm, sau Phật khoảng 500 năm. Bản kinh nổi tiếng đó là Kinh Pháp Hoa – phẩm Phổ môn, nói về hạnh nguyện Bồ tát Quán Âm mà ta thưởng trì tụng và rất linh ứng.

2/ Bản kinh thứ 2 là Kinh Lăng nghiêm, nói về phương pháp tu thiền của Bồ tát Quán Âm đưa đến đắc quả là nhĩ căn viên thông. Còn bàn bạc trong nhiều kinh Đại thừa khác cũng nói dến Bồ tát Quan Âm nhưng không rõ bằng. Đó là nguồn gốc trong kinh.

3/ Nguồn gốc Bồ tát trong dân gian có Quan Âm Diệu Thiện, Quan Âm Thị Kính. Những hạnh nguyện này không đủ tạo thành một thần lực phi thường của một vị Bồ tát có thể cứu chúng sinh trong cơn nguy cấp.
Với tinh thần của Phật thừa, với tinh thần của Đại thừa Bồ tát thì một vị Bồ tát không còn là chính mình nữa, không có một vị Bồ tát nào là chính mình mà Bồ tát là tất cả chúng sinh, Bồ tát là tất cả Chư Phật. Do đó Bồ tát không còn chấp danh là Bồ tát. Khi ta niệm Bồ tát Quán Thế Âm thì đừng nghĩ mình niệm cá nhân một vị Thánh mà ta đã động đến mười phương Chư Phật. Còn nếu ta hiểu Bồ tát bằng cảm tính hay cảm tình, là chưa thấu được cái ý tột cùng của Quán Thế Âm. Có những người thờ Bồ tát Quán Âm tại nhà, xem Ngài như Mẹ của riêng mình thì hiểu Bồ tát như vậy là hiểu bằng cảm tình hay cảm tính, không phải hiểu bằng trí tuệ.

Ở đây chúng ta cần hiểu Bồ tát Quán Thế Âm bằng trí tuệ. Mỗi khi ta quỳ xuống lạy Ngài là động đến mười phương Chư Phật, vì Bồ tát Quán Thế Âm không phải chỉ là Bồ tát Quán Thế Âm mà Bồ tát Quán Thế Âm chính là từ bi – diệu dụng của mười phương Chư Phật. Cũng giống như khi ta lạy Bồ tát Văn Thù thì đừng nghĩ rằng ta lạy riêng một mình Bồ tát Văn Thù, mà phải hiểu ta lạy trí tuệ diệu dụng của mười phương Chư Phật. Đây là cái hiểu Bồ tát bằng trí tuệ và hiểu như vậy ta mới gieo cái nhân đắc đạo trong lòng mình. Còn nếu ta hiểu Bồ tát bằng cảm tính hay cảm tình thì ta có duyên với Phật đó, nhưng rất khó chứng được đạo quả, vì ta hiểu nhầm, ta hiểu nhỏ, nên không đủ phước để chứng đạo. Còn khi ta hiểu Bồ tát bằng trí tuệ: là khi ta niệm NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT là ta đụng dến diệu dụng từ bi của mười phương Chư Phật. Chính vì đây là diệu dụng từ bi của mười phương Chư Phật, cho nên tai nạn của ta hay định nghiệp của ta, đáng lẻ phải trả nhưng ta được cứu một cách mầu nhiệm.

Tất cả các tôn giáo trên thế giới đều thích phép lạ để trưng bày và ta tôn trọng cả. Trong đạo Phật phép lạ là vô biên, sự mầu nhiệm là không thể kể hết được vì một vị chứng A La Hán là có 6 phép thần thông, có thể bay lên trời cao, tụt xuống đất sâu, một thân hóa thành ngàn thân. Nhưng người không hiểu, không có trí tuệ mà yêu thích quyền năng phép lạ lại rất dễ rơi vào mê tín. Khi rơi vào mê tín rồi rất dễ bị lừa gạt. Do đó các vị Tông sư đều dặn dò ta rằng: Khi đến với Phật pháp tu hành thì bỏ qua phép lạ, đừng quan tâm đến những điều kỳ bí lạ lùng, vì nếu như vậy ta rất dễ rơi vào mê tín.

Do dó sự linh ứng của Bồ tát Quán Âm là phép lạ, là mầu nhiệm bàng bạc khắp trong cuộc đời này. Những lúc đau khổ, nguy nan, ta khấn cầu Ngài là có Ngài đến với ta, ở bên cạnh an ủi, che chở, để ta tiếp tục bước trên con đường luân hồi này mà có niềm tin, có ánh sáng hơn, chứ không phải đi trên con đường luân hồi này trong cô độc, khổ đau. Ta biết mình luôn có ánh sáng từ bi của Ngài che chở.

Tuy nhiên, theo Luật Nhân Quả, cái gì cũng có cái giá phải trả xứng đáng. Để xứng đáng với lòng thương yêu của Bồ tát thì điều Ngài mong mỏi ta là tu hành, diệt trừ lầm lỗi, si mê, tham lam, thù hận. Và ai có thể đi trên con đường tu tập đó thì là những đứa con cưng của mười phương chư Phật, là con cưng của Bồ tát Quán Âm. Người như vậy, khi cầu nguyện điều gì đều linh ứng điều đó. Cho nên, khi hiểu sự mầu nhiệm của Bồ tát thì ta phải bắt đầu bằng sự tu tập của mình, chứ không được ỷ lại, cứ cầu xin mãi thì không còn linh ứng nữa.

Khi tâm ta giống tâm Bồ tát, tức là trong cuộc đời này ta có tâm hào hiệp, dám cứu giúp người lúc người ta nguy nan thì ta cầu nguyện điều gì đều linh ứng, muốn gì được nấy. Thượng toạ nhắc nhở “Ta không đủ thần lực để cứu độ chúng sinh như Bồ tát, không đủ mức độ vô úy thí là giúp người được trong cơn nguy nan, nhưng ta phải được một phần, đó là cái tâm hào hiệp, sẳn sàng giúp người trong cơn nguy cấp. Mà giúp người trong cơn nguy cấp, các chư vị Tôn túc đã nói “Dẫu xây chín đợt phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người”. Đây mới là phép lạ.
Ta mãi đi tìm những phép lạ trên trời cao, trong hang sâu, trong miếu lạ, nhưng đâu biết rằng phép lạ có từng ngày trong cuộc sống của chúng ta. Phép lạ là khi ai xin thì cho, ai cần thì ta giúp, đó là lòng ta khởi lên tâm yêu thương con người, ta có thể lấy ra một phần tài sản của mình để giúp đời, cứu người. Phép lạ là điều tưởng như không bỗng biến thành có, là cái gì tưởng là có mà cũng biến thành không. Chẳng hạn, có người nào đó ghét ta, nói xấu thì thường tình ta ghét lại họ, mắng lại, nói xấu lại, nhưng điều tưởng là có biến thành không, tức là ta không ghét lại, nói xấu lại, coi như không. Đó chính là phép lạ của cuộc sống này.

Chúng ta đừng màng tìm phép lạ trên trời cao, trong núi sâu, mà khi tâm ta làm được một điều tưởng như không làm được, tức là ta nhẫn nhục được điều oan trái, ta tha thứ được sự xúc phạm, ta giúp đỡ được người trong cơn nguy khốn. Chính sự tích luỹ nhiều phép lạ nho nhỏ trong cuộc sống đó, sau này sẽ biến thành phép lạ phi thường. Bằng một ví dụ gần gũi với cuộc sống, Thượng toạ đã chứng minh thế nào là phép lạ phi thường.
Để có thể chứng kiến được phép lạ phi thường của Bồ tát Quán Âm, hàng ngày ta phải làm nên những phép lạ nho nhỏ trong cuộc sống bình thường, đó là khi người ta nói xấu mình, lòng vẫn bình an coi như không (nhẫn nhục); khi thấy người ta mưu hại mình, dù biết rõ mà vẫn không ghét không thù; có những lúc ta cạn tiền trong túi, chỉ còn đủ mua bánh mì để ăn sáng đi làm, nhưng thấy có người đói, ta sẵn sàng bố thí. Tất cả chúng ta, hãy cùng nhau làm nên những phép lạ, cho cuộc sống này thêm tươi đẹp.

Lại nữa, Bồ tát Quán Âm có hạnh lắng nghe được nỗi khổ của cuộc đời. Đây cũng là lời dạy của Bồ tát đối với chúng ta.

Tức là ta sống trên đời này phải có trái tim và đôi tai, lắng nghe được nỗi khổ của cuộc đời, đừng sống hời hợt, thờ ơ… chỉ biết có mình thôi. Chung quanh ta còn nhiều điều chưa vui, còn những người bất hạnh, và chúng ta phải thấy được những điều đó, phải thấy được nổi bất hạnh, sự khốn khó của những mảng cuộc đời chung quanh mình. Ta phải thấy, phải nghe, phải hiểu, đừng bỏ qua, đừng thờ ơ, phải sống với trái tim của Bồ tát dạy ta “Lằng nghe được nỗi khổ của chúng sinh”.

Ai có thể lắng nghe được nỗi khổ của chúng sinh, đó là người không còn ích kỷ nữa, người đó biết sống vị tha nên có trái tim để lắng nghe. Còn người không có trái tim yêu thương, người ích kỷ thì như mù như điếc. Bồ tát dạy ta, hãy mở trái tim ra để cho tai tinh tường, mắt sáng rỡ mà thấy được, nghe được sự bất hạnh, sự đau khổ của mọi người xung quanh mình. Ta không thấy ai khổ vì trái tim ta chưa mở ra. Và Thượng toạ hướng dẫn phương pháp để mở được trái tim, đó là: Chúng ta hãy thiền định như Bồ tát dạy trong kinh Lăng Nghiêm.

Để có thể nghe được tiếng của vạn loài, ta phải lắng nghe nơi chính mình trước. Ta hãy ngồi kiết già bất động, lắng nghe cơ thể của mình, BUÔNG LỎNG TOÀN THÂN, MỀM MẠI, BẤT ĐỘNG. thấy được thân của mình là vô thường, đang đi dần đến sự hoại diệt, sau khi chết rồi, thân sẽ mục rã, xương cũng thành bụi bay luôn. Tiếp theo, ta cảm nhận được hơi thở vào, hơi thở ra. Đó chính là phương pháp thiền định của Bồ tát Quán Âm.

Mà người nào tinh tấn tu tập thiền định được như vậy, nhập từng mức định, chứng từng cái đạo quả thì sau này đi vào dòng Thánh, cũng trở thành một vị A La Hán; một vị Bồ tát như là thần lực của Bồ tát Quán Âm mà có thể cứu độ chúng sinh. Sau cùng, Thượng toạ nhắc nhở “Trong đêm Lễ Hội Quán Thế Âm vui vẻ thế này, ngoài những nghi thức tôn giáo như: cầu nguyện, lễ bái, tụng niệm, văn nghệ, thuyết Pháp thì ta nên chấm dứt bằng thiền định. Tất cả hội chúng trong ngoài đều bắt chân ngồi thiền để chúng ta học hạnh Quán Âm, lắng nghe nơi chính mình, mà sau này mới có thể lắng nghe được vạn hữu chúng sinh.

The post Sự Linh Ứng Của BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Bát tà đạo, con đường đưa tới khổ đau ! https://bachhac.net/bat-ta-dao-con-duong-dua-toi-kho-dau.html Sat, 18 Sep 2021 05:57:47 +0000 https://bachhac.net/?p=3997 Có thể là từ trước đến nay chưa có ai nói khổ tập (nguyên nhân của nỗi khổ) là lề lối sống. Khổ đau là do lối sống của ta dựa trên những tà kiến. Ví dụ, nếu thấy ta và con ta là hai thực thể khác nhau mà không thấy được con ta …

The post Bát tà đạo, con đường đưa tới khổ đau ! appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Bát tà đạo, con đường đưa tới khổ đau !

Có thể là từ trước đến nay chưa có ai nói khổ tập (nguyên nhân của nỗi khổ) là lề lối sống.

Khổ đau là do lối sống của ta dựa trên những tà kiến. Ví dụ, nếu thấy ta và con ta là hai thực thể khác nhau mà không thấy được con ta là sự tiếp nối của ta, thì cái thấy này là tà kiến. Vì không thấy được sự thật tương tức nên ta còn có cái nhìn Nhị nguyên, kỳ thị cho rằng hạnh phúc của con không phải là hạnh phúc của mình, rằng khổ đau của con không phải là khổ đau của mình.

Nhưng sự thật thì khi con ta khổ đau thì ta khó mà có hạnh phúc được. Tà kiến là không thấy được tính duyên sinh của vạn vật, không thấy được tính vô thường, vô ngã và tính tương tức của vạn vật. Trong con đường Bát chánh, con đường đưa tới sự diệt khổ, có chánh kiến. Còn tập đế là con đường đưa tới tà kiến. Người Palestin phải thấy nỗi khổ niềm đau của người Do Thái là nỗi khổ niềm đau của mình, và người Do Thái cũng phải thấy như vậy.

Nếu có chánh kiến đó, hai bên sẽ cộng tác với nhau được, và hai bên đều có hạnh phúc. Trường hợp giữa cha và con, giữa người Mỹ và người Iraq, người Hồi giáo và người Ấn Độ giáo cũng vậy. Nếu có tà kiến, chắc hẳn sẽ có tà tư duy. Vấn đề này liên quan đến đạo đức. Bởi đạo đức là khả năng phân biệt được giữa cái chánh và cái tà. Người Việt diễn tả chánh là thẳng, còn tà là nghiêng. Muốn có đạo đức thì phải có cái thấy rõ ràng về chánh và tà.

Tà kiến là cái thấy sai lạc. Tổ Lâm Tế nói: “Người tu phải có chánh kiến” (cái thấy chân chánh). Nếu cái thấy sai lạc, tư duy của ta cũng sẽ sai lạc, tà tư duy, và tà tư duy sẽ đưa tới sự sợ hãi và bạo động.

Ví dụ, nếu nghĩ rằng ta không giết kẻ kia trước thì chắc chắn kẻ kia sẽ giết mình, và vì vậy ta phải tìm cách giết kẻ đó trước. Cái này gọi là tà tư duy vì sự thật không phải như vậy. Đây chỉ là cái thấy lầm lạc do nghi ngờ và sợ hãi đem đến mà thôi. Khi có tà tư duy, sẽ dẫn tới:

Tà ngữ: Lời nói sai trái

Tà nghiệp: Thói quen xấu

Tà mạng: Làm ăn không chân chánh, phá hoại môi trường, cướp đoạt cơ hội sinh sống của những người khác, nói dối để người khác tiêu dùng những sản phẩm có hại cho sức khỏe của họ.

Tà tinh tấn: Siêng năng không đúng chỗ, cứ mê mải làm việc suốt ngày đêm, đến nỗi quên cả gia đình và bản thân mình nên bị dồn chứa căng thẳng, lo lắng.

Tà niệm: Lúc nào cũng nghĩ tới chuyện làm giàu, làm sao để có nhiều quyền hành, danh vọng và sắc dục, không bao giờ có mặt trong giây phút hiện tại; chỉ chạy theo, trôi lăn theo đối tượng của dục.

Tà định: Chỉ chăm chú vào những chuyện trái với cái thấy tương tức, mình và đối tượng của mình không liên quan gì đến nhau, đối tượng của mình rất nguy hiểm, mình phải tiêu diệt nó.

Tà kiến: Cái thấy sai lầm.

Khi niệm hùng hậu thì sẽ đưa tới định. Nhưng nếu đối tượng của niệm là dục thì đối tượng của định cũng chính là dục.

Có những người lúc nào cũng nghĩ tới chuyện làm sao để có nhiều quyền hành, với người ấy đối tượng niệm của họ là quyền hành. Khi đối tượng của niệm là giàu sang, danh vọng hay sắc dục thì cái niệm đó cũng đưa tới một thứ định nhưng là tà định. Khi có tà niệm và tà định sẽ đưa tới tà kiến. Chính vì có tà kiến mới có tà niệm và tà định.

Chúng tương tức với nhau. Tà kiến nuôi tà niệm và tà định, rồi tà niệm và tà định lại nuôi tà kiến, cứ vòng vòng như vậy. Đây không phải là con đường bát chánh mà là con đường bát tà. Sở dĩ chúng ta có khổ đau là bởi vì chúng ta đi trên con đường tà đạo: con đường của tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà định, tà niệm và tà tinh tấn. Phần tà nhiều hơn phần chính.

Bát chánh đạo đưa tới hạnh phúc và bát tà đạo đưa tới khổ đau. Khi đi tìm nguyên nhân của khổ đau thì ta có thể đi tìm ngay trong nếp sống hiện tại của ta, những nguyên nhân này đến từ con đường bát tà.

Khổ là sự thật thứ nhất, khổ tập là sự thật thứ hai, khổ tập diệt là sự thật thứ ba. Diệt ở đây là sự chuyển hoá, sự tiêu diệt những nguyên nhân đưa tới khổ, sự vắng mặt của nếp sống tà đạo. Sự vắng mặt của tập cũng đồng thời là sự vắng mặt của khổ. Đây là sự tiêu diệt tận gốc rễ. Sự thật thứ ba, diệt, xác nhận rằng ta có thể chuyển hoá được nếp sống này. Điều đó chứng tỏ rằng chúng ta có tự do ý chí.

Với chánh niệm ta sẽ đi tới chánh định và với chánh niệm và chánh định ta sẽ đạt tới chánh kiến. Theo đạo Bụt thì rõ ràng là con người có tự do ý chí. Chánh niệm trong bước chân và hơi thở là một sự thực tập rất cụ thể để chấm dứt sự trôi lăn, để nuôi lớn tự do. Sự thật thứ ba (khổ tập diệt) được cụ thể hoá bằng sự thật thứ tư: khổ tập diệt đạo. Có sự thật thứ tư thì ta thấy sự thật thứ ba có chân đứng. Sự thật thứ tư là khổ tập diệt đạo. Khổ tập diệt đạo là con đường đưa tới sự chuyển hoá, đưa tới sự tiêu diệt nguyên nhân của khổ đau. Thực tập con đường Bát chánh, ta sẽ đạt tới tự do và nhổ được gốc rễ của khổ đau.

Nguồn trích từ lời dạy của Sư Ông Làng Mai

The post Bát tà đạo, con đường đưa tới khổ đau ! appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Kinh Bi Hoa – PHẨM THỨ SÁU – PHÁP MÔN NHẬP ĐỊNH https://bachhac.net/kinh-bi-hoa-pham-thu-sau-phap-mon-nhap-dinh.html Wed, 15 Sep 2021 07:10:37 +0000 https://bachhac.net/?p=3993 Lúc bấy giờ, đức Phật Thích-ca Mâu-ni bảo Đại Bồ Tát Tịch Ý: “Thiện nam tử! Nay ta dùng Phật nhãn nhìn khắp các thế giới mười phương nhiều như số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật, các vị Phật Thế Tôn đã nhập Niết-bàn ở những thế giới ấy thảy đều do ta …

The post Kinh Bi Hoa – PHẨM THỨ SÁU – PHÁP MÔN NHẬP ĐỊNH appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Kinh Bi Hoa - PHẨM THỨ SÁU - PHÁP MÔN NHẬP ĐỊNH

Lúc bấy giờ, đức Phật Thích-ca Mâu-ni bảo Đại Bồ Tát Tịch Ý: “Thiện nam tử! Nay ta dùng

Phật nhãn nhìn khắp các thế giới mười phương nhiều như số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật, các vị Phật Thế Tôn đã nhập Niết-bàn ở những thế giới ấy thảy đều do ta trước đây đã khuyên dạy, giáo hóa cho từ lúc mới phát tâm A-nậu-đa- la Tam-miệu Tam-bồ-đề, rồi thực hành pháp Bố thí ba-la- mật, cho đến pháp Bát-nhã ba-la-mật. Cho đến các vị Phật Thế Tôn trong đời vị lai cũng là như vậy.

“Thiện nam tử! Nay ta nhìn thấy vô lượng vô biên a-tăng- kỳ chư Phật Thế Tôn ở các thế giới về phương đông kia, đang trong đời hiện tại này chuyển bánh xe chánh pháp, cũng đều là do ta trước đây đã khuyên dạy, giáo hóa cho từ lúc mới phát  tâm  A-nậu-đa-la  Tam-miệu  Tam-bồ-đề, thực hành sáu pháp ba-la-mật. Về phương nam, phương tây, phương bắc, cho đến bốn phương phụ(1) và phương trên, phương dưới cũng là như vậy.

(1) Bốn phương phụ: chỉ các phương đông nam, đông bắc, tây nam và tây bắc.

“Thiện nam tử! Về phương đông cách đây tám mươi chín ức thế giới chư Phật, có thế giới kia tên là Thiện Hoa, ở đó có Phật hiệu là Vô Cấu Công Đức Quang Minh Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn, hiện nay đang vì chúng sinh thuyết pháp. Đức Phật ấy cũng do ta trước đây đã khuyên dạy, giáo hóa cho từ lúc mới phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam- bồ-đề, khiến cho thực hành pháp Bố thí ba-la-mật cho đến Bát-nhã ba-la-mật.

“Về phương đông lại có thế giới Diệu Lạc, ở đó có Phật hiệu là A-súc Như Lai. Lại có thế giới Diêm-phù, ở đó có Phật hiệu là Nhật Tạng Như Lai. Lại có thế giới tên là Lạc Tự Tại, ở đó có Phật hiệu là Lạc Tự Tại Âm Quang Minh Như Lai. Lại có thế giới tên là An Lạc, ở đó có Phật hiệu là Trí Nhật Như Lai. Lại có thế giới tên là Thắng Công Đức, ở đó có Phật hiệu là Long Tự Tại Như Lai. Lại có thế giới tên là Thiện Tướng, ở đó có Phật hiệu là Kim Cang Xưng Như Lai. Lại có thế giới tên là Giang Hải Vương, ở đó có Phật hiệu là Quang Minh Như Lai. Lại có thế giới tên là Bất Ái Nhạo, ở đó có Phật hiệu là Nhật Tạng Như Lai. Lại có thế giới tên là Ly Cấu Quang Minh, ở đó có Phật hiệu là Tự Tại Xưng Như Lai. Lại có thế giới tên là Sơn Quang Minh, ở đó có Phật hiệu là Bất Khả Tư Nghị Vương Như Lai. Lại có thế giới tên là Tụ Tập, ở đó có Phật hiệu là Đại Công Đức Tạng Như Lai. Lại có thế giới tên là Hoa Quang Minh, ở đó có Phật hiệu là Quang Minh Âm Tướng Như Lai. Lại có thế giới tên là An Hòa Sí Thạnh, ở đó có Phật hiệu là An Hòa Tự Tại Kiến Sơn Vương Như Lai. Lại có thế giới tên là thiện địa, ở đó có Phật hiệu là Tri Tượng Như Lai. Lại có thế giới tên là Hoa Cái, ở đó có Phật hiệu là Nhãn Tịnh Vô Cấu Như Lai.

“Thiện nam tử! Vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chư Phật hiện tại ở phương đông như vậy, đều vì chúng sinh chuyển bánh xe chánh pháp. Khi các đức Phật này chưa phát tâm Bồ-đề Vô thượng, thảy đều là do ta khuyên dạy, giáo hóa, khiến cho phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, lại cũng dẫn dắt đến chỗ của chư Phật Thế Tôn ở khắp mười phương. Tùy mỗi nơi được dẫn dắt đến, các vị đều chuyên tâm tu hành, trụ yên trong pháp Bố thí ba-la-mật cho đến Bát-nhã ba-la-mật, liền được thọ ký quả A-nậu-đa-la Tam- miệu Tam-bồ-đề.

“Bấy giờ, tại thế giới Thiện Hoa ở phương đông của đức Phật Vô Cấu Công Đức Quang Minh Vương, tòa sư tử của đức Phật ngồi cùng với mặt đất đều chấn động đủ sáu cách, có ánh hào quang rực rỡ chiếu sáng, không trung mưa xuống đủ mọi loại hoa sen quý báu, đẹp đẽ. Các vị Bồ Tát ở đó thấy những việc như vậy thì hết sức kinh ngạc, đều cho là chưa từng có, liền bạch Phật: ‘Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà tòa ngồi của đức Như Lai chấn động như thế? Chúng con xưa nay thật chưa từng thấy sự việc như vậy!’

“Đức Phật Vô Cấu Công Đức Quang Minh Vương liền bảo các vị Bồ Tát: ‘Thiện nam tử! Về phương tây cách đây tám mươi chín ức thế giới chư Phật, có một thế giới tên là Ta- bà, ở đó có Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni Như Lai, hiện nay đang vì Bốn bộ chúng thuyết dạy về nhân duyên tu tập giáo pháp của chính ngài. Đức Phật Thế Tôn ấy khi còn là Bồ Tát, đã khuyên dạy giáo hóa ta lần đầu tiên phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, lại dẫn dắt  ta  đến  chỗ của chư Phật, bước đầu dạy ta thực hành pháp Bố thí ba-la-mật, cho đến pháp Bát-nhã ba-la-mật. Thuở ấy ta tùy theo mỗi nơi được dẫn dắt đến liền được thọ ký quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.

“Đức Phật Thế Tôn Thích-ca Mâu-ni kia chính là vị thiện tri thức chân thật của ta. Hiện nay ngài đang ở giữa đại chúng nơi phương tây, vì Bốn bộ chúng mà thuyết kinh nói về nhân duyên tu tập của ngài. Do sức thần túc của đức Như Lai ấy nên khiến cho tòa ngồi của ta chấn động.

“Thiện nam tử! Nay trong các ông, ai có thể đến cõi thế giới Ta-bà kia dâng lời thăm hỏi đức Phật ấy, việc đi đứng của ngài có được nhẹ nhàng hay chăng?’

“Khi ấy, các vị Bồ Tát thảy đều bạch Phật: ‘Thế Tôn! Ở thế giới Thiện Hoa này, các vị Bồ Tát thảy đều đã được thần thông, đối với các công đức của hàng Bồ Tát đều được tự tại. Hôm nay sáng sớm trời trong, được nhìn thấy ánh hào quang rực chiếu. Hào quang này đều là từ các thế giới của chư Phật soi chiếu đến đây. Mặt đất ngay khi ấy chấn động đủ sáu cách, không trung rơi xuống đủ mọi loại hoa. Thấy việc như vậy nên có vô lượng trăm ngàn vạn ức vị Bồ Tát muốn dùng thần lực hiện đến thế giới Ta-bà để được gặp đức Phật Thích-ca Mâu-ni, cúng dường tôn trọng, cung kính ngợi khen, lại cũng muốn học hỏi pháp môn Đà-la-ni Giải liễu nhất thiết. Tuy nhiên, không ai biết được thế giới Ta-bà của đức Phật Thích-ca Mâu-ni ở tại nơi nào?’

“Đức Phật Vô Cấu Công Đức Quang Minh Vương liền duỗi cánh tay phải có màu vàng ròng, từ nơi năm đầu ngón tay phóng ra đủ mọi sắc hào quang rực rỡ, vi diệu. Hào quang ấy tức thời soi chiếu qua khỏi tám mươi chín ức thế giới chư Phật, đến tận thế giới Ta-bà. Bấy giờ, các vị Bồ Tát do nơi hào quang ấy mà thấy được thế giới Ta-bà có các vị Đại Bồ Tát đông đảo, đầy khắp thế giới. Lại có chư thiên, rồng, thần, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu- la-già… cũng đông đảo đầy khắp trên không trung.

“Các vị Bồ Tát nhìn thấy như vậy rồi liền bạch Phật: ‘Thế Tôn! Nay chúng con đã được nhìn thấy thế giới Ta-bà, biết được thế giới ấy ở đâu, lại cũng được thấy các vị Bồ Tát và chư thiên, đại chúng đông đảo đầy khắp cõi ấy, không còn lấy một chỗ trống. Đức Phật Thích-ca lại cũng nhìn thấy chúng con, thuyết dạy pháp mầu.’

“Đức Phật Vô Cấu Công Đức Quang Minh Vương bảo các vị Đại Bồ Tát: ‘Thiện nam tử! Đức Thích-ca Như Lai thường dùng Phật nhãn thanh tịnh quán sát khắp hết thảy, không có gì không nhìn thấy. Thiện nam tử! Tất cả những chúng sinh ở thế giới Ta-bà, dù ở trên mặt đất hay ở giữa không trung, hết thảy đều nói rằng: Đức Phật Thích-ca chỉ riêng nhìn thấy trong tâm ta, chỉ riêng vì ta thuyết pháp.

“Thiện nam tử! Đức Phật Thích-ca ấy chỉ dùng một âm thanh, vì đủ các loài chúng sinh khác nhau mà thuyết pháp, nhưng mỗi loài chúng sinh thảy đều tùy theo tiếng nói của mình mà nghe hiểu được. Ngài không dùng những âm thanh khác nhau để thuyết pháp cho nhiều người. Chúng sinh ở thế giới ấy, những ai thờ phụng Phạm thiên sẽ nhìn thấy thân Như Lai như hình tượng Phạm thiên, liền được nghe thuyết pháp. Nếu những ai thờ phụng Ma thiên, Thích thiên, Nhật nguyệt Tỳ-sa-môn thiên, Tỳ-lâu-lặc, Tỳ-lâu- bác-xoa, Đề-đầu-lại-trá, Ma-hê-thủ-la… tám vạn bốn  ngàn loài chúng sinh khác nhau đều như vậy, mỗi chúng sinh đều nhìn thấy thân Như Lai là hình tượng của mình thờ phụng, liền được nghe thuyết pháp, đều nghĩ rằng Như Lai chỉ riêng vì mình thuyết pháp.

“Khi ấy, trong chúng hội có hai vị Bồ Tát, một người tên là La-hầu-điện, một người tên là Hỏa Quang Minh. Đức Phật Vô Cấu Công Đức Quang Minh Vương bảo hai vị Bồ Tát ấy rằng: ‘Thiện nam tử! Nay các ông có thể đến thế giới Ta-bà, thay ta dâng lời thăm hỏi đức  Thế Tôn Thích-ca Mâu-ni, ngài đi đứng có được nhẹ nhàng, khí lực có được an ổn hay chăng?’

“Hai vị Bồ Tát liền bạch Phật: ‘Thế Tôn! Chúng con nhìn thấy khắp hết thế giới của đức Phật Thích-ca, đại chúng tụ họp đông đảo, trên mặt đất cũng như giữa không trung đều chật kín, không có lấy một chỗ trống. Nếu chúng con đến đó thì biết đứng vào nơi đâu?’

“Đức Phật Vô Cấu Công Đức Quang Minh Vương bảo: ‘Các thiện nam tử! Các ông chớ nên nói rằng ở thế giới kia không còn chỗ đứng. Vì sao vậy? Vì cõi thế giới Phật Thích- ca rộng lớn vô biên. Công đức vô lượng của đức Phật Thích- ca không thể nghĩ bàn. Do bản nguyện của ngài, lòng đại bi rộng lớn nên khiến cho vô lượng các loài chúng sinh đều được vào trong Phật pháp, thọ nhận Ba quy y, sau đó lại vì chúng sinh thuyết dạy giáo pháp Ba thừa. Lại truyền dạy Ba thứ giới luật,(1) chỉ bày Ba môn giải thoát,(2) lại cứu vớt

(1) Ba thứ giới luật: Gồm có: 1. Giới luật cho người tại gia: tức Tám trai giới (Bát quan trai giới); 2. Giới luật cho người xuất gia: tức Mười giới của sa-di Cụ túc giới (250 giới) của bậc tỳ-kheo; 3. Giới luật cho cả người tại gia và xuất gia: tức Năm giới căn bản.

(2) Ba môn giải thoát: Gồm có Không giải thoát môn, Vô tướng giải thoát môn Vô nguyện giải thoát môn. Kinh Nhân vương dạy rằng: “Ba môn giải thoát này vô lượng vô biên chúng sinh ra khỏi ba đường ác, khiến cho được trụ yên trong ba đường thiện.(1)

“Thiện nam tử! Lại có một lúc, đức Thích-ca Như Lai thành đạo Vô thượng chưa bao lâu, vì muốn điều phục chúng sinh nên ngài ở tại núi Tỳ-đà, trong động Nhân-bà- la, trải qua bảy ngày bảy đêm ngồi kết già nhập tam-muội, hưởng niềm vui giải thoát. Khi ấy thân Phật biến hóa lớn lên choán đầy cả động ấy, không còn một chỗ trống nào, dù chỉ là đôi ba tấc.

“Vừa hết bảy ngày, ở các thế giới khắp mười phương có mười hai na-do-tha vị Đại Bồ Tát hiện đến thế giới Ta-bà đứng quanh ven núi Tỳ-đà, muốn được gặp đức Thích-ca Mâu-ni Như Lai để cúng dường tôn trọng, cung kính ngợi khen xưng tán và thưa hỏi pháp mầu.

“Thiện nam tử! Khi ấy đức Thích-ca Như Lai từ nơi chỗ ngồi dùng sức đại thần túc khiến cho hang động ấy trở nên rộng lớn vô biên, có thể dung chứa được mười hai na-do-tha vị Đại Bồ Tát. Các vị Bồ Tát thảy đều vào được trong động, đều thấy trong động ấy rộng lớn trang nghiêm. Có những vị Bồ Tát dùng sức thần túc tự tại để cúng dường đức Phật, rồi mỗi vị Bồ Tát đều hóa hiện tòa báu để ngồi trên ấy nghe thuyết pháp.

“Thiện nam tử! Đức Phật Thích-ca hiện thần lực như vậy. Các vị Bồ Tát ấy được nghe thuyết pháp rồi liền từ nơi tòa là chỗ tu tập căn bản của hàng Bồ Tát từ khi mới phát tâm cho đến lúc đạt địa vị Nhất thiết trí.”

(1) Ba đường ác Ba đường thiện: Chúng sinh do nghiệp lực mà phải luân hồi trong sáu đường, hay sáu cõi, là cõi trời, cõi người, cõi a-tu-la, cõi địa ngục, cõi ngạ quỷ cõi súc sinh. Tạo nghiệp thiện được sinh về các cõi trời, người hoặc a-tu-la, nên gọi là ba đường thiện. Ngược lại, tạo nghiệp ác phải thọ sinh vào các cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, nên gọi là ba đường ác.

ngồi đứng dậy, cúi đầu sát đất kính lễ Phật, đi quanh cung kính ba vòng về bên phải, rồi mỗi vị đều quay trở về cõi Phật của mình. Các vị vừa ra đi thì động ấy liền thu nhỏ lại như cũ.

“Trong Bốn cõi thiên hạ ấy có vị Thiên chủ cõi trời Đao-lợi tên là Kiều-thi-ca, mạng sống sắp hết, chắc chắn phải đọa vào loài súc sinh. Do việc ấy nên Kiều-thi-ca sinh lòng sợ hãi, liền cùng với tám mươi bốn ngàn vị chư thiên cõi trời Đao-lợi hiện xuống động Nhân-bà-la, muốn được gặp đức Như Lai.

“Bấy giờ có một quỷ dạ-xoa tên là Vương Nhãn là thần động ở đó, đang đứng canh giữ ngoài cửa động. Khi ấy Đế- thích do oai lực của Phật liền khởi lên ý nghĩ rằng: ‘Nay ta nên sai khiến vị càn-thát-bà tên là Bát-già-tuần(1) hiện đến chỗ Phật trước, dùng những âm thanh vi diệu để xưng tán ngợi ca Như Lai, khiến cho đức Thế Tôn ra khỏi tam-muội.’

(1) Bát-già-tuần: phiên âm từ tiếng Phạn là Pañcābhijñāna, tên gọi này có nghĩa là Năm phép thần thông (Ngũ thông).

“Thiện nam  tử!  Thích-đề-hoàn-nhân suy nghĩ như vậy rồi, liền sai vị càn-thát-bà Bát-già-tuần dùng đàn quý bằng ngọc lưu ly khảy lên những âm thanh vi diệu. Những âm thanh ấy có đến năm trăm âm hưởng khác nhau, được dùng để xưng tán đức Như Lai.

“Thiện nam tử! Khi vị Bát-già-tuần đang dùng âm nhạc vi diệu để xưng tán Phật, đức Như Lai lại chuyển sang nhập Tam-muội Tướng. Do sức của tam-muội này, ngài hiện sức thần lớn lao, khiến cho các dạ-xoala-sátcàn-thát-bà, a-tu-la,  ca-lâu-la,   khẩn-na-la,   ma-hầu-la-già,   cùng   với chư thiên hai cõi Dục giới Sắc giới, tất cả đều tụ tập vào trong động. Những chúng sinh nào thích nghe âm thanh vi diệu, liền tùy theo ý thích được nghe, nghe rồi trong lòng hết sức hoan hỷ; những chúng sinh nào thích nghe ngợi khen xưng tán Phật, khi nghe ngợi khen xưng tán Phật rồi trong lòng hoan hỷ, đối với đức Như Lai sinh lòng tôn trọng, cung kính; những chúng sinh nào thích nghe tiếng nhạc liền được nghe, nghe rồi trong lòng hoan hỷ.

“Khi ấy, đức Phật Thích-ca Mâu-ni liền ra  khỏi  tam- muội, thị hiện cho tất cả đại chúng đều được nhìn thấy cửa động Nhân-bà-la. Thích-đề-hoàn-nhân liền tiến  đến  chỗ Phật, cúi đầu kính lễ sát dưới chân Phật, rồi đứng sang một bên, thưa hỏi rằng: ‘Bạch Thế Tôn! Nay chúng con nên ngồi ở đâu?’

“Đức Phật đáp: ‘Kiều-thi-ca! Tất cả quyến thuộc của ông hãy cứ tụ họp vào cả bên trong. Nay ta sẽ làm cho động Nhân-bà-la này trở nên hết sức rộng rãi, có thể dung chứa được đại chúng quyến thuộc của ông nhiều như số cát mười hai con sông Hằng, tất cả đều có chỗ ngồi.’

“Bấy giờ, đức Phật Thích-ca Mâu-ni ở giữa đại chúng dùng một âm thanh mầu nhiệm để giảng thuyết chánh pháp, khiến cho tám mươi bốn ngàn chúng sinh có căn cơ khác nhau thảy đều tùy theo sở thích của mình mà được nghe.

“Trong đại chúng, hoặc có những người học theo Thanh văn thừa đều nghe ra giáo pháp Thanh văn, liền có chín mươi chín ức chúng sinh chứng quả Tu-đà-hoàn;(1) hoặc có những người tu học theo Duyên giác thừa liền được nghe giáo pháp Duyên giác; hoặc có những người tu học Đại thừa liền được nghe chỉ toàn giáo pháp Đại thừa.

(1) Tu-đà-hoàn: phiên âm từ tiếng Phạn là srota-panna, dịch nghĩa là Nhập lưu, hiểu theo nghĩa là “bắt đầu nhập vào dòng thánh”. Đây là quả vị đầu tiên trong bốn quả vị của Thanh văn thừa, nên cũng gọi là Sơ quả.

“Những vị đứng đầu trong số càn-thát-bà cùng đi với Bát- già-tuần có mười tám na-do-tha đều được địa vị không còn thối chuyển đối với quả vị A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ- đề. Những ai chưa phát tâm liền phát tâm Bồ-đề Vô thượng, hoặc phát tâm Duyên giác, hoặc phát tâm Thanh văn.

“Lúc bấy giờ, Thích-đề-hoàn-nhân liền dứt trừ được sự sợ hãi, tuổi thọ tăng thêm một ngàn năm, chứng được quả Tu-đà-hoàn.

“Thiện nam tử! Đức Phật Thích-ca dùng thần lực có thể tạo ra sự rộng lớn vô biên. Âm thanh thuyết pháp của ngài cũng rộng lớn vô biên, không ai có thể tìm biết được giới hạn trong âm thanh thuyết pháp của ngài.

“Đức Phật Thích-ca có vô lượng vô biên phương tiện để giáo hóa chúng sinh. Không ai có thể biết được những phương tiện như vậy.

“Thiện nam tử! Sắc thân của đức Phật Thích-ca cũng vô lượng vô biên, không ai có thể đo lường được thân ấy, không ai thấy được đỉnh đầu của ngài.

“Thiện nam tử! Đại chúng đông đảo như vậy, nếu như muốn vào cả trong bụng Phật, bụng Phật liền dung chứa được tất cả. Khi vào trong bụng rồi, nếu lại muốn thấy được chỗ mép cùng của bụng cũng là điều không thể được. Dù vậy, bụng Phật không hề lớn lên hay nhỏ đi.

“Nếu như hết thảy các loài chúng sinh muốn đi lại trong một sợi lông của Phật, liền được như vậy không có gì trở ngại, thậm chí nếu dùng thiên nhãn cũng không thể thấy được tới chỗ mép cùng một lỗ chân lông của Phật. Dù vậy, lỗ chân lông ấy cũng không hề lớn lên hay nhỏ đi. Thân của đức Phật Thế Tôn ấy vô lượng vô biên như vậy. Thiện nam tử! Thế giới của đức Phật ấy cũng vô lượng vô biên.

“Thiện nam tử! Ví như tất cả chúng sinh ở các thế giới mười phương nhiều như số cát của một con sông Hằng cùng gom cả về trong thế giới của Phật ấy cũng vẫn dung chứa hết. Vì sao vậy? Chỗ phát khởi thệ nguyện của đức Phật ấy lúc mới phát tâm Bồ-đề là vô lượng vô biên.

“Thiện nam tử! Đừng nói là chúng sinh trong các thế giới mười phương nhiều như số cát của một con sông Hằng, cho đến chúng sinh trong các thế giới mười phương nhiều như số cát của một ngàn con sông Hằng cùng gom cả về trong thế giới của Phật ấy cũng vẫn dung chứa hết, mà hình tướng ban đầu của thế giới ấy vẫn không hề thay đổi lớn lên hay nhỏ đi.

“Thiện nam tử! Đức Phật Thích-ca khi vừa mới phát tâm Bồ-đề Vô thượng, vì muốn được đầy đủ trí hiểu biết tất cả nên phát lời thệ nguyện hết sức lớn lao. Do đó mà nay được thế giới rộng lớn vô lượng vô biên. Thiện nam tử! Đức Phật Thích-ca Mâu-ni có bốn pháp này,(1) tất cả các đức Phật Thế Tôn khác đều không sánh bằng.

(1) Kinh văn dùng以是四法 (dĩ thị tứ pháp)mà không giải thích gì thêm. Có vị cho rằng tứ pháp ở đây chỉ bốn pháp “giáo, lý, hành, quả”. Chúng tôi xét thấy nếu là bốn pháp này thì chư Phật Thế Tôn đều không khác nhau. Hơn nữa, kinh văn nói “bốn pháp này” (thị tứ pháp) có nghĩa là đã được nói đến trước đó. Do vậy, chúng tôi căn cứ vào các đoạn văn trước đó mà hiểu bốn pháp ở đây chỉ bốn việc vừa trình bày trước đó. Đó là, đức Phật Thích-ca Mâu-ni thế giới rộng lớn vô lượng vô biên, năng lực thuyết pháp vô lượng vô biên, sắc thân rộng lớn vô lượng vô biên và phương tiện độ sinh vô lượng vô biên.

“Thiện nam tử! Nay các ông hãy mang theo loại hoa thanh tịnh nguyệt quang minh vô cấu này, đi về phương tây, đến thế giới Ta-bà nơi các ông đã được nhìn thấy, thay ta kính lời thăm hỏi đức Phật Thích-ca, ngài đi đứng có được nhẹ nhàng, khí lực có được an ổn hay chăng?’

“Khi ấy, đức Phật Vô Cấu Công Đức Quang Minh Vương liền cầm hoa quý nguyệt quang minh vô cấu trao cho hai vị Bồ Tát, bảo rằng: ‘Nay tất cả các ông hãy nương theo sức đại thần thông của ta mà đi đến thế giới Ta-bà.’

“Bấy giờ, trong chúng hội có hai vạn Bồ Tát cùng bạch Phật rằng: ‘Thế Tôn! Xin vâng theo lời dạy. Nay chúng con sẽ nương sức đại thần thông của Phật mà đi đến thế giới Ta- bà, gặp đức Thích-ca Như Lai, cúng dường tôn trọng, cung kính ngợi khen xưng tán.’

“Đức Phật Vô Cấu Công Đức Quang Minh Vương liền dạy: ‘Thiện nam tử! Đã đến lúc các ông nên đi rồi vậy.’

“Khi ấy, Bồ Tát La-hầu-điện Bồ Tát Hỏa Quang Minh liền cùng với hai vạn Bồ Tát nương sức đại thần thông của Phật, vừa rời khỏi thế giới Thiện Hoa trong khoảnh khắc liền hiện đến thế giới Ta-bà, tại núi Kỳ-xà-quật, đến quỳ trước đức Phật Thích-ca, chắp tay bạch Phật rằng: ‘Thế Tôn! Về phương đông cách đây tám mươi chín cõi thế giới Phật, có một thế giới tên là  Thiện Hoa,  ở đó có  Phật hiệu là Vô Cấu Công Đức Quang Minh Vương, hiện đang có đại chúng Đại Bồ Tát vây quanh cung kính, ngợi khen xưng tán công đức vô lượng của Thế Tôn. Đức Phật ấy nói rằng: Thế giới Ta-bà có đức Phật Thích-ca Mâu-ni hiện nay đang vì đại chúng chuyển bánh xe chánh pháp. Đức Phật Thế Tôn ấy khi còn là Bồ Tát đã khuyên dạy, giáo hóa ta lần đầu tiên phát tâm Bồ-đề. Do nhân duyên ấy mà ta được phát tâm đạo Vô thượng. Ta phát tâm rồi, đức Phật ấy lại khuyên dạy ta tu tập sáu pháp ba-la-mật… ’

“Các vị Bồ Tát này lặp lại hết thảy những lời đức Phật Vô Cấu Công Đức Quang Minh Vương đã nói, cho đến ngợi khen đức Phật Thích-ca Mâu-ni có bốn pháp mà tất cả các vị Phật Thế Tôn khác đều không sánh bằng. Rồi các vị nói tiếp: ‘Vì thế, đức Phật Vô Cấu Công Đức Quang Minh Vương trao hoa quý thanh tịnh nguyệt quang minh vô cấu này cho chúng con mang đến cúng dường Thế Tôn, dâng lời thăm hỏi rằng Như Lai đi đứng có được nhẹ nhàng, khí lực có được an ổn hay chăng?’

“Thiện nam tử! Khi ấy, tòa sư tử của đức Phật A-súc đang ngồi ở thế giới Diệu Lạc về phương đông cũng chấn động theo sáu cách, lại cũng có vô lượng các vị Đại Bồ Tát thấy việc như vậy liền thưa hỏi Phật: ‘Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà tòa sư tử của Như Lai đang ngồi lại chấn động theo sáu cách như vậy…’ Đức Phật A-súc cũng trả lời như Phật Vô Cấu Công Đức Quang Minh Vương. Cho đến ở tất cả các thế giới khác về phương đông cũng đều như vậy.

“Bấy giờ, từ phương đông có vô lượng vô biên a-tăng-kỳ vị Đại Bồ Tát thảy đều hiện đến thế giới Ta-bà này, tất cả đều mang theo hoa quý thanh tịnh nguyệt quang minh vô cấu đến gặp Phật Thích-ca, cúng dường tôn trọng, cung kính ngợi khen xưng tán.

“Thiện nam tử! Như vậy, vô số chư Phật ở phương đông đều sai khiến các Bồ Tát đến đây ngợi khen xưng tán ta.

“Thiện nam tử! Nay ta lại nhìn thấy về phương nam, cách thế giới này số cõi Phật nhiều như số cát của một con sông Hằng, có một thế giới tên là Ly Chư Ưu, ở đó có Phật hiệu là Vô Ưu Công Đức Như Lai hiện nay đang thuyết pháp. Lại có thế giới tên là Diêm-phù Quang Minh, ở đó có Phật hiệu là Pháp Tự Tại Sư Tử Du Hý Như Lai. Lại có thế giới tên là An-tu-di, ở đó có Phật hiệu là Đạo Tự Tại Sa La Vương Như Lai. Lại có thế giới tên là Công Đức Lâu Vương, ở đó có Phật hiệu là Sư Tử Hống Vương Như Lai. Lại có thế giới tên là Trân Bảo Trang Nghiêm, ở đó có Phật hiệu là Bát Tý Thắng Lôi Như Lai. Lại có thế giới tên là Chân Châu Quang Minh Biến Chiếu, ở đó có Phật hiệu là Trân Bảo Tạng Công Đức Hống Như Lai. Lại có thế giới tên là Thiên Nguyệt, ở đó có Phật hiệu là Hỏa Tạng Như Lai. Lại có thế giới tên là Chiên-đàn-căn, ở đó có Phật hiệu là Tinh Tú Xưng Như Lai. Lại có thế giới tên là Xưng Hương, ở đó có Phật hiệu là Công Đức Lực Sa La Vương Như Lai. Lại có thế giới tên là Thiện Thích, ở đó có Phật hiệu là Diệu Âm Tự Tại Như Lai. Lại có thế giới tên là Đầu-lan-nhã, ở đó có Phật hiệu là Sa-la Thắng Tỳ-bà Vương Như Lai. Lại có thế giới tên là Nguyệt Tự Tại, ở đó có Phật hiệu là Quang Minh Tự Tại Như Lai. Lại có thế giới tên là Thiện Lôi Âm, ở đó có Phật hiệu là Diệu Âm Tự Tại Như Lai. Lại có thế giới tên là Bảo Hòa Hợp, ở đó có Phật hiệu là Bảo Chưởng Long Vương Như Lai. Lại có thế giới tên là Thùy Bảo Thọ, ở đó có Phật hiệu là Lôi Âm Tự Tại Pháp Nguyệt Quang Minh Như Lai.

“Vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chư Phật như vậy hiện đang thuyết pháp ở phương nam, tất cả đều là do ta khi còn làm

Bồ Tát đã khuyên dạy cho lần đầu tiên phát tâm Bồ-đề. Tòa sư tử của các đức Thế Tôn ấy đang ngồi cũng đều chấn động. Rồi các đức Phật ấy thảy đều ngợi khen xưng tán công đức của ta, lại cũng sai khiến vô lượng vô biên a-tăng-kỳ vị Đại Bồ Tát mang theo hoa quý thanh tịnh  nguyệt  quang minh vô cấu đến thế giới Ta-bà này, tại núi Kỳ-xà-quật, lễ bái cúng dường tôn trọng, cung kính ngợi khen xưng tán. Sau đó tất cả đều phân theo thứ tự ngồi sang một bên, lắng nghe thuyết pháp.

“Thiện nam tử! Nay ta lại nhìn thấy về phương tây cách đây bảy vạn bảy ngàn trăm ngàn cõi Phật,(1) có một thế giới tên là Tịch Tĩnh, ở đó có Phật hiệu là Bảo Sơn hiện đang vì Bốn chúng thuyết giảng giáo pháp vi diệu.

(1) Nguyên bản Hán văn chỗ này khắc là百千由旬佛之世界 (bá thiên do-tuần Phật chi thế giới). Hai chữ do-tuần hoàn toàn không hợp lý ở đây nên chúng tôi lược bỏ. Chúng tôi ngờ ở đây là那由他(na-do-tha), nhưng chỉ nêu ra để quý độc giả xem xét chứ không dám tùy tiện thêm vào.

“Lại có đức Phật Thắng Quang Vô Ưu, Phật Âm Trí Tạng, Phật Xưng Quảng, Phật Biến Tạng, Phật Phạm Hoa, Phật Thế Tấn, Phật Pháp Đăng Dũng, Phật Thắng Âm Sơn, Phật Xưng Âm Vương, Phật Phạm Âm Vương… Vô lượng vô biên a-tăng-kỳ các đức Phật Thế Tôn như vậy ở phương tây, cũng đều là do ta khi còn là Bồ Tát đã khuyên dạy cho lần đầu tiên phát tâm Bồ-đề. Tòa sư tử của các đức Thế Tôn ấy đang ngồi cũng đều chấn động. Rồi các đức Phật ấy thảy đều ngợi khen xưng tán công đức của ta, lại cũng sai khiến vô lượng vô biên a-tăng-kỳ vị Đại Bồ Tát mang theo hoa quý thanh tịnh nguyệt quang minh vô cấu đến thế giới Ta-bà này, tại núi Kỳ-xà-quật, gặp Phật rồi lễ bái cúng dường tôn trọng, cung kính ngợi khen xưng tán. Sau đó tất cả đều phân theo thứ tự ngồi sang một bên, lắng nghe thuyết pháp.

“Về phương bắc cách đây trăm ngàn na-do-tha cõi Phật, có thế giới kia tên là Vô Cấu, ở đó có Phật hiệu là Ly Nhiệt Não Tăng Tỳ-sa-môn Sa-la vương Như Lai. Có hai vị Bồ Tát, một tên là Bảo Sơn, một tên là Quang Minh Quán.

“Lại có đức Phật Hoại Chư Ma, Phật Sa-la Vương, Phật Đại Lực Quang Minh, Phật Liên Hoa Tăng, Phật Chiên- đàn, Phật Di-lâu Vương, Phật Kiên Trầm Thủy, Phật Hỏa Trí Đại Lực… Vô lượng các đức Phật Như Lai như vậy ở phương bắc.

“Cho đến về các phương tây bắc, tây nam, đông bắc, đông nam, phương trên và phương dưới cũng đều như vậy.”

Lúc bấy giờ, đức Phật Thích-ca Mâu-ni vì muốn dung chứa được hết thảy đại chúng đông đảo như vậy nên dùng sức đại thần thông làm cho thân thể của tất cả những người đến dự pháp hội đều nhỏ lại chỉ bằng như hạt đình lịch.(1) Dù vậy, khắp thế giới Ta-bà khi ấy từ mặt đất lên đến hư không cũng vẫn đông đảo chật kín, không còn lấy một khoảng trống dù chỉ bằng sợi lông.

Lúc ấy, tất cả chúng sinh đều không thể nhìn thấy được nhau, cũng không thể nhìn thấy các núi lớn, núi nhỏ, núi chúa Tu-di, cùng hai núi Thiết vi lớn, nhỏ và khoảng tối tăm u ám ở giữa; phía trên không thấy được cung điện của chư thiên, phía dưới không thấy được chỗ thấp nhất của thế giới. Chỉ riêng đức Phật Thế Tôn là vẫn nhìn thấy được tất cả.

(1) Hạt đình lịch: Một loại hạt rất nhỏ màu vàng đen, dùng làm vị thuốc. Có người nói là hạt của cây rau đay. Ở đây chỉ dùng với ý là rất nhỏ.

Bấy giờ, đức Phật Thích-ca Mâu-ni lại nhập Tam-muội Biến hư không đoạn trừ chư pháp định ý, khiến cho vô số hoa quý thanh tịnh nguyệt quang đều chui cả vào các lỗ chân lông trên thân Phật. Hết thảy đại chúng đều tự mình chứng kiến việc ấy.

Khi ấy, hết thảy chúng sinh đều không nghĩ đó là hình tướng sắc thân Phật, chỉ nhìn thấy trong những lỗ chân lông ấy có cảnh vườn cây xinh đẹp. Trong cảnh vườn cây ấy có nhiều cây báu. Những cây ấy đều có đủ mọi thứ cành lá, hoa quả sum suê. Trên cây còn có đủ các loại áo quý, cờ phướn, lọng báu cõi trời, chân châu, anh lạc trang nghiêm tốt đẹp, giống như ở thế giới An Lạc phương tây.(1) Đại chúng nơi đây thảy đều nhìn thấy như vậy, liền tự nghĩ rằng: “Nay chúng ta sẽ đến dạo chơi trong cảnh vườn kia.”

Lúc bấy giờ, chỉ trừ những chúng sinh trong Ba đường ác(2) và ở cõi trời Vô sắc,(3) còn ngoài ra hết thảy đại chúng đều theo các lỗ chân lông mà đi vào bên trong thân Như Lai, đến ngồi trong những cảnh vườn cây xinh đẹp kia.

Khi ấy, đức Phật Thích-ca xả bỏ phép thần túc, tức thời hết thảy đại chúng đều nhìn thấy nhau như cũ. Họ thắc mắc hỏi nhau: “Không biết hiện nay đức Như Lai đang ở đâu?”

(1) Thế giới An Lạc phương tây: tức thế giới Cực Lạc của đức Phật A-di-đà, cũng được gọi là Tây phương Tịnh độ. Xem kinh A-di-đà hoặc kinh Quán Vô Lượng Thọ.

(2) Ba đường ác: Xem chú giải ở trang 94.

(3) Cõi trời Vô sắc: Xem chú giải ở trang 345.

Lúc đó, Bồ Tát Di-lặc liền bảo đại chúng rằng: “Các ông nên biết, hiện nay tất cả chúng ta đều đang ở bên trong thân của Như Lai.”

Khi ấy, đại chúng liền nhìn thấy khắp cả bên trong và bên ngoài sắc thân của Như Lai, liền tự biết được rằng vô lượng đại chúng tập hợp nơi đây đều đang ở bên trong sắc thân của Như Lai. Họ lại hỏi nhau rằng: “Chúng ta đã theo đường nào mà vào được bên trong thân Như Lai? Ai đã dẫn dắt chúng ta vào trong này?”

Bồ Tát Di-lặc lại nói với đại chúng: “Các ông hãy lắng nghe! Hiện nay đức Như Lai hiện sức biến hóa đại thần thông, lại vì muốn làm lợi ích cho tất cả đại chúng nên sắp sửa thuyết giảng pháp mầu. Nay các ông phải hết lòng chú ý lắng nghe.”

Bấy giờ, tất cả đại chúng nghe nói như vậy liền quỳ xuống, chắp tay cung kính lắng nghe lời dạy.

Khi ấy, đức Thế Tôn liền dùng pháp môn Nhất thiết hạnh để giảng thuyết pháp mầu.

Đức Phật bảo đại chúng: “Thế nào gọi là pháp môn Nhất thiết hạnh? Đó là: ra khỏi bùn lầy sinh tử, thể nhập Tám thánh đạo, thành tựu đầy đủ, đạt được trí hiểu biết tất cả.

“Thiện nam tử! Có mười pháp chuyên tâm phát khởi Bồ- đề có thể vào được pháp môn này. Những gì là mười?

“Pháp thứ nhất là vì muốn cho tất cả chúng sinh đều được giải thoát nên tùy hỷ hồi hướng.

“Pháp thứ hai là vì phát khởi lòng đại bi nên thâu nhiếp hết thảy chúng sinh.

“Pháp thứ ba là vì muốn cứu vớt những chúng sinh chưa được cứu vớt nên tinh cần tu tập, sửa sang con thuyền pháp Vô thượng.

“Pháp thứ tư là vì muốn thấu hiểu những điều chưa hiểu nên tu tập trang nghiêm, quán xét xa lìa sự điên đảo hư vọng.

“Pháp thứ năm là vì muốn giảng rộng chánh pháp như tiếng sư tử rống nên tu tập trang nghiêm không còn chỗ sợ sệt, quán xét tánh thật của các pháp không có bản ngã.

“Pháp thứ sáu là vì muốn tùy thuận tất cả các thế giới mà mình đến nên trong tâm không có sự phân biệt, khéo học biết hết thảy các pháp đều là không, thân người là vô thường không bền chắc, như Phật có dạy Mười thí dụ.(1)

(1) Mười thí dụ: Trong kinh Phật thường dùng mười thí dụ để chỉ rõ ý nghĩa “tất cả các pháp đều là không” và “thân người là vô thường, không bền chắc”.

Mười thí dụ để chỉ rõ ý nghĩa “tất cả các pháp đều là không” gồm có:

  1. Ví như huyễn hóa (Huyễn dụ – Phạn ngữ: māyā-upama): như nhà ảo thuật hóa hiện ra các thứ voi, ngựa cho đến đủ mọi hình tướng, cần sáng suốt biết rõ đó chỉ là hư ngụy, không thật, mọi hình sắc, âm thanh thấy nghe được như vậy đều xem như không có, điều này ví như khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần sẽ không để cho bị lôi cuốn, rối loạn. Hết thảy các pháp cũng đều không thật có như vậy.
  2. Ví như hơi nắng nóng (Diệm dụ – Phạn ngữ: marīci-upama): như khi trời nắng nóng mùa hè, hơi nóng lung linh, gió thổi bụi lay động, khiến người nhìn thấy như đủ các hình tướng, hoặc như thấy từ xa có nước, điều này ví như khi đắm chấp nơi các phiền não, bị phiền não trói buộc, chúng sinh mới lưu chuyển mãi mãi trong vòng sinh tử. Hết thảy các pháp cũng đều không thật có như vậy.
  3. Ví như trăng trong nước (Thuỷ trung nguyệt dụ – Phạn ngữ: udaka-candra- upama): như mặt trăng ở giữa không trung mà hình chiếu hiện ra dưới nước, tướng thật của mặt trăng ví như tánh thật của các pháp, thật có giữa không trung, còn kẻ phàm phu đối với các tướng ngã ngã sở lại vọng chấp cho là thật có, khác nào như nhìn thấy mặt trăng trong nước mà cho đó là thật có; hết thảy các pháp cũng đều không thật có như vậy.
  4. Ví như hư không (Hư không dụ – Phạn ngữ: ākāśa-upama): như nói “hư không” thì đó chỉ là tên gọi, không có thật thể, lại như nhìn lên cao xa thấy bầu trời xanh, giống như có màu sắc thật, nhưng nếu bay mãi lên cao cũng chẳng thể trông thấy được gì. Hết thảy các pháp cũng đều không thật có như vậy.
  5. Ví như tiếng vang (Hưởng dụ – Phạn ngữ: pratiśrutkā-upama): như trong chốn hang sâu núi thẳm hoặc giữa hai vách núi, khi phát ra tiếng kêu hoặc âm thanh lớn liền nghe có tiếng dội lại hòa theo, gọi là tiếng vang, âm thanh đó tuy là thật sự nghe thấy, nhưng lại không hề thật có. Hết thảy các pháp thật tánh đều là không, chỉ do những tướng hư dối mà thành như thật có.
  6. Ví như thành càn-thát-bà (Càn-thát-bà thành dụ – Phạn ngữ: gandharva- nagara-upama): loài càn-thát-bà có thần thông biến hóa, thị hiện ra được những thành quách, nhà cửa, khi mặt trời vừa mới mọc có thể nhìn thấy những thứ ấy như thật, có người đông đúc ra vào, đến khi mặt trời lên cao dần thì tự nhiên biến mất, không còn thấy được nữa; những thành quách nhà cửa như vậy tuy là có nhìn thấy rõ ràng nhưng không hề thật có, cũng như những kẻ không có trí huệ nhìn thấy có bản ngã và các pháp, khởi lên các tâm dâm dục, sân hận, rồi quay cuồng điên đảo, mong cầu khoái lạc, nếu người có trí huệ rõ biết lý vô ngã, rõ biết các pháp là không thật, thì sự điên đảo kia tự nhiên không còn nữa.
  7. Ví như trong giấc mộng (Mộng dụ – Phạn ngữ: svapna-upama): Trong giấc mộng vốn không có sự thật, người nằm mộng lại vọng chấp cho là thật, đến khi tỉnh giấc mới biết, liền tự mình cười lấy mình. Hết thảy các pháp cũng đều không thật có như vậy.
  8. Ví như cái bóng (Ảnh dụ – Phạn ngữ: pratibhāsa-upama): do có ánh sáng chiếu nơi vật hiện thành cái bóng của vật, tuy thấy được mà không thể nắm bắt, giữ lấy. Hết thảy các pháp cũng đều không thật có như vậy.
  9. Ví như hình trong gương (Kính trung tượng dụ – Phạn ngữ: pratibimba-upama): như soi gương nhìn thấy mặt mình, hình trong gương đó vốn không phải do cái gương tạo ra, không phải do mặt mình tạo ra, không phải do người cầm gương tạo ra, không phải tự nhiên mà có, cũng không phải do nhân duyên mà có. Cũng vậy, hết thảy các pháp đều là không, chẳng có sinh ra, chẳng có diệt mất, chỉ là dối gạt mắt nhìn của những kẻ phàm phu mà

Ví như biến hóa (Hoá dụ – Phạn ngữ: nirmita-upama): như những người tu tập chứng đắc các phép thần thông có thể biến hoá ra sự vật, hoặc chư thiên, loài rồng, quỷ thần… cũng có khả năng biến hoá sự vật, nhưng dù những chúng sinh ấy có khả năng biến hoá ra các hình tướng nam nữ, những hình nhân biến hóa ấy thảy đều không thật có các pháp sinh, lão, bệnh, tử, khổ, .. Hết thảy các pháp cũng đều là như vậy, không có sinh ra, không có diệt mất đi, khác nào do biến hoá mà thành, cũng không phải thật có, cho nên nói rằng các pháp đều là không.

Mười thí dụ để chỉ rõ ý nghĩa “thân người là vô thường, không bền chắc” được dẫn trong kinh Duy-ma-cật, gồm có:

“Pháp thứ bảy là vì muốn được thế giới có hào quang trang nghiêm nên tu tập giữ theo giới luật, khiến thân tâm được thanh tịnh.

“Pháp thứ tám là vì muốn trang nghiêm thành tựu Mười sức(1) của Như Lai nên tu tập đầy đủ hết thảy các pháp ba- la-mật.

“Pháp thứ chín là vì muốn trang nghiêm thành tựu Bốn pháp không sợ sệt(2) nên theo đúng lời thuyết dạy mà thực hành.

“Pháp thứ mười là vì muốn trang nghiêm Mười tám pháp chẳng chung cùng(3) nên tùy chỗ được nghe thuyết pháp thảy đều không thấy dư thừa, không sinh lòng buông thả, biếng nhác.

“Như vậy gọi là mười pháp chuyên tâm phát khởi đạo Bồ- đề Vô thượng, có thể vào được pháp môn Nhất thiết hạnh này, liền đạt được địa vị không còn thối chuyển đối với đạo Bồ-đề Vô thượng, đạt được hạnh Vô tướng, đạt được hạnh Trí đạo, thấy được tất cả các pháp đều là vô ngã, trong tâm không còn suy nghĩ, không sinh không diệt. Như vậy gọi là địa vị không còn thối chuyển của hàng Bồ Tát. Do đây mà không có thối chuyển, cũng chẳng phải không thối chuyển; không phải dứt mất, cũng chẳng phải thường còn; không phải an định, cũng chẳng phải rối loạn.”

  1. Thân này như bọt đọng, không thể sờ nắm.
  2. Thân này như bọt nổi, không tồn tại lâu dài.
  3. Thân này như bọt đọng, không thể sờ nắm.
  4. Thân này như bọt nổi, không tồn tại lâu dài.
  5. Thân này như nháng lửa, do sự khát khao ái dục mà sinh
  6. Thân này như cây chuối, bên trong chẳng bền chắc gì.
  7. Thân này như món đồ ảo thuật, do sự xáo trộn mà sinh
  8. Thân này như chiêm bao, hư vọng chẳng thật.
  9. Thân này như cái bóng, theo nghiệp duyên mà hiện
  10. Thân này như tiếng vang, phụ thuộc các nhân duyên.
  11. Thân này như mây nổi, trong phút chốc đã biến mất.
  12. Thân này như tia chớp, chẳng ở yên một phút nào.

(1) Mười sức của Như Lai: tức Thập lực, xem chú giải ở trang 104.

(2) Bốn pháp không sợ sệt: tức Tứ vô sở úy, xem chú giải ở trang 93.

(3) Mười tám pháp chẳng chung cùng: tức Thập bát bất cộng pháp, xem chú giải ở trang 796.

Khi Phật thuyết giảng pháp này, bên trong sắc thân Như Lai có số Đại Bồ Tát nhiều như số cát của tám mươi ức con sông Hằng đều được địa vị không còn thối chuyển đối với quả vị A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, lại có vô số Đại Bồ Tát không thể tính đếm hết, đều được các tam-muội, pháp nhẫn rất thâm sâu, hết thảy đều theo các lỗ chân lông trên thân Như Lai mà đi ra, trong lòng hết sức kinh ngạc, khen là việc chưa từng có, liền đối trước Phật cúi đầu sát đất mà lễ kính. Sau khi lễ xong đứng dậy, hốt nhiên mỗi vị đều trở về cõi Phật của mình, nhưng vẫn nghe được tiếng thuyết pháp của đức Phật Thích-ca Mâu-ni vượt qua vô lượng vô biên a-tăng-kỳ cõi Phật trong mười phương, không có chướng ngại.

Các vị Bồ Tát ấy tuy trở về nơi thế giới của mình nhưng vẫn tiếp tục được nghe tiếng của Như Lai thuyết pháp, vẫn đầy đủ ý nghĩa từng câu từng chữ không hề thiếu sót, cũng không khác gì như đang được ở gần ngay trước đức Phật. Thân Như Lai lại cũng biến hiện như vậy, đầy khắp vô số thế giới trong mười phương. Có vô lượng vô biên a-tăng-kỳ Bồ Tát, Thanh văn ở các thế giới ấy vẫn nhìn thấy một lỗ chân lông của Như Lai mà ra vào không chi trở ngại. Rồi lỗ chân lông thứ hai, cho đến hết thảy vô số lỗ chân lông của Như Lai cũng đều có thể ra vào không trở ngại.

Ở các thế giới khác trong khắp mười phương cũng đều như vậy.

Bấy giờ, đại chúng từ trong các lỗ chân lông của Phật Thích-ca Như Lai đi ra, cúi đầu sát đất lễ Phật, đi quanh ba vòng cung kính rồi đứng trước Phật, dùng đủ mọi lời hay ý đẹp để ngợi ca xưng tán Phật.

Khi ấy, chư thiên ở hai cõi Dục giới Sắc giới liền mưa xuống đủ mọi loại hoa, hương phết, hương bột, cờ phướn, chuỗi ngọc, cùng trỗi lên các loại âm nhạc vi diệu để cúng dường đức Như Lai.

Bấy giờ, trong hội có một vị Bồ Tát tên là Vô Uý Đẳng Địa, quỳ xuống chắp tay bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Kinh điển lớn lao như thế này nên gọi tên là gì? Nên cung kính gìn giữ như thế nào?”

Phật bảo Bồ Tát Vô Uý Đẳng Địa: “Kinh này gọi là Pháp môn Đà-la-ni Giải liễu nhất thiết, cũng gọi là Vô Lượng Phật, cũng gọi là Đại chúng, cũng gọi là Thọ Bồ Tát ký, cũng gọi là Tứ vô sở uý xuất hiện ư thế, cũng gọi là Nhất thiết chư tam-muội môn, cũng gọi là Thị hiện chư Phật thế giới, cũng gọi là Do như đại hải, cũng gọi là Vô lượng, cũng gọi là Đại bi liên hoa.”(1)

(1) Khi chuyển dịch kinh này sang Hán văn, ngài Đàm-vô-sấm đã dùng tên kinh Đại bi liên hoa để gọi tắt lại thành kinh Bi hoa.

Đại Bồ Tát Vô Uý Đẳng Địa lại bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Nếu có kẻ nam, người nữ phát lòng lành, thọ trì kinh này, tụng đọc thông suốt, vì người khác giảng nói, dù chỉ là một bài kệ, sẽ được phước đức như thế nào?”

Phật bảo Bồ Tát Vô Uý Đẳng Địa: “Ta trước đã có giảng nói chỗ được phước đức của người trì kinh này, nay sẽ vì ông mà nói lại sơ lược mọi điều.

“Nếu có những kẻ nam, người nữ phát lòng lành thọ trì kinh này, tụng đọc thông suốt, vì người khác giảng nói, dù chỉ là một bài kệ, hoặc trong khoảng năm mươi năm cuối của thời mạt thế mà có thể sao chép một bài kệ trong kinh này, chỗ công đức đạt được còn hơn cả các vị Bồ Tát thực hành sáu pháp ba-la-mật trong mười đại kiếp.

“Vì sao vậy? Các hàng Thiên ma, Phạm, sa-môn, bà-la- môn, dạ-xoala-sát,  loài  rồng,  càn-thát-bàa-tu-laca-lâu- la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, câu-biện-đồ,  ngạ  quỷ,  tỳ- xá-già, người và phi nhân, nếu có tâm sân hận, khi nghe kinh này liền được thanh tịnh, hòa dịu, hoan hỷ, lại cũng được lìa khỏi các bệnh khổ, sự nóng giận, giặc thù, cho đến các sự đấu tranh giành giật, diệt trừ hết thảy mưa độc gió dữ.

“Kinh này cũng giúp cho người bệnh được khỏi, người đói khát được no đủ, hưởng mọi khoái lạc, hòa hợp thuận thảo với nhau. Đối với người nhiều sân hận có thể làm cho trở nên nhẫn nhục; đối với người sợ sệt có thể làm cho không còn lo sợ, hưởng mọi niềm vui. Đối với người nhiều phiền não có thể kiến cho lìa xa phiền não.

“Kinh này lại có thể khiến cho các căn lành thảy đều tăng trưởng; có thể cứu vớt chúng sinh trong ba đường ác; có thể chỉ ra con đường Ba thừa thoát ra Ba cõi; có thể đạt đến pháp nhẫn rất thâm sâu, cùng các môn đà-la-ni, tam-muội; có thể giúp chúng sinh làm nên sự lợi ích lớn lao, có thể ngồi lên tòa kim cang nơi đạo tràng; có thể trừ phá bốn ma; có thể chỉ bày hết thảy các pháp hỗ trợ Bồ-đề; có thể chuyển bánh xe chánh pháp; đối với những ai không có các tài bảo của bậc thánh có thể làm cho được đầy đủ tất cả; có thể khiến cho vô lượng vô biên chúng sinh được trụ yên trong chỗ không còn sợ sệt.

“Do những nhân duyên ấy, nếu có thể gìn giữ kinh này, tụng đọc thông suốt, vì người khác giảng nói, dù chỉ là một bài kệ, hoặc nếu trong khoảng năm mươi năm cuối của thời mạt thế mà có thể sao chép chỉ một bài kệ trong kinh này, đều được đầy đủ vô lượng vô biên phước đức như vậy. Vì thế nên hôm nay ta mới thuyết dạy kinh này.

“Kinh điển lớn lao như thế này, nay sẽ giao phó lại cho ai? Ai có thể trong khoảng năm mươi năm cuối của thời mạt thế sẽ bảo vệ, gìn giữ pháp môn này? Ai có thể vì các vị Bồ Tát ở địa vị bất thối chuyển ở khắp mọi nơi mà tuyên thuyết kinh này, khiến cho đều được nghe thấy? Ai có thể vì những chúng sinh có nhiều tham dục, ác độc, tà kiến, không tin nhân quả mà giảng giải cho họ nghe giáo pháp này?”

Bấy giờ, tất cả đại chúng đều hiểu được ý Phật. Có một vị Đại tiên Dạ-xoa tên là Vô oán Phí Túc đang ngồi trong chúng hội. Khi ấy, Đại Bồ Tát Di-lặc liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cùng với vị Đại tiên Dạ-xoa này tiến đến chỗ Phật.

Lúc đó, Như Lai bảo vị Đại tiên Dạ-xoa rằng: “Hôm nay ông nên thọ nhận kinh này, rồi đến trong khoảng năm mươi năm cuối cùng của thời mạt pháp sẽ vì các vị Bồ Tát ở địa vị không còn thối chuyển, cho đến vì những kẻ không tin nhân quả mà giảng giải giáo pháp này.”

Khi ấy, vị Đại tiên Dạ-xoa liền bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Trong suốt tám mươi bốn đại kiếp quá khứ, con đã vì bản nguyện mà làm vị Đại tiên Dạ-xoa, tu hành đạo A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Khi ấy con đã giáo hóa vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chúng sinh, khiến cho trụ yên trong Bốn tâm vô lượng, lại khiến cho vô lượng vô biên chúng sinh đạt được địa vị không còn thối chuyển đối với quả vị A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Bạch Thế Tôn! Nay con sẽ vì hết thảy chúng sinh trong đời vị lai mà làm việc ủng hộ, trong khoảng năm mươi năm cuối cùng của thời mạt pháp sẽ thọ trì kinh này, cho đến nếu chỉ được nghe một bài kệ bốn câu trong kinh này từ nơi người khác, con cũng sẽ tụng đọc cho thật thông suốt, truyền bá rộng rãi cho mọi người, không để dứt mất.”

Khi Phật thuyết giảng xong kinh này, Bồ Tát Tịch Ý cùng với chư thiên, đại chúng, càn-thát-bà… người và phi nhân, thảy đều hết sức hoan hỷ, cúi đầu sát đất lễ Phật rồi rời khỏi chỗ ngồi mà lui về.

The post Kinh Bi Hoa – PHẨM THỨ SÁU – PHÁP MÔN NHẬP ĐỊNH appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
KINH BI HOA – PHẨM THỨ NĂM – PHẦN III – PHÁP BỐ THÍ https://bachhac.net/kinh-bi-hoa-pham-thu-nam-phan-iii-phap-bo-thi.html Wed, 15 Sep 2021 07:03:36 +0000 https://bachhac.net/?p=3990 Đức Phật Thích-ca Mâu-ni bảo Bồ Tát Tịch Ý: “Thiện nam tử! Từ đó về sau, lại trải qua vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, thế giới này đổi tên là Tuyển Trạch Chư Ác. Khi ấy đại kiếp có tên là Thiện Đẳng Ích, thế giới cũng có đủ năm sự uế trược. “Về …

The post KINH BI HOA – PHẨM THỨ NĂM – PHẦN III – PHÁP BỐ THÍ appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
KINH BI HOA - PHẨM THỨ NĂM - PHẦN III - PHÁP BỐ THÍ

Đức Phật Thích-ca Mâu-ni bảo Bồ Tát Tịch Ý: “Thiện nam tử! Từ đó về sau, lại trải qua vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, thế giới này đổi tên là Tuyển Trạch Chư Ác. Khi ấy đại kiếp có tên là Thiện Đẳng Ích, thế giới cũng có đủ năm sự uế trược.

“Về phương đông cách đây năm mươi bốn cõi thiên hạ, có cõi Diêm-phù-đề tên gọi là Lô-bà-la. Do nguyện lực nên ta sinh về nơi ấy, làm vị Chuyển luân Thánh vương cai quản Bốn cõi thiên hạ, hiệu là Hư Không Tịnh, giáo hóa các chúng sinh được trụ yên trong Mười điều lành cùng với giáo pháp Ba thừa.

“Thuở ấy ta làm việc bố thí cho hết thảy, không hề có chỗ phân biệt. Lúc bấy giờ có vô số người tìm đến để cầu xin ta những thứ như trân bảo, vàng bạc, lưu ly, pha lê, tiền tài, châu lưu ly xanh, châu lưu ly xanh loại lớn, hỏa châu ma- ni… Nhưng số trân bảo mà ta có được thật quá ít, không đáng kể so với vô số người đến xin nhiều như thế.

“Bấy giờ, ta liền hỏi quan đại thần: ‘Những trân bảo như vậy từ đâu mà có?’

“Quan đại thần đáp: ‘Từ nơi chỗ của các vị Long vương mà có. Nhưng tuy ở đó có trân bảo, cũng chỉ đủ cung cấp cho Thánh vương, không thể cho khắp những người đến xin nhiều như thế.’

“Khi ấy ta liền phát lời thệ nguyện lớn lao rằng: ‘Nếu như ta trong đời vị lai ở giữa cõi đời xấu ác có năm sự uế trược, phiền não sâu nặng, tuổi thọ con người là một trăm tuổi, chắc chắn sẽ thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam- bồ-đề, mọi sở nguyện đều thành tựu, được lợi ích bản thân, thì nay ta sẽ làm vị Đại Long vương hiện ra đủ mọi thứ kho báu trân bảo giữa cõi thế giới Tuyển Trạch Chư Ác này, ở khắp mọi nơi trong Bốn cõi thiên hạ, mỗi một cõi thiên hạ ta sẽ thọ thân sinh ra bảy lần, mỗi một lần sinh đều hiện ra vô lượng trăm ngàn vạn ức na-do-tha kho báu trân bảo, mỗi một kho báu ấy có bề ngang dọc đều rộng đến một ngàn do-tuần, đều chứa đầy đủ mọi thứ trân bảo, dùng để cung cấp, bố thí cho hết thảy những chúng sinh như trên đã nói.

“Giống như đã ở trong một cõi thế giới này mà tinh tấn chuyên cần làm việc bố thí như vậy, ta cũng lần lượt thọ sinh ở khắp các cõi thế giới xấu ác nhiều như số cát sông Hằng trong mười phương, những nơi ấy không có Phật ra đời, có đủ năm sự uế trược. Trong hết thảy các cõi thiên hạ ở mỗi một thế giới ấy, ta đều sẽ thọ thân sinh ra bảy lần, thị hiện có đủ mọi thứ trân bảo để bố thí chúng sinh như trên đã nói.’

“Thiện nam tử! Khi ta phát lời nguyện lành như vậy rồi, liền có trăm ngàn muôn ức chư thiên ở giữa không trung mưa xuống đủ mọi loại hoa thơm mà ngợi khen rằng: ‘Lành thay, lành thay! Nhất Thiết Thí,(1) nay ông sẽ được thành tựu đúng như chỗ phát nguyện trong lòng.’

“Thiện nam tử! Bấy giờ đại chúng đều nghe chư thiên tôn xưng đức vua Hư Không Tịnh Nhất Thiết Thí. Nghe như vậy rồi, mỗi người đều tự nghĩ rằng: ‘Nay ta nên đến chỗ vua ấy cầu xin những vật rất khó xả bỏ. Nếu vua có thể xả bỏ được, như vậy mới xứng danh là Nhất Thiết Thí. Bằng như có vật không thể xả bỏ, làm sao có thể gọi là Nhất Thiết Thí?’

“Khi ấy, mọi người đều theo vua cầu xin những thứ như cung nữ, hoàng hậu, cho đến các công chúa, hoàng tử…

“Bấy giờ, vua Chuyển luân nghe những lời cầu xin như vậy liền dùng tâm hoan hỷ mà tùy theo chỗ cầu xin của mỗi người đều bố thí cho tất cả.

“Lúc ấy, những người kia lại bảo nhau rằng: ‘Những thứ như vợ, con cũng vẫn còn dễ xả bỏ, chẳng phải chuyện khó làm. Nay chúng ta nên đến chỗ vua mà cầu xin những bộ phận trên thân thể. Nếu vua có thể xả bỏ mới thật sự xứng danh là Nhất Thiết Thí.’

“Những người ấy liền cùng nhau tìm đến chỗ vua. Trong số đó có một người thọ trì giới chó(2) tên là Thanh Quang Minh, tâu với vua Chuyển luân rằng: ‘Đại vương! Nếu ngài quả là bậc xả bỏ tất cả, xin bố thí cho tôi cõi Diêm-phù-đề này.’

(1) Chư thiên dùng danh xưng “Nhất thiết thí” để ca ngợi Bồ Tát, có nghĩa là “bậc có thể xả bỏ tất cả để bố thí”.

(2) Giới chó (Cẩu giới): một trong các tà thuyết của ngoại đạo. Tương truyền có người ngoại đạo nhìn thấy con chó, sau được sinh lên cõi trời. Từ đó ngoại đạo đặt ra giới chó (cẩu giới), nói rằng ai giữ theo đều được sinh lên cõi trời. Người thọ trì giới chó thì không ngủ trong nhà, chỉ ngủ ngoài hè (giống như chó), lại tập ăn cả phẩn người, tin rằng như thế trừ được khổ não, mau được sinh lên cõi trời.

“Khi ấy, ta nghe như vậy liền sinh tâm hoan hỷ, dùng nước thơm tắm rửa sạch sẽ cho người ấy,(1) cho mặc vào những y phục tốt đẹp mềm mại bậc nhất, rồi dùng nước làm lễ quán đỉnh,(2) cho nối ngôi làm Thánh vương, mang cõi Diêm-phù- đề mà bố thí cho người ấy.

“Rồi ta lại phát nguyện rằng: ‘Nếu như nay ta dùng cả cõi Diêm-phù-đề này để bố thí, do nhân duyên này sẽ được thành tựu quả  A-nậu-đa-la  Tam-miệu  Tam-bồ-đề, sở nguyện thành tựu, được phần lợi ích bản thân, thì xin nguyện cho hết thảy nhân dân trong cõi Diêm-phù-đề này đều tôn kính thuận theo việc người này lên làm vua, lại khiến cho người này được thọ mạng vô lượng, làm vị vua Chuyển luân. Sau khi ta thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam- miệu Tam-bồ-đề rồi, sẽ thọ ký cho người này được quả vị Nhất sinh bổ xứ.’(3)

“Có người bà-la-môn tên là Lô-chí, lại tìm đến ta cầu xin hai chân. Ta nghe như vậy liền sinh tâm hoan hỷ, cầm dao sắc tự chặt đứt hai chân, rồi đưa cho người ấy. Bố thí như vậy rồi lại phát nguyện: ‘Nguyện cho ta trong đời vị lai được đầy đủ đôi chân là giới luật cao trổi nhất.’

“Có người bà-la-môn tên là Hỗ, lại tìm đến ta cầu xin hai mắt. Ta nghe như vậy sinh lòng hoan hỷ, liền móc hai mắt ra đưa cho. Bố thí như vậy rồi lại phát nguyện:

(1) Vì người này giữ theo giới chó nên thân thể luôn dơ nhớp, hôi thối.

(2) Lễ quán đỉnh: Theo nghi thức trong xã hội Ấn Độ cổ xưa, lễ quán đỉnh (hay quán đảnh) được thực hiện trước khi một vị vua lên ngôi. Trong lễ ấy, một vị tu sĩ đọc các chú thuật theo đúng nghi thức và dùng nước rưới lên đỉnh đầu của nhà vua.

(3) Nhất sinh bổ xứ: Xem chú giải ở trang 86.

‘Nguyện cho trong đời vị lai được đầy đủ Năm thứ mắt cao trổi nhất.’(1)

“Không lâu sau đó, lại có người bà-la-môn tên là Tịnh Kiên Lao, lại tìm đến ta cầu xin hai tai. Ta nghe như vậy rồi sinh lòng hoan hỷ, liền tự cắt hai tai đưa cho. Bố thí như vậy rồi lại phát nguyện: ‘Nguyện cho ta trong đời vị lai được đầy đủ tai nghe là trí huệ cao trổi nhất.’

“Lại không lâu sau đó, có người ni-kiền-tử tên là Tưởng, tìm đến ta để cầu xin nam căn.(2) Ta nghe như vậy rồi sinh lòng hoan hỷ, liền tự tay cắt lấy đưa cho. Bố thí như vậy rồi lại phát nguyện: ‘Nguyện cho ta trong đời vị lai thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, được tướng Mã vương tàng.(3)

“Không lâu sau đó lại có người tìm đến hỏi xin ta máu thịt. Ta nghe như vậy rồi sinh lòng hoan hỷ, liền bố thí cho. Bố thí như vậy rồi lại phát nguyện: ‘Nguyện cho ta trong đời vị lai được đầy đủ thân tướng màu vàng ròng(4) không ai sánh bằng.’

(1) Năm thứ mắt cao trổi nhất (Vô thượng ngũ nhãn, Sanskrit: pañcacakṣuṃṣi): Năm thứ mắt mà một vị Phật, một bậc giác ngộ rốt ráo luôn có đủ, bao gồm:

  1. Nhục nhãn (肉眼; Sanskrit: māṃsacakṣus): mắt thịt, mắt thường của người phàm
  2. Thiên nhãn (天眼; Sanskrit: divyacakṣus): mắt của chư thiên, có thể nhìn thấy được những hiện tượng siêu nhiên, quá khứ, vị lai, địa ngục…
  3. Pháp nhãn (法眼; Sanskrit: dharmacakṣus): mắt pháp, thấy được sự đa dạng của các pháp hiện hữu.
  4. Huệ nhãn (慧眼; Sanskrit: prajñācakṣus): mắt trí huệ, nhìn thấu suốt được tính không (Sanskrit: śūnyatā) của các pháp.
  5. Phật nhãn (佛眼; Sanskrit: buddhacakṣus): mắt của bậc giác ngộ rốt ráo, nhìn thấu suốt thể tính của mọi sự vật.

(2) Nam căn: cơ quan sinh dục nam, tức dương vật.

(3) Tướng Mã vương tàng: tức Âm tàng tướng (陰藏相), Sanskrit: kośopagata-vasti- guhya), là tướng nam căn ẩn kín không nhìn thấy được. Đây là một trong 32 tướng tốt của Phật.

(4) Thân tướng màu vàng ròng (kim sắc thân): Xem chú giải ở trang 1011.

“Không lâu sau đó lại có người bà-la-môn tên là Mật Vị tìm đến ta cầu xin hai cánh tay. Ta nghe như vậy rồi sinh lòng hoan hỷ, tay phải cầm dao chặt đứt tay trái rồi nói rằng: ‘Nay còn cánh tay phải này ta không thể tự chặt, ông hãy đến đây chặt lấy.’ Bố thí như vậy rồi lại phát nguyện: ‘Nguyện cho ta trong đời vị lai được đầy đủ cánh tay là lòng tin sâu vững.’

“Thiện nam tử! Khi ta cắt hết các bộ phận của thân thể như thế rồi, toàn thân máu nhuộm, lại phát nguyện rằng: ‘Nếu do nhân bố thí này ta chắc chắn sẽ thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, sở nguyện thành tựu, được phần lợi ích bản thân, thì nguyện cho những phần còn lại trong thân thể đều sẽ có chúng sinh nhận thí.’

“Thời bấy giờ không có thánh nhân, người đời chẳng biết gì đến việc ân nghĩa, nên các tiểu vương và những quan đại thần thảy đều nói rằng: ‘Người sao mà ngu đến thế! Vì sao lại tự cắt xẻo thân thể, khiến cho mọi thứ đang tốt đẹp bỗng chốc thành tàn phế? Khối thịt dư này còn có giá trị gì?’

“Khi ấy, các quan đại thần liền mang thân thể còn lại của ta vất bỏ ra bãi tha ma hoang vắng bên ngoài thành, rồi kéo nhau ra về. Bấy giờ, vô số các loài ruồi nhặng, muỗi mòng… tranh nhau hút lấy máu ta; các loài chồn cáo, kên kên, diều quạ… cùng kéo đến ăn thịt ta.

“Trong lúc mạng sống còn chưa dứt hẳn, ta sinh tâm hoan hỷ, lại phát nguyện rằng: ‘Nay ta xả bỏ cả đời sống cũng như tất cả các bộ phận thân thể nhưng trong lòng không một mảy may sân hận hay hối tiếc, nếu như sở nguyện của ta thành tựu, được phần lợi ích bản thân, xin nguyện cho thân này hóa thành núi thịt lớn. Hết thảy những chúng sinh nào uống máu, ăn thịt để sống đều sẽ tìm đến đây, tùy ý ăn uống thỏa mãn.’

“Phát nguyện như vậy rồi, liền có những chúng sinh kéo đến để ăn thịt, uống máu. Do nguyện lực của ta nên thân thể khi ấy liền biến hóa cao lớn đến cả ngàn do-tuần, hai bề ngang dọc bằng nhau, đều năm trăm do-tuần, trong suốt một ngàn năm dùng máu thịt để cung cấp, bố thí chúng sinh.

“Vào thuở ấy, số lưỡi mà ta xả bỏ để bố thí đủ cho các loài cọp, sói, kên kên, diều, quạ… đều được ăn no. Do nguyện lực nên bố thí rồi lại sinh ra như cũ, nếu như gom hết số lưỡi ấy lại ắt thành đống lớn như núi Kỳ-xà-quật. Bố thí như vậy rồi lại phát nguyện rằng: ‘Nguyện cho ta trong đời vị lai được thành tựu đầy đủ tướng lưỡi rộng dài.’(1)

(1)Tướng lưỡi rộng dài: Một trong các tướng tốt của Phật. Lưỡi rộng và dài, khi thè ra có thể liếm khuất cả khuôn mặt. Tướng lưỡi rộng dài là biểu hiện sự chân thật trong lời nói của đức Như Lai, không bao giờ có sự sai lệch, dối trá. Xem thêm chú giải ở trang 89.

“Thiện nam tử! Thuở ấy, khi ta mạng chung tại cõi Diêm- phù-đề, do bản nguyện nên sinh vào loài rồng, làm vị Đại Long vương tên là Thị Hiện Bảo Tạng. Ngay trong đêm ta sinh ra, liền thị hiện trăm ngàn ức na-do-tha đủ mọi kho tàng trân bảo, tự truyền rao khắp nơi rằng: ‘Trong vùng này có rất nhiều kho tàng trân bảo. Trong các kho ấy đầy đủ các loại trân bảo và những vật quý lạ, vàng bạc cho đến bảo châu như ý đều có đủ.’

“Chúng sinh nghe lời truyền rao như thế, mỗi người đều tùy ý đến lấy các loại vật báu mang về dùng. Được dùng các vật báu ấy rồi liền thực hành đầy đủ Mười điều lành, phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hoặc phát tâm Thanh văn, tâm Bích-chi Phật.

“Thuở ấy ta bảy lần thọ sinh trở lại làm Long vương, tuổi thọ là bảy vạn bảy ngàn ức na-do-tha trăm ngàn tuổi, thị hiện vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kho tàng trân bảo bố thí cho chúng sinh. Lúc bấy giờ khiến cho vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chúng sinh được trụ yên trong giáo pháp Ba thừa, khuyên dạy chúng sinh thực hành đầy đủ Mười điều lành. Sau khi dùng vô số đủ mọi thứ trân bảo bố thí đầy đủ cho chúng sinh rồi, lại phát nguyện rằng: ‘Nguyện cho ta trong đời vị lai được đầy đủ ba mươi hai tướng tốt.’(1)

(1) Ba mươi hai tướng tốt: Xem chú giải ở trang 88.

“Sau đó ta lại lần lượt thọ sinh bảy lần làm Long vương ở cõi thiên hạ thứ hai, cũng giống như vậy, cho đến khi tất cả mọi nơi trong Bốn cõi thiên hạ ở khắp thế giới Tuyển Trạch ta đều làm xong những việc lợi ích vô lượng như vậy cho chúng sinh, rồi cho đến trong vô lượng vô biên các cõi thế giới không có Phật ở khắp mười phương, mỗi một thế giới, mỗi một cõi thiên hạ ta cũng đều thọ sinh bảy lần làm vị Đại Long vương, tuổi thọ là bảy vạn bảy ngàn ức na-do-tha trăm nghìn tuổi, cũng thị hiện vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kho tàng trân bảo để bố thí cho chúng sinh như vậy.

“Thiện nam tử! Các ông nên biết, như vậy gọi là nhân duyên của đức Như Lai khi còn là Bồ Tát đã hết lòng tinh tấn cầu được ba mươi hai tướng tốt.

“Thiện nam tử! Sự tinh tấn của đức  Như Lai khi còn là Bồ Tát, trong quá khứ chẳng có ai sánh kịp, chỉ trừ tám vị đã nói trước đây.

“Nếu như trong quá khứ đã không có ai sánh kịp, nên biết rằng các vị Bồ Tát trong đời vị lai cũng sẽ không thể chuyên cần thực hành một cách sâu xa đức tinh tấn được như ta đã làm.

“Thiện nam tử! Sau đó lại trải qua vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, thế giới này đổi tên là San-hô-trì, kiếp tên là Hoa Thủ. Thời ấy không có Phật ra đời, cõi thế có đủ năm sự uế trược. Ta sinh trong đời ấy làm vị Thích-đề-hoàn- nhân,(1) tên là Thiện Nhật Quang Minh. Khi ấy ta xem xét cõi Diêm-phù-đề thấy các chúng sinh chuyển dần sang làm toàn việc ác, ta liền hóa thân làm quỷ dạ-xoa, hình dung rất đáng sợ, hiện xuống cõi Diêm-phù-đề, đứng trước mặt mọi người. Mọi người nhìn thấy ta đều sinh lòng khiếp sợ, hỏi rằng: ‘Ngài cần điều gì, xin hãy nói ra mau.”

(1) Thích-đề-hoàn-nhân: danh xưng khác của Đế-thích, vị vua cõi trời Đao-lợi.

“Khi ấy ta đáp: ‘Ta chỉ cần được ăn uống, chẳng cần gì khác.’

“Những người ấy lại hỏi: ‘Ngài ăn những món gì?’

“Ta đáp rằng: ‘Ta đây giết người để ăn thịt, uống máu. Nếu các ngươi có thể trọn đời thọ trì giới không giết hại, cho đến vâng theo chánh kiến, phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hoặc phát tâm Thanh văn, tâm Duyên giác, thì ta mới không ăn thịt các ngươi.’

“Thiện nam tử! Khi ấy ta dùng phép hóa hiện ra một hình người rồi ăn thịt, uống máu người ấy. Chúng sinh nhìn thấy ta ăn thịt, uống máu như vậy càng thêm khiếp sợ, hết thảy đều nguyện suốt đời thọ trì giới không giết hại, cho đến vâng theo chánh kiến, hoặc phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hoặc phát tâm Thanh văn, tâm Bích-chi Phật.

“Ta dùng cách ấy khuyên dạy hết thảy chúng sinh trong cõi Diêm-phù-đề, khiến cho tu tập, thực hành Mười điều lành, trụ yên trong giáo pháp Ba thừa, rồi lại phát nguyện rằng: ‘Nếu như ta chắc chắn sẽ thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, sở nguyện thành tựu, được phần lợi ích bản thân, thì nay ta lại sẽ khuyên dạy chúng sinh trong bốn cõi thiên hạ này, khiến cho thực hành Mười điều lành, cho đến chúng sinh trong khắp cả thế giới này, ở tất cả mọi cõi thiên hạ, đều dùng tướng mạo hung dữ như vậy để khiến cho chúng sinh vâng làm theo Mười điều lành, khuyên dạy phát tâm Bồ-đề cho đến các tâm Thanh văn, Duyên giác.

“Sau khi đã làm được như vậy trong khắp một cõi thế giới rồi, lại tiếp tục như vậy với vô lượng vô biên a-tăng-kỳ cõi thế giới xấu ác trong mười phương, những nơi không có Phật ra đời và thế giới có đủ năm sự uế trược.’

“Thiện nam tử! Thuở ấy những lời phát nguyện như vậy của ta hết thảy đều thành tựu, ở thế giới San-hô-trì hóa làm hình tượng quỷ dạ-xoa đáng sợ để điều phục hết thảy chúng sinh, khiến cho trụ yên trong Mười điều lành cùng với giáo pháp Ba thừa.

“Tiếp tục như vậy cho đến khắp cả vô lượng vô biên a-tăng-kỳ cõi thế giới xấu ác có đủ năm sự uế trược trong mười phương, những nơi không có Phật ra đời, ta đều hóa làm hình tượng quỷ dạ-xoa để điều phục chúng sinh, khiến phải làm theo Mười điều lành, trụ yên trong giáo pháp Ba thừa.

“Thuở xưa ta dùng cách đe dọa chúng sinh để khiến cho họ phải làm theo Mười điều thiện, trụ yên trong giáo pháp Ba thừa. Do nhân duyên nghiệp báo như thế nên ngày nay khi ngồi dưới cội cây Bồ-đề vừa sắp thành tựu quả A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề thì có  Thiên  ma  Ba-tuần  cùng với chúng ma tìm đến chỗ ta, muốn phá hoại, làm rối loạn tâm đạo Bồ-đề của ta.

“Thiện nam tử! Đó là nói sơ qua việc ta thực hành pháp

Bố thí ba-la-mật khi còn là Bồ Tát.

“Thiện nam tử! Pháp nhẫn rất thâm sâu của các vị Đại Bồ Tát, cùng với phép tổng trì,(1) tam-muội giải thoát, vào lúc ấy ta đều chưa đạt được, chỉ có thân hữu lậu(1) và thân được năm phép thần thông. Nhưng khi ấy ta đã làm nên được những việc lớn lao như vậy, khiến cho vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chúng sinh được trụ yên nơi A-nậu-đa-la Tam- miệu Tam-bồ-đề; vô lượng vô  biên  a-tăng-kỳ  chúng  sinh trụ yên nơi Bích-chi Phật thừa; vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chúng sinh trụ yên nơi Thanh văn thừa, huống hồ là sau khi ta đã được cúng dường chư Phật nhiều như số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật, ở bên cạnh mỗi một vị Phật đều tạo được công đức nhiều như số giọt nước trong biển cả; lại cúng dường vô số các vị Thanh văn, Duyên giác, các bậc sư trưởng, cha mẹ, thần tiên ngũ thông… thảy đều như vậy.

(1) Tổng trì: có nghĩa là gồm thâu, nắm giữ tất cả, được dịch từ tiếng Phạn là dhāraṇi (đà-la-ni).

“Như ta xưa kia khi còn làm Bồ Tát tự dùng máu thịt của mình để cung cấp, bố thí cho chúng sinh, tấm lòng đại bi như vậy các vị A-la-hán ngày nay đều không có được!”

The post KINH BI HOA – PHẨM THỨ NĂM – PHẦN III – PHÁP BỐ THÍ appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
KINH BI HOA – PHẨM THỨ NĂM – PHẦN II – PHÁP BỐ THÍ https://bachhac.net/kinh-bi-hoa-pham-thu-nam-phan-ii-phap-bo-thi.html Wed, 15 Sep 2021 06:59:18 +0000 https://bachhac.net/?p=3987 Thiện nam tử! Thế nào là những pháp môn thanh tịnh hỗ trợ Bồ-đề của hàng Bồ Tát? “Thiện nam tử! Bố thí là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì giáo hóa được chúng sinh. “Trì giới là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì được đầy đủ các nguyện lành. “Nhẫn nhục là pháp môn …

The post KINH BI HOA – PHẨM THỨ NĂM – PHẦN II – PHÁP BỐ THÍ appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
KINH BI HOA - PHẨM THỨ NĂM - PHẦN II - PHÁP BỐ THÍ

Thiện nam tử! Thế nào là những pháp môn thanh tịnh hỗ trợ Bồ-đề của hàng Bồ Tát?

“Thiện nam tử! Bố thí là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì giáo hóa được chúng sinh.

Trì giới là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì được đầy đủ các nguyện lành.

Nhẫn nhục là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì được đầy đủ ba mươi hai tướng tốt,(1) tám mươi vẻ đẹp.

Tinh tấn là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì đối với chúng sinh luôn nỗ lực chuyên cần giáo hóa.

Thiền định là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì khiến cho tâm đầy đủ và được điều phục.

Trí huệ là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì có đủ khả năng rõ biết được các phiền não.

Nghe nhiều học rộng là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì đối với các pháp đầy đủ sự không ngăn ngại.

(1) Ba mươi hai tướng tốt: Xem chú giải ở trang 88.

Hết thảy công đức là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì tất cả chúng sinh đều được đầy đủ.

Trí nghiệp(1) là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì đầy đủ trí huệ không ngăn ngại.

Tu định(2) là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì được thành tựu tâm nhu hòa, hiền hậu.

Huệ nghiệp(3) là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì lìa xa hết thảy mọi sự nghi hoặc.

Lòng từ là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì đối với chúng sinh được tâm không ngăn ngại.

Lòng bi là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì cứu vớt được mọi sự khổ đau của chúng sinh.

Lòng hỷ là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì ưa thích chánh pháp.

Lòng xả là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì dứt trừ mọi sự phân biệt yêu ghét.

Lắng nghe thuyết pháp là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì phá trừ được năm sự ngăn che.(4)

Xuất thế là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì xả bỏ mọi thứ mình có.

(1) Trí nghiệp: những hành vi tốt đẹp, những thiện nghiệp giúp có được quả báo tốt đẹp về mặt thế trí, hay nói cách khác là khi sinh ra được trí sáng suốt minh mẫn, thông minh hơn người.

(2) Tu định: hay tu tập thiền định, chỉ việc tỉnh giác duy trì chánh niệm.

(3) Huệ nghiệp: những hành vi tốt đẹp, những thiện nghiệp giúp có được quả báo tốt đẹp về trí huệ, hay nói cách khác là căn cơ lanh lợi, nhạy bén, có thể nắm hiểu nhanh chóng khi nghe thuyết giảng chánh pháp. Có sự khác biệt giữa thế trí và trí huệ giúp đạt đến sự giải thoát.

(4) Năm sự ngăn che: tức Ngũ cái, xem chú giải ở trang 327.

A-lan-nhã,(1) là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì lìa hết những việc hối hả, gấp gáp.

Chuyên tâm nhớ nghĩ là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì được các pháp đà-la-ni.

Nhớ tưởng chân chánh là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì phân biệt được ý thức.

Tư duy là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì đối với các pháp được thành tựu mọi ý nghĩa.

Niệm xứ(2) là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì đối với thân, thọ, tâm, pháp đều nhận biết phân biệt rõ ràng.

Chánh cần(3) là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì dứt trừ các pháp bất thiện, tu tập các pháp lành.

Như ý túc(4) là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì được thân tâm nhẹ nhàng, nhanh lẹ.

Các căn(5) là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì thành tựu đầy đủ các căn lành cho hết thảy chúng sinh.

Các sức(6) là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì đầy đủ khả năng phá trừ các phiền não.

Các giác ý(7) là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì đối với các pháp được đầy đủ sự rõ biết tướng chân thật.

(1) A-lan-nhã: phiên âm từ tiếng Sanskrit là Araṇya, chỉ những cảnh vắng vẻ, tịch tịnh, Hán văn dịch là Không nhàn xứ, là nơi vắng không, nhàn tĩnh, xa làng xóm, không có sự tranh cãi. Ở đây chỉ những nơi thuận tiện cho việc tu tập thiền định.

(2) Niệm xứ: tức Bốn niệm xứ. Xem chú giải ở trang 99.

(3) Chánh cần: tức Bốn chánh cần. Xem chú giải ở trang 101.

(4) Như ý túc: tức Bốn như ý túc. Xem chú giải ở trang 102.

(5) Các căn: tức Năm căn hay Năm căn lành. Xem chú giải ở trang 83.

(6) Các sức: tức Năm sức (Ngũ lực). Xem chú giải ở trang 83.

(7) Các giác ý: tức Thất giác ý. Xem chú giải ở trang 84.

Chánh đạo(1) là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì lìa xa hết thảy các đường tà.

Thánh đế(2) là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì dứt trừ hết thảy mọi phiền não.

Bốn biện tài(3) là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì trừ dứt được mọi sự nghi hoặc của chúng sinh.

Duyên niệm(4) là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì không cần nghe nơi người khác mới được trí huệ.

(1) Chánh đạo: tức Tám chánh đạo (Bát chánh đạo), là con đường mà người học Phật phải noi theo để đạt đến giải thoát, gồm 8 sự chân chánh như sau:

  1. Chánh kiến (正見, Pāli: sammā-diṭṭhi, Sanskrit: samyag-dṛṣṭi): có một quan niệm đúng đắn về Tứ diệu đế và giáo lý Vô ngã.
  2. Chánh tư duy (正思唯, Pāli: sammā-saṅkappa, Sanskrit: samyak-saṃkalpa): suy nghĩ đúng đắn, suy xét về ý nghĩa của bốn chân lý một cách không sai lầm.
  3. Chánh ngữ (正語, Pāli: sammā-vācā, Sanskrit: samyag-vāc): nói lời chân chánh, không nói dối, không nói phù phiếm.
  4. Chánh nghiệp (正業, Pāli: sammā-kammanta, Sanskrit: samyak-karmānta): theo các nghiệp lành, chân chánh, tránh phạm vào giới luật.
  5. Chánh mạng (正命, Pāli: sammā-ājīva, Sanskrit: samyag-ājīva): tránh các nghề nghiệp phải giết hại như đồ tể, thợ săn, buôn vũ khí, buôn thuốc phiện…
  6. Chánh tinh tấn (正精進, Pāli: sammā-vāyāma, Sanskrit: samyag-vyāyāma): tinh cần phát triển điều thiện, diệt trừ điều ác. Pháp này bao gồm cả Tứ chánh cần.
  7. Chánh niệm (正念, Sanskrit: samyag-smṛti, Pāli: sammā-sati): tỉnh giác trên cả ba hình thức thân, miệng và ý.
  8. Chánh định (正定, Pāli: sammā-samādhi, Sanskrit: samyak-samādhi) : tập trung tâm ý đạt bốn định xuất thế

(2) Thánh đế: tức Bốn thánh đế (Tứ thánh đế) hay Tứ diệu đế. Xem chú giải ở trang 80.

(3) Bốn biện tài (Tứ biện) hay Tứ vô ngại biện. Xem chú giải ở trang 102.

(4) Duyên niệm: tức Duyên niệm xứ, một trong Tam chủng niệm xứ. Tam chủng niệm xứ gồm có: Tánh niệm xứ (do rõ được lý không và vô sinh nên trừ dứt mọi phiền não, tức là được trí huệ giải thoát); Cộng niệm xứ (do nơi Tánh niệm xứ mà đạt được đầy đủ Ba minh và Sáu thần thông, tức là được giải thoát đầy đủ); và Duyên niệm xứ (do nơi Ba tạng kinh điển, Thập nhị phần giáo, nghĩa là tất cả giáo pháp của Phật truyền dạy, mà đạt được sự giác ngộ, tức là thành bậc Đại A-la-hán).

Bạn tốt là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì việc gìn giữ hết thảy công đức đều được thành tựu.

Phát tâm là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì thành tựu được sự chân thật không lừa dối chúng sinh.

Dụng ý là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì vượt ra khỏi hết thảy các pháp.

Chuyên tâm là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì giúp tăng trưởng lợi ích cho các pháp lành.

Tư duy thiện pháp là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì tùy theo chỗ được nghe chánh pháp mà được thành tựu.

Nhiếp thủ là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì thành tựu việc giáo hóa chúng sinh.

Hộ trì chánh pháp là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì khiến cho hạt giống Tam bảo truyền mãi không dứt.

Nguyện lành là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì thành tựu được cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh.

Phương tiện là pháp môn hỗ trợ Bồ-đề, vì được mau chóng thành tựu trí hiểu biết tất cả.

“Thiện nam tử! Như vậy gọi là các pháp môn thanh tịnh hỗ trợ Bồ-đề của hàng Bồ Tát.’

“Thiện nam tử! Bấy giờ đức Như Lai Bảo Tạng quay nhìn khắp đại chúng Bồ Tát, rồi bảo Bồ Tát Đại Bi: ‘Này Đại Bi! Thế nào là Bồ Tát dùng sự không sợ sệt để trang nghiêm tốt đẹp, đầy đủ đức nhẫn?

“Thiện nam tử! Nếu Bồ Tát thấy được ý nghĩa rốt ráo thì đạt được sự tinh tấn, không ngu si, không đắm chấp trong Ba cõi. Nếu không đắm chấp trong Ba cõi thì gọi đó là tam- muội, là pháp không sợ sệt của bậc sa-môn. Như đưa tay vào khoảng không chẳng có gì để nắm bắt, lại quán xét các pháp thấy không thật có tướng mạo.

Đại Bi! Như vậy gọi là Đại Bồ Tát dùng sự không sợ sệt để trang nghiêm tốt đẹp.

“Thiện nam tử! Thế nào là Bồ Tát đầy đủ đức nhẫn? Vị Bồ Tát như vậy trong lúc trụ nơi các pháp không thấy có vô số tướng mạo của các pháp nhiều như những hạt bụi nhỏ; thực hành quán xét theo cả hai chiều thuận nghịch, đối với các pháp, hiểu rõ được ý nghĩa không có quả báo; trong khi tu tập lòng từ hiểu rõ là không có ngã, trong khi tu tập lòng bi hiểu rõ là không có chúng sinh, trong khi tu tập lòng hỷ hiểu rõ là không có mạng sống, trong khi tu tập lòng xả hiểu rõ là không có người khác.(1)

“Tuy thực hành bố thí nhưng không thấy có vật mang ra bố thí. Tuy thực hành trì giới nhưng không thấy có tâm thanh tịnh. Tuy thực hành nhẫn nhục nhưng không thấy có chúng sinh. Tuy thực hành tinh tấn nhưng không thấy có tâm xa lìa tham dục. Tuy thực hành thiền định nhưng không thấy có tâm ác phải trừ bỏ. Tuy thực hành trí huệ nhưng không thấy tâm có chỗ thực hành.

“Tuy thực hành Bốn niệm xứ nhưng không thấy có sự tư duy. Tuy thực hành Bốn chánh cần nhưng không thấy có sự sinh diệt của tâm. Tuy thực hành Bốn như ý túc nhưng không thấy có các tâm vô lượng.(2)

“Tuy thực hành tín nhưng không thấy có tâm không chướng ngại. Tuy thực hành niệm nhưng không thấy có tâm được tùy ý tự tại. Tuy thực hành định nhưng không thấy có tâm nhập định. Tuy thực hành huệ nhưng không thấy có căn cơ trí huệ.

(1) Đây chính là dùng Bốn tâm vô lượng (từ, bi, hỷ, xả) để phá trừ Bốn tướng: ngã, nhân, chúng sinh thọ giả. Xem thêm chú giải ở trang 592.

(2) Các tâm vô lượng: tức Bốn tâm vô lượng là: từ, bi, hỷ xả.

“Tuy thực hành Năm sức nhưng không thấy có chỗ phá trừ. Tuy thực hành Bảy giác ý nhưng tâm không có sự phân biệt.

“Tuy thực hành Tám chánh đạo nhưng không thấy có các pháp. Tuy thực hành định nghiệp nhưng không thấy có sự tịch tĩnh của tâm. Tuy thực hành huệ nghiệp nhưng không thấy có chỗ làm của tâm. Tuy thực hành Bốn thánh đế nhưng không thấy có sự thông đạt tướng của pháp.

“Tuy tu tập niệm Phật nhưng không thấy có vô lượng các tâm hành.(1) Tuy tu tập niệm Pháp nhưng tâm bình đẳng đối với pháp giới. Tuy tu niệm Tăng nhưng tâm không có chỗ trụ, nhờ giáo hóa chúng sinh mà tâm được thanh tịnh.

“Tuy nắm giữ chánh pháp nhưng đối với các pháp giới tâm không có sự phân biệt. Tuy tu tập tịnh độ nhưng tâm bình đẳng như hư không. Tuy tu tập các tướng tốt đẹp nhưng trong tâm không có các tướng.

“Tuy đạt được sự nhẫn nhục nhưng tâm không có chỗ nắm giữ. Tuy trụ ở địa vị không còn thối chuyển nhưng thường tự mình chẳng thấy có sự thối chuyển hay không thối chuyển. Tuy thực hành dựng lập đạo tràng nhưng rõ biết trong Ba cõi không có tướng nào khác. Tuy phá hoại các ma nhưng chính là làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh.

(1)Tâm hành: Các trạng thái thay đổi khác nhau của tâm gọi là tâm hành. Do tâm không ngừng biến chuyển trong từng sát-na, duyên theo trần cảnh, nên có vô lượng tâm hành.

“Tuy thực hành đạo Bồ-đề nhưng quán các pháp đều là không, không có tâm Bồ-đề. Tuy chuyển bánh xe pháp nhưng đối với hết thảy các pháp không có sự xoay chuyển hay trở về. Tuy cũng thị hiện nhập cảnh giới Niết-bàn rốt ráo nhưng trong tâm đối với chốn sinh tử luôn bình đẳng không thấy có khác biệt.

“Như vậy gọi là Bồ Tát được đầy đủ đức nhẫn.”

Khi đức Phật Thích-ca  Mâu-ni  thuyết  pháp  như  vậy, có sáu mươi bốn ức Đại Bồ Tát từ khắp mười phương hiện đến núi Kỳ-xà-quật, nơi Phật đang thuyết pháp, lắng nghe nhân duyên căn bản của các phép tam-muội và những pháp môn thanh tịnh hỗ trợ Bồ-đề. Nghe pháp như vậy rồi liền được Vô sinh nhẫn.(1)

Khi ấy, đức Phật Thích-ca Mâu-ni bảo đại chúng: “Các ông nên biết, đức Như Lai Bảo Tạng vào thuở xa xưa ấy khi thuyết giảng pháp này có vô số Đại Bồ Tát nhiều như số cát của bốn mươi tám con sông Hằng đạt được Vô sinh nhẫn; có vô số Đại Bồ Tát nhiều như số hạt bụi nhỏ trong Bốn cõi thiên hạ được trụ yên nơi địa vị không còn thối chuyển; có vô số Đại Bồ Tát nhiều như số cát của một con sông Hằng đạt được nhân duyên căn bản của các phép tam-muội và các pháp môn thanh tịnh hỗ trợ Bồ-đề.

“Thiện nam tử! Vào lúc ấy, Bồ Tát Đại Bi nghe được pháp này rồi, tâm sinh hoan hỷ, liền được thay đổi hình thể như chàng thanh niên hai mươi tuổi. Từ đó luôn theo hầu kề cận bên đức Như Lai như bóng với hình.

“Thiện nam tử! Bấy giờ, Chuyển luân Thánh vương cùng với một ngàn người con, tám mươi bốn ngàn vị tiểu vương, chín mươi hai ức nhân dân thảy đều xuất gia, phụng trì cấm giới, nghe nhiều học rộng, tu tập phép tam-muội Nhẫn nhục, luôn chuyên cần tinh tấn.

(1) Vô sinh nhẫn: tức Vô sinh pháp nhẫn. Xem chú giải ở trang 93.

“Thiện nam tử! Khi ấy Đại Bồ Tát Đại Bi dần dần theo Phật học hỏi, lãnh thọ đủ tám mươi bốn ngàn pháp môn của hàng Thanh văn, chín mươi ngàn pháp môn của hàng Duyên giác, hết thảy đều thọ trì, tụng đọc thông suốt, ứng đối nhanh nhạy.

“Đối với giáo pháp Đại thừa, trong thân niệm xứ gồm hết có mười vạn pháp môn, trong thọ niệm xứ gồm hết có mười vạn pháp môn, trong tâm niệm xứ gồm hết có mười vạn pháp môn, trong pháp niệm xứ gồm hết có mười vạn pháp môn, hết thảy đều thọ trì, tụng đọc thông suốt, ứng đối nhanh nhạy.

“Trong Mười tám giới(1) gồm hết có mười vạn pháp môn, trong Mười hai nhập(2) gồm hết có mười vạn pháp môn, trong việc dứt trừ tham dục gồm hết có mười vạn pháp môn, trong việc dứt trừ sân hận gồm hết có mười vạn pháp môn, trong việc dứt trừ ngu si gồm hết có mười vạn pháp môn, phép tam-muội giải thoát gồm hết có mười vạn pháp môn, Năm sức, Bốn pháp không sợ sệt, Mười tám pháp chẳng  chung cùng(3) gồm hết có mười vạn pháp môn. Tất cả các pháp như vậy, gồm hết có mười ức pháp môn, hết thảy đều thọ trì, tụng đọc thông suốt, ứng đối nhanh nhạy.

“Thiện nam tử! Về sau, đức Phật Bảo Tạng nhập Niết- bàn. Khi ấy, Đại Bồ Tát Đại Bi dùng vô số đủ mọi loại hoa, hương bột, hương phết, cờ lọng quý báu, trân bảo, âm nhạc dâng lên cúng dường. Lại dùng đủ mọi thứ gỗ thơm chất lại thành đống, hỏa táng thân Như Lai rồi thu nhặt xá-lợi, dựng tháp bằng bảy báu cao năm do-tuần, hai chiều ngang dọc đều rộng đủ một do-tuần, trong vòng bảy ngày dùng vô số đủ mọi thứ hương hoa, âm nhạc, cờ lọng quý báu dâng lên cúng dường.

(1) Mười tám giới (Thập bát giới): Xem chú giải ở trang 222.

(2) Mười hai nhập (Thập nhị nhập): Xem chú giải ở trang 222.

(3) Mười tám pháp chẳng chung cùng: tức Thập bát bất cộng pháp, xem chú giải ở trang 796.

“Vào lúc ấy, Bồ Tát Đại Bi lại khiến cho vô lượng vô biên chúng sinh được trụ yên trong giáo pháp Ba thừa.

“Thiện nam tử! Bồ Tát Đại Bi trải qua bảy ngày như vậy rồi, cùng với tám mươi bốn ngàn người cùng lúc xuất gia, cạo bỏ râu tóc, mặc áo cà-sa thô xấu,(1) trong thời gian sau khi đức Phật Bảo Tạng đã nhập Niết-bàn, tùy thuận tâm chúng sinh mà thổi bùng lên ngọn lửa chánh pháp trong suốt mười ngàn năm, lại khiến cho vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chúng sinh đều được trụ yên trong giáo pháp Ba thừa cùng với Ba quy y, Năm giới, Tám trai giới, Mười giới sa-di, cho đến tuần tự được Cụ túc giới(2) của bậc đại tăng đủ hạnh thanh tịnh. Lại khuyên dạy vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng sinh, giúp cho được trụ yên trong các phép thần thông phương tiện, Bốn hạnh vô lượng,(3) dạy họ quán xét Năm ấm như bọn giặc thù, quán xét các nhập như xóm làng vắng vẻ không người ở, quán xét các pháp hữu vi đều do nhân duyên sinh.

(1) Áo cà-sa thô xấu: Nguyên văn chữ Hán là “nhiễm cà-sa”, nghĩa là áo cà-sa nhuộm màu. Tuy nhiên, ý nghĩa của việc nhuộm vải ở đây không phải để cho có màu đẹp, mà cần hiểu là nhuộm cho xấu đi, cho mất đi màu vải đẹp vốn có trước đó. Vì mục đích của việc nhuộm áo là như vậy, nên chúng tôi tạm dịch là áo thô xấu.

(2) Cụ túc giới: cũng gọi là Đại giới, tức là giới luật đầy đủ của vị tỳ-kheo, gồm 250 giới.

(3) Bốn hạnh vô lượng: tức là tu tập Bốn tâm vô lượng, gồm từ, bi, hỷ xả.

Bồ Tát Đại Bi khuyên dạy chúng sinh, khiến cho được chỗ thấy biết chân thật, quán xét hết thảy các pháp đều như hình trong gương, như hơi nắng nóng,(1) như mặt trăng dưới nước;(2) đối với các pháp đều rõ biết không có ngã, không có sinh, không có diệt, cảnh giới tịch tĩnh vi diệu bậc nhất là Niết-bàn.

Bồ Tát Đại Bi lại khiến cho vô lượng vô biên chúng sinh được trụ yên trong Tám thánh đạo. Làm được những việc lợi ích lớn lao như vậy rồi sau đó mạng chung. Ngay khi ấy lại có vô lượng vô biên trăm ngàn người dùng đủ mọi thứ dâng lên cúng dường xá-lợi của tỳ-kheo Đại Bi. Sự cúng dường ấy được thực hiện đúng theo nghi thức dành cho vị Chuyển luân Thánh vương. Cho đến mọi sự cúng dường của tất cả đại chúng đối với xá-lợi của ngài Đại Bi cũng được thực hiện giống như vậy.

“Vào ngày tỳ-kheo Đại Bi mạng chung, chánh pháp của đức Như Lai Bảo Tạng cũng cùng lúc diệt mất. Các vị  Bồ Tát ở cõi ấy tùy theo bản nguyện mà sinh về cõi Phật, hoặc sinh cõi trời Đâu-suất, hoặc sinh làm người, làm các loài rồng, dạ-xoa, a-tu-la, hoặc sinh làm đủ mọi loài súc sinh.

“Thiện nam tử! Sau khi tỳ-kheo Đại Bi mạng chung, do bản nguyện nên sinh về thế giới Hoan Lạc ở phương nam, cách đây mười ngàn cõi Phật. Ở thế giới ấy, nhân dân có tuổi thọ là tám mươi tuổi, gồm đủ hết thảy mọi điều ác căn bản, ưa thích làm việc giết hại, trụ yên trong các điều ác, đối với chúng sinh không có lòng từ bi, bất hiếu với cha mẹ, cho đến chẳng hề sợ sệt quả báo đời sau.

(1) Như hơi nắng nóng: Xem chú giải ở trang 906.

(2) Mặt trăng dưới nước: tức là hình chiếu của mặt trăng trên trời mà chúng ta thấy được khi nhìn xuống mặt nước tĩnh lặng.

Tỳ-kheo Đại Bi do bản nguyện nên sinh vào một gia đình chiên-đà-la(1) ở thế giới ấy, thân thể cao lớn đẹp đẽ, sức lực mạnh mẽ, oai dũng hơn người, biện tài nhanh nhạy, ứng đối lưu loát. Hết thảy mọi việc đều hơn người.

(1) Chiên-đà-la: hạng người hạ tiện, thường chuyên sống bằng nghề giết mổ súc vật (đồ tể), lấy nghiệp giết hại để sinh sống. Trong xã hội Ấn Độ xưa, hạng người này bị khinh miệt, phải sống riêng biệt trong một khu vực cách ly với những người thuộc giai cấp khác. Mỗi khi có việc đến chỗ đông người, họ phải đánh mõ gỗ báo hiệu cho những người khác biết mà tránh đi để không gặp họ, vì sợ làm ô uế người khác.

“Ngài dùng sức dũng mãnh để khống chế hết thảy mọi người rồi nói rằng: ‘Nếu như các người chịu thọ trì giới không trộm cắp, dứt bỏ lìa xa hết thảy mọi tà kiến, sống theo chánh kiến, thì ta sẽ tha mạng cho các người, lại cung cấp cho tài sản và đủ các thứ cần dùng, không để cho đói thiếu. Còn nếu các người không chịu thọ giới thì nay ta sẽ giết chết tất cả các người.’

“Khi ấy, mọi người đều quỳ xuống chắp tay thưa rằng: ‘Nhân giả! Nay đã vì chúng tôi mà điều phục, dạy bảo. Chúng tôi xin thọ trì đúng như lời dạy, nguyện suốt đời này không bao giờ trộm cắp nữa. Cho đến việc lìa bỏ tà kiến sống theo chánh kiến cũng vậy.’

“Bấy giờ, vị chiên-đà-la dũng mãnh hơn người ấy lại lần lượt đi đến chỗ vua và các đại thần, nói rằng: ‘Nay tôi thiếu thốn mọi thứ tài sản, như là món ăn thức uống, thuốc men, y phục, giường ghế, hương hoa, vàng bạc, tiền của, chân châu, lưu ly, các loại ngọc quý, san hô, hổ phách, các loại trân bảo. Nếu tôi có đủ những thứ như vậy, tôi sẽ mang ra bố thí cho chúng sinh.’

“Khi ấy, vua và các vị đại thần liền lấy hết thảy các thứ tài sản và vật cần dùng như vậy, ban cho đầy đủ.

“Vị chiên-đà-la nhân nơi việc bố thí ấy liền giáo hóa, khiến cho vua và các vị đại thần đều được trụ yên nơi Mười điều lành.

“Bấy giờ, tuổi thọ của nhân dân tăng dần lên cho đến đủ năm trăm tuổi. Đức vua ấy băng hà, các đại thần đồng lòng tôn vị chiên-đà-la ấy lên nối ngôi vua, nhân đó đổi tên gọi là Công Đức Lực.

“Thiện nam tử! Đức vua Công Đức Lực cai trị nước ấy không bao lâu liền dùng sức dũng mãnh mà thu phục cai trị hai nước, rồi mở rộng dần cho đến không bao lâu đã trở thành vị Chuyển luân Thánh vương, cai trị khắp cõi Diêm- phù-đề.

“Sau đó, ngài lại dạy dỗ hết thảy chúng sinh, khiến cho trụ yên trong giới không giết hại, cho đến trụ yên trong chánh kiến. Ngài tùy theo chỗ ưa thích trong tâm chúng sinh mà khuyên dạy, khiến cho đều được trụ yên trong giáo pháp Ba thừa.

“Khi ấy, đức vua Công Đức Lực đã giáo hóa vô lượng chúng sinh trong cõi Diêm-phù-đề được trụ yên trong Mười điều lành cùng với giáo pháp Ba thừa rồi, liền truyền rao trong khắp cõi Diêm-phù-đề rằng: ‘Nếu ai muốn cầu xin những thứ cần dùng, món ăn thức uống, cho đến muốn có được đủ các thứ trân bảo, cứ tìm đến đây ta sẽ cung cấp, bố thí cho.’

“Bấy giờ, hết thảy những người ăn xin trong khắp cõi Diêm-phù-đề nghe như vậy liền cùng nhau tụ tập đến. Đức vua Công Đức Lực liền tùy theo ý muốn của mỗi người mà cung cấp, bố thí các thứ cần dùng, khiến cho tất cả đều được thỏa mãn.

“Bấy giờ có một ni-kiền-tử(1) tên là Hôi Âm tìm đến chỗ vua nói rằng: ‘Nay nhà vua đã làm nhiều việc bố thí lớn lao để cầu đạo Vô thượng chân chánh. Những thứ tôi đang cần đến, nay đại vương nên bố thí cho tôi đầy đủ thì đời sau đại vương sẽ thắp sáng ngọn đèn chánh pháp.’

“Đức vua liền hỏi: ‘Ông cần những gì?’

“Người kia đáp: ‘Tôi trì tụng chú thuật, muốn đánh nhau với a-tu-la để giành phần thắng. Vì thế nên hôm nay mới đến cầu xin đại vương. Những thứ tôi cần là da và mắt của người còn sống.’

“Khi ấy, đức vua nghe lời ấy rồi liền suy nghĩ: ‘Nay ta đã có được thế lực vô lượng, đã được làm Chuyển luân Thánh vương, cũng đã khiến cho vô lượng chúng sinh được trụ yên trong Mười điều lành cùng với giáo pháp Ba thừa, lại cũng đã làm vô số việc bố thí lớn lao. Nay vị thiện tri thức này hẳn là muốn giúp ta dùng thân không bền chắc để đổi lấy thân bền chắc.’(2)

“Bấy giờ, đức vua liền nói: ‘Nay ông hãy sinh tâm vui mừng, ta sẽ lấy con mắt thịt phàm phu này để bố thí cho ông. Do nhân duyên này sẽ khiến cho ta trong đời vị lai được mắt huệ thanh tịnh. Ta lại vui vẻ lột da mà bố thí cho ông, do nhân duyên này sẽ khiến cho ta sau khi thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề rồi được thân thể có màu vàng ròng.’(3) 

(1) Ni-kiền-tử: người tu theo phái ngoại đạo khỏa thân. Từ này cũng được dùng để chỉ chung tất cả những người xuất gia tu hành theo ngoại đạo.

(2) Dùng thân không bền chắc để đổi lấy thân bền chắc: Đây ý nói việc xả thân bố thí là nhân duyên tiến tu để sớm đạt được sự giải thoát rốt ráo, nhờ đó sẽ có được thân Phật, thường tồn không hư hoại.

(3) Thân thể có màu vàng ròng (kim sắc thân): một trong các tướng tốt của Phật, thân hình có màu vàng đẹp tỏa sáng như màu sắc của vàng ròng.

“Thiện nam tử! Khi ấy, đức vua Công Đức Lực dùng tay phải móc cả hai mắt ra, bố thí cho ni-kiền-tử, máu chảy tràn khắp trên khuôn mặt. Vua nói: ‘Chư thiên, loài rồng, quỷ thần, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la,  khẩn-na-la,  ma-hầu- la-già, loài người, loài phi nhân, hoặc đang ở trên không trung, hoặc đang ở trên mặt đất, xin tất cả hãy nghe lời ta nói. Việc bố thí của ta hôm nay đều là vì cầu đạo Bồ-đề Vô thượng, Niết-bàn thanh tịnh, vì cứu độ chúng sinh chìm ngập trong Bốn dòng nước xoáy,(1) sẽ khiến cho được trụ yên nơi cảnh giới Niết-bàn.’

“Rồi vua nói tiếp: ‘Nếu như ta chắc chắn sẽ thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu  Tam-bồ-đề,  thì  nay  tuy  làm việc bố thí như thế này cũng không dứt mạng, không đánh mất chánh niệm, không sinh lòng hối tiếc, và khiến cho chú thuật của ni-kiền-tử đây liền được thành tựu.’

“Phát nguyện như vậy rồi, vua liền nói với ni-kiền-tử: ‘Bây giờ ông có thể đến đây lột da của ta mà lấy.’

“Thiện nam tử! Khi ấy, ni-kiền-tử liền cầm dao sắc đến lột lấy da của đức vua. Sau đó bảy ngày, việc luyện chú thuật của ni-kiền-tử ấy liền được thành tựu.

“Trong bảy ngày ấy, đức vua vẫn không chết, vẫn không để mất chánh niệm, tuy phải chịu khổ não đau đớn như vậy nhưng trong lòng tuyệt nhiên không một chút hối tiếc.

“Thiện nam tử! Các ông nên biết rằng, Bồ Tát Đại Bi kia nào phải ai xa lạ, chính là tiền thân của ta trong quá khứ, ở nơi đức Phật Bảo Tạng lần đầu tiên phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Phát tâm như vậy rồi, khuyên dạy vô lượng vô biên chúng sinh hướng đến quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Thiện nam tử! Đó chính là sự dũng mãnh tinh tấn trước nhất của ta.

(1) Bốn dòng nước xoáy: Xem chú giải ở trang 675.

“Bấy giờ, ta do nơi nguyện lực mà sau khi mạng chung liền sinh vào gia đình chiên-đà-la ở thế giới Hoan Lạc. Đó là sự dũng mãnh tinh tấn lần thứ hai của ta.

“Khi ta sinh ra trong gia đình chiên-đà-la, giáo hóa chúng sinh theo các pháp lành, dùng sức mạnh của mình mà dần dần đạt đến địa vị Chuyển luân Thánh vương, trừ hết mọi sự uế trược, đấu tranh giành giật trong cõi Diêm-phù-đề, khiến cho cõi này được sự tịch tĩnh, tăng thêm tuổi thọ. Đó là lần đầu tiên ta xả bỏ thân mạng, lột da, móc mắt bố thí cho chúng sinh.

“Thiện nam tử! Do nguyện lực nên khi ta mạng chung ở nơi ấy liền sinh vào một gia đình chiên-đà-la ở thế giới Hoan Hỷ, lại cũng dần dần đạt được địa vị Chuyển luân Thánh vương. Ta dùng thế lực lớn mạnh để khiến cho hết thảy chúng sinh đều trụ yên trong các pháp lành. Ở thế giới ấy, ta lại cũng trừ dứt mọi giặc thù, mọi sự đấu tranh giành giật, cho đến trừ dứt mọi sự uế trược, khiến cho chúng sinh được tăng thêm tuổi thọ. Đó là lần đầu tiên ta xả bỏ lưỡi và tai, ở nơi hết thảy những cõi thiên hạ trong Tam thiên Đại thiên thế giới ấy mà làm các việc lợi ích lớn lao.

“Do nơi nguyện lực nên ta lần lượt có những sự tu tập tinh tấn, vững chắc như vậy, lại ở nơi các cõi thế giới xấu ác có năm sự uế trược nhiều như số cát của một con sông Hằng mà làm những việc lợi ích lớn lao, giúp chúng sinh trụ yên trong các pháp lành cùng với giáo pháp Ba thừa, trừ dứt mọi giặc thù, mọi sự đấu tranh giành giật, cho đến trừ dứt mọi sự uế trược.

“Thiện nam tử! Ở tất cả những thế giới thanh tịnh phương khác, các đức Phật khi hành đạo A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề không nói lỗi của người khác, không nói những lời thô thiển, độc ác với người khác, không dùng sức mạnh làm những việc đe dọa, khiến người sợ sệt, không khuyên bảo chúng sinh theo Thanh văn thừa Duyên giác thừa. Vì thế nên các vị Phật ấy khi thành tựu trọn vẹn quả A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề rồi liền được cõi thế giới thanh tịnh mầu nhiệm, tốt đẹp; không có tên gọi các điều tội lỗi, không có việc thọ trì giới luật; tai không nghe thấy những lời thô thiển độc ác, không có những âm thanh bất thiện; thường được nghe những âm thanh pháp, âm thanh lìa xa hết thảy mọi sự không hài lòng; đối với chúng sinh đều được tùy ý tự tại; không có những tên gọi Thanh văn Bích-chi Phật.

“Thiện nam tử! Ta trải qua số đại kiếp nhiều như số cát sông Hằng, ở nơi những cõi thế giới xấu ác nhiều như số cát sông Hằng, nơi không có Phật ra đời với đủ năm sự uế trược, dùng những lời thô ác, lấy sự đe dọa tính mạng để làm cho chúng sinh khiếp sợ, rồi sau mới nhân đó mà khuyên dạy cho họ trụ yên trong các pháp lành cùng với giáo pháp Ba thừa. Do nghiệp ấy còn lưu lại nên ta nhận lấy cõi thế giới xấu ác, hèn kém như thế này. Ta dùng âm thanh bất thiện truyền rao khắp cõi thế giới, vì thế nên nay nhận lấy những chúng sinh bất thiện đầy dẫy khắp thế giới.

“Theo như bản nguyện của ta thuyết giảng giáo pháp Ba thừa, nhận lấy cõi Phật, điều phục chúng sinh, mọi việc là như vậy. Ta đã theo đúng như lời dạy mà tinh cần tu tập, hành đạo Bồ-đề, cho nên nay được chủng tử tương tự như thế giới Phật. Do bản nguyện của ta nên ngày nay được mọi sự như vậy.

“Thiện nam tử! Nay ta sẽ nói sơ qua về chỗ thực hành Bố thí ba-la-mật của ta trong quá khứ.

“Khi ta thực hành Bố thí ba-la-mật, so với các vị Bồ Tát trong quá khứ khi hành đạo Bồ Tát không ai có thể làm được như vậy. Các vị Bồ Tát trong đời vị lai khi hành đạo Bồ Tát cũng không ai có thể làm được như vậy.

“Khi ta còn là Bồ Tát, thực hành pháp Bố thí ba-la-mật, chỉ có tám bậc thiện trượng phu trong quá khứ là có thể sánh bằng.

“Vị thứ nhất là Bồ Tát Nhất Địa Đắc, ở tại cõi nước Nhất Thiết Quá Hoạn thuộc về phương nam của cõi này, thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu  Tam-bồ-đề  hiệu  là  Phá Phiền Não Quang Minh  Như  Lai,  Ứng  cúng,  Chánh  biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn. Khi ấy tuổi thọ con người là một trăm tuổi, ngài ở trong cõi ấy mà thuyết pháp, sau bảy ngày thì nhập Niết-bàn.

“Vị thứ hai là Bồ Tát Tinh Tấn Tịnh, ở tại cõi nước Viêm thuộc về phương đông của cõi này, thành tựu quả A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề hiệu là Bách Công Đức Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn. Khi ấy tuổi thọ con người là một trăm tuổi, ngài ở trong cõi ấy mà thuyết pháp. Sau khi làm xong các Phật sự, vị Phật ấy trải qua số đại kiếp nhiều như số cát của một con sông Hằng mới nhập Niết-bàn Vô thượng. Xá-lợi của đức Phật ấy cho đến ngày nay vẫn còn ở nơi những thế giới không có Phật mà làm các Phật sự, cũng như ta không khác.

“Vị thứ ba là Bồ Tát Kiên Cố Hoa, đối với các phép tam- muội luôn chuyên cần thực hành tinh tấn, dùng sức mạnh lớn lao để thực hành việc bố thí. Vị ấy trong đời vị lai trải qua số đại kiếp nhiều như số cát của mười con sông Hằng, sẽ ở tại thế giới Hoan Lạc thuộc về phương bắc của cõi này thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề hiệu  là Đoạn Ái Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn.

“Vị thứ tư là Bồ Tát Huệ Sí Nhiếp Thủ Hoan Hỷ, trải qua một đại kiếp nữa sẽ ở tại thế giới Khả Uý thuộc về phương tây của cõi này, khi tuổi thọ con người là một trăm tuổi, thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề hiệu là Nhật Tạng Quang Minh Vô Cấu Tôn Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn.

“Hiện nay ở trước mặt ta đây có hai vị Bồ Tát nữa, một vị tên là Nhật Quang, một vị tên là Hỷ Tý.

“Trong đời vị lai, trải qua vô lượng vô biên đại kiếp, về phương trên của cõi này có cõi nước Hôi Vụ, kiếp ấy tên là Đại Loạn, cõi đời xấu ác, nhiều phiền não với đủ năm sự uế trược, tuổi thọ con người là năm mươi tuổi. Do nơi bản nguyện nên Bồ Tát Nhật Quang sẽ ở nơi cõi ấy thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hiệu là Bất Tư Nghị Nhật Quang Minh Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn. Đức Phật ấy trải qua mười năm làm đủ các việc Phật sự rồi nhập Niết-bàn. Ngay trong ngày Phật ấy nhập Niết-bàn, chánh pháp cũng diệt mất.

“Sau đó mười năm, thế giới ấy không có Phật, tuổi thọ con người giảm dần xuống chỉ còn ba mươi tuổi. Khi ấy, Bồ Tát Hỷ Tý do nơi bản nguyện nên ở nơi cõi ấy thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hiệu là Thắng Nhật Quang Minh Như Lai,  Ứng  cúng,  Chánh  biến  tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn. Đức Phật Thế Tôn ấy cũng trải qua mười năm làm đủ các việc Phật sự rồi nhập Niết-bàn. Sau khi Phật nhập Niết-bàn, do bản nguyện của ngài nên chánh pháp trụ thế đủ bảy mươi năm.

“Bấy giờ, hai vị Bồ Tát ở trước Phật lần đầu tiên được nghe thọ ký quả  A-nậu-đa-la  Tam-miệu  Tam-bồ-đề  nên sinh tâm hoan hỷ, cúi đầu lễ kính. Do tâm hoan hỷ nên liền bay vọt lên giữa hư không, cao bằng bảy cây đa-la,(1) cùng chắp tay hướng về đức Phật, đồng thanh đọc kệ xưng tán rằng:

(1) Cây đa-la (Tārā): một loài cây mọc nhiều ở miền đông Ấn Độ, thân cây rất cao, trung bình đến khoảng bảy, tám mươi thước ( tương đương khoảng 24 – 25 mét), trái chín màu đỏ, ăn được. Cây đa-la ngoài tính chất đặc biệt là rất cao, còn có đặc điểm là khi bị chặt đứt ngang sẽ không còn sinh trưởng được nữa. Vì thế, trong kinh dùng hình ảnh cây đa-la bị chặt ngang để ví với vị tỳ-kheo phạm vào các trọng giới ba-la-di.

Hào quang đức Như Lai,

Che mờ cả nhật nguyệt.

Thường ở trong đời ác,

Phô diễn trí huệ lớn,

Mắt Điều ngự thanh tịnh,

Không một chút bợn nhơ.

Dùng luận nghị nhiệm mầu,

Khuất phục hết ngoại đạo.

Con từ vô lượng kiếp,

Tu phép định Vô tướng,

Cầu được đạo Vô thượng,

Quả bồ-đề cao trổi.

Từng cúng dường chư Phật,

Số nhiều như cát sông,

Nhưng chư Phật quá khứ,

Chưa vì con thọ ký.

Đức Thế tôn lìa dục,

Tâm đạt được giải thoát,

Ở trong đời tối tăm,

Khéo làm các Phật sự,

Vì chúng sinh lạc đường,

Thuyết giảng pháp mầu nhiệm,

Khiến cho đều ra khỏi,

Dòng sinh tử nổi trôi.

Chúng con nay phát nguyện,

Trong pháp Phật thanh tịnh,

Đạt được tâm tự tại,

Xuất gia tu chánh đạo,

Thọ trì giới Giải thoát,

Theo lời dạy mà làm,

Tâm an định theo Phật,

Như bóng luôn theo hình.

Không vì được lợi dưỡng,

Chỉ mong cầu chánh pháp.

Đã được nghe chánh pháp,

Như uống nước cam lộ,

Vì thế nên Thế Tôn,

Thọ ký cho chúng con,

Ở trong đời vị lai,

Sẽ được đạo Vô thượng.

“Thiện nam tử! Còn hai người nữa vẫn chưa phát tâm. Những người đã phát tâm rồi, người thứ nhất tên là Nhật Quang, người thứ hai tên là Hỷ Tý. Trước đó ta đã kể bốn người, thứ nhất là Địa Đắc, thứ hai là Tinh Tấn Tịnh, thứ ba là Kiên Cố Hoa, thứ tư là Huệ Sí Nhiếp Thủ Hoan Hỷ. Như vậy cả thảy có tám người. Sáu vị Bồ Tát nói trên đều là do ta khuyên dạy ban đầu khiến cho phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.

“Thiện nam tử! Nay ông hãy lắng nghe cho kỹ nhân duyên trước đây trong đời quá khứ đã trải qua vô lượng a-tăng-kỳ kiếp. Vào lúc ấy, thế giới này có tên là Vô Cấu Tu-di, tuổi thọ con người là một trăm tuổi, có đức Phật ra đời hiệu là Hương Liên Hoa. Sau khi Phật ấy nhập Niết-bàn, vào thời tượng pháp,(1) ta làm vị Chuyển luân Thánh vương có thế lực lớn lao ở cõi Diêm-phù-đề, hiệu là Nan Trở Hoại, có đủ một ngàn người con, ta đều khuyên dạy khiến cho phát tâm A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Về sau, trong thời tượng pháp ấy, tất cả đều xuất gia tu đạo, thổi bùng lên mạnh mẽ ngọn lửa Phật pháp. Chỉ trừ có sáu người con không chịu xuất gia, phát tâm Bồ-đề.

(1) Tượng pháp: Xem chú giải ở trang 804.

“Khi ấy, ta nhiều lần theo hỏi sáu người con ấy: ‘Nay các con còn mong cầu điều gì mà không phát tâm Bồ-đề, xuất gia tu đạo?’

“Bấy giờ, sáu người con ấy đều nói: ‘Thật không nên xuất gia. Vì sao vậy? Nếu ở trong đời tượng pháp mạt thế mà xuất gia thì không thể thành tựu việc giữ theo giới luật, lại lìa xa bảy món tài bảo của bậc thánh.(1)  Do không giữ gìn giới luật nên phải ngập chìm trong bùn nhơ sinh tử, đọa vào ba đường ác,(2) không thể được sinh lên các cõi trời, cõi người. Do nhân duyên ấy, chúng con không thể xuất gia tu đạo.’

“Thiện nam tử! Ta lại hỏi tiếp rằng: ‘Các con do đâu mà chẳng phát tâm Bồ-đề?’

“Sáu người con ấy đáp: ‘Nếu cha có thể ban cho chúng con cõi Diêm-phù-đề này, thì sau đó chúng con sẽ phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.’

“Thiện nam tử! Ta nghe các con nói như thế thì sinh tâm hoan hỷ, tự nghĩ rằng: ‘Nay ta đã giáo hóa cho người trong cõi Diêm-phù-đề, khiến cho thọ nhận Ba quy y, thọ nhận Tám trai giới, trụ yên trong giáo pháp Ba thừa. Nay ta sẽ phân chia cõi Diêm-phù-đề này thành sáu phần, ban cho sáu đứa con này, khiến cho chúng phát tâm cầu đạo Vô thượng. Sau đó ta sẽ xuất gia tu đạo.’

(1) Tức Bảy thánh tài: Xem chú giải ở trang 447.

(2) Ba đường ác: Xem chú giải ở trang 94.

“Nghĩ như vậy rồi, ta liền phân chia cõi Diêm-phù-đề ra thành sáu phần, ban cho các con, sau đó ta liền xuất gia.

“Bấy giờ, sáu vị vua mới đều hung ác bạo ngược, chẳng ai chịu nhường ai, xâm lấn lẫn nhau, gây ra nạn đấu tranh giành giật, gông cùm trói buộc.

“Khi ấy, khắp nơi trong cõi Diêm-phù-đề, lúa thóc mất mùa chẳng có thu hoạch, nhân dân đói khổ, mưa gió nghịch mùa, cây cối khô héo không sinh hoa quả, cỏ thuốc cũng không mọc. Nhân dân, các loài chim chóc, thú vật thảy đều đói khổ, thân thể gầy khô nóng nảy, cháy phừng lên như ngọn lửa.

“Vào lúc ấy, ta tự nghĩ rằng: ‘Ta nay nên xả bỏ thân mình, dùng máu thịt để bố thí cho chúng sinh được no đủ.’

“Nghĩ như vậy rồi, ta liền từ bỏ nơi vắng vẻ đang tu tập mà tìm về chốn nhân gian, giữa đường gặp một hòn núi tên là Thủy Ái Hộ. Ta lên trên núi ấy phát lời đại nguyện bố thí, rồi đọc kệ rằng:

Nay ta tự bỏ,

Thân mạng hiện có,

Vì lòng đại bi,

Không cầu quả báo,

Chỉ vì lợi ích,

Chư thiên, loài người,

Nguyện làm núi thịt,

Thí cho chúng sinh.

Nay ta buông bỏ,

Thân tướng đẹp đẽ,

Chẳng cầu Đế-thích,

Thiên ma, Phạm vương,

Chỉ vì lợi ích,

Chúng sinh đời sau.

Lấy máu thịt này,

Bố thí chúng sinh.

Chư thiên, rồng, thần,

Người và phi nhân,

Ở nơi núi này,

Lắng nghe lời ta,

Vì các chúng sinh,

Phát lòng đại bi,

Tự dùng máu thịt,

Thí cho tất cả.

“Thiện nam tử! Khi ta phát lời nguyện như vậy rồi, chư thiên rúng động bất an, khắp mặt đất và các núi Tu-di, biển cả đều chấn động đủ sáu cách. Hết thảy đại chúng, chư thiên và loài người đều cảm động bật lên tiếng khóc.

“Lúc bấy giờ, ta từ trên núi Thủy Ái Hộ tự lao mình xuống. Do nguyện lực nên thân ta lập tức hóa thành ngọn núi thịt cao một do-tuần, ngang dọc hai chiều cũng một do- tuần. Nhân dân và các loài chim chóc, cầm thú đến khi ấy kéo đến ăn thịt, uống máu. Do bản nguyện nên đến nửa đêm hôm ấy thân thể ta liền phát triển cực kỳ cao lớn, cho đến cao một ngàn do-tuần, ngang dọc hai chiều cũng một ngàn do-tuần. Chung quanh lại tự nhiên sinh ra những đầu người, có đầy đủ lông, tóc, mắt, tai, mũi, miệng, môi, lưỡi.

Từ trong các đầu người ấy thảy đều phát ra tiếng nói rằng: ‘Hỡi các chúng sinh, tất cả hãy tùy ý đến đây lấy dùng, hoặc uống máu, hoặc ăn thịt, hoặc lấy những đầu, mắt, tai, mũi, môi, lưỡi, răng… các thứ, tất cả đều sẽ được no đủ, sau đó sẽ phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hoặc  phát tâm Thanh văn, tâm Bích-chi Phật.’

“Các ngươi nên biết rằng, những thứ mà chúng sinh lấy đi như vậy, thảy đều không thể hết. Khi ăn vào lại dễ tiêu, không bị chết yểu. Có những người thông minh sáng trí ăn thịt, uống máu, lấy những đầu, mắt, tai, mũi, lưỡi, rồi hoặc phát tâm theo Thanh văn thừa, Bích-chi Phật  thừa,  hoặc phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hoặc cầu sinh trong cõi trời, cõi người, được giàu có, vui vẻ.

“Do bản nguyện của ta nên thân ấy không hề tổn giảm, cho đến một vạn năm. Trong khắp cõi Diêm-phù-đề, loài người cho đến quỷ thần, chim chóc, cầm thú, hết thảy đều được đầy đủ, sung túc.

“Trong một vạn năm ấy, số mắt mà ta đã bố thí nhiều như số cát một con sông Hằng, lượng máu mà ta bố thí nhiều như nước trong bốn biển lớn, số thịt mà ta bố thí nhiều như cả ngàn núi Tu-di, số lưỡi mà ta bố thí nhiều như núi Thiết vi lớn, số tai mà ta bố thí nhiều như núi Thuần-đà-la, số mũi mà ta bố thí nhiều như núi Tỳ-phú-la, số răng mà ta bố thí nhiều như núi Kỳ-xà-quật, số da bọc thân mà ta bố thí nhiều như số đất trong Tam thiên Đại thiên thế giới.

“Thiện nam tử! Các ngươi nên biết, ta ở trong đời quá khứ ấy trải qua một vạn năm, xả bỏ vô lượng vô biên a-tăng-kỳ thân thể. Trong tuổi thọ của một lần sinh đã tự dùng máu thịt của mình để cung cấp, bố thí cho vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chúng sinh như vậy, thảy đều khiến cho được no đủ, nhưng chẳng bao giờ có chút hối tiếc.

“Vào lúc ấy ta lại nguyện rằng: ‘Nếu như ta chắc chắn sẽ được thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, sở nguyện thành tựu, được lợi ích bản thân, thì nay cũng giống như ta đã ở nơi một cõi Diêm-phù-đề này trong một vạn năm tự dùng máu thịt của mình để cấp thí cho hết thảy vô lượng chúng sinh, nguyện cũng sẽ làm như vậy trong vô số lần vạn năm, nhiều như số cát của một con sông Hằng, hiện thân đầy khắp Tam thiên Đại thiên thế giới Vô Cấu Tu-di, hóa làm núi máu thịt ở khắp mỗi một cõi thiên hạ, trong một vạn năm tự dùng máu thịt, đầu, mắt, tai… để cung cấp, bố thí cho chúng sinh, chư thiên, rồng, quỷ thần, người và loài phi nhân, cùng hết thảy các loài súc sinh, hoặc ở giữa hư không, hoặc ở trên mặt đất, cho đến loài ngạ quỷ, tất cả đều khiến cho được no đủ, sau đó sẽ khuyên dạy, giáo hóa cho được trụ yên trong giáo pháp Ba thừa.

“Nếu như đã hóa hiện được khắp cõi Phật thế giới này, giúp cho hết thảy chúng sinh được đầy đủ rồi, lại sẽ hóa hiện đến các cõi thế giới xấu ác có đủ năm sự uế trược trong mười phương nhiều như số cát của một con sông Hằng, lại cũng cung cấp bố thí máu thịt, đầu, mắt, tai… cho hết thảy chúng sinh, khiến cho tất cả đều được đầy đủ. Bố thí như vậy trải qua số đại kiếp nhiều như số cát của một con sông Hằng, luôn vì chúng sinh mà tự xả bỏ thân mạng để bố thí.

“Nếu như sở nguyện của ta không thành tựu, không được lợi ích bản thân, như vậy tức là đã dối gạt vô lượng vô biên chư Phật Thế Tôn đang vì các chúng sinh mà chuyển bánh xe chánh pháp trong các thế giới mười phương. Như vậy chắc chắn không thể thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, phải ở trong sinh tử, mãi mãi không được nghe những âm thanh Phật, âm thanh Pháp, âm thanh tỳ-kheo, âm thanh ba-la-mật, âm thanh sức không sợ sệt, cho đến không được nghe âm thanh của hết thảy các căn lành. Nếu ta không thể thành tựu việc xả thân bố thí đầy đủ cho các chúng sinh, sẽ thường phải đọa vào địa ngục A-tỳ.

“Thiện nam tử! Ta vào đời quá khứ đã thành tựu được hết thảy sở nguyện như thế, ở nơi mỗi một cõi thiên hạ đều xả bỏ thân mạng, dùng máu thịt cung cấp bố thí chúng sinh, khiến cho tất cả đều được no đủ. Lần lượt như vậy, đi khắp các cõi Phật thế giới trong mười phương nhiều như số cát sông Hằng, luôn xả bỏ thân mạng, dùng máu thịt cung cấp bố thí chúng sinh, khiến cho tất cả đều được no đủ.

“Thiện nam tử! Các ông nên biết, ta vào lúc ấy vì thực hành pháp Bố thí ba-la-mật mà xả thân bố thí như vậy, chỉ riêng số mắt mà ta đã lần lượt bố thí, nếu gom hết lại sẽ đầy khắp cõi Diêm-phù-đề này và cao lên đến tận cõi trời Đao- lợi.(1)

(1)Cõi trờii Đao- lợii: Xem chú giải ở trang 78.

“Thiện nam tử! Đó là Như Lai chỉ nói sơ qua về việc xả bỏ thân mạng để thực hành pháp Bố thí ba-la-mật.

“Lại nữa, thiện nam tử! Trải qua vô lượng vô biên a-tăng- kỳ kiếp như vậy, khi đó thế giới này đổi tên là Nguyệt Lôi, cũng là cõi thế giới xấu ác có năm sự uế trược. Vào lúc ấy ta làm vị Chuyển luân Thánh vương, cai trị cõi Diêm-phù-đề, hiệu là Đăng Quang Minh, lại cũng dạy bảo vô lượng vô biên a-tăng-kỳ nhân dân, khiến cho được trụ yên trong các pháp lành, làm đủ các việc lợi ích như vào thời tượng pháp của đức Phật Hương Liên Hoa đã nói ở trước.

“Làm xong các việc như vậy rồi, một hôm ta dạo chơi ở chốn rừng cây, xem xét đất đai, thấy có một người bị bắt trói, liền hỏi: ‘Người ấy phạm tội gì vậy?’

“Quan đại thần tâu lên rằng: ‘Tất cả những người làm ruộng khi thu hoạch lúa thóc đều phải chia làm sáu phần, lấy một phần nộp vào của công. Người này không tuân theo phép vua, không chịu nộp đủ nên bị bắt trói.’

“Khi ấy, ta truyền lệnh thả người ấy ra, dạy rằng: ‘Từ nay về sau không nên cưỡng ép lấy của người ta như thế.’

“Quan đại thần tâu rằng: ‘Trong những người dân đây, chẳng có ai sinh lòng vui vẻ theo đúng phép mà giao nộp lúa thóc. Nay hết thảy mọi thứ cần dùng như món ăn, thức uống… cho các vị vương tử, hậu cung, quyến thuộc… của vua, đều là do cưỡng ép người dân nộp lên mới có. Không một ai có lòng trong sạch tự giao nộp cả!’

“Ta nghe như vậy rồi, trong lòng hết sức buồn rầu, liền tự suy nghĩ rằng: ‘Cõi Diêm-phù-đề này ta nên giao lại cho ai?’

“Lúc ấy, ta có năm trăm người con trai, trước đó đều đã dạy bảo cho phát tâm cầu đạo Vô thượng. Ta lại nghĩ rằng: ‘Nên phân chia cõi này ra thành năm trăm phần, giao lại cho các con. Còn ta nên xuất gia tìm đến nơi thanh tịnh vắng vẻ, tu tập các phép tiên, học theo Phạm hạnh thanh tịnh.’

“Nghĩ như vậy rồi, ta liền phân chia cõi nước ra làm năm trăm phần, chia đều cho các con, rồi lập tức xuất gia, tìm đến bờ biển phía nam, trong khu rừng cây Uất-đầu-ma rậm rạp, ăn trái cây rừng mà sống, dần dần tu học, đạt được năm phép thần thông.

“Thiện nam tử! Khi ấy, trong cõi Diêm-phù-đề có năm trăm người thương nhân đi ra biển cả, muốn tìm lấy trân bảo. Người dẫn đầu đoàn thương nhân ấy tên là Mãn Nguyệt. Người ấy do đời trước đã tạo nhiều nhân duyên phước đức nên được thành tựu đúng như sở nguyện, tìm đến một bãi có đầy trân bảo. Bọn họ lấy rất nhiều đủ mọi thứ trân bảo rồi lập tức lên đường trở lại cõi Diêm-phù-đề.

“Khi ấy, vị thần biển lớn tiếng khóc lóc, lại có nhiều con rồng sinh lòng tức giận muốn làm hại các thương nhân ấy. Có một vị Long vương tên là Mã Kiên, vốn là một vị Đại Bồ Tát do bản nguyện nên sinh trong loài rồng. Vị ấy khởi tâm từ bi, cứu giúp bảo vệ cho các thương nhân, khiến cho được an ổn vượt qua biển lớn, vào được trong bờ. Khi ấy vị Long vương kia mới quay trở về chỗ ở.

“Bấy giờ lại có một quỷ la-sát rất ác độc, bám theo các thương nhân như bóng với hình, muốn làm hại họ. Quỷ la- sát ác độc này ngay trong ngày hôm ấy nổi lên một cơn gió độc rất hung bạo. Khi đó, các thương nhân đều tối tăm mù mịt, lạc mất đường đi, hết sức sợ hãi, cùng cất tiếng khóc lóc vang rền, kêu la khẩn cầu chư Thiên Ma-hê-thủ-la, thần nước, thần đất, thần lửa, thần gió; lại gọi tên cha mẹ, vợ con, quyến thuộc… cầu xin cứu nạn.

“Thiện nam tử! Vào lúc ấy ta dùng thiên nhĩ thanh tịnh nghe được những âm thanh ấy, liền tìm đến nơi đó, dùng lời êm dịu mà an ủi, vỗ về: ‘Các ông chớ nên lo sợ, ta sẽ chỉ đường cho các ông, giúp cho các ông được an ổn trở về cõi Diêm-phù-đề.’

“Thiện nam tử! Khi ấy ta dùng vải trắng buộc quanh cánh tay, tẩm dầu vào rồi đốt lên làm đuốc, nói ra lời chân thật rằng: ‘Ta trước đã ở nơi rừng Uất-đầu-ma trong ba mươi năm, chuyên cần tinh tấn tu hành Bốn tâm vô lượng, vì các chúng sinh mà ăn trái cây rừng để sống, khuyên dạy giáo hóa cho tám mươi bốn ngàn các loài rồng, dạ-xoa, quỷ thần… đều được địa vị không còn thối chuyển đối với quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Do nơi nhân duyên căn lành ấy, nay đốt cánh tay này để dẫn đường cho các thương nhân được an ổn trở về trong cõi Diêm-phù-đề.’ Đốt cánh tay như vậy trong bảy ngày bảy đêm, các thương nhân ấy liền an ổn trở về được cõi Diêm-phù-đề.

“Thiện nam tử! Vào lúc ấy ta lại phát nguyện rằng: ‘Nếu như cõi Diêm-phù-đề này không có các thứ trân bảo, và nếu như ta chắc chắn sẽ thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam- miệu Tam-bồ-đề, được lợi ích bản thân, thì nay ta sẽ làm vị thương chủ, ở nơi mỗi cõi thiên hạ mưa xuống bảy lần châu báu. Ta lại vào biển cả lấy hạt châu như ý, rồi ở nơi mỗi cõi thiên hạ mưa xuống đủ mọi thứ của báu. Cứ như vậy, lần lượt mưa xuống các thứ trân bảo trong khắp cả thế giới này, cho đến trong vô lượng vô biên a-tăng-kỳ thế giới khắp mười phương cũng đều như vậy.’

“Thiện nam tử! Trong thời quá khứ ấy, những điều phát nguyện của ta thảy đều được thành tựu, trải qua số đại kiếp nhiều như số cát sông Hằng, ta thường làm vị Vô thượng Tát-bạc,(1) trải qua số kiếp xấu ác với năm sự uế trược nhiều như số cát sông Hằng thường mưa xuống đủ mọi thứ trân bảo. Mỗi một ngày đều mưa xuống như thế bảy lần. Làm lợi ích như vậy cho vô lượng chúng sinh, khiến cho được sung túc, thỏa mãn với các thứ trân bảo rồi, sau đó mới khuyên dạy, giáo hóa cho trụ yên trong giáo pháp Ba thừa.

“Thiện nam tử! Các ông nên biết, đó là Như Lai xả bỏ các thứ trân bảo quý báu để được nhân duyên căn lành.(2)

“Lại nữa, thiện nam tử! Như vậy trải qua vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, cõi Phật này chuyển tên là Võng, kiếp ấy tên là Tri Cụ Túc. Thế giới khi ấy có đủ năm sự uế trược, tuổi thọ của nhân dân là năm vạn năm. Do bản nguyện nên ta sinh vào một gia đình bà-la-môn trong cõi Diêm-phù- đề, tên là Tu Hương, tụng đọc kinh sách xiển-đà của ngoại đạo.(3)

“Vào thời ấy, chúng sinh phần nhiều đắm chấp thường kiến,(4) đấu tranh giành giật lẫn nhau, xem nhau như giặc thù. Khi ấy ta dùng sức mạnh và thế lực, vì chúng sinh thuyết dạy rằng năm ấm(5) như kẻ oán thù, rằng:

(1) Tát-bạc: phiên âm từ tiếng Phạn là sabhā, chỉ sự hội họp đông người, nên Vô thượng Tát-bạc ở đây chỉ cho người đứng đầu, người có cương vị cao nhất trong tập thể, trong hội chúng.

(2) Các thứ trân bảo tuy quý báu nhưng vẫn thuộc về hình tướng hữu vi, đều là giả tạm. Vì thế, đức Như Lai dùng chúng để tạo nhân duyên trồng các căn lành có giá trị chân thật, cao quý hơn.

(3) Kinh sách Xiển-đà của ngoại đạo: chỉ luận Xiển-đà, một trong sáu bộ luận của ngoại đạo, thuộc hệ kinh luận Phệ-đà của Ấn Độ thời cổ.

(4) Thường kiến: quan điểm cho rằng mọi sự vật trên đời đều thường tồn.

(5) Năm ấm: Xem chú giải ở trang 327.

Mười hai nhập(1) như xóm làng vắng vẻ không người, rằng tánh thật của Mười hai nhân duyên(2)  là sinh diệt không ngừng, chỉ bày phân biệt pháp a-na-ba-na(3) cho chúng sinh tu học.

(1) Mười hai nhập: Xem chú giải ở trang 222.

(2) Mười hai nhân duyên (Thập nhị nhân duyên): Xem chú giải trang 66.

(3) Pháp a-na-ba-na: phiên âm từ tiếng Phạn là Ānāpāna, tức là phép quán sổ tức, theo dõi hơi thở để định tâm, từ đó mới thể nhập vào các cảnh giới thiền định.

“Rồi ta lại dạy chúng sinh rằng: ‘Nay các ngươi nên phát tâm Bồ-đề Vô thượng, khi làm được những việc thiện nên hồi hướng cầu quả vị Bồ-đề.’

“Vào lúc ấy, ta tự nhiên có được năm phép thần thông như các thần tiên. Khi đó lại có vô số người theo học với ta nên cũng đều được năm phép thần thông.

“Lại có vô lượng vô biên chúng sinh lìa xa những sự đấu tranh giành giật, dứt bỏ mọi thù oán, xuất gia vào núi, ăn toàn các loại trái, hạt cây rừng mà sống, ngày đêm tu tập Bốn tâm vô lượng.

“Vào lúc kiếp ấy sắp dứt, những chúng sinh như vậy phân chia nhau đi khắp nơi trong cõi Diêm-phù-đề để giáo hóa chúng sinh, khiến cho đều lìa khỏi sự đấu tranh, dứt bỏ oán thù, đạt đến chỗ vắng lặng yên tĩnh. Hoặc có những nạn lụt, gió bão, mưa độc, thảy đều khiến cho dứt mất. Đất đai khi ấy trở nên bằng phẳng, mềm mại, mùa màng tươi tốt, thức ăn ngon lành, bổ dưỡng. Nhưng vì kiếp ấy sắp dứt, nên chúng sinh lại bị đủ mọi thứ bệnh khổ đeo bám hành hạ.

“Thiện nam tử! Khi ấy ta liền suy nghĩ rằng: ‘Nay nếu ta không thể dứt trừ mọi bệnh khổ của chúng sinh, ắt ta không thể thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ- đề, không thể vì các chúng sinh dứt trừ phiền não. Nay ta phải dùng phương tiện gì để dứt trừ bệnh khổ của chúng sinh? Chỉ có cách là phải tập hợp toàn thể đại chúng, chư thiên, Phạm thiên, Bốn vị Thiên vương… cùng với các vị tiên ở cõi trời, tiên trong loài rồng, loài người, để hỏi về các phương thuốc trị bệnh, gom hết các loại cỏ thuốc và đủ mọi phép chú thuật để điều trị hết thảy các chứng bệnh.’

“Nghĩ như vậy rồi, ta liền dùng thần lực lên đến các cõi trời Đế-thích, Phạm thiên, Tứ Thiên  vương  thiên  cùng  đi đến chỗ các vị thần tiên trong loài rồng, loài người… đều nói như thế này: ‘Xin mời tất cả chư vị cùng đến hội họp nơi núi Tỳ-đà.’

“Bấy giờ, hết thảy đại chúng nghe lời ta mời thỉnh, thảy đều tập hợp đến. Khi đã tập hợp rồi, liền cùng nhau trì tụng chú thuật Tỳ-đà. Do oai lực ấy nên có thể đẩy lùi được hết thảy những quỷ thần hung ác, giúp đỡ, bảo vệ chúng sinh. Lại cùng nhau nghiên cứu các phương thuốc trị bệnh, có thể trị được hết thảy các thứ bệnh thời khí, nóng lạnh… Nhờ đó mà khiến cho vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chúng sinh đều lìa khỏi mọi khổ não.

“Thiện nam tử! Khi ấy ta lại phát nguyện rằng: ‘Nếu ta đã vì vô lượng chúng sinh trong một cõi thiên hạ này mà chiếu soi ánh sáng trí huệ, khiến cho được trụ yên trong giáo pháp Ba thừa, đóng chặt cửa vào ba đường ác,(1) mở rộng đường lên hai cõi trời người,(2) dứt trừ các bệnh khổ, khiến cho được yên vui. Vậy nay ta sẽ lần lượt vì vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chúng sinh mà chiếu soi ánh sáng trí huệ, khiến cho được trụ yên trong giáo pháp Ba thừa, đóng chặt cửa vào ba đường ác, mở rộng đường lên hai cõi trời người, dứt trừ các bệnh khổ, khiến cho được yên vui. Do quả báo nhân duyên của căn lành này, sẽ khiến cho sở nguyện của ta đều được thành tựu, được lợi ích bản thân.

(1) Đóng chặt cửa vào Ba đường ác: Vì dạy bảo chúng sinh không làm các điều ác, không tạo các nghiệp ác nên không phải sinh vào Ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.

(2) Mở rộng đường lên hai cõi trời người: Vì dạy bảo chúng sinh tu theo Mười điều lành, tạo nghiệp lành nên được sinh lên hai cõi trời, người.

“Cũng như ta đã vì vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chúng sinh trong một cõi thiên hạ này mà đóng cửa các đường ác, mở đường lên hai cõi trời người, vì những người bệnh khổ mà mời thỉnh chư thiên, rồng, thần tiên… tập hợp về núi Tỳ-đà, dùng chú thuật Tỳ-đà khiến cho vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chúng sinh thảy đều được dứt trừ bệnh khổ, thụ hưởng khoái lạc; nay ta cũng sẽ làm như vậy với chúng sinh trong khắp thế giới Võng này, mang lại lợi ích cho hết thảy vô lượng chúng sinh, khiến cho đều được trụ yên trong giáo pháp Ba thừa, đóng cửa ba đường ác, mở rộng đường lên hai cõi trời người. Lại cũng vì hết thảy những người bệnh trong cõi thế giới này, thỉnh chư thiên, rồng, thần tiên… tập hợp về núi Tỳ-đà, dùng chú thuật Tỳ-đà khiến cho vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chúng sinh trong cõi thế giới này thảy đều được dứt trừ bệnh khổ, thụ hưởng khoái lạc.

“Lại cũng như với cõi thế giới này, cho đến hết thảy các cõi thế giới xấu ác đủ năm sự uế trược nhiều như số cát sông Hằng ở khắp mười phương, ta cũng đều phát nguyện như vậy.

“Thiện nam tử! Khi ấy ta ở nơi thế giới Võng, cho đến hết thảy các cõi thế giới xấu ác đủ năm sự uế trược nhiều như số cát sông Hằng ở khắp mười phương, những lời phát nguyện như vậy thảy đều được thành tựu.

“Thiện nam tử! Các ông nên biết, đó là Như Lai trong khi còn là Bồ Tát đã làm tăng trưởng trí huệ, tu hành đạo Bồ Tát. Như vậy gọi là Như Lai giữ gìn hạt giống căn bản của ba nghiệp lành.(1)

 (1) Ba nghiệp: Tức thân nghiệp, khẩu nghiệp ý nghiệp. Dùng thân, miệng và ý để tạo các nghiệp lành nên gọi là Ba nghiệp lành. 

ĐÀN BA-LA-MẬT PHẨM ĐỆ NGŨ CHI TAM

Phật cáo Tịch Ý Bồ Tát: “Thiện nam tử! Kỳ hậu phục quá vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, thử giới chuyển danh Tuyển Trạch Chư Ác. Nhĩ thời đại kiếp danh Thiện Đẳng Ích, thế diệc ngũ trược.

Đông phương khứ thử ngũ thập tứ thiên hạ, bỉ Diêm- phù-đề danh Lô-bà-la. Dĩ nguyện lực cố, sanh ư bỉ trung tác Chuyển luân thánh vương, chủ tứ thiên hạ, hiệu Hư Không Tịnh, giáo chư chúng sanh an trụ thập thiện cập tam thừa trung.

Ngã ư nhĩ thời bố thí nhất thiết vô sở phân biệt. Thị thời đa hữu vô lượng khất nhi lai, tùng ngã khất chủng chủng trân bảo, kim ngân, lưu ly, pha lê, tiền hóa, thanh lưu ly châu, đại thanh lưu ly, hỏa châu ma-ni. Sở hữu trân bảo thiểu bất túc ngôn. Khất giả vô lượng.

Ngã ư thị thời tức vấn đại thần: “Như thị trân bảo tùng hà xứ sanh?”

Đại thần đáp ngôn: “Thị chư long vương chi sở thị hiện. Tuy hữu thử bảo, duy cung thánh vương, bất năng quảng cập như thị khất giả.”

Ngã ư nhĩ thời tác đại thệ nguyện: “Nhược ngã vị lai ư ngũ trược trung, hậu trọng phiền não, nhân thọ bá tuế, tất định thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, sở nguyện thành tựu, đắc kỷ lợi giả, tác đại long vương thị hiện chủng chủng trân bảo chi tạng, ư thử Tuyển Trạch Chư Ác thế giới, tại tại xứ xứ tứ thiên hạ trung, ư nhất nhất thiên hạ thất phản thọ thân, nhất nhất thân trung thị hiện vô lượng bá thiên vạn ức na-do-tha đẳng trân bảo chi tạng, nhất nhất bảo tạng tung quảng chánh đẳng nhất thiên do-tuần, các các sung mãn chủng chủng trân bảo, như thượng sở thuyết cấp thí chúng sanh. Như ngã tại thử nhất thế giới trung tinh cần dụng ý, như thị thứ đệ biến thập phương như hằng hà sa đẳng ngũ trược ác thế vô Phật quốc độ, ư nhất nhất Phật độ, nhất nhất thiên hạ, thất phản thọ thân nãi chí như thượng sở thuyết.”

Thiện nam tử! Ngã tác như thị thiện nguyện, nhĩ thời thiên nhân hữu bá thiên ức, tại hư không trung vũ chủng chủng hoa nhi tán ngã ngôn: “Thiện tai, thiện tai! Nhất Thiết Bố Thí, nhữ kim dĩ đắc như tâm sở nguyện.”

Thiện nam tử! Nhĩ thời đại chúng văn Hư Không Tịnh Vương chư thiên tác tự hiệu Nhất Thiết Thí. Văn thị sự dĩ, các các tương vị ngã đẳng kim giả ưng vãng khất cầu nan xả chi vật. Nhược năng xả giả khả đắc danh vi Nhất Thiết Bố Thí. Như kỳ bất năng, hà đắc xưng vi Nhất Thiết Thí dã?

Thị thời chư nhân các các tùng vương, khất sách hậu cung, phu nhân, nữ cập nhi tức đẳng.

Thời Chuyển luân vương văn thị sự dĩ tâm đại hoan hỷ, tùy kỳ sở sách tất giai dữ chi.

Thị thời chư nhân phục cánh tương vị ngôn: “Như thị thê tử giai thị dị xả, phi nan sự dã. Kim đương tùng vương khất thân chi tiết. Nhược năng xả giả, chân khả đắc danh Năng Xả Nhất Thiết.”

Nhĩ thời chư nhân vãng đại vương sở. Ư thị chúng trung hữu nhất khất nhi tự Thanh Quang Minh, thọ trì cẩu giới, hướng Chuyển luân vương tác như thị ngôn: “Đại vương! Nhược thị nhất thiết thí giả, duy nguyện thí ngã thử Diêm- phù-đề.”

Ngã thời văn dĩ tâm đại hoan hỷ, tầm dĩ hương thủy tiển dục kỳ nhân, linh trước nhu nhuyễn thượng diệu y phục, dĩ thủy quán đỉnh, thiệu thánh vương vị, trì Diêm-phù-đề tức dĩ thí chi.

Phục tác thị nguyện: “Như ngã dĩ thử Diêm-phù-đề thí, thị nhân duyên cố  thành  A-nậu-đa-la  Tam-miệu  Tam-bồ- đề, sở nguyện thành tựu đắc kỷ lợi giả, thị Diêm-phù-đề sở hữu nhân dân, giai đương thừa thuận phụng kính thử nhân dĩ vi vương giả. Phục linh thử nhân thọ mạng vô lượng tác Chuyển luân vương. Ngã thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề dĩ, đương dữ thọ ký nhất sanh đương đắc bổ Phật chi xứ.”

Hữu bà-la-môn danh viết Lô-chí, phục lai tùng ngã khất sách lưỡng túc. Ngã văn thị dĩ tâm sanh hoan hỷ, tức trì lợi đao tự đoạn nhị túc, trì dĩ thí chi. Thí dĩ phát nguyện: “Nguyện ngã lai thế cụ túc đương đắc vô thượng giới túc.”

Hữu bà-la-môn danh viết Hỗ, phục lai tùng ngã khất sách nhị mục. Ngã văn thị dĩ tâm sanh hoan hỷ, tức khiêu nhị mục trì dĩ dữ chi. Thí dĩ phát nguyện: “Nguyện ngã lai thế đương đắc cụ túc vô thượng ngũ nhãn.”

Vị cửu chi gian, hữu bà-la-môn danh Tịnh Kiên  Lao, phục lai tùng ngã khất sách nhị nhĩ. Ngã văn thị dĩ tâm sanh hoan hỷ, tầm tự cát nhĩ trì dĩ thí chi. Thí dĩ phát nguyện: “Nguyện ngã lai thế đương đắc cụ túc vô thượng trí nhĩ.”

Vị cửu chi gian, hữu ni-càn-tử danh Tưởng, phục lai tùng ngã khất sách nam căn. Ngã văn thị dĩ tâm sanh hoan hỷ, tầm tự cát thủ trì dĩ thí chi. Thí dĩ phát nguyện: “Nguyện ngã lai  thế  thành  A-nậu-đa-la  Tam-miệu  Tam-bồ-đề  đắc mã vương tạng tướng.

Vị cửu chi gian phục hữu nhân lai, tùng ngã khất sách thân chi huyết nhục. Ngã văn thị dĩ tâm sanh hoan hỷ tức tiện thí chi. Thí dĩ phát nguyện: “Nguyện ngã lai thế cụ túc vô thượng kim sắc chi tướng.”

Vị cửu chi gian hữu bà-la-môn danh viết Mật Vị, phục lai tùng ngã cầu sách nhị thủ. Ngã văn thị dĩ tâm sanh hoan hỷ, hữu thủ trì đao tầm đoạn tả thủ, tác như thị ngôn: “Kim thử hữu thủ bất năng tự cát, khanh tự thủ chi.” Tác thị thí dĩ phục phát nguyện ngôn: “Nguyện ngã lai thế cụ túc đương đắc vô thượng tín thủ.”

Thiện nam tử! Ngã tiệt như thị chư chi tiết dĩ, kỳ thân huyết lưu, phục tác nguyện ngôn: “Nhân thử thí cố tất định thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, sở nguyện thành tựu đắc kỷ lợi giả, kỳ dư thân phần cánh đắc thọ giả.”

Nhĩ thời phi thánh, bất tri ân nghĩa, chư tiểu vương đẳng cập chư đại thần giai tác thị ngôn: “Đốt tai ngu nhân! Như hà tự cát thân thể chi tiết, linh chư tự tại nhất đán tang diệt? Kỳ dư nhục đoàn phục hà sở trị?”

Thị thời đại thần tức trì ngã thân, tống trước thành ngoại khoáng dã trủng gian, các hoàn sở chỉ. Thời hữu vô lượng văn, manh, dăng đẳng xiệp thực ngã huyết. Hồ, lang, dã can, điêu thứu chi thuộc tất lai đạm nhục.

Ngã ư nhĩ thời mạng vị đoạn gian, tâm sanh hoan hỷ, phục tác nguyện ngôn: “Như ngã xả ư nhất thiết tự tại cập chư chi tiết, nãi chí nhất niệm bất sanh sân khuể cập hối hận tâm. Nhược ngã sở nguyện thành tựu đắc kỷ lợi giả, đương linh thử thân tác đại nhục sơn. Hữu chư ẩm huyết đạm nhục chúng sanh, tất lai chí thử tùy ý ẩm đạm.”

Tác thị nguyện dĩ, tầm hữu chúng sanh tất lai thực đạm. Bổn nguyện lực cố, kỳ thân chuyển đại cao thiên do-tuần, tung quảng chánh đẳng ngũ bá do-tuần, mãn thiên tuế trung dĩ thử huyết nhục cấp thí chúng sanh.

Ngã ư nhĩ thời sở xả thiệt căn, linh chư hổ lang, si, kiêu, điêu, thứu thực chi bão túc. Dĩ nguyện lực cố phục sanh như bổn. Giả đương tụ tập như Kỳ-xà-quật sơn. Tác thị thí dĩ, phục tác thị nguyện: “Nguyện ngã lai thế cụ túc đắc thành quảng trường thiệt tướng.”

Thiện nam tử! Ngã thời mạng chung tại Diêm-phù-đề, dĩ bổn nguyện cố sanh ư long trung, tác đại long vương danh Thị Hiện Bảo Tạng. Tức ư sanh dạ thị hiện bá thiên ức na- do-tha chủng chủng bảo tạng, tự tuyên linh ngôn: “Thị địa phần trung đa hữu bảo tạng, kỳ trung cụ túc chư trân dị vật, kim ngân nãi chí ma-ni bảo châu.”

Thị chư chúng sanh văn thị xướng dĩ, các các tự tứ thủ chư bảo vật tùy ý sở dụng. Dụng dĩ cụ túc hành thập thiện đạo phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm, hoặc phát Thanh văn, Bích-chi Phật tâm.

Ngã ư nhĩ thời tại long vương trung thất phản thọ thân, thọ mạng thất vạn thất thiên ức na-do-tha bá thiên tuế, thị hiện vô lượng vô biên a-tăng-kỳ bảo tạng dữ chư chúng sanh. Nhĩ thời an chỉ vô lượng vô biên a-tăng-kỳ nhân ư tam thừa trung, khuyến linh cụ túc hành thập thiện đạo. Dĩ chủng chủng vô lượng trân bảo mãn chúng sanh dĩ, phục phát nguyện ngôn: “Nguyện ngã lai thế cụ túc đương đắc tam thập nhị tướng.”

Như thị đệ nhị thiên hạ diệc phục thất sanh tác đại long vương, nãi chí biến mãn Tuyển Trạch thế giới tại tại xứ xứ chư tứ thiên hạ, tất tác như thị vô lượng lợi ích, nãi chí thập phương vô lượng vô biên vô Phật thế giới, nhất nhất thế giới, nhất nhất thiên hạ, diệc phục thất sanh tác đại long vương, thọ mạng thất vạn thất thiên ức na-do-tha bá thiên tuế, thị hiện như thị vô lượng vô biên a-tăng-kỳ bảo tạng, diệc phục như thị.

Thiện nam tử! Nhữ kim đương tri thị vị Như Lai vi Bồ Tát thời thâm trọng tinh tấn cầu tam thập nhị tướng chi nhân duyên dã.

Thiện nam tử! Như Lai vi Bồ Tát thời sở hành tinh tấn trừ thượng bát nhân. Quá khứ thế trung cánh vô năng cập.

Nhược quá khứ vô giả, đương tri vị lai chư Bồ Tát đẳng, diệc phục bất năng như thị cần hành thâm trọng tinh tấn như ngã sở hành.

Thiện nam tử! Phục quá vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, thử giới chuyển danh San-hô-trì, kiếp danh Hoa Thủ. Thị thời vô Phật, kỳ thế ngũ trược. Ngã ư thị trung tác Thích- đề-hoàn-nhân, danh Thiện Nhật Quang Minh, quan Diêm- phù-đề, kiến chư chúng sanh chuyển hành ác pháp. Ngã thời tức hóa vi dạ-xoa tượng, kỳ hình khả uý, há Diêm-phù- đề trụ chư nhân tiền. Chư nhân kiến ngã giai sanh bố uý, nhi vấn ngã ngôn: “Dục hà sở tu nguyện tốc thuyết chi.”

Ngã thời đáp ngôn: “Duy tu ẩm thực, cánh vô sở tu.”

Kỳ nhân phục vấn: “Dục thực hà đẳng?”

Ngã phục đáp ngôn: “Duy sát ư nhân đạm kỳ huyết nhục. Nhữ đẳng nhược năng tận kỳ hình thọ trì bất sát giới nãi chí chánh kiến, phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm, nhược phát Thanh văn, Duyên giác tâm giả, ngã tắc bất phục thực đạm nhữ đẳng.”

Thiện nam tử! Ngã ư nhĩ thời thường tác hóa nhân dĩ cung thực ẩm. Nhĩ thời chúng sanh kiến ngã như thị bội sanh bố uý, tất giai tận hình thọ bất sát giới nãi chí chánh kiến, hoặc phát  A-nậu-đa-la  Tam-miệu  Tam-bồ-đề  tâm, hoặc phát Thanh văn, Bích-chi Phật tâm.

Ngã khuyến như thị Diêm-phù-đề nội nhất thiết chúng sanh, tu hành thập thiện trụ tam thừa dĩ, phục tác thệ nguyện: “Nhược ngã tất thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, sở nguyện thành tựu đắc kỷ lợi giả, phục đương khuyến thử tứ thiên hạ nhân linh hành thập thiện đạo, nãi chí biến mãn thử chi thế giới, tại tại xứ xứ tứ thiên hạ trung, dĩ như thị tướng mạo linh chư chúng sanh hành thập thiện đạo, khuyến hóa phát ư tam thừa chi tâm.

Như thị biến mãn nhất thế giới dĩ, nãi chí thập phương vô lượng vô biên a-tăng-kỳ đẳng ngũ trược ác thế vô Phật quốc độ diệc phục như thị.

Thiện nam tử! Ngã ư nhĩ thời phát thị nguyện dĩ nhất thiết thành tựu, ư San-hô-trì thế giới, hóa tác khả uý dạ- xoa chi tượng, điều phục chúng sanh linh trụ thập thiện cập tam thừa trung.

Như thị biến ư thập phương vô lượng vô biên a-tăng-kỳ đẳng ngũ trược ác thế, vô Phật quốc độ, tác dạ-xoa tượng điều phục chúng sanh, linh hành thập thiện, trụ tam thừa trung.

Ngã ư vãng tích khủng bố chúng sanh linh hành thập thiện, trụ tam thừa trung, dĩ thị nghiệp nhân duyên cố kim đắc tọa ư Bồ-đề thọ hạ, dục thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề thời, Thiên ma Ba-tuần dữ chư đại chúng lai chí ngã sở dục đắc hoại loạn ngã Bồ-đề đạo.

Thiện nam tử! Lược thuyết ngã vi Bồ Tát chi thời Đàn ba-la-mật.

Thiện nam tử! Chư đại Bồ Tát thậm thâm pháp nhẫn, vi diệu tổng trì giải thoát tam-muội, ngã ư nhĩ thời tất vị đắc chi. Duy trừ nhị thân hữu lậu ngũ thông. Ngã ư nhĩ thời tác thử đại sự, linh vô lượng vô biên a-tăng-kỳ nhân, an chỉ trụ ư A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề; vô lượng vô biên a-tăng-kỳ nhân, an chỉ trụ ư Bích-chi Phật thừa; vô lượng vô biên a-tăng-kỳ nhân, an chỉ trụ ư Thanh văn thừa trung, huống phục kiêm đắc cúng dường chư Phật, như nhất Phật thế giới vi trần số đẳng, nhất nhất Phật biên sở đắc công đức, sổ như đại hải chư thủy trích đẳng, cúng dường vô lượng Thanh văn, Duyên giác sư trưởng, phụ mẫu, ngũ thông thần tiên, diệc phục như thị.

Như ngã tích giả vi Bồ Tát thời tự dĩ huyết nhục cung cấp chúng sanh, như thị đại bi kim chư La-hán tất vô thị tâm.

NHẬP ĐỊNH TAM MUỘI MÔN PHẨM ĐỆ LỤC

Nhĩ thời Phật cáo Tịch Ý Bồ Tát ma-ha-tát ngôn: “Thiện nam tử! Như ngã kim giả dĩ Phật nhãn kiến thập phương thế giới như nhất Phật độ vi trần đẳng, chư Phật Thế Tôn bát Niết-bàn giả, tất thị ngã tích chi sở khuyến hóa sơ phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm, hành Đàn  ba-la- mật nãi chí Bát-nhã ba-la-mật giả. Vị lai chi thế diệc phục như thị.

Thiện nam tử! Ngã kim kiến thử đông phương thế giới vô lượng vô biên a-tăng-kỳ đẳng chư Phật Thế Tôn kim hiện tại thế chuyển chánh pháp luân, diệc thị ngã tích sơ khuyến linh phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm, hành lục ba-la-mật giả. Nam, tây, bắc phương, tứ duy thượng hạ diệc phục như thị.

Thiện nam tử! Đông phương khứ thử bát thập cửu ức chư Phật thế giới, bỉ hữu thế giới danh viết Thiện Hoa, thị trung hữu Phật hiệu Vô Cấu Công Đức Quang Minh Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn, kim hiện tại vị chúng sanh thuyết pháp. Bỉ Phật diệc thị ngã tích sở khuyến sơ phát A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm, linh hành Đàn ba-la-mật nãi chí Bát-nhã ba-la-mật.

Đông phương phục hữu Diệu Lạc thế giới, thị trung hữu Phật hiệu A-súc Như Lai. Phục hữu Diêm-phù thế giới, thị trung hữu Phật hiệu Nhật Tạng Như Lai. Phục hữu thế giới danh Lạc Tự Tại, thị trung hữu Phật hiệu Lạc Tự Tại Âm Quang Minh Như Lai. Phục hữu thế giới danh viết An Lạc, thị trung hữu Phật hiệu Trí Nhật Như Lai. Phục hữu thế giới danh Thắng Công Đức, thị trung hữu Phật hiệu Long Tự Tại Như Lai. Phục hữu thế giới danh Thiện Tướng, thị trung hữu Phật hiệu Kim Cang Xưng Như Lai. Phục hữu thế giới danh Giang Hải Vương, thị trung hữu Phật hiệu Quang Minh Như Lai. Phục hữu thế giới danh Bất Ái Nhạo, thị trung hữu Phật hiệu Nhật Tạng Như Lai. Phục hữu thế giới danh Ly Cấu Quang Minh, thị trung hữu Phật hiệu Tự Tại Xưng Như Lai. Phục hữu thế giới danh Sơn Quang Minh, thị trung hữu Phật hiệu Bất Khả Tư Nghị Vương Như Lai. Phục hữu thế giới danh Tụ Tập, thị trung hữu Phật hiệu Đại Công Đức Tạng Như Lai. Phục hữu thế giới danh Hoa Quang Minh, thị trung hữu Phật hiệu Quang Minh Âm Tướng Như Lai. Phục hữu thế giới danh An Hồ Sí Thạnh, thị trung hữu Phật hiệu An Hồ Tự Tại Kiến Sơn Vương Như Lai. Phục hữu thế giới danh thiện địa, thị trung hữu Phật hiệu Tri Tượng Như Lai. Phục hữu thế giới danh viết Hoa Cái, thị trung hữu Phật hiệu Nhãn Tịnh Vô Cấu Như Lai.

Thiện nam tử! Như thị đông phương vô lượng vô biên a-tăng-kỳ đẳng hiện tại chư Phật, vị chư chúng sanh chuyển chánh pháp luân giả, vị phát vô thượng Bồ-đề tâm thời, ngã sơ khuyến kỳ linh phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm, hựu phục dẫn đạo tương chí thập phương tại tại xứ xứ Phật Thế Tôn sở. Tùy sở chí xứ, tu hành an chỉ Đàn ba-la- mật nãi chí Bát-nhã ba-la-mật, tiện đắc thọ A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề ký.

Nhĩ thời đông phương Thiện Hoa thế giới Vô Cấu Công Đức Quang Minh Vương Phật, sư tử chi tòa cập kỳ đại địa lục chủng chấn động, hữu đại quang minh vũ ư chủng chủng diệu bảo liên hoa. Bỉ chư Bồ Tát kiến thị sự dĩ, tâm sanh kinh nghi quái vị tằng hữu, tức bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Hà nhân duyên cố, Như Lai chi tòa như thị chấn động? Ngã đẳng tích lai vị tằng kiến thị.”

Kỳ Phật tức cáo chư Bồ Tát ngôn: “Thiện nam tử! Tây phương khứ thử bát thập cửu ức chư Phật thế giới, bỉ hữu quốc độ danh viết Ta-bà, thị trung hữu Phật hiệu Thích-ca Mâu-ni Như Lai, kim hiện tại vị tứ bộ chúng thuyết bổn duyên pháp. Bỉ Phật Thế Tôn vi Bồ Tát thời, sơ khuyến hóa ngã phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm, phục dẫn đạo ngã chí chư Phật sở, sơ linh ngã hành Đàn ba-la- mật nãi chí Bát-nhã ba-la-mật. Ngã ư nhĩ thời tùy sở chí xứ, tức đắc sơ thọ A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề ký. Bỉ Phật Thế Tôn Thích-ca Mâu-ni tức thị ngã chi chân thiện tri thức. Kim tại tây phương xử tại đại chúng, vị chư tứ bộ thuyết bổn duyên kinh. Thị bỉ Như Lai thần túc lực cố, linh ngã sở tọa sư tử tòa động. Thiện nam tử! Nhữ đẳng kim giả thùy năng chí bỉ Ta-bà thế giới, vấn tấn bỉ Phật khởi cư khinh lợi?

Thời chư Bồ Tát các bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Thử Thiện Hoa thế giới chư Bồ Tát đẳng giai đắc thần thông, ư chư Bồ Tát công đức tự tại. Kim nhật thanh đán kiến thị đại quang. Kỳ quang tất tùng chư Phật thế giới lai chí ư thử. Đại địa tức thời lục chủng chấn động, vũ chủng chủng hoa. Kiến thị sự dĩ, hữu vô lượng bá thiên vạn ức chư Bồ Tát đẳng, dục dĩ thần lực vãng Ta-bà thế giới, kiến Thích- ca Mâu-ni Phật, cúng dường cung kính tôn trọng tán thán, tinh dục tư thọ Giải liễu nhất thiết đà-la-ni môn. Nhiên các bất tri Ta-bà thế giới Thích-ca Mâu-ni sở tại phương diện?”

Bỉ Phật tầm thân kim sắc hữu tý, ư ngũ chỉ đầu phóng ư chủng chủng vi diệu quang minh. Kỳ quang tức chiếu bát thập cửu ức chư Phật quốc độ chí Ta-bà thế giới. Thời chư Bồ Tát nhân quang đắc kiến Ta-bà thế giới hữu chư Bồ Tát ma-ha-tát đẳng sung mãn tắc tắc, phục hữu chư thiên, long, thần, càn-thát-bà, a-tu-la,  ca-lâu-la,  khẩn-na-la,  ma-hầu- la-già đẳng mãn hư không trung.

Kiến thị sự dĩ bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Ngã kim dĩ đắc kiến bỉ thế giới, tri kỳ phương diện tinh kiến Bồ Tát chư thiên đại chúng di mãn kỳ độ gian vô không xứ. Thích-ca Như Lai phục quan ngã đẳng thuyết vi diệu pháp.”

Bỉ Phật cáo chư Bồ Tát đại sĩ: “Thiện nam tử! Thích- ca Như Lai hằng dĩ thanh tịnh vô thượng Phật nhãn, biến quan nhất thiết vô bất kiến giả. Thiện nam tử! Ta-bà thế giới sở hữu chúng sanh tại địa xứ không, nhất thiết giai ngôn: “Thích-ca Như Lai độc quán ngã tâm vị ngã thuyết pháp.”

Thiện nam tử! Bỉ Thích-ca Như Lai dĩ nhất âm thanh, vị chư chủng chủng dị loại thuyết pháp, chúng sanh các các tùy loại đắc giải. Bất dĩ dị âm vị đa nhân thuyết. Bỉ độ chúng sanh, hoặc sự Phạm thiên kiến Như Lai thân vi Phạm thiên tượng nhi đắc văn pháp. Nhược sự ma thiên, thích thiên, nhật nguyệt Tỳ-sa-môn thiên, Tỳ-lâu-lặc, Tỳ- lâu-bác-xoa, Đề-đầu-lại-trá, Ma-hê-thủ-la,  như  thị  chủng loại bát vạn tứ thiên, tùy kỳ sở sự các kiến kỳ tượng nhi đắc văn pháp, sanh độc vị tưởng.

Thị thời hội trung hữu nhị Bồ Tát, nhất danh La-hầu- điện, nhị danh Hỏa Quang Minh. Nhĩ thời Vô Cấu Công Đức Quang Minh Vương Phật cáo nhị Bồ Tát: “Thiện nam tử! Nhữ kim khả vãng Ta-bà thế giới. Nhữ trì ngã thanh vấn tấn Thích-ca Mâu-ni Thế Tôn, khởi cư khinh lợi, khí lực an phủ?”

Thời nhị Bồ Tát tức bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Ngã kiến bỉ Phật nhất thiết thế giới, đại chúng vân tập, tại địa xử không sung mãn tắc tắc, kỳ gian vô hữu không khuyết chi xứ. Nhược ngã đẳng vãng đương trụ hà xứ?”

Thời Phật cáo ngôn: “Chư thiện nam tử! Mạc tác thị ngữ, ngôn bỉ thế giới vô chỉ trụ xứ. Sở dĩ giả hà? Bỉ sở trụ xứ khoan bác vô biên. Bỉ Phật sở hữu vô lượng công đức bất khả tư nghị. Dĩ bổn nguyện cố, bi tâm quảng đại nãi linh vô lượng chư chúng sanh loại nhập ư Phật pháp, thọ Tam quy y, nhiên hậu vị thuyết tam thừa chi pháp. Phục thuyết tam giới thị tam thoát môn, phục bạt vô lượng vô biên chúng sanh ư tam ác đạo, an chỉ linh trụ tam thiện đạo trung.

Thiện nam tử! Hựu nhất thời trung Thích-ca Như Lai thành vô thượng đạo, vị cửu chi gian vị dục điều phục chư chúng sanh cố, tại Tỳ-đà sơn Nhân-bà-la quật, thất nhật thất dạ kết già phu tọa, tam-muội chánh thọ nhập giải thoát lạc. Phật thân nhĩ thời biến mãn thị quật gian, vô không xứ nãi chí tứ thốn. Quá thất nhật dĩ, thập phương thế giới hữu thập nhị na-do-tha Bồ Tát ma-ha-tát, chí Ta-bà thế giới trụ kỳ sơn biên, dục kiến Thích-ca Mâu-ni Như Lai cúng dường cung kính tôn trọng tán thán, khải thọ diệu pháp.

Thiện nam tử! Nhĩ thời Như Lai ư sở trụ xứ, dĩ đại thần túc, linh kỳ quật xá khoan bác vô lượng, tất đắc dung thọ thập nhị na-do-tha Bồ Tát ma-ha-tát. Chư Bồ Tát đẳng ký đắc nhập dĩ, kiến kỳ quật xá quảng bác nghiêm sự. Hữu chư Bồ Tát, dĩ sư tử du hý tự tại thần túc cúng dường ư Phật, nhất nhất Bồ Tát ư hóa bảo tòa nhi tọa thính pháp.

Thiện nam tử! Bỉ Phật thần lực kỳ sự như thị. Thị chư Bồ Tát đắc văn pháp dĩ, tầm tùng tòa khởi đầu diện lễ Phật, hữu nhiễu tam táp, các các hoàn quy bổn Phật thế giới, kỳ khứ vị cửu quật hoàn như cố.

Bỉ tứ thiên hạ đệ nhị thiên  chủ  Thích-đề-hoàn-nhân danh Kiều-thi-ca, kỳ mạng tương chung tất định đương đọa súc sanh đạo trung. Dĩ thị sự cố tâm sanh khủng cụ, dữ bát vạn tứ thiên chư Đao-lợi thiên câu cộng lai há, nghệ Nhân- bà-la quật dục kiến Như Lai.

Thời hữu dạ-xoa danh viết Vương Nhãn, tức kỳ quật thần tại ngoại nhi trụ. Nhĩ thời Đế-thích dĩ Phật lực cố, tác thị tư duy: “Kim ngã đương sử càn-thát-bà tử Bát-già-tuần tiên chí Phật sở, dĩ diệu âm thanh tán vịnh Như Lai, đương linh Thế Tôn tùng tam-muội khởi.”

Thiện nam tử! Thích đề hoàn nhân tư duy thị dĩ, tức linh càn-thát-bà tử Bát-già-tuần đàn lưu ly cầm dĩ vi diệu âm, kỳ âm biệt dị hữu ngũ bá chủng dĩ tán Như Lai.

Thiện nam tử! Thị Bát-già-tuần đương tán Phật thời. Nhĩ thời Như Lai tức phục chuyển nhập tướng tam-muội trung. Dĩ tam-muội lực cố, ư thử thế giới tác đại thần lực, linh chư dạ-xoa, la-sát, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, Dục,  Sắc  giới  thiên  tất  lai  tụ tập kỳ trung. Nhược hữu hý văn diệu âm, tùy ý đắc văn, tâm đại hoan hỷ. Hoặc hữu hý văn tán thán Phật giả, văn tán thán dĩ tâm sanh hoan hỷ, ư Như Lai sở chuyển sanh tôn trọng cung kính chi tâm. Hoặc hữu chúng sanh hý văn nhạc âm, tức đắc văn chi văn dĩ hoan hỷ.

Nhĩ thời Thích-ca Mâu-ni Như Lai tầm tùng định khởi thị chư đại chúng Nhân-bà-la quật môn,  Thích-đề-hoàn- nhân tầm chí Phật sở, đầu diện lễ túc khước trụ nhất diện, bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Ngã ư kim giả đương tọa hà xứ?”

Thời Phật báo viết: “Kiêu thi ca! Nhữ chi quyến thuộc đãn nhập tụ tập. Ngã kim đương thác  thử Nhân-bà-la quật linh cực khoan bác, tất sử dung thọ thử thập nhị hằng hà sa đẳng đại chúng quyến thuộc giai linh đắc tọa.”

Nhĩ thời Thích-ca Mâu-ni Như Lai ư đại chúng trung, dĩ nhất diệu âm phu diễn chánh pháp, linh bát vạn tứ thiên chư căn chúng sanh tùy sở nhạo văn. Chúng trung hoặc hữu học Thanh văn giả văn Thanh văn pháp, tức hữu cửu thập cửu ức chúng sanh đắc Tu-đà-hoàn quả. Nhược hữu tu học Duyên giác thừa giả, tức tiện đắc văn Duyên giác chi pháp. Nhược hữu tu học Đại thừa pháp giả thuần văn Đại thừa.

Càn-thát-bà tử Bát-già-tuần đẳng thượng thủ chi chúng thập bát na-do-tha, đắc bất thối chuyển ư A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Vị phát tâm giả hoặc phát vô thượng Bồ-đề chi tâm, hoặc phát Duyên giác hoặc phát Thanh văn.

Nhĩ thời Thích-đề-hoàn-nhân khủng bố  tức  trừ,  tăng thọ thiên tuế, đắc Tu-đà-hoàn quả.

Thiện nam tử! Thích-ca Như Lai dĩ thần lực cố, năng tác như thị quảng bác vô biên. Thuyết pháp âm thanh diệc phục như thị. Diệc vô nhất nhân năng tầm bỉ Phật âm thanh tề hạn.

Bỉ Phật phương tiện vô lượng vô biên, sở hóa chúng sanh vô hữu năng tri như thị phương tiện.

Thiện nam tử! Bỉ Phật sắc thân diệc vô lượng vô biên, vô hữu nhân năng đắc kỳ thân lượng, kiến kỳ đỉnh giả.

Thiện nam tử! Như thị đại chúng nhược dục đắc nhập bỉ Phật phúc trung, tất diệc dung thọ. Ký nhập phúc dĩ, phục hữu dục đắc kỳ phúc biên giả, vô hữu thị xứ. Nhiên Như Lai phúc diệc bất tăng giảm.

Nhược chúng sanh loại giai cộng hồ hợp dục vãng lai giả, ư nhất mao trung tất vô quái ngại, nãi chí thiên nhãn diệc vô năng đắc nhất mao khổng biên. Nhiên kỳ mao khổng diệc bất tăng bất giảm.

Bỉ Phật Thế Tôn kỳ thân như thị vô lượng vô biên. Thiện nam tử! Bỉ Phật thế giới diệc vô lượng vô biên.

Thiện nam tử! Giả sử thập phương như nhất hằng hà sa đẳng thế giới, sở hữu chúng sanh nhập bỉ thế giới diệc đắc dung thọ. Hà dĩ cố? Bỉ Phật sơ phát Bồ-đề tâm thời, sở tác thệ nguyện vô lượng vô biên.

Thiện nam tử! Trí thị nhất hằng hà sa đẳng thế giới chúng sanh, nãi chí thập phương thiên hằng hà sa đẳng thế giới chúng sanh, nhập bỉ thế giới diệc đắc dung thọ. Như kỳ bổn tướng bất tăng bất giảm.

Thiện nam tử! Thích-ca Như Lai sơ phát vô thượng Bồ- đề tâm thời, dục đắc cụ túc nhất thiết trí cố phát đại thệ nguyện. Thị cố kim giả sở đắc thế giới vô lượng vô biên.

Thiện nam tử! Thích-ca Mâu-ni dĩ thị tứ pháp, chư Phật Thế Tôn sở bất năng cập.

Thiện nam tử! Nhữ kim trì thử Nguyệt quang minh vô cấu tịnh hoa, vãng ư tây phương như mục sở kiến Ta-bà thế giới, tinh trì ngã thanh vấn tấn bỉ Phật khởi cư khinh lợi, khí lực an phủ?

Nhĩ thời Vô Cấu Công Đức Quang Minh Vương Phật, thủ Nguyệt quang minh vô cấu tịnh hoa, dữ nhị Bồ Tát nhi cáo chi viết: “Nhữ kim thừa ngã đại thần thông lực vãng bỉ thế giới.”

Nhĩ thời hội trung hữu nhị vạn Bồ Tát bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Như thị như thị! Ngã đẳng kim đương thừa Phật thần lực vãng bỉ thế giới kiến Thích-ca Như Lai, cúng dường cung kính tôn trọng tán thán.”

Bỉ Phật cáo viết: “Thiện nam tử! Nhữ đẳng nghi tri thị thời.”

Thời nhị Bồ Tát dữ nhị vạn đại sĩ thừa Phật thần lực, phát Thiện Hoa giới  nhất  niệm  chi  khoảnh,  hốt  nhiên lai đáo Ta-bà thế giới Kỳ-xà-quật sơn, tại Như Lai tiền trường quỵ xoa thủ tiền bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Đông phương khứ thử bát thập cửu ức Phật chi thế giới, bỉ hữu thế giới danh viết Thiện Hoa, thị trung hữu Phật hiệu Vô Cấu Công Đức Quang Minh Vương Phật, kim hiện tại dữ chư Bồ Tát ma-ha-tát đẳng đại chúng vi nhiễu, tán thán Thế Tôn vô lượng công đức, tác như thị ngôn: “Ta-bà thế giới hữu Thích-ca Mâu-ni Như Lai, kim hiện tại vị chư đại chúng chuyển chánh pháp luân, bỉ Phật Thế Tôn vi Bồ Tát thời, sơ khuyến hóa ngã phát Bồ-đề tâm, dĩ thị nhân duyên ngã ư nhĩ thời tầm đắc phát ư vô thượng đạo tâm, ngã phát tâm dĩ phục khuyến tu tập lục ba-la-mật, nãi chí Như Lai dĩ thị tứ pháp, chư Phật Thế Tôn sở bất năng cập. Thị cố bỉ Phật dĩ thử nguyệt quang minh vô cấu tịnh hoa, cúng dường Thế Tôn, vấn tấn Như Lai khởi cư khinh lợi, khí lực an phủ?

Thiện nam tử! Đông phương Diệu Lạc thế giới A-súc Như Lai, sở tọa chi xứ sư tử chi tòa diệc lục chủng động, diệc hữu vô lượng chư đại Bồ Tát kiến thị sự dĩ bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Hà nhân duyên cố, Như Lai sở tọa sư tử tòa xứ, như thị chấn động…” Như thượng sở thuyết. Nhất thiết đông phương diệc phục như thị.

Nhĩ thời đông phương vô lượng vô biên a-tăng-kỳ đẳng chư đại Bồ Tát, giai lai đáo thử Ta-bà thế giới, tất trì nguyệt quang minh vô cấu tịnh hoa, kiến Phật cúng dường cung kính tôn trọng tán thán.

Thiện nam tử! Như thị đông phương vô lượng chư Phật, giai khiển chư Bồ Tát xưng tán ư ngã.

Thiện nam tử! Ngã kim kiến thử nam phương khứ thử thế giới, quá nhất hằng hà sa đẳng chư Phật quốc độ, bỉ hữu thế giới danh Ly Chư Ưu, thị trung hữu Phật hiệu Vô Ưu Công Đức Như Lai, kim hiện tại thuyết pháp. Phục hữu thế giới danh Diêm-phù Quang Minh, thị trung hữu Phật hiệu Pháp Tự Tại Sư Tử Du Hý Như Lai. Phục hữu thế giới danh an Tu-di, thị trung hữu Phật hiệu Đạo Tự Tại Sa La Vương Như Lai. Phục hữu thế giới danh Công Đức Lâu Vương, thị trung hữu Phật hiệu Sư Tử Hống Vương Như Lai. Phục hữu thế giới danh Trân Bảo Trang Nghiêm, thị trung hữu Phật hiệu Bát Tý Thắng Lôi Như Lai. Phục hữu thế giới danh Chân Châu Quang Minh Biến Chiếu, thị trung hữu Phật hiệu Trân Bảo Tạng Công Đức Hống

Như Lai. Phục hữu thế giới danh Thiên Nguyệt, thị trung hữu Phật hiệu Hỏa Tạng Như Lai. Phục hữu thế giới danh Chiên-đàn-căn, thị trung hữu Phật hiệu Tinh Tú Xưng Như Lai. Phục hữu thế giới danh viết Xưng Hương, thị trung hữu Phật hiệu Công Đức Lực Sa La Vương Như Lai. Phục hữu thế giới danh viết Thiện Thích, thị trung hữu Phật hiệu Diệu Âm Tự Tại Như Lai. Phục hữu thế giới danh Đầu Lan Nhã, thị trung hữu Phật hiệu Sa-la Thắng Tỳ-bà Vương Như Lai. Phục hữu thế giới Danh Nguyệt Tự Tại, thị trung hữu Phật hiệu Quang Minh Tự Tại Như Lai. Phục hữu thế giới danh Thiện Lôi Âm, thị trung hữu Phật hiệu Diệu Aâm Tự Tại Như Lai. Phục hữu thế giới danh Bảo Hồ Hợp, thị trung hữu Phật hiệu Bảo Chưởng Long Vương Như Lai. Phục hữu thế giới danh Thùy Bảo Thọ, thị trung hữu Phật hiệu Lôi Âm Tự Tại Pháp Nguyệt Quang Minh Như Lai.

Như thị nam phương vô lượng vô biên a-tăng-kỳ đẳng hiện tại chư Phật, tất thị ngã tích vi Bồ Tát thời sơ khả khuyến phát Bồ-đề tâm giả. Thị chư Thế Tôn sư tử tòa xứ diệc giai chấn động. Bỉ chư Phật đẳng diệc các tán thán ngã chi công đức, diệc khiển vô lượng vô biên a-tăng-kỳ đẳng chư đại Bồ Tát, trì nguyệt quang minh vô cấu tịnh hoa, tất lai chí thử Ta-bà thế giới Kỳ-xà-quật sơn, kiến Phật lễ bái cúng dường cung kính tôn trọng tán thán, khước tọa nhất diện, thứ đệ thính pháp.

Thiện nam tử! Ngã kim phục kiến tây phương khứ thử thất vạn thất thiên bá thiên do-tuần Phật chi thế giới, bỉ hữu thế giới danh Tịch Tĩnh, thị trung hữu Phật hiệu viết

Bảo Sơn, kim hiện tại vị chư tứ chúng thuyết vi diệu pháp.

Phục hữu Thắng Quang Vô Ưu Phật, Âm Trí Tạng Phật, Xưng Quảng Phật, Biến Tạng  PhậtPhạm  Hoa  PhậtThế Tấn Phật, Pháp Đăng Dũng PhậtThắng  Âm  Sơn  Phật, Xưng Âm Vương Phật, Phạm Âm Vương Phật. Như thị tây phương vô lượng vô biên a-tăng-kỳ đẳng chư Phật Thế Tôn, diệc thị ngã tích vi Bồ Tát thời sơ khả khuyến phát Bồ-đề tâm giả. Thị chư Thế Tôn sư tử chi tòa diệc giai chấn động. Bỉ chư Phật đẳng diệc các tán thán ngã chi công đức, diệc khiển vô lượng vô biên a-tăng-kỳ đẳng chư đại Bồ Tát, trì nguyệt quang minh vô cấu bảo hoa, tất lai chí thử Ta-bà thế giới Kỳ-xà-quật sơn, kiến Phật lễ bái cúng dường cung kính tôn trọng tán thán, khước tọa nhất diện, thứ đệ thính pháp.

Bắc phương khứ thử bá thiên na-do-tha Phật thế giới, bỉ hữu thế giới danh Vô Cấu, thị trung hữu Phật hiệu Ly Nhiệt Não Tăng Tỳ-sa-môn Sa-la vương Như Lai. Hữu nhị Bồ Tát, nhất danh Bảo Sơn, nhị danh Quang Minh Quán.

Phục hữu Hoại Chư Ma Phật, Sa-la Vương Phật, Đại Lực Quang Minh Phật, Liên Hoa Tăng Phật, Chiên-đàn Phật, Di-lâu Vương Phật, Kiên Trầm Thủy Phật, Hỏa Trí Đại Lực Phật. Như thị vô lượng chư Phật Như Lai.

Nãi chí tây bắc phương, tứ duy thượng hạ giai diệc như thị.

Nhĩ thời Thích-ca Mâu-ni Như Lai dĩ đại thần lực vị dục dung thọ như thị chúng cố, tức nhất nhất biến lai hội giả thân, cực linh vi tế như đình lịch tử. Ta-bà thế giới hư không cập địa, di mãn tắc tắc gian vô không xứ nãi chí nhất mao.

Thời chư chúng sanh các bất tương kiến, diệc phục bất kiến đại tiểu chư sơn Tu-di sơn vương, đại tiểu Thiết vi nhị vi chi trung gian u minh chi xứ, cập thượng chư thiên sở hữu cung điện, hạ chí bất kiến kim cang địa tế, duy trừ nhất nhân Phật Thế Tôn dã.

Nhĩ thời Thích-ca Mâu-ni Như Lai phục nhập Biến hư không đoạn trừ chư pháp định ý tam-muội, linh thử vô lượng nguyệt quang tịnh hoa tất nhập nhất thiết thân chư mao khổng. Nhất thiết đại chúng tất giai tự kiến.

Nhĩ thời chúng sanh đô bất ức niệm Phật sắc thân tướng duy kiến mao khổng hữu diệu viên quan. Kỳ viên quan trung hữu chư bảo thọ. Kỳ thọ phục hữu chủng chủng hành diệp, hoa quả mậu thạnh. Chủng chủng bảo y thiên phan tràng cái, thiên quán bảo sức, chân châu anh lạc sở hữu trang nghiêm, thí như Tây phương An Lạc thế giới. Thị chư đại chúng kiến thị sự dĩ, phục tác tư duy: “Kim ngã đương vãng du quán bỉ viên.”

Nhĩ thời duy trừ tam ác chúng sanh cập vô sắc thiên, kỳ dư sở hữu nhất thiết đại chúng giai tùng mao khổng nhập Như Lai thân xứ viên nhi tọa.

Nhĩ thời Như Lai hoàn xả thần túc, thời chư đại chúng các các hoàn đắc như bổn tương kiến, các tương vị ngôn: “Như Lai kim giả vi tại hà xứ?”

Nhĩ thời Di-lặc Bồ Tát cáo chư đại chúng: “Nhữ đẳng đương tri! Ngã kim dữ nhữ đẳng tất tại Như Lai thân phần chi trung.

Nhĩ thời đại chúng tức kiến Như Lai thân chi nội ngoại, tầm tự giác tri dữ vô lượng đại chúng tập tụ, cộng xử Như Lai thân trung, phục tương vị ngôn: “Ngã đẳng vi tùng hà xứ đắc nhập? Thùy tương đạo ngã linh nhập thị trung?”

Di-lặc Bồ Tát phục cáo chi viết: “Đế thính đế thính! Như Lai kim giả hiện đại thần thông biến hóa chi lực, phục vị lợi ích ngã đẳng đại chúng tương dục thuyết pháp. Nhân đẳng kim đương nhất tâm chuyên niệm.”

Nhĩ thời đại chúng văn thị ngữ dĩ, trường quỵ hợp chưởng thọ giáo nhi thính.

Nhĩ thời Thế Tôn dĩ nhất thiết hạnh môn nhi diễn thuyết pháp.

Hà đẳng danh vi nhất thiết hạnh môn? Xuất sanh tử ứ nê, nhập bát thánh đạo. Cụ túc thành tựu đắc nhất thiết trí.

Thiện nam tử! Hữu thập chuyên tâm phát ư bồ đề năng nhập thị môn. Hà đẳng vi thập?

Nhất giả dục linh chúng sanh tất đắc giải thoát, hồi hướng tùy hỷ cố.

Nhị giả phát đại bi tâm nhiếp chúng sanh cố.

Tam giả dục độ vị độ, tinh cần tu trị vô thượng pháp thuyền cố.

Tứ giả dục giải vị giải giả trang nghiêm, quán thoát ư hư vọng điên đảo cố.

Ngũ giả dục sư tử hống vô sở bố uý trang nghiêm, quán ư chư pháp tánh vô ngã cố.

Lục giả dục tùy sở đáo nhất thiết thế giới tâm vô phân biệt, thiện học chư pháp đồng thập dụ cố.

Thất giả dục đắc quang minh trang nghiêm thế giới, tu trị giới tụ linh thanh tịnh cố.

Bát giả thành tựu trang nghiêm Như Lai thập lực, cụ túc nhất thiết ba-la-mật cố.

Cửu giả thành tựu trang nghiêm tứ vô sở uý, như thuyết nhi tác cố.

Thập giả trang nghiêm thập bát bất cộng chi pháp, tùy sở văn pháp tất đắc vô dư, bất phóng dật cố.

Thị danh thập pháp chuyên tâm phát ư vô thượng Bồ- đề, tắc năng nhập thị nhất thiết hạnh môn, tức đắc bất thối vô thượng Bồ-đề, vô tướng hạnh môn, trí đạo hạnh môn, nhất thiết pháp vô ngã, tâm vô tư duy, bất sanh bất diệt. Thị danh Bồ Tát bất thối chuyển địa. Dĩ thị cố phi thối, phi bất thối, phi đoạn, phi thường, phi định, phi loạn.

Thuyết thị pháp thời, Như Lai phúc nội bát thập ức hằng hà sa đẳng Bồ Tát ma-ha-tát, đắc bất thối chuyển ư A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, bất khả sổ Bồ Tát ma-ha-tát đắc chư tam-muội thậm thâm pháp nhẫn, tất tùng Như Lai thân mao khổng xuất, tâm đại kinh quái thán vị tằng hữu, tức ư Phật tiền đầu diện trước địa vị Phật tác lễ. Khởi dĩ hốt nhiên các hoàn thập phương bổn Phật thế giới, phục văn Thích-ca Mâu-ni Như Lai sở diễn âm thanh, quá thập phương vô lượng vô biên a-tăng-kỳ đẳng chư Phật thế giới, vô chư chướng ngại.

Thị chư Bồ Tát tuy hoàn bỉ giới, tục văn Như Lai sở diễn âm giáo, chương cú nghĩa vị vô sở giảm thiểu, như tại Phật tiền cận thính vô dị. Thân diệc như thị biến chư thập phương vô lượng thế giới. Diệc hữu vô lượng vô biên a-tăng- kỳ Bồ Tát Thanh văn diệc kiến mao khổng xuất nhập vô ngại. Như thị đệ nhị nãi chí nhất thiết nhất nhất mao khổng xuất nhập vô ngại. Thập phương thế giới diệc như thị.

Nhĩ thời đại chúng tùng Thích-ca Như Lai mao khổng trung xuất, đầu diện lễ Phật hữu nhiễu tam táp trụ ư Phật tiền, dĩ chủng chủng âm nghĩa nhi tán thán Phật.

Nhĩ thời Dục giới, Sắc giới chư thiên, vũ chủng chủng hoa, đồ hương, mạt hương, tràng phan, anh lạc, vi diệu kỹ nhạc cúng dường Như Lai.

Nhĩ thời hội trung hữu nhất Bồ Tát danh Vô Uý Đẳng Địa, trường quỵ xoa thủ tiền bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Như thị đại kinh đương danh hà đẳng? Vân hà phụng trì?”

Phật cáo Vô Uý Đẳng Địa Bồ Tát: “Thị kinh đương danh

Giải liễu nhất thiết đà-la-ni môn; diệc danh Vô Lượng Phật; diệc danh Đại chúng, diệc danh Thọ Bồ Tát ký; diệc danh Tứ vô sở uý xuất hiện ư thế; diệc danh Nhất thiết chư tam- muội môn; diệc danh Thị hiện chư Phật thế giới; diệc danh Do như đại hải; diệc danh Vô lượng, diệc danh Đại bi liên hoa.”

Vô Uý Đẳng Địa Bồ Tát ma-ha-tát phục bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân thọ trì thị kinh độc tụng thông lợi, vị tha nhân thuyết nãi chí nhất kệ đắc kỷ sở phước?”

Phật cáo Vô Uý Đẳng Địa Bồ Tát: “Ngã dĩ tiên thuyết sở đắc phước đức, kim đương vị nhữ cánh lược thuyết chi. Thiện nam tử, thiện nữ nhân, nhược hữu thọ trì thị kinh, độc tụng thông lợi, vị tha nhân thuyết nãi chí nhất kệ, ư hậu ngũ thập tuế trung, nãi chí hữu năng thư tả nhất kệ, sở đắc công đức thắng chư Bồ Tát thập đại kiếp trung hành lục ba-la-mật.

Hà dĩ cố? Chư thiên ma, phạm, sa-môn, bà-la-môn, dạ- xoala-sát,  long,  càn-thát-bàa-tu-laca-lâu-lakhẩn-na- la, ma-hầu-la-già, câu-biện-đồ, ngạ  quỷ,  tỳ-xá-già,  nhân cập phi nhân hữu sân khuể tâm giả, văn thị kinh dĩ tức đắc thanh tịnh, nhu nhuyễn, hoan hỷ, diệc ly chư bệnh, phẫn nộ, oán tặc, chủng chủng đấu tránh, tiêu diệt nhất thiết bạo phong ác vũ, bệnh giả đắc dũ, cơ khát giả đắc bão mãn, thọ chư khối lạc, hồ hợp tương thuận. Sân khuể chi giả năng linh nhẫn nhục. Bố uý giả vô sở uý bố, thọ chư hoan lạc. Hữu phiền não giả linh ly phiền não. Năng linh thiện căn nhất thiết tăng trưởng, năng bạt ác đạo sở hữu chúng sanh. Năng thị tam thừa xuất yếu chi lộ, năng đắc thậm thâm pháp nhẫn tam-muội đà-la-ni môn. Năng dữ chúng sanh tác đại lợi ích. Năng tọa đạo tràng kim cang chi tòa, năng phá tứ ma. Năng thị nhất thiết trợ Bồ-đề pháp. Năng chuyển pháp luân. Vô thánh tài giả năng linh cụ túc. Năng linh vô lượng vô biên chúng sanh nhập vô uý thành.

Dĩ thị nhân duyên, năng trì thử kinh, độc tụng thông lợi, vị tha nhân thuyết nãi chí nhất kệ, nhược hậu mạt thế ngũ thập tuế trung nãi chí hữu năng thư tả nhất kệ, đắc như thị đẳng vô lượng vô biên phước đức chi tụ. Thị cố ngã kim thuyết như thị kinh.

Như thị đại kinh đương phó chúc thùy? Thùy năng ư hậu ngũ thập tuế trung hộ trì thị pháp? Thùy năng dữ chư tại tại xứ xứ bất thối Bồ Tát tuyên thuyết linh văn? Thùy phục năng vị hành phi pháp dục, ác tham, tà kiến, bất tín thiện ác hữu quả báo giả diễn bố thị giáo?

Nhĩ thời đại chúng giai tri Phật tâm. Ư thời hữu nhất đại tiên dạ-xoa danh Vô oán Phí Túc tọa ư chúng trung. Nhĩ thời Di-lặc Bồ Tát ma-ha-tát tức tùng tòa khởi, tương thị dạ-xoa chí ư Phật sở.

Thị thời Như Lai cáo thị dạ-xoa đại tiên: “Nhữ kim đương thọ thị kinh, nãi chí mạt hậu ngũ thập tuế trung, vị bất thối Bồ Tát nãi chí bất tín thiện ác báo giả diễn bố thị giáo.”

Nhĩ thời dạ-xoa tức bạch Phật ngôn: “Ngã ư quá khứ bát thập tứ đại kiếp trung, dĩ bổn nguyện cố tác tiên dạ- xoa, tu hành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.  Nhĩ  thời giáo hóa vô lượng vô biên a-tăng-kỳ nhân, an chỉ ư tứ vô lượng tâm, phục linh vô lượng vô biên chúng sanh bất thối chuyển ư A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Thế Tôn! Ngã kim đương vị vị lai chi thế nhất thiết chúng sanh tác ủng hộ cố. Ư hậu mạt thế ngũ thập tuế trung thọ trì thị kinh, nãi chí tùng tha văn tứ cú kệ, yếu đương độc tụng tất linh thông lợi, lưu bố dữ nhân linh bất đoạn tuyệt.”

Phật thuyết thị kinh dĩ, Tịch Ý Bồ Tát, chư thiên đại chúng, càn-thát-bà đẳng, nhân cập phi nhân giai đại hoan hỷ, đầu diện tác lễ thối tọa nhi khứ.

The post KINH BI HOA – PHẨM THỨ NĂM – PHẦN II – PHÁP BỐ THÍ appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Kinh Bi Hoa – PHẨM THỨ NĂM – PHẦN I – PHÁP BỐ THÍ https://bachhac.net/kinh-bi-hoa-pham-thu-nam-phan-i-phap-bo-thi.html Wed, 15 Sep 2021 06:45:00 +0000 https://bachhac.net/?p=3984 Thiện nam tử! Lúc bấy giờ Bồ Tát Đại Bi cúi đầu sát đất lễ kính đức Như Lai Bảo Tạng. Kính lễ dưới chân Phật rồi, liền đứng trước Phật bạch rằng: ‘Bạch Thế Tôn! Trong kinh Phật có dạy các phép tam-muội và các pháp môn thanh tịnh hỗ trợ Bồ-đề, vậy hết …

The post Kinh Bi Hoa – PHẨM THỨ NĂM – PHẦN I – PHÁP BỐ THÍ appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Kinh Bi Hoa - PHẨM THỨ NĂM - PHẦN I - PHÁP BỐ THÍ

Thiện nam tử! Lúc bấy giờ Bồ Tát Đại Bi cúi đầu sát đất lễ kính đức Như Lai Bảo Tạng.

Kính lễ dưới chân Phật rồi, liền đứng trước Phật bạch rằng: ‘Bạch Thế Tôn! Trong kinh Phật có dạy các phép tam-muội và các pháp môn thanh tịnh hỗ trợ Bồ-đề, vậy hết thảy có bao nhiêu phép tam-muội và các pháp môn thanh tịnh hỗ trợ Bồ-đề? Thế nào là Bồ Tát dùng sự không sợ sệt để trang nghiêm, đầy đủ pháp nhẫn?’

“Thiện nam tử! Khi ấy, đức Phật Bảo Tạng khen ngợi Bồ Tát Đại Bi rằng: “Lành thay, lành thay! Này Đại Bi! Câu hỏi của ông thật lạ kỳ thay! Thật đặc biệt thay! Quả thật quý giá như trân bảo, có thể làm lợi ích lớn lao cho vô lượng vô biên các vị Bồ Tát.

“Vì sao vậy? Này Đại Bi! Ông có thể thưa hỏi Như Lai một điều lớn lao như thế! Này Đại Bi! Ông hãy lắng nghe, lắng nghe!

“Nếu có kẻ nam, người nữ nào phát tâm lành tu hành theo Đại thừa, có phép Tam-muội Thủ lăng nghiêm.  Khi nhập tam-muội này có thể nhập hết thảy các phép tam- muội.

“Có phép Tam-muội Bảo ấn, khi nhập tam-muội này có thể tương hợp với các phép tam-muội.

“Có phép Tam-muội Sư tử du hý, khi nhập tam-muội này, đối với các phép tam-muội có thể được tùy ý tự tại.

“Có phép Tam-muội Thiện nguyệt, khi nhập tam-muộinày có thể chiếu soi các phép tam-muội.

“Có phép Tam-muội Nguyệt tràng tướng, khi nhập tam- muội này có thể nắm giữ nghi vệ, phép tắc của các phép tam-muội.

“Có phép Tam-muội Xuất nhất thiết pháp tánh, khi nhập tam-muội này có thể ra khỏi hết thảy các phép tam-muội.

“Có phép Tam-muội Quán ấn, khi nhập tam-muội này có thể quán xét chỗ cùng tột của hết thảy các phép tam-muội.

“Có phép Tam-muội Ly pháp giới, khi nhập tam-muội này có thể phân biệt được các phép tam-muội.

“Có phép Tam-muội Ly tràng tướng, khi nhập tam-muội này có thể nắm giữ nghi vệ, phép tắc của hết thảy các phép tam-muội.

“Có phép Tam-muội Kim cang, khi nhập tam-muội này có thể khiến cho hết thảy các phép tam-muội đều không thể bị phá hoại.

“Có phép Tam-muội Chư pháp ấn, khi nhập tam-muội này có thể tương hợp với hết thảy các pháp.

“Có phép Tam-muội Vương thiện trụ, khi nhập tam-muội này đối với các phép tam-muội có thể trụ yên như vua.

“Có phép Tam-muội Phóng quang, khi nhập tam-muội này có thể phóng hào quang rực rỡ chiếu soi các phép tam- muội.

“Có phép Tam-muội Lực tấn, khi nhập tam-muội này đối với các phép tam-muội có thể tùy ý tăng tiến.

“Có phép Tam-muội Chánh xuất, khi nhập tam-muội này có thể chân chánh ra khỏi các phép tam-muội.

“Có phép Tam-muội Biện từ, khi nhập tam-muội này có thể hiểu rõ được hết ý nghĩa của vô lượng âm thanh.

“Có phép Tam-muội Ngữ ngôn, khi nhập tam-muội này có thể hòa nhập hết thảy các ngôn ngữ.

“Có phép Tam-muội Quán phương, khi nhập tam-muội này có thể quán xét khắp mọi khía cạnh của các phép tam- muội.

“Có phép Tam-muội Nhất thiết pháp, khi nhập tam-muội

này có thể trừ phá hết thảy các pháp.

“Có phép Tam-muội Trì ấn, khi nhập tam-muội này có thể nắm giữ mọi sự tương hợp với các phép tam-muội.

“Có phép Tam-muội Nhập nhất thiết pháp tịch tĩnh, khi nhập tam-muội này có thể khiến cho hết thảy các phép tam- muội đều đi vào cảnh giới tịch tĩnh.

“Có phép Tam-muội Bất thất, khi nhập tam-muội này có thể không quên mất hết thảy các phép tam-muội.

“Có phép Tam-muội Nhất thiết pháp bất động, khi nhập tam-muội này có thể khiến cho hết thảy các phép tam-muội đạt đến cảnh giới không động chuyển.

“Có phép Tam-muội Thân cận nhất thiết pháp hải ấn, khi nhập tam-muội này có thể thâu tóm, gần gũi hết thảy các phép tam-muội.

“Có phép Tam-muội Nhất thiết vô ngã, khi nhập  tam- muội này có thể khiến cho các phép tam-muội đạt đến cảnh giới không còn sinh diệt.

“Có phép Tam-muội Biến phú hư không, khi nhập tam- muội này có thể bao trùm hết thảy các phép tam-muội.

“Có phép Tam-muội Bất đoạn nhất thiết pháp, khi nhập tam-muội này có thể nắm giữ các phép tam-muội, không để dứt mất.

“Có phép Tam-muội Kim cang tràng, khi nhập tam-muội này có thể nắm vững được hết thảy các đạo tràng tam-muội.

“Có phép Tam-muội Nhất thiết pháp nhất vị, khi nhập tam-muội này có thể nắm rõ được hết thảy các pháp cùng chung một vị.

“Có phép Tam-muội Ly nhạo ái, khi nhập tam-muội này có thể lìa khỏi hết thảy các phiền não cũng như trợ duyên phiền não.

“Có phép Tam-muội Nhất thiết pháp vô sanh, khi nhập tam-muội này có thể nhìn thấy hết thảy các phép tam-muội đều không sinh không diệt.

“Có phép Tam-muội Quang minh, khi  nhập  tam-muội này có thể soi chiếu hết thảy các phép tam-muội khiến cho rực sáng.

“Có phép Tam-muội Bất diệt nhất thiết pháp, khi nhập tam-muội này có thể không còn phân biệt hết thảy các phép tam-muội.

“Có phép Tam-muội Bất cầu, khi nhập tam-muội này có thể không mong cầu hết thảy các pháp.

“Có phép Tam-muội Bất trụ, khi nhập tam-muội này có thể đối với các pháp không trụ nơi cảnh giới của pháp.

“Có phép Tam-muội Hư không ức tưởng, khi nhập tam- muội này có thể khiến cho các phép tam-muội đều là hư không, thấy được sự chân thật.

“Có phép Tam-muội Vô tâm, khi nhập tam-muội này có thể ở trong hết thảy các phép tam-muội diệt được các pháp tâm tâm sở.(1)

“Có phép Tam-muội Sắc vô biên, khi nhập tam-muội này có thể ở trong hết thảy các phép tam-muội được hào quang chiếu khắp cảnh giới Sắc vô biên.(2)

“Có phép Tam-muội Tịnh đăng, khi nhập tam-muội này có thể ở trong hết thảy các phép tam-muội thắp lên ngọn đèn chiếu sáng.

“Có phép Tam-muội Nhất thiết pháp vô biên, khi nhập tam-muội này đối với hết thảy các phép tam-muội đều có thể thị hiện trí huệ vô lượng.

“Có phép Tam-muội Điện vô biên, khi nhập tam-muội này đối với hết thảy các phép tam-muội đều có thể thị hiện trí huệ.

“Có phép Tam-muội Nhất thiết quang minh, khi nhập tam-muội này đối với các phép tam-muội có thể thị hiện hào quang tam-muội.

(1) Tâm tâm sở: Tất cả các pháp chia làm tâm pháp sắc pháp. Những gì có hình sắc đều thuộc về sắc pháp, những pháp vô hình liên quan đến tâm gọi là tâm pháp. Sắc pháp là đối tượng của tâm nên gọi là tâm sở, bản Hán văn thuộc lối Cựu dịch nên dùng tâm số, cũng cùng nghĩa này.

(2)Sắc vô biên: cảnh giới thiền định đạt đến chỗ quán chiếu sắc tướng là vô biên,không có giới hạn.

“Có phép Tam-muội Chư giới vô biên, khi nhập tam-muội này đối với các phép tam-muội có thể thị hiện trí huệ vô lượng vô biên.

“Có phép Tam-muội Bạch tịnh kiên cố, khi nhập tam- muội này có thể đối với các phép tam-muội đạt được cảnh giới Không định.(1)

“Có phép Tam-muội Tu-di sơn không, khi nhập tam-muội

này có thể đối với các phép tam-muội thị hiện được hư không.

“Có phép Tam-muội Vô cấu quang minh, khi nhập tam- muội này có thể đối với các phép tam-muội trừ được mọi sự dơ bẩn, cấu uế.

“Có phép Tam-muội Nhất thiết pháp trung vô uý, khi nhập tam-muội này có thể đối với các phép tam-muội thị hiện lòng không sợ sệt.

“Có phép Tam-muội Nhạo lạc, khi nhập tam-muội này đối với các phép tam-muội đều có thể đạt được sự vui thích.

“Có phép Tam-muội Nhất thiết pháp chánh du hý, khi nhập tam-muội này có thể đối với các phép tam-muội thị hiện không có hết thảy mọi sắc tướng.

“Có phép Tam-muội Phóng điện quang, khi nhập tam- muội này có thể đối với các phép tam-muội thị hiện phát ra ánh sáng.

“Có phép Tam-muội Nhất thiết pháp an chỉ vô cấu, khi nhập tam-muội này có thể đối với các phép tam-muội thị hiện trí huệ không nhiễm ô.

(1) Không định: cảnh giới thiền định mà hành giả quán xét thấy tất cả các pháp đều là không.

“Có phép Tam-muội Vô tận, khi nhập tam-muội này có thể đối với các phép tam-muội thị hiện không phải dứt mất, cũng không phải không dứt mất.

“Có phép Tam-muội Nhất thiết pháp bất khả tư nghị thanh tịnh, khi nhập tam-muội này có thể đối với các phép tam-muội thị hiện hết thảy đều như ảnh tượng trong gương soi, không thể nghĩ bàn.

“Có phép Tam-muội Hỏa quang, khi nhập tam-muội này có thể đối với các phép tam-muội khiến cho trí huệ tỏa sáng.

“Có phép Tam-muội Ly tận, khi nhập tam-muội này có thể đối với các phép tam-muội thị hiện không cùng tận.

“Có phép Tam-muội Bất động, khi nhập tam-muội này có thể đối với các pháp không lay động, không thọ nhận, không có sự khinh chê hay đùa cợt.

“Có phép Tam-muội Tăng ích, khi nhập tam-muội này có thể đối với các phép tam-muội thảy đều thấy được sự lợi ích, tăng trưởng.

“Có phép Tam-muội Nhật đăng, khi nhập tam-muội này đối với các phép tam-muội đạt được sự phát sáng rực rỡ.

“Có phép Tam-muội Nguyệt vô cấu, khi nhập tam-muội này có thể đối với các phép tam-muội tạo ra ánh sáng như mặt trăng.

“Có phép Tam-muội Bạch tịnh quang minh, khi nhập tam-muội này có thể đối với các phép tam-muội đạt được bốn phép biện tài.(1)

(1) Bốn phép biện tài (Tứ chủng biện), cũng tức là Tứ vô ngại biện hay Tứ vô ngại giải, là Bốn phép biện tài vô ngại của hàng Bồ Tát. Xem chú giải ở trang 102.

“Có phép Tam-muội Tác bất tác, khi nhập tam-muội này có thể đối với các phép tam-muội tạo tác hay không tạo tác cũng đều thị hiện tướng trí huệ.

“Có phép Tam-muội Kim cang, khi nhập tam-muội này có thể thông đạt hết thảy các pháp, cho đến không thấy có tất cả mọi chướng ngại nhiều như những hạt bụi nhỏ.

“Có phép Tam-muội Trụ tâm, khi nhập tam-muội này trong tâm không lay động, không thọ nhận mọi sự vui khổ, không thấy có ánh sáng, không có sự nóng giận, ngay trong tâm ấy cũng không thấy có những ý tưởng như vậy.

“Có phép Tam-muội Biến chiếu, khi nhập tam-muội này có thể đối với các phép tam-muội thấy được hết thảy đều sáng suốt.

“Có phép Tam-muội Thiện trụ, khi nhập tam-muội này có thể đối với các phép tam-muội đều khéo trụ yên.

“Có phép Tam-muội Bảo sơn, khi nhập tam-muội này có thể nhìn thấy các phép tam-muội đều như núi báu.

“Có phép Tam-muội Thắng pháp ấn, khi nhập tam-muội này có thể tương hợp với các phép tam-muội.

“Có phép Tam-muội Thuận pháp tánh, khi  nhập  tam- muội này nhìn thấy hết thảy các pháp đều có thể tùy thuận theo đó.

“Có phép Tam-muội Ly nhạo, khi nhập tam-muội này đối với hết thảy các pháp đều có thể lìa khỏi sự ưa thích đắm chấp.

“Có phép Tam-muội Pháp cự, khi nhập tam-muội này trừ được mọi sự tối tăm u ám của các pháp.

“Có phép Tam-muội Pháp vũ, khi nhập tam-muội này đối với các phép tam-muội có thể làm cơn mưa pháp, phá trừ mọi sự đắm chấp vào hình tướng.

“Có phép Tam-muội Đẳng ngôn ngữ, khi nhập tam-muội này có thể đối với các pháp đều được thấu suốt.

“Có phép Tam-muội Ly ngữ ngôn, khi  nhập  tam-muội này có thể đối với các pháp đạt đến cảnh giới không còn ngôn ngữ.

“Có phép Tam-muội Đoạn duyên, khi nhập tam-muội này dứt trừ được các pháp duyên.

“Có phép Tam-muội Bất tác, khi nhập tam-muội này đối với các pháp không còn thấy có người tạo tác.

“Có phép Tam-muội Tịnh tánh, khi nhập tam-muội này thấy được tự tánh của hết thảy các pháp đều thanh tịnh.

“Có phép Tam-muội Vô chướng ngại, khi nhập tam-muội này đối với các pháp không có chướng ngại.

“Có phép Tam-muội Ly võng, khi nhập tam-muội này thấy được tất cả các phép tam-muội, lìa khỏi sự phân biệt cao thấp.

“Có phép Tam-muội Tập tụ nhất thiết công đức, khi nhập tam-muội này lìa khỏi hết thảy mọi sự tụ tập các pháp.

“Có phép Tam-muội Chánh trụ, khi nhập tam-muội này ở trong các pháp không còn thấy có những pháp tâm và tâm sở.

“Có phép Tam-muội Giác, khi nhập tam-muội này liền có thể giác ngộ được hết thảy các pháp.

“Có phép Tam-muội Niệm phân biệt, khi nhập tam-muội

này đối với các pháp được biện tài vô lượng.

“Có phép Tam-muội Tịnh trí giác,  khi  nhập  tam-muội này đối với hết thảy các pháp được bình đẳng cũng chẳng phải bình đẳng.

“Có phép Tam-muội Trí tướng, khi nhập tam-muội này có thể ra khỏi ba cõi.(1)

(1) Ba cõi (Tam giới): Dục giới, Sắc giới Vô sắc giới.

“Có phép Tam-muội Trí đoạn, khi nhập tam-muội này thấy được các pháp đoạn diệt.

“Có phép Tam-muội Trí vũ, khi nhập tam-muội này được hết thảy mưa pháp.

“Có phép Tam-muội Vô y, khi nhập tam-muội này đối với các pháp không thấy có chỗ y chỉ.

“Có phép Tam-muội Nhất trang nghiêm, khi nhập tam- muội này đối với các pháp không thấy có chỗ dựng pháp tràng.

“Có phép Tam-muội Hạnh, khi nhập tam-muội này có thể thấy các pháp hết thảy đều là hạnh tịch tĩnh.

“Có phép Tam-muội Nhất thiết hành ly nhất thiết hữu, khi nhập tam-muội này đối với các pháp đều thông đạt rõ biết.

“Có phép Tam-muội Tục ngôn, khi nhập tam-muội này có thể hiểu rõ được ngôn ngữ của thế tục.

“Có phép Tam-muội Ly ngữ ngôn vô tự, khi nhập tam- muội này đối với các pháp được rõ biết tất cả, không cần ngôn ngữ.

“Có phép Tam-muội Trí cự, khi nhập tam-muội này đối với các pháp có thể soi chiếu sáng tỏ.

“Có phép Tam-muội Trí thắng tướng hống, khi nhập tam- muội này đối với các pháp thị hiện tướng thanh tịnh.

“Có phép Tam-muội Thông trí tướng, khi nhập tam-muội này đối với các pháp thấy hết thảy đều là tướng trí huệ.

“Có phép Tam-muội Thành tựu nhất thiết hạnh, khi nhập tam-muội này đối với các pháp thành tựu hết thảy các hạnh.

“Có phép Tam-muội Ly khổ lạc, khi nhập tam-muội này đối với các pháp không còn có chỗ nào để y chỉ.

“Có phép Tam-muội Vô tận hạnh, khi nhập tam-muội này thấy được các pháp không cùng tận.

“Có phép Tam-muội Đà-la-ni, khi  nhập  tam-muội  này đối với các phép tam-muội có thể nắm giữ tướng pháp không phân biệt thấy có tà hay chánh.

“Có phép Tam-muội Vô tăng ái, khi nhập tam-muội này đối với các pháp không thấy có sự phân biệt yêu ghét.

“Có phép Tam-muội Tịnh quang, khi nhập tam-muội này đối với các pháp hữu vi không thấy là cấu nhiễm.

“Có phép Tam-muội Kiên lao, khi nhập tam-muội này không thấy các pháp có chỗ không bền chắc.

“Có phép Tam-muội Mãn nguyệt tịnh quang, khi nhập tam-muội này liền có thể thành tựu đầy đủ các công đức.

“Có phép Tam-muội Đại trang nghiêm, khi nhập  tam- muội này đối với các phép tam-muội thảy đều thấy là thành tựu vô lượng trang nghiêm.

“Có phép Tam-muội Nhất thiết thế quang minh, khi nhập tam-muội này đối với các phép tam-muội đều dùng trí huệ soi sáng.

“Có phép Tam-muội Nhất thiết đẳng chiếu, khi nhập tam- muội này đối với các phép tam-muội đều đạt được nhất tâm.

“Có phép Tam-muội Tịnh vô tịnh, khi nhập tam-muội này đối với các phép tam-muội không thấy có sự thanh tịnh hay không thanh tịnh.

“Có phép Tam-muội Vô trạch, khi nhập tam-muội này không thấy trong các phép tam-muội có chỗ nương náu.

“Có phép Tam-muội Như nhĩ, khi nhập tam-muội này đối với các pháp không thấy có sự tạo tác hay không tạo tác.

“Có phép Tam-muội Vô thân, khi nhập tam-muội này không thấy có các pháp không còn thấy có thân.

“Các vị Bồ Tát khi tu chứng được các môn tam-muội như vậy, khẩu nghiệp được thanh tịnh như hư không, không thấy có khẩu nghiệp trong các pháp, cũng như hư không không có sự chướng ngại.

“Này Đại Bi! Như vậy gọi là tu học các môn tam-muội của hàng Bồ Tát Đại thừa. 

ĐÀN BA-LA-MẬT PHẨM ĐỆ NGŨ CHI NHỊ

Thiện nam tử! Vân hà Bồ Tát ma-ha-tát trợ Bồ-đề pháp thanh tịnh chi môn?

Thiện nam tử! Bố thí tức thị trợ Bồ-đề pháp, hóa chúng sanh cố.

Trì giới tức thị trợ Bồ-đề pháp, cụ túc thiện nguyện cố.

Nhẫn nhục tức thị trợ Bồ-đề pháp, cụ túc tam thập nhị tướng bát thập tùy hình hảo cố.

Tinh tấn tức thị trợ Bồ-đề pháp, ư chư chúng sanh cần giáo hóa cố.

Thiền định tức thị trợ Bồ-đề pháp, linh tâm cụ túc đắc điều phục cố.

Trí huệ tức thị trợ Bồ-đề pháp, cụ túc năng tri chư phiền não cố.

Đa văn tức thị trợ Bồ-đề pháp, ư chư pháp trung cụ vô ngại cố.

Nhất thiết công đức tức thị trợ Bồ-đề pháp, nhất thiết chúng sanh đắc cụ túc cố. cố.

Trí nghiệp tức thị trợ Bồ-đề pháp, đắc cụ túc vô ngại trí

Tu định tức thị trợ Bồ-đề pháp, tất đắc thành tựu nhu nhuyễn tâm cố.

Huệ nghiệp tức thị trợ Bồ-đề pháp, viễn ly nhất thiết chư nghi hoặc cố.

Từ tâm tức thị trợ Bồ-đề pháp, ư chư chúng sanh tâm vô ngại cố.

Bi tâm tức thị trợ Bồ-đề pháp, bạt xuất chúng sanh chư khổ cố.

Hỷ tâm tức thị trợ Bồ-đề pháp, ái nhạo pháp cố. Xả tâm tức thị trợ Bồ-đề pháp, đoạn tăng ái cố.

Thính pháp tức thị trợ Bồ-đề pháp, đoạn ngũ cái cố. Xuất thế tức thị trợ Bồ-đề pháp, xả chư sở hữu cố.

A-lan-nhã tức thị trợ Bồ-đề pháp, ly chư thông vụ cố. Chuyên niệm tức thị trợ Bồ-đề pháp, đắc đà-la-ni cố. Chánh ức tức thị trợ Bồ-đề pháp, phân biệt ý thức cố.

Tư duy tức thị trợ Bồ-đề pháp, ư chư pháp trung đắc thành tựu nghĩa cố.

Niệm xứ tức thị trợ Bồ-đề pháp, thân thọ tâm pháp giác phân biệt cố.

Chánh cần tức thị trợ Bồ-đề pháp, đoạn bất thiện pháp tu thiện pháp cố.

Như ý túc tức thị trợ Bồ-đề pháp, thân tâm khinh lợi cố.

Chư căn tức thị trợ Bồ-đề pháp, đắc nhất thiết chúng sanh căn cụ túc cố.

Chư lực tức thị trợ Bồ-đề pháp, cụ túc năng hoại chư phiền não cố.

Chư giác tức thị trợ Bồ-đề pháp, ư chư pháp trung cụ túc giác tri thật pháp tướng cố.

Chánh đạo tức thị trợ Bồ-đề pháp, viễn ly nhất thiết chư tà đạo cố.

Thánh đế tức thị trợ Bồ-đề pháp, đoạn diệt nhất thiết chư phiền não cố.

Tứ biện tức thị trợ Bồ-đề pháp, đắc đoạn chúng sanh chư nghi hoặc cố.

Duyên niệm tức thị trợ Bồ-đề pháp, bất tùng tha văn đắc trí huệ cố.

Thiện hữu tức thị trợ Bồ-đề pháp, nhất thiết công đức trì thành tựu cố.

Phát tâm tức thị trợ Bồ-đề pháp, thành tựu bất cuống chư chúng sanh cố.

Dụng ý tức thị trợ Bồ-đề pháp, xuất nhất thiết pháp cố.

Chuyên tâm tức thị trợ Bồ-đề pháp, tăng ích thiện pháp cố.

Tư duy thiện pháp tức thị trợ Bồ-đề pháp, tùy sở văn pháp đắc thành tựu cố.

Nhiếp thủ tức thị trợ Bồ-đề pháp, thành tựu giáo hóa chư chúng sanh cố.

Hộ trì chánh pháp tức thị trợ Bồ-đề pháp, linh tam bảo chủng bất đoạn tuyệt cố.

Thiện nguyện tức thị trợ Bồ-đề pháp, thành tựu nghiêm tịnh Phật thế giới cố.

Phương tiện tức thị trợ Bồ-đề pháp, tốc đắc thành tựu nhất thiết trí cố.

Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát ma-ha-tát trợ Bồ-đề

pháp thanh tịnh môn kinh.

Thiện nam tử! Nhĩ thời Bảo Tạng Như Lai tứ cố biến quan Bồ Tát đại chúng, cáo Đại Bi ngôn: “Đại Bi! Vân hà Bồ Tát dĩ vô sở uý trang nghiêm anh lạc cụ túc ư nhẫn?

Thiện nam tử! Nhược Bồ Tát kiến đệ nhất nghĩa, đắc vô si tinh tấn bất trước tam giới. Nhược bất trước tam giới, thị vị tam-muội vô uý sa-môn chi pháp. Như không trung động thủ tất vô sở trước, hựu quán chư pháp bất kiến tướng mạo.

Đại Bi! Thị danh Bồ Tát ma-ha-tát dĩ vô sở uý trang nghiêm anh lạc.

Thiện nam tử! Vân hà Bồ Tát cụ túc ư nhẫn? Như thị Bồ Tát trụ ư pháp thời, bất kiến chư pháp như vi trần tướng mạo, nghịch thuận quán hành ư chư pháp trung giải vô quả báo. Ư sở tập từ liễu vô hữu ngã, ư sở tập bi liễu vô chúng sanh, ư sở tập hỷ liễu vô hữu mạng, ư sở tập xả liễu vô hữu nhân.

Tuy hành bố thí bất kiến thí vật. Tuy hành trì giới bất kiến tịnh tâm. Tuy hành nhẫn nhục bất kiến chúng sanh. Tuy hành tinh tấn vô ly dục tâm. Tuy hành thiền định vô trừ ác tâm. Tuy hành trí huệ tâm vô sở hành.

Tuy hành niệm xứ bất kiến tư duy. Tuy hành chánh cần bất kiến tâm chi sanh diệt. Tuy hành như ý túc bất kiến vô lượng tâm. Tuy hành ư tín bất kiến vô chướng ngại tâm. Tuy hành ư niệm bất kiến tâm đắc tự tại. Tuy hành ư định bất kiến nhập định tâm. Tuy hành ư huệ bất kiến huệ căn. Tuy hành chư lực vô sở phá hoại. Tuy hành chư giác tâm vô phân biệt.

Tuy hành chánh đạo bất kiến chư pháp. Tuy hành định nghiệp bất kiến tâm chi tịch tĩnh. Tuy hành huệ nghiệp bất kiến tâm chi sở hành. Tuy hành thánh đế bất kiến thông đạt pháp tướng.

Tuy tu niệm Phật bất kiến vô lượng hành tâm. Tuy tu niệm pháp tâm đẳng pháp giới. Tuy tu niệm tăng tâm vô sở trụ, giáo hóa chúng sanh tâm đắc thanh tịnh.

Tuy trì chánh pháp ư chư pháp giới tâm bất phân biệt. Tuy tu tịnh độ kỳ tâm bình đẳng do như hư không. Tuy tu tướng hảo tâm vô chư tướng. Tuy đắc nhẫn nhục tâm vô sở hữu. Tuy trụ bất thối thường tự bất kiến thối dữ bất thối. Tuy hành đạo tràng giải liễu tam giới vô hữu dị tướng. Tuy hoại chư ma nãi thị lợi ích vô lượng chúng sanh.

Tuy hành Bồ-đề quán chư pháp không vô Bồ-đề tâm. Tuy chuyển pháp luân ư nhất thiết pháp vô chuyển vô hoàn.

Tuy phục thị hiện đại bát Niết-bàn, ư sanh tử trung tâm đẳng vô dị.

Thị danh Bồ Tát cụ túc ư nhẫn.

Thuyết thị pháp thời, hữu lục thập tứ ức Bồ Tát ma- ha-tát tùng thập phương lai, chí Kỳ-xà-quật sơn, Thích-ca Mâu-ni Phật sở, thính thử bổn duyên tam-muội trợ Bồ-đề pháp thanh tịnh môn kinh. Văn thị pháp dĩ đắc vô sanh nhẫn.

Nhĩ thời Thích-ca Mâu-ni Phật cáo chư đại chúng: “Nhữ kim đương tri. Bảo Tạng Như Lai ư vãng cổ thế, thuyết thị pháp thời hữu tứ thập bát hằng hà sa đẳng Bồ Tát ma-ha- tát đắc vô sanh nhẫn, tứ thiên hạ vi trần số đẳng Bồ Tát ma-ha-tát trụ bất thối chuyển địa, nhất hằng hà sa đẳng Bồ Tát ma-ha-tát đắc thử bổn duyên tam-muội trợ Bồ-đề pháp thanh tịnh môn kinh.

Thiện nam tử! Nhĩ thời Đại Bi Bồ Tát văn thị pháp dĩ, tâm sanh hoan hỷ tức đắc biến thân, kỳ trạng do như niên nhị thập nhân, truy tùy Như Lai du ảnh tùy hình.

Thiện nam tử! Nhĩ thời Chuyển luân thánh vương cập kỳ thiên tử, bát vạn tứ thiên tiểu vương, cửu thập nhị ức nhân tất cộng xuất gia, phụng trì cấm giới tu học đa văn, nhẫn nhục tam-muội cần hành tinh tấn.

Thiện nam tử! Nhĩ thời Đại Bi Bồ Tát ma-ha-tát tiệm tiệm tùng Phật tư thọ Thanh văn sở hữu bát vạn tứ thiên pháp tụ, Duyên giác sở hữu cửu vạn pháp tụ, thọ trì phúng tụng tất linh thông lợi.

Đại thừa pháp tạng thân niệm xứ trung thập vạn pháp tụ, thọ niệm xứ trung thập vạn pháp tụ, tâm niệm xứ trung thập vạn pháp tụ, pháp niệm xứ trung thập vạn pháp tụ, tất giai thọ trì độc tụng thông lợi.

Thập bát giới trung thập vạn pháp tụ, thập nhị nhập trung thập vạn pháp tụ, đoạn trừ tham dục thập vạn pháp tụ, đoạn trừ sân khuể thập vạn pháp tụ, đoạn trừ ngu si thập vạn pháp tụ, tam-muội giải thoát thập vạn pháp tụ, chư lực vô uý, bất cộng chi pháp thập vạn pháp tụ. Như thị đẳng thập ức pháp tụ, giai tất thọ trì độc tụng thông lợi.

Thiện nam tử! Kỳ hậu bỉ Phật nhập bát Niết-bàn. Nhĩ thời Đại Bi Bồ Tát ma-ha-tát dĩ vô lượng vô biên chủng chủng chư hoa, mạt hương, đồ hương, bảo tràng phan cái, trân bảo, kỹ nhạc nhi dĩ cúng dường. Dĩ chủng chủng hương tích dĩ vi tịch. Xà duy kỳ thân thâu thủ xá-lợi, khởi thất bảo tháp cao ngũ do-tuần, tung quảng chánh đẳng mãn nhất do-tuần, ư thất nhật trung phục dĩ chủng chủng vô lượng vô biên hoa hương, kỹ nhạc, bảo tràng phan cái nhi cúng dường chi.

Nhĩ thời phục linh vô lượng vô biên chúng sanh, an chỉ trụ ư tam thừa pháp trung.

Thiện nam tử! Đại Bi Bồ Tát quá thất nhật dĩ, dữ bát vạn tứ thiên nhân câu cộng xuất gia, thế trừ tu phát trước nhiễm ca sa, ư Bảo Tạng Phật bát Niết-bàn hậu, tùy thuận đẳng tâm sí nhiên chánh pháp mãn thập thiên tuế, phục linh vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chúng sanh, an chỉ trụ ư tam thừa pháp trung, cập Tam quy y, ngũ giới, bát trai, sa-di thập giới, thứ đệ cụ túc đại tăng tịnh hạnh. Phục cánh khuyến hóa vô lượng bá thiên vạn ức chúng sanh, an chỉ trụ ư thần thông phương tiện, tứ vô lượng hạnh, linh quán ngũ ấm do như oán tặc, quán ư chư nhập như không tụ lạc, quán hữu vi pháp tùng nhân duyên sanh.

Khuyến hóa chúng sanh linh đắc tri kiến, quán nhất thiết pháp như kính trung tượng, như nhiệt thời viêm, như thủy trung nguyệt. Ư chư pháp trung giai tri vô ngã, vô sanh, vô diệt. Đệ nhất tịch tĩnh vi diệu Niết-bàn.

Phục linh vô lượng vô biên chúng sanh, an chỉ trụ ư bát thánh đạo trung. Tác như thị đẳng đại lợi ích dĩ, tức tiện mạng chung, tầm thời phục hữu vô lượng vô biên bá thiên chư nhân, dĩ chủng chủng cúng dường, cúng dường Đại Bi tỳ-kheo xá-lợi. Kỳ sở cúng dường tất như Chuyển luân thánh vương chi pháp. Như thị đại chúng chủng chủng cúng dường Đại Bi xá-lợi, diệc phục như thị.

Đại Bi tỳ-kheo mạng chung chi nhật, Bảo Tạng Như Lai sở hữu chánh pháp, tức ư kỳ nhật diệt tận vô dư. Bỉ chư Bồ Tát dĩ bổn nguyện cố sanh ư Phật độ, hoặc sanh Đâu-thuật, nhân trung, long trung, hoặc dạ-xoa trung, hoặc a-tu-la, sanh ư chủng chủng súc sanh chi trung.

Thiện nam tử! Đại Bi tỳ-kheo mạng chung chi hậu dĩ bổn nguyện cố, nam phương khứ thử thập thiên Phật độ, hữu Phật thế giới danh viết Hoan Lạc, bỉ trung nhân dân thọ bát thập tuế, tập tụ nhất thiết chư bất thiện căn, hỷ vi sát hại, an trụ chư ác, ư chư chúng sanh vô từ bi tâm, bất hiếu phụ mẫu nãi chí bất uý vị lai chi thế.

Đại Bi tỳ-kheo dĩ bổn nguyện cố, sanh bỉ thế giới chiên- đà-la gia, sở thọ thân thể trường đại đoan chánh, lực thế cang cưỡng, oai mãnh dũng kiện, chuyên niệm vấn đáp, biện tài tiệp tật. Như thị chư sự tất thắng ư nhân.

Dĩ cưỡng lực thế bức tróc chư nhân, tác như thị ngôn: “Nhữ kim nhược năng thọ bất đạo giới, nãi khứ viễn ly chủng chủng tà kiến, hành chánh kiến giả, đương thí nhữ mạng, cấp nhữ sở tu tư sản chi vật, linh vô sở phạp. Nhược bất thọ giả, ngã kim yếu đương đoạn nhữ mạng căn, nhiên hậu nãi khứ.”

Nhĩ thời chư nhân trường quỵ xoa thủ, tác như thị ngôn: “Nhân giả! Kim dĩ vị ngã điều ngự. Như nhân sở sắc ngã kim thọ trì, tận kỳ thọ mạng bất phục thâu đạo, nãi chí chánh kiến diệc phục như thị.”

Nhĩ thời cưỡng lực chiên-đà-la, vãng chí vương sở hoặc đại thần sở, tác như thị ngôn: “Ngã kim khốn phạp tư sản chi cụ, sở vị ẩm thực, y dược, y phục, ngoạ cụ, hương hoa, kim ngân, tiền hóa, chân châu, lưu ly, kha bối, bích ngọc, san hô, hổ phách, chân bảo, nguỵ bảo. Nhược ngã đắc thử chủng chủng vật dĩ, trì thí chúng sanh.”

Nhĩ thời quốc vương đại thần, tức dữ chủng chủng sở tu chi vật, linh kỳ sung túc.

Thời chiên-đà-la nhân kỳ thí cố, an chỉ thử vương cập kỳ đại thần, trụ thập thiện trung.

Nhĩ thời nhân dân tăng ích thọ mạng mãn ngũ bá tuế. Kỳ vương mạng chung, chư đại thần đẳng dĩ chiên-đà-la thiệu kế vương vị, nhân vị tác tự hiệu Công Đức Lực.

Thiện nam tử! Nhĩ thời Công Đức Lực Vương, bất cửu vương nhất quốc độ, phục dĩ lực cố vương nhị quốc độ, như thị bất cửu nãi chí đắc tác Chuyển luân thánh vương vương Diêm-phù-đề. Nhiên hậu giáo hóa nhất thiết chúng sanh, an chỉ linh trụ bất sát sanh giới, nãi chí chánh kiến diệc phục như thị. Tùy chư chúng sanh tâm sở chí nhạo, khuyến hóa linh trụ ư tam thừa trung.

Nhĩ thời Công Đức Lực Vương, giáo hóa Diêm-phù-đề nội vô lượng chúng sanh ư thập thiện đạo cập tam thừa trung dĩ, ư Diêm-phù-đề nội đại thanh xướng ngôn: “Nhược hữu khất cầu dục tu thực ẩm, nãi chí dục đắc chủng chủng trân bảo, tất lai chí thử ngã đương cấp thí.”

Thị thời Diêm-phù-đề nội nhất thiết khất sĩ, văn thị xướng dĩ tất lai tập hội.

Thời Công Đức Lực Vương, chủng chủng tùy ý cấp thí sở tu, giai linh mãn túc.

Nhĩ thời hữu nhất ni-càn-tử danh viết Hôi Âm, vãng chí vương sở nhi tác thị ngôn: “Vương kim sở tác chủng chủng đại thí, dĩ cầu vô thượng chánh chân chi đạo. Ngã kim sở tu vương đương dữ ngã linh đắc mãn túc, vương ư lai thế đương sí nhiên pháp đăng.”

Thời vương vấn ngôn: “Khanh hà sở tu?”

Bỉ nhân đáp ngôn: “Ngã tụng trì chú thuật, dục đắc dữ bỉ a-tu-la đấu, bố kỳ phá hoại tự đắc thắng lợi. Thị cố bạch vương như thị sự nhĩ. Sở khả tu giả, vị tử chi nhân bì chi dữ nhãn.”

Nhĩ thời đại vương văn thị ngữ dĩ, như thị tư duy: “Ngã kim đắc thị vô lượng thế lực Chuyển luân thánh vương dĩ, đắc an chỉ vô lượng chúng sanh trụ ư thập thiện cập tam thừa trung, phục tác vô lượng vô biên đại thí. Thử thiện tri thức, dục linh ngã dĩ bất kiên lao thân, mậu kiên lao thân.”

Nhĩ thời đại vương tiện tác thị ngôn: “Nhữ kim khả sanh hoan hỷ chi tâm. Ngã kim dĩ thử phàm phu nhục nhãn bố thí ư nhữ. Dĩ thị duyên cố, linh ngã lai thế đắc thanh tịnh huệ nhãn. Dĩ hoan hỷ tâm bác bì thí nhữ, phục dĩ thị duyên linh ngã thành A-nậu-đa-la Tam-miệu  Tam-bồ-đề  dĩ  đắc kim sắc thân.”

Thiện nam tử! Nhĩ thời Công Đức Lực Vương, dĩ kỳ hữu thủ khiêu thủ nhị mục thí ni-kiền-tử. Huyết lưu ô diện nhi tác  thị  ngôn:  “Chư  thiên,  long,  thần,  càn-thát-bàa-tu- la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già,  nhân,  phi  nhân đẳng, nhược tại hư không, nhược nhân địa giả, tất thính ngã ngôn. Ngã kim sở thí giai vị Vô thượng Bồ-đề chi đạo, bạch tịnh Niết-bàn, độ chư chúng sanh ư tứ lưu thủy, linh đắc an chỉ trụ ư Niết-bàn.”

Phục tác thị ngôn: “Nhược ngã tất định thành A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề giả, tuy tác thị sự, sở hữu mạng căn bất ưng đoạn hoại, bất thất chánh niệm, bất ưng sanh hối, linh ni-càn-tử sở tác chú thuật tiện đắc thành tựu.”

Phục tác thị ngôn: “Nhữ kim khả lai bác thủ ngã bì.”

Thiện nam tử! Thời ni-càn-tử tức trì lợi đao bác thủ vương bì. Khước hậu thất nhật sở tác chú thuật tất đắc thành tựu.

Nhĩ thời đại vương ư thất nhật trung, kỳ mạng vị chung bất thất chánh niệm, tuy thọ thị khổ nãi chí nhất niệm bất sanh hối tâm.

Thiện nam tử! Nhữ kim đương tri, nhĩ thời Đại Bi Bồ Tát giả khởi dị nhân hồ, mạc tác thị quán tắc ngã thân thị. Ư quá khứ thế Bảo Tạng Phật sở, sơ phát A-nậu-đa-la Tam- miệu Tam-bồ-đề tâm. Sơ phát tâm dĩ khuyến hóa vô lượng vô biên chúng sanh ư A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.

Thiện nam tử! Thị ngã tối sơ dũng kiện tinh tấn. Nhĩ thời ngã dĩ bổn nguyện lực cố, mạng chung sanh ư hoan lạc thế giới chiên-đà-la gia. Thị ngã đệ nhị dũng kiện tinh tấn.

Ngã sanh chiên-đà-la gia, giáo hóa chúng sanh ư thiện pháp trung, dĩ tự lực thế nãi chí đắc tác Chuyển luân thánh vương, diệt Diêm-phù-đề đấu tránh uế trược, linh đắc tịch tĩnh tăng trưởng thọ mạng. Thị ngã sơ thủy xả ư thân bì cập dĩ nhãn mục.

Thiện nam tử! Ngã dĩ nguyện cố ư bỉ mạng chung, phục hoàn lai sanh Hoan Hỷ thế giới chiên-đà-la gia, nãi chí đắc tác Chuyển luân thánh vương. Dĩ đại thế lực, an chỉ chúng sanh ư thiện pháp trung. Ư bỉ thế giới, phục đắc trừ diệt oán tặc, đấu tránh, uế trược chi sự, linh chư chúng sanh tăng ích thọ mạng. Ngã ư nhĩ thời thủy xả thiệt nhĩ, ư bỉ tam thiên đại thiên thế giới nhất nhất thiên hạ, tác như thị đẳng đại lợi ích dĩ. Dĩ nguyện lực cố, tinh tấn kiên lao như thị thứ đệ, phục ư như thị nhất hằng hà sa đẳng ngũ trược ác thế tác đại lợi ích, an chỉ chúng sanh trụ ư thiện pháp cập tam thừa trung, diệt trừ oán tặc đấu tránh uế trược.

Thiện nam tử! Kỳ dư tha phương thanh tịnh thế giới, sở hữu chư Phật bổn hành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề thời, bất thuyết tha quá, bất vị tha nhân thuyết thô ác ngôn, bất dĩ lực thế thị hiện khủng bố, bất khuyến chúng sanh ư Thanh văn thừa, Bích-chi Phật thừa. Thị cố chư Phật cụ mãn thành tựu A-nậu-đa-la Tam-miệu  Tam-bồ-đề  dĩ,  đắc thử thanh tịnh diệu hảo thế giới, vô chư tội danh, vô hữu thọ giới, nhĩ chung bất văn thô ác chi ngôn, vô bất thiện thanh thường văn pháp thanh, ly ư nhất thiết bất thích ý thanh. Ư chư chúng sanh nhi đắc tự tại. Vô hữu Thanh văn Bích-chi Phật danh.

Thiện nam tử! Ngã ư hằng hà sa đẳng đại kiếp, như hằng hà sa đẳng vô Phật quốc độ ngũ trược chi thế, dĩ thô ác ngôn đoạn mạng nhân duyên khủng bố chúng sanh, nhiên hậu khuyến linh an trụ thiện pháp cập tam thừa trung. Thị dư nghiệp cố linh đắc như thị tệ ác thế giới. Dĩ bất thiện âm xướng mãn thế giới, thị cố kim đắc bất thiện chúng sanh sung mãn thế giới.

Thuyết tam thừa pháp như ngã bổn nguyện thủ Phật thế giới điều phục chúng sanh. Kỳ sự như thị. Ngã dĩ như thuyết tinh cần tu tập hành Bồ-đề đạo, thị cố kim đắc chủng tử tương tự Phật chi thế giới. Như ngã bổn nguyện kim đắc như thị.

Thiện nam tử! Kim ngã lược thuyết vãng tích sở hành

Đàn ba-la-mật.

Ngã hành Đàn ba-la-mật thời, quá khứ chư Bồ Tát hành Bồ Tát đạo thời, diệc vô hữu năng tác như thị hành. Vị lai chi thế hành Bồ Tát đạo giả, diệc vô hữu năng tác như thị hành.

Ngã vi Bồ Tát hành Đàn ba-la-mật thời, duy trừ quá khứ bát thiện trượng phu.

Đệ nhất Bồ Tát danh viết Nhất Địa Đắc, tại thử nam phương Nhất Thiết Quá Hoạn quốc, thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hiệu Phá Phiền Não Quang Minh Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn, nhân thọ bá tuế ư trung thuyết pháp. Thất nhật chi hậu nhập bát Niết-bàn.

Đệ nhị Bồ Tát danh Tinh Tấn Tịnh, tại thử đông phương Viêm Sí quốc độ, thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hiệu Bách Công Đức Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn, nhân thọ bá tuế ư trung thuyết pháp. Tác Phật sự dĩ, bỉ Phật quá nhất hằng hà sa đẳng đại kiếp dĩ, nhập vô thượng Niết-bàn, kỳ Phật xá-lợi nãi chí kim nhật tại vô Phật quốc tác ư Phật sự, như ngã vô dị.

Đệ tam Bồ Tát danh Kiên Cố Hoa, ư chư tam-muội cần hành tinh tấn, dĩ đại lực thế hành ư bố thí. Ư đương lai thế quá thập hằng hà sa đẳng đại kiếp, tại thử bắc phương Hoan Lạc thế giới thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ- đề, hiệu Đoạn Ái Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn.

Đệ tứ Bồ Tát danh viết Huệ Sí Nhiếp Thủ Hoan Hỷ, quá nhất đại kiếp tại thử tây phương Khả Uý thế giới, nhân thọ bá tuế, ư trung thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hiệu Nhật Tạng Quang Minh Vô Cấu Tôn Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn.

Ư kim ngã tiền hữu nhị Bồ Tát, nhất danh Nhật Quang, nhị danh Hỷ Tý, vị lai chi thế quá ư vô lượng vô biên đại kiếp, tại thử thượng phương Hôi Vụ quốc độ, kiếp danh Đại Loạn, ngũ trược ác thế đa chư phiền não, nhân thọ ngũ thập tuế. Nhật Quang Bồ Tát dĩ bổn nguyện cố, ư trung thành  A-nậu-đa-la  Tam-miệu  Tam-bồ-đề,  hiệu  Bất  Tư Nghị Nhật Quang Minh Như  Lai,  Ứng  cúng,  Chánh  biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn, mãn thập tuế trung cụ túc Phật sự nhi bát Niết-bàn. Tức Niết- bàn nhật, chánh pháp diệc diệt.

Kỳ hậu thập tuế không quá vô Phật, nhân thọ chuyển giảm chí tam thập tuế, Hỷ Tý Bồ Tát dĩ bổn nguyện cố, ư trung đắc thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hiệu Thắng Nhật Quang Minh Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn. Bỉ Phật Thế Tôn diệc thập tuế trung, cụ túc Phật sự nhi bát Niết- bàn. Bát Niết-bàn dĩ, dĩ bổn nguyện cố, chánh pháp trụ thế mãn thất thập tuế.

Thời nhị Bồ Tát tại ư ngã tiền, thủy đắc thọ A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề ký. Dĩ văn ký cố tâm sanh hoan hỷ, đầu diện kính lễ, dĩ hoan hỷ cố thướng thăng hư không cao thất đa-la thọ, xoa thủ hướng Phật dị khẩu đồng âm, nhi thuyết kệ ngôn:

Như Lai quang minh,

Thù ư nhật nguyệt,

Năng ư ác thế,

Diễn đại trí huệ,

Điều ngự mục tịnh,

Vô hữu cấu uế,

Dĩ diệu luận nghị,

Tồi phục ngoại đạo,

Ngã vô lượng kiếp,

Tu vô tướng định,

Dĩ cầu vô thượng,

Thắng diệu bồ-đề,

Cúng dường chư Phật,

Số như hằng sa,

Nhi quá khứ Phật,

Bất thọ ngã ký,

Thế tôn ly dục,

Tâm đắc giải thoát,

Ư hắc ám thế,

Thiện vi Phật sự,

Vị chư thất đạo,

Chúng sanh thuyết pháp,

Tất linh đắc xuất,

Sanh tử phiêu lưu,

Ngã kim sở nguyện,

Ư thử tự tại,

Thanh tịnh Phật pháp,

Xuất gia tu đạo,

Giải thoát tịnh giới,

Như thuyết nhi hành,

Định tâm tùy Phật,

Như ảnh tùy hình.

Bất vị lợi dưỡng,

Đãn cầu chánh pháp,

Đắc văn pháp dĩ,

Phục cam lộ vị,

Thị cố thế tôn,

Dữ ngã thọ ký,

Ư vị lai thế,

Đắc vô thượng đạo.

Thiện nam tử! Kỳ dư nhị nhân cố vị phát tâm. Dĩ phát tâm giả, nhất danh Nhật Quang, nhị danh Hỷ Tý. Tiên hữu tứ nhân, nhất danh Địa Đắc, nhị danh Tinh Tấn Tịnh, tam danh Kiên Cố Hoa, tứ danh Huệ Sí Nhiếp Thủ Hoan Hỷ. Hợp hữu bát nhân. Thị lục Bồ Tát ngã sơ khuyến kỳ linh phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm.

Thiện nam tử! Nhữ kim đế thính vãng tích nhân duyên quá khứ vô lượng a-tăng-kỳ kiếp. Nhĩ thời thử giới danh Vô Cấu Tu-di, nhân thọ bá tuế, hữu Phật xuất thế hiệu Hương Liên Hoa. Bát Niết-bàn hậu, tượng pháp chi trung, ngã ư nhĩ thời tác đại cưỡng lực Chuyển luân thánh vương, hiệu Nan Trở Hoại Vương, Diêm-phù-đề thiên tử cụ túc, ngã tất khuyến hóa linh phát A-nậu-đa-la  Tam-miệu  Tam-bồ-đề tâm. Kỳ hậu tầm ư Hương Liên Hoa Phật tượng pháp chi trung, xuất gia tu đạo, sí nhiên tăng ích Phật chi đạo pháp. Duy trừ lục tử, bất khẳng xuất gia phát Bồ-đề tâm.

Ngã ư nhĩ thời sổ sổ cáo ngôn: “Khanh đẳng kim giả dục hà sở cầu, hà dĩ bất phát vô thượng đạo tâm xuất gia tu đạo?”

Thị thời lục tử tác như thị ngôn: “Bất ưng xuất gia. Sở dĩ giả hà? Nhược ư mạt thế tượng pháp xuất gia, bất năng thành tựu hộ trì giới tụ, ly thánh thất tài. Dĩ bất hộ giới, một ư sanh tử ô nê chi trung, đọa tam ác đạo, bất năng đắc sanh thiên thượng, nhân trung. Dĩ thị nhân duyên, ngã đẳng bất năng xuất gia tu đạo.”

Thiện nam tử! Ngã phục trùng vấn: “Khanh đẳng hà dĩ bất phát vô thượng đạo tâm?”

Lục tử đáp ngôn: “Nhược năng dữ ngã Diêm-phù-đề giả, nhiên hậu ngã đương phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ- đề tâm.”

Thiện nam tử! Ngã văn thị dĩ tâm sanh hoan hỷ, tác thị tư duy: “Ngã kim dĩ hóa Diêm-phù-đề nhân, an trí Tam quy, thọ bát giới trai, trụ ư tam thừa. Ngã kim đương phân thử Diêm-phù-đề dĩ vi lục phần, dữ thử lục tử, linh kỳ đắc phát vô thượng đạo tâm, nhiên hậu ngã đương xuất gia tu đạo.”

Tư duy thị dĩ như kỳ sở niệm, phân Diêm-phù-đề tức vi lục phần, tứ dữ chư tử, tầm tiện xuất gia.

Nhĩ thời lục vương các tương vi lệ bất tương thừa thuận, hỗ tương sao lược, công phạt đấu tránh, phược thúc giá toả.

Nhĩ thời nhất thiết Diêm-phù-đề nội, miêu giá bất đăng, nhân dân cơ ngạ, thủy vũ bất thời, chư thọ khô tụy bất sanh hoa thật, dược thảo bất sanh. Nhân dân cầm thú cập chư phi điểu tất giai cơ ngạ, kỳ thân sí nhiên do như hỏa tụ.

Ngã ư nhĩ thời, phục tự tư duy: “Ngã kim ưng đương tự xả kỷ thân cơ thể huyết nhục, dĩ thí chúng sanh linh kỳ bão mãn.”

Tác thị niệm dĩ, tùng kỳ sở trụ a-lan-nhã xứ, chí ư nhân gian, trung lộ hữu sơn danh Thủy Ái Hộ. Trụ thị sơn thượng, phục tác thị nguyện, nhi thuyết kệ ngôn:

Như ngã tự xả,

Sở hữu thân mạng,

Vị đại bi tâm,

Bất cầu quả báo,

Đãn vị lợi ích,

Chư thiên cập nhân,

Nguyện tác nhục sơn,

Cấp thí chúng sanh,

Ngã kim sở xả,

Diệu sắc đoan nghiêm,

Bất cầu đế thích,

Thiên ma phạm vương,

Đãn vị lợi ích,

Vị lai nhân thiên,

Dĩ thử huyết nhục,

Thí chư chúng sanh,

Chư thiên long thần,

Nhân cập phi nhân,

Trụ sơn lâm giả,

Kim thính ngã ngôn,

Vị chư chúng sanh,

Ngã khởi đại bi,

Tự huyết nhục,

Nhi cấp thí chi. 

Thiện nam tử! Ngã ư nhĩ thời tác thị nguyện dĩ, chư thiên dao nhiễu, đại địa chư sơn Tu-di, đại hải giai lục chủng động. Nhân thiên đại chúng phát thanh bi hiệu.

Nhĩ thời ngã ư Thủy Ái Hộ sơn, tự đầu kỳ thân, dĩ nguyện lực cố tức thành nhục sơn, cao nhất do-tuần, tung quảng chánh đẳng diệc nhất do-tuần. Thị thời nhân dân phi điểu cầm thú, thủy ư thị thời đạm nhục ẩm huyết. Dĩ bổn nguyện cố, ư dạ trung phần, tăng ích quảng đại kỳ thân, nãi chí cao thiên do-tuần, tung quảng chánh đẳng diệc thiên do-tuần. Kỳ biên tự nhiên nhi sanh nhân đầu, phát, mao, nhãn, nhĩ, tỵ, khẩu, thần, thiệt, cụ túc nhi hữu. Bỉ chư đầu trung, các các hữu thanh nhi xướng thị ngôn: “Chư chúng sanh đẳng, các các tự tứ tùy ý thủ dụng, ẩm huyết, đạm nhục, thủ đầu mục nhĩ tỵ thần thiệt xỉ đẳng, giai linh mãn túc, nhiên hậu tất phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm, hoặc phát Thanh văn, Bích-chi Phật tâm.”

Khanh đẳng đương tri như thị chi vật tất bất khả tận. Thực chi dị tiêu, bất yêu thọ mạng. Hữu minh trí giả thực nhục ẩm huyết, thủ kỳ đầu mục nhĩ tỵ thiệt giả, hoặc phát Thanh văn, Bích-chi Phật thừa, hoặc phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm. Hoặc cầu thiên thượng, nhân trung phú lạc. Dĩ bổn nguyện cố thân vô tổn giảm, nãi chí vạn tuế. Diêm-phù-đề nội nhân cập quỷ thần phi điểu cầm thú, giai tất sung túc.

Ư vạn tuế trung, sở thí mục như nhất hằng hà sa, sở thí huyết như tứ đại hải thủy, sở xả nhục như thiên Tu-di sơn, sở xả thiệt như đại Thiết vi sơn, sở xả nhĩ như Thuần-đà-la sơn, sở xả tỵ như Tỳ-phú-la sơn, sở xả xỉ như Kỳ-xà-quật sơn, sở xả thân bì do như tam thiên đại thiên thế giới sở hữu địa đẳng.

Thiện nam tử! Nhữ kim đương tri, ngã ư vãng tích vạn tuế chi trung, sở xả vô lượng vô biên a-tăng-kỳ thân. Nhất thọ mạng trung tự dĩ huyết nhục cấp thí như thị vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chúng sanh, tất linh bão túc, nãi chí nhất niệm bất sanh hối tâm.

Ngã ư nhĩ thời phục tác thị ngôn: “Nhược ngã tất định thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, sở nguyện thành tựu đắc kỷ lợi giả, ngã kim ư thử nhất Diêm-phù-đề vạn tuế chi trung, tự dĩ huyết nhục cấp thí nhất thiết vô lượng chúng sanh. Như thị nhất hằng hà sa đẳng vạn tuế, biến mãn ư thử Vô Cấu Tu-di tam thiên đại thiên thế giới, tác huyết nhục sơn, nhất nhất thiên hạ. Ư vạn tuế trung, tự dĩ huyết nhục đầu mục nhĩ đẳng, cấp thí chúng sanh. Sở vị thiên, long, quỷ thần, nhân cập phi nhân, nhất thiết súc sanh. Nhược tại hư không, cập nhân địa giả, nãi chí ngạ quỷ tất linh mãn túc. Nhiên hậu khuyến hóa an trí trụ ư tam thừa pháp trung.

Nhược biến ư thử nhất Phật thế giới, mãn túc chúng sanh dĩ. Phục chí thập phương như nhất hằng hà sa đẳng ngũ trược ác thế, phục cấp huyết nhục đầu mục nhĩ đẳng, cấp thí chúng sanh tất linh sung túc, như thị như nhất hằng hà sa đẳng đại kiếp chi trung vị chúng sanh cố, tự xả thân mạng dĩ thí chúng sanh.

Nhược ngã sở nguyện bất thành, bất đắc kỷ lợi giả, tức tiện khi cuống thập phương thế giới vô lượng vô biên chư Phật Thế Tôn vị chư chúng sanh chuyển pháp luân giả, tất định bất thành A-nậu-đa-la Tam-miệu  Tam-bồ-đề,  trụ  ư sanh tử, tất cánh bất văn Phật thanh, pháp thanh, tỳ-kheo tăng thanh, ba-la-mật thanh, lực vô uý thanh, nãi chí nhất thiết chư thiện căn thanh. Nhược ngã bất năng thành tựu xả thân bố thí sung túc chư chúng sanh giả, thường đọa A-tỳ địa ngục.

Thiện nam tử! Ngã ư vãng tích như thị sở nguyện giai tất thành tựu, ư nhất nhất thiên hạ xả thân huyết nhục, cấp thí chúng sanh tất linh bão mãn. Như thị thứ đệ biến mãn thập phương như hằng hà sa đẳng chư Phật thế giới, xả thân huyết nhục cấp thí chúng sanh tất linh mãn túc.

Thiện nam tử! Nhữ kim đương tri, ngã ư nhĩ thời vị Đàn ba-la-mật xả thân bố thí, như thị thứ đệ thí ư nhãn mục. Kỳ tụ mãn thử Diêm-phù-đề nội cao chí Đao-lợi thiên.

Thiện nam tử! Thị danh Như Lai lược thuyết xả thân

Đàn ba-la-mật.

Phục thứ thiện nam tử! Như thị phục quá vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp. Nhĩ thời thử giới chuyển danh Nguyệt Lôi, diệc ngũ trược thế. Ngã ư nhĩ thời tác Chuyển luân thánh vương, vương Diêm-phù-đề hiệu Đăng Quang Minh, diệc giáo vô lượng vô biên a-tăng-kỳ nhân, an chỉ trụ ư chư thiện pháp trung diệc như thượng thuyết.

Tác thị sự dĩ, du tại viên lâm quan khán độ địa, kiến hữu nhất nhân thân bị phược thúc, ngã tức vấn ngôn: “Thử hà sở phạm.”

Đại thần bạch ngôn: “Chư hữu điền tác sở đắc cốc mạch, ưng vi lục phần, nhất phần nhập quan. Thị nhân bất thuận vương pháp, bất khẳng du tống thị cố bị phược.”

Ngã ư nhĩ thời tức sắc linh phóng: “Tùng kim dĩ hậu bất tu cưỡng thủ.”

Đại thần đáp ngôn: “Thị nhân dân trung nãi chí vô hữu nhất nhân sanh hoan hỷ tâm, dĩ nghĩa tống chi. Kim chư vương tử hậu cung quyến thuộc quý nhân nữ, chư sở tư dụng ẩm thực chi cụ, nhất thiết giai tùng tha biên cưỡng thủ. Vô hữu nhất nhân thanh tịnh tâm dữ.”

Ngã văn thị dĩ tâm đại ưu sầu, tức tự tư duy: “Thử Diêm- phù-đề đương trì dữ thùy?”

Nhĩ thời ngã hữu ngũ bá chư tử, tiên dĩ linh phát vô thượng đạo tâm, đương phân thử địa vi ngũ bá phần, đẳng dữ chư tử. Ngã đương xuất gia chí a-lan-nhã xứ, tu chư tiên pháp, học Phạm tịnh hạnh.

Tư duy thị dĩ, tầm phân thử địa vi ngũ bá phần, đẳng dữ chư tử tức tiện xuất gia, chí nam hải biên Uất-đầu-ma thọ đại lâm chi trung, thực chư quả tử, tiệm tiệm tu học, đắc ngũ thần thông.

Thiện nam tử! Thời Diêm-phù-đề hữu ngũ bá thương nhân, nhập ư đại hải dục thái trân bảo. Hữu nhất thương chủ danh viết Mãn Nguyệt. Thử nhân tiên thế phước đức duyên cố, đắc như sở nguyện chí ư bảo chử, đa thủ chủng chủng chư trân bảo dĩ, tức dục phát dẫn hoàn Diêm-phù-đề.

Nhĩ thời hải thần cao thanh thế khốc, đa hữu chư long tâm hồi sân khuể, dục hại thương nhân. Hữu nhất long vương danh viết Mã Kiên, thị đại Bồ Tát dĩ bổn nguyện cố sanh ư long trung, khởi từ bi tâm, cứu hộ chư thương, linh đắc an ẩn quá ư đại hải chí bỉ ngạn biên. Long vương nhiên hậu hoàn bổn trụ xứ.

Nhĩ thời phục hữu đại ác la-sát, tùy trục thương nhân như ảnh tùy hình dục vi ngược hại. Thị ác la-sát tức ư kỳ nhật phóng đại ác phong. Thời chư thương nhân mê muộn thất đạo, sanh đại bố uý thất thanh hiệu khốc, xưng hoán chư thiên Ma-hê-thủ-la, thủy thần, địa thần, hỏa thần, phong thần, phục xưng phụ mẫu, thê tử, quyến thuộc, nguyện cứu tế ngã.

Thiện nam tử! Ngã ư nhĩ thời dĩ tịnh thiên nhĩ văn kỳ âm thanh, tầm vãng kỳ sở, dĩ nhu nhuyễn âm nhi uỷ phủ chi: “Mạc sanh bố uý, đương thị nhữ đạo, linh nhữ an ẩn hoàn Diêm-phù-đề.”

Thiện nam tử! Ngã ư nhĩ thời bạch điệp phược tý, dĩ du quán chi nhiên dĩ vi cự, phát chân thật  ngôn. Ngã  tiên dĩ ư Uất-đầu-ma lâm, tam thập niên trung chuyên tinh tu hành tứ vô lượng tâm, vị chư chúng sanh thực đạm quả tử, khuyến hóa bát vạn tứ thiên chư long, dạ-xoa, thần đẳng, bất thối  chuyển  ư  A-nậu-đa-la  Tam-miệu  Tam-bồ-đề.  Dĩ thị thiện căn nhân duyên, kim nhiên thử tý vi thị đạo cố, linh thị chư thương an ẩn đắc hoàn Diêm-phù-đề trung. Nhiên tý nãi chí thất nhật thất dạ, thử chư thương nhân tầm tiện an ẩn hoàn Diêm-phù-đề.

Thiện nam tử! Ngã ư nhĩ thời phục tác thiện nguyện: “Nhược Diêm-phù-đề vô chư trân bảo, nhược ngã tất thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, đắc  kỷ  lợi  giả,  đương tác thương chủ, ư nhất nhất thiên hạ thất phản vũ bảo. Phục nhập đại hải thủ như ý châu, ư nhất nhất thiên hạ phục vũ chủng chủng tạp xí bảo vật. Như thị thứ đệ biến thử thế giới nãi chí thập phương vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chư thế giới trung diệc phục như thị.

Thiện nam tử! Ngã ư vãng tích chư sở phát nguyện giai tất thành tựu, như hằng hà sa đẳng đại kiếp trung, thường tác vô thượng tát bạc chi chủ, ư hằng hà sa đẳng ngũ trược ác thế, vũ chủng chủng trân bảo. Nhất nhật chi trung thất phản vũ chi. Như thị lợi ích vô lượng chúng sanh, tất linh trân bảo đắc mãn túc dĩ, nhiên hậu khuyến hóa an chỉ linh trụ ư tam thừa trung.

Thiện nam tử! Nhữ kim đương tri tức thị Như Lai xả chư trân bảo, vị đắc chư tướng thiện căn nhân duyên.

Phục thứ thiện nam tử! Như thị phục quá vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, thử Phật thế giới chuyển danh vi Võng, kiếp danh Tri Cụ Túc. Kỳ thế ngũ trược, nhân dân thọ mạng mãn ngũ vạn tuế. Dĩ bổn nguyện cố sanh Diêm-phù-đề, bà- la-môn gia, tự viết Tu Hương, độc tụng ngoại điển xiển-đà chương cú.

Nhĩ thời chúng sanh đa trước thường kiến, hỗ cộng đấu tránh khởi oán tặc tưởng. Ngã ư nhĩ thời dĩ cưỡng lực thế, vị chư chúng sanh thuyết ngũ thọ ấm do như oan gia, thuyết thập nhị nhập như không tụ lạc, thuyết thập nhị duyên kỳ tánh sanh diệt, khai thị phân biệt a-na-ba-na linh kỳ tu học.

Phục tác thị ngôn: “Nhân đẳng kim giả khả phát vô thượng Bồ-đề chi tâm, sở tác thiện căn ưng sanh hồi hướng.”

Ngã ư thị thời tự nhiên nhi đắc ngũ thông thần tiên. Nhĩ thời phục hữu vô lượng vô biên a-tăng-kỳ nhân, thọ ngã giáo cố tất đắc ngũ thông.

Phục hữu vô lượng vô biên chúng sanh, viễn ly đấu tránh diệt trừ oán tăng, xuất gia nhập sơn thực quả lỏa tử, trú dạ tu tập tứ vô lượng tâm.

Thị kiếp dục tận, thị chư nhân đẳng các các phân tán, du Diêm-phù-đề giáo hóa chúng sanh, linh ly đấu tránh, trừ diệt oán tăng, tất sử tịch tĩnh. Hoặc hữu thủy hạn, bạo phong, ác vũ giai linh trừ diệt. Kỳ địa nhu nhuyễn, ngũ cốc thành thục, thực đạm tư vị. Dĩ kiếp dục tận, chúng sanh phục vị chủng chủng bệnh khổ chi sở triền não.

Thiện nam tử! Ngã ư nhĩ thời tầm phục tư duy: “Nhược ngã bất năng trừ chúng sanh bệnh, ngã tắc bất thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, vị chư chúng sanh đoạn trừ phiền não. Ngã kim đương dĩ hà đẳng phương tiện trừ chúng sanh bệnh. Duy hữu tụ tập nhất thiết đại chúng, Thích thiên, Phạm thiên, Tứ thiên vương đẳng, cập chư thiên tiên, long tiên, nhân tiên, vấn chư y phương hợp tập chư thảo, chủng chủng chú thuật dĩ liệu chúng bệnh.”

Tư duy thị dĩ, tức dĩ thần lực chí Thích thiên, Phạm thiên, Tứ thiên vương thiên cập chư thần thiên long nhân tiên sở, tác như thị ngôn: “Hữu Tỳ-đà sơn, nguyện chư nhân đẳng giai cộng lai tập.”

Nhĩ thời đại chúng văn thị ngôn dĩ giai tất tập tụ. Ký tập tụ dĩ, giai cộng tụng trì Tỳ-đà chú thuật. Dĩ thị lực cố năng khước nhất thiết chư ác quỷ thần, ủng hộ chúng sanh. Phục tu y phương, năng trị đàm ấm, phong hàn, lãnh nhiệt. Dĩ thị nhân duyên linh vô lượng vô biên a-tăng-kỳ nhân ly chư khổ não.

Thiện nam tử! Ngã ư nhĩ thời phục cánh tác nguyện: “Nhược ngã dĩ vi thử nhất thiên hạ vô lượng chúng sanh, tác trí huệ quang, an chỉ trụ ư tam thừa pháp trung, bế tam ác môn, thông thiên nhân lộ, trừ chư bệnh khổ, linh đắc hoan lạc. Phục đương thứ đệ vị vô lượng vô biên a-tăng-kỳ nhân, tác trí huệ quang nãi chí hoan lạc. Dĩ thị thiện căn nhân duyên quả báo cố, linh ngã sở nguyện giai đắc thành tựu đãi đắc kỷ lợi.

Như ngã dĩ vi thử nhất thiên hạ vô lượng vô biên a-tăng- kỳ nhân, bế tam ác đạo, thông thiên nhân lộ, vị chư bệnh giả thỉnh chư thiên long thần tiên chi nhân, tập Tỳ-đà sơn tu Tỳ-đà chú, linh vô lượng vô biên a-tăng-kỳ nhân, tất đắc ly bệnh thọ ư khối lạc. Như thị biến mãn thử Võng thế giới, lợi ích nhất thiết tại tại xứ xứ vô lượng chúng sanh an trụ tam thừa, bế tam ác đạo, thông thiên nhân lộ.

Phục vị như thị thế giới bệnh giả, thỉnh chư thiên long thần tiên chi nhân, tập Tỳ-đà sơn, tu Tỳ-đà chú, linh thử thế giới vô lượng vô biên a-tăng-kỳ nhân, tất đắc ly bệnh thọ ư khối lạc. Như thử thế giới nãi chí thập phương như hằng hà sa đẳng, ngũ trược ác thế diệc phục như thị.

Thiện nam tử! Ngã ư nhĩ thời tại Võng thế giới, nãi chí thập phương như hằng hà sa ngũ trược ác thế, chư sở tác nguyện giai đắc thành tựu.

Thiện nam tử! Nhữ kim đương tri tức thị Như Lai vi Bồ Tát thời, tăng ích trí huệ tu Bồ Tát đạo. Thị danh Như Lai ái hộ tam nghiệp thiện căn chủng tử.

The post Kinh Bi Hoa – PHẨM THỨ NĂM – PHẦN I – PHÁP BỐ THÍ appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
KINH BI HOA – PHẨM THỨ TƯ – PHẦN VI – BỒ TÁT THỌ KÝ https://bachhac.net/kinh-bi-hoa-pham-thu-tu-phan-vi-bo-tat-tho-ky.html Wed, 15 Sep 2021 06:27:41 +0000 https://bachhac.net/?p=3981 Bấy giờ, về phương trên cách đây hai mươi vạn trăm ngàn thế giới, có một thế giới tên là Diệu Hoa, ở đó có đức Phật hiệu là Hoa Phu Nhật Vương Như Lai, hiện đang vì bốn bộ chúng mà thuyết giảng giáo pháp Ba thừa. Trong đại chúng ấy có hai vị …

The post KINH BI HOA – PHẨM THỨ TƯ – PHẦN VI – BỒ TÁT THỌ KÝ appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
KINH BI HOA - PHẨM THỨ TƯ - PHẦN VI - BỒ TÁT THỌ KÝ

Bấy giờ, về phương trên cách đây hai mươi vạn trăm ngàn thế giới, có một thế giới tên là Diệu Hoa, ở đó có đức Phật hiệu là Hoa Phu Nhật Vương Như Lai, hiện đang vì bốn bộ chúng mà thuyết giảng giáo pháp Ba thừa. Trong đại chúng ấy có hai vị Bồ Tát, một vị tên là Tuyển Trạch Tự Pháp Nhiếp Thủ Quốc Độ, một vị tên là Đà-la-ni Diệu Âm.

“Hai vị Bồ Tát ấy bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà cõi đất chấn động sáu cách, lại có ánh hào quang rực rỡ chiếu soi, trời mưa xuống đủ mọi loại hoa?’

“Khi ấy, Phật Hoa Phu Nhật Vương bảo hai vị Bồ Tát ấy rằng: ‘Các thiện nam tử! Về phương tây cách đây hai mươi vạn trăm ngàn thế giới, có cõi thế giới tên là San-đề-lam, có đức Phật Thế Tôn hiệu là Bảo Tạng Như Lai, có đủ mười hiệu, hiện đang vì vô lượng vô biên các vị Bồ Tát mà thọ ký quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, giảng nói về các cõi thế giới, mở bày chỉ bảo về sự trang nghiêm của các cõi

Phật, cảnh giới tam-muội của các nguyện lành, các môn đà- la-ni và những kinh điển như vậy. Trong chúng hội ấy có vị Đại Bồ Tát Đại Bi phát khởi thệ nguyện rằng: Nay ta sẽ lấy lòng đại bi hun đúc trong tâm, nhận sự thọ ký thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, vì các vị Đại Bồ Tát mà thị hiện phát khởi nguyện lành.

“Vì phát nguyện như thế nên trước hết vị ấy đã làm cho vô lượng vô biên các vị Bồ Tát đều phát thệ nguyện lớn lao, nhận lấy các cõi thế giới có đủ mọi sự trang nghiêm và điều phục chúng sinh. Chỗ thành tựu đại bi của Bồ Tát ấy, trong toàn đại chúng không ai sánh kịp. Vị ấy ở trong cõi đời có năm sự uế trược mà điều phục những chúng sinh xấu ác nhiều phiền não, cứu vớt hết thảy những kẻ phạm vào năm tội nghịch cho đến những kẻ gồm đủ các điều bất thiện, diệt mất tâm lành.

“Đại chúng ở nơi ấy cùng với chư thiên, loài rồng, quỷ thần, người và phi nhân, lúc này không cúng dường Phật mà tất cả cùng nhau cúng dường vị Bồ Tát đã thành tựu hạnh đại bi rốt ráo này. Họ cúi đầu sát đất lễ bái Bồ Tát ấy, rồi đứng dậy chắp tay cung kính đọc kệ ngợi khen xưng tán. Lúc bấy giờ, Bồ Tát Đại Bi ở ngay trước Phật mà quỳ gối phải sát đất để nghe Phật thọ ký. Đức Phật Thế Tôn liền mỉm miệng cười. Do nhân duyên ấy mà khiến cho ở khắp các thế giới mười phương nhiều như số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật đều có hiện tượng cõi đất chấn động sáu cách, phát ra hào quang rực rỡ chiếu soi, không trung mưa xuống đủ mọi loại hoa, vì muốn khai ngộ cho hết thảy các vị Bồ Tát, cùng là thị hiện cho thấy chỗ hành đạo của các vị Bồ Tát.

“Đức Phật Bảo Tạng kia sẽ khiến cho hết thảy các vị Bồ Tát trong khắp mười phương nhiều như số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật đều tụ hội về, lại vì những vị Đại Bồ Tát ấy mà thuyết dạy các môn đà-la-ni, tam-muội, pháp môn không sợ sệt. Vì thế nên đức Bảo Tạng Như Lai mới thị hiện đủ mọi phép biến hóa như vậy.’

“Thiện nam tử! Khi ấy hai vị Bồ Tát nghe được những điều như vậy rồi liền bạch Phật: ‘Bạch Thế Tôn! Vị Bồ Tát Đại Bi ấy từ khi phát tâm đến nay đã được bao lâu rồi? Vị ấy tu hành đạo Bồ Tát đã được bao lâu? Đến khi nào thì vị ấy sẽ ở trong cõi đời xấu ác có năm sự uế trược mà điều phục, thâu nhiếp tất cả những chúng sinh nặng nề phiền não, luôn đấu tranh giành giật lẫn nhau, phần nhiều lại phạm vào năm tội nghịch, thường làm hết thảy những điều bất thiện, diệt mất thiện tâm?”

“Khi ấy, đức Phật Hoa Phu Nhật Vương nói với hai vị Bồ Tát: ‘Các thiện nam tử! Vị Bồ Tát Đại Bi này đến hôm nay mới vừa phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Các thiện nam tử! Nay các ông có thể đến đó để gặp đức Phật Bảo Tạng, lễ bái cúng dường, đi quanh cung kính, nghe đức Phật ấy thuyết dạy các môn đà-la-ni tam-muội, pháp môn không sợ sệt, những kinh điển như vậy… và cũng là để gặp Đại Bồ Tát Đại Bi.

“Các ông hãy chuyển lời ta đến Bồ Tát Đại Bi, hãy nói như thế này: ‘Đức Phật Hoa Phu Nhật Vương gửi lời thăm hỏi ông, dùng hoa nguyệt quang thanh tịnh này gửi theo để làm tin và có lời ngợi khen rằng: Lành thay, lành thay! Thiện nam tử! Ông vừa mới phát tâm đã có thể thành tựu được lòng đại bi như thế! Nay ông đã có danh xưng lớn lao vô lượng, lan truyền ra khắp các thế giới mười phương nhiều như số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật, ai ai cũng gọi ông là Bồ Tát Đại Bi! Ông vừa mới phát tâm mà đã có thể thành tựu được lòng đại bi như thế! Cho nên ta có lời ngợi khen xưng tán ông rằng: Lành thay, lành thay!

“Lại nữa, thiện nam tử! Ông vì giúp cho các vị Bồ Tát trong đời vị lai thành tựu tâm đại bi nên mới nói ra lời nguyện lành đại bi không đoạn dứt, dựng lên đạo tràng chánh pháp. Cho nên ta lại có lời ngợi khen lần nữa: Thật lành thay, lành thay!

“Lại nữa, thiện nam tử! Danh xưng của ông sẽ còn mãi trong đời vị lai, cho đến trải qua số a-tăng-kỳ kiếp nhiều như số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật, dạy bảo cho trăm ngàn ức vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chúng sinh, khiến cho được trụ yên nơi A-nậu-đa-la  Tam-miệu  Tam-bồ-đề,  cho đến khi gặp Phật, được địa vị không còn thối chuyển. Hoặc có chúng sinh phát khởi nguyện lành, hoặc nhận lấy cõi thế giới thanh tịnh, thâu nhiếp tất cả chúng sinh, tùy theo căn tánh mà điều phục, cũng đều khiến cho trong đời vị lai sẽ được thọ ký quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Tất cả những chúng sinh như vậy, trong đời vị lai, trải qua số kiếp nhiều như số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật, sẽ ở nơi các cõi Phật mười phương nhiều như số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật mà thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, chuyển bánh xe chánh pháp, lại cũng sẽ hết lời ngợi khen xưng tán Bồ Tát Đại Bi. Vì thế nên ta dùng phép khen ngợi ba lần để ngợi khen xưng tán ông rằng: Lành thay, lành thay!’

“Thiện nam tử! Bấy giờ, cõi thế giới Diệu Hoa ấy có vô lượng ức Bồ Tát, tất cả đồng thanh bạch rằng: ‘Bạch Thế Tôn! Chúng con đều muốn đến cõi thế giới San-đề-lam để gặp đức Phật Bảo Tạng, lễ bái cúng dường, đi quanh cung kính, lắng nghe thuyết giảng các môn đà-la-ni tam-muội, pháp môn không sợ sệt… Và cũng là muốn được gặp Bồ Tát Đại Bi.’

“Lúc ấy, đức Phật Hoa Phu Nhật Vương trao phép khen ngợi ba lần cùng với hoa nguyệt quang thanh tịnh cho Bồ Tát Tuyển Trạch Tự Pháp Nhiếp Thủ Quốc Độ Bồ Tát Đà-la-ni Diệu Âm rồi dạy rằng: ‘Đã đến lúc các ông nên đi.’

“Bấy giờ, hai vị Bồ Tát từ nơi chỗ đức Phật Hoa Phu Nhật Vương, mang theo hoa quý cùng với vô lượng ức chúng Bồ Tát, chỉ trong khoảng thời gian của một ý nghĩ đã mất dạng nơi thế giới kia, hốt nhiên hiện đến thế giới San-đề-lam, giữa rừng Diêm-phù, gặp đức Phật Bảo Tạng rồi liền cúi đầu sát đất kính lễ.

“Khi ấy, ở thế giới này, các vị Đại Bồ Tát tu tập Đại thừa cùng với những người phát tâm Duyên giác thừa, Thanh văn thừa, chư thiên, loài rồng, quỷ thần, ma-hầu-la-già, các loài như vậy số nhiều vô lượng, không thể tính đếm, giống như mía, trúc, sậy, lúa, như rừng cây rậm rạp, đầy khắp cõi nước này. Các vị Bồ Tát ở thế giới Diệu Hoa đến liền dùng đủ mọi phép thần thông tự tại của hàng Bồ Tát để cúng dường Phật. Cúng dường Phật rồi, nhìn thấy Phạm-chí Bảo Hải được tất cả đại chúng như vậy cùng nhau cung kính, chắp tay ngợi khen xưng tán.

“Các vị Bồ Tát ấy nhìn thấy như vậy rồi liền suy nghĩ rằng: ‘Vị đại sĩ này chắc có lẽ chính là Bồ Tát Đại Bi, nên mới có thể khiến cho đức Như Lai Hoa Phu Nhật Vương gửi tặng loại hoa quý này.’

“Hai vị Bồ Tát ấy liền từ chỗ đứng trước Phật Bảo Tạng cùng quay sang hướng về Phạm-chí Bảo Hải, dùng hoa quý trao ra mà nói rằng: ‘Đức Như Lai Hoa Phu Nhật Vương dùng hoa quý này trao ngài để làm tin, và chuyển đến ngài phép khen ngợi ba lần.’ Các vị liền lặp lại những lời ngợi khen ba lần của đức Như Lai Hoa Phu Nhật Vương như đã nói trên.

“Thiện nam tử! Khi ấy những loại hoa từ trên không trung mưa xuống lại hóa hiện đến những thế giới không có Phật ra đời, lại phát ra đủ mọi âm thanh mầu nhiệm tốt lành. Những âm thanh ấy vang ra khắp nơi, như là âm thanh Phật, âm thanh pháp, âm thanh tỳ-kheo tăng, âm thanh diệt tận, âm thanh vô sở hữu, âm thanh ba-la-mật, âm thanh sức không sợ sệt, âm thanh sáu thần thông, âm thanh vô sở tác, âm thanh không sinh diệt, âm thanh tịch tĩnh, âm thanh đại từ, âm thanh đại bi, âm thanh vô sinh nhẫn, âm thanh thọ ký, âm thanh thuyết pháp Đại thừa

“Ở những thế giới không có Phật ra đời kia lại có các vị Bồ Tát, do bản nguyện nên được sức thần lớn lao, do tu tập giáo pháp sâu xa nên được sự tự tại, nhưng vì muốn cứu vớt chúng sinh nên mới ở nơi các thế giới ấy. Khi các vị được nghe những âm thanh như vậy rồi liền nương theo sức Phật, nương theo sức nguyện, nương theo sức tam-muội, từ nơi các thế giới ấy vận sức thần thông, trong khoảng thời gian như vị đại lực sĩ co duỗi cánh tay đã hiện đến thế giới San-đề-lam, giữa rừng Diêm-phù, nơi đức Phật Bảo Tạng. Các vị đến nơi rồi liền cúi đầu sát đất lễ kính dưới chân Phật, dùng đủ mọi phép thần thông tự tại của hàng Bồ Tát để cúng dường đức Phật và chư đại chúng, rồi lần lượt ngồi xuống lắng nghe Phật thuyết pháp.

“Thiện nam tử! Khi ấy, Phạm-chí Bảo Hải liền mang hoa quý nguyệt quang thanh tịnh cúng dường lên đức Như Lai Bảo Tạng, rồi bạch Phật: ‘Bạch Thế Tôn! Nguyện đức Như Lai vì con thọ ký quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.’

“Thiện nam tử! Bấy giờ đức Như Lai Bảo Tạng liền nhập Tam-muội Điện đăng. Do sức của tam-muội ấy  nên khiến cho ở thế giới San-đề-lam tất cả những núi rừng, cây cối, đất đai đều biến thành bảy báu, khiến cho tất cả đại chúng đều được tự nhìn thấy, hết thảy đều ở trước Phật lắng nghe pháp mầu, rồi tùy chỗ tư duy của mỗi người mà tự thấy thân mình có màu xanh, màu vàng, màu trắng, màu tím, màu đỏ, màu đen…; hoặc thấy thân mình như gió, như lửa, như hư không, như hơi nắng nóng,(1) hoặc như nước, như bọt nước; hoặc thấy thân mình giống như núi lớn, hoặc như thân Phạm thiên, hoặc như thân Đế-thích; hoặc thấy thân mình như hoa, hoặc như loài ca-lâu-la, hoặc như loài rồng, hoặc như loài sư tử, hoặc giống như mặt trời, mặt trăng, các vì sao, hoặc thấy thân mình giống như loài voi, hoặc loài chồn cáo. Tất cả đều ngồi trước Phật lắng nghe pháp mầu, nhưng tùy chỗ tư duy khác nhau mà mỗi người đều tự thấy thân mình có những tướng mạo như vậy.

(1) Như hơi nắng nóng: Như khi trời nắng nóng, người đứng nhìn ra xa trên mặt đường, hoặc trên bãi cát, thấy có ảo giác lung linh như hiện ra các hình ảnh, hoặc như có vùng nước… nhưng thật ra không có gì cả, chỉ là ảo giác tạo ra do không khí chung quanh nung nóng quá mức mà thôi. Ảo giác này rất thường gặp khi người ta băng ngang qua các vùng sa mạc rộng lớn.

“Thiện nam tử! Tất cả đại chúng đều tùy theo chỗ tư duy của mỗi người, lại tự thấy thân mình cũng đồng với thân Phật Bảo Tạng, không có khác biệt.

“Tất cả đại chúng ở trước Phật khi ấy liền nhìn thấy Phạm-chí Bảo Hải ngồi trên hoa sen ngàn cánh bằng bảy báu.

“Tất cả đại chúng, dù ở trên mặt đất hay giữa hư không, dù ngồi hay đứng, mỗi người đều tự thấy như đức Như Lai Bảo Tạng riêng ngồi trước mặt mình, riêng vì mình thuyết pháp, chỉ riêng mình được nhìn thấy.

“Thiện nam tử! Khi ấy đức Như Lai Bảo Tạng khen ngợi Phạm-chí Bảo Hải rằng: ‘Lành thay, lành thay! Hạnh đại bi thanh tịnh! Ông vì vô lượng vô biên chúng sinh mà phát khởi lòng đại bi như vậy, có thể làm lợi ích lớn lao, làm vầng sáng lớn soi chiếu giữa thế gian. Phạm-chí! Ví như lập thành vườn hoa có đủ mọi màu sắc, đủ mọi hương thơm, đủ mọi kiểu dáng, đủ mọi thứ lá, đủ mọi thứ thân, đủ mọi thứ rễ, đủ mọi công đức. Những thứ cây thuốc cần dùng thảy đều phải có đủ.

“Hoặc có loại hoa sen rộng khắp trăm ngàn do-tuần, tỏa ánh sáng và hương thơm mầu nhiệm cũng như các hoa khác. Hoặc có hoa rộng đến một trăm, hoặc rộng đến hai trăm, hoặc rộng đến ba trăm do-tuần, tỏa ánh sáng và hương thơm mầu nhiệm cũng vẫn như các hoa khác. Có loài hoa rộng lớn đến như một cõi thiên hạ, tỏa ánh sáng và hương thơm mầu nhiệm cũng như các hoa khác, không có gì sai biệt.

“Các loài chúng sinh khác nhau, hoặc có người đui mù, ngửi được hương hoa ấy liền thấy được hình sắc; hoặc có người điếc ngửi hương hoa ấy liền có thể nghe được; cho đến những ai không có đủ các căn, ngửi hương hoa ấy rồi liền được đầy đủ.

“Nếu có chúng sinh mang trong người đủ bốn trăm lẻ bốn thứ bệnh, khi bệnh phát khởi, ngửi hương hoa ấy rồi liền được khỏi bệnh.

“Nếu có chúng sinh cuồng điên buông thả, ngu si rối loạn, mê ngủ, loạn tâm, đánh mất chánh niệm, ngửi hương hoa ấy rồi liền đạt được tâm chuyên nhất.

“Trong vườn hoa ấy cũng có loài hoa phân-đà-lợi. Loài hoa này bền chắc như kim cang, thân hoa bằng lưu ly, đài hoa có trăm hạt, lá bằng vàng ròng, mầm non bằng mã não, tua hoa bằng loại chân châu đỏ. Hoa ấy cao tám mươi bốn ức do-tuần, phủ rộng chung quanh đến mười vạn do-tuần. Hình sắc và hương thơm của hoa ấy lan tỏa ra mười phương, khắp các cõi Phật nhiều như số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật. Trong những thế giới ấy, có những chúng sinh hoặc do bốn đại chẳng điều hòa, sinh ra tật bệnh khốn khổ, trầm trọng; hoặc các căn suy tổn, cuồng điên buông thả, ngu si rối loạn, mê ngủ, loạn tâm, đánh mất chánh niệm, khi nhìn thấy ánh sáng và ngửi được mùi hương của hoa ấy thì tất cả mọi sự bệnh khổ thảy đều dứt sạch, thảy đều đạt được tâm chuyên nhất.

“Nếu những chúng sinh vừa gặp lúc mạng chung, thân thể chưa hoại mất, khi có ánh sáng và hương thơm của hoa ấy chạm đến liền được sống lại, cùng với những người thân thuộc của mình đến chơi vườn hoa, cùng nhau thụ hưởng năm món dục. Nếu những chúng sinh đã chết hẳn rồi thì không phải sinh về cõi nào khác, chỉ sinh lên cõi Phạm thiên, sống lâu tại đó, tuổi thọ đến vô lượng.

Bảo Hải! Vườn hoa sen kia là ví như đại chúng trong pháp hội này. Cũng như lúc mặt trời lên thì các đóa hoa đều nở rộ, đức Phật ra đời mang đến mọi sự lợi ích lớn lao, nuôi dưỡng thêm hương thơm, ánh sáng, vì tất cả chúng sinh trừ dứt mọi khổ não.

“Thiện nam tử! Nay ta ra đời như mặt trời xuất hiện giữa thế gian, khiến cho những đóa hoa thiện căn của chúng sinh đều nở rộ, tỏa hương thơm vi diệu, ánh sáng soi chiếu khắp nơi, có thể trừ dứt đủ mọi bệnh khổ của chúng sinh. Chính là đức Như Lai xuất hiện giữa thế gian này, dùng ánh sáng đại bi chiếu soi, che chở tất cả, khiến cho thiện căn của chúng sinh được khai mở, thêm phần lợi ích, trụ yên nơi ba điều phúc.(1)

“Thiện nam tử! Ông đã giáo hóa vô lượng vô biên a-tăng- kỳ chúng sinh, khiến cho trụ yên trong đạo A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Những chúng sinh ấy đến  chỗ  ta, mỗi người đều tự phát khởi các nguyện lành khác nhau, nhận lấy những cõi Phật khác nhau, hoặc thanh tịnh, hoặc không thanh tịnh, ta đều tùy theo chỗ phát nguyện của họ mà thọ ký cho.

“Thiện nam tử! Nếu có Bồ Tát đối trước ta mà phát nguyện nhận lấy cõi thế giới thanh tịnh, dùng tâm thanh tịnh khéo tự điều phục, trồng các căn lành, thâu nhiếp chúng sinh, tuy gọi là Bồ Tát nhưng chẳng phải bậc đại trượng phu dũng mãnh, chẳng phải bậc Bồ Tát có lòng đại bi sâu xa, vì chúng sinh mà cầu đạo A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.

(1) Ba điều phúc: Xem chú giải ở trang 206.

“Nếu Bồ Tát nhận lấy cõi Phật thanh tịnh, tức là xa lìa tâm đại bi; lại còn chẳng nguyện lìa bỏ hai thừa. Vị Bồ Tát như vậy là không có trí huệ phương tiện khéo léo, không có tâm bình đẳng.

“Nếu có Bồ Tát phát lời thệ nguyện rằng: Nguyện cho thế giới của ta xa lìa các thừa Thanh văn, Duyên giác, không có những chúng sinh đã diệt mất căn lành, không có nữ giới và ba đường ác;(1) khi ta thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề rồi, chỉ thuần có các vị Đại Bồ Tát làm quyến thuộc lớn, chỉ thuần thuyết giảng giáo pháp Đại thừa Vô thượng, được thọ mạng vô lượng, trụ lâu ở cõi thế, trải qua vô số kiếp, chỉ thuần thuyết giảng pháp mầu cho những chúng sinh có tâm lành đã được điều phục, những chúng sinh trong sạch, sẵn có căn lành. Những người như vậy, tuy gọi là Bồ Tát nhưng thật chẳng phải bậc đại sĩ! Vì sao vậy? Vì không có được trí huệ bình đẳng và phương tiện khéo léo.’

“Thiện nam tử! Khi ấy đức Như Lai Bảo Tạng duỗi cánh tay màu vàng ròng, từ năm đầu ngón tay phóng ra ánh hào quang rực rỡ. Ánh hào quang rực rỡ ấy có đủ vô lượng trăm ngàn màu sắc, chiếu suốt về phương tây, vượt qua vô lượng vô biên a-tăng-kỳ thế giới, đến một thế giới tên gọi là Đại Chỉ.

“Ở thế giới ấy, nhân dân có tuổi thọ là ba mươi năm, mặt mũi xấu xí, hình dạng khó ưa, gồm đủ hết thảy những điều bất thiện, thân cao sáu thước.(2) Thế giới ấy có đức Phật hiệu là Đại Quang Minh Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn, hiện đang vì bốn bộ chúng mà thuyết giảng giáo pháp Ba thừa.

(1) Ba đường ác: Xem chú giải ở trang 94.

(2) Sáu thước: thước cổ của Trung Hoa, mỗi thước chỉ bằng 0,34 m. Như vậy, 6 thước tương đương khoảng 2 mét.

“Thiện nam tử! Khi ấy tất cả đại chúng ở cõi San-đề-lam đều từ xa trông thấy được đức Phật Đại Quang Minh cùng với đại chúng nơi ấy.

“Đức Phật Bảo Tạng liền bảo với đại chúng: ‘Đức Phật Đại Quang Minh ấy, trong quá khứ vô lượng vô biên a-tăng- kỳ kiếp đã từng ở chỗ Phật Bảo Cái Quang Minh, lần đầu tiên phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Vào thời ấy cũng khuyên dạy vô lượng vô biên ức na-do-tha chúng sinh, khiến cho đều trụ yên trong đạo Vô thượng, tùy chỗ sở nguyện của mỗi người đều nhận lấy đủ mọi cõi thế giới trang nghiêm, hoặc thanh tịnh, hoặc không thanh tịnh, hoặc nhận lấy cõi thế giới xấu ác có năm sự uế trược. Đức Phật Đại Quang Minh khi ấy cũng đã khuyên dạy ta phát tâm và trụ yên trong  đạo  A-nậu-đa-la  Tam-miệu  Tam-bồ-đề. Vào lúc ấy, ta ở chỗ Phật Bảo Cái Quang Minh được khuyến khích phát nguyện trang nghiêm, sẽ ở nơi cõi thế giới xấu ác có năm sự uế trược này mà thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.

“Khi ấy, đức Phật Bảo Cái Quang Minh ngợi khen ta rằng: Lành thay, lành thay! Liền tức thời thọ ký cho ta quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.

“Ta vào lúc ấy được thiện tri thức khuyến khích phát tâm cầu đạo A-nậu-đa-la  Tam-miệu  Tam-bồ-đề.  Vị  thiện  tri thức ấy là bậc trượng phu cao trổi, nhận lấy cõi thế giới xấu ác nặng nề với đủ năm sự uế trược, có nhiều phiền não, cõi nước không thanh tịnh, hết thảy chúng sinh đều làm những việc nghịch ác, cho đến gồm đủ tất cả những điều bất thiện, diệt mất tâm lành, trôi lăn mãi mãi trong chốn bùn lầy sinh tử. Phát nguyện điều phục tất cả những chúng sinh như vậy quả là bậc đại trượng phu!

“Bấy giờ, khắp vô lượng vô biên cõi Phật trong mười phương, tất cả chư Phật đều sai người thay mặt đến chỗ bậc đại trượng phu ấy mà xưng dương tán thán, đặt cho danh hiệu là Đại Bi Nhật Nguyệt Quang Minh.

Đại Bi Nhật Nguyệt Quang Minh chính là bậc thiện tri thức của ta. Vị ấy làm được nhiều điều lợi ích lớn lao, rồi sau mới ở nơi thế giới Đại Chỉ mà thành Phật đến nay chưa bao lâu, vì tất cả những chúng sinh ác độc có đời sống ngắn ngủi ở cõi ấy mà chuyển bánh xe chánh pháp.

“Đức Phật ấy khi mới thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam- miệu Tam-bồ-đề có vô lượng vô biên chư Phật trong mười phương đều sai người thay mặt đến chỗ Phật ấy cúng dường cung kính, tôn trọng tán thán. Hết thảy những đức Phật Thế Tôn này đều là xưa kia đã được Phật Đại Quang Minh khuyên dạy, khiến cho được trụ yên nơi Bố thí ba-la-mật, cho đến Trí huệ ba-la-mật. Các đức Thế Tôn này vì nhớ ơn xưa nên mới sai khiến chư Bồ Tát đến đó cúng dường.

Bảo Hải! Nay ông có thấy chăng? Các đức Thế Tôn ấy mỗi vị đều trụ nơi thế giới thanh tịnh, thọ mạng vô lượng, chỉ thuần vì chúng sinh có tâm lành đã được điều phục, những chúng sinh trong sạch, sẵn có căn lành mà làm các Phật sự. Còn đức Phật Đại Quang Minh thì ở nơi cõi thế giới xấu ác, nhơ nhớp, bất tịnh, có đủ năm sự uế trược, thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Ở đó đa số chúng sinh đều phạm vào tội nghịch, cho đến gồm đủ hết thảy các điều bất thiện, tuổi thọ ngắn ngủi. Ngài có thể ở trong cõi thế giới ấy mà làm vô lượng Phật sự, những sự tăng ích, trưởng dưỡng, chẳng bỏ Thanh văn thừaBích-chi Phật thừa, vì tất cả chúng sinh mà thuyết giảng đủ giáo pháp Ba thừa.

Bảo Hải! Ông là bậc đại trượng phu, hết thảy trong đại chúng nơi đây đều không theo kịp. Việc làm của ông thật nhiệm mầu, cao trổi, thật rất khó làm! Ông đã thệ nguyện nhận lấy cõi thế giới bất tịnh, xấu ác, có đủ năm sự uế trược, chúng sinh phần nhiều làm những việc ác nghịch, cho đến gồm đủ hết thảy những điều bất thiện, để điều phục nhiếp thủ hết thảy những chúng sinh như vậy!

“Thiện nam tử! Nếu có Bồ Tát nhận lấy cõi thế giới thanh tịnh, lìa khỏi ba đường ác,(1) cho đến không có các thừa Thanh văn, Duyên giác, chỉ điều phục nhiếp thủ những chúng sinh có lòng lành trong sạch, đã thành tựu các căn lành. Vị Bồ Tát ấy ví như các loài hoa khác, chẳng thể xem đó là bậc Đại Bồ Tát ví như hoa phân-đà-lợi, dùng tâm lành điều phục chúng sinh, trồng các căn lành, làm các Phật sự.

(1) Ba đường ác: Xem chú giải ở trang 94.

Bảo Hải! Nay ông hãy lắng nghe về bốn pháp giải đãi của hàng Bồ Tát.

“Những gì là bốn? Một là nguyện được thế giới thanh tịnh. Hai là nguyện làm Phật sự với những chúng sinh có tâm lành, trong sạch, đã điều phục. Ba là nguyện sau khi thành Phật không thuyết giảng giáo pháp Thanh văn thừa, Bích-chi Phật thừa. Bốn là nguyện sau khi thành Phật được thọ mạng vô lượng. Như vậy gọi là bốn pháp giải đãi của hàng Bồ Tát.

Bồ Tát như vậy ví như các loài hoa khác, chẳng phải bậc

Bồ Tát được ví như hoa phân-đà-lợi.

Bảo Hải! Trong đại chúng nơi đây chỉ duy nhất có một người là Bà-do-tỳ-nữu đã phát nguyện nhận lấy thế giới không thanh tịnh, điều phục nhiếp hộ những chúng sinh nhiều phiền não.

Bảo Hải! Vào thời Hiền kiếp, nếu có Bồ Tát nào nhận lấy cõi thế giới bất tịnh, nên biết đó là Bồ Tát có bốn pháp tinh tấn.

“Những gì là bốn? Một là phát nguyện nhận lấy cõi thế giới bất tịnh. Hai là phát nguyện làm Phật sự giữa những chúng sinh bất tịnh. Ba là sau khi thành Phật rồi sẽ thuyết giảng giáo pháp Ba thừa. Bốn là phát nguyện sau khi thành Phật có thọ mạng không dài, không ngắn. Như vậy gọi là bốn pháp tinh tấn của hàng Bồ Tát.

Bồ Tát như vậy ví như hoa phân-đà-lợi, chẳng phải như các loại hoa khác. Như vậy gọi là Đại Bồ Tát!

Bảo Hải! Nay ông ở giữa đại chúng vô lượng vô biên a-tăng-kỳ Bồ Tát ví như vườn hoa này, phát nguyện được thọ ký. Ông đối trước Phật đã sinh lòng đại bi như hoa phân- đà-lợi, nhiếp thủ những chúng sinh nhiều ác nghịch, gồm đủ hết thảy các điều bất thiện, trong cõi đời xấu ác có đủ năm sự uế trược mà tùy thuận điều phục tất cả. Ông dùng âm thanh đại bi mà có thể khiến cho chư Phật Thế Tôn nhiều như số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật đều sai khiến chư Bồ Tát đến ngợi khen xưng tán. Xưng tán rồi lại đặt hiệu cho ông là Đại Bi Thành Tựu, khiến cho cả đại chúng này đều cúng dường ông.

“Lại nữa, này ông Đại Bi! Trong đời vị lai, trải qua số a-tăng-kỳ kiếp nhiều như số cát sông Hằng, bước vào phần sau của số a-tăng-kỳ kiếp lần thứ hai cũng nhiều như số cát sông Hằng, thế giới Ta-bà ở vào Hiền kiếp, con người có tuổi thọ một trăm hai mươi năm, thường bị những nỗi khổ già, bệnh, chết trói buộc; cõi đời tối tăm u ám, không thầy dạy bảo, gồm đủ hết thảy các điều bất thiện, đi theo đường tà, chìm sâu trong dòng sông phiền não, chuyên tạo năm tội nghịch, hủy hoại chánh pháp, phỉ báng thánh nhân, phạm vào bốn trọng cấm, đủ mọi điều xấu ác như trên đã nói.

“Trong cõi đời phiền não rối loạn như vậy, ông sẽ thành một vị Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô  thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn, lìa khỏi vòng sinh tử, chuyển bánh xe chánh pháp, phá trừ hết bốn ma.

“Vào thời ấy danh xưng của ông sẽ vang dội mười phương, truyền ra khắp vô lượng vô biên cõi Phật. Ông có đại chúng Thanh văn đệ tử là một ngàn hai trăm năm mươi người, lần lượt trong khoảng bốn mươi lăm năm sẽ thành tựu đủ vô lượng Phật sự như thế, đúng như chỗ phát nguyện của ông đầy đủ không thiếu sót.

“Khi ông Vô Lượng Thanh Tịnh(1) đây thành Phật sẽ có thọ mạng vô lượng, nhưng dù trải qua đến vô lượng vô biên kiếp cũng chỉ thành tựu được những Phật sự giống như ông, không có gì khác biệt.

(1) Tức là Chuyển luân Thánh vương Vô Tránh Niệm đã được đức Phật đổi tên cho là Vô Lượng Thanh Tịnh. Xem lại trang 155.

“Sau khi ông nhập Niết-bàn rồi, chánh pháp trụ thế đủ một ngàn năm. Chánh pháp diệt rồi, những xá-lợi của ông, theo như chỗ phát nguyện của ông sẽ làm các Phật sự, ở lâu trong cõi thế để làm đủ các điều lợi ích cho chúng sinh như trên đã nói.”

Đức Phật Thích-ca Mâu-ni bảo Bồ Tát Tịch  Ý:  “Thiện nam tử! Bấy giờ trong chúng hội có một vị Phạm-chí tên là Tướng Cụ Túc phát nguyện rằng: ‘Bậc đại trượng phu! Nếu trong đời vị lai, trải qua vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp khi ông hành đạo Bồ Tát, dù ở bất cứ nơi nào tôi cũng nguyện vì ông thường làm người theo hầu hạ, chăm sóc, thường lấy tâm từ mà cung phụng cho ông đầy đủ những thứ cần dùng. Cho đến khi ông đản sinh thành Phật, vào kiếp ấy tôi sẽ làm cha của ông. Khi ông thành Phật rồi, tôi sẽ làm vị đại thí chủ. Rồi ông sẽ thọ ký quả Bồ-đề Vô thượng cho tôi.’

“Bấy giờ có vị thần biển tên là Điều Ý lại phát nguyện rằng: ‘Bậc đại trượng phu! Từ nay về sau, dù ông sinh ra ở bất cứ nơi đâu, cho đến khi đản sinh thành Phật, tôi nguyện sẽ thường vì ông mà làm mẹ. Khi ông thành Phật rồi cũng sẽ thọ ký quả Bồ-đề Vô thượng cho tôi.’

“Bấy giờ có vị thần nước lại phát nguyện rằng: ‘Từ nay về sau, dù ông sinh ra ở bất cứ nơi đâu, cho đến khi đản sinh thành Phật, tôi nguyện sẽ thường vì ông mà làm nhũ mẫu. Khi ông thành Phật rồi cũng sẽ thọ ký quả Bồ-đề Vô thượng cho tôi.’

“Lúc ấy có hai vị Đế thích, một vị tên là Thiện Niệm, một vị tên là Bảo Niệm, cùng phát nguyện rằng: ‘Bậc đại trượng phu! Khi ông thành Phật rồi, chúng tôi sẽ làm những đệ tử

Thanh văn của ông có trí huệ thần túc.’

“Lại có vị Đế thích tên là Thiện Kiến Túc phát nguyện rằng: ‘Đại Bi! Từ nay về sau, dù ông sinh ra ở bất cứ nơi đâu, cho đến khi đản sinh thành Phật, tôi nguyện sẽ thường sinh ra làm con của ông.’

“Có vị thần núi Tu-di tên là Thiện Lạc Hoa lại phát nguyện rằng: ‘Đại Bi! Từ nay về sau, dù ông sinh ra ở bất cứ nơi đâu, cho đến khi đản sinh thành Phật, tôi nguyện sẽ thường sinh ra làm vợ của ông. Khi ông thành Phật rồi cũng sẽ thọ ký quả Bồ-đề Vô thượng cho tôi.’

“Lại có vị vua a-tu-la tên là Hung Ức Hạnh phát nguyện rằng: ‘Đại Bi! Trong vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, khi ông hành đạo Bồ Tát, mãi cho đến khi đản sinh thành Phật, tôi sẽ thường vì ông mà làm người hầu hạ, chăm sóc, phục vụ mọi điều cho được an ổn. Khi ông thành tựu quả A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, chuyển bánh  xe  chánh  pháp, tôi sẽ là người hiểu pháp trước tiên, đạt được quả vị chân thật, nếm vị cam-lộ của chánh pháp, cho đến đoạn trừ được hết thảy phiền não, thành bậc A-la-hán.’

“Khi ấy lại có chư thiên, loài rồng, quỷ thần, a-tu-la, ca- lâu-la, loài người, loài phi nhân, nhiều như số cát của một sông Hằng, cùng hướng về Bồ Tát Đại Bi phát lời thệ nguyện rằng: ‘Bậc đại trượng phu! Mong ông sẽ điều phục giáo hóa tất cả chúng tôi.’

“Bấy giờ, có một vị Phạm-chí tu theo phái lõa hình, tên là Loạn Tưởng Khả Uý, phát nguyện rằng: ‘Bậc đại trượng phu! Khi ông hành đạo Bồ Tát trong vô lượng vô biên a-tăng- kỳ kiếp, tôi nguyện sẽ luôn theo ông cầu xin những thứ cần dùng, thường đến chỗ ông cầu xin những thứ như y phục, giường nằm, ghế ngồi, phòng ốc, nhà cửa, voi ngựa, xe cộ, thành quách, vợ con, đầu, mắt, tủy, não, da, thịt, chân, tay, tai, mũi, lưỡi, thân thể. Bậc đại trượng phu! Tôi sẽ vì ông mà tạo ra các nhân duyên hỗ trợ, khiến ông thành tựu đầy đủ pháp Bố thí ba-la-mật, cho đến pháp Trí huệ ba-la-mật.

Đại Bi! Khi ông hành đạo Bồ Tát, tôi sẽ khuyến khích bằng cách như vậy, khiến cho ông được thành tựu đầy đủ sáu pháp ba-la-mật. Khi ông thành Phật rồi, tôi nguyện sẽ làm đệ tử theo ông nghe học tám vạn pháp môn tu tập. Nghe rồi liền có thể biện thuyết được hết thảy các tướng của pháp. Giảng thuyết được các tướng của pháp rồi, ông sẽ thọ ký đạo Bồ-đề Vô thượng cho tôi.’

“Thiện nam tử! Lúc bấy giờ, Phạm-chí Bảo Hải nghe lời nguyện như vậy, liền kính lễ dưới chân đức Phật Bảo Tạng rồi quay sang bảo Phạm-chí Loạn Tưởng Khả  Uý  rằng: ‘Lành thay, lành thay! Ông quả thật là người bạn lành trên đường cầu đạo Vô thượng. Trong vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức a-tăng-kỳ kiếp, ông sẽ thường tìm đến chỗ tôi, khẩn thiết cầu xin những thứ cần dùng, chẳng hạn như y phục, giường nằm, ghế ngồi… cho đến chân, tay, tai, mũi, lưỡi, thân thể. Vào lúc ấy, tôi sẽ lấy tâm thanh tịnh xả bỏ mọi vật sở hữu để bố thí cho ông. Lúc đó ông nhận lấy những thứ ấy mà quả thật không hề có tội lỗi gì cả.’

“Thiện nam tử! Khi ấy, Đại Bồ Tát Đại Bi(1) lại phát nguyện rằng: ‘Bạch Thế Tôn! Khi con hành đạo Bồ Tát trong vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức a-tăng-kỳ kiếp, dù sinh ra ở bất cứ nơi đâu, nếu có những chúng sinh muốn cầu xin vật chi liền đến trước mặt con, hoặc cầu món ăn thức uống, hoặc dùng lời ngọt ngào êm ái, hoặc dùng lời nặng nề ác độc, hoặc dùng lời khinh miệt chê bai, hoặc dùng lời chân thật. Bạch Thế Tôn! Con vào lúc ấy chẳng hề sinh khởi dù chỉ là một ý tưởng ác. Nếu con sinh tâm nóng giận, dù chỉ là mảy may trong chốc lát, hoặc do nhân duyên bố thí mà có lòng mong cầu quả báo trong tương lai, như vậy tức là đã dối gạt vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chư Phật hiện tại ở khắp mười phương, nên trong đời vị lai chắc chắn không thể thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.

(1) Đại Bồ Tát Đại Bi: là tên của Phạm-chí Bảo Hải do chư Phật xưng tán.

“Bạch Thế Tôn! Vào lúc ấy con sẽ dùng tâm hoan hỷ mà bố thí cho những người đến cầu xin, nguyện cho những người nhận lãnh đó không bị tổn hại gì, đối với các căn lành cũng không hề bị ngăn trở chút nào. Nếu như con làm cho những người thọ nhận ấy bị mảy may tổn hại hay ngăn trở căn lành, như vậy ắt là đã dối gạt vô lượng vô biên a-tăng- kỳ chư Phật hiện tại ở khắp mười phương. Nếu dối gạt chư Phật, ắt phải đọa vào địa ngục A-tỳ, không thể hoan hỷ bố thí các thứ đồ ăn, thức uống, y phục…

“Nếu những người đến cầu xin con, hoặc dùng lời ngọt ngào êm ái, hoặc dùng lời nặng nề ác độc, hoặc dùng lời khinh miệt chê bai, hoặc dùng lời chân thật, khẩn thiết cầu xin những thứ như đầu, mắt, tủy, não… Bạch Thế Tôn! Nếu như vào lúc ấy tâm con không hoan hỷ, thậm chí chỉ cần sinh khởi một niệm sân hận, hoặc do nhân duyên bố thí ấy mà có lòng mong cầu được quả báo, đó tức là đã dối gạt vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chư Phật hiện tại ở khắp mười phương. Do nhân duyên ấy, chắc chắn phải chịu đọa vào địa ngục A-tỳ.

“Cũng giống như khi con tu tập pháp Bố thí ba-la-mật, cho đến tu tập pháp Trí huệ ba-la-mật cũng đều giống như vậy.’(1)

(1) Ở đây nói tóm lại việc tu tập cả sáu pháp ba-la-mật của Bồ Tát đều giống như vậy.

“Thiện nam tử! Khi ấy đức Như Lai Bảo Tạng liền ngợi khen Phạm-chí Bảo Hải: ‘Lành thay, lành thay! Ông thật khéo trụ yên nơi tâm đại bi nên mới có thể phát khởi được thệ nguyện như vậy!’

“Thiện nam tử! Bấy giờ, hết thảy đại chúng, chư thiên, loài rồng, quỷ thần, người và phi nhân thảy đều chắp tay ngợi khen rằng: ‘Lành thay, lành thay! Ông thật khéo trụ yên nơi tâm đại bi nên mới có thể phát khởi được thệ nguyện như vậy, được danh xưng lớn lao, kiên trì vững chắc thực hành theo sáu pháp hòa kính, làm lợi ích đầy đủ cho hết thảy chúng sinh.’

“Thiện nam tử! Khi Phạm-chí Loạn Tưởng Khả Uý phát lời thệ nguyện như trên, lại có tám mươi bốn ngàn vị thiên nhân cũng phát khởi thệ nguyện giống như vậy.

“Thiện nam tử! Lúc bấy giờ Đại Bồ Tát Đại Bi lại cùng với tám mươi bốn ngàn vị thiên nhân như vậy cùng phát thệ nguyện, tâm sinh hoan hỷ, chắp tay quay nhìn bốn phía đại chúng mà nói rằng: ‘Thật là chưa từng có! Trong đời vị lai, khi chánh pháp đã diệt, con sẽ ở trong cõi đời xấu ác đủ năm sự uế trược với nhiều phiền não mà phóng ra ánh hào quang rực sáng, làm bậc thầy điều ngự, giữa cõi đời tối tăm u ám thắp lên ngọn đèn chánh pháp, vì những chúng sinh không có người cứu giúp che chở, không có thế lực, không có Phật chỉ đường. Nay con vừa mới phát tâm Bồ-đề đã có được những người bạn cùng cầu đạo Vô thượng như thế này. Hết thảy những người này đều phát nguyện trong nhiều đời sẽ theo con mà nhận lãnh sự bố thí những món như đầu, mắt, tủy, não, da, thịt, xương, máu, chân, tay, tai, mũi, lưỡi, thân thể, cho đến y phục, món ăn, thức uống.’

“Thiện nam tử! Khi ấy, Phạm-chí Bảo Hải  bạch  Phật: ‘Thế Tôn! Nếu trong đời vị lai trải qua vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức a-tăng-kỳ kiếp, những chúng sinh này tìm đến chỗ con, được con bố thí cho các thứ như đầu, mắt, tủy, não, cho đến món ăn, thức uống, dù chỉ một phần rất nhỏ như mảy lông, thì khi con thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề rồi, nếu những chúng sinh ấy không được thoát khỏi sinh tử, không được thọ ký các quả vị trong Ba thừa, tức là con đã dối gạt vô lượng vô biên chư Phật hiện tại trong khắp mười phương, chắc chắn sẽ không thể thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.’

“Thiện nam tử! Khi ấy đức Như Lai Bảo Tạng lại ngợi khen Bồ Tát Đại Bi một lần nữa: ‘Lành thay, lành thay! Bậc đại trượng phu cao cả! Ông có thể hành đạo Bồ Tát như vậy, cũng giống như xưa kia từng có Bồ Tát Tu-di Sơn Bảo ở trước đức Phật Thế Gian Quang Minh lần đầu tiên phát tâm Bồ-đề như vậy, phát lời thệ nguyện như vậy, và cũng hành đạo Bồ Tát như vậy, trải qua số a-tăng-kỳ kiếp nhiều như số cát của một con sông Hằng.

“Về phương đông cách đây trăm ngàn ức cõi Phật, có một thế giới tên là Quang Minh Trí Sí, tuổi thọ của con người ở đó là một trăm tuổi. Bồ Tát Tu-di Sơn Bảo ở trong thế giới ấy thành Phật hiệu là Trí Hoa Vô Cấu Kiên Bồ-đề Tôn Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn. Đức Phật ấy ở đời thuyết pháp bốn mươi lăm năm, làm đủ các Phật sự.’

“Khi ấy, đức Phật Bảo Tạng bảo Bồ Tát Đại Bi: ‘Sau khi đức Phật Trí Hoa Vô Cấu Kiên Bồ-đề Tôn Vương nhập Niết- bàn rồi, chánh pháp trụ thế đủ một ngàn năm. Khi chánh pháp diệt rồi, tượng pháp trụ thế cũng đủ một ngàn năm. Này Đại Bi! Đức Phật Thế Tôn kia dù tại thế, dù đã nhập Niết-bàn, trong suốt khoảng thời gian chánh pháp và tượng pháp trụ thế, nếu có các vị tỳ-kheo tỳ-kheo ni hủy phạm giới luật, không theo đúng chánh pháp, làm theo tà đạo, hoặc làm dứt mất pháp cúng dường, không biết hổ thẹn, hoặc làm dứt mất tài vật của chư tăng mười phương, dứt mất các thứ y phục, đồ ăn thức uống, giường ghế, thuốc men… của chư tăng hiện tiền, hoặc lấy những tài vật của chúng tăng mà làm của riêng mình, hoặc tự ý mang cho người khác, hoặc mang cho người thế tục. Thiện nam tử! Hết thảy những người như vậy, đức Phật Thế Tôn kia đều thọ ký cho các quả vị trong Ba thừa.

“Này Đại Bi! Nơi đạo trường của đức Như Lai ấy, nếu có người nào xuất gia mặc áo cà-sa, thảy đều được thọ ký cho không còn thối chuyển trong Ba thừa. Nếu có vị tỳ-kheo, tỳ- kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di nào phạm vào bốn trọng cấm, đức Phật kia đối với những người ấy liền khởi ý tưởng như đối với Thế Tôn, trồng các căn lành, lại cũng thọ ký cho được các quả vị không còn thối chuyển trong Ba thừa.’

“Thiện nam tử! Lúc bấy giờ Đại Bồ Tát Đại Bi bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế Tôn! Nay con phát nguyện trong khi con hành đạo Bồ Tát, nếu như có chúng sinh nào cần phải khuyến khích giáo hóa, khiến cho được trụ yên nơi pháp Bố thí ba-la-mật, cho đến trụ yên nơi pháp Trí huệ ba-la-mật, cho đến khuyến khích giáo hóa khiến cho được trụ yên nơi chỉ một mảy may căn lành, mãi cho đến khi con thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, nếu con không thể giúp cho những chúng sinh ấy được trụ yên trong giáo pháp Ba thừa, khiến cho được địa vị không còn thối chuyển, cho dù chỉ là bỏ sót một trong số rất nhiều chúng sinh ấy, tức là con đã dối gạt vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chư Phật hiện tại trong mười phương thế giới, như vậy chắc chắn không thể thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.

“Bạch Thế Tôn! Khi con thành Phật rồi, nếu có chúng sinh nào xuất gia mặc áo cà-sa theo giáo pháp của con, hoặc phạm vào các trọng giới, hoặc làm theo tà kiến; hoặc có những tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắcưu-bà-di  khinh  khi Tam bảo, chẳng có lòng tin, gồm đủ các tội nặng, nhưng nếu chỉ trong một niệm sinh tâm cung kính, tôn trọng đức Thế Tôn, hoặc tôn trọng chánh pháp, hoặc tôn trọng Tăng-già, nếu như những chúng sinh này không riêng được thọ ký các quả vị trong Ba thừa rồi sinh lòng thối chuyển, cho dù chỉ là một người, tức là con đã dối gạt vô lượng vô biên a-tăng- kỳ chư Phật hiện tại trong mười phương thế giới, như vậy chắc chắn không thể thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.

“Bạch Thế Tôn! Khi con thành Phật rồi, chư thiên, loài rồng, quỷ thần, người và phi nhân, nếu có thể đối với người mặc áo cà-sa sinh lòng cung kính cúng dường, tôn trọng tán thán, chúng sinh ấy dù được nhìn thấy chỉ một phần nhỏ của áo cà-sa cũng liền được địa vị không còn thối chuyển trong Ba thừa.

“Nếu chúng sinh nào đang bị đói khát khổ bức, hoặc các loài quỷ thần bần cùng, hoặc những người hèn hạ, kém cỏi, cho đến những chúng sinh trong loài ngạ quỷ, nếu có được chỉ một phần nhỏ của áo cà-sa, cho đến một mảnh chừng bốn tấc, chúng sinh ấy liền sẽ được đầy đủ tất cả các món ăn thức uống, lại tùy theo chỗ mong cầu điều gì cũng đều được nhanh chóng thành tựu.

“Nếu những chúng sinh nào thường đối nghịch, chống phá nhau, khởi lên tư tưởng oán thù, vần xoay trong vòng tranh đấu; hoặc có chư thiên, loài rồng, quỷ thần, càn-thát-bà, a-tu-la,    ca-lâu-la,    khẩn-na-la,    ma-hầu-la-già,    câu-biện- đồ, tỳ-xá-già, người và phi nhân đang lúc cùng nhau tranh đấu, nếu nhớ nghĩ đến áo cà-sa liền sinh tâm bi mẫn, tâm nhu nhuyễn, tâm tịch diệt, tâm lành đã được điều phục, không còn lòng oán thù.

“Nếu có người đang ở trong vòng đao binh chiến đấu, kiện thưa tranh tụng, nếu mang theo một phần nhỏ của áo cà-sa đến những nơi ấy, rồi vì muốn được bảo vệ nên cúng dường cung kính, tôn trọng mảnh cà-sa ấy; người ấy sẽ không bị người khác xâm hại, quấy nhiễu, khinh thường, lại thường được hơn hẳn người khác mà vượt qua mọi sự hoạn nạn.

“Bạch Thế Tôn! Nếu như áo cà-sa trong giáo pháp của con không thành tựu được năm công đức nhiệm mầu tốt đẹp như trên, tức là con đã dối gạt vô lượng vô biên a-tăng- kỳ chư Phật hiện tại trong khắp các thế giới mười phương, trong đời vị lai ắt không thể thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, làm các Phật sự, đánh mất pháp lành, chắc chắn không thể phá trừ ngoại đạo.’

“Thiện nam tử! Lúc bấy giờ đức Như Lai Bảo Tạng duỗi cánh tay phải có màu vàng ròng, xoa đầu Bồ Tát Đại Bi ngợi khen rằng: ‘Lành thay, lành thay! Bậc đại trượng phu! Lời ông nói ra quả thật quý giá như trân bảo, quả thật vô cùng hiền thiện! Sau khi ông thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam- miệu Tam-bồ-đề rồi, áo cà-sa này sẽ có  thể thành tựu đủ năm công đức nhiệm mầu tốt đẹp, mang lại lợi ích lớn lao cho chúng sinh.’

“Thiện nam tử! Khi ấy, Đại Bồ Tát Đại Bi được nghe đức Phật ngợi khen như vậy rồi liền sinh lòng hoan hỷ, phấn khích vô cùng.

“Khi đức Phật duỗi cánh tay phải màu vàng ròng với năm ngón dài mềm mại xoa lên đầu Bồ Tát Đại Bi, thân thể của Bồ Tát nhờ đó liền biến đổi hình trạng, trẻ trung như một chàng trai mới vừa hai mươi tuổi.

“Thiện nam tử! Tất cả đại chúng trong hội ấy, chư thiên, loài rồng, quỷ thần, càn-thát-bà, người và phi nhân, thảy đều chắp tay cung kính hướng về Bồ Tát Đại Bi, tung rải các loại hoa thơm để cúng dường, cho đến trỗi lên các loại âm nhạc, rồi lại hết lời ngợi khen xưng tán.

“Sau khi ngợi khen xưng tán rồi, tất cả đều đứng lặng yên tại chỗ.”

The post KINH BI HOA – PHẨM THỨ TƯ – PHẦN VI – BỒ TÁT THỌ KÝ appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
KINH BI HOA – PHẨM THỨ TƯ – PHẦN V – BỒ TÁT THỌ KÝ https://bachhac.net/kinh-bi-hoa-pham-thu-tu-phan-v-bo-tat-tho-ky.html Wed, 15 Sep 2021 06:13:26 +0000 https://bachhac.net/?p=3978 Bạch Thế Tôn! Khi con thành tựu quả A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề rồi, chỉ dùng một thứ âm thanh mà thuyết pháp, nhưng nếu chúng sinh nào học theo Thanh văn thừa, khi nghe thuyết pháp rồi liền được rõ biết giáo pháp của Thanh văn; nếu chúng sinh nào tu học theo Duyên giác …

The post KINH BI HOA – PHẨM THỨ TƯ – PHẦN V – BỒ TÁT THỌ KÝ appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
KINH BI HOA - PHẨM THỨ TƯ - PHẦN V - BỒ TÁT THỌ KÝ

Bạch Thế Tôn! Khi con thành tựu quả A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề rồi, chỉ dùng một thứ âm thanh mà thuyết pháp, nhưng nếu chúng sinh nào học theo Thanh văn thừa, khi nghe thuyết pháp rồi liền được rõ biết giáo pháp của Thanh văn; nếu chúng sinh nào tu học theo Duyên giác thừa, khi nghe thuyết pháp rồi liền được rõ biết giáo pháp của Duyên giác; nếu chúng sinh nào tu học Vô thượng Đại thừa, khi nghe thuyết pháp rồi liền được rõ biết giáo pháp Đại thừa, thuần nhất không pha tạp.

“Nếu chúng sinh nào tu tập các pháp hỗ trợ Bồ-đề, muốn đạt đến giác ngộ, khi nghe thuyết pháp rồi liền buông xả được tài vật, thực hành bố thí.

“Nếu chúng sinh nào lìa bỏ mọi công đức, mong cầu sự khoái lạc trong hai cõi trời người, khi nghe thuyết pháp rồi liền được thọ trì giới luật.

“Nếu chúng sinh nào đe dọa lẫn nhau, gây sự sợ sệt cho nhau, trong lòng nhiều tham ái, sân hận, khi nghe thuyết pháp rồi liền nảy sinh tình cảm thân thiết sâu đậm với nhau.

“Nếu chúng sinh nào ưa thích làm việc giết hại, khi nghe thuyết pháp rồi liền được tâm bi.

“Nếu chúng sinh nào thường bị những sự tham lam, keo kiệt, ganh ghét, đố kỵ che lấp trong tâm, khi nghe thuyết pháp rồi liền tu tập tâm hỷ.

“Nếu chúng sinh nào tướng mạo đẹp đẽ, thân không tật bệnh, tham đắm hình sắc nên sinh lòng buông thả, giải đãi, khi nghe thuyết pháp rồi liền được tâm buông xả.

“Nếu chúng sinh nào bị lửa dâm dục thiêu đốt trong lòng nên thường buông thả, giải đãi, khi nghe thuyết pháp rồi liền quán xét sự nhơ nhớp, không trong sạch.

“Nếu chúng sinh nào tu học giáo pháp Đại thừa, bị tâm xáo động ngăn che, khi nghe thuyết pháp rồi liền đạt được phép quán thân niệm xứ.(1)

“Nếu chúng sinh nào thường tự khoe mình giỏi biện luận tranh cãi, trí huệ sáng suốt nhanh lẹ, khi nghe thuyết pháp rồi liền rõ biết sâu sắc pháp mười hai nhân duyên.(2)

“Nếu chúng sinh nào nghe biết ít ỏi, kiến giải hẹp hòi, lại tự cho mình là giỏi biện luận, khi nghe thuyết pháp rồi liền đạt được các môn đà-la-ni, rõ biết là các pháp không thể đoạt được, không thể mất đi.

“Nếu có chúng sinh nào ngập trong tà kiến như núi lớn, khi nghe thuyết pháp rồi liền hiểu được nghĩa không rất sâu của các pháp.

(1) Thân niệm xứ: Một trong Bốn niệm xứ, xem chú giải ở trang 99.

(2) Mười hai nhân duyên (Thập nhị nhân duyên): Xem chú giải trang 66.

“Nếu chúng sinh nào bị tri giác che lấp, khi nghe thuyết pháp rồi liền được hiểu sâu pháp môn Vô tướng.

“Nếu chúng sinh nào bị những ý nguyện không trong sạch che lấp trong tâm, khi nghe thuyết pháp rồi liền hiểu sâu pháp môn Vô tác.(1)

“Nếu chúng sinh nào trong tâm không thanh tịnh, khi nghe thuyết pháp rồi, tâm liền được thanh tịnh.

“Nếu chúng sinh nào bị nhiều trần duyên che lấp trong tâm, khi nghe thuyết pháp rồi liền được hiểu rõ rằng tâm Bồ-đề không hề hoại mất.(2)

“Nếu chúng sinh nào bị sân hận che lấp trong tâm, khi nghe thuyết pháp rồi liền rõ biết tướng chân thật, riêng được thọ ký.

“Nếu chúng sinh nào trong tâm bị sự ỷ lại che lấp, khi nghe thuyết pháp rồi liền thấu hiểu rằng các pháp không có chỗ để nương dựa, ỷ lại.

“Nếu chúng sinh nào bị ái nhiễm che lấp trong tâm, khi nghe thuyết pháp rồi liền nhanh chóng rõ biết các pháp vốn thanh tịnh không cấu nhiễm.

“Nếu chúng sinh nào đánh mất tâm lành, khi nghe thuyết pháp rồi liền hiểu thấu được Tam-muội Nhật quang.

“Nếu chúng sinh nào làm theo các nghiệp của ma, khi nghe thuyết pháp rồi liền nhanh chóng rõ biết được pháp thanh tịnh.

(1) Vô tác: Các pháp đều do nhân duyên hợp thành nên nói là không có người tạo tác, vì bản thân người tạo tác cũng chỉ là một trong các nhân duyên.

(2) Tâm Bồ-đề không hề hoại mất: tánh Phật của mỗi chúng sinh dù trôi lăn trong sinh tử cũng không hề hoại mất, chỉ cần trừ dứt mọi phiền não là có thể tự nhiên hiển lộ.

“Nếu chúng sinh nào bị các luận thuyết tà vạy che lấp trong tâm, khi nghe thuyết pháp rồi liền được hiểu sâu chánh pháp nhiều lợi ích.

“Nếu chúng sinh nào bị phiền não che lấp trong tâm, khi nghe thuyết pháp rồi liền được rõ biết phép lìa phiền não.

“Nếu chúng sinh nào đi theo các đường ác, khi nghe thuyết pháp rồi liền được hồi tâm chuyển hướng.

“Nếu chúng sinh nào ở trong giáo pháp Đại thừa mà lại ngợi khen xưng tán cho rằng các tà pháp là tốt đẹp nhiệm mầu, khi nghe thuyết pháp rồi liền đối với tà pháp sinh tâm thối chuyển mà được sự hiểu biết chân chánh.

“Nếu có Bồ Tát nào chán lìa chốn sinh tử, khi nghe thuyết pháp rồi liền sinh tâm vui thích ngay trong sinh tử.

“Nếu chúng sinh nào không rõ biết những địa vị tốt lành, khi nghe thuyết pháp rồi liền được rõ biết các pháp về địa vị tốt lành.

“Nếu chúng sinh nào thấy người khác làm điều thiện không vui thích, sinh lòng đố kỵ, ghen ghét, khi nghe thuyết pháp rồi liền được tâm tùy hỷ.

“Nếu những chúng sinh nào thường trái nghịch, mâu thuẫn với nhau, khi nghe thuyết pháp rồi liền được sáng suốt không ngăn ngại.

“Nếu chúng sinh nào làm các nghiệp ác, khi nghe thuyết pháp rồi liền thấu hiểu rằng các nghiệp ác đều phải chịu quả báo.

“Nếu chúng sinh nào thường sợ sệt đại chúng, khi nghe thuyết pháp rồi liền hiểu thấu được Tam-muội Sư tử tướng.

“Nếu chúng sinh nào bị bốn ma che lấp trong tâm, khi nghe thuyết pháp rồi liền nhanh chóng được Tam-muội Thủ lăng nghiêm.

“Nếu chúng sinh nào không thấy được ánh sáng của các cõi Phật, khi nghe thuyết pháp rồi liền hiểu thấu được đủ các Tam-muội Trang nghiêm quang minh .

“Nếu chúng sinh nào nặng lòng yêu ghét, khi nghe thuyết pháp rồi liền được tâm buông xả.

“Nếu chúng sinh nào chưa đạt được sự sáng suốt của pháp Phật, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Pháp tràng tướng.

“Nếu chúng sinh nào lìa bỏ trí huệ sáng suốt, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Pháp cự.

“Nếu chúng sinh nào bị sự ngu si mê ám che lấp trong tâm, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Nhật đăng quang minh.

“Nếu chúng sinh nào không có biện tài luận thuyết, khi nghe thuyết pháp rồi liền được đủ mọi công đức biện luận ứng đối.

“Nếu chúng sinh nào quán xét các sắc hòa hợp không có sự bền chắc, cũng như bọt nước, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Na-la-diên.

“Nếu chúng sinh nào trong tâm rối loạn không yên, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Kiên lao quyết định.

“Nếu chúng sinh nào muốn thấy được tướng đỉnh đầu của Phật, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Tu-di tràng.

“Nếu chúng sinh nào buông bỏ tâm nguyện, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Kiên lao.

“Nếu chúng sinh nào tu tập thối lui, mất các thần thông, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Kim cang.

“Nếu chúng sinh nào đối với đạo tràng Bồ-đề sinh tâm nghi hoặc, khi nghe thuyết pháp rồi liền thấu rõ được Đạo tràng Kim cang.

“Nếu chúng sinh nào đối với tất cả các pháp không có tâm chán lìa, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Kim cang.

“Nếu chúng sinh nào không biết được tâm ý người khác, khi nghe thuyết pháp rồi liền biết được.

“Nếu chúng sinh nào đối với căn tánh không phân biệt được lanh lợi hay ngu độn, khi nghe thuyết pháp rồi liền được rõ biết.

“Nếu chúng sinh nào không hiểu được ngôn ngữ của đủ mọi loài, khi nghe thuyết pháp rồi thấu hiểu được Tam- muội Âm thanh.

“Nếu chúng sinh nào chưa được Pháp thân, khi nghe thuyết pháp rồi liền được rõ biết phân biệt các thân.

“Nếu chúng sinh nào không thấy được thân Phật, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Bất huyễn.

“Nếu chúng sinh nào thường phân biệt các duyên, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Vô tránh.

“Nếu chúng sinh nào đối với việc thuyết giảng chánh pháp sinh lòng nghi hoặc, khi nghe thuyết pháp rồi liền đối với việc thuyết giảng chánh pháp được tâm thanh tịnh.

“Nếu chúng sinh nào khởi lên hạnh tà vạy không tin nhân quả, khi nghe thuyết pháp rồi liền rõ biết phép tùy thuận nhân duyên.

“Nếu chúng sinh nào đối với một cõi Phật thế giới khởi tâm cho là thường tồn, khi nghe thuyết pháp rồi liền khéo phân biệt được vô lượng cõi Phật.

“Nếu chúng sinh nào chưa trồng các căn lành, khi nghe thuyết pháp rồi liền được đủ các Tam-muội Trang nghiêm.

“Nếu chúng sinh nào không thể phân biệt được các ngôn ngữ, khi nghe thuyết pháp rồi liền thấu hiểu phân biệt được đủ các Tam-muội Ngôn âm.

“Nếu chúng sinh nào chuyên tâm cầu được tất cả trí huệ, khi nghe thuyết pháp rồi liền được không còn phân biệt Tam-muội Pháp giới.

“Nếu chúng sinh nào thối chuyển trong chánh pháp, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Kiên cố.

“Nếu chúng sinh nào không rõ biết pháp giới, khi nghe thuyết pháp rồi liền được trí huệ sáng suốt.

“Nếu chúng sinh nào buông bỏ lời thệ nguyện trước đây, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Bất thất.

“Nếu chúng sinh nào thường phân biệt các đạo, khi nghe thuyết pháp rồi liền thấu rõ một đạo, không có chỗ phân biệt.

“Nếu chúng sinh nào tìm cầu trí huệ, muốn được rộng lớn như hư không, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam- muội Vô sở hữu.

“Nếu chúng sinh nào chưa được đầy đủ các phép ba-la- mật, khi nghe thuyết pháp rồi liền được trụ yên trong các phép ba-la-mật.

“Nếu chúng sinh nào chưa được đầy đủ Bốn pháp thâu nhiếp, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Diệu thiện nhiếp thủ.

“Nếu chúng sinh nào thường phân biệt Bốn tâm vô lượng, khi nghe thuyết pháp rồi liền được tâm bình đẳng, chuyên cần, tinh tấn.

“Nếu chúng sinh nào chưa được đầy đủ Ba mươi bảy pháp hỗ trợ Bồ-đề, khi nghe thuyết pháp rồi liền được trụ yên trong Tam-muội Xuất thế.

“Nếu chúng sinh nào để mất chánh niệm và trí huệ giải thoát, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Đại hải trí ấn.

“Nếu chúng sinh nào trong tâm nghi hoặc chưa sinh khởi pháp nhẫn nhục, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam- muội Chư pháp quyết định, vì chỉ có một tướng pháp duy nhất.

“Nếu chúng sinh nào quên mất những pháp đã nghe, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Bất thất niệm.

“Nếu chúng sinh nào đối với tất cả các sự thuyết pháp đều không thấy vui thích, khi nghe thuyết pháp rồi liền được mắt huệ thanh tịnh, dứt hết mọi sự nghi ngờ.

“Nếu chúng sinh nào đối với Tam bảo chẳng sinh khởi lòng tin, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Công đức tăng trưởng.

“Nếu chúng sinh nào khao khát mong cầu mưa pháp, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Pháp vũ.

“Nếu chúng sinh nào đối với Tam bảo sinh tâm cho là đoạn diệt, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Chư bảo trang nghiêm.

“Nếu chúng sinh nào không làm các nghiệp trí huệ, không chuyên cần, tinh tấn, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Kim cang trí huệ.

“Nếu chúng sinh nào bị các phiền não trói buộc, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Hư Không Ấn.

“Nếu chúng sinh nào chấp rằng thật có cái ta vật của ta, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Trí ấn.

“Nếu chúng sinh nào không rõ biết những công đức đầy đủ của Như Lai, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam- muội Thế gian giải thoát.

“Nếu chúng sinh nào trong đời quá khứ chưa từng cúng dường Phật, khi nghe thuyết pháp rồi liền được đủ mọi phép thần túc biến hóa.

“Nếu chúng sinh nào với một môn pháp giới mà suốt vô lượng kiếp trong đời vị lai cũng không diễn nói hết, khi nghe thuyết pháp rồi liền có thể giảng giải, diễn nói tất cả các pháp cũng đồng như một pháp giới.

“Nếu chúng sinh nào đối với tất cả các kinh Tu-đa-la(1)

(1) Tu-đa-la (Sūtra), dịch nghĩa là khế kinh, pháp bổn, chỉ chung những kinh điển do Phật thuyết dạy để chúng sinh vâng làm theo nhằm đạt đến sự giải thoát. Vì thế mà khởi đầu bằng “như thị ngã văn” để xác tín đó chính là lời do Phật đã từng nói ra, ngài A-nan nghe và thuật lại; rồi kết thúc bằng “hoan hỷ phụng hành” để nhấn mạnh là kinh chỉ có giá trị khi người nghe “vui vẻ vâng làm theo”. Nếu không thực hành theo lời Phật dạy thì dù có đọc tụng bao nhiêu kinh điển cũng không thể đạt được sự giải thoát.

“Nếu chúng sinh nào lìa bỏ Sáu pháp hòa kính, khi nghe thuyết pháp rồi liền được thấu rõ Tam-muội Chư pháp.

“Nếu chúng sinh nào đối với các các pháp môn giải thoát sâu xa không thể nghĩ bàn thường không chuyên cần tinh tấn, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Sư tử du hý.

“Nếu chúng sinh nào muốn phân biệt vào kho pháp của Như Lai, khi nghe thuyết pháp rồi, phân biệt vào được kho pháp Như Lai chẳng cần nghe theo ai khác.

“Nếu chúng sinh nào đối với đạo Bồ Tát không chuyên cần tinh tấn, khi nghe thuyết pháp rồi liền được trí huệ, cần hành tinh tấn.

“Nếu chúng sinh nào chưa từng được thấy các kinh Bổn sinh,(1) khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Nhất thiết tại tại xứ xứ.

“Nếu chúng sinh nào việc tu hành chưa rốt ráo, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Thọ ký.

“Nếu chúng sinh nào chưa đạt được đầy đủ Mười sức của Như Lai, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Vô hoại.

(1) Kinh Bổn sinh (Jātaka): Kinh nói về những tiền thân và hạnh nguyện của đức chưa thể phân biệt tuyển chọn, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Chư pháp bình đẳng thật tướng.

Phật khi còn tu tập đạo Bồ Tát. Những kinh Bổn sinh được biết đến nhiều nhất là 547 bài nằm trong Tiểu bộ kinh (Khuddaka-nikāya) của kinh điển Nguyên thủy.

“Nếu chúng sinh nào chưa đạt được đầy đủ Bốn pháp không sợ sệt, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Vô tận ý.

“Nếu chúng sinh nào chưa đạt được đầy đủ các pháp không chung cùng(1) của Phật, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Bất cộng pháp.

“Nếu chúng sinh nào chưa đạt được đầy đủ những kiến giải không ngu si, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam- muội Nguyện cú.

“Nếu chúng sinh nào chưa giác ngộ được hết thảy các pháp trong Phật pháp, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Tiển bạch vô cấu tịnh ấn.

(1) Các pháp không chung cùng của Phật: tức Thập bát bất cộng pháp (十八不共法 – Sanskrit: aṣṭādaśa āveṇikā buddha-dharmāḥ – Mười tám pháp không chung cùng). Các pháp này chỉ Phật Thế Tôn mới đạt được, hàng Thanh văn, Duyên giác không thể đạt được, nên gọi là không chung cùng (bất cộng). Mười tám pháp này bao gồm:

  1. Thân vô thất (Thân không lỗi)
  2. Khẩu vô thất (Miệng không lỗi)
  3. Niệm vô thất (Ý tưởng không lỗi)
  4. Vô dị tưởng (Không có ý tưởng xen tạp)
  5. Vô bất định tâm (Không có tâm xao động)
  6. Vô bất tri dĩ xả (Chẳng phải không biết chuyện đã bỏ).
  7. Dục vô diệt (Sự dục không diệt)
  8. Tinh tấn vô diệt (Sự tinh tấn không diệt)
  9. Niệm vô diệt (Ý tưởng không diệt)
  10. Huệ vô diệt (Trí huệ không diệt)
  11. Giải vô diệt (Giải thoát không diệt)
  12. Giải thoát tri kiến vô diệt (Giải thoát tri kiến không diệt)
  13. Nhất thiết thân nghiệp tùy trí huệ hành (Hết thảy nghiệp của thân tùy theo trí huệ mà thi hành).
  14. Nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí huệ hành (Hết thảy nghiệp của miệng tùy theo trí huệ mà thi hành).
  15. Nhất thiết ý nghiệp tùy trí huệ hành (Hết thảy nghiệp của ý tùy theo trí huệ mà thi hành).
  16. Trí huệ tri quá khứ thế vô ngại (Trí huệ biết đời quá khứ không ngại.)
  17. Trí huệ tri vị lai thế vô ngại (Trí huệ biết đời vị lai không ngại.)
  18. Trí huệ tri hiện tại thế vô ngại (Trí huệ biết đời hiện tại không ngại.)

“Nếu chúng sinh nào chưa đạt được đầy đủ trí huệ rõ biết tất cả, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Thiện liễu.

“Nếu chúng sinh nào chưa được thành tựu hết thảy Phật sự, khi nghe thuyết pháp rồi liền được Tam-muội Vô lượng bất tận ý.

“Tất cả những chúng sinh như vậy, khi được nghe con thuyết pháp rồi, mỗi người đều đạt được sự tin hiểu.

“Có những vị Bồ Tát trong tâm chơn chất ngay thẳng, không có sự dua nịnh, cong vạy, khi nghe thuyết pháp rồi liền được tám mươi bốn ngàn pháp môn, tám mươi bốn ngàn phép tam-muội, bảy mươi lăm ngàn môn đà-la-ni.

“Lại có vô lượng vô biên a-tăng-kỳ các vị Đại Bồ Tát tu tập theo giáo pháp Đại thừa, khi nghe con thuyết pháp rồi cũng đạt được vô lượng công đức như vậy, dừng trụ an ổn nơi địa vị không còn thối chuyển.

“Cho nên, các vị Đại Bồ Tát vì muốn được đủ mọi sự trang nghiêm tốt đẹp bền chắc mà phát khởi đại nguyện không thể nghĩ bàn, lấy việc tăng trưởng tri kiến không thể nghĩ bàn để làm sự trang nghiêm tốt đẹp.

“Vì lấy ba mươi hai tướng tốt(1) để trang nghiêm nên theo đó mà được tám mươi vẻ đẹp.

“Vì lấy âm thanh nhiệm mầu để trang nghiêm nên tùy theo chỗ thích nghe thuyết pháp của mỗi chúng sinh mà khiến cho tất cả người nghe pháp đều được đầy đủ tri kiến.

(1) Ba mươi hai tướng tốt: Xem chú giải ở trang 88.

“Vì lấy tâm để trang nghiêm nên được các tam-muội, không sinh lòng thối chuyển.

“Vì lấy niệm để trang nghiêm nên không quên mất bất cứ môn đà-la-ni nào.

“Vì lấy tâm để trang nghiêm nên có thể phân biệt được các pháp.

“Vì lấy niệm để trang nghiêm nên hiểu rõ được hết thảy nghĩa lý nhiều như những hạt bụi nhỏ.

“Vì lấy tâm lành để trang nghiêm nên được thệ nguyện kiên cố, tinh tấn bền chắc, theo đúng như chỗ phát nguyện mà đạt đến sự giải thoát.

“Vì lấy tâm chuyên nhất để trang nghiêm nên lần lượt vượt lên các địa vị tu chứng.(1)

“Vì lấy việc bố thí để trang nghiêm nên tất cả những thứ cần dùng của mình đều có thể buông xả.

“Vì lấy việc trì giới để trang nghiêm nên khiến cho tâm lành trong trắng, thanh tịnh không cấu nhiễm.

“Vì lấy đức nhẫn nhục để trang nghiêm nên đối với chúng sinh trong lòng không có sự chướng ngại.

“Vì lấy đức tinh tấn để trang nghiêm nên hết thảy các pháp phụ trợ(2) đều được thành tựu.

“Vì lấy thiền định để trang nghiêm nên ở trong hết thảy các tam-muội đều được sức tự tại không ngăn ngại.

(1) Các địa vị tu chứng: chỉ Mười địa vị tu chứng của hàng Bồ Tát, tức Thập địa hay Thập trụ. Xem chú giải ở trang 108.

(2) Hết thảy các pháp phụ trợ: Chỉ ba mươi bảy phẩm hỗ trợ Bồ-đề, hay Tam thập thất đạo phẩm, cũng gọi là Tam thập thất trợ đạo pháp. Xem chú giải ở trang 107.

“Vì lấy trí huệ để trang nghiêm nên rõ biết mọi thói tật phiền não.

“Vì lấy lòng từ để trang nghiêm nên một lòng nhớ nghĩ đến hết thảy chúng sinh.

“Vì lấy lòng bi để trang nghiêm nên có thể trừ dẹp được tất cả những khổ đau của chúng sinh.

“Vì lấy lòng hỷ để trang nghiêm nên đối với hết thảy các pháp lòng không nghi hoặc.

“Vì lấy lòng xả để trang nghiêm nên lìa bỏ được tâm kiêu mạn, đối với tất cả luôn giữ lòng bình đẳng không phân cao thấp.

“Vì lấy các thần thông để trang nghiêm nên đối với hết thảy các pháp đều được tự tại không ngăn ngại.

“Vì lấy công đức để trang nghiêm nên được bàn tay quý, hóa hiện kho báu dùng không thể hết.

“Vì lấy trí huệ để trang nghiêm nên rõ biết được tâm niệm của tất cả chúng sinh.

“Vì lấy tâm ý để trang nghiêm nên dùng phương tiện giúp cho hết thảy chúng sinh được tỉnh ngộ.

“Vì lấy sự sáng suốt để trang nghiêm nên được mắt trí huệ sáng suốt.

“Vì lấy các sự biện nghị để trang nghiêm nên khiến cho chúng sinh được giáo pháp và ý nghĩa tương ứng với ngôn từ.

“Vì lấy sự không sợ sệt để trang nghiêm nên hết thảy các ma không thể làm ngăn ngại, khó khăn.

“Vì lấy công đức để trang nghiêm nên được những công đức của chư Phật Thế Tôn.

“Vì lấy pháp để trang nghiêm nên được biện tài vô ngại, thường vì chúng sinh giảng nói chánh pháp nhiệm mầu.

“Vì lấy sự sáng suốt để trang nghiêm nên được hết thảy mọi sự sáng suốt của Phật pháp.

“Vì lấy sự soi chiếu sáng suốt để trang nghiêm nên có thể soi sáng khắp các cõi Phật thế giới.

“Vì lấy tâm kẻ khác để trang nghiêm nên được trí huệ chân chánh không rối loạn.

“Vì lấy việc truyền dạy giới luật để trang nghiêm nên được sự giữ gìn và bảo vệ giới luật đúng như lời dạy.

“Vì lấy các phép thần túc để trang nghiêm nên được phép Như ý túc, đạt đến giải thoát.

“Vì lấy việc thọ trì hết thảy các đức Như Lai để trang nghiêm nên được thâm nhập kho pháp vô lượng của Như Lai.

“Vì lấy chánh pháp tôn quý để trang nghiêm nên được trí huệ chẳng tùy theo kẻ khác.

“Vì lấy việc làm theo hết thảy mọi việc lành để trang nghiêm nên được chỗ thực hành đúng như lời dạy, vì muốn cho những chúng sinh như thế đều được những lợi ích công đức như thế.

“Nếu có vô lượng vô biên a-tăng-kỳ các vị Đại Bồ Tát tu tập theo Đại thừa, khi nghe con thuyết pháp chỉ một câu liền được đầy đủ hết thảy những pháp lành trong sạch như vậy.

“Vì thế cho nên chỗ đạt được trí huệ của chư Đại Bồ Tát đối với các pháp không phải do được nghe từ người khác, vẫn được thành tựu chánh pháp lớn lao sáng suốt, thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.

“Bạch Thế Tôn! Nếu những chúng sinh ở thế giới phương khác tạo năm tội nghịch, cho đến phạm vào bốn trọng cấm,(1) diệt mất pháp lành, nếu học theo Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Đại thừa, do nơi nguyện lực nên muốn sinh về thế giới của con. Khi được sinh về rồi, lại gồm thâu hết thảy các nghiệp bất thiện, thô thiển xấu ác, tâm nhiều mong cầu, ương ngạnh rắn rỏi rất khó điều phục, rơi hẳn vào bốn điên đảo,(2) tham lam mê đắm, keo kiệt, bủn xỉn. Những chúng sinh như vậy có đến tám mươi bốn ngàn tâm tánh rối loạn khác nhau, con sẽ vì hết thảy những tâm tánh khác nhau ấy mà giảng thuyết rộng tám mươi bốn ngàn pháp môn khác nhau.

“Bạch Thế Tôn! Nếu chúng sinh nào học theo giáo pháp Đại thừa Vô thượng, con sẽ vì chúng sinh ấy rộng thuyết đầy đủ sáu pháp ba-la-mật, nghĩa là từ Bố thí ba-la-mật cho đến Trí huệ ba-la-mật.(3)

“Nếu chúng sinh nào học theo giáo pháp Thanh văn thừa, chưa trồng các căn lành, cầu được chư Phật làm thầy, con sẽ khiến cho họ trụ yên nơi Tam quy y, sau đó mới khuyến khích trụ nơi sáu pháp ba-la-mật.

“Nếu chúng sinh nào ưa thích làm việc giết hại, con sẽ khiến cho được trụ yên trong chỗ không giết hại.

(1) Bốn trọng cấm: chỉ bốn đại cấm giới của người xuất gia, tức bốn tội ba-la-di, bao gồm: giết người, trộm cắp, dâm dục và vọng xưng chứng thánh. Người xuất gia phạm vào một trong bốn trọng cấm này phải bị trục xuất ra khỏi tăng đoàn.

(2) Bốn điên đảo: bốn quan điểm trái nghịch với sự thật. Xem chú giải ở trang 80.

(3) Bố thí… cho đến Trí huệ…: Nghĩa là gồm đủ sáu pháp ba-la-mật: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Trí huệ.

“Nếu chúng sinh nào chuyên làm những việc tham lam, ác độc, con sẽ khiến cho được trụ yên trong chỗ không trộm cắp.

“Nếu chúng sinh nào làm việc dâm dục không đúng pháp, con sẽ khiến cho được trụ yên trong chỗ không tà dâm.

“Nếu những chúng sinh nào cố ý nói ra những lời phỉ báng, dối trá lẫn nhau, con sẽ khiến cho được trụ yên trong chỗ không nói dối.

“Nếu chúng sinh nào ưa thích sự say cuồng, mê loạn, con sẽ khiến cho được trụ yên trong chỗ không uống rượu.

“Nếu chúng sinh nào phạm vào cả năm việc như trên,(1) con sẽ khiến cho được thọ trì năm giới của hàng cư sĩ tại gia.(2)

“Nếu chúng sinh nào đối với các pháp lành chẳng sinh lòng vui thích, con sẽ khiến cho thọ trì Tám trai giới(3) trong một ngày một đêm.

“Nếu chúng sinh nào căn lành ít ỏi, đối với căn lành sinh lòng ưa thích, con sẽ khiến cho chúng sinh ấy trong đời vị lai được ở trong Phật pháp, xuất gia học đạo, trụ yên trong Phạm hạnh thanh tịnh(4) và thọ trì Mười giới.(5)

(1) Cả năm việc như trên: Tức năm điều vừa nói trên, bao gồm: giết hại, trộm cắp, tà dâm, nói dối và uống rượu.

(2) Năm giới của hàng cư sĩ tại gia: tức Ngũ giới, bao gồm: không sát sinh, không

trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu.

(3) Tám trai giới: tức Bát quan trai giới. Xem chú giải ở trang 704.

(4) Phạm hạnh thanh tịnh: chỉ việc đoạn trừ dâm dục.

(5)Mười giới (Thập giới): giới của người mới xuất gia, tức các vị sa-di, bao gồm: không sát sinh; không trộm cắp; không dâm dục; không nói dối; không uống rượu; không dùng hương hoa phấn sáp tô điểm thân thể; không ca múa hát nhạc hoặc xem người khác ca múa hát nhạc; không nằm ngồi trên giường ghế cao rộng; không ăn trái giờ, mỗi ngày chỉ ăn một bữa vào đúng ngọ; và không cất giữ các tiện, vì họ mà giảng rõ ý nghĩa, lại thị hiện các phép thần túc cho đến thị hiện Niết-bàn, lòng không chán nản.

“Nếu chúng sinh nào hết lòng khao khát cầu được các pháp lành căn bản, con sẽ khiến cho được trụ yên trong các pháp lành căn bản, khiến cho được thành tựu Phạm hạnh, đầy đủ đại giới.(1)

(1) Đại giới: cũng gọi là Cụ túc giới, tức là giới luật đầy đủ của một vị tỳ-kheo, gồm có 250 giới. Người xuất gia chỉ sau khi được truyền thọ đại giới mới chính thức được xem là tỳ-kheo tăng.

“Hết thảy những chúng sinh như vậy, dù tạo đủ năm tội nghịch, cho đến tham lam keo kiệt, con sẽ vì họ mà dùng đủ mọi phương cách, thị hiện các phép thần túc, thuyết giảng nghĩa lý các pháp, mở bày chỉ dạy các pháp về ấm, giới, nhập, khổ, không, vô thường, vô ngã, khiến cho được trụ yên trong cảnh giới Niết-bàn tịch diệt nhiệm mầu an ổn không sợ sệt, lại vì bốn chúng tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu- bà-di như vậy mà thuyết pháp.

“Nếu chúng sinh nào mong cầu được nghe những sự luận nghị, con sẽ vì họ mà nói các luận thuyết chánh pháp. Cho đến những ai cầu phép luận giải thoát, con sẽ vì người ấy mà nói các luận thuyết về nghĩa không.

“Nếu chúng sinh nào đối với thiện pháp chân chánh trong lòng không ưa thích, con sẽ vì họ mà nói hết thảy các việc trợ giúp.

“Nếu chúng sinh nào đối với thiện pháp chân chánh trong lòng ưa thích, con sẽ vì họ mà nói pháp môn Tam-muội Không, là pháp giải thoát chân chánh.

“Bạch Thế Tôn! Con vì hết thảy mọi chúng sinh như vậy, sẽ vượt qua trăm ngàn do-tuần mà không dùng đến phép thần túc, để mở bày chỉ bảo vô lượng vô biên đủ mọi phương thứ đồ quý giá, tiền bạc, vàng ngọc… Các giới này được thọ trì suốt đời, không giới hạn về thời gian như Bát quan trai giới.

“Bạch Thế Tôn! Con dùng sức tam-muội để xả bỏ năm phần thọ mạng có được của mình mà nhập Niết-bàn.

“Vào lúc ấy, con tự phân thân thành những phần nhỏ như nửa hạt đình lịch, vì thương xót chúng sinh mà cầu được nhập Niết-bàn. Sau khi nhập Niết-bàn rồi, chánh pháp của con ở đời được một ngàn năm. Tượng pháp(1) ở đời đủ năm trăm năm.

“Sau khi con nhập Niết-bàn rồi, nếu chúng sinh nào dùng các thứ trân bảo, kỹ nhạc để cúng dường xá-lợi, thậm chí chỉ cần lễ bái, đi quanh về bên phải một vòng, chắp tay ngợi khen xưng tán, dùng một cành hoa để cúng dường, chúng sinh ấy nhờ nơi nhân duyên như vậy sẽ được tùy theo chí nguyện, ở trong Ba thừa thảy đều được địa vị không còn thối chuyển.

“Bạch Thế Tôn! Sau khi con nhập Niết-bàn rồi, nếu chúng sinh nào học theo giáo pháp của con, cho đến chỉ cần có thể giữ bền được một giới như con đã thuyết dạy, hoặc thậm chí chỉ cần đọc tụng một bài kệ bốn câu, vì người khác giảng nói, khiến cho người nghe được sinh lòng hoan hỷ, liền cúng dường người nói pháp ấy cho đến dù chỉ một cành hoa hay cúi lạy một lạy, nhờ nơi nhân duyên ấy liền được tùy theo chí nguyện của mình, ở trong Ba thừa thảy đều được địa vị không còn thối chuyển.

(1) Tượng pháp: Giáo pháp do một vị Phật truyền dạy được tồn tại chia chia làm ba thời kỳ. Chánh pháp là khi giáo pháp ấy được giữ gìn nguyên vẹn. Tượng pháp là khi giáo pháp ấy vẫn còn nhưng đã ít nhiều biến đổi, sai lệch, nên chỉ được xem là tương tợ mà thôi. Và thời kỳ cuối cùng là Mạt pháp, khi ấy giáo pháp suy yếu, mất dần cho đến lúc thế gian không còn ai biết đến.

“Thậm chí cho đến khi đuốc pháp lụi tàn, cờ pháp ngã đổ, chánh pháp diệt mất rồi, xá-lợi của con sẽ vùi sâu trong đất đến tận nơi thấp nhất của thế giới. Cho đến khi thế giới Ta-bà không có trân bảo, xá-lợi của con sẽ hóa thành bảo châu lưu ly như ý, ánh sáng chói chang rực rỡ, từ nơi tận cùng của thế giới chiếu lên đến thế gian, lên đến tận cõi trời A-ca-ni-trá, làm mưa xuống đủ các thứ hoa, như hoa mạn- đà-la, hoa ma-ha mạn-đà-la, hoa ba-lợi-chất-đa, hoa mạn- thù-sa, hoa ma-ha mạn-thù-sa, thảy đều có  những  vầng sáng bao quanh rực rỡ thanh tịnh, lớn như bánh xe, có trăm cánh, ngàn cánh hoặc trăm ngàn cánh, ánh sáng tỏa chiếu khắp nơi, lại có hương thơm vi diệu thường lan tỏa, người xem không thấy chán. Ánh sáng của hoa chói chang rực rỡ không sao tả xiết. Hương thơm vi diệu của hoa tỏa khắp đến vô lượng vô biên. Không trung mưa xuống vô số các loại hoa như vậy.

“Đang khi mưa hoa xuống như vậy, lại có đủ mọi âm thanh vi diệu vang lên, như âm thanh Phật, âm thanh pháp, âm thanh tỳ-kheo tăng,  âm  thanh  của  Tam  quy  y, âm thanh của giới ưu-bà-tắc,(1) âm thanh của sự thành tựu tám giới,(2) âm thanh của mười giới xuất gia, âm thanh của sự bố thí, âm thanh của sự trì giới, âm thanh của sự đầy đủ đại giới, Phạm hạnh thanh tịnh, âm thanh của sự trợ giúp pháp lành, âm thanh đọc kinh, âm thanh của tư duy thiền, âm thanh của quán bất tịnh, âm thanh của niệm tưởng hơi thở ra vào, âm thanh của phi tưởng phi phi tưởng, âm thanh của hữu tưởng vô tưởng, âm thanh của thức xứ, âm thanh của không xứ, âm thanh của tám thắng xứ,(3) âm thanh của sự nhập vào mười nhất thiết xứ,(1)   âm thanh của định huệ, âm thanh của các pháp không, vô tướng, vô tác, âm thanh của mười hai nhân duyên,(2) âm thanh đầy đủ giáo pháp Thanh văn, âm thanh học theo giáo pháp Duyên giác, âm thanh đầy đủ sáu ba-la-mật của Đại thừa.

(1) Giới ưu-bà-tắc: tức Ngũ giới, giới của hàng cư sĩ tại gia.

(2) Tám giới: tức Bát quan trai giới.

(3) Tám thắng xứ: Tám phép thiền định giúp người tu xả bỏ tham ái đạt đến giải

“Trong các loại hoa ấy phát ra những âm thanh như vậy, chư thiên trong cõi Sắc giới thảy đều nghe thấy; nghe được những âm thanh ấy rồi, hết thảy những việc thiện đã làm trước đây đều tự nhớ lại; hết thảy những việc bất thiện đã làm trước đây liền tự hối trách, liền hiện xuống nơi thế giới Ta-bà, giáo hóa vô lượng chúng sinh trong thế gian, khiến cho đều được trụ yên trong Mười điều lành.

“Chư thiên trong cõi Dục giới cũng được nghe những âm thanh ấy; nghe rồi thì dứt hết mọi sự tham ái trói buộc, không còn say đắm năm món dục,(3) hết thảy tâm pháp đều được lắng yên, tĩnh lặng; hết thảy những điều thiện đã làm trước đây đều tự nhớ lại; hết thảy những điều bất thiện đã làm trước đây liền tự hối trách; liền hiện ngay xuống thế giới Ta-bà, giáo hóa vô lượng chúng sinh trong thế gian, khiến cho đều được trụ yên trong Mười điều lành.

thoát. Do có thể giúp sinh khởi tri kiến thù thắng nên gọi là thắng xứ. Tám thắng xứ bao gồm: 1. Nội hữu sắc tưởng quán ngoại sắc thiểu thắng xứ; 2. Nội hữu sắc tưởng quán ngoại sắc đa thắng xứ; 3. Nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc thiểu thắng xứ; 4. Nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc đa thắng xứ; 5. Thanh thắng xứ; 6. Hoàng thắng xứ; 7. Xích thắng xứ; 8. Bạch thắng xứ. Các phép quán từ thứ 5 đến thứ 8 theo Trí độ luận là quán bốn màu sắc (xanh, vàng, đỏ trắng) như trên, nhưng theo kinh Bồ Tát Anh Lạc thì ở đây là quán bốn đại (đất, nước, gió, lửa), tức bốn yếu tố cấu thành vật chất.

(1) Mười nhất thiết xứ: Mười phép quán giúp người tu nhập vào tất cả mọi cảnh giới. Gồm có quán bốn màu xanh, vàng, đỏ, trắng, quán bốn đại đất, nước, lửa, gió và quán không, quán thức.

(2) Mười hai nhân duyên (Thập nhị nhân duyên): Xem chú giải trang 66.

(3) Năm món dục: Xem chú giải ở trang 220.

“Bạch Thế Tôn! Những loại hoa như vậy ở giữa không trung lại cũng biến hóa ra đủ mọi loại trân bảo, vàng bạc, ma ni chân châu, lưu ly, các loại ngọc quý, mã não, san hô, những thứ trang sức đẹp đẽ của cõi trời, tất cả đều rơi xuống như mưa, đầy khắp trong thế giới Ta-bà.

“Lúc bấy giờ, tất cả nhân dân trong lòng đều được vui vẻ, không có những nạn đấu tranh, đói khổ, tật bệnh. Tất cả những nạn giặc cướp đến từ nơi khác, cho đến những lời nói ác độc cũng đều diệt mất, thảy đều được lắng yên, tĩnh lặng.

“Khi ấy thế giới có được những sự vui thích như vậy. Có những chúng sinh nhìn thấy các món trân bảo rồi, hoặc sờ mó, hoặc sử dụng, liền đối với giáo pháp Ba thừa không còn thối chuyển. Các món trân bảo này tạo ra lợi ích như vậy. Tạo ra lợi ích rồi lại trở về chìm sâu trong lòng đất, đến tận chỗ trước đây ở nơi sâu nhất của thế giới.

“Bạch Thế Tôn! Khi cõi thế giới Ta-bà có nạn đao binh nổi lên, xá-lợi của thân con lại sẽ hóa thành loại châu lưu ly màu xanh biếc, từ trong lòng đất phát ra, lên đến tận cõi trời A-ca-ni-trá, mưa xuống đủ các thứ hoa, như hoa mạn- đà-la, hoa ma-ha mạn-đà-la, hoa ba-lợi-chất-đa…  Lại  cũng hóa hiện đủ các sự lợi ích như đã nói trên… cho đến khi quay trở về chìm sâu trong lòng đất, đến tận chỗ trước đây ở nơi sâu nhất của thế giới.

“Bạch Thế Tôn! Cũng giống như khi có nạn đao binh, đến khi có những nạn đói, bệnh dịch nổi lên, xá-lợi của con lại cũng hóa hiện đầy đủ các sự việc như vậy

“Bạch Thế Tôn! Trong đại kiếp Hiền, sau khi con nhập Niết-bàn rồi, những xá-lợi của con để lại sẽ làm các Phật sự như vậy, điều phục vô lượng vô biên chúng sinh, khiến cho ở trong giáo pháp Ba thừa được địa vị không còn thối chuyển. Cũng như vậy, con sẽ ở trong số đại kiếp nhiều như số vi trần của năm cõi Phật mà điều phục vô lượng vô biên chúng sinh, khiến cho ở trong giáo pháp Ba thừa được địa vị không còn thối chuyển.

“Bạch Thế Tôn! Nếu như trải qua đủ số a-tăng-kỳ kiếp nhiều như số cát của một ngàn con sông Hằng, trong vô lượng vô biên a-tăng-kỳ thế giới khác có bao nhiêu vị Phật ra đời, tất cả đều là những chúng sinh do con trong thời gian tu đạo A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề đã giáo hóa cho, từ khi mới phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề cho đến lúc được trụ yên trong sáu pháp ba-la-mật.

“Bạch Thế Tôn! Khi con thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam- miệu Tam-bồ-đề rồi, những chúng sinh mà con khuyến khích giáo hóa cho được phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, cho đến dừng trụ trong sáu pháp ba-la-mật, cùng với những chúng sinh mà sau khi con nhập Niết-bàn để lại xá-lợi biến hóa giáo hóa cho được phát tâm A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, tất cả những chúng sinh ấy trải qua số a-tăng-kỳ kiếp nhiều như số cát của một ngàn con sông Hằng, sẽ ở nơi vô lượng vô biên a-tăng-kỳ thế giới khắp mười phương mà thành Phật, thảy đều xưng tán danh hiệu của con mà ngợi khen tán thán rằng: ‘Trong đời quá khứ lâu xa có một kiếp tên gọi là Hiền. Khi bắt đầu vào kiếp ấy, vị Thế Tôn thứ tư có danh hiệu như vậy. Vị Phật Thế Tôn ấy đã khuyến khích giáo hóa chúng ta, khiến cho bắt đầu phát tâm  A-nậu-đa-la  Tam-miệu  Tam-bồ-đề.  Vào  lúc ấy tất cả chúng ta vốn đã diệt mất tâm lành, gồm đủ các việc bất thiện, phạm vào năm tội nghịch, cho đến chạy theo tà kiến. Khi đó vị Phật ấy đã khuyến khích giáo hóa chúng ta, khiến cho được trụ yên trong sáu pháp ba-la-mật, nhờ đó liền được thấu rõ hết thảy các môn đà-la-ni, chuyển bánh xe chánh pháp, lìa khỏi sự trói buộc của sinh tử, giúp cho vô lượng vô biên trăm ngàn chúng sinh được trụ yên nơi quả vị cao trổi, lại cũng khiến cho vô lượng trăm ngàn chúng sinh được dừng yên trong hai cõi trời người, cho đến đạt được các quả giải thoát.’

“Nếu có những chúng sinh cầu đạo Bồ-đề, nghe lời ngợi khen xưng tán con như vậy rồi, mỗi người liền thưa hỏi đức Phật của mình: ‘Bạch Thế Tôn! Vị Phật Thế Tôn kia thấy được những ý nghĩa lợi ích nào mà ở trong cõi đời xấu ác nặng nề có năm sự uế trược như vậy thành tựu quả A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề?’

Các đức Thế Tôn liền vì những kẻ nam, người nữ có lòng lành cầu đạo Bồ-đề kia mà giảng nói về sự thành tựu hạnh đại bi của con trong quá khứ, từ khi mới phát tâm A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, cho đến sự trang nghiêm thế giới cùng với nguyện lành mầu nhiệm và những nhân duyên phát khởi.

“Những người ấy nghe rồi đều lấy làm kinh ngạc, ngợi khen là chưa từng có, liền phát khởi nguyện lành mầu nhiệm, đối với chúng sinh khởi tâm đại bi cũng như con không khác. Tất cả đều phát nguyện rằng: ‘Nếu có cõi thế giới xấu ác nặng nề với năm sự uế trược như vậy, trong đó có những chúng sinh phạm năm tội nghịch, cho đến gồm đủ các việc bất thiện, ta sẽ ở trong thế giới ấy mà điều phục tất cả.’

Các vị Thế Tôn kia do nơi sự thành tựu tâm đại bi của những người ấy, đã phát khởi các nguyện lành đối với cõi đời xấu ác có năm sự uế trược, nên liền tùy theo chỗ mong cầu của mỗi người mà thọ ký cho tất cả.

“Bạch Thế Tôn! Các vị Phật Thế Tôn lại vì những người tu học Đại thừa mà giảng nói về nhân duyên phát khởi những sự biến hóa của xá-lợi do con lưu lại: Trong quá khứ lâu xa, có vị Phật Thế Tôn danh hiệu như thế, sau khi nhập Niết- bàn rồi, có những kiếp nạn như đao binh, dịch bệnh, đói khổ lần lượt nổi lên. Khi đó, chúng ta sống trong kiếp ấy chịu mọi sự khổ não. Lúc bấy giờ, xá-lợi mà đức Phật kia lưu lại liền vì chúng ta mà hiện ra đủ mọi phép thần thông tự tại để cứu khổ. Nhờ vậy nên chúng ta liền được phát tâm A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, trồng các căn lành, tinh cần tu tập sáu pháp ba-la-mật như đã nói trên.”

Khi ấy, đức Phật Thích-ca Mâu-ni bảo Bồ Tát Tịch Ý: “Thiện nam tử! Lúc bấy giờ Phạm-chí Bảo Hải ở nơi đức Phật Bảo Tạng, đứng trước chư thiên, đại chúng, nhân, phi nhân, được thành tựu tâm đại bi rộng lớn vô biên, sau khi phát khởi năm trăm lời thệ nguyện liền bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế Tôn! Nếu như sở nguyện của con không thành tựu, không được lợi ích bản thân, thì con sẽ không thể làm được các Phật sự như đã nói trên trong Hiền kiếp của đời vị lai, khi có những sự xấu ác nặng nề với năm sự uế trược, chúng sinh đấu tranh giành giật lẫn nhau, trong đời mạt thế mù tối ngu si không thầy dạy dỗ, không người răn dạy, chìm trong các tà kiến hết sức tối tăm u ám, phạm vào năm tội nghịch. Nếu vậy thì nay con ắt là sẽ xả bỏ tâm Bồ-đề, cũng không nguyện ở các cõi Phật phương khác mà trồng các căn lành.

“Bạch Thế Tôn! Nay con một lòng mong cầu như vậy, chẳng mong được nhờ nơi căn lành mà thành tựu quả A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, cũng chẳng nguyện được quả vị Bích-chi Phật, cũng chẳng nguyện làm theo Thanh văn thừa, chẳng cầu được làm vua cõi trời, cõi người, chẳng ưa thích năm món dục mà sinh trong hai cõi trời, người, cũng chẳng cầu sinh trong các loài càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu- la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, dạ-xoa, la-sát, các vị long vương… Trồng các căn lành mà chẳng cầu được những nơi như thế.

“Bạch Thế Tôn! Nếu được giàu sang lớn ắt là do nhân lành bố thí, nếu được sinh lên cõi trời ắt là do nhân lành trì giới, nếu được trí huệ lớn ắt là do nhân lành học rộng, nếu được dứt trừ phiền não ắt là do nhân lành tư duy. Như Phật có dạy, những việc như thế đều là sự lợi ích cho bản thân do nhân lành công đức, thảy đều có thể tùy theo chỗ mong cầu mà được cả.

“Bạch Thế Tôn! Nếu như căn lành của con được thành tựu, được lợi ích bản thân, thì những việc làm của con như bố thí, trì giới, học rộng nghe nhiều, tư duy, thảy đều sẽ được thành tựu. Nguyện cho những quả báo tốt đẹp này sẽ dành cho hết thảy chúng sinh trong địa ngục.

“Nếu có chúng sinh nào đọa vào địa ngục A-tỳ, nhờ căn lành này sẽ được cứu thoát, sinh lên cõi người, nghe Phật thuyết pháp liền được rõ biết, thành tựu quả A-la-hán, mau chóng nhập Niết-bàn.

“Nếu như nghiệp báo của những chúng sinh này chưa dứt, con nguyện sẽ xả bỏ tuổi thọ của mình để vào địa ngục A-tỳ thay thế họ mà nhận chịu khổ não.

“Nguyện cho thân con biến hiện ra nhiều như số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật thế giới. Mỗi một thân ấy đều cao lớn như núi Tu-di, mỗi một thân ấy đều nhận biết được mọi điều vui khổ, cũng như thân con hiện nay nhận biết được mọi điều vui khổ. Mỗi một thân ấy sẽ nhận chịu đủ mọi quả báo khổ não của các tội ác nặng nề nhiều như số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật, cũng như số hạt bụi nhỏ trong cõi Phật hiện nay.

“Trong các cõi Phật ở khắp mười phương có những chúng sinh phạm vào năm tội nghịch ác, khởi các nghiệp bất thiện, cho đến sẽ đọa vào địa ngục A-tỳ; nếu về sau trải qua số đại kiếp nhiều như số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật, ở các cõi Phật khắp mười phương nhiều như số hạt bụi nhỏ, có bao nhiêu những chúng sinh phạm vào năm tội nghịch ác, khởi các nghiệp bất thiện, cho đến sẽ đọa vào địa ngục A-tỳ, con sẽ vì tất cả những chúng sinh như vậy mà ở nơi địa ngục A-tỳ thay thế nhận chịu mọi sự khổ não, khiến cho họ khỏi phải đọa vào địa ngục, liền được gặp ngay chư Phật, thưa hỏi pháp mầu, thoát khỏi sinh tử, trụ yên nơi cảnh giới Niết-bàn. Vào khi ấy, con nguyện trong nhiều đời thường thay thế những chúng sinh đó ở trong địa ngục A-tỳ.

“Lại có những chúng sinh ở các cõi thế giới mười phương nhiều như số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật, đã tạo các ác nghiệp, ắt sẽ phải chịu quả báo đọa vào địa ngục Hỏa chá, giống như địa ngục A-tỳ, hoặc địa ngục Chá, địa ngục Ma- ha-lô-khiết, địa ngục Bức bách, địa ngục Hắc thằng, địa ngục Tưởng, hoặc thọ sinh vào đủ mọi loài súc sinh, ngạ quỷ bần  cùng,  dạ-xoacâu-bàn-tràtỳ-xá-giàa-tu-laca-lâu- la… con cũng nguyện sẽ cứu vớt và thay thế chúng sinh chịu khổ như vậy.

“Bạch Thế Tôn! Nếu như có những chúng sinh trong các thế giới khắp mười phương nhiều như số hạt bụi nhỏ của một cõi Phật, đã tạo các ác nghiệp, ắt sẽ phải chịu quả báo sinh vào cõi người chịu tật nguyền đui, điếc, câm, ngọng, không chân, không tay, tâm ý rối loạn, đánh mất chánh niệm, ăn uống những thứ bất tịnh. Con nguyện cũng sẽ thay thế những chúng sinh ấy mà nhận lãnh các tội báo như vừa nói trên.

“Nếu lại có những chúng sinh đọa vào địa ngục A-tỳ chịu các khổ não, con nguyện cũng sẽ nhiều đời thay thế những chúng sinh ấy chịu mọi khổ não. Đối với những chúng sinh trong vòng sinh tử phải chịu đựng những nỗi khổ của các ấm, giới, nhập, hoặc sinh trong các loài súc sinh, ngạ quỷ, bần cùng,  dạ-xoacâu-biện-tràtỳ-xá-giàa-tu-laca-lâu- la… con cũng đều vì họ mà thay thế nhận chịu mọi khổ não như vậy.

“Bạch Thế Tôn! Nếu như sở nguyện của con thành tựu, được lợi ích bản thân, sẽ thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam- miệu Tam-bồ-đề như đã phát nguyện, thì xin cho trong vô lượng vô biên a-tăng-kỳ thế giới ở khắp mười phương, mỗi nơi đều có chư Phật hiện tại đang vì chúng sinh thuyết pháp, tất cả các vị đều sẽ vì con mà chứng minh, cũng chính là chỗ thấy biết của chư Phật ấy.

“Bạch Thế Tôn! Nguyện nay đức Thế Tôn thọ ký cho con quả vị A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, vào đời Hiền kiếp, khi tuổi thọ của con người là một trăm hai mươi tuổi, con sẽ thành Phật với đủ Mười danh hiệu từ Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri cho đến Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn.

“Bạch Thế Tôn! Nếu như con sẽ thành tựu được những Phật sự như vậy, đúng như đã phát nguyện, xin nguyện cho khắp đại chúng đây cùng với chư thiên, rồng, a-tu-la… hoặc ở trên mặt đất, hoặc ở giữa hư không, chỉ trừ đức Như Lai, còn ngoài ra tất cả đều sẽ xúc động rơi lệ, đều đến trước mặt con cúi đầu lễ kính, ngợi khen rằng: ‘Lành thay, lành thay! Lòng đại bi của ngài đã thành tựu, không ai có thể sánh bằng. Ngài đã đạt được chỗ niệm tưởng rất sâu xa, vì tất cả chúng sinh mà phát khởi lòng đại bi sâu xa như vậy, nên phát ra lời thệ nguyện bền chắc. Việc làm của ngài hôm nay không phải do ai dạy bảo mà được, lấy lòng đại bi chuyên nhất mà che chở bảo vệ cho hết thảy, thâu nhiếp hết cả những kẻ bất thiện, những kẻ phạm vào năm tội nghịch. Nguyện lành của ngài, hôm nay chúng tôi đều được biết rõ. Khi ngài vừa mới phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam- bồ-đề đã vì chúng sinh mà làm vị thuốc quý trị lành các bệnh; làm chỗ nương theo, làm chỗ trú ẩn, nương náu cho chúng sinh, vì muốn cho tất cả chúng sinh được giải thoát nên mới phát khởi thệ nguyện như vậy. Sở nguyện của ngài hôm nay được phần lợi ích, đức Như Lai sẽ vì ngài mà thọ ký quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.’

“Khi Phạm-chí Bảo Hải nói ra lời ấy rồi, Chuyển luân Thánh vương Vô Lượng Thanh Tịnh liền từ chỗ ngồi đứng dậy, xúc động rơi lệ, chắp tay cung kính hướng về Phạm-chí Bảo Hải, cúi đầu sát đất lễ kính rồi đọc kệ rằng:

Sở nguyện ngài hôm nay,

Thật sâu xa bền chắc.

Vì thương khắp chúng sinh,

Buông bỏ sự vui riêng,

Khởi lòng bi rộng lớn.

Vì đại chúng hôm nay,

Hiển bày pháp chân thật,

Tướng nhiệm mầu thù thắng!

Khi ấy, Bồ Tát Quán Thế Âm liền đọc kệ ngợi khen rằng:

Chúng sinh nhiều tham chấp,

Nay ngài không vướng mắc,

Với các căn cao, thấp,

Từ lâu đã tự tại,

Có thể tùy chúng sinh,

Giúp cho đủ căn, nguyện,

Đời vị lai sẽ được,

Kho trí huệ tổng trì.

Khi ấy, Bồ Tát Đắc Đại Thế liền đọc kệ ngợi khen rằng:

Vô lượng ức chúng sinh,

Vì điều lành hội họp.

Biết lòng bi của ngài,

Hết thảy đều xúc động.

Ngài tu tập khổ hạnh,

Xưa nay chưa từng có!

Khi ấy, Bồ Tát Văn-thù-sư-lợi lại đọc kệ ngợi khen rằng:

Được tam-muội tinh tấn,

Thật bền chắc vô cùng.

Trí huệ lớn, nhiệm mầu,

Khéo biết phân biệt rõ.

Nếu dùng đủ hương hoa,

Dâng lên cúng dường ngài,

Đức độ ngài hôm nay,

Rất xứng đáng thọ nhận.

Khi ấy, Bồ Tát Hư Không Ấn cũng đọc kệ ngợi khen rằng:

Ngài vì khắp chúng sinh,

Thành tựu tâm đại bi,

Xả tài vật bố thí,

Đời xấu ác, uế trược,

Trang nghiêm giữ các tướng,

Mầu nhiệm hay đẹp nhất,

Vì khắp cõi trời, người,

Làm bậc thầy điều phục.

Khi ấy, Bồ Tát Kim Cang Trí Huệ Quang Minh cũng đọc kệ ngợi khen rằng:

Tâm đại bi của ngài,

Rộng lớn như hư không,

Vì thân thiết chúng sinh,

Nên hành đạo Bồ-đề. 

Khi ấy, Bồ Tát Hư Không Nhật cũng đọc kệ ngợi khen rằng:

Những gì ngài thành tựu,

Như công đức đại bi,

Cùng trí huệ thắng diệu,

Khéo phân biệt tướng pháp,

Chỉ trừ Phật Thế Tôn,

Ngoài ra chẳng ai bằng!

Khi ấy, Bồ Tát Sư Tử Hương cũng đọc kệ ngợi khen rằng:

Ngài trong đời vị lai,

Sinh vào thời Hiền kiếp,

Trong cõi đời phiền não,

Sẽ được danh xưng lớn.

Lại khiến cho vô lượng,

Hết thảy mọi chúng sinh,

Được dứt trừ khổ não,

Được giải thoát nhiệm mầu.

Khi ấy, Bồ Tát Phổ Hiền cũng đọc kệ ngợi khen rằng:

Hết thảy mọi chúng sinh,

Dù chuyên cần tu tập,

Hay đói khổ, sinh tử;

Ngụp lặn trong tà kiến,

Xâu xé, ăn nuốt nhau,

Không một chút tâm lành.

Ngài mở lòng đại bi,

Nhiếp thủ được tất cả!

Khi ấy, Bồ Tát A-súc cũng đọc kệ ngợi khen rằng:

Diệt mất hết tâm lành,

Chuyên làm việc nghịch ác,

Chìm sâu trong vô minh,

Tối tăm và u ám,

Không cách nào ra khỏi,

Vũng bùn sâu phiền não.

Ngài mở lòng cứu lấy,

Những chúng sinh như vậy.

Khi ấy, Bồ Tát Hương Thủ cũng đọc kệ ngợi khen rằng:

Nay ngài xét thấy rõ,

Cõi thế đời vị lai,

Có nhiều sự khủng bố,

Như nhìn hình trong gương,

Chúng sinh trong cõi thế,

Hủy hoại cả chánh pháp,

Tất cả đều diệt mất,

Hết thảy mọi căn lành.

Khi ấy, Bồ Tát Bảo Tướng cũng đọc kệ ngợi khen rằng:

Nay ngài dùng các đức,

Trí huệ và trì giới,

Với từ bi, tam-muội,

Để trang nghiêm tâm mình,

Nên có thể nhiếp thủ,

Những chúng sinh ngu si:

Diệt mất mọi thiện pháp,

Phỉ báng bậc thánh nhân.

Khi ấy, Bồ Tát Ly Khủng Bố Trang Nghiêm cũng đọc kệ ngợi khen rằng:

Chỗ tu tập của ngài,

Vô lượng môn khổ hạnh,

Thảy đều vì cứu vớt,

Chúng sinh đời vị lai:

Những kẻ mất thiện tâm,

Trôi lăn theo tà kiến.

Khi ấy, Bồ Tát Hoa Thủ cũng đọc kệ ngợi khen rằng:

Lòng đại bi của ngài,

Cùng trí huệ tinh tấn,

Trong khắp đại chúng này,

Không ai có thể sánh!

Nên đủ sức cứu vớt,

Những chúng sinh tà kiến,

Đang bị già, bệnh, chết,

Bức bách không đường thoát.

Khi ấy, Bồ Tát Trí Xưng cũng đọc kệ ngợi khen rằng:

Vô số các chúng sinh,

Phải chịu nhiều bệnh khổ,

Thường bị những phiền não,

Gió độc không ngừng thổi.

Nay ngài thật đủ sức,

Dùng nước Đại trí huệ,

Diệt trừ hết các ma,

Phá tan thế lực ác.

Khi ấy, Bồ Tát Địa Ấn cũng đọc kệ ngợi khen rằng:

Nay ngài đã có được,

Sức tinh tấn, kiên cố.

Dứt hết mọi phiền não,

Đạt cảnh giới giải thoát.

Chúng tôi đều kém cỏi,

Không thể theo kịp được.

Khi ấy, Bồ Tát Nguyệt Hoa cũng đọc kệ ngợi khen rằng:

Ngài tu tập kiên cố,

Biết dụng ý tinh tấn,

Y theo sức công đức,

Lòng thương xót tất cả,

Cho nên đời vị lai,

Có thể vì chúng sinh,

Trừ dứt mọi trói buộc,

Trong ba cõi, ba đời.

Khi ấy, Bồ Tát Vô Cấu Nguyệt cũng đọc kệ ngợi khen rằng:

Trong đạo của Bồ Tát,

Đại bi là trên hết.

Dạy người khởi lòng bi,

Nên chúng tôi kính lễ.

Khi ấy, Bồ Tát Trì Lực cũng đọc kệ ngợi khen rằng:

Đời xấu ác, uế trược,

Nhiều phiền não, tật bệnh,

Ngài nương đạo Bồ-đề,

Phát thệ nguyện kiên cố,

Vì tất cả chúng sinh,

Dứt trừ gốc phiền não.

Khi ấy, Bồ Tát Hỏa Man cũng đọc kệ ngợi khen rằng:

Trí huệ lớn của ngài,

Như kho tàng trân bảo.

Thệ nguyện ngài phát khởi,

Thanh tịnh không bợn nhơ,

Ngài chuyên tâm tu hành,

Đạo Vô thượng Bồ-đề,

Là muốn vì chúng sinh,

Trị dứt mọi bệnh khổ.

Khi ấy, Bồ Tát Hiện Lực xúc động rơi lệ, đến trước Phạm- chí Bảo Hải cúi đầu sát đất lễ bái, rồi chắp tay cung kính đọc kệ ngợi khen rằng:

Nay ngài khéo giương cao,

Ngọn đuốc Đại trí huệ,

Vì hết thảy chúng sinh,

Dứt trừ bệnh phiền não,

Lại cũng vì chúng sinh,

Nghèo khó và thiếu thốn,

Nên diệt trừ hết thảy,

Vô số các khổ não.

“Thiện nam tử! Lúc bấy giờ, hết thảy đại chúng, chư thiên, rồng, quỷ thần, càn-thát-bà, người và phi nhân, thảy đều đến trước Phạm-chí Bảo Hải, cúi đầu sát đất lễ bái. Lễ bái rồi đứng dậy chắp tay cung kính, dùng đủ mọi nghi thức để ngợi khen, xưng tán.”

Phật Thích-ca Mâu-ni bảo Tịch  Ý  Bồ  Tát:  “Thiện  nam tử! Khi ấy, Phạm-chí Bảo Hải đến trước đức Như Lai, quỳ gối phải sát đất. Bấy giờ, mặt đất liền chấn động đủ sáu cách. Hết thảy các cõi Phật trong mười phương nhiều như số hạt bụi nhỏ của một cõi Phật cũng đều chấn động đủ sáu cách, có ánh sáng rực rỡ chiếu khắp thế gian, không trung mưa xuống đủ mọi loại hoa, như hoa mạn-đà-la, hoa ma-ha mạn-đà-la, hoa ba-lợi-chất-đa,  hoa  mạn-thù-sa,  hoa  ma- ha mạn-thù-sa, cho đến có vô số ánh sáng chói chang chiếu khắp các cõi thế giới mười phương nhiều như số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật; trong các cõi thế giới hoặc thanh tịnh, hoặc không thanh tịnh, mỗi nơi đều có chư Phật hiện tại đang vì chúng sinh giảng thuyết chánh pháp.

“Ở nơi những đức Phật ấy đều có các vị Bồ Tát ngồi nghe thuyết pháp. Các vị Bồ Tát này nhìn thấy các hiện tượng như cõi đất chấn động đủ sáu cách, có ánh hào quang rực rỡ chiếu soi, trời mưa xuống đủ mọi loại hoa… Nhìn thấy như vậy rồi, các vị liền bạch trước Phật rằng: ‘Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà cõi đất này chấn động đủ sáu cách, lại có ánh hào quang rực rỡ chiếu soi, trời mưa xuống đủ mọi loại hoa?’

“Bấy giờ, về phương đông cách đây số thế giới nhiều như số cát của một con sông Hằng, có một cõi Phật tên là Tuyển Trạch Trân Bảo, nơi ấy có Phật hiệu là Bảo Nguyệt Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri,  Minh  hạnh  túc,  Thiện  thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự  trượng  phu,  Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn, hiện đang thuyết giảng giáo pháp Đại thừa với vô lượng vô biên a-tăng-kỳ các vị Đại Bồ Tát cung kính vây quanh. Trong số ấy có hai vị Bồ Tát, một vị hiệu là Bảo Tướng, một vị hiệu là Nguyệt Tướng. Cả hai vị cùng hướng về đức Phật Bảo Nguyệt, chắp tay cung kính bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà cõi đất chấn động sáu cách, lại có ánh hào quang rực rỡ chiếu soi, trời mưa xuống đủ mọi loại hoa?’

“Khi ấy, Phật Bảo Nguyệt bảo hai vị Bồ Tát ấy rằng: ‘Các thiện nam tử! Về phương tây cách đây số thế giới nhiều như số cát sông Hằng, có cõi thế giới kia tên là San-đề-lam, có đức Phật Thế Tôn hiệu là Bảo Tạng Như Lai, có đủ mười hiệu, hiện đang vì vô lượng vô biên các vị Bồ Tát mà thọ ký quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, giảng nói về các cõi thế giới, mở bày chỉ bảo về sự trang nghiêm của các cõi Phật, về cảnh giới tam-muội của các nguyện lành, các môn đà-la-ni và những kinh điển như vậy. Trong chúng hội ấy có vị Đại Bồ Tát Đại Bi phát khởi thệ nguyện rằng: Nay ta sẽ lấy lòng đại bi hun đúc trong tâm, nhận sự thọ ký thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, vì các vị Đại Bồ Tát mà thị hiện phát khởi nguyện lành.

“Vì phát nguyện như thế nên trước hết vị ấy đã làm cho vô lượng vô biên các Bồ Tát đều phát thệ nguyện lớn lao, nhận lấy các cõi thế giới có đủ mọi sự trang nghiêm và điều phục chúng sinh. Chỗ thành tựu đại bi của vị Bồ Tát ấy, trong toàn đại chúng không ai sánh kịp. Vị ấy ở trong cõi đời có năm sự uế trược mà điều phục những chúng sinh xấu ác nhiều phiền não, cứu vớt hết thảy những kẻ phạm vào năm tội nghịch cho đến những kẻ gồm đủ các điều bất thiện, diệt mất tâm lành.

“Đại chúng ở nơi ấy cùng với chư thiên, loài rồng, quỷ thần, người và phi nhân, lúc này không cúng dường Phật mà tất cả cùng nhau cúng dường vị Bồ Tát đã thành tựu hạnh đại bi rốt ráo này. Họ cúi đầu sát đất lễ bái Bồ Tát ấy, rồi đứng dậy chắp tay cung kính đọc kệ ngợi khen xưng tán.

“Lúc bấy giờ, Bồ Tát Đại Bi ở ngay trước Phật mà quỳ gối phải sát đất để nghe Phật thọ ký. Đức Phật Thế Tôn liền mỉm miệng cười. Do nhân duyên ấy mà khiến cho ở khắp các thế giới mười phương nhiều như số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật đều có hiện tượng cõi đất chấn động sáu cách, phát ra hào quang rực rỡ chiếu soi, trời mưa xuống đủ mọi loại hoa. Đó là vì muốn khai ngộ cho hết thảy các vị Bồ Tát, cùng là thị hiện cho thấy chỗ hành đạo của các vị Bồ Tát.

“Đức Phật Bảo Tạng kia sẽ khiến cho hết thảy các vị Bồ Tát trong khắp mười phương nhiều như số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật đều tụ hội về, lại vì những vị Đại Bồ Tát ấy mà thuyết dạy các môn đà-la-ni, tam-muội, pháp môn không sợ sệt. Vì thế nên đức Bảo Tạng Như Lai mới thị hiện đủ mọi phép biến hóa như vậy.’

“Thiện nam tử! Khi ấy hai vị Bồ Tát nghe được những điều như vậy rồi liền bạch Phật: ‘Bạch Thế Tôn! Vị Bồ Tát Đại Bi ấy từ khi phát tâm đến nay đã được bao lâu rồi? Vị ấy tu hành đạo Bồ Tát đã được bao lâu? Đến khi nào thì vị ấy sẽ ở trong cõi đời xấu ác có năm sự uế trược mà điều phục, thâu nhiếp tất cả những chúng sinh nặng nề phiền não, luôn đấu tranh giành giật lẫn nhau, phần nhiều lại phạm vào năm tội nghịch, thường làm hết thảy những điều bất thiện, diệt mất thiện tâm?”

“Khi ấy, đức Phật Bảo Nguyệt nói với hai vị Bồ Tát: ‘Các thiện nam tử! Vị Bồ Tát Đại Bi này đến hôm nay mới vừa phát tâm  A-nậu-đa-la  Tam-miệu  Tam-bồ-đề.  Các  thiện nam tử! Nay các ông có thể đến đó để gặp đức Phật Bảo Tạng, lễ bái cúng dường, đi quanh cung kính, nghe đức Phật ấy thuyết dạy các môn đà-la-ni, tam-muội, pháp môn không sợ sệt, những kinh điển như vậy… và cũng là để gặp được vị Đại Bồ Tát Đại Bi ấy.

“Các ông hãy chuyển lời của ta đến Bồ Tát Đại Bi, hãy nói như thế này: ‘Đức Như Lai Bảo Nguyệt gửi lời thăm hỏi ông, dùng hoa nguyệt quang thanh tịnh này gửi theo để làm tin và có lời ngợi khen rằng: Lành thay, lành thay! Thiện nam tử! Ông vừa mới phát tâm đã có thể thành tựu được lòng đại bi như thế! Nay ông đã có danh xưng lớn lao vô lượng, lan truyền ra khắp các thế giới mười phương nhiều như số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật thế giới, ai ai cũng gọi ông là Bồ Tát Đại Bi! Ông vừa mới phát tâm mà đã có thể thành tựu được lòng đại bi như thế! Cho nên ta có lời ngợi khen xưng tán ông rằng: Lành thay, lành thay!

“Lại nữa, thiện nam tử! Ông vì giúp cho các vị Bồ Tát trong đời vị lai thành tựu tâm đại bi nên mới phát lời nguyện lành đại bi không dứt đoạn, dựng lên đạo tràng chánh pháp. Cho nên ta lại có lời ngợi khen lần nữa: Thật lành thay, lành thay!

“Lại nữa, thiện nam tử! Danh xưng của ông sẽ còn mãi trong đời vị lai, cho đến trải qua số a-tăng-kỳ kiếp nhiều như số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật, dạy bảo cho trăm ngàn ức vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chúng sinh, khiến cho được trụ yên trong đạo A-nậu-đa-la Tam-miệu  Tam-bồ-đề,  mãi cho đến khi gặp Phật, được địa vị không còn thối chuyển. Hoặc có người phát khởi nguyện lành, hoặc nhận lấy cõi thế giới thanh tịnh, thâu nhiếp tất cả chúng sinh, tùy theo căn tánh mà điều phục, cũng đều khiến cho trong đời vị lai được thọ ký quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Tất cả những chúng sinh như vậy, trong đời vị lai, trải qua số kiếp nhiều như số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật, sẽ ở nơi các cõi Phật mười phương nhiều như số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật mà thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, chuyển bánh xe chánh pháp, lại cũng sẽ hết lời ngợi khen xưng tán Bồ Tát Đại Bi. Vì thế nên ta dùng phép khen ngợi ba lần để ngợi khen xưng tán ông rằng: Lành thay, lành thay!’

“Thiện nam tử! Lúc bấy giờ, ở cõi thế giới Tuyển Trạch Trân Bảo có chín mươi hai ức vị Đại Bồ Tát đồng thanh bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế Tôn! Chúng con đều muốn đến cõi thế giới San-đề-lam để gặp Phật Bảo Tạng, lễ bái cúng dường đi quanh cung kính, lắng nghe đức Phật ấy thuyết dạy các môn đà-la-ni, tam-muội, pháp môn không sợ sệt, những kinh điển như vậy, và cũng muốn được gặp Bồ Tát Đại Bi.’

“Khi ấy, đức Phật Bảo Nguyệt trao phép khen ngợi ba lần cùng với hoa nguyệt quang thanh tịnh cho hai vị Bồ Tát Bảo Tướng Nguyệt Tướng, bảo rằng: ‘Đã đến lúc các ông nên đi.”

“Bấy giờ, Bồ Tát Bảo Tướng Bồ Tát Nguyệt Tướng từ nơi chỗ đức Phật Bảo Nguyệt nhận lấy hoa nguyệt quang thanh tịnh rồi cùng chín mươi hai ức vị Đại Bồ Tát rời khỏi thế giới Tuyển Trạch Trân Bảo nhanh như ánh điện chớp, vừa mất dạng ở thế giới ấy liền tức thời đến ngay thế giới San-đề-lam, trong rừng Diêm-phù, nơi đức Phật Bảo Tạng đang thuyết pháp. Đến chỗ Phật rồi, các vị liền cúi đầu sát đất lễ kính dưới chân Phật, dùng đủ mọi phép thần thông tự tại mà hàng Bồ Tát đã đạt được để cúng dường Phật. Sau đó liền nhìn thấy Phạm-chí Bảo Hải đang được tất cả đại chúng cùng nhau cung kính, chắp tay ngợi khen xưng tán.

“Các vị Bồ Tát ấy nhìn thấy như vậy rồi liền suy nghĩ rằng: ‘Vị đại sĩ này chắc có lẽ chính là Bồ Tát Đại Bi, nên mới có thể khiến cho đức Như Lai Bảo Nguyệt gửi tặng loại hoa quý này.’

Hai vị Bồ Tát ấy liền từ chỗ đứng trước Phật Bảo Tạng cùng quay sang hướng về Phạm-chí Bảo Hải, dùng hoa quý trao ra và nói rằng: ‘Đức Như Lai Bảo Nguyệt dùng hoa quý này trao ngài để làm tin, và chuyển đến ngài phép khen ngợi ba lần.’ Các vị liền lặp lại những lời ngợi khen ba lần của đức Như Lai Bảo Nguyệt như đã nói trên.

“Cũng như vậy, chư Phật trong vô lượng vô biên a-tăng- kỳ thế giới về phương đông cũng đều sai khiến vô số các vị Đại Bồ Tát đến thế giới San-đề-lam, đều chuyển đến hoa nguyệt quang thanh tịnh cùng với phép khen ngợi ba lần như đã nói trên.

“Thiện nam tử! Lúc bấy giờ, về phương nam cách đây bảy vạn bảy ngàn trăm ngàn ức cõi Phật thế giới, có một cõi Phật tên là Bảo Lâu Sư Tử Hống, có đức Phật hiệu là Sư Tử Tướng Tôn Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn, hiện đang vì các vị Bồ Tát mà thuyết giảng giáo pháp Đại thừa. Trong số ấy có hai vị Đại Bồ Tát Kim Cang Trí Tướng Sư Tử Kim Cang Tướng.

“Hai vị Bồ Tát này bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà cõi đất chấn động sáu cách, lại có ánh hào quang rực rỡ chiếu soi, trời mưa xuống đủ mọi loại hoa?’

“Đức Phật Sư Tử Tướng Tôn Vương lại cũng trả lời và dạy bảo các vị Bồ Tát giống như Phật Bảo Nguyệt ở phương đông.

“Lại nữa, vô lượng vô biên chư Phật về phương nam cũng đều sai khiến vô số các vị Bồ Tát đến cõi thế giới San-đề- lam, đều chuyển đến hoa nguyệt quang thanh tịnh cùng với phép khen ngợi ba lần như đã nói trên.

“Bấy giờ, về phương tây cách đây tám vạn chín ngàn trăm ngàn ức thế giới, có một thế giới tên là An Lạc, có đức Phật hiệu là Nhiếp Chư Căn Tịnh Mục Như Lai, hiện đang vì bốn bộ chúng(1) mà thuyết giảng giáo pháp Ba thừa. Trong đại chúng ấy có hai vị Bồ Tát, một vị tên là Hiền Nhật Quang Minh, một vị tên là Sư Tử Hống Thân.

(1) Bốn bộ chúng, hay Bốn chúng (Tứ chúng): Xem chú giải trang 76.

“Hai vị Bồ Tát ấy bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà cõi đất chấn động sáu cách, lại có ánh hào quang rực rỡ chiếu soi, trời mưa xuống đủ mọi loại hoa?’

“Đức Phật Nhiếp Chư Căn Tịnh Mục lại cũng trả lời và dạy bảo các vị Bồ Tát giống như Phật Bảo Nguyệt ở phương đông.

“Vô lượng vô biên chư Phật về phương tây cũng đều sai khiến vô số các vị Bồ Tát đến cõi thế giới San-đề-lam, đều chuyển đến hoa nguyệt quang thanh tịnh cùng với phép khen ngợi ba lần như đã nói trên.

“Bấy giờ, về phương bắc cách đây chín vạn trăm ngàn ức thế giới, có một thế giới tên là Thắng Chân Bảo, có đức Phật hiệu là Thế Gian Tôn Vương Như Lai, hiện đang vì các vị Bồ Tát mà thuyết giảng giáo pháp Đại thừa. Trong đại chúng ấy có hai vị Bồ Tát, một vị tên là Bất Động Trụ, một vị tên là Đắc Trí Huệ Thế Gian Tôn Vương.

“Hai vị Bồ Tát ấy bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà cõi đất chấn động sáu cách, lại có ánh hào quang rực rỡ chiếu soi, trời mưa xuống đủ mọi loại hoa?’

“Đức Phật Thế Gian Tôn Vương lại cũng trả lời và dạy bảo các vị Bồ Tát giống như Phật Bảo Nguyệt ở phương đông.

“Vô lượng vô biên chư Phật về phương bắc cũng đều sai khiến vô số các vị Bồ Tát đến thế giới San-đề-lam, đều chuyển đến hoa nguyệt quang thanh tịnh cùng với phép khen ngợi ba lần như đã nói trên.

“Bấy giờ, về phương dưới cách đây chín vạn tám ngàn trăm ngàn ức na-do-tha thế giới, có một thế giới tên là Ly Ám Vụ, có đức Phật hiệu là Ly Khủng Bố Vi Nhiễu Âm, hiện đang vì bốn bộ chúng mà thuyết giảng giáo pháp Ba thừa. Trong đại chúng ấy có hai vị Bồ Tát, một vị tên là Nhật Tôn, một vị tên là Hư Không Nhật.

“Hai vị Bồ Tát ấy bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà cõi đất chấn động sáu cách, lại có ánh hào quang rực rỡ chiếu soi, trời mưa xuống đủ mọi loại hoa?’

“Đức Phật Ly Khủng Bố Vi Nhiễu Âm lại cũng trả lời và dạy bảo các vị Bồ Tát giống như Phật Bảo Nguyệt ở phương đông.

“Vô lượng vô biên chư Phật về phương dưới cũng đều sai khiến vô số các vị Bồ Tát đến cõi thế giới San-đề-lam, đều chuyển đến hoa nguyệt quang thanh tịnh cùng với phép khen ngợi ba lần như đã nói trên. 

CHƯ BỒ TÁT BỔN THỌ KÝ PHẨM ĐỆ TỨ CHI LỤC 

Nhĩ thời thượng phương quá nhị thập vạn bá thiên thế giới, hữu thế giới danh Diệu Hoa, thị trung hữu Phật hiệu Hoa Phu Nhật Vương Như Lai, kim hiện tại vị tứ bộ chúng thuyết tam thừa pháp. Hữu nhị Bồ Tát, nhất danh Tuyển Trạch Tự Pháp Nhiếp Thủ  Quốc  Độ,  nhị  danh  Đà-la-ni Diệu Âm. Thị nhị Bồ Tát câu bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Hà nhân duyên cố, nhi thử đại địa lục chủng chấn động, hữu đại quang minh vũ chủng chủng hoa?”

Nhĩ thời bỉ Phật cáo nhị Bồ Tát: “Thiện nam tử! Hạ phương quá nhị thập vạn bá thiên thế giới, hữu thế giới danh San-đề-lam, hữu Phật Thế Tôn hiệu viết Bảo Tạng Như Lai nãi chí Phật Thế Tôn, kim hiện tại dữ vô lượng vô biên chư Bồ Tát đẳng, thọ A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ- đề ký, thuyết chư quốc độ, khai thị chư Phật sở hữu thế giới trang nghiêm thiện nguyện tam-muội cảnh giới đà-la-ni môn như thị đẳng kinh.

Bỉ đại hội trung hữu nhất Đại Bi Bồ Tát ma-ha-tát, tác như thị nguyện: “Ngã kim đương dĩ đại bi huân tâm, thọ A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề ký, vị chư Bồ  Tát  ma- ha-tát cố thị hiện thiện nguyện.” Thị dĩ tiên linh vô lượng vô biên chư Bồ Tát đẳng, phát đại thệ nguyện, thủ ư chủng chủng trang nghiêm thế giới điều phục chúng sanh. Thị Bồ Tát sở thành đại bi, ư chư đại chúng vô năng cập giả, ư ngũ trược thế điều phục tệ ác đa phiền não giả, nhiếp thủ nhất thiết ngũ nghịch chi nhân, nãi chí tập tụ chư bất thiện căn thiêu diệt thiện tâm. Bỉ chư đại chúng thiên long quỷ thần nhân cập phi nhân bất cúng dường Phật, tất cộng cúng dường tối hậu thành tựu Đại Bi Bồ Tát, đầu diện tác lễ. Lễ dĩ khởi lập, cung kính hợp chưởng thuyết kệ tán thán. Thị Đại Bi Bồ Tát tại ư Phật tiền, hữu tất trước địa thính Phật thọ ký. Bỉ Phật Thế Tôn tức tiện vi tiếu. Dĩ thị nhân duyên, linh thử thập phương như nhất Phật sát vi trần đẳng thế giới địa lục chủng động, phóng đại quang minh, vũ chủng chủng hoa, tinh ngộ nhất thiết chư Bồ Tát đẳng, diệc phục thị hiện chư Bồ Tát đạo.

Bỉ Phật Thế Tôn tất linh thập phương như nhất Phật sát vi trần số đẳng chư Bồ Tát chúng giai cộng tập hội, vị như thị đẳng chư đại Bồ Tát, thuyết chư tam-muội đà-la-ni môn, vô uý pháp môn. Thị cố bỉ Phật thị hiện như thị chủng chủng biến hóa.

Thiện nam tử! Thời nhị Bồ Tát văn thị sự dĩ tức bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Thị Đại Bi Bồ Tát phát tâm dĩ lai, vi kinh kỷ thời? Hành Bồ Tát đạo, phục tề kỷ thời? Hà thời đương ư ngũ trược ác thế điều phục nhiếp thủ hậu trọng phiền não hỗ cộng đấu tránh, đa tác ngũ nghịch, thành tựu nhất thiết chư bất thiện căn, thiêu diệt thiện tâm như thị chúng sanh?”

Nhĩ thời bỉ Phật cáo nhị Bồ Tát: “Thiện nam tử! Thị Đại Bi Bồ Tát kim nhật sơ phát A-nậu-đa-la  Tam-miệu  Tam- bồ-đề tâm. Thiện nam tử! Nhữ kim khả vãng kiến Bảo Tạng Phật, cúng dường cung kính lễ bái vi nhiễu, thính thuyết tam-muội đà-la-ni môn vô uý pháp môn như thị đẳng kinh, tinh kiến Đại Bi Bồ Tát ma-ha-tát. Nhữ dĩ ngã thanh tác như thị ngôn: “Hoa Phu Nhật Vương Phật trí ý vấn tấn, dĩ thử nguyệt quang tịnh hoa tác tín dữ nhữ, hựu tán nhữ ngôn: Thiện tai thiện tai. Thiện nam tử! Nhữ sơ phát tâm dĩ năng thành tựu như thị đại bi. Nhữ kim dĩ hữu vô lượng danh xưng biến mãn thập phương như nhất Phật sát vi trần số đẳng chư Phật thế giới giai ngôn. Đại bi Bồ Tát thủy sơ phát tâm dĩ năng thành tựu như thị đại bi, thị cố thiện nam tử, ngã kim tán nhữ: Thiện tai thiện tai.

Phục thứ thiện nam tử! Nhữ vị đương lai chư Bồ Tát đẳng thành tựu đại bi cố, thuyết thị đại bi bất đoạn thiện nguyện thụ lập pháp tràng, thị cố phục tán ngôn: Thiện tai thiện tai.

Phục thứ thiện nam tử! Nhữ chi danh xưng vị lai thế trụ, đương như nhất Phật sát vi trần số đẳng a-tăng-kỳ kiếp, giáo bá thiên ức vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chúng sanh, an chỉ linh trụ A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, chí ư Phật sở đắc bất thối chuyển, hoặc phát thiện nguyện hoặc thủ tịnh độ, nhiếp thủ chúng sanh tùy nguyện nhi điều phục, phục linh vị lai đắc thọ A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề ký. Như thị chúng sanh ư vị lai thế, quá như nhất Phật sát vi trần số đẳng kiếp, đương ư thập phương như nhất Phật sát vi trần số đẳng chư thế giới trung, đắc thành A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề chuyển chánh pháp luân, phục đương tán nhữ. Thị cố dĩ thử tam tán thán pháp, tán thán ư nhữ: Thiện tai thiện tai.

Thiện nam tử! Nhĩ thời bỉ độ hữu vô lượng ức Bồ Tát, dị khẩu đồng thanh tác như thị ngôn: “Thế Tôn! Ngã đẳng dục vãng San-đề-lam giới kiến Bảo Tạng Phật, lễ bái cúng dường cung kính vi nhiễu, thính chư tam-muội  đà-la-ni môn vô uý pháp môn, tinh dục kiến ư Đại Bi Bồ Tát.

Nhĩ thời bỉ Phật dĩ thử tam tán thán pháp cập nguyệt quang tịnh hoa dữ nhị Bồ Tát nhi cáo chi viết: “Nghi tri thị thời.”

Thời nhị Bồ Tát ư bỉ Phật sở, thủ thử bảo hoa tinh dữ vô lượng ức Bồ Tát chúng, như nhất niệm khoảnh một bỉ thế giới, hốt nhiên lai đáo San-đề-lam giới Diêm-phù viên trung, kiến Bảo Tạng Phật đầu diện tác lễ.

Nhĩ thời thế giới chư đại Bồ Tát, tu tập Đại thừa cập phát Duyên giác, Thanh văn thừa giả, thiên long, quỷ thần, ma-hầu-la-già, như thị đẳng loại kỳ số vô lượng bất khả xưng kế. Thí như cam giá trúc vi đạo ma tùng lâm biến mãn kỳ quốc, dĩ chư Bồ Tát sở đắc chủng chủng sư tử du hý cúng dường ư Phật. Cúng dường Phật dĩ, kiến Bảo Hải Phạm-chí vị thử đại chúng sở cộng cung kính hợp chưởng tán thán. Kiến thị sự dĩ tức tiện tư duy, kim thử đại sĩ hoặc đương tức thị Đại Bi Bồ Tát, thị cố năng linh Hoa Phu Nhật Vương Như Lai tống thử bảo hoa.

Thị nhị Bồ Tát phục ư Phật tiền toàn hướng Phạm-chí, tức dĩ hoa dữ tác như thị ngôn: “Hoa Phu Nhật Vương Như Lai dĩ thử diệu hoa dữ nhữ vi tín, tinh tam tán pháp như thượng sở thuyết.

Thiện nam tử! Nhĩ thời sở vũ chủng chủng chư hoa, diệc đáo vô Phật thế giới, phục xuất chủng chủng diệu thiện âm thanh. Kỳ thanh biến mãn, sở vị Phật thanh, pháp thanh, tỳ-kheo tăng thanh, diệt tận thanh, vô sở hữu thanh, chư ba-la-mật thanh, lực vô sở uý thanh, lục thần thông thanh, vô sở tác thanh, vô sanh diệt thanh, tịch tĩnh thanh, đại từ thanh, đại bi thanh, vô sanh nhẫn thanh, thọ ký thanh, thuyết đại thừa thanh.

Bỉ hữu Bồ Tát dĩ bổn nguyện cố hữu đại thần lực, tu tập thâm pháp nhi đắc tự tại, vị chúng sanh cố trụ bỉ thế giới. Văn thị thanh dĩ, dĩ Phật lực cố, dĩ nguyện lực cố, dĩ tam- muội lực ư bỉ thế giới thừa thần thông lực, như đại lực sĩ khuất thân tý khuynh, chí San-đề-lam giới Diêm-phù viên trung Bảo Tạng Phật sở, đầu diện lễ túc, dĩ chư Bồ Tát sở đắc chủng chủng sư tử du hý, cúng dường ư Phật cập chư đại chúng, thứ đệ nhi tọa thính thọ diệu pháp.

Thiện nam tử! Nhĩ thời Bảo Hải Phạm-chí thủ thử nguyệt quang tịnh hoa cúng dường Bảo Tạng Như Lai dĩ bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Duy nguyện Như Lai dữ ngã thọ A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề ký.”

Thiện nam tử! Nhĩ thời Bảo Tạng Như Lai tức nhập tam-muội. Kỳ tam-muội danh Điện Đăng. Dĩ tam-muội lực cố linh San-đề-lam giới nhất thiết sơn thọ thảo mộc thổ địa biến vi thất bảo, linh chư đại chúng tất đắc tự kiến, giai ư Phật tiền thính thọ diệu pháp, tùy sở tư duy. Hoặc tự kiến thân thanh sắc, hoàng sắc, bạch sắc, tử sắc, xích sắc, hắc sắc, hoặc kiến tự phong hoặc kiến tự hỏa hoặc kiến tự không, hoặc kiến tự nhiệt thời chi viêm, hoặc kiến tự thủy hoặc tự thủy mạt, hoặc tự đại sơn hoặc tự Phạm thiên hoặc tự Đế thích, hoặc kiến tự hoa hoặc tự ca-lâu-la, hoặc kiến tự long hoặc tự sư tử, hoặc tự nhật nguyệt hoặc tự tinh tú, hoặc kiến tự tượng hoặc tự dã hồ, tại Phật tiền tọa thính thọ diệu pháp. Thời tùy sở tư duy các tự kiến thân như thị tướng mạo.

Thiện nam tử! Như thị chúng sanh tùy sở tư duy, phục kiến tự thân đồng Bảo Tạng Phật thân đẳng vô sai biệt.

Thị chư đại chúng tại ư Phật tiền, tầm kiến  Phạm-chí tọa ư thiên diệp thất bảo liên hoa. Nhất thiết đại chúng xử địa hư không, nhược tọa nhược lập.

Nhất nhất chúng sanh các các tự kiến Bảo Tạng Như Lai độc tọa kỳ tiền, độc vị thuyết pháp duy ngã độc kiến.

Thiện nam tử! Nhĩ thời Bảo Tạng Như Lai tán Bảo Hải

Phạm-chí ngôn: “Thiện tai thiện tai. Đại bi tịnh hạnh. Nhữ vị vô lượng vô biên chúng sanh, khởi thử đại bi năng đại lợi ích, ư thế gian trung tác đại quang minh. Phạm-chí thí như thành tựu hoa điền, hữu chủng chủng sắc, chủng chủng hương, chủng chủng xúc, chủng chủng diệp, chủng chủng hành, chủng chủng căn, chủng chủng công đức. Chư dược sở tu giai tất thành tựu.

Hoặc hữu liên hoa mãn bá thiên do-tuần, quang minh diệu hương diệc dữ hoa đẳng. Hoặc hữu tung quảng nhất bá. Hoặc hữu tung quảng nhị bá. Hoặc hữu tung quảng tam bá do-tuần, quang minh diệu hương diệc dữ hoa đẳng. Hữu hoa nãi chí như nhất thiên hạ, quang minh diệu hương diệc đẳng vô sai biệt. Chúng sanh chi loại hoặc hữu manh giả, văn thử hoa hương tức đắc kiến sắc. Lung giả văn thanh, nãi chí nhất thiết chư căn bất cụ tức đắc cụ túc.

Nhược hữu chúng sanh tứ bá tứ bệnh, hoặc động phát thời văn thử hoa hương bệnh tức trừ dũ. Nhược hữu điên cuồng phóng dật, cuồng si, thụy miên, tâm loạn thất niệm, văn thử hoa hương giai đắc nhất tâm.

Thị hoa điền trung diệc sanh phân-đà-lợi hoa, kỳ hoa kiên lao do như kim cang, lưu ly vi hành, đài hữu bá tử, thuần kim vi diệp, mã não vi nhung, xích chân châu vi tu. Hoa cao bát thập tứ ức do-tuần, châu táp tung quảng thập vạn do-tuần. Thị hoa sở hữu sắc hương xúc đẳng biến mãn thập phương, như nhất Phật sát vi trần số đẳng chư Phật thế giới. Kỳ trung chúng sanh, hoặc hữu tứ đại bất điều thích giả, tật bệnh khốn đốc chư căn luy tổn, điên cuồng phóng dật, cuồng si thụy miên, tâm loạn thất niệm, kiến hoa quang minh cập văn kỳ hương, nhất thiết sở hoạn các các trừ dũ giai đắc nhất tâm.

Nhược bỉ chúng sanh thích mạng chung dĩ cập thân vị hoại, quang minh lai xúc hương khí lai huân, tầm đắc mạng căn hoàn khởi như bổn. Dữ chư thân thuộc cộng du viên quan, dĩ sở ngũ dục cộng tương ngu lạc. Nhược tất mạng chung bất sanh dư xứ, sanh ư Phạm thiên, tại bỉ cửu trụ thọ mạng vô lượng.

Phạm-chí! Thị liên hoa điền giả, tức thị thử hội chi đại chúng dã. Thí như nhật xuất chúng hoa khai phu, như Phật nhật xuất tăng ích trưởng dưỡng diệu hương quang minh, vị chư chúng sanh đoạn trừ chư khổ.

Thiện nam tử! Ngã kim như nhật xuất hiện ư thế, linh chư chúng sanh thiện căn hoa phu, hữu vi diệu hương, quang minh biến chiếu. Năng trừ chúng sanh chủng chủng chư bệnh, tức thị Như Lai xuất hiện ư thế, dĩ đại bi quang minh biến phú nhất thiết, linh chư chúng sanh thiện căn khai phu, tăng ích an trụ ư tam phước xứ.

Nhữ thiện nam tử! Sở hóa vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chúng  sanh,  linh  trụ  A-nậu-đa-la  Tam-miệu  Tam-bồ-đề, chí ngã sở giả, thị chư chúng sanh các các tự phát chủng chủng thiện nguyện, thủ Phật thế giới hoặc tịnh bất tịnh, ngã dĩ tùy kỳ sở nguyện thọ ký.

Thiện nam tử! Nhược hữu Bồ Tát tại ư ngã tiền nguyện thủ tịnh độ, dĩ thanh tịnh tâm thiện tự điều phục, chủng chư thiện căn nhiếp thủ chúng sanh giả, tuy vị Bồ Tát du phi mãnh kiện đại trượng phu dã, phi thị Bồ Tát thâm trọng đại bi vị chúng sanh cố, cầu A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam- bồ-đề.

Nhược hữu thủ ư tịnh Phật độ giả, tức thị Bồ Tát xả ly đại bi, hựu phục bất nguyện ly nhị thừa giả. Như thị Bồ Tát vô xảo tiện huệ, thiện bình đẳng tâm.

Nhược hữu Bồ Tát tác thị thệ nguyện: “Linh ngã thế giới viễn ly Thanh văn,  Bích-chi Phật thừa, diệt bất thiện căn, vô chư nữ nhân cập tam ác đạo. Thành A-nậu-đa-la Tam- miệu Tam-bồ-đề dĩ, thuần dĩ Bồ Tát ma-ha-tát đẳng vi đại quyến thuộc, thuần thuyết Vô thượng Đại thừa chi pháp, thọ mạng vô lượng, cửu trụ ư thế kinh vô số kiếp, thuần vị thiện tâm điều phục bạch tịnh thành thiện căn giả thuyết vi diệu pháp. Như thị chi nhân tuy vị Bồ Tát phi đại sĩ dã.

Hà dĩ cố? Dĩ vô xảo tiện bình đẳng trí cố.

Thiện nam tử! Nhĩ thời Bảo Tạng Như Lai thân kim sắc tý, kỳ ngũ chỉ đầu phóng đại quang minh. Kỳ quang minh hữu chủng chủng vô lượng bá thiên chư sắc biến chiếu tây phương, quá vô lượng vô biên a-tăng-kỳ thế giới, hữu thế giới danh viết Đại Chỉ. Bỉ độ nhân dân thọ tam thập tuế, diện sắc xú lậu hình mạo khả ố, thành tựu nhất thiết chư bất thiện căn, thân trường lục xích. Bỉ trung hữu Phật, hiệu Đại Quang Minh Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn, kim hiện tại vị tứ bộ chúng thuyết tam thừa pháp.

Thiện nam tử! Nhĩ thời đại chúng tất đắc dao kiến bỉ Phật Thế Tôn cập chư đại chúng.

Thời Bảo Tạng Phật cáo chư đại chúng: “Bỉ đại quang minh Phật ư quá khứ vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp Bảo Cái Quang Minh Phật sở, sơ phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm. Nhĩ thời diệc khuyến vô lượng vô biên ức na-do-tha chúng sanh, an chỉ trụ ư vô thượng đạo trung, tùy tâm sở nguyện thủ ư chủng chủng trang nghiêm thế giới, hoặc tịnh bất tịnh thủ ngũ trược ác thế. Thị đại quang minh Phật diệc khuyến ngã phát tâm an chỉ trụ ư A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Nhĩ thời ngã ư Bảo Cái Quang Minh Phật sở khuyến phát trang nghiêm nguyện, ư thử ngũ trược ác thế thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.

Nhĩ thời bỉ Phật tán ngã: “Thiện tai thiện tai.” Tức tiện thọ ngã A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề ký.

Ngã ư nhĩ thời hữu thị thiện tri thức cố khuyến ngã A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Bỉ thiện tri thức thắng diệu trượng phu, thủ thử trọng ác ngũ trược chi thế, đa chư phiền não bất tịnh quốc độ, sở hữu chúng sanh hành ư ác nghịch, nãi chí thành tựu chư bất thiện căn, thiêu diệt thiện tâm, uyển chuyển sanh tử không khoáng trạch trung. Sở nguyện điều phục như thị chúng sanh.

Nhĩ thời thị thiện trượng phu, thập phương vô lượng vô biên chư Phật thế giới sở hữu chư Phật các các khiển sứ, chí thị nhân sở xưng dương tán thán, tức vị tác hiệu danh vi Đại Bi Nhật Nguyệt Quang Minh.

Bỉ Đại Bi Nhật Nguyệt Quang Minh tức thị ngã chi thiện tri thức dã. Tác đại lợi ích, ư Đại Chỉ thế giới thành Phật vị cửu, vị thử đoản mạng chư ác nhân đẳng chuyển chánh pháp luân.

Bỉ Phật  sơ  thành  A-nậu-đa-la  Tam-miệu  Tam-bồ-đề thời, thập phương vô lượng vô biên chư Phật, các các khiển sứ chí bỉ Phật sở, vị cúng dường cung kính tôn trọng tán thán cố.

Thị chư Thế Tôn giai thị vãng tích Đại Quang Minh Phật chi sở khuyến hóa, sơ linh an trụ Đàn ba-la-mật nãi chí Bát-nhã ba-la-mật. Thị chư Thế Tôn dĩ tri ân cố, khiển chư Bồ Tát trí thị cúng dường.

Phạm-chí! Nhữ kim kiến phủ? Thị chư Thế Tôn các các xử ư thanh tịnh thế giới, thọ mạng vô lượng, thuần vị thiện tâm điều phục bạch tịnh, thành thiện căn giả tác ư Phật sự. Thị Đại Quang Minh Phật xử tư uế ác, bất tịnh thế giới, ngũ trược ác thế, thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Sở hữu chúng sanh đa tác nghịch tội, nãi chí thành tựu chư bất thiện căn, thọ mạng đoản xúc. Năng ư thị trung tăng ích trưởng dưỡng, vô lượng Phật sự, bất xả Thanh văn, Bích-chi Phật thừa, vị chư chúng sanh thuyết tam thừa pháp.

Nhữ thị thiện trượng phu, nhất thiết đại chúng sở bất cập dã. Sở tác thắng diệu thậm nan, thệ nguyện thủ bất tịnh độ, ngũ trược ác thế nhân đa tác nghịch, nãi chí thành tựu chư bất thiện căn, điều phục nhiếp thủ như thị chúng sanh.

Thiện nam tử! Nhược hữu Bồ Tát thủ thanh tịnh Phật thế giới, ly tam ác đạo cập Thanh văn, Duyên giác, nhiếp thủ điều phục thiện tâm bạch tịnh, thành tựu thiện căn như thị chúng sanh, thị danh Bồ Tát thí như dư hoa dã, phi vị đại Bồ Tát như phân-đà-lợi hoa, dĩ ư thiện tâm điều phục chúng sanh, chủng chư thiện căn tác Phật sự cố.

Phạm-chí! Kim thính Bồ Tát tứ pháp giải đãi.

Hà đẳng tứ? Nhất giả nguyện thủ thanh tịnh thế giới. Nhị giả nguyện ư thiện tâm điều phục bạch tịnh chúng trung thí tác Phật sự. Tam giả nguyện thành Phật dĩ bất thuyết Thanh văn, Bích-chi Phật pháp. Tứ giả nguyện thành Phật dĩ thọ mạng vô lượng. Thị danh Bồ Tát tứ pháp giải đãi.

Thị vị Bồ Tát thí dụ dư hoa, phi vị Bồ Tát như phân-đà-lợi.

Phạm-chí! Ư thử đại chúng duy trừ nhất nhân Bà-do-

tỳ-nữu, thủ bất tịnh thế giới, điều phục nhiếp hộ đa phiền não giả.

Ư Hiền kiếp trung hoặc hữu Bồ Tát thủ bất tịnh độ.

Phạm-chí! Bồ Tát hữu tứ pháp tinh tấn.

Hà đẳng tứ? Nhất giả nguyện thủ bất tịnh thế giới. Nhị giả ư bất tịnh nhân trung thí tác Phật sự. Tam giả thành Phật dĩ tam thừa thuyết pháp. Tứ giả thành Phật dĩ đắc trung thọ mạng bất trường, bất đoản. Thị danh Bồ Tát tứ pháp tinh tấn.

Thị vị Bồ Tát như phân-đà-lợi, phi như dư hoa. Thị danh Bồ Tát ma-ha-tát.

Phạm-chí! Nhữ kim ư thử vô lượng vô biên a-tăng-kỳ Bồ Tát đại chúng hoa điền chi trung, phát nguyện thọ ký. Nhữ ư Phật tiền dĩ sanh đại bi phân-đà-lợi cố, nhiếp thủ đa nghịch, thành tựu nhất thiết chư bất thiện căn, ngũ trược ác thế, nhi ư thị trung tùy điều phục chi. Nhữ dĩ đại bi âm thanh cố, năng linh thập phương như nhất Phật sát vi trần đẳng chư Phật Thế Tôn khiển tín xưng tán. Xưng tán dĩ hiệu nhữ vi Thành Tựu Đại Bi. Phục linh thử đại chúng cúng dường ư nhữ.

Hựu nhữ Đại Bi ư vị lai thế, quá nhất hằng hà sa đẳng a-tăng-kỳ kiếp, nhập đệ nhị hằng hà  sa  đẳng  a-tăng-kỳ kiếp hậu phần, Ta-bà thế giới Hiền kiếp trung nhân thọ bá nhị thập tuế, vị lão bệnh tử chi sở triền phược. Hắc ám thế trung vô sở sư tư, tụ tập nhất thiết chư bất thiện căn, hành ư tà đạo nhập phiền não hà, chuyên tác ngũ nghịch, hủy hoại chánh pháp, phỉ báng thánh nhân, phạm tứ trọng cấm, dư như thượng thuyết.

Ư như thị đẳng phiền não loạn thế, đương thành vi Phật Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn, ly sanh tử luân, chuyển chánh pháp luân, phá hoại tứ ma.

Nhĩ thời hữu đại danh thanh, thập phương biến mãn vô lượng vô biên chư Phật thế giới, hữu Thanh văn đại chúng thiên nhị bá ngũ thập, thứ đệ ư tứ thập ngũ tuế trung, thành tựu như thị vô lượng Phật sự như nhữ sở nguyện cụ túc vô khuyết.

Thị Vô Lượng Tịnh Vương thành Phật thời thọ mạng vô lượng, tuy ư vô lượng vô biên kiếp trung, diệc năng thành tựu như thị Phật sự đẳng vô sai biệt.

Nhữ thiện trượng phu bát Niết-bàn hậu, chánh pháp trụ thế mãn nhất thiên tuế. Chánh pháp diệt dĩ nhữ chư xá-lợi, như nhữ sở nguyện tác ư Phật sự, cửu cửu tại thế lợi ích chúng sanh như thượng sở thuyết.

Thiện nam tử! Nhĩ thời hội trung hữu nhất Phạm-chí, danh Tướng Cụ Túc, tác như thị ngôn: “Thiện đại trượng phu! Nhược ư lai thế vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp vi Bồ Tát thời tại tại sanh xứ, ngã đương vị nhữ thường tác thị sứ, hằng dĩ từ tâm phụng cấp sở tu. Chí nhất sanh thời phục đương tác phụ. Nhữ thành Phật dĩ tác đại đàn việt, diệc đương thọ ngã vô thượng đạo ký.”

Thời hữu hải thần danh viết Điều Ý, phục tác thị ngôn: “Thiện đại trượng phu! Tùng kim dĩ vãng tại tại chi xứ, nãi chí nhất sanh nguyện ngã thường đương vị nhữ tác mẫu. Nhữ thành Phật dĩ diệc đương thọ ngã vô thượng đạo ký.”

Thời hữu thủy thần phục tác thị ngôn: “Tùng kim dĩ vãng sở tại chi xứ nãi chí nhất sanh, nguyện ngã thường đương tác nhữ nhũ mẫu. Nhữ thành Phật dĩ diệc đương thọ ngã vô thượng đạo ký.”

Hữu nhị Đế thích, nhất danh Thiện Niệm, nhị danh Bảo Niệm, phục tác thị ngôn: “Thiện đại trượng phu! Nhữ thành

Phật dĩ, ngã đẳng đương tác trí huệ thần túc Thanh văn đệ tử.”

Phục hữu Đế thích danh Thiện Kiến Túc, tác như thị ngôn: “Đại Bi! Tùng kim dĩ vãng tại tại chi xứ, nãi chí nhất sanh thường vi nhữ tử.”

Hữu Tu-di sơn thần danh Thiện Lạc Hoa phục tác thị ngôn: “Đại Bi! Nhữ nãi chí nhất sanh thường vi nhữ phụ. Thành Phật đạo dĩ diệc đương thọ vô thượng đạo ký.”

Phục hữu a-tu-la vương danh Hung Ức Hạnh phục tác thị ngôn: “Đại Bi! Ư vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp vi Bồ Tát thời, nãi chí nhất sanh, ư kỳ trung gian ngã đương vị nhữ đồng bộc cấp sử, phụng chư sở an. Nhữ thành A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề dĩ, chuyển  chánh  pháp  luân, ngã sơ giải pháp, đắc ư thật quả phục cam lộ vị, nãi chí đắc đoạn nhất thiết phiền não thành A-la-hán.”

Nhĩ thời phục hữu nhất hằng hà sa đẳng thiên, long, quỷ thần, a-tu-la, ca-lâu-la, nhân,  phi  nhân  đẳng  hướng  Đại Bi Bồ Tát tác thị thệ nguyện: “Thiện đại trượng phu! Yếu đương điều phục giáo hóa ngã đẳng.”

Nhĩ thời hữu nhất lỗ hình Phạm-chí danh Loạn Tưởng Khả Uý phục tác thị ngôn: “Thiện đại trượng phu! Nhữ ư vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, hành Bồ Tát đạo thời, ngã đương tùng nhữ cầu sách sở tu, thường chí nhữ sở khất cầu y phục, sàng tháp, ngoạ cụ, phòng xá, ốc trạch, tượng mã, xa thừa, quốc thành, thê tử, đầu mục, tuỷ não, bì nhục, thủ cước, nhĩ tỵ, thiệt thân. Thiện đại trượng phu! Ngã đương vị nhữ tác tá trợ nhân, linh nhữ mãn túc Đàn ba-la-mật nãi chí Bát-nhã ba-la-mật.

Đại Bi Phạm-chí! Như thị đẳng hành Bồ Tát đạo thời, ngã đương khuyến nhữ linh đắc cụ túc lục ba-la-mật. Nhữ thành Phật dĩ, nguyện tác đệ tử, đương tùng nhữ văn bát vạn pháp tụ. Văn dĩ tức năng biện thuyết pháp tướng. Thuyết pháp tướng dĩ nhữ đương thọ ngã vô thượng đạo ký.

Thiện nam tử! Nhĩ thời Phạm-chí văn thị sự dĩ tức lễ Phật túc tiện cáo lỗ hình Phạm-chí ngôn: “Thiện tai thiện tai. Nhữ chân thị ngã vô thượng đạo bạn. Nhữ ư vô lượng vô biên bá thiên vạn ức a-tăng-kỳ kiếp thường chí ngã sở, khất sách sở tu. Sở vị y phục nãi chí thiệt thân. Ngã ư nhĩ thời dĩ thanh tịnh tâm, xả chư sở hữu bố thí ư nhữ. Nhữ ư thị thời diệc vô tội phần.”

Thiện nam tử! Nhĩ thời Đại Bi Bồ Tát ma-ha-tát, phục tác thị ngôn: “Thế Tôn! Ngã ư vô lượng vô biên bá thiên vạn ức a-tăng-kỳ kiếp, tại tại sanh xứ vi Bồ Tát thời, hữu chư khất sĩ tại ngã tiền trụ, nhược cầu ẩm thực, hoặc dĩ nhuyễn ngữ hoặc dĩ ác ngôn, hoặc khinh hủy tử hoặc chân thật ngôn. Thế Tôn! Ngã ư nhĩ thời nãi chí bất sanh nhất niệm ác tâm. Nhược sanh sân khuể như đàn chỉ khuynh, dĩ thí nhân duyên cầu tương lai báo giả, ngã tức khi cuống thập phương thế giới vô lượng vô biên a-tăng-kỳ hiện tại chư Phật, ư vị lai thế diệc đương tất định bất thành A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.

Thế Tôn! Ngã kim đương dĩ hoan hỷ chi tâm thí ư khất giả, nguyện linh thọ giả vô chư tổn ích, ư chư thiện căn diệc vô lưu nạn nãi chí nhất hào. Nhược ngã linh bỉ thọ giả hữu nhất hào tổn ích thiện căn lưu nạn giả, tắc vi khi cuống thập phương thế giới vô lượng vô biên a-tăng-kỳ đẳng hiện tại chư Phật. Nhược cuống chư Phật giả tắc đương tất đọa A-tỳ địa ngục, bất năng hoan hỷ thí dữ y phục ẩm thực.

Nhược bỉ khất giả, hoặc dĩ nhuyễn ngữ, hoặc thô ác ngôn, hoặc khinh hủy tử, hoặc chân thật ngôn, cầu sách như thị đầu mục, tuỷ não. Thế Tôn! Nhược ngã thị thời tâm bất hoan hỷ, nãi chí sanh ư nhất niệm sân khuể, dĩ thử thí duyên cầu quả báo giả, tắc vi khi cuống thập phương thế giới vô lượng vô biên hiện tại chư Phật. Dĩ thị nhân duyên tất định đọa ư A-tỳ địa ngục.

Như Đàn ba-la-mật thuyết, nãi chí Bát-nhã ba-la-mật diệc như thị.

Thiện nam tử! Nhĩ thời Bảo Tạng Như Lai tức tiện tán thán Bảo Hải Phạm-chí: “Thiện tai thiện tai! Thiện năng an chỉ đại bi tâm cố tác thị thệ nguyện.”

Thiện nam tử! Nhĩ thời nhất thiết đại chúng, chư thiên, long, quỷ thần, nhân cập phi nhân hợp chưởng tán ngôn: “Thiện tai, thiện tai! Thiện năng an chỉ đại bi tâm cố tác thị thệ nguyện đắc đại danh xưng, kiên cố hành ư lục hồ chi pháp, sung túc lợi ích nhất thiết chúng sanh.”

Thiện nam tử! Như lỗ hình Phạm-chí tác thệ nguyện thời, phục hữu bát vạn tứ thiên nhân, diệc đồng Phạm-chí sở phát thệ nguyện.

Thiện nam tử! Nhĩ thời Đại Bi Bồ Tát ma-ha-tát phục cộng như thị bát vạn tứ thiên nhân đồng tác thệ nguyện tâm sanh hoan hỷ, hợp chưởng tứ cố biến quan đại chúng tác như thị ngôn: “Vị tằng hữu dã! Vị lai chi thế chánh pháp diệt thời, đa chư phiền não ngũ trược ác thế, ngã ư thị trung phóng đại quang minh tác điều ngự sư, ư hắc ám thế nhiên chánh pháp đăng. Nhược chư chúng sanh vô hữu cứu hộ, vô hữu thế lực, vô Phật thị đạo, ngã kim sơ phát Bồ-đề tâm thời, dĩ đắc như thị đẳng vô thượng đạo bạn. Thị đẳng chư nhân nguyện linh thế thế tùng ngã thọ thử đầu mục, tuỷ não, bì nhục, cốt huyết, thủ túc, nhĩ tỵ, thiệt thân, nãi chí y phục ẩm thực.”

Thiện nam tử! Nhĩ thời Bảo Hải Phạm-chí bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Nhược vị lai chi thế vô lượng vô biên bá thiên vạn ức a-tăng-kỳ kiếp, như thị chúng sanh lai chí ngã sở, thọ ngã sở thí đầu mục, tuỷ não, nãi chí ẩm thực như nhất mao phần dĩ. Ngã thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề dĩ, nhược bất thoát sanh tử, bất đắc thọ ký ư tam thừa giả, ngã tắc khi cuống thập phương thế giới vô lượng vô biên hiện tại chư Phật, tất định bất thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.”

Thiện nam tử! Nhĩ thời Bảo Tạng Như Lai phục trùng tán thán Đại Bi Bồ Tát: “Thiện tai, thiện tai! Thiện đại trượng phu! Nhữ năng như thị hành Bồ Tát đạo, thí như vãng tích Tu-di Sơn Bảo Bồ Tát tại Thế Gian Quang Minh Phật tiền, sơ phát như thị Bồ-đề chi tâm, tác thị thệ nguyện, diệc hành như thị Bồ Tát chi đạo, quá nhất hằng hà sa đẳng a-tăng-kỳ kiếp. Đông phương khứ thử bá thiên ức Phật thế giới, bỉ hữu thế giới danh Quang Minh Trí Sí, nhân thọ bá tuế, ư trung thành Phật hiệu Trí Hoa Vô Cấu Kiên Bồ-đề Tôn Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn, trụ thế thuyết pháp tứ thập ngũ niên tác ư Phật sự.”

Nhĩ thời Phật cáo Đại Bi Bồ Tát: “Bỉ Phật bát Niết-bàn hậu, chánh pháp trụ thế mãn nhất thiên tuế, chánh pháp diệt dĩ, tượng pháp trụ thế diệc nhất thiên tuế. Đại Bi! Bỉ Phật Thế Tôn nhược tại thế, nhược Niết-bàn, chánh pháp tượng pháp ư thử trung gian, hữu chư tỳ-kheo cập tỳ-kheo ni phi pháp hủy giới, hành ư tà đạo, đoạn pháp cúng dường, vô tàm vô quý, hoặc đoạn chiêu đề tăng vật, đoạn hiện tiền tăng y phục, ẩm thực, ngoạ cụ, y dược, thủ chúng tăng vật dĩ vi kỷ hữu, tự dụng dữ nhân cập dữ tại gia giả. Thiện nam tử! Như thị đẳng nhân, bỉ Phật Thế Tôn giai dữ thọ ký ư tam thừa trung.

Đại Bi! Bỉ Như Lai sở nhược hữu xuất gia trước ca sa giả, giai đắc thọ ký bất thối tam thừa. Nhược hữu tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di phạm tứ trọng cấm, bỉ Phật ư thử khởi Thế Tôn tưởng chủng chư thiện căn, diệc dữ thọ ký bất thối tam thừa.”

Thiện nam tử! Nhĩ thời Đại  Bi Bồ Tát  ma-ha-tát  phục tác thị ngôn: “Thế Tôn! Ngã kim sở nguyện hành Bồ Tát đạo thời, nhược hữu chúng sanh ngã yếu khuyến hóa linh an chỉ trụ Đàn ba-la-mật nãi chí Bát-nhã ba-la-mật, nãi chí khuyến hóa linh trụ như nhất mao đoan thiện căn, nãi chí thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, nhược bất an chỉ nãi chí nhất chúng sanh ư tam thừa trung linh thối chuyển giả, tắc vi khi cuống thập phương thế giới vô lượng vô biên a-tăng-kỳ đẳng hiện tại chư Phật, tất định bất thành A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.

Thế Tôn! Ngã thành Phật dĩ nhược hữu chúng sanh nhập ngã pháp trung xuất gia trước ca sa giả, hoặc phạm trọng giới hoặc hành tà kiến, nhược ư Tam bảo khinh hủy bất tín tập chư trọng tội tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu- bà-di, nhược ư nhất niệm trung sanh cung kính tâm, tôn trọng Thế Tôn hoặc ư pháp tăng. Thế Tôn! Như thị chúng sanh nãi chí nhất nhân bất ư tam thừa đắc thọ ký biệt nhi thối chuyển giả, tắc vi khi cuống thập phương thế giới vô lượng vô biên a-tăng-kỳ đẳng hiện tại chư Phật, tất định bất thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.

Thế Tôn! Ngã thành Phật dĩ, chư thiên, long, quỷ thần, nhân cập phi nhân, nhược năng ư thử trước ca sa giả, cung kính cúng dường tôn trọng tán thán, kỳ nhân nhược đắc kiến thử ca sa thiểu phần, tức đắc bất thối ư tam thừa trung.

Nhược hữu chúng sanh vi cơ khát sở bức, nhược bần cùng quỷ thần, hạ tiện chư nhân, nãi chí ngạ quỷ chúng trung, nhược đắc ca sa thiểu phần, nãi chí tứ thốn, kỳ nhân tức đắc ẩm thực sung túc, tùy kỳ sở nguyện tật đắc thành tựu.

Nhược hữu chúng sanh cộng tương vi phản, khởi oán tặc tưởng, triển chuyển đấu tránh; nhược chư thiên, long, quỷ thần, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma- hầu-la-già, câu-biện-đồ, tỳ-xá-già, nhân cập phi nhân, cập cộng đấu tránh thời, niệm thử ca sa, tầm sanh bi tâm, nhu nhuyễn chi tâm, vô oán tặc tâm, tịch diệt chi tâm, điều phục thiện tâm.

Hữu nhân nhược tại binh giáp đấu tụng đoán sự chi trung, trì thử ca sa thiểu phần chí thử bối trung, vị tự hộ cố cúng dường cung kính tôn trọng. Thị chư nhân đẳng vô năng xâm hủy xúc nhiễu khinh lộng, thường đắc thắng tha quá thử chư nạn.

Thế Tôn! Nhược ngã ca sa bất năng thành tựu như thị ngũ sự thánh công đức giả, tắc vi khi cuống thập phương thế giới vô lượng vô biên a-tăng-kỳ đẳng hiện tại chư Phật, vị lai bất ưng thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tác Phật sự dã, một thất thiện pháp, tất định bất năng phá hoại ngoại đạo.”

Thiện nam tử! Nhĩ thời Bảo Tạng Như Lai thân kim sắc hữu tý, ma Đại Bi Bồ Tát đỉnh, tán ngôn: “Thiện tai thiện tai! Thiện đại trượng phu! Nhữ sở ngôn giả thị đại trân bảo, thị đại hiền thiện. Nhữ thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam- bồ-đề dĩ, thị ca sa y năng thành tựu thử ngũ thánh công đức tác đại lợi ích.”

Thiện nam tử! Nhĩ thời Đại Bi Bồ Tát ma-ha-tát văn Phật xưng tán dĩ, tâm sanh hoan hỷ, dõng dược vô lượng. Nhân Phật thân thử kim sắc chi tý trường chỉ hợp mạn. Kỳ thủ nhu nhuyễn do như thiên y, ma kỳ đầu dĩ kỳ thân tức biến trạng như đồng tử nhị thập tuế nhân.

Thiện nam tử! Bỉ hội đại chúng thiên, long, quỷ thần, càn-thát-bà, nhân cập phi nhân, xoa thủ cung kính hướng Đại Bi Bồ Tát, cúng dường tán chủng chủng hoa, nãi chí kỹ nhạc nhi cúng dường chi, phục chủng chủng tán thán.

Chủng chủng tán thán dĩ mặc nhiên nhi trụ.

ĐÀN BA-LA-MẬT PHẨM ĐỆ NGŨ CHI NHẤT

Thiện nam tử! Nhĩ thời Đại Bi Bồ Tát đầu diện lễ kính Bảo Tạng Như Lai. Lễ Phật túc dĩ, tại ư Phật tiền bạch ngôn: “Thế Tôn! Sở ngôn chư tam-muội môn, trợ Bồ-đề pháp, thanh tịnh môn kinh, tề kỷ danh vi chư tam-muội môn, trợ Bồ-đề pháp, thanh tịnh môn kinh? Vân hà Bồ Tát vô uý trang nghiêm cụ túc ư nhẫn?”

Thiện nam tử! Nhĩ thời bỉ Phật tán Đại Bi Bồ Tát ngôn: “Thiện tai thiện tai! Đại Bi! Nhữ kim sở vấn thậm kỳ thậm đặc, tức thị trân bảo, năng đại lợi ích vô lượng vô biên chư Bồ Tát đẳng.

Hà dĩ cố? Đại Bi! Nhữ năng vấn Phật như thị đại sự.

Đại Bi! Nhữ kim đế thính, đế thính! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân tu hành Đại thừa, hữu Thủ lăng nghiêm tam-muội, nhập  thị  tam-muội  năng  nhập  nhất thiết chư tam-muội trung.

Hữu Bảo ấn tam-muội, nhập thị tam-muội năng ấn chư tam-muội.

Hữu Sư tử du hý tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam-muội năng sư tử du hý.

Hữu Thiện nguyệt tam-muội, nhập thị tam-muội năng chiếu chư tam-muội.

Hữu Nguyệt tràng tướng tam-muội, nhập thị tam-muội năng trì chư tam-muội tràng.

Hữu Xuất  nhất  thiết  pháp  tánh  tam-muội,  nhập  thị tam-muội năng xuất nhất thiết tam-muội.

Hữu Quán ấn tam-muội, nhập thị tam-muội năng quán nhất thiết tam-muội đỉnh.

Hữu Ly pháp giới tam-muội, nhập thị tam-muội năng phân biệt chư tam-muội.

Hữu Ly tràng tướng tam-muội, nhập thị tam-muội năng trì nhất thiết chư tam-muội tràng.

Hữu Kim cang tam-muội, nhập thị tam-muội năng linh nhất thiết tam-muội bất khả phá hoại.

Hữu Chư pháp ấn tam-muội, nhập thị tam-muội năng ấn nhất thiết pháp.

Hữu Tam-muội vương thiện trụ tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam-muội an trụ như vương.

Hữu Phóng quang tam-muội, nhập thị tam-muội năng phóng quang minh chiếu chư tam-muội.

Hữu Lực tấn tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam- muội tăng tấn tự tại.

Hữu Chánh xuất tam-muội, nhập thị tam-muội năng chánh xuất chư tam-muội.

Hữu Biện từ tam-muội, nhập thị tam-muội tất giải nhất thiết vô lượng âm thanh.

Hữu Ngữ ngôn tam-muội, nhập thị tam-muội năng nhập nhất thiết chư ngữ ngôn trung.

Hữu Quán phương tam-muội, nhập thị tam-muội tất năng biến quán chư tam-muội phương.

Hữu Nhất  thiết  pháp  tam-muội,  nhập  thị  tam-muội năng phá nhất thiết pháp.

Hữu Trì ấn tam-muội, nhập thị tam-muội trì chư tam- muội ấn.

Hữu Nhập nhất thiết pháp tịch tĩnh tam-muội, nhập thị tam-muội linh nhất thiết tam-muội nhập ư tịch tĩnh.

Hữu Bất thất tam-muội, nhập thị tam-muội bất vong nhất thiết tam-muội.

Hữu Nhất thiết pháp bất động tam-muội, nhập thị tam- muội linh nhất thiết tam-muội bất động.

Hữu Thân cận nhất thiết pháp hải ấn tam-muội, nhập thị tam-muội nhiếp thủ thân cận nhất thiết tam-muội.

Hữu Nhất thiết vô ngã tam-muội, nhập thị tam-muội linh chư tam-muội vô hữu sanh diệt.

Hữu Biến phú hư không tam-muội, nhập thị tam-muội biến phú nhất thiết tam-muội.

Hữu Bất đoạn nhất thiết pháp tam-muội, nhập thị tam- muội trì chư tam-muội linh bất đoạn tuyệt.

Hữu Kim cang tràng tam-muội, nhập thị tam-muội năng trị nhất thiết chư tam-muội tràng.

Hữu Nhất thiết pháp nhất vị tam-muội, nhập thị tam- muội năng trì nhất thiết pháp nhất vị.

Hữu Ly nhạo ái tam-muội, nhập thị tam-muội năng ly nhất thiết phiền não cập trợ phiền não.

Hữu Nhất thiết pháp vô sanh tam-muội, nhập thị tam- muội thị nhất thiết tam-muội vô sanh vô diệt.

Hữu Quang minh tam-muội, nhập thị tam-muội năng chiếu nhất thiết tam-muội linh kỳ sí minh.

Hữu Bất diệt nhất thiết pháp tam-muội, nhập thị tam- muội bất phân biệt nhất thiết tam-muội.

Hữu Bất cầu tam-muội, nhập thị tam-muội bất cầu nhất thiết chư pháp.

Hữu Bất trụ tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư pháp trung bất trụ pháp giới.

Hữu Hư không ức tưởng tam-muội, nhập thị tam-muội linh chư tam-muội giai thị hư không, kiến kỳ chân thật.

Hữu Vô tâm tam-muội, nhập thị tam-muội năng ư nhất thiết chư tam-muội trung diệt tâm tâm số pháp.

Hữu Sắc vô biên tam-muội, nhập thị tam-muội ư nhất thiết tam-muội trung sắc vô biên quang minh.

Hữu Tịnh đăng tam-muội, nhập thị tam-muội ư nhất thiết tam-muội trung năng tác đăng minh.

Hữu Nhất thiết pháp vô biên tam-muội, nhập thị tam- muội ư chư tam-muội tất năng thị hiện vô lượng trí huệ.

Hữu Điện vô biên tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam-muội thị hiện trí huệ.

Hữu Nhất thiết quang minh tam-muội, nhập thị tam- muội ư chư tam-muội thị hiện tam-muội môn quang minh.

Hữu Chư giới vô biên tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam-muội thị hiện vô lượng vô biên trí huệ.

Hữu Bạch tịnh kiên cố tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam-muội đắc không định.

Hữu Tu-di sơn không tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam-muội thị hiện hư không.

Hữu Vô cấu quang minh tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam-muội trừ chư cấu uế.

Hữu Nhất thiết pháp trung vô uý tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam-muội thị hiện vô uý.

Hữu Nhạo lạc tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam- muội tất đắc nhạo lạc.

Hữu Nhất thiết pháp chánh du hý tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam-muội thị hiện vô hữu nhất thiết chư sắc.

Hữu Phóng điện quang tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam-muội thị hiện phóng quang.

Hữu Nhất thiết pháp an chỉ vô cấu tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam-muội thị hiện vô cấu trí huệ.

Hữu Vô tận tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam- muội thị hiện phi tận phi bất tận.

Hữu Nhất thiết pháp bất khả tư nghị thanh tịnh tam- muội, nhập thị tam-muội ư chư tam-muội thị hiện như kính trung tượng đẳng bất khả tư nghị.

Hữu Hỏa quang tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam-muội linh trí huệ sí nhiên.

Hữu Ly tận tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam- muội thị hiện bất tận.

Hữu Bất động tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư pháp trung bất động bất thọ vô hữu khinh hý.

Hữu Tăng ích tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam- muội tất kiến tăng ích.

Hữu Nhật đăng tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam-muội phóng quang minh môn.

Hữu Nguyệt vô cấu tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam-muội tác nguyệt quang minh.

Hữu Bạch tịnh quang minh tam-muội, nhập thị tam- muội ư chư tam-muội đắc tứ chủng biện.

Hữu Tác bất tác tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam-muội tác dữ bất tác thị hiện trí tướng.

Hữu Kim cang tam-muội, nhập thị tam-muội tất đắc thông đạt nhất thiết chư pháp, nãi chí bất kiến như vi trần đẳng chướng ngại.

Hữu Trụ tâm tam-muội, nhập thị tam-muội kỳ tâm bất động bất thọ khổ lạc, bất kiến quang minh vô hữu sân khuể, ư thử tâm trung diệc phục bất kiến thử thị tâm tưởng.

Hữu Biến chiếu tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam-muội kiến nhất thiết minh.

Hữu Thiện trụ tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam- muội thiện năng đắc trụ.

Hữu Bảo sơn tam-muội, nhập thị tam-muội kiến chư tam-muội do như bảo sơn.

Hữu Thắng pháp ấn tam-muội, nhập thị tam-muội năng ấn chư tam-muội.

Hữu Thuận pháp tánh tam-muội, nhập thị tam-muội

kiến nhất thiết pháp tất giai tùy thuận.

Hữu Ly nhạo tam-muội, nhập thị tam-muội ư nhất thiết pháp đắc ly nhạo trước.

Hữu Pháp cự tam-muội, nhập thị tam-muội trừ chư pháp ám.

Hữu Pháp vũ tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam- muội năng vũ pháp vũ phá hoại trước tướng.

Hữu Đẳng ngôn ngữ tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư pháp trung tất đắc nhãn mục.

Hữu Ly ngữ ngôn tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư pháp trung nãi chí vô hữu nhất ngôn.

Hữu Đoạn duyên tam-muội, nhập thị tam-muội đoạn chư pháp duyên.

Hữu Bất tác tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư pháp trung bất kiến tác giả.

Hữu Tịnh tánh tam-muội, nhập thị tam-muội kiến nhất thiết pháp tự tánh thanh tịnh.

Hữu Vô chướng ngại tam-muội, nhập thị  tam-muội  ư chư pháp trung vô hữu chướng ngại.

Hữu Ly võng tam-muội, nhập thị tam-muội kiến chư tam-muội túc ly ư cao hạ.

Hữu Tập tụ nhất thiết công đức tam-muội, nhập thị tam-muội ly nhất thiết pháp tập.

Hữu Chánh trụ tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư pháp trung bất kiến hữu tâm cập tâm số pháp.

Hữu Giác tam-muội, nhập thị tam-muội tức năng giác ngộ nhất thiết chư pháp.

Hữu Niệm phân biệt tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư pháp trung đắc vô lượng biện.

Hữu Tịnh trí giác tam-muội, nhập thị tam-muội ư nhất thiết pháp đắc đẳng phi đẳng.

Hữu Trí tướng tam-muội, nhập thị tam-muội năng xuất tam giới.

Hữu Trí đoạn tam-muội, nhập thị tam-muội kiến chư pháp đoạn.

Hữu Trí vũ tam-muội, nhập thị tam-muội đắc nhất thiết pháp vũ.

Hữu Vô y tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư pháp trung bất kiến y chỉ.

Hữu Nhất trang nghiêm tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư pháp trung bất kiến pháp tràng.

Hữu Hạnh tam-muội, nhập thị tam-muội năng kiến chư pháp tất tịch tĩnh hạnh.

Hữu Nhất thiết hành ly nhất thiết hữu tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư pháp trung thông đạt giải liễu.

Hữu Tục ngôn tam-muội, nhập thị tam-muội năng giải tục ngôn.

Hữu Ly ngữ ngôn vô tự tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư pháp trung tất đắc giải liễu vô hữu ngữ ngôn.

Hữu Trí cự tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư pháp trung năng tác chiếu minh.

Hữu Trí thắng tướng hống tam-muội, nhập thị tam- muội ư chư pháp trung thị hiện tịnh tướng.

Hữu Thông trí tướng tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư pháp trung tất kiến trí tướng.

Hữu Thành tựu nhất thiết hạnh tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư pháp trung thành tựu nhất thiết hạnh.

Hữu Ly khổ lạc tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư pháp trung vô sở y chỉ.

Hữu Vô tận hạnh tam-muội, nhập thị tam-muội kiến chư pháp vô tận.

Hữu Đà-la-ni tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam- muội năng trì pháp tướng bất kiến tà chánh.

Hữu Vô tăng ái tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư pháp trung bất kiến tăng ái.

Hữu Tịnh quang tam-muội, nhập thị tam-muội ư hữu vi pháp bất kiến thị cấu.

Hữu Kiên lao tam-muội, nhập thị tam-muội bất kiến chư pháp hữu bất kiên lao.

Hữu Mãn nguyệt tịnh quang tam-muội, nhập thị tam- muội tất năng cụ túc thành tựu công đức.

Hữu Đại trang nghiêm tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam-muội tất kiến thành tựu vô lượng trang nghiêm.

Hữu Nhất thiết thế quang minh tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam-muội dĩ trí chiếu minh.

Hữu Nhất thiết đẳng chiếu tam-muội, nhập thị tam- muội ư chư tam-muội tất đắc nhất tâm.

Hữu Tịnh vô tịnh tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư tam-muội bất kiến tịnh bất tịnh.

Hữu Vô trạch tam-muội, nhập thị tam-muội bất kiến chư tam-muội xá trạch.

Hữu Như nhĩ tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư pháp trung bất kiến tác dữ bất tác.

Hữu Vô thân tam-muội, nhập thị tam-muội ư chư pháp trung bất kiến hữu thân.

Chư Bồ Tát đắc như thị đẳng chư tam-muội môn, khẩu nghiệp thanh tịnh như hư không, ư chư pháp trung bất kiến khẩu nghiệp, do như hư không vô hữu chướng ngại.

Đại Bi! Thị danh tu học Đại thừa Bồ Tát ma-ha-tát chư tam-muội môn.

The post KINH BI HOA – PHẨM THỨ TƯ – PHẦN V – BỒ TÁT THỌ KÝ appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Kinh Bi Hoa – PHẨM THỨ TƯ – PHẦN IV – BỒ TÁT THỌ KÝ https://bachhac.net/kinh-bi-hoa-pham-thu-tu-phan-iv-bo-tat-tho-ky.html Wed, 15 Sep 2021 05:33:29 +0000 https://bachhac.net/?p=3975 Khi ấy, cả năm người hầu của Phạm-chí Bảo Hải liền cùng nhau đi đến chỗ Phật, dùng những món quý báu mà Bảo Hải vừa trao cho để cúng dường đức Thế Tôn và chúng tỳ-kheo tăng. Cúng dường xong liền bạch Phật: ‘Bạch Thế Tôn! Nguyện đức Như Lai thọ ký cho chúng …

The post Kinh Bi Hoa – PHẨM THỨ TƯ – PHẦN IV – BỒ TÁT THỌ KÝ appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>
Kinh Bi Hoa - PHẨM THỨ TƯ - PHẦN IV - BỒ TÁT THỌ KÝ

Khi ấy, cả năm người hầu của Phạm-chí Bảo Hải liền cùng nhau đi đến chỗ Phật, dùng những món quý báu mà Bảo Hải vừa trao cho để cúng dường đức Thế Tôn và chúng tỳ-kheo tăng. Cúng dường xong liền bạch Phật: ‘Bạch Thế Tôn! Nguyện đức Như Lai thọ ký cho chúng con đến Hiền kiếp sẽ được thành tựu quả A-nậu-đa- la Tam-miệu Tam-bồ-đề.’

“Thiện nam tử! Bấy giờ đức Như Lai Bảo Tạng liền vì cả năm người mà thọ ký quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ- đề: ‘Thủ Long! Vào đời vị lai, trong Hiền kiếp ông sẽ thành Phật hiệu là Kiên Âm Như Lai, có đủ mười danh hiệu.(1)

“Sau khi đức Kiên Âm Như Lai nhập Niết-bàn rồi, Lục Long sẽ thành Phật tiếp theo, hiệu là Khoái Lạc Tôn Như Lai, cũng có đủ mười danh hiệu.

“Sau khi đức Phật Khoái Lạc Tôn  nhập  Niết-bàn  rồi, Thủy Long sẽ thành Phật tiếp theo, hiệu là Đạo Sư Như Lai, cũng có đủ mười danh hiệu.

(1)Mười danh hiệu: tức mười danh hiệu tôn xưng đức Phật: Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn.

“Sau khi đức Phật Đạo Sư nhập Niết-bàn rồi, Hư Không Long sẽ thành Phật tiếp theo, hiệu là Ái Thanh Tịnh Như Lai, cũng có đủ mười danh hiệu.

“Sau khi đức Phật Ái Thanh Tịnh nhập Niết-bàn rồi, Diệu Âm Long sẽ thành Phật tiếp theo, hiệu là Na-la-diên Thắng Diệp Như Lai, cũng có đủ mười danh hiệu.

“Thiện nam tử! Sau khi đức Như Lai Bảo Tạng thọ ký cho năm người này sẽ thành Phật vào Hiền kiếp rồi, Phạm-chí Bảo Hải lại nói với Trì Lực Tiệp Tật: ‘Thiện nam tử! Nay ông có thể nhận lấy thế giới thanh tịnh mầu nhiệm có đủ các sự trang nghiêm tốt đẹp theo như sự ưa thích trong lòng, rồi phát nguyện ban pháp vị cam lộ cho hết thảy chúng sinh, chuyên tâm tinh tấn tu tập hành trì theo đạo Bồ Tát, thận trọng chớ suy nghĩ rằng số kiếp là xa xôi, lâu dài.’

“Thiện nam tử! Bấy giờ Phạm-chí liền nắm tay Trì Lực Tiệp Tật cùng đi đến chỗ đức Phật. Đến chỗ Phật rồi, Trì Lực Tiệp Tật ngồi xuống trước Phật bạch rằng: ‘Thế Tôn! Trong đời vị lai, vào Hiền kiếp sẽ có bao nhiêu vị Phật Như Lai ra đời?’

“Đức Phật bảo Trì Lực Tiệp Tật: ‘Thiện nam tử! Trong khoảng một nửa Hiền kiếp sẽ có một ngàn lẻ bốn vị Phật xuất hiện ở đời.’

Trì Lực Tiệp Tật liền nói: ‘Bạch Thế Tôn! Trong Hiền kiếp ấy, sau khi chư Phật Thế Tôn đã nhập Niết-bàn rồi, cho đến người cuối cùng là Diệu Âm Long cũng đã thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hiệu là Na-la- diên Thắng Diệp. Bạch Thế Tôn! Con nguyện vào lúc ấy sẽ tu hành theo đạo Bồ Tát, tu tập các môn khổ hạnh, trì giới, bố thí, đa văn, tinh tấn, nhẫn nhục, ái ngữ, phước đức, trí huệ, đầy đủ mọi pháp môn hỗ trợ đạo Bồ-đề.

“Trong Hiền kiếp ấy, con nguyện khi có bất cứ vị Phật nào ra đời con cũng đều tìm đến cúng dường các món ăn thức uống ngay từ lúc ban sơ, cho đến sau khi vị ấy nhập Niết- bàn rồi lại sẽ thu giữ xá-lợi, dựng tháp cúng dường, giữ gìn bảo vệ chánh pháp.

“Khi thấy người hủy phạm giới luật, con sẽ khuyên bảo giáo hóa khiến cho được vững vàng trong việc giữ giới. Khi có người xa lìa chánh kiến, rơi vào các tà kiến, con sẽ khuyên bảo giáo hóa khiến cho được vững vàng trong chánh kiến. Khi có người trong tâm rối rắm tán loạn, con sẽ khuyên bảo giáo hóa khiến cho được vững vàng trong sự định tâm. Khi có người chẳng giữ được các oai nghi, con sẽ khuyên bảo giáo hóa khiến cho được vững vàng trong các oai nghi của bậc thánh.

“Nếu có những chúng sinh muốn tạo căn lành, con sẽ vì họ mà khai mở, chỉ bày cho rõ biết các căn lành. Sau khi các đức Thế Tôn ấy nhập Niết-bàn, vào lúc chánh pháp của mỗi vị sắp diệt mất, con nguyện sẽ bảo vệ giữ gìn không để cho dứt mất, nguyện thắp lên ngọn đèn chánh pháp ở giữa thế gian.

“Vào thời chiến tranh loạn lạc nổi lên, con sẽ giáo hóa hết thảy chúng sinh giữ theo giới không giết hại, cho đến có được chánh kiến. Con sẽ cứu vớt hết thảy chúng sinh ra khỏi mười điều ác, khiến cho tất cả đều vững vàng tin nhận, làm theo mười điều lành. Con sẽ trừ phá sự ngu si tăm tối, khai mở chỉ bày rõ các pháp lành. Con sẽ trừ sạch hết thảy năm sự uế trược là kiếp trược, mạng trược, chúng sinh trược, phiền não trược kiến trược.

“Vào thời có nạn đói kém lan tràn, con sẽ khuyên bảo giáo hóa hết thảy chúng sinh, khiến cho tin nhận vững vàng và thực hành pháp Bố thí ba-la-mật, cho đến tin nhận vững vàng và thực hành pháp Trí huệ ba-la-mật.(1) Khi con khuyên bảo chúng sinh vững tin vào sáu pháp ba-la-mật, những sự đói kém, ngu tối, uế trược, oán thù, tranh đấu, cùng với mọi sự phiền não khác của chúng sinh thảy đều sẽ được lắng yên không còn nữa.

“Vào thời có dịch bệnh lan tràn, con sẽ giáo hóa hết thảy chúng sinh, khiến cho tin nhận vững vàng và thực hành sáu pháp hòa kính(2) cùng với bốn  pháp  thâu  nhiếp.(3) Khi  tin nhận và thực hành như thế, tất cả những bệnh dịch tối tăm u ám của chúng sinh thảy đều dứt mất.

“Khi đã trải qua một nửa Hiền kiếp, chúng sinh chịu những khổ não như thế, một ngàn lẻ bốn vị Phật sẽ ra đời, rồi nhập Niết-bàn, cho đến khi chánh pháp diệt mất thì con sẽ thành tựu  quả  A-nậu-đa-la  Tam-miệu  Tam-bồ-đề, thọ mạng cũng giống như một ngàn lẻ bốn vị Phật, số đệ tử Thanh văn cũng giống như của một ngàn lẻ bốn vị Phật, không có gì khác biệt. Cũng giống như một ngàn lẻ bốn vị Phật trong suốt nửa kiếp điều phục chúng sinh, con nguyện cũng sẽ điều phục chúng sinh trong một nửa Hiền kiếp giống như vậy.

(1) Bố thí… cho đến Trí huệ…: Có nghĩa là tu tập hành trì đủ sáu pháp ba-la-mật, từ Bố thí cho đến Trì giới, Tinh tấn, Nhẫn nhục, Thiền định và Trí huệ.

(2) Sáu pháp hòa kính: xem chú giải ở trang 576.

(3) Bốn pháp thâu nhiếp (Tứ nhiếp pháp): Bốn phương pháp tu tập có thể giúp người tu nhiếp phục người khác, bao gồm: Bố thí nhiếp (布施攝), Sanskrit: dāna, Ái ngữ nhiếp (愛語攝), Sanskrit: priyavāditā, Lợi hành nhiếp (利行攝), Sanskrit: arthacaryā và Đồng sự nhiếp (同事攝), Sanskrit: samānārthatā. Về sáu pháp hòa kính bốn pháp thâu nhiếp, có thể tìm đọc trong sách Những tâm tình cô đơn– Nguyên Minh, NXB Tôn giáo.

“Trong khoảng một nửa Hiền kiếp, những đệ tử Thanh văn của chư Phật có những người hủy phạm giới luật, rơi vào các tà kiến, đối với chư Phật không có lòng cung kính, sinh tâm sân hận, muốn làm não hại, phá hoại chánh pháp và tăng đoàn, phỉ báng hiền thánh, làm tiêu mất chánh pháp, phạm vào các tội ác nghịch. Bạch Thế Tôn! Khi con thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, tất cả những người như thế đều sẽ được cứu vớt ra khỏi chốn bùn lầy sinh tử, khiến cho được nhập vào cảnh giới Niết-bàn không sợ sệt.

“Sau khi con nhập Niết-bàn rồi, chánh pháp diệt mất cùng lúc với Hiền kiếp cũng vừa dứt. Khi ấy, di thể của con để lại như răng, xương, xá-lợi, hết thảy đều sẽ biến hóa thành hình tượng Phật, có đủ ba mươi hai tướng tốt,(1) chuỗi ngọc trang nghiêm quanh thân, trong mỗi một tướng đều có đủ tám mươi vẻ đẹp, lần lượt trang nghiêm, hóa hiện đến vô lượng vô biên cõi thế giới không có Phật trong khắp mười phương. Mỗi một vị hóa Phật ấy đều dùng giáo pháp Ba thừa mà giáo hóa vô lượng vô biên chúng sinh, khiến cho tất cả đều đạt được địa vị không còn thối chuyển.

(1) Ba mươi hai tướng tốt: Xem chú giải ở trang 88.

“Nếu như tại các thế giới ấy có kiếp nạn nổi lên, không có pháp Phật, thì những vị hóa Phật cũng vẫn hiện đến giáo hóa chúng sinh như đã nói trên.

“Nếu như tại các thế giới ấy không có các loại trân bảo, con nguyện tạo ra hạt bảo châu như ý, mưa xuống các loại trân bảo, lại tự nhiên phát sinh ra kho báu chứa đầy vàng ròng.

“Nếu như chúng sinh tại các thế giới ấy lìa các căn lành, bị khổ não trói buộc nơi thân, con sẽ ở nơi ấy làm mưa xuống các loại hương thơm ưu-đà-sa, chiên-đàn, trầm thủy… khiến cho các chúng sinh đều được dứt trừ những bệnh phiền não, bệnh tà kiến, bệnh nơi thân tứ đại, liền sinh tâm chuyên cần tu tập ba điều phúc, khiến cho đến lúc mạng chung được sinh vào hai cõi trời, người.

“Bạch Thế Tôn! Khi con tu hành đạo Bồ Tát, nguyện sẽ làm tất cả những điều lợi ích như vậy cho chúng sinh.

“Khi con thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ- đề rồi, sẽ thực hành đầy đủ những Phật sự như thế. Sau khi nhập Niết-bàn rồi, xá-lợi của con lại hiện đến vô lượng thế giới, làm lợi ích như vậy cho chúng sinh.

“Bạch Thế Tôn! Nếu như sở nguyện của con chẳng thành tựu, không được lợi ích bản thân, cũng không thể vì tất cả chúng sinh mà làm bậc đại y vương,(1) không thể làm nên mọi điều lợi ích, như vậy tức là hiện nay con đang lừa dối chư Phật hiện tại trong vô lượng thế giới ở khắp mười phương, vậy đức Thế Tôn cũng không nên thọ ký cho con quả A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.

(1) Bậc đại y vương: Vị thầy thuốc lớn nhất, là vua trong các thầy thuốc, vì có thể trị được hết thảy tâm bệnh của chúng sinh, không giống như các thầy thuốc thông thường chỉ trị được bệnh tật của thân thể.

“Bạch Thế Tôn! Nếu vậy thì trong số hết thảy vô lượng vô biên ức a-tăng-kỳ chúng sinh đã được thọ ký quả A-nậu-đa- la Tam-miệu Tam-bồ-đề, con cũng sẽ không được trông thấy người nào cả, cũng không thể được nghe những âm thanh như Phật, Pháp, Tăng, âm thanh làm điều thiện, và do đó thường phải đọa trong địa ngục Vô gián.(1)

(1) Địa ngục Vô gián: Tức địa ngục A-tỳ. Vì những chúng sinh khi thọ sinh vào cảnh giới địa ngục này sẽ phải chịu những sự khổ não triền miên không lúc nào gián đoạn nên gọi là Vô gián.

“Bạch Thế Tôn! Còn nếu như sở nguyện của con thành tựu, được lợi ích bản thân, thì nay đức Như Lai ắt sẽ ngợi khen, tán thán con.’

“Khi ấy, đức Phật liền ngợi khen Trì Lực Tiệp Tật rằng: ‘Lành thay, lành thay! Thiện nam tử! Trong đời vị lai ông sẽ làm bậc đại y vương, giúp cho chúng sinh được lìa xa mọi khổ não. Vì thế nên nay ta đặt tên cho ông là Hỏa Tịnh Dược Vương.’

“Rồi đức Phật bảo Hỏa Tịnh Dược Vương: ‘Trong đời vị lai, trải qua số a-tăng-kỳ kiếp nhiều như số cát sông Hằng, bước vào số a-tăng-kỳ kiếp lần thứ hai cũng nhiều như số cát sông Hằng, vào nửa sau của Hiền kiếp, trong một ngàn lẻ bốn vị Phật, khi có bất cứ vị nào thành tựu quả A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, ông đều sẽ được cúng dường các món ăn thức uống, cho đến mọi việc khác đều đúng như sở nguyện của ông vừa nói.

“Sau khi đức Phật Na-la-diên Thắng Diệp nhập Niết- bàn rồi, chánh pháp diệt mất, khi ấy ông sẽ thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hiệu là Lâu  Chí  Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn, thọ mạng nửa kiếp, số đệ tử Thanh văn cũng bằng như số đệ tử của một ngàn lẻ bốn vị Phật, không có gì khác biệt.

“Sau khi ông đã giáo hóa chúng sinh rồi nhập Niết-bàn, chánh pháp diệt mất, cùng lúc với Hiền kiếp cũng vừa dứt, di thể của ông để lại như răng, xương, xá-lợi, thảy đều hóa thành các vị Phật. Mọi việc khác cũng đều đúng như sở nguyện, cho đến giáo hóa chúng sinh khiến được trừ hết phiền não, mạng chung sinh vào hai cõi trời, người, hết thảy cũng đều đúng như sở nguyện.’

“Bấy giờ, Bồ Tát Hỏa Tịnh Dược Vương lại bạch Phật: ‘Thế Tôn! Nếu như sở nguyện của con thành tựu, được lợi ích bản thân, thì nay nguyện được đức Như Lai dùng bàn tay màu vàng ròng hội đủ trăm sự phước đức trang nghiêm mà xoa lên đỉnh đầu của con.’

“Thiện nam tử! Khi ấy đức Như Lai Bảo Tạng liền dùng bàn tay màu vàng ròng hội đủ trăm sự phước đức trang nghiêm mà xoa lên đỉnh đầu của Hỏa Tịnh Dược Vương.’

“Thiện nam tử! Lúc bấy giờ, Bồ Tát Hỏa Tịnh Dược Vương được thấy sự việc như thế, trong lòng sinh ra hoan hỷ, liền lễ bái dưới chân Phật rồi lui ra đứng sang một bên.

“Khi ấy, Phạm-chí Bảo Hải liền lấy tấm áo cõi trời mầu nhiệm đẹp đẽ trao cho Bồ Tát Hỏa Tịnh Dược Vương và khen ngợi rằng: ‘Lành thay, lành thay! Thiện nam tử! Sở nguyện của ông thật hết sức hay lạ, đặc biệt. Từ nay về sau ta sẽ không sai bảo gì ông nữa, ông có thể được tự do tự tại mà tu hạnh an lạc.”

Bấy giờ, đức Phật Thích-ca Mâu-ni bảo Bồ Tát Tịch Ý: “Thiện nam tử! Khi ấy Phạm-chí Bảo Hải suy nghĩ rằng:

‘Nay ta đã khuyên bảo vô lượng vô biên trăm ngàn ức na-do-tha chúng sinh, khiến cho được trụ yên nơi A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Nay ta cũng được thấy các vị Đại Bồ Tát ở đây mỗi người đều phát nguyện nhận lấy cõi Phật thanh tịnh, trừ ra chỉ có một người là Bà-do-tỳ-nữu.(1)

(1) Bà-do-tỳ-nữu là vị đã phát nguyện ở nơi cõi thế giới xấu ác với năm sự uế trược mà thành tựu quả Phật, khác với hầu hết các vị Bồ Tát khác. Xem lại ở trang 284.

“Trong Hiền kiếp ấy, các vị Bồ Tát khác cũng đều tránh xa cõi đời có năm sự uế trược. Nay ta nên ở trong đời mạt pháp, dùng vị pháp chân chánh mà ban cho chúng sinh. Nay ta nên tự mình vững vàng kiên định phát ra các nguyện lành, mạnh mẽ như tiếng của loài sư tử rống, khiến cho hết thảy các vị Bồ Tát khi nghe rồi đều phải sinh tâm kinh ngạc, khen ngợi là việc chưa từng có; lại cũng khiến cho hết thảy đại chúng chư thiên, rồng, quỷ thần, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la,  khẩn-na-la,  ma-hầu-la-già,  người  và  phi   nhân đều phải chắp tay cung kính cúng dường ta; khiến cho đức Phật Thế Tôn sẽ ngợi khen tán thán và thọ ký cho ta thành tựu quả Phật; khiến cho tất cả chư Phật có đủ Mười sức hiện đang ở khắp vô lượng vô biên các thế giới trong mười phương đều sẽ vì chúng sinh mà giảng thuyết chánh pháp; các đức Như Lai ấy khi nghe lời phát nguyện như tiếng sư tử rống của ta, ắt sẽ ngợi khen xưng tán, thọ ký cho ta sẽ thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, lại  cũng  sai  khiến các đệ tử thay mặt đến đây, và khiến cho đại chúng nơi đây đều được thấy rõ.

“Nay ta phát lời nguyện lớn sau cùng, thành tựu lòng đại bi của hàng Bồ Tát, cho đến khi ta thành tựu quả A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề rồi, nếu có chúng sinh nào được nghe biết đến lòng đại bi của ta, đều sẽ ngợi khen cho là ít có!

“Nếu về sau có các vị Bồ Tát nào thành tựu lòng đại bi, cũng sẽ nguyện nhận lấy cõi thế giới như thế. Chúng sinh trong các thế giới ấy khát ngưỡng chánh pháp, mù tối u ám không có mắt huệ, chìm ngập trong bốn dòng nước xoáy,(1) các vị Bồ Tát này nên làm việc cứu vớt bằng cách vì những chúng sinh ấy thuyết giảng chánh pháp.

“Cho đến khi ta nhập Niết-bàn rồi, trong khắp vô lượng vô biên trăm ngàn ức thế giới mười phương, mỗi nơi đều có chư Phật đang thuyết pháp, thảy đều ở giữa đại chúng Bồ Tát mà ngợi khen tán thán danh hiệu của ta, lại cũng tuyên thuyết nguyện lành của ta, khiến cho các vị Bồ Tát kia đều nuôi lớn tâm đại bi, thảy đều hết lòng lắng nghe về việc làm của ta, rồi trong lòng đều hết sức kinh ngạc mà ngợi khen là việc chưa từng có, và tâm đại bi vốn có của các ngài cũng đều được tăng trưởng.

“Cũng như sở nguyện của ta nhận lấy cõi thế giới bất tịnh, các vị Bồ Tát này thảy đều sẽ ở nơi những cõi thế giới bất tịnh mà thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, cứu vớt hết thảy chúng sinh chìm ngập trong bốn dòng nước xoáy, khiến được trụ yên trong giáo pháp Ba thừa, cho đến khi đạt được Niết-bàn.’

(1) Bốn dòng nước xoáy (Tứ lưu) gồm có: một là Kiến lưu, chỉ tất cả những kiến hoặc trong ba cõi; hai là Dục lưu, chỉ hết thảy những sự mê hoặc trong Dục giới, chỉ trừ kiến hoặc và vô minh hoặc; ba là Hữu lưu, chỉ hết thảy những sự mê hoặc trong hai cõi trên là Sắc giới Vô sắc giới, chỉ trừ kiến hoặc và vô minh hoặc; bốn là Vô minh lưu, chỉ sự vô minh khắp trong Ba cõi. Tất cả chúng sinh hữu tình vì bốn pháp này mà chìm nổi trôi lăn không lúc nào dừng lại, do đó mà gọi là tứ lưu, hay bốn dòng nước xoáy.

“Thiện nam tử! Khi ấy, Phạm-chí Bảo Hải suy nghĩ việc phát nguyện đại bi như vậy rồi, liền để trần vai áo bên phải(1) mà đi đến chỗ Phật.

“Bấy giờ lại có vô lượng trăm ngàn muôn ức chư thiên ở giữa hư không trỗi lên những âm nhạc cõi trời, mưa xuống đủ các loại hoa trời, hết thảy đều đồng thanh phát ra lời ngợi khen xưng tán rằng: ‘Lành thay, lành thay! Bậc thiện đại trượng phu hôm nay đến chỗ Phật để phát lời nguyện rất lạ kỳ, rất đặc biệt, muốn dùng nước trí huệ để diệt trừ mọi phiền não của chúng sinh.’

“Khi ấy, hết thảy đại chúng đều chắp tay cung kính trước Phạm-chí Bảo Hải, cùng nhau lễ kính rồi đồng thanh nói lên lời ngợi khen xưng tán rằng: ‘Lành thay, lành thay! Bậc đại trí huệ đáng tôn kính! Nay chúng tôi đều được lợi ích lớn lao, có thể phát khởi những nguyện lành vững vàng kiên định. Nay tất cả chúng tôi xin nguyện được nghe biết chỗ phát nguyện lành trong tâm ngài.’

“Bấy giờ, Phạm-chí Bảo Hải đến trước đức Phật, quỳ gối phải sát đất. Khi ấy, trong khắp cõi Tam thiên Đại thiên thế giới liền chấn động theo sáu cách, các loại nhạc khí không có người điều khiển mà tự nhiên trỗi lên âm nhạc; các loài chim thú đều cất tiếng hòa hợp với nhau; hết thảy cây cối đều nở rộ hoa dù không đúng mùa; những chúng sinh nào có nhân lành với quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hoặc đã phát tâm, hoặc chưa phát tâm, chỉ trừ những chúng sinh trong các cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, còn ngoài ra đều được sinh khởi các tâm lợi ích lớn lao, tâm thuần thiện, tâm không thù oán, tâm không uế trược, tâm từ ái,

(1) Để trần vai áo bên phải: dấu hiệu biểu lộ sự tôn kính theo phong tục Ấn Độ thời cổ.

những tâm ít có; các loài chúng sinh biết bay liền trụ giữa hư không, sinh tâm hoan hỷ, rải xuống đủ mọi loại hoa, các loại hương bột, hương phết, các loại âm nhạc, cờ phướn, y phục để cúng dường, dùng những âm thanh mầu nhiệm êm ái để ngợi khen xưng tán Phạm-chí Bảo Hải; tất cả đều một lòng muốn nghe chỗ phát nguyện lành của Phạm-chí Bảo Hải.

“Tận trên cõi trời A-ca-ni-trá,(1) chư thiên cũng hiện xuống cõi Diêm-phù-đề, ở giữa hư không rải xuống đủ các loại hoa trời, các loại hương bột, hương phết, trỗi lên các loại âm nhạc cõi trời, dùng các loại cờ phướn, y phục để cúng dường, cùng phát ra những âm thanh nhiệm mầu êm ái để ngợi khen, ca tụng Phạm-chí Bảo Hải. Tất cả đều hết lòng chuyên chú muốn được nghe Phạm-chí phát khởi nguyện lành.

(1) Cõi trời A-ca-ni-trá, phiên âm từ Phạn ngữ là Akaniṣṭha, dịch nghĩa là cõi trời

“Bấy giờ, Phạm-chí Bảo Hải chắp tay cung kính đọc kệ xưng tán Phật:

Trong thiền định dạo chơi,

Khác nào Đại Phạm vương.

Nét nghiêm trang ngời sáng,

Như vị Thiên Đế-thích.

Bỏ tài vật bố thí,

Như bậc Chuyển luân vương.

Nắm giữ nhiều trân bảo,

Như vị Chủ tạng thần.

Được công đức tự tại,

Như vị chúa Sư tử.

Sắc cứu cánh, là cõi trời cao nhất trong 18 tầng trời của Sắc giới.

Vững vàng không lay động,

Như núi lớn Tu-di.

Tâm bình không xao động,

Như nước trong biển lớn.

Tâm bao dung như đất,

Thâu chứa tội, không tội.

Diệt trừ các phiền não,

Như dòng nước trong sạch.

Đốt cháy mọi kết sử,

Như ngọn lửa rực hồng.

Không một vật chướng ngại,

Như gió mạnh quét sạch.

Thị hiện pháp chân thật,

Như Bốn vị Thiên vương.

Mưa xuống trận mưa pháp,

Như vị Đại Long vương,

Làm đầy đủ tất cả,

Như cơn mưa đúng mùa.

Phá trừ bọn ngoại đạo,

Như vị đại luận sư.

Tiếng công đức nhiệm mầu,

Như hoa thơm Tu-mạn.

Tiếng thuyết pháp nhiệm mầu,

Như tiếng vị Phạm thiên.

Trừ dứt mọi khổ não,

Như bậc Đại y vương.

Bình đẳng thương tất cả,

Như mẹ hiền thương con.

Dạy dỗ mọi chúng sinh,

Như cha yêu con trẻ.

Thân không hề hư hoại,

Như quả núi kim cang.

Chặt đứt cành tham ái,

Khác nào lưỡi dao sắc.

Rộng độ khắp sanh tử,

Như vị thuyền trưởng giỏi.

Dùng trí huệ độ người,

Như thuyền đưa sang sông.

Sáng trong và mát mẻ,

Như mặt trăng tròn đầy.

Làm nở hoa chúng sinh,

Như mặt trời vừa lên.

Mang đến cho chúng sinh,

Bốn quả hàng sa-môn.

Khác nào cây mùa thu,

Kết quả thật no đầy.

Hàng tiên thánh vây quanh,

Khác nào như phụng hoàng.

Tâm ý thật sâu rộng,

Như biển lớn mênh mông.

Bình đẳng với chúng sinh.

Như muôn loài cây cỏ.

Rõ biết tướng các pháp,

Như nắm tay rỗng không,(1)

(1) Như nắm tay rỗng không (không quyền -空拳, Phạn ngữ: Riktamuṣṭi): ví dụ cho thấy tánh không của các pháp tướng, như bàn tay không chẳng có gì, nắm lại thành nắm tay, người nhìn thấy tưởng đó là có vật, khi mở ra lại thật là không có.

Bình đẳng giữa thế gian,

Như tướng nước không định.(1)

Thành tựu tướng nhiệm mầu,

Khéo nuôi lòng đại bi.

Thọ ký quả vị Phật,

Cho vô lượng chúng sinh.

Con nay đã điều phục,

Được vô lượng chúng sinh,

Xin nguyện đức Như Lai,

Vì con mà thọ ký,

Bước vào đời vị lai,

Thành tựu đạo thù thắng,

Được trí huệ vi diệu.

Bậc Đại Tiên Thế Tôn,

Nguyện dùng tiếng nhiệm mầu,

Thuyết ra lời chân thật.

Con ở đời xấu ác,

Tinh cần tu nhẫn nhục,

Đối trị mọi kết sử,

Cùng với giặc phiền não,

Cứu vớt cho vô lượng,

Hết thảy mọi chúng sinh,

Khiến cho được trụ yên,

Trong đạo mầu tịch diệt.

Trong kinh thường dùng ví dụ này để chỉ sự quyền biến giả lập các pháp, vì khi quán xét thật tánh thì tất cả đều là không.

(1) Như tướng nước không định: Nước vốn không có hình tướng nhất định, khi chứa vào vật tròn thì có hình tròn, khi chứa vào vật vuông thì có hình vuông. Tâm bình đẳng không chấp chặt vào bất cứ hình tướng nào, tùy duyên hóa hiện nên gọi là như tướng nước không định.

“Thiện nam tử! Sau khi Phạm-chí Bảo Hải đọc kệ xưng tán Phật rồi, hết thảy đại chúng đều ngợi khen tán thán rằng: ‘Lành thay, lành thay! Bậc đại trượng phu thật khéo biết xưng tán đấng Như Lai Pháp vương.’

“Bấy giờ, Phạm-chí Bảo Hải bạch Phật: ‘Bạch Thế Tôn! Nay con đã giáo hóa vô lượng ức chúng sinh khiến cho đều phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Những chúng sinh này thảy đều phát nguyện nhận lấy cõi thế giới thanh tịnh nhiệm mầu, lìa xa những cõi thế giới không thanh tịnh; dùng tâm thanh tịnh để trồng các căn lành; khéo thâu nhiếp và điều phục các chúng sinh. Trong nhóm của ông Hỏa Man có một ngàn lẻ bốn người đều đã từng tụng đọc kinh sách Tỳ-đà của ngoại đạo, Như Lai cũng đều đã thọ ký cho những người này vào Hiền kiếp sẽ được thành Phật.

“Có những chúng sinh thường làm các việc tham dâm, sân si, kiêu mạn, thảy đều sẽ được điều phục bằng giáo pháp Ba thừa.

“Lại có những chúng sinh mà một ngàn lẻ bốn vị Phật ấy cũng đành buông bỏ. Đó là những chúng sinh phiền não sâu nặng, ở trong đời có năm sự uế trược mà phạm năm tội nghịch,(1) hủy hoại chánh pháp, phỉ báng các bậc thánh nhân, làm theo tà kiến, lìa xa bảy món tài bảo của bậc thánh,(2) bất hiếu với cha mẹ, đối với các bậc tu hành không có lòng cung kính; thường làm những việc chẳng nên làm, việc nên làm lại chẳng làm; không làm việc phước, không sợ quả báo đời sau; với Ba điều phúc không khởi tâm muốn làm; chẳng cầu được quả báo trong hai cõi trời, người; thường làm mười điều ác, ngập chìm trong tham lam, sân hận và si mê; lìa xa các bậc thiện tri thức, không biết thân cận với người có trí huệ chân thật; lăn lóc trong ba cõi, giam hãm giữa ngục tù sanh tử, trôi chảy theo bốn dòng nước xoáy,(1) chìm sâu trong dòng sông phiền não; do ngu si mà thành mù quáng không nhìn thấy, lìa bỏ nghiệp lành, chỉ gây toàn các nghiệp ác.

(1) Bốn dòng nước xoáy: Xem chú giải ở trang 675.

(1) Năm tội nghịch: Xem chú giải ở trang 109.

(2) Tức Bảy thánh tài: Xem chú giải ở trang 447.

“Những chúng sinh như vậy, các cõi Phật đều không dung nạp, cho nên bị nghiệp lực xô đẩy mà tụ tập đến cõi thế giới này. Vì lìa xa các nghiệp lành, chỉ tạo toàn các nghiệp ác, việc làm đều theo tà đạo, nên những tội nặng đã chồng chất như núi lớn!

“Bấy giờ nơi thế giới Ta-bà, con người vào Hiền kiếp có tuổi thọ là một ngàn tuổi, một ngàn lẻ bốn vị Phật kia phát tâm đại bi chưa trọn, không nhận lấy cõi thế giới xấu ác như vậy, khiến cho chúng sinh phải trôi lăn trong sinh tử như bị cuốn trong guồng trục, chẳng có ai cứu giúp, bảo vệ; chẳng có ai để nương dựa, noi theo; không nơi trú ẩn, không ánh sáng soi đường. Những chúng sinh ấy phải nhận chịu mọi điều khổ não nhưng lại bị buông bỏ, vì mỗi vị Phật kia đều phát nguyện nhận lấy cõi thế giới thanh tịnh nhiệm mầu. Chúng sinh ở các cõi thế giới thanh tịnh thảy đều có thể khéo tự điều phục; tâm họ thanh tịnh, đã trồng các căn lành, lại chuyên cần tinh tấn tu tập, đã được cúng dường vô lượng chư Phật, nay lại được thâu nhận vào cõi Phật thanh tịnh. Bạch Thế Tôn! Những người phát nguyện như thế có phải là chân thật hay chăng?’

“Khi ấy, đức Thế Tôn liền bảo Phạm-chí Bảo Hải: ‘Quả đúng như lời ông nói! Thiện nam tử! Những người kia tùy theo chỗ mong muốn trong lòng mà đều phát nguyện nhận lấy những cõi thế giới có đủ mọi sự trang nghiêm thanh tịnh. Ta cũng tùy theo tâm nguyện của họ mà thọ ký cho được như vậy.’

Bấy giờ, Phạm-chí Bảo Hải lại bạch Phật: ‘Bạch Thế Tôn! Hiện nay tâm con xao động như trong lúc nguy khẩn bám lấy cành cây, trong lòng hết sức lo âu buồn khổ, thân thể tiều tụy. Các vị Bồ Tát kia tuy sinh lòng đại bi nhưng không thể nhận lấy cõi thế giới xấu ác có năm sự uế trược, nên những chúng sinh nơi đây phải rơi vào chỗ tối tăm u ám!

“Bạch Thế Tôn! Cho đến đời vị lai, trải qua số a-tăng-kỳ kiếp nhiều như số cát sông Hằng, bước sang số a-tăng-kỳ kiếp lần thứ hai cũng nhiều như số cát sông Hằng, vào nửa sau của Hiền kiếp, tuổi thọ con người là một ngàn tuổi, con sẽ đợi đến khi ấy mà tu tập hành trì đạo Bồ Tát, ở lâu trong sinh tử, nhẫn chịu mọi điều khổ não. Nhờ vào sức tam-muội của Bồ Tát nên quyết sẽ không buông bỏ những chúng sinh như vậy.

“Bạch Thế Tôn! Nay con tự mình thực hành sáu pháp ba- la-mật để điều phục chúng sinh.

“Như lời Phật dạy, dùng tài vật để bố thí gọi là Bố thí ba- la-mật.

“Bạch Thế Tôn! Khi con thực hành pháp Bố thí ba-la- mật, nếu có chúng sinh đời đời theo con mà cầu xin các thứ cần dùng, con sẽ tùy theo chỗ cần dùng mà cung cấp cho đầy đủ, từ món ăn thức uống, thuốc men, y phục, giường ghế, nhà cửa xóm ấp, hương hoa, chuỗi ngọc; giúp cho người bệnh có đủ thuốc men, sự chăm sóc. Đối với những vật như cờ phướn, lọng che quý báu, tiền tài, lúa thóc, vải lụa, voi ngựa, xe cộ, vàng bạc, chân châu, lưu ly, pha lê, ngọc quý, ngọc bích, san hô, chân bảo cho đến các thứ nón mũ, đồ trang sức… con đều sinh lòng đại bi, đối với chúng sinh dẫu cho nghèo khó cũng mang ra bố thí hết. Tuy làm việc bố thí như vậy nhưng chẳng cầu được quả báo trong hai cõi trời, người, chỉ vì muốn thâu nhiếp điều phục chúng sinh mà thôi. Do nhân duyên ấy nên xả bỏ được hết thảy mọi sự sở hữu.

“Nếu có những chúng sinh cầu xin quá mức, chẳng hạn như nô tỳ, xóm làng, thành ấp, vợ con, chân tay, mũi lưỡi, đầu mắt, da xương, máu thịt, thân mạng… Cầu xin những thứ như vậy thật là quá đáng. Nhưng khi ấy con vẫn sinh lòng đại bi, mang đủ những thứ như vậy mà bố thí cho tất cả, cũng không cầu được quả báo, chỉ vì để thâu nhiếp điều phục chúng sinh mà thôi.

“Bạch Thế Tôn! So với việc thực hành pháp Bố thí ba-la- mật của con, những vị Bồ Tát trong quá khứ đã thực hành pháp Bố thí ba-la-mật thảy đều không thể theo kịp; những vị Bồ Tát trong tương lai sẽ phát tâm A-nậu-đa-la Tam- miệu Tam-bồ-đề mà thực hành pháp Bố thí ba-la-mật cũng đều không thể theo kịp!

“Thế Tôn! Trong đời vị lai con vì tu hành đạo Bồ Tát nên trong trăm ngàn ức kiếp sẽ thực hành pháp Bố thí ba-la- mật như vậy.

“Thế Tôn! Trong đời vị lai nếu có ai muốn tu hành đạo Bồ Tát, con sẽ vì người ấy khuyên dạy thực hành pháp Bố thí ba-la-mật, không để cho dứt mất.

“Khi con bắt đầu thực hành pháp Trì giới ba-la-mật, vì cầu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề nên giữ theo đủ mọi giới luật, tu tập các pháp khổ hạnh đúng như Phật dạy, quán xét các pháp ngã vô ngã nên năm căn(1)  chẳng bị năm trần(2) làm hại.

“Còn về pháp Nhẫn nhục ba-la-mật, con cũng sẽ thực hành theo như đã nói ở trên, quán xét các pháp hữu vi, lìa khỏi mọi điều lỗi lầm xấu ác; thấy rõ các pháp vô vi là vi diệu, tịch diệt; chuyên cần tinh tấn tu tập, đối với đạo Vô thượng không sinh lòng thối chuyển.

“Với pháp Tinh tấn ba-la-mật, con cũng thực hành theo đúng như vậy.

“Dù ở bất cứ nơi đâu cũng tu tập tướng không, đạt được pháp tịch diệt, đó gọi là Thiền định ba-la-mật.

“Thấu hiểu được rằng tánh thật của các pháp xưa vốn không sinh, nay ắt không diệt, đó gọi là Bát-nhã ba-la-mật. Trong vô lượng trăm ngàn ức a-tăng-kỳ kiếp, con đã chuyên cần tinh tấn, kiên trì tu tập pháp Bát-nhã ba-la-mật như thế.

“Vì sao vậy? Trong đời quá khứ hoặc có những Bồ Tát không vì cầu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề mà tu hành đạo Bồ Tát, chuyên cần tinh tấn, kiên trì tu tập pháp Bát-nhã ba-la-mật; hoặc trong đời vị lai có những Bồ Tát chưa vì cầu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề mà tu hành đạo Bồ Tát, chuyên cần tinh tấn, kiên trì tu tập pháp

(1) Năm căn: Nguyên bản Hán văn dùng ngũ tình, theo lối dịch cổ chính là để chỉ ngũ căn. Trong sáu căn trừ ra ý căn thuộc về bên trong, còn lại xếp chung một nhóm thuộc về bên ngoài, đó là mắt, tai, mũi, lưỡi và thân.

(2) Năm trần: Gồm có hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm và sự xúc chạm.

Chính là sáu trần trừ ra đối tượng của ý là các pháp.

Bát-nhã ba-la-mật, con sẽ vì đó mà trong đời vị lai phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, tu đạo  Bồ-đề, khiến cho các pháp lành không bị dứt mất.

“Bạch Thế Tôn! Con từ khi mới phát tâm đã vì các vị Bồ Tát trong đời vị lai mà chỉ bày khai mở tâm đại bi; từ nay cho đến lúc đạt được Niết-bàn cũng vẫn tiếp tục làm như vậy. Như có ai được nghe biết về lòng đại bi của con, trong lòng sẽ hết sức kinh ngạc mà ngợi khen là chưa từng có!

“Cho nên con đối với việc bố thí không tự khen mình, trì giới mà không dựa vào trì giới, nhẫn nhục mà không nghĩ là đang nhẫn nhục, tinh tấn mà không phụ thuộc tinh tấn, thiền định mà không nếm trải các cảnh giới thiền, chỗ trí huệ đạt được không vướng mắc trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Tuy thực hành sáu pháp ba-la-mật như vậy mà chẳng cầu được quả báo.

“Có những chúng sinh lìa xa bảy món tài bảo của bậc thánh nên các thế giới chư Phật đều không dung nạp. Những chúng sinh ấy tạo năm tội nghịch, hủy hoại chánh pháp, phỉ báng các bậc hiền thánh, làm theo tà kiến, tội ác nặng nề chồng chất như núi lớn, thường bị tà đạo che lấp. Nay con vì những chúng sinh như thế mà chuyên tâm trang nghiêm, tinh cần tu tập sáu pháp ba-la-mật. Con vì mỗi một chúng sinh ấy mà trồng các căn lành nên trong thời gian mười kiếp chấp nhận vào địa ngục A-tỳ để chịu vô số nỗi khổ, lại cũng thọ sinh vào các cảnh giới súc sinh, ngạ quỷ cho đến quỷ thần, hoặc sinh làm người nghèo khổ, hèn hạ.

“Nếu có những chúng sinh hoàn toàn không có căn lành, tâm ý tán loạn, khổ não, con sẽ thâu nhiếp tất cả mà điều phục họ, khiến cho trồng các căn lành. Từ đây mãi cho đến Hiền kiếp, con nguyện chẳng bao giờ sinh trong hai cõi trời, người để hưởng thụ những điều khoái lạc, chỉ trừ một lần đản sinh cuối cùng trên cõi trời Đâu-suất trước khi thành Phật.

“Bạch Thế Tôn! Con nguyện sẽ ở cõi sinh tử này thời gian lâu dài như số kiếp bằng với số hạt bụi nhỏ trong một cõi Phật, dùng đủ các thứ cần dùng để cúng dường chư Phật; vì trồng căn lành cho mỗi một chúng sinh mà dùng đủ các món cúng dường nhiều như số hạt bụi nhỏ của một cõi Phật để cúng dường hết thảy vô lượng vô biên chư Phật trong khắp mười phương; lại cũng ở nơi mỗi một vị Phật trong số vô lượng vô biên chư Phật khắp mười phương mà đạt được những công đức lành nhiều như số hạt bụi nhỏ của một cõi Phật; lại ở trước mỗi một vị Phật ấy đều giáo hóa được số chúng sinh nhiều như số hạt bụi nhỏ của một cõi Phật, khiến cho đều được trụ yên trong đạo Bồ-đề Vô thượng. Đối với các quả vị Duyên giác Thanh văn lại cũng như vậy, đều tùy theo sở nguyện của chúng sinh mà giáo hóa.

“Nơi những thế giới chưa có Phật ra đời, con nguyện làm vị tiên nhân để giáo hóa chúng sinh, khiến cho trụ yên trong Mười điều lành, Năm thần thông, lìa xa được các tà kiến.

“Nếu có những chúng sinh thờ phụng vị trời Ma-hê-thủ- la, con nguyện hóa thân thành vị Ma-hê-thủ-la để giáo hóa chúng sinh ấy, khiến cho được trụ yên trong pháp lành. Với những chúng sinh thờ phụng vị trời Bát Tý,(1) con cũng nguyện hóa thân làm vị trời Bát Tý để giáo hóa chúng sinh ấy, khiến cho được trụ yên trong pháp lành. Với những chúng sinh thờ phụng vị Nhật Nguyệt Phạm thiên, con cũng nguyện hóa thân làm vị Nhật Nguyệt Phạm thiên để giáo hóa chúng sinh ấy, khiến cho được trụ yên trong pháp lành.

(1) Vị trời Bát Tý (Bát Tý thiên): tức Na-la-diên thiên, cũng có nơi gọi là Tỳ-nữu thiên.

“Nếu có những chúng sinh thờ phụng loài chim cánh vàng, cho đến thờ phụng loài thỏ, con nguyện cũng hóa thân làm chim cánh vàng, làm thỏ để theo giáo hóa chúng sinh ấy, khiến cho được trụ yên trong pháp lành.

“Nếu gặp những chúng sinh bị đói khát, con sẽ dùng máu thịt thân mình mà bố thí cho, khiến được no đủ.

“Nếu có những chúng sinh phạm vào các tội lỗi, con sẽ dùng thân mạng của mình để chịu tội thay thế, vì những chúng sinh ấy mà làm người cứu giúp, bảo vệ.

“Bạch Thế Tôn! Trong đời vị lai có những chúng sinh lìa các căn lành, diệt mất thiện tâm, con vào lúc đó sẽ vì những chúng sinh ấy mà chuyên cần tinh tấn hành đạo Bồ Tát, ở trong sinh tử chịu các khổ não, cho đến trải qua số a-tăng- kỳ kiếp nhiều như số cát sông Hằng, bước vào nửa sau của số a-tăng-kỳ kiếp lần thứ hai cũng nhiều như số cát sông Hằng, vừa mới bắt đầu Hiền kiếp, khi ông Hỏa Man thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề hiệu là Câu- lưu-tôn Như Lai, những chúng sinh mà con giáo hóa đều là những chúng sinh đã từng lìa các nghiệp lành, tạo các nghiệp ác, tâm lành đã mất, lìa bỏ bảy món tài bảo của bậc thánh, phạm vào năm tội nghịch, hủy hoại chánh pháp, phỉ báng thánh nhân, làm theo tà kiến, tội ác nặng nề chất chồng như núi lớn, thường bị tà đạo che lấp, không có thế giới Phật nào dung nạp, được con giáo hóa khiến cho phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, thực hành pháp  Bố thí ba-la-mật, cho đến thực hành pháp Bát-nhã ba-la-mật, dừng trụ vững vàng nơi địa vị không còn thối chuyển, tất cả đều sẽ thành Phật, sẽ chuyển bánh xe chánh pháp ở các cõi Phật trong mười phương nhiều như số hạt bụi nhỏ của một cõi Phật, khiến cho chúng sinh đối với quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề liền trồng các căn lành, ra khỏi các đường ác, dừng trụ an ổn trong các pháp công đức, trí huệ, hỗ trợ Bồ-đề. Tất cả những chúng sinh như vậy, nguyện con khi ấy đều được nhìn thấy.

“Bạch Thế Tôn! Nếu như chư Phật mỗi vị đều ở tại cõi thế giới của mình, khiến cho chúng sinh tìm đến chỗ Phật, được thọ ký quả A-nậu-đa-la  Tam-miệu  Tam-bồ-đề,  lại khiến cho được các phép đà-la-nitam-muộinhẫn  nhục, lần lượt bước lên các địa vị tu chứng, được các cõi thế giới có đủ mọi sự trang nghiêm tốt đẹp, mỗi người đều tùy theo ý muốn nhận lấy cõi Phật thanh tịnh. Tất cả những chúng sinh như vậy đều là do con khuyên bảo dạy dỗ, khi bước vào Hiền kiếp, lúc đức Phật Câu-lưu-tôn ra đời, những chúng sinh ấy cũng sẽ ở nơi các cõi Phật nhiều như số hạt bụi nhỏ trong khắp mười phương mà thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, mỗi vị đều ở tại cõi Phật của mình mà thuyết pháp, cũng nguyện cho con đều được nhìn thấy.

“Bạch Thế Tôn! Vào lúc đức Phật Câu-lưu-tôn  thành đạo, con sẽ đến chỗ của ngài dùng đủ các phẩm vật để cúng dường, thưa hỏi mọi điều về giáo pháp của bậc xuất gia, lại giữ gìn giới hạnh thanh tịnh, học rộng nghe nhiều, chuyên tu tam-muội, chuyên cần tinh tấn tu tập, thuyết giảng giáo pháp vi diệu, trừ đức Như Lai ra thì không còn ai có thể vượt hơn được! Vào thời ấy, nếu có những chúng sinh ngu độn tối tăm, không có căn lành, rơi vào tà kiến, làm theo những việc không chân chánh, phạm vào năm tội nghịch, hủy hoại chánh pháp, phỉ báng các bậc thánh hiền, tội ác nặng nề chất chồng như núi lớn, con sẽ vì những chúng sinh như vậy mà thuyết giảng chánh pháp, thâu nhiếp và điều phục. Sau khi đức Phật nhập Niết-bàn, tự nhiên con sẽ tiếp tục ở lại mà làm vô số Phật sự.

“Cho đến khi  các  đức  Phật  Già-na-ca-mâu-niCa-diếp ra đời, con cũng sẽ lần lượt thực hiện đủ tất cả các việc như vào thời đức Phật Câu-lưu-tôn, cho đến sau khi Phật nhập Niết-bàn cũng tiếp tục ở lại mà làm vô số Phật sự.

“Mãi cho đến khi tuổi thọ con người chỉ còn một ngàn tuổi, con sẽ khuyên bảo chúng sinh về việc tu tập Ba điều phúc. Trải qua đủ ngàn năm rồi, liền sinh lên cõi trời, vì chư thiên giảng thuyết chánh pháp khiến cho tất cả đều được điều phục.

“Cho đến khi tuổi thọ con người chỉ còn một trăm hai mươi tuổi, khi ấy chúng sinh ngu si, chỉ tự làm theo ý mình; luôn tự mãn về dung mạo xinh đẹp và được sinh trong dòng tộc cao quý; lại có đủ các nết buông thả, lười nhác, tham lam keo kiệt, ganh ghét, ghen tỵ, sinh vào cõi đời xấu ác tối tăm có đủ năm sự uế trược, lòng tham dục sâu nặng, sân khuể, ngu si, kiêu mạn, làm những việc dâm dục, cầu tài không đúng pháp, làm theo tà kiến điên đảo, lìa bỏ bảy món tài bảo của bậc thánh, bất hiếu với cha mẹ, đối với các bậc tu hành không sinh lòng cung kính; thường làm những việc chẳng nên làm, việc nên làm lại chẳng làm; không làm việc phước, không sợ quả báo đời sau; không chuyên cần tu tập Ba điều phúc; chẳng ưa thích giáo pháp Ba thừa, đối với ba căn lành(1) không thường tu tập, ngập chìm trong tham lam, sân hận si mê; chẳng tu mười điều lành, thường làm mười điều ác, trong tâm thường bị bốn điên đảo(2) che lấp, thường phạm bốn điều phá giới,(3) khiến cho bốn ma vương(4) được tùy ý lung lạc, cuốn trôi trong bốn dòng nước xoáy,(5) bị năm pháp che lấp trong tâm.(6) Trong đời vị lai, những chúng sinh như vậy buông thả sáu căn, làm theo tám tà pháp,(7) tội lỗi chất chồng như núi lớn, sinh ra trăm mối trói buộc, chẳng cầu được quả báo tốt đẹp trong hai cõi trời, người, tin theo các tà kiến điên đảo, hướng theo tà đạo, phạm vào năm tội nghịch, hủy hoại chánh pháp, phỉ báng thánh nhân, lìa các căn lành, phải sa vào cảnh nghèo hèn khốn khó, không còn biết tránh né sợ sệt điều gì, không rõ việc ân nghĩa, đánh mất chánh niệm, khinh rẻ pháp lành, không có trí huệ, không thể học hỏi, hủy phạm giới luật, nịnh hót bợ đỡ, khởi tâm ganh ghét ghen tỵ nên khi có được vật chất của cải chẳng bao giờ chia phần cho kẻ khác, thường khinh khi rẻ rúng lẫn nhau, không có lòng cung kính, lười nhác chểnh mảng, các căn không đầy đủ, thân thể gầy yếu, quần áo thiếu thốn, gần gũi kẻ ác, khi vào bào thai mê muội chẳng còn hay biết. Vì phải chịu đủ mọi sự khổ não nên dáng vẻ xấu xí, tiều tụy, nhưng đưa mắt nhìn nhau không chút xấu hổ thẹn thùng, lại còn đe dọa rồi sợ sệt lẫn nhau, chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi của một bữa ăn mà các nghiệp ác do thân, miệng, ý tạo ra đã là vô lượng vô biên. Lại lấy việc làm ác đó mà ngợi khen, xưng tụng!

(1) Ba căn lành: chỉ các đức tính không tham, không sân, không si, vì đây là cội gốc sinh ra các điều lành nên gọi là căn lành. Cũng gọi các đức bố thí, từ bi trí huệ là ba căn lành, vì bố thí đối trị tham lam, từ bi đối trị sân hận, và trí huệ đối trị ngu si. Tuy diễn giải có phần khác nhau nhưng vẫn cùng một ý.

(2) Bốn điên đảo: Xem chú giải ở trang 80.

(3) Bốn điều phá giới(Tứ phá giới): Một là giữ giới thanh tịnh nhưng chấp có . Hai là giữ giới thanh tịnh nhưng không trừ được , chấp thân là thật có. Ba là giữ giới thanh tịnh nhưng chấp giữ mà khởi tâm từ, khi nghe nói tất cả các pháp xưa nay vốn không sinh thì hết sức kinh sợ. Bốn là giữ giới thanh tịnh, nhưng tu hành khổ hạnh cho là có chỗ sở đắc. Người thọ giới mà phạm vào bốn điều này thì sự tu tập không thể đạt đến giải thoát, nên dù có giữ giới mà nói là .

(4) Bốn ma vương: tức Bốn thứ ma, gồm có phiền não ma, ấm ma, tử ma Thiên ma.

(5) Xem chú giải ở trang 675.

(6)Năm pháp che lấp trong tâm: tức Ngũ cái, là năm điều ngăn che, khiến cho trong tâm không thể sinh khởi trí huệ. Năm điều này gồm có: một là tham dục, hai là sân khuể, ba là thụy miên (buồn ngủ, hôn trầm), bốn là trạo hối (tâm xao động bất an) và năm là nghi ngờ. Xem chú giải ở trang 327.

(7) Tám tà pháp: Trái ngược với Bát chánh đạo, đó là các pháp: Tà kiến, Tà tư duy, Tà ngữ, Tà nghiệp, Tà mạng, Tà phương tiện, Tà niệm và Tà định.

“Vào thời bấy giờ chúng sinh cùng nhau tu tập theo đoạn kiến thường kiến,(1) kiên trì tham chấp vào thân thể do năm ấm(2) hợp thành, mỏng manh không bền chắc, đối với năm món dục lạc sinh lòng tham đắm nặng nề, thường sinh tâm nóng giận, oán thù, muốn làm hại những chúng sinh khác.

“Những chúng sinh ấy trong tâm thường nóng giận, phiền não, thô thiển, xấu xa, chưa điều phục được những thói xấu như tham lam, keo kiệt, mê đắm tham dục; không buông bỏ được những điều không đúng chánh pháp, không có tâm quyết định, thường đe dọa, sợ sệt lẫn nhau, khởi lên sự tranh chấp, giành giật, dùng tâm xấu xa mà giết hại lẫn nhau, xa lìa các pháp lành, khởi tâm bất thiện mà làm các nghiệp ác.

(1)Đoạn kiến thường kiến: hai quan điểm sai lầm về thực tại. Đoạn kiến là cho rằng cuộc sống này đoạn diệt, sau khi chết không còn gì nữa cả. Thường kiến là cho cuộc sống này là thường tồn, mọi thứ đều không thể hoại mất.

(2) Năm ấm (ngũ ấm): tức năm uẩn (ngũ uẩn), xem chú giải ở trang 327.

“Những chúng sinh ấy đối với việc thiện hay việc ác cũng đều không tin là sẽ có quả báo; đối với các pháp lành sinh tâm đối nghịch, đối với các pháp làm dứt căn lành lại sinh tâm hoan hỷ; đối với các pháp bất thiện khởi tâm chuyên làm, đối với Niết-bàn tịch diệt lại khởi tâm chẳng mong cầu; đối với các bậc tu hành trì giới sinh lòng bất kính, đối với các mối trói buộc lại khởi tâm mong cầu cho là ít có.

“Đối với những nỗi khổ như già, bệnh, chết lại đặt lòng tin cậy; đối với các phiền não lại khởi tâm thọ trì; đối với năm pháp ngăn che lại khởi tâm nắm giữ.

“Đối với nơi thuyết giảng chánh pháp thì khởi tâm lìa xa; đối với nơi giảng nói các tà kiến lại khởi tâm xây dựng; thường khởi tâm chống phá, khinh khi lẫn nhau, sinh lòng chém giết ăn nuốt lẫn nhau; người người đều chống đối nhau, xâm lấn giành giật nhau; ôm giữ những tâm oán hận, não hại nhau.

“Đối với những tham dục xấu ác sinh lòng mê say không chán bỏ, đối với tài sản vật chất của người khác sinh lòng ganh ghét, đối với việc thọ ân chẳng khởi lòng báo đáp, đối với tài sản của người khác sinh lòng trộm cắp, cướp giật; đối với vợ người khác lại sinh lòng xâm phạm, não hại.

“Hết thảy chúng sinh vào thời ấy trong lòng không có nguyện lành, cho nên thường nghe thấy những âm thanh của các cảnh giới địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ; những âm thanh của tật bệnh, già chết; những âm thanh của sự não hại, của tám nạn xứ; những âm thanh của sự trói buộc, xiềng xích, gông cùm; những âm thanh của sự cướp đoạt, xâm phạm, não hại người khác; những âm thanh của sân khuể, khinh hủy, trách mắng, phá hoại sự hòa hợp của người khác.

“Họ cũng thường nghe thấy những âm thanh của binh khí, chiến cụ, giặc cướp từ phương khác đến; những âm thanh của đói khổ, gạo thóc quý hiếm, trộm cướp nổi lên; những âm thanh của sự tà dâm, dối trá, điên loạn, ngu si; những âm thanh của lời nói đâm thọc, lời nói ác độc, lời nói không chính đáng; những âm thanh của sự tham lam, keo kiệt, ghen ghét, ganh tỵ; những âm thanh của sự thu góp, đắm chấp vào “cái ta” và “vật của ta” rồi sinh ra giành giật, tranh đấu.

“Họ lại thường nghe thấy những âm thanh của sự yêu, ghét, vừa lòng, không vừa lòng; những âm thanh của ân ái, biệt ly, lo buồn, khổ não vì phải gần gũi thân cận những người mình oán ghét; những âm thanh sợ sệt lẫn nhau, làm tôi tớ cho nhau; những âm thanh khi vào ở trong bào thai dơ nhớp hôi hám; những âm thanh của sự nóng, lạnh, đói, khát, mỏi mệt; những âm thanh của sự cày bừa gieo cấy mùa vụ tất bật, những âm thanh của đủ mọi thứ nghề nghiệp kiếm sống mệt mỏi chán ngán; những âm thanh của các thứ bệnh tật nạn khổ hao gầy ốm yếu.

“Vào thời bấy giờ, tất cả chúng sinh ai nấy đều thường nghe thấy những âm thanh như thế.

“Những chúng sinh như vậy đầy dẫy trong thế giới Ta-bà. Tất cả đều đã dứt mất căn lành, lìa xa các bậc thiện tri thức, thường ôm ấp trong lòng sự nóng nảy sân hận, không được các cõi Phật ở phương khác dung nạp, do nghiệp lực nặng nề nên mới thọ sinh về đây trong Hiền kiếp, tuổi thọ chỉ có một trăm hai mươi tuổi.

“Những chúng sinh ấy do nơi nghiệp lực nhân duyên nên ở trong thế giới Ta-bà nhận chịu những sự thấp hèn xấu xí. Những chúng sinh thành tựu được các căn lành thảy đều lìa xa họ.

“Mặt đất ở thế giới Ta-bà đầy dẫy những thứ muối mỏ mặn đắng, đất cát sỏi đá, núi đồi, gò nổng, suối khe, hang hố, ruồi muỗi, rắn độc. Các loài chim độc, thú dữ chen chúc khắp nơi. Gió chướng, bão táp nghịch mùa thường khởi; những cơn mưa đá, mưa lớn thường đổ xuống nghịch mùa. Trong nước mưa ấy có chất độc, có vị chua, vị mặn, vị đắng. Mưa ấy làm sinh sôi nảy nở các loài cây cỏ, nên những cành nhánh hoa trái, lúa thóc thảy đều hàm chứa đủ các vị độc.(1) Các loại thực phẩm, hoa trái nghịch mùa, trái với tự nhiên, chứa nhiều chất độc, nên khi chúng sinh ăn vào thì lòng nóng nảy sân hận càng tăng thêm, hình dáng tiều tụy không chút tươi nhuận, không có lòng từ mẫn, thường phỉ báng thánh nhân.

(1) Đoạn kinh văn này khiến chúng ta liên tưởng đến những cơn mưa acid hiện nay đang thường xuyên đổ xuống nhiều nơi trên thế giới, cùng với sự ô nhiễm nặng nề của môi trường khiến cho hầu hết các món ăn, thức uống của con người đều pha lẫn trong đó ít nhiều độc tố.

“Những chúng sinh ấy thảy đều không có lòng cung kính, thường ôm trong lòng những sự khủng bố, tàn hại lẫn nhau; trong lòng thường sinh não loạn, thường ăn thịt, uống máu những chúng sinh khác, lột da những chúng sinh khác mà làm quần áo mặc; thường cầm dao gậy chuyên làm việc giết hại; thường tự mãn cho rằng dòng dõi của mình là cao quý, hình sắc của mình là đẹp đẽ; thường tụng đọc kinh sách ngoại đạo, luyện tập cưỡi ngựa, giỏi dùng các loại đao thương, khí giới; đối với quyến thuộc của chính mình cũng sinh lòng ganh ghét, đố kỵ. Những chúng sinh này tu tập theo tà pháp, phải chịu đủ mọi sự khổ não.

“Bạch Thế Tôn! Con nguyện vào thời ấy sẽ từ cung trời Đâu-suất hiện xuống cõi Ta-bà, sinh vào nhà của vị Chuyển luân vương cao quý nhất, tùy ý nhập bào thai trong lòng vị hoàng hậu của Thánh vương.

“Do con đã vì tất cả chúng sinh mà điều phục tâm ý, tu tập căn lành, nên ngay khi nhập bào thai liền phóng ra ánh hào quang rực sáng. Hào quang vi diệu ấy chiếu khắp cả thế giới Ta-bà, từ nơi thấp nhất của thế giới này lên đến tận cõi trời A-ca-ni-trá, khiến cho tất cả những chúng sinh trong các cõi này, hoặc đang ở trong cảnh giới địa ngục, hoặc đang trong cảnh giới súc sinh, hoặc đang trong cảnh giới ngạ quỷ, hoặc đang ở các cõi trời, hoặc trong cõi người, hoặc có hình sắc, hoặc không hình sắc, hoặc có tư tưởng, hoặc không tư tưởng, hoặc không phải có tư tưởng cũng không phải không có tư tưởng, nguyện cho tất cả đều được nhìn thấy hào quang vi diệu sáng rực của con.

“Khi hào quang ấy chạm vào thân thể, cũng nguyện cho chúng sinh đều được rõ biết. Nhờ rõ biết được hào quang ấy nên liền phân biệt được những sự nguy khổ của sinh tử, hết lòng mong cầu được cảnh giới Niết-bàn Vô thượng tịch diệt, cho đến chỉ trong khoảng thời gian của một ý tưởng đã dứt trừ được hết các phiền não. Như vậy gọi là giúp cho chúng sinh lần đầu tiên gieo trồng hạt giống Niết-bàn.

“Nguyện trong thời gian mười tháng con ở trong bào thai liền chọn lựa phân biệt được hết thảy các pháp, vào hết thảy các pháp môn, như là các pháp môn Tam-muội Vô sanh, Tam-muội Không… Vào đời vị lai con sẽ thuyết giảng các pháp môn tam-muội ấy trong vô lượng kiếp, dù ai có tâm khéo quyết định cũng không thể lãnh hội được hết.

“Khi con ra khỏi bào thai, thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề rồi, sẽ cứu vớt cho hết thảy những chúng sinh ấy, khiến cho được lìa khỏi sinh tử, sẽ khiến cho những chúng sinh ấy đều được thấy rõ rằng tuy con ở trong thai mẹ trọn đủ   mười tháng, nhưng thật ra là đang trụ yên trong Tam-muội Trân bảo, ngồi kết già nhập định tư duy; sau khi trọn đủ mười tháng liền từ nơi hông bên phải mà bước ra, nhờ oai lực của Tam-muội Nhất thiết công đức thành tựu nên khiến cho trong thế giới Ta-bà, từ nơi thấp nhất lên đến tận cõi trời A-ca-ni-trá đều chấn động đủ sáu cách, những chúng sinh trong thế giới, hoặc đang ở trong cảnh giới địa ngục, hoặc trong cảnh giới súc sinh, hoặc trong cảnh giới ngạ quỷ, hoặc đang ở các cõi trời, cõi người, thảy đều được giác ngộ.

“Bấy giờ, con lại dùng hào quang vi diệu chiếu khắp cõi thế giới Ta-bà một lần nữa, lại cũng giúp cho vô lượng chúng sinh được giác ngộ. Nếu có chúng sinh nào chưa trồng căn lành, con sẽ khiến cho được dừng trụ an ổn mà trồng các căn lành. Đã trồng căn lành trong cảnh giới Niết-bàn rồi, liền khiến cho các chúng sinh được sinh trưởng hạt giống tam- muội.

“Khi con từ hông bên phải bước ra, chân vừa chạm đất, lại nguyện cho trong cõi thế giới Ta-bà, từ nơi thấp nhất lên đến tận cõi trời A-ca-ni-trá đều chấn động đủ sáu cách, những chúng sinh trong thế giới, hoặc sống trong nước, hoặc sống trên đất, hoặc sống giữa hư không, hoặc sinh ra từ bào thai, hoặc sinh ra từ trứng, hoặc sinh ra từ nơi ẩm ướt, hoặc do biến hóa mà sinh ra, hết thảy chúng sinh trong năm đường(1) đều được giác ngộ.

“Nếu có những chúng sinh chưa đạt được tam-muội, nguyện cho thảy đều đạt được. Đạt được tam-muội rồi, sẽ dừng trụ an ổn trong giáo pháp Ba thừa, đạt được địa vị không còn thối chuyển.

“Khi con đã sinh ra rồi, tất cả chư thiên, Phạm vương, Thiên ma, chư thiên trên cõi trời Đao-lợi cùng với cõi Nhật nguyệt thiên, các vị Tứ Thiên vương, Đại Long vương, càn- thát-bà,  a-tu-la,   ca-lâu-la,   khẩn-na-la,   ma-hầu-la-già,   các vị thần tiên hóa sinh, dạ-xoa, la-sát, thảy đều hiện đến cúng dường con. Nguyện khi con sinh ra liền bước đi bảy bước. Đi bảy bước rồi, nhờ oai lực của Tam-muội Tuyển trạch công đức liền thuyết giảng chánh pháp khiến cho đại chúng sinh tâm hoan hỷ, trụ nơi Ba thừa.

“Trong đại chúng ấy, nếu có những chúng sinh học giáo pháp Thanh văn, nguyện cho ngay trong đời sống này liền được điều phục. Nếu có những chúng sinh tu tập theo Duyên giác thừa, hết thảy đều đạt được phép Nhẫn nhục Nhật hoa. Nếu có những người học theo Đại thừa, thảy đều đạt được

(1) Năm đường (ngũ đạo): Xem chú giải ở trang 953.

Tam-muội Chấp trì kim cang ái hộ đại hải. Nhờ oai lực của tam-muội này, liền vượt qua được địa vị thứ ba.(1)

(1) Địa vị thứ ba: tức là Phát quang địa, tiếng Phạn là Prabhākārī-bhūmi, là địa vị tu chứng thứ 3 trong Thập địa của hàng Bồ Tát. Đạt đến địa vị này, Bồ Tát chứng được luật vô thường, tu trì tự tâm, thực hành nhẫn nhục khi gặp chướng ngại trên đường hóa độ chúng sinh. Ở địa vị này, Bồ Tát trừ được ba độc là tham, sân, si và được bốn cấp định an chỉ của bốn xứ, chứng đạt năm phần trong lục thông. Xem chú giải về Thập địa hay Thập trụ ở trang 48.

“Vào lúc bấy giờ con muốn tắm gội, nguyện có vị Đại Long vương cao quý nhất hiện đến tắm gội thân con. Chúng sinh được thấy như vậy liền trụ vững trong Ba thừa, đạt được những công đức như đã nói trên.

“Khi con còn ở tuổi thiếu niên cưỡi trên xe dê, thị hiện đủ mọi kỹ năng, tài nghệ khéo léo, đều là vì muốn giác ngộ cho hết thảy chúng sinh.

“Khi con ở tại cung điện có đủ vợ con, cung nữ, sống trong năm món dục lạc, cùng nhau vui thú. Vì thấy được sự nguy hại mê lầm nên giữa đêm khuya vượt ra khỏi thành, vất bỏ hết các món trang sức đẹp đẽ trên thân, vì muốn phá trừ bọn ngoại đạo Ni-kiền-tử.

“Các vị thầy ngoại đạo đều cung kính y phục, cho nên con mới khoác áo cà-sa đến ngồi dưới gốc cây bồ-đề. Chúng sinh thấy con ngồi dưới gốc bồ-đề, thảy đều phát nguyện mong cầu cho con mau chóng dùng oai lực của Tam-muội Nhất thiết công đức thành tựu mà thuyết giảng giáo pháp Ba thừa. Được nghe pháp rồi liền sinh lòng mong cầu tha thiết trong Ba thừa, chuyên cần tu tập, hành trì tinh tấn.

“Nếu có ai đã phát tâm cầu Thanh văn thừa liền khiến cho được thoát khỏi phiền não, ngay trong đời này nhờ sự giáo hóa của con mà được điều phục.

“Nếu có ai đã phát tâm cầu Duyên giác thừa liền khiến cho tất cả đều được phép Nhẫn nhục Nhật hoa.

“Nếu có ai đã phát tâm cầu Đại thừa liền khiến cho đều được Tam-muội Chấp trì kim cang ái hộ đại hải. Nhờ oai lực của tam-muội này, liền vượt qua được địa vị thứ ba.

“Con ở nơi gốc bồ-đề nhận cỏ rồi trải thành tòa kim cang, ngồi kết già trên đó, thân tâm đều ngay thẳng, nhập Tam- muội A phả. Nhờ oai lực của tam-muội này khiến cho hơi thở vào ra đều dừng yên, tĩnh lặng. Trụ yên trong tam-muội này suốt một ngày một đêm chỉ ăn nửa phần mè, nửa phần gạo, còn thừa một nửa mang thí cho người khác.

“Con tu tập khổ hạnh như vậy rất lâu, trong khắp thế giới Ta-bà, tận trên cõi trời A-ca-ni-trá, hết thảy chúng sinh được nghe danh hiệu của con đều tìm đến chỗ con để cúng dường, những chúng sinh này có thể vì con mà chứng minh việc tu hành khổ hạnh như vậy.

“Nếu có chúng sinh nào theo giáo pháp Thanh văn mà trồng căn lành. Con nguyện sẽ khiến cho những chúng sinh ấy được tâm tĩnh lặng đối với mọi phiền não. Trong thời gian còn lại của kiếp sống này ắt sẽ tìm đến chỗ con, được con điều phục. Đối với các chúng sinh theo giáo pháp Duyên giác hay Đại thừa cũng đều như thế.

“Nếu có các loài rồng, quỷ thần, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la,  khẩn-na-la,  ma-hầu-la-già,  ngạ  quỷ,   tỳ-xá-già, thần tiên đã chứng đắc năm thần thông tìm đến chỗ con để cúng dường, những chúng sinh này có thể vì con mà chứng minh việc tu hành khổ hạnh như vậy. Trong số này nếu có những chúng sinh đã học theo giáo pháp Thanh văn, Duyên giác hay Đại thừa cũng đều như vậy.

“Nếu có những chúng sinh trong Bốn cõi thiên hạ tu hành theo ngoại đạo, ăn uống sơ sài khổ hạnh, liền có các loài phi nhân tìm đến bảo rằng: ‘Các ông không thể nào tu hành trải qua đủ tất cả các sự khổ, lại cũng không thể đạt được quả báo lớn lao! Như vậy chẳng phải là chuyện ít có. Như ở chỗ chúng tôi có một vị Bồ Tát sắp thành Phật, cũng tu hành khổ hạnh, lại nhập vào phép thiền định vi diệu, các nghiệp thân, miệng, ý thảy đều lắng yên, tĩnh lặng, không còn hơi thở ra vào; trong một ngày một đêm chỉ ăn một nửa phần mè và nửa phần gạo. Tu hành khổ hạnh như vậy sẽ được quả báo lớn lao, được lợi ích lớn lao, chỉ bày giáo hóa cho rất nhiều người. Vị tu khổ hạnh này không bao lâu nữa sẽ thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Nếu các ông không tin lời chúng tôi, có thể tự mình đến đó để quan sát cách tu của vị ấy.’

“Bạch Thế Tôn! Con nguyện cho những người này sẽ từ bỏ cách tu của họ, thảy đều tìm đến chỗ của con để quan sát cách tu khổ hạnh. Trong số đó nếu có ai đã học theo giáo pháp Thanh văn, Duyên giác hay Đại thừa, cũng đều như vậy.

“Nếu có các bậc vua chúa, quan đại thần, nhân dân, tại gia hoặc xuất gia, hết thảy nhìn thấy con tu hành khổ hạnh như vậy đều tìm đến chỗ con để cúng dường. Trong số đó nếu có người đã học giáo pháp Thanh văn, Duyên giác hay Đại thừa cũng đều như vậy.

“Nếu có những người nữ thấy con tu hành khổ hạnh liền tìm đến chỗ con để cúng dường. Những nữ nhân này liền mãi mãi về sau không còn phải thọ sinh làm thân nữ. Trong số đó nếu có người đã học giáo pháp Thanh văn, Duyên giác hay Đại thừa cũng đều như vậy.

“Nếu có các loài cầm thú thấy con tu khổ hạnh như vậy cũng tìm đến chỗ con. Những loài cầm thú này sau khi mạng chung sẽ không còn phải thọ sinh làm thân súc sinh nữa. Nếu đã phát tâm cầu đạo Thanh văn thì trong thời gian còn lại của kiếp sống này sẽ đến chỗ con mà được điều phục. Nếu đã phát tâm cầu đạo Duyên giác cũng được như vậy.

“Thậm chí cho đến các loài sâu bọ vi trùng cực kỳ nhỏ bé hay ngạ quỷ cũng đều như vậy.

“Con tu hành khổ hạnh lâu dài như vậy, một lần trải tòa ngồi kết già đều có trăm ngàn ức na-do-tha vô lượng chúng sinh vì con chứng minh. Những chúng sinh này đã từng trải qua vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp trồng hạt giống giải thoát.

“Bạch Thế Tôn! Cách tu hành khổ hạnh của con, những chúng sinh trong quá khứ chưa từng tu hành được như vậy; cho đến những kẻ ngoại đạo hoặc hàng Thanh văn, Duyên giác, Đại thừa trong quá khứ cũng đều không thể tu hành khổ hạnh được như vậy.

“Bạch Thế Tôn! Cách tu hành khổ hạnh của con, những chúng sinh trong tương lai cũng không thể tu hành được như vậy; cho đến những kẻ ngoại đạo hoặc hàng Thanh văn, Duyên giác, Đại thừa trong tương lai cũng đều không thể tu hành khổ hạnh được như vậy.

“Khi con chưa thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề đã có thể làm nên những việc lớn lao, đó là phá trừ ma vương và quyến thuộc của ma. Con nguyện sau khi phá trừ ma phiền não và thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam- miệu Tam-bồ-đề rồi, vì muốn giúp cho một chúng sinh được trụ yên nơi quả A-la-hán thù thắng nhiệm mầu mà con tùy thời hiện báo thân nhận chịu mọi nghiệp lực còn sót lại của chúng sinh ấy. Tương tự như vậy, lại đến chúng sinh thứ hai được con giúp cho trụ yên nơi quả A-la-hán. Rồi đến chúng sinh thứ ba, thứ tư… cho đến vô lượng chúng sinh lại cũng như vậy.

“Con vì hết thảy các chúng sinh mà thị hiện trăm ngàn vô lượng phép thần túc, muốn giúp cho chúng sinh được trụ yên trong chánh kiến. Lại vì hết thảy chúng sinh mà thuyết giảng trăm ngàn vô lượng ý nghĩa pháp môn, tùy theo khả năng nhận lãnh của mỗi chúng sinh mà khiến cho đều được trụ vững nơi thánh quả.

“Con dùng trí huệ kim cang phá tan hết thảy phiền não chất chồng như núi của tất cả chúng sinh. Lại vì các chúng sinh mà thuyết giảng giáo pháp Ba thừa. Vì hết thảy chúng sinh nên vượt qua trăm ngàn do-tuần không cần dùng đến thần lực, đến chỗ của các chúng sinh ấy mà thuyết pháp, khiến cho được trụ yên trong chỗ không sợ sệt.

“Nếu có những người muốn xuất gia tu học trong giáo pháp của con, nguyện cho không bị những điều chướng ngại như là gầy yếu, loạn tâm, điên cuồng, kiêu mạn… Cũng không có những sự sợ sệt, ngu si thiếu trí huệ, nhiều phiền não trói buộc, tâm ý tán loạn…

“Nếu có những người nữ muốn xuất gia học đạo trong giáo pháp của con, mong muốn thọ đại giới, nguyện cho đều được thành tựu.

“Nguyện cho đệ tử của con bốn chúng tỳ-kheo, tỳ-kheo ni,ưu-bà-tắc, ưu-bà-di đều được cúng dường.

“Nguyện cho các vị thiên nhân cùng với quỷ thần đều đạt được Bốn thánh đế.(1) Các loài rồng, a-tu-la cùng với các loài súc sinh đều thọ trì Tám giới,(2) tu tập Phạm hạnh thanh tịnh.(3)

“Bạch Thế Tôn! Khi con thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam- miệu Tam-bồ-đề rồi, nếu có chúng sinh nào sinh lòng sân hận với con, hoặc dùng dao gậy, hoặc dùng hầm lửa cho đến đủ mọi phương cách để làm hại con, hoặc dùng những lời độc ác để phỉ báng, mạ lỵ, khiến cho khắp các thế giới trong mười phương đều khinh chê con, hoặc mang thức ăn có độc đến cho con ăn… Những nghiệp báo trước đây còn sót lại như thế con đều nhận chịu tất cả.

“Từ trước khi con thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, nếu có những chúng sinh vì thù oán mà khởi tâm muốn hãm hại con, nói ra đủ mọi lời độc ác, đầu độc con bằng thức ăn có đủ loại độc dược, hoặc làm thân con chảy máu. Những chúng sinh như vậy đều khởi lòng ác mà tìm đến chỗ con, khi ấy con sẽ dùng Tam-muội Giới hạnh, Tam- muội Đa văn, khởi tâm đại bi mà dùng âm thanh vi diệu như tiếng Phạm thiên để vì họ mà thuyết pháp, khiến cho những người ấy nghe rồi liền sinh lòng trong sạch, trụ yên trong các pháp lành; bao nhiêu nghiệp ác đã tạo liền sinh tâm sám hối, mãi mãi không còn tái phạm, liền được sinh lên cõi trời hoặc cõi người, không gặp các sự chướng ngại.

(1) Bốn thánh đế: Tức Tứ diệu đế, hay Tứ đế. Xem chú giải ở trang 80.

(2) Tám giới: tức Bát trai giới hay Bát giới, cũng gọi là Bát quan trai giới, bao gồm: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, không dùng các thứ trang sức, hương hoa, phấn sáp, dầu thơm để tô điểm thân thể, không nằm ngồi trên giường ghế cao rộng và không ca hát nhảy múa hoặc đi xem người khác ca hát nhảy múa, không ăn trái giờ, nghĩa là chỉ ăn mỗi ngày một bữa vào đúng ngọ (giữa trưa).

(3) Phạm hạnh thanh tịnh: chỉ việc không phạm vào dâm giới. Với người xuất gia có nghĩa là đoạn trừ dâm dục; với người tại gia có nghĩa là tiết dục và không tà dâm (không hành dâm với người không phải vợ hoặc chồng của mình).

“Những chúng sinh ấy sinh ra trong hai cõi trời, người rồi đều đạt được quả giải thoát nhiệm mầu, trụ yên trong quả vị thù thắng, lìa xa hết mọi điều tham dục, xấu ác; mãi mãi đoạn trừ vô minh kiến hoặc, những nghiệp chướng ngại thảy đều dứt sạch. Nếu các chúng sinh ấy có bao nhiêu nghiệp báo còn sót lại, thảy đều được trừ dứt không còn gì cả.

“Bạch Thế Tôn! Khi con thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam- miệu Tam-bồ-đề rồi, mỗi ngày từ nơi tất cả những lỗ chân lông trên thân con đều thường xuyên phóng ra các vị hóa Phật, có đủ ba mươi hai tướng tốt(1) với tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm nơi thân, con sẽ sai khiến các vị hóa Phật này hiện đến những thế giới không có Phật ra đời, hoặc những thế giới có Phật, những thế giới có năm sự uế trược.(2)

“Nếu những thế giới ấy có người phạm vào năm tội nghịch, hủy hoại chánh pháp, phỉ báng thánh nhân, cho đến dứt mất căn lành; hoặc có những người học theo Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Đại thừa mà hủy phá giới luật, phạm vào tội lớn, diệt hết thiện tâm, mất cả đường lành, sa đọa vào chốn bùn lầy sinh tử, đi theo đường tà, leo lên núi tội. Đối với trăm ngàn vạn ức những chúng sinh như vậy, mỗi một vị hóa Phật chỉ trong một ngày có thể khắp vì họ mà thuyết pháp.

(1) Ba mươi hai tướng tốt: Xem chú giải ở trang 88.

(2) Năm sự uế trược: Xem chú giải ở trang 196.

“Hoặc có những chúng sinh thờ phụng vị Ma-hê-thủ-la, các vị hóa Phật liền tùy thuận mà hiện hình Ma-hê-thủ- la để vì họ thuyết pháp, cùng lúc cũng ngợi khen xưng tán danh hiệu của con. Nguyện cho những chúng sinh ấy được nghe lời ngợi khen xưng tán con thì sinh tâm hoan hỷ, trồng các căn lành, được sinh về thế giới của con.

“Bạch Thế Tôn! Vào lúc những chúng sinh ấy lâm chung, nếu như con không thể hiện đến trước mặt họ để giảng thuyết chánh pháp khiến cho tâm được thanh tịnh, thì con quyết sẽ chẳng bao giờ thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam- miệu Tam-bồ-đề.

“Còn nếu như những chúng sinh ấy sau khi mạng chung phải đọa vào ba đường ác,(1) không được sinh làm thân người ở thế giới của con, thì vô lượng chánh pháp mà con đã học biết sẽ đều diệt mất, hết thảy mọi Phật sự đều không thành tựu.

“Đối với những chúng sinh thờ phụng vị Na-la-diên, con cũng phát nguyện như vậy.

“Bạch Thế Tôn! Khi con thành tựu quả A-nậu-đa-la Tam- miệu Tam-bồ-đề rồi, nguyện cho ở các thế giới nơi phương khác có những chúng sinh nào phạm vào năm tội nghịch, cho đến đi theo những đường tà, leo lên núi tội, những chúng sinh như vậy khi lâm chung đều sẽ tụ tập sinh về thế giới của con, tùy theo hình tướng trước đó mà thọ nhận hình sắc thân thể trắng bệch thô nhám, mặt mũi xấu xí như loài quỷ tỳ-xá-già, đánh mất chánh niệm, hủy phạm giới luật, dơ xấu, chết yểu… Do nơi những việc ác mà phải chịu tổn hại, suy giảm thân thể; những thứ cần dùng trong đời sống thường phải thiếu thốn.

(1) Ba đường ác: Xem chú giải ở trang 94.

“Vì những chúng sinh như vậy, khi ấy con mới từ cung trời Đâu-suất giáng hạ xuống cõi Ta-bà, thị hiện vào trong thai mẹ, cho đến sinh ra, lớn lên, học tập các môn tài nghệ khéo léo, rồi xuất gia tu hành khổ hạnh, phá trừ các ma, thành đạo vô thượng, chuyển bánh xe chánh pháp, cho đến sau khi nhập Niết-bàn để lại xá-lợi lưu hành khắp nơi… Thị hiện đủ mọi Phật sự như thế ở đầy khắp trăm ngàn muôn ức Bốn cõi thiên hạ. 

CHƯ BỒ TÁT BỔN THỌ KÝ PHẨM ĐỆ TỨ CHI NGŨ

Thế Tôn! Ngã thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề dĩ nhất âm thuyết pháp. Hoặc hữu chúng sanh học Thanh văn thừa, văn Phật thuyết pháp tức đắc tri Thanh văn pháp tạng. Hoặc hữu tu học Bích-chi Phật thừa, văn Phật thuyết pháp tiện đắc giải ư Bích-chi Phật pháp. Hoặc hữu tu học vô thượng đại thừa, văn Phật thuyết pháp tiện đắc giải liễu Đại thừa chi pháp thuần nhất vô tạp.

Nhược hữu tu tập trợ Bồ-đề pháp dục đắc Bồ-đề, văn Phật thuyết pháp tức đắc xả tài hành ư bố thí.

Nhược hữu chúng sanh ly chư công đức, hy cầu thiên thượng nhân trung khối lạc, văn Phật thuyết pháp tức đắc trì giới.

Nhược hữu chúng sanh hỗ tương bố uý hữu ái sân tâm, văn Phật thuyết pháp tức đắc tương ư sanh thân hậu tâm.

Nhược hữu chúng sanh hỷ vi sát nghiệp, văn Phật thuyết pháp tức đắc bi tâm.

Nhược hữu chúng sanh thường vi xan lận tật đố phú tâm, văn Phật thuyết pháp tức tu hỷ tâm.

Nhược hữu chúng sanh đoan chánh vô bệnh tham trước ư sắc tâm sanh phóng dật, văn Phật thuyết pháp tức đắc xả tâm.

Nhược hữu chúng sanh dâm dục sí thạnh kỳ tâm phóng dật, văn Phật thuyết pháp tức quán bất tịnh.

Nhược hữu chúng sanh học đại thừa giả vi trạo cái sở phú, văn Phật thuyết pháp tức đắc thân niệm xứ pháp.

Nhược hữu chúng sanh thường tự xưng tán năng đại luận nghị, kỳ trí huệ minh do như xế điện, văn Phật thuyết pháp tức giải thậm thâm thập nhị nhân duyên.

Nhược hữu chúng sanh quả văn thiểu kiến tự xưng năng luận, văn Phật thuyết pháp tức đắc bất đoạt bất thất chư đà-la-ni.

Nhược hữu chúng sanh nhập tà kiến sơn, văn Phật thuyết pháp tức giải chư pháp thậm thâm không môn.

Nhược hữu chúng sanh chư giác phú tâm, văn Phật thuyết pháp tức đắc thâm giải vô tướng pháp môn.

Nhược hữu chúng sanh chư bất tịnh nguyện phú tế kỳ tâm, văn Phật thuyết pháp tức đắc thâm giải vô tác pháp môn.

Nhược hữu chúng sanh tâm bất thanh tịnh, văn Phật thuyết pháp tâm đắc thanh tịnh.

Nhược hữu chúng sanh dĩ đa duyên phú tâm văn Phật thuyết pháp đắc giải bất thất Bồ-đề tâm pháp.

Nhược hữu chúng sanh sân khuể phú tâm, văn Phật thuyết pháp giải chân thật tướng, đắc thọ ký biệt.

Nhược hữu chúng sanh y ỷ phú tâm, văn Phật thuyết pháp thâm giải chư pháp vô sở y ỷ.

Nhược hữu chúng sanh ái nhiễm phú tâm, văn Phật thuyết pháp tật giải chư pháp vô cấu thanh tịnh.

Nhược hữu chúng sanh vong thất thiện tâm, văn Phật thuyết pháp thâm giải nhật quang tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh hành chư ma nghiệp, văn Phật thuyết pháp tốc đắc giải liễu thanh tịnh chi pháp.

Nhược hữu chúng sanh tà luận phú tâm, văn Phật thuyết pháp tức đắc thâm giải tăng ích chánh pháp.

Nhược hữu chúng sanh phiền não phú tâm, văn Phật thuyết pháp tức đắc giải liễu ly phiền não pháp.

Nhược hữu chúng sanh hành chư ác đạo, văn Phật thuyết pháp tức đắc hồi phản.

Nhược hữu chúng sanh ư đại thừa pháp tán thuyết tà pháp dĩ vi cát diệu, văn Phật thuyết pháp tức ư tà pháp sanh thối chuyển tâm nhi đắc chánh giải.

Nhược hữu Bồ Tát yếm ư sanh tử, văn Phật thuyết pháp tức ư sanh tử tâm sanh ái nhạo.

Nhược hữu chúng sanh bất tri thiện địa, văn Phật thuyết pháp tức đắc giác liễu thiện địa chi pháp.

Nhược hữu chúng sanh kiến tha vi thiện bất sanh hảo nhạo, sanh ư đố tật, văn Phật thuyết pháp tức đắc tâm hỷ.

Nhược hữu chúng sanh kỳ tâm các các cộng tương vi phản, văn Phật thuyết pháp tức đắc vô ngại quang minh.

Nhược hữu chúng sanh hành chư ác nghiệp, văn Phật thuyết pháp thâm giải ác nghiệp sở đắc quả báo.

Nhược hữu chúng sanh bố uý đại chúng, văn Phật thuyết pháp thâm đắc Giải liễu Sư tử tướng tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh tứ ma phú tâm, văn Phật thuyết pháp tật đắc Thủ lăng nghiêm tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh bất kiến chư Phật quốc độ quang minh, văn Phật thuyết pháp tức đắc Thâm giải chủng chủng trang nghiêm quang minh tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh hữu tăng ái tâm, văn Phật thuyết pháp tức đắc xả tâm.

Nhược hữu chúng sanh vị đắc Phật pháp quang minh, văn Phật thuyết pháp tức đắc Pháp tràng tướng tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh ly đại trí huệ, văn Phật thuyết pháp tức đắc pháp cự tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh si ám phú tâm, văn Phật thuyết pháp tức đắc Nhật đăng quang minh tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh khẩu vô biện tài, văn Phật thuyết pháp tức đắc chủng chủng công đức ứng biện.

Nhược hữu chúng sanh quán sắc hồ hợp vô hữu kiên cố do như thủy mạt, văn Phật thuyết pháp tức đắc Na-la-diên tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh tâm loạn bất định, văn Phật thuyết pháp tức đắc kiên lao quyết định tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh dục quán Phật đỉnh, văn Phật thuyết pháp tức đắc Tu-di tràng tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh phóng xả bổn nguyện, văn Phật thuyết pháp tức đắc Kiên lao tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh thối thất chư thông, văn Phật thuyết pháp tức đắc Kim cang tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh ư Bồ-đề tràng nhi sanh nghi hoặc, văn Phật thuyết pháp tức đắc liễu đạt Kim cang đạo tràng.

Nhược hữu chúng sanh nhất thiết pháp trung vô yếm ly tâm, văn Phật thuyết pháp tức đắc Kim cang tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh bất tri tha tâm, văn Phật thuyết pháp tức tri tha tâm.

Nhược hữu chúng sanh ư chư căn trung bất tri lợi độn, văn Phật thuyết pháp tức tri lợi độn.

Nhược hữu chúng sanh các các chủng loại bất tương giải ngữ, văn Phật thuyết pháp tức đắc Giải liễu âm thanh tam- muội.

Nhược hữu chúng sanh vị đắc Pháp thân, văn Phật thuyết pháp tức đắc giải liễu phân biệt chư thân.

Nhược hữu chúng sanh bất kiến Phật thân, văn Phật thuyết pháp tức đắc Bất huyễn tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh phân biệt chư duyên, văn Phật thuyết pháp tức đắc Vô tránh tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh ư chuyển pháp luân tâm sanh nghi hoặc, văn Phật thuyết pháp ư chuyển pháp luân đắc tâm thanh tịnh.

Nhược hữu chúng sanh khởi vô nhân tà hạnh, văn Phật thuyết pháp tức đắc pháp minh tùy thuận nhân duyên.

Nhược hữu chúng sanh ư nhất Phật thế giới khởi ư thường kiến, văn Phật thuyết pháp tức đắc thiện biệt vô lượng Phật độ.

Nhược hữu chúng sanh vị chủng chư tướng thiện căn, văn Phật thuyết pháp tức đắc chủng chủng trang nghiêm tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh bất năng thiện biệt nhất thiết ngôn ngữ, văn Phật thuyết pháp tức đắc Giải liễu phân biệt chủng chủng ngôn âm tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh chuyên tâm cầu ư nhất thiết trí huệ, văn Phật thuyết pháp tức đắc Vô sở phân biệt pháp giới tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh thối chuyển ư pháp, văn Phật thuyết pháp tức đắc Kiên cố tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh bất tri pháp giới, văn Phật thuyết pháp tức đắc đại trí huệ.

Nhược hữu chúng sanh ly bổn thệ nguyện, văn Phật thuyết pháp tức đắc Bất thất tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh phân biệt chư đạo, văn Phật thuyết pháp tức đắc nhất đạo vô sở phân biệt.

Nhược hữu chúng sanh thôi cầu trí huệ dục đồng hư không, văn Phật thuyết pháp tức đắc Vô sở hữu tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh vị đắc cụ túc chư ba-la-mật, văn Phật thuyết pháp tức đắc trụ ư tịnh ba-la-mật.

Nhược hữu chúng sanh vị đắc cụ túc tứ nhiếp chi pháp, văn Phật thuyết pháp tức đắc Diệu thiện nhiếp thủ tam- muội.

Nhược hữu chúng sanh phân biệt tứ vô lượng tâm, văn Phật thuyết pháp tức đắc bình đẳng cần tâm tinh tấn.

Nhược hữu chúng sanh vị đắc cụ túc tam thập thất trợ Bồ-đề pháp, văn Phật thuyết pháp tức đắc trụ Xuất thế tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh kỳ tâm thất niệm cập thiện trí huệ, văn Phật thuyết pháp tức đắc Đại hải trí ấn tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh kỳ tâm nghi hoặc vị sanh pháp nhẫn, văn Phật thuyết pháp tức đắc Chư pháp quyết định tam-muội, dĩ nhất pháp tướng cố.

Nhược hữu chúng sanh vong sở văn pháp, văn Phật thuyết pháp tức đắc Bất thất niệm tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh các các thuyết pháp bất tương hý nhạo, văn Phật thuyết pháp tức đắc thanh tịnh huệ nhãn vô hữu nghi võng.

Nhược hữu chúng sanh ư Tam bảo trung bất sanh tín tâm, văn Phật thuyết pháp tức đắc Công đức tăng trưởng tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh khát phạp pháp vũ, văn Phật thuyết pháp tức đắc Pháp vũ tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh ư Tam bảo trung khởi đoạn diệt kiến, văn Phật thuyết pháp tức đắc Chư bảo trang nghiêm tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh bất tác trí nghiệp bất cần tinh tấn, văn Phật thuyết pháp tức đắc Kim cang trí huệ tam- muội.

Nhược hữu chúng sanh vi chư phiền não chi sở hệ phược, văn Phật thuyết pháp tức đắc Hư không ấn tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh kế ngã ngã sở, văn Phật thuyết pháp tức đắc Trí ấn tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh bất tri Như Lai cụ túc công đức, văn Phật thuyết pháp tức đắc Thế gian giải thoát tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh ư quá khứ thế vị cúng dường Phật, văn Phật thuyết pháp tức đắc chủng chủng thần túc biến hóa.

Nhược hữu chúng sanh nhất pháp giới môn ư vị lai thế vô lượng kiếp trung vị đắc thuyết chi, văn Phật thuyết pháp tức đắc giải thuyết nhất thiết chư pháp đồng nhất pháp giới.

Nhược hữu chúng sanh ư chư nhất thiết Tu-đa-la trung vị đắc tuyển trạch, văn Phật thuyết pháp tức đắc Chư pháp bình đẳng thật tướng tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh ly lục hồ pháp, văn Phật thuyết pháp tức đắc giải liễu Chư pháp tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh ư bất khả tư nghị giải thoát pháp môn bất cần tinh tấn, văn Phật thuyết pháp ư chư thông trung tức đắc Sư tử du hý tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh dục phân biệt nhập ư Như Lai tạng, văn Phật thuyết pháp cánh, bất tùng tha văn tức đắc phân biệt nhập Như Lai tạng.

Nhược hữu chúng sanh ư Bồ Tát đạo bất cần tinh tấn, văn Phật thuyết pháp tức đắc trí huệ cần hành tinh tấn.

Nhược hữu chúng sanh vị tằng đắc kiến Bổn sanh kinh, văn Phật thuyết pháp tức đắc Nhất thiết tại tại xứ xứ tam- muội.

Nhược hữu chúng sanh hành đạo vị cánh, văn Phật thuyết pháp tức đắc Thọ ký tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh vị đắc cụ túc Như Lai thập lực, văn Phật thuyết pháp tức đắc Vô hoại tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh vị đắc cụ túc tứ vô sở uý, văn Phật thuyết pháp tức đắc Vô tận ý tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh vị đắc cụ túc Phật bất cộng pháp, văn Phật thuyết pháp tức đắc Bất cộng pháp tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh vị đắc cụ túc vô ngu si kiến, văn Phật thuyết pháp tức đắc Nguyện cú tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh vị giác nhất thiết Phật pháp chi môn, văn Phật thuyết pháp tức đắc Tiển bạch vô cấu tịnh ấn tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh vị đắc cụ túc nhất thiết trí giả, văn Phật thuyết pháp tức đắc Thiện liễu tam-muội.

Nhược hữu chúng sanh vị đắc thành tựu nhất thiết Phật sự, văn Phật thuyết pháp tức đắc Vô lượng bất tận ý tam- muội.

Như thị đẳng chúng sanh, ư văn pháp trung các đắc tín giải.

Hữu chư Bồ Tát kỳ tâm chất trực vô hữu siểm khúc, văn Phật thuyết pháp tức đắc bát vạn tứ thiên chư pháp môn, bát vạn tứ thiên chư tam-muội môn, thất vạn ngũ thiên đà- la-ni môn.

Hữu vô lượng vô biên a-tăng-kỳ Bồ Tát ma-ha-tát tu tập đại thừa giả, văn thị thuyết pháp diệc đắc như thị vô lượng công đức, an chỉ trụ ư bất thối chuyển địa.

Thị cố chư Bồ Tát ma-ha-tát dục đắc chủng chủng trang nghiêm kiên lao cố, phát bất khả tư nghị nguyện, tăng ích bất khả tư nghị tri kiến dĩ tự trang nghiêm.

Dĩ tam thập nhị tướng trang nghiêm cố, đắc bát thập tùy hình hảo.

Dĩ diệu âm trang nghiêm cố, tùy chư chúng sanh sở hỷ thuyết pháp, linh văn pháp giả mãn túc tri kiến.

Dĩ tâm trang nghiêm cố,  đắc chư tam-muội bất sanh thối chuyển.

Dĩ niệm trang nghiêm cố, bất thất nhất thiết chư đà-la-ni.

Dĩ tâm trang nghiêm cố, đắc phân biệt chư pháp.

Dĩ niệm trang nghiêm cố, đắc giải vi trần đẳng nghĩa. Dĩ thiện tâm trang nghiêm cố, đắc kiên cố thệ nguyện lao kiên tinh tấn, như kỳ sở nguyện đáo ư bỉ ngạn. Dĩ chuyên tâm trang nghiêm cố, thứ đệ quá trụ.

Dĩ bố thí trang nghiêm cố, ư chư sở tu tất năng phóng xả.

Dĩ trì giới trang nghiêm cố, linh tâm thiện bạch thanh tịnh vô cấu.

Dĩ nhẫn nhục trang nghiêm cố, ư chư chúng sanh tâm vô chướng ngại.

Dĩ tinh tấn trang nghiêm cố, nhất thiết tá trợ tất đắc thành tựu.

Dĩ thiền định trang nghiêm cố, ư nhất thiết tam-muội trung đắc sư tử du hý.

Dĩ trí huệ trang nghiêm cố, tri chư phiền não tập.

Dĩ từ trang nghiêm cố, chuyên tâm niệm ư nhất thiết chúng sanh.

Dĩ bi trang nghiêm cố, tất năng bạt xuất chúng sanh chi khổ.

Dĩ hỷ trang nghiêm cố, ư nhất thiết pháp tâm vô nghi hoặc.

Dĩ xả trang nghiêm cố, đắc ly kiêu mạn tâm, tâm vô cao hạ.

Dĩ chư thông trang nghiêm cố, ư nhất thiết pháp đắc sư tử du hý.

Dĩ công đức trang nghiêm cố, đắc bất khả tận tạng bảo thủ.

Dĩ trí trang nghiêm cố, tri chư chúng sanh sở hữu chư tâm.

Dĩ ý trang nghiêm cố, phương tiện tinh ngộ nhất thiết chúng sanh.

Dĩ quang minh trang nghiêm cố, đắc trí huệ nhãn minh.

Dĩ chư biện trang nghiêm cố, linh chúng sanh đắc pháp nghĩa ứng từ.

Dĩ vô uý trang nghiêm cố, nhất thiết chư ma bất năng lưu nạn.

Dĩ công đức trang nghiêm cố, đắc chư Phật Thế Tôn sở hữu công đức.

Dĩ pháp trang nghiêm cố, đắc vô ngại biện, thường vị chúng sanh diễn thuyết diệu pháp.

Dĩ quang minh trang nghiêm cố, đắc nhất thiết Phật pháp quang minh.

Dĩ chiếu minh trang nghiêm cố, năng biến chiếu ư chư Phật thế giới.

Dĩ tha tâm trang nghiêm cố, đắc chánh trí vô loạn.

Dĩ giáo giới trang nghiêm cố, đắc như sở thuyết hộ trì cấm giới.

Dĩ thần túc trang nghiêm cố, đắc như ý túc đáo ư bỉ ngạn.

Dĩ thọ trì nhất thiết chư Như Lai trang nghiêm cố, đắc nhập Như Lai vô lượng pháp tạng.

Dĩ tôn pháp trang nghiêm cố, đắc bất tùy tha trí huệ.

Dĩ tùy hành nhất thiết thiện pháp trang nghiêm cố, đắc như thuyết nhi hành, dục linh như thị chúng sanh tất đắc như thị đẳng công đức lợi ích.

Nhược hữu vô lượng vô biên  a-tăng-kỳ  Bồ Tát ma-ha- tát tu tập Đại thừa, dĩ ngã thuyết nhất cú pháp cố, tất cụ như thị bạch tịnh thiện pháp giai sử sung túc.

Dĩ thị cố chư Bồ Tát ma-ha-tát ư chư pháp trung sở đắc trí huệ bất tùng tha văn, đắc thành tựu đại pháp quang minh, thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.

Thế Tôn! Nhược chúng sanh ư tha phương thế giới tác ngũ nghịch tội nãi chí phạm tứ trọng cấm, thiêu diệt thiện pháp, nhược học Thanh văn, Duyên giác, Đại thừa, dĩ nguyện lực cố dục lai sanh ngã thế giới.

Ký lai sanh dĩ, phục tụ nhất thiết chư bất thiện nghiệp thô phác tệ ác, kỳ tâm hý cầu cường lương nan điều, chuyên tâm tứ đảo tham trước xan lận. Như thị đẳng chúng sanh bát vạn tứ thiên dị tánh loạn tâm, ngã đương vị kỳ các các dị tánh, quảng thuyết bát vạn tứ thiên pháp tụ.

Thế Tôn! Nhược hữu chúng sanh học Vô thượng Đại thừa, ngã đương vị kỳ cụ túc quảng thuyết lục ba-la-mật. Sở vị Đàn ba-la-mật, nãi chí Bát-nhã ba-la-mật.

Nhược hữu chúng sanh học Thanh văn thừa vị chủng thiện căn, nguyện cầu chư Phật dĩ vi kỳ sư. Ngã đương an chỉ ư Tam quy y, nhiên hậu khuyến linh trụ lục ba-la-mật.

Nhược hữu chúng sanh hý vi sát hại, ngã đương an chỉ ư bất sát trung.

Nhược hữu chúng sanh chuyên hành ác tham, ngã đương an trụ ư bất đạo trung.

Nhược hữu chúng sanh phi pháp tà dâm, ngã đương an chỉ bất tà dâm trung.

Nhược hữu chúng sanh các các cố tác phỉ báng vọng ngữ, ngã đương an chỉ bất vọng ngữ trung.

Nhược hữu chúng sanh nhạo vi cuồng si, ngã đương an chỉ bất ẩm tửu trung.

Nhược hữu chúng sanh phạm thử ngũ sự, ngã đương linh thọ ưu-bà-tắc ngũ giới.

Nhược hữu chúng sanh ư chư thiện pháp bất sanh hý nhạo, ngã đương linh kỳ nhất nhật nhất dạ thọ trì bát giới.

Nhược hữu chúng sanh thiểu ư thiện căn, ư thiện căn trung tâm sanh ái nhạo, ngã đương linh kỳ ư vị lai thế tại Phật pháp trung xuất gia học đạo, an chỉ linh trụ Phạm tịnh thập giới.

Nhược hữu chúng sanh hy tâm cầu ư chư thiện căn pháp, ngã đương an chỉ thiện căn pháp trung, linh đắc thành tựu Phạm hạnh cụ túc đại giới.

Như thị đẳng chúng sanh, tác ngũ nghịch tội nãi chí xan lận, vị thị chúng sanh dĩ chủng chủng môn thị hiện thần túc, thuyết chư cú nghĩa khai thị ấm, giới, chư nhập, khổ, không, vô thường, vô ngã, linh trụ thiện diệu an ẩn tịch diệt vô uý Niết-bàn. Vị như thị tứ chúng tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di thuyết pháp.

Nhược hữu chúng sanh cầu văn luận nghị, ngã đương vị thuyết chánh pháp chư luận. Nãi chí hữu cầu giải thoát chi giả, ngã đương vị thuyết không vô chi luận.

Nhược hữu chúng sanh kỳ tâm bất nhạo ư chánh thiện pháp, ngã đương vị thuyết doanh tá chúng sự.

Nhược hữu chúng sanh ư chánh thiện pháp kỳ tâm ái nhạo, ngã đương vị thuyết không tam-muội định thị chánh giải thoát.

Thế Tôn! Ngã vị như thị nhất nhất chúng sanh yếu đương quá ư bá thiên do-tuần bất dĩ thần túc nhi dĩ khai thị vô lượng vô biên chủng chủng phương tiện, vị giải cú nghĩa thị hiện thần túc nãi chí Niết-bàn, tâm bất sanh yếm.

Thế Tôn! Ngã dĩ tam-muội lực cố, xả đệ ngũ phần sở đắc thọ mạng nhi bát Niết-bàn.

Ngã ư thị thời tự phân kỳ thân như bán đình lịch tử, vị lân mẫn chúng sanh cố cầu bát Niết-bàn. Bát Niết-bàn hậu sở hữu chánh pháp trụ thế thiên tuế. Tượng pháp trụ thế mãn ngũ bá tuế.

Ngã Niết-bàn hậu nhược hữu chúng sanh, dĩ trân bảo kỹ nhạc cúng dường xá-lợi, nãi chí lễ bái hữu nhiễu nhất táp, hợp chưởng xưng thán nhất hành hoa tán. Dĩ thị nhân duyên tùy kỳ chí nguyện, ư tam thừa trung các bất thối chuyển.

Thế Tôn! Ngã bát Niết-bàn hậu, nhược hữu chúng sanh ư ngã pháp trung, nãi chí nhất giới như ngã sở thuyết năng kiên trì chi, nãi chí độc tụng nhất tứ cú kệ vị tha nhân thuyết, linh bỉ thính giả tâm sanh hoan hỷ, cúng dường pháp sư nãi chí nhất hoa nhất lễ. Dĩ thị nhân duyên tùy kỳ chí nguyện ư tam thừa trung các bất thối chuyển.

Nãi chí pháp cự diệt, pháp tràng đảo, chánh pháp diệt dĩ, ngã chi xá-lợi tầm một ư địa chí kim cang tế. Nhĩ thời Ta-bà thế giới không vô trân bảo, ngã chi xá-lợi biến vi ý tướng lưu ly bảo châu. Kỳ minh diệm thạnh tùng kim cang tế xuất ư thế gian, thượng chí A-ca-ni-trá thiên, vũ chủng chủng hoa, mạn-đà-la hoa, ma-ha mạn-đà-la hoa, ba-lợi-chất-đa hoa, mạn-thù-sa hoa, ma-ha mạn-thù-sa hoa, hữu tịnh quang minh đại như xa luân, bá diệp thiên diệp hoặc bá thiên diệp, hoặc bá thiên hoa, kỳ quang biến chiếu. Diệc hữu hảo hương vi diệu thường phu, quan giả vô yếm. Kỳ minh diệm thạnh bất khả xưng kế. Vi diệu chi hương vô lượng vô biên. Thuần vũ như thị vô lượng chư hoa.

Đương kỳ vũ thời phục xuất chủng chủng vi diệu âm thanh, Phật thanh,  pháp  thanh,  tỳ-kheo  tăng  thanh, Tam quy y thanh, ưu-bà-tắc giới thanh, thành tựu bát giới thanh, xuất gia thập giới thanh, bố thí thanh, trì giới thanh, thanh tịnh Phạm hạnh cụ đại giới thanh, tá trợ chúng sự thanh, độc kinh thanh, thiền tư duy thanh, quán bất tịnh thanh, niệm xuất nhập tức thanh, phi tưởng phi phi tưởng thanh, hữu tưởng vô tưởng thanh, thức xứ thanh, không xứ thanh, bát thắng xứ thanh, thập nhất thiết nhập thanh, định huệ thanh, không thanh, vô tướng thanh, vô tác thanh, thập nhị nhân duyên thanh, cụ túc Thanh văn tạng thanh, học Duyên giác thanh, cụ túc Đại thừa lục ba-la-mật thanh.

Ư kỳ hoa trung xuất như thị đẳng thanh, sắc giới chư thiên giai tất văn chi. Bổn tích sở tác chư thiện căn bổn, các tự ức niệm sở hữu bất thiện tầm tự hối trách, tức tiện lai há Ta-bà thế giới, giáo hóa thế gian vô lượng chúng sanh, tất linh đắc trụ ư thập thiện trung.

Dục giới chư thiên diệc đắc văn thọ, sở hữu ái kết tham hỷ ngũ dục, chư tâm sổ pháp tất đắc tịch tĩnh. Bổn tích sở tác chư thiện căn bổn, các tự ức niệm sở hữu bất thiện tầm tự hối trách, tức tiện lai hạ Ta-bà thế giới, giáo hóa thế gian vô lượng chúng sanh, tất linh đắc trụ ư thập thiện trung.

Thế Tôn! Như thị chư hoa ư hư không trung, phục đương hóa tác chủng chủng trân bảo kim ngân ma ni chân châu lưu ly kha bối bích ngọc chân bảo nguỵ bảo mã não san hô thiên quán bảo sức, như vũ nhi hạ. Nhất thiết biến mãn Ta- bà thế giới.

Nhĩ thời nhân dân kỳ tâm hồ duyệt, vô chư đấu tránh cơ ngạ tật bệnh. Tha phương oán tặc, ác khẩu chư độc, nhất thiết tiêu diệt giai đắc tịch tĩnh.

Nhĩ thời thế giới hữu như thị lạc. Nhược hữu chúng sanh kiến chư trân bảo nhược xúc nhược dụng, ư tam thừa trung vô hữu thối chuyển. Thị chư trân bảo tác thị lợi ích. Tác lợi ích dĩ hoàn một ư địa, chí bổn trụ xứ kim cang địa tế.

Thế Tôn! Ta-bà thế giới binh kiếp khởi thời, ngã thân xá-lợi phục đương hóa tác hám lưu ly châu tùng địa nhi xuất, thượng chí A-ca-ni-trá thiên, vũ chủng chủng hoa, Mạn-đà-la hoa, Ma-ha  mạn-đà-la  hoa,  ba-lợi-chất-đa  hoa, nãi chí hoàn một ư địa, chí bổn trụ xứ kim cang địa tế, diệc phục như thị.

Thế Tôn! Như đao binh kiếp cơ ngạ tật dịch, diệc phục như thị.

Thế Tôn! Như thị đại Hiền kiếp trung, ngã bát Niết-bàn hậu, thị chư xá-lợi tác như thị Phật sự, điều phục vô lượng vô biên chúng sanh, ư tam thừa trung đắc bất thối chuyển. Như thị đương ư ngũ Phật thế giới vi trần số đẳng đại kiếp chi trung, điều phục vô lượng vô biên chúng sanh, linh ư tam thừa đắc bất thối chuyển.

Thế Tôn! Nhược hậu mãn thiên hằng sa đẳng a-tăng-kỳ kiếp, ư thập phương vô lượng vô biên a-tăng-kỳ dư thế giới, thành Phật xuất thế giả, tất thị ngã tu A-nậu-đa-la Tam- miệu Tam-bồ-đề thời sở khả giáo hóa sơ phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm,  an  chỉ  linh  trụ  lục  ba-la-mật giả.

Thế  Tôn!  Ngã  thành  A-nậu-đa-la  Tam-miệu  Tam-bồ- đề dĩ, sở khả khuyến hóa linh phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm, an chỉ linh trụ lục ba-la-mật, cập Niết-bàn hậu xá-lợi biến hóa, sở hóa chúng sanh linh phát A-nậu-đa- la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm giả. Thị chư chúng sanh quá thiên hằng hà sa đẳng a-tăng-kỳ kiếp, ư thập phương vô lượng vô biên a-tăng-kỳ thế giới thành Phật xuất thế, giai đương xưng ngã danh tự nhi thuyết tán thán: “Quá khứ cửu viễn hữu kiếp danh hiền, sơ nhập kiếp thời, đệ tứ Thế Tôn danh viết mỗ giáp, bỉ Phật Thế Tôn khuyến hóa ngã đẳng, sơ phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm.  Ngã  đẳng nhĩ thời thiêu diệt thiện tâm, tập bất thiện căn, tác ngũ nghịch tội, nãi chí tà kiến. Bỉ Phật nhĩ thời khuyến hóa ngã đẳng, linh đắc an trụ lục ba-la-mật, nhân thị tức đắc giải liễu nhất thiết đà-la-ni môn, chuyển chánh pháp luân, ly sanh tử phược, linh vô lượng vô biên bá thiên chúng sanh, an trụ thắng quả. Phục linh vô lượng bá thiên chúng sanh, an chỉ thiên nhân nãi chí giải thoát quả.”

Nhược hữu chúng sanh cầu Bồ-đề đạo, văn tán thán ngã dĩ, các vấn ư Phật: “Bỉ Phật Thế Tôn kiến hà nghĩa lợi ư trọng ngũ trược ác thế chi trung, thành A-nậu-đa-la Tam- miệu Tam-bồ-đề?”

Thị chư Thế Tôn tức tiện hướng thị cầu Bồ-đề đạo thiện nam tử, thiện nữ nhân, thuyết ngã vãng tích sở thành đại bi, sơ phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm, trang nghiêm thế giới cập diệu thiện nguyện bổn khởi nhân duyên.

Thị nhân văn dĩ, kỳ tâm kinh ngạc thán vị tằng hữu, tầm phát diệu nguyện ư chư chúng sanh sanh đại bi tâm, như ngã vô dị. Tác thị nguyện ngôn: “Kỳ hữu như thị trọng ngũ trược thế kỳ trung chúng sanh tác ngũ nghịch tội, nãi chí thành tựu chư bất thiện căn, ngã đương ư trung nhi điều phục chi.”

Bỉ chư Thế Tôn dĩ thị chư nhân thành tựu đại bi, ư ngũ trược thế phát chư thiện nguyện, tùy kỳ sở cầu nhi dữ thọ ký.

Thế Tôn! Bỉ Phật Thế Tôn phục vị tu học đại thừa chư nhân, thuyết ngã xá-lợi sở tác biến hóa bổn khởi nhân duyên: “Quá khứ cửu viễn hữu Phật Thế Tôn hiệu tự mỗ giáp, bát Niết-bàn hậu, đao binh tật bệnh cơ ngạ kiếp khởi. Ngã đẳng nhĩ thời ư kỳ kiếp trung thọ chư khổ não. Thị Phật xá-lợi vị ngã đẳng cố, tác chủng chủng thần túc sư tử du hý. Thị cố ngã đẳng tức đắc phát A-nậu-đa-la Tam-miệu  Tam-bồ-đề tâm, chủng chư thiện căn tinh cần tu tập ư lục ba-la-mật như thượng quảng thuyết.”

Phật cáo Tịch Ý Bồ Tát: “Thiện nam tử! Nhĩ thời Bảo Hải Phạm-chí tại Bảo Tạng Phật sở, chư thiên đại chúng, nhân, phi nhân tiền, tầm đắc thành tựu đại bi chi tâm quảng đại vô lượng, tác ngũ bá thệ nguyện dĩ, phục bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Nhược ngã sở nguyện bất thành, bất đắc kỷ lợi giả, ngã tắc bất ư vị lai Hiền kiếp trọng ngũ trược ác, hỗ tương đấu tránh, mạt thế manh si vô sở sư tư, vô hữu giáo giới, đọa ư chư kiến đại hắc ám trung, tác ngũ nghịch ác, như thượng thuyết trung thành tựu sở nguyện tác ư Phật sự, ngã kim tắc xả Bồ-đề chi tâm, diệc bất nguyện ư tha phương Phật độ thực chư thiện căn.

Thế Tôn! Ngã kim như thị chuyên tâm, bất dĩ thị thiện căn thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, diệc  bất nguyện cầu Bích-chi Phật thừa, diệc phục bất nguyện tác

Thanh văn thừa, thiên vương, nhân vương, tham nhạo ngũ dục sanh thiên nhân trung, bất cầu càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, dạ-xoala-sát,  chư long vương đẳng. Dĩ thị thiện căn bất cầu như thị chư xứ.

Thế Tôn! Nhược đắc đại phú dĩ thí vi nhân, nhược đắc sanh thiên dĩ giới vi nhân, nhược đắc đại trí dĩ quảng học vi nhân, nhược đoạn phiền não dĩ tư duy vi nhân. Như Phật ngôn viết, như thị đẳng sự giai thị kỷ lợi công đức chi nhân, tắc năng tùy kỳ sở cầu giai tất đắc chi.

Thế Tôn! Nhược ngã thiện căn thành tựu đắc kỷ lợi giả, ngã chi sở hữu bố thí, trì giới, đa văn, tư duy tất đương thành tựu. Dĩ thị quả báo giai vi địa ngục nhất thiết chúng sanh. Nhược hữu chúng sanh đọa A-tỳ địa ngục, dĩ thị thiện căn đương bạt tế chi linh sanh nhân trung, văn Phật thuyết pháp tức đắc khai giải, thành A-la-hán tốc nhập Niết-bàn. Thị chư chúng sanh nhược nghiệp báo vị tận, ngã đương xả thọ nhập A-tỳ ngục đại thọ khổ não. Nguyện linh ngã thân số như nhất Phật thế giới vi trần. Nhất nhất thân như Tu-di sơn đẳng, thị nhất nhất thân giác chư khổ lạc. Như ngã kim thân sở giác khổ lạc, nhất nhất thân thọ như nhất Phật thế giới vi trần số đẳng, chủng chủng trọng ác khổ não chi báo, như kim nhất Phật thế giới vi trần đẳng.

Thập phương chư Phật thế giới sở hữu chúng sanh, tác ngũ nghịch ác, khởi bất thiện nghiệp, nãi chí đương đọa A-tỳ địa ngục, nhược hậu quá như nhất Phật thế giới vi trần đẳng đại kiếp. thập phương chư Phật thế giới vi trần số đẳng sở hữu chúng sanh, tác ngũ nghịch ác khởi bất thiện nghiệp, đương đọa A-tỳ địa ngục giả. Ngã đương vị thị nhất thiết chúng sanh, ư A-tỳ địa ngục đại thọ chư khổ linh bất đọa địa ngục, trực ngộ chư Phật tư thọ diệu pháp, xuất ư sanh tử nhập Niết-bàn thành. Ngã kim yếu đương đại thị chúng sanh, cửu cửu thường xử A-tỳ địa ngục.

Phục thứ như nhất Phật thế giới vi trần số đẳng, thập phương thế giới sở hữu chúng sanh ác nghiệp thành tựu, đương tất thọ quả đọa Hỏa chá địa ngục, như A-tỳ địa ngục, sở thuyết Chá địa ngục, Ma-ha-lô-khiết địa ngục, Bức bách địa ngục, Hắc thằng địa ngục, Tưởng địa ngục, cập chủng chủng súc sanh ngạ quỷ bần cùng, dạ-xoa, câu-bàn-trà, tỳ- xá-già, a-tu-la, ca-lâu-la đẳng, giai diệc như thị.

Thế Tôn! Nhược hữu như nhất Phật thế giới vi trần số đẳng, thập phương thế giới, sở hữu chúng sanh thành tựu ác nghiệp, tất đương thọ báo sanh ư nhân trung, lung manh âm á, vô thủ vô cước, tâm loạn thất niệm, thực đạm bất tịnh. Ngã diệc đương đại như thị chúng sanh, thọ ư chư tội như thượng sở thuyết.

Phục thứ nhược hữu chúng sanh đọa A-tỳ địa ngục thọ chư khổ não, ngã đương cửu cửu đại thị chúng sanh thọ chư khổ não, như sanh tử chúng sanh sở thọ ấm, giới, chư nhập, súc sanh, ngạ quỷ, bần cùng, dạ-xoa, câu-biện-trà, tỳ-xá- già, a-tu-la, ca-lâu-la đẳng, giai diệc như thị.

Thế Tôn! Nhược ngã sở nguyện thành tựu, đãi đắc kỷ lợi, thành A-nậu-đa-la  Tam-miệu  Tam-bồ-đề,  như  thượng sở nguyện giả. Thập phương vô lượng vô biên a-tăng-kỳ thế giới, tại tại xứ xứ hiện tại chư Phật vị chúng sanh thuyết pháp tất đương vị ngã tác chứng, diệc thị chư Phật chi sở tri kiến.

Thế Tôn! Duy nguyện kim giả dữ ngã A-nậu-đa-la Tam- miệu Tam-bồ-đề ký, ư Hiền kiếp trung nhân thọ bá nhị thập tuế thời thành Phật xuất thế, Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri nãi chí Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn.

Thế Tôn! Nhược ngã tất năng thành tựu như thị Phật sự như ngã chi sở nguyện giả, linh thử đại chúng cập chư thiên, long, a-tu-la, đẳng nhược xử địa thượng hư không, duy trừ Như Lai, kỳ dư nhất thiết giai đương thế khấp, tất ư ngã tiền đầu diện tác lễ tán ngôn: “Thiện tai thiện tai! Đại bi thành tựu vô năng cập dã, đắc niệm thậm thâm vị chư chúng sanh sanh thị thâm bi, phát kiên cố thệ nguyện. Nhữ kim sở tác bất do tha giáo, dĩ chuyên tâm đại bi phú hộ nhất thiết, nhiếp thủ ngũ nghịch chư bất thiện nhân. Nhữ chi thiện nguyện ngã kim tất tri. Nhữ sơ phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm thời, dĩ vi chúng sanh tác đại lương dược, vị tác quy y ủng hộ xá trạch, vị linh chúng sanh đắc giải thoát cố tác thị thệ nguyện. Nhữ kim sở nguyện đắc kỷ lợi giả. Như Lai đương vị nhữ thọ A-nậu-đa-la Tam- miệu Tam-bồ-đề ký.”

Thuyết thị ngữ dĩ, thời Chuyển luân thánh vương Vô Lượng Thanh Tịnh, tầm tùng tòa khởi bi khấp lệ xuất, xoa thủ hợp chưởng hướng thị Phạm-chí, đầu diện kính lễ, nhi thuyết kệ ngôn:

Nhữ kim sở nguyện,

Kiên cố thậm thâm,

Phóng xả kỷ lạc,

Vị chư chúng sanh,

Khởi đại bi tâm,

Vị ngã đẳng hiện,

Chư pháp chân thật,

Thắng diệu chi tướng.

Nhĩ thời Quán Thế Âm Bồ Tát, thuyết kệ tán ngôn:

Chúng sanh đa sở trước,

Nhữ kim vô sở trước,

Ư thượng hạ chư căn,

Cửu dĩ đắc tự tại,

Cố năng tùy chúng sanh,

Căn nguyện cụ túc dữ,

Vị lai thế đương đắc,

Đà-la-ni trí tạng. 

Nhĩ thời Đắc Đại Thế Bồ Tát, thuyết kệ tán ngôn:

Vô lượng ức chúng sanh,

Vi thiện cố tập tụ,

Kiến tri nhữ đại bi,

Nhất thiết giai đề khấp,

Sở tác chư khổ hạnh,

Tích lai vị tằng hữu.

Nhĩ thời Văn-thù-sư-lợi Bồ Tát, phục thuyết kệ tán ngôn:

Tinh tấn tam-muội,

Thậm kiên lao cố,

Thắng diệu trí huệ,

Thiện năng phân biệt,

Nhược dĩ hương hoa,

Cúng dường nhữ giả,

Nhữ ư kim nhật,

Tắc năng kham thọ.

Nhĩ thời Hư Không Ấn Bồ tát, phục thuyết kệ tán ngôn:

Nhữ vị chúng sanh,

Thành tựu đại bi,

Xả tài bố thí,

Ư trược ác thế,

Nghiêm trì chư tướng,

Vi diệu đệ nhất,

Vị chư thiên nhân,

Tác điều ngự sư.

Nhĩ thời Kim Cang Trí Huệ Quang Minh Bồ Tát phục thuyết kệ tán ngôn:

Nhữ kim đại bi tâm,

Quảng đại như hư không,

Dục vị chúng sanh thân,

Cố hiện hành Bồ-đề.

Nhĩ thời Hư Không Nhật Bồ Tát phục thuyết kệ tán ngôn:

Nhữ sở thành tựu,

Đại bi công đức,

Thắng diệu trí huệ,

Thiện biệt pháp tướng,

Trừ Phật Thế Tôn,

Dư vô năng cập.

Nhĩ thời Sư Tử Hương Bồ Tát phục thuyết kệ tán ngôn:

Nhữ ư lai thế,

Ư hiền kiếp trung,

Đa phiền não xứ,

Đắc đại danh xưng,

Phục linh vô lượng,

Chư chúng sanh đẳng,

Đoạn trừ khổ não,

Đắc diệu giải thoát.

Nhĩ thời Phổ Hiền Bồ tát phục thuyết kệ tán ngôn:

Nhất thiết chúng sanh,

Cần tâm tu tập,

Sanh tử cơ ngạ,

Thiệp tà kiến sơn,

Hỗ tương thực đạm,

Vô hữu thiện tâm,

Nhữ dĩ đại bi,

Cố năng nhiếp thủ.

Nhĩ thời A-súc Bồ Tát phục thuyết kệ tán ngôn:

Thiêu diệt thiện tâm,

Chuyên tác nghịch ác,

Đọa đại vô minh,

Hắc ám chi  trung,

Vô do đắc xuất,

Phiền não  ứ  nê,

Nhữ dĩ nhiếp thủ,

Như thị chúng sanh.

Nhĩ thời Hương Thủ Bồ Tát phục thuyết kệ tán ngôn:

Nhữ kim thẩm kiến,

Vị lai chi thế,

Đa chư khủng bố,

Như quan kính tượng,

Kỳ trung chúng sanh,

Hủy hoại chánh pháp,

Giai tất thiêu diệt,

Nhất thiết thiện tâm.

Nhĩ thời Bảo Tướng Bồ Tát phục thuyết kệ tán ngôn:

Nhữ kim thuần dĩ, Trí huệ trì giới,

Tam-muội từ bi,

Trang nghiêm kỳ tâm,

Cố năng nhiếp thủ,

Thiêu diệt thiện pháp,

Phỉ báng thánh nhân,

Như thị chúng sanh.

Nhĩ thời Ly Khủng Bố Trang Nghiêm Bồ Tát phục thuyết kệ tán ngôn:

Nhữ kim sở tu,

Vô lượng khổ hạnh,

Giai vị nhiếp thủ,

Đương lai chúng sanh,

Thiêu diệt thiện tâm,

Y tà kiến giả.

Nhĩ thời Hoa Thủ Bồ Tát phục thuyết kệ tán ngôn:

Nhữ kim đại bi,

Trí huệ tinh tấn,

Ư thử đại chúng,

Vô năng cập giả,

Thị cố nhiếp thủ,

Tà kiến chư tâm,

Vi lão bệnh tử,

Chi sở bức giả.

Nhĩ thời Trí Xưng Bồ Tát phục thuyết kệ tán ngôn:

Vô lượng chúng sanh,

Đa chư bệnh khổ,

Thường vi phiền não,

Ác phong sở xuy,

Nhữ kim năng dĩ,

Đại trí huệ thủy,

Tiêu diệt chư ma,

Phá kỳ lực thế.

Nhĩ thời Địa Ấn Bồ Tát phục thuyết kệ tán ngôn:

Nhữ kim dĩ đắc,

Kiên cố tinh tấn,

Năng tận phiền não,

Nhi đắc giải thoát,

Ngã đẳng chí bạc,

Bất năng cập thị.

Nhĩ thời Nguyệt Hoa Bồ Tát phục thuyết kệ tán ngôn:

Kiên cố tu tập,

Tinh tấn dụng ý,

Y chỉ công đức,

Sanh lân mẫn tâm,

Thị cố lai thế,

Năng vị chúng sanh,

Đoạn ư tam thế,

Tam hữu kết phược.

Nhĩ thời Vô Cấu Nguyệt Bồ Tát phục thuyết kệ tán ngôn:

Bồ Tát sở hành đạo,

Đại bi vi tối thượng,

Sở thuyết bi tương lập,

Thị cố ngã khể thủ.

Nhĩ thời Trì Lực Bồ Tát phục thuyết kệ tán ngôn:

Ngũ trược ác thế,

Đa phiền não bệnh,

Nhữ y Bồ-đề,

Phát kiên cố nguyện,

Vị chư chúng sanh,

Đoạn phiền não căn.

Nhĩ thời Hỏa Man Bồ Tát phục thuyết kệ tán ngôn:

Nhữ chi trí huệ,

Do như bảo tạng,

Sở phát thệ nguyện,

Thanh tịnh vô cấu,

Sở khả tu hành,

Vô thượng bồ-đề,

Đãn vị chúng sanh,

Tác đại y vương.

Nhĩ thời Hiện Lực Bồ Tát bi khấp thế lệ, tại Phạm-chí tiền đầu diện tác lễ, hợp chưởng xoa thủ thuyết kệ tán ngôn:

Nhữ kim dĩ thử,

Đại trí huệ cự,

Vị chư chúng sanh,

Đoạn phiền não bệnh,

Diệc vị bần cùng,

Không phạp chúng sanh,

Đoạn trừ nhất thiết,

Vô lượng chư khổ.

Thiện nam tử! Nhĩ thời nhất thiết đại chúng, thiên, long, quỷ thần, càn-thát-bà, nhân cập  phi  nhân,  tại  Phạm-chí tiền đầu diện tác lễ. Lễ dĩ khởi lập hợp chưởng cung kính, dĩ chủng chủng tán pháp nhi tán thán chi.

Phật cáo Tịch Ý Bồ Tát: “Thiện nam tử! Nhĩ thời Bảo Hải Phạm-chí ư Như Lai tiền hữu tất trước địa. Thị thời đại địa lục chủng chấn động, nhất thiết thập phương như nhất Phật thế giới vi trần số đẳng chư Phật thế giới diệc lục chủng chấn động, hữu đại quang minh biến chiếu thế gian, vũ chủng chủng hoa, mạn-đà-la hoa, ma-ha mạn-đà- la hoa, ba-lợi-chất-đa hoa, mạn-thù-sa hoa,  ma-ha  mạn- thù-sa hoa, nãi chí hữu vô lượng quang minh, biến chiếu thập phương như nhất Phật thế giới, vi trần đẳng, nhược tịnh, bất tịnh chư thế giới trung, tại tại xứ xứ hiện tại chư Phật, vị chư chúng sanh thuyết ư chánh pháp. Thị chư Phật sở, các hữu Bồ Tát tọa nhi thính pháp. Thị chư Bồ Tát kiến thử đại địa lục chủng chấn động, phóng đại quang minh vũ chủng chủng hoa. Kiến thị sự dĩ, tiền bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Hà nhân duyên cố, nhi thử đại địa lục chủng chấn động, hữu đại quang minh vũ chủng chủng hoa?”

Nhĩ thời đông phương khứ thử nhất hằng hà sa đẳng thế giới, hữu Phật thế giới danh Tuyển Trạch Trân Bảo, thị trung hữu Phật hiệu Bảo Nguyệt Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn, kim hiện tại dữ vô lượng vô biên a-tăng-kỳ đẳng chư đại Bồ Tát, cung kính vi nhiễu thuyết đại thừa pháp. Hữu nhị Bồ Tát, nhất danh Bảo Tướng, nhị danh Nguyệt Tướng, hướng Bảo Nguyệt Phật, hợp chưởng cung kính nhi bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Hà nhân duyên cố, lục chủng chấn động, hữu đại quang minh vũ chủng chủng hoa?”

Nhĩ thời bỉ Phật cáo nhị Bồ Tát: “Thiện nam tử! Tây phương khứ thử như nhất hằng hà sa đẳng thế giới, bỉ hữu thế giới danh San-đề-lam, hữu Phật Thế Tôn hiệu viết Bảo Tạng Như Lai, nãi chí Phật Thế Tôn, kim hiện tại dữ vô lượng vô biên chư Bồ Tát đẳng thọ A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề ký, thuyết chư quốc độ, khai thị chư  Phật sở hữu thế giới trang nghiêm, thiện nguyện tam-muội cảnh giới, đà-la-ni môn như thị đẳng kinh. Bỉ đại hội trung hữu nhất Đại Bi Bồ Tát ma-ha-tát, tác như thị nguyện: “Ngã kim đương dĩ đại bi huân tâm, thọ A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề ký, vị chư Bồ Tát ma-ha-tát cố thị hiện thiện nguyện.”

Thị dĩ tiên linh vô lượng vô biên chư Bồ Tát đẳng phát đại thệ nguyện, thủ ư chủng chủng trang nghiêm thế giới điều phục chúng sanh. Thị Bồ Tát sở thành đại bi, ư chư đại chúng vô năng cập giả, ư ngũ trược thế điều phục tệ ác đa phiền não giả, nhiếp thủ nhất thiết ngũ nghịch chi nhân, nãi chí tập tụ chư bất thiện căn thiêu diệt thiện tâm. Bỉ chư đại chúng, thiên, long, quỷ thần, nhân cập phi nhân bất cúng dường Phật, tất cộng cúng dường tối hậu thành tựu Đại Bi Bồ Tát. Đầu diện lễ dĩ, khởi lập cung kính, hợp chưởng thuyết kệ tán thán. Thị thời Đại Bi Bồ Tát tại ư Phật tiền, hữu tất trước địa thính Phật thọ ký. Bỉ Phật Thế Tôn tức tiện vi tiếu.

Dĩ thị nhân duyên linh thử thập phương như nhất Phật sát vi trần số đẳng chư thế giới địa lục chủng chấn động, phóng đại quang minh, vũ chủng chủng hoa, tinh ngộ nhất thiết chư Bồ Tát đẳng, diệc phục thị hiện chư Bồ Tát đạo. Bỉ Phật Thế Tôn tất linh thập phương như nhất Phật sát vi trần số đẳng chư Bồ Tát giai cộng tập hội, vị như thị đẳng chư đại Bồ Tát, thuyết chư tam-muội đà-la-ni môn, vô uý pháp môn. Thị cố bỉ Phật thị hiện như thị chủng chủng biến hóa.

Thiện nam tử! Thời nhị Bồ Tát văn thị sự dĩ, tức bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Thị Đại Bi Bồ Tát phát tâm dĩ lai vi kinh kỷ thời? Hành Bồ Tát đạo phục tề kỷ thời? Hà thời đương ư ngũ trược ác thế điều phục nhiếp thủ hậu trọng phiền não, hỗ cộng đấu tranh, đa tác ngũ nghịch, thành tựu nhất thiết chư bất thiện căn, thiêu diệt thiện tâm như thị chúng sanh?”

Nhĩ thời bỉ Phật cáo nhị Bồ Tát: “Thiện nam tử! Thị Đại Bi Bồ Tát, kim nhật sơ phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam- bồ-đề tâm. Thiện nam tử! Nhữ kim khả vãng kiến Bảo Tạng Phật, cung kính cúng dường lễ bái vi nhiễu, thính thuyết tam-muội đà-la-ni môn, vô uý pháp môn, như thị  đẳng kinh, tinh kiến Đại Bi Bồ Tát ma-ha-tát. Nhữ dĩ ngã thanh tác như thị ngôn: Bảo Nguyệt Như Lai trí ý vấn tấn, dĩ thử nguyệt quang tịnh hoa tác tín dữ nhữ, hựu tán nhữ ngôn: “Thiện tai thiện tai. Thiện nam tử! Nhữ sơ phát tâm dĩ năng thành tựu như thị đại bi, nhữ kim dĩ hữu vô lượng danh xưng, biến mãn thập phương như nhất Phật sát vi trần số đẳng chư Phật thế giới, giai ngôn Đại Bi Bồ Tát. Nhữ sơ phát tâm dĩ năng thành tựu như thị đại bi. Thị cố thiện nam tử, ngã kim tán nhữ: Thiện tai thiện tai.”

Phục thứ thiện nam tử! Nhữ vị đương lai chư Bồ Tát đẳng, thành tựu đại bi cố, thuyết thị đại bi bất đoạn thiện nguyện, thụ lập pháp tràng. Thị cố phục tán: Thiện tai thiện tai.

Phục thứ thiện nam tử! Nhữ chi danh xưng vị lai thế trụ, đương như nhất Phật sát vi trần số đẳng a-tăng-kỳ kiếp, giáo bá thiên ức vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chúng sanh, an chỉ linh trụ A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, chí ư Phật sở đắc bất thối chuyển. Hoặc phát thiện nguyện hoặc thủ tịnh độ, nhiếp thủ chúng sanh tùy nhi điều phục, phục linh vị lai đắc thọ  A-nậu-đa-la  Tam-miệu  Tam-bồ-đề  ký.  Như thị chúng sanh ư vị lai thế, quá như nhất Phật sát vi trần số kiếp, đương ư thập phương như nhất Phật sát vi trần số đẳng chư Phật thế giới thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam- bồ-đề, chuyển chánh pháp luân, phục đương tán thán Đại Bi Bồ Tát. Thị cố dĩ thử tam tán thán pháp tán thán ư nhữ: Thiện tai thiện tai.

Thiện nam tử! Nhĩ thời bỉ độ hữu cửu thập nhị ức chư Bồ Tát ma-ha-tát, dị khẩu đồng thanh tác như thị ngôn: “Thế Tôn! Ngã đẳng dục vãng San-đề-lam giới kiến Bảo Tạng Phật, lễ bái cúng dường, cung kính vi nhiễu, thính chư tam- muội đà-la-ni môn, vô uý pháp môn, như thị đẳng kinh, tinh dục kiến ư Đại Bi Bồ Tát.”

Nhĩ thời bỉ Phật dĩ thử tam tán thán pháp cập nguyệt quang tịnh hoa, dữ nhị Bồ Tát nhi cáo chi viết: “Nghi tri thị thời.”

Nhĩ thời Bảo Tướng Bồ Tát, Nguyệt Tướng Bồ Tát ư bỉ Phật sở thủ nguyệt quang tịnh hoa, tinh dữ cửu thập nhị ức Bồ Tát ma-ha-tát, phát bỉ thế giới như điện quang phát, một bỉ tức đáo San-đề-lam sát, Diêm-phù viên trung, Bảo Tạng Phật sở. Đáo Phật sở dĩ, đầu diện lễ túc, dĩ chư Bồ Tát sở đắc chủng chủng sư tử du hý cúng dường Phật dĩ, kiến Bảo Hải Phạm-chí vi thử đại chúng sở cộng cung kính, hợp chưởng tán thán.

Kiến thị sự dĩ tức tiện tư duy: “Kim thử đại sĩ, hoặc đương tức thị Đại Bi Bồ Tát, thị cố năng linh Bảo Nguyệt Như Lai tống thử bảo hoa.”

Thị nhị Bồ Tát, tầm ư Phật tiền toàn hướng Phạm-chí, tức dĩ hoa dữ tác như thị ngôn: “Bảo Nguyệt Như Lai dĩ thử diệu hoa dữ nhữ vi tín, tinh tam tán pháp như thượng sở thuyết.”

Như thị đông phương vô lượng vô biên a-tăng-kỳ chư Phật thế giới, diệc khiển vô lượng Bồ Tát ma-ha-tát, chí San-đề-lam giới, giai dĩ nguyệt quang tịnh hoa, tam tán thán pháp dư như thượng thuyết.

Thiện nam tử! Nhĩ thời nam phương khứ thử thất vạn thất thiên bá thiên ức Phật thế giới, hữu Phật thế giới danh Bảo Lâu Sư Tử Hống, hữu Phật hiệu Sư Tử Tướng Tôn Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô  thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn, kim hiện tại vị chư Bồ Tát thuyết Đại thừa pháp. Hữu nhị Bồ Tát ma-ha-tát, nhất danh Kim Cang Trí Tướng, nhị danh Sư Tử Kim Cang Tướng.

Thị nhị Bồ Tát bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Hà nhân duyên cố địa lục chủng động, hữu đại quang minh, vũ chủng chủng hoa?” Giai như đông phương chư Bồ Tát bỉ.

Phục thứ nam phương vô lượng vô biên chư Phật, khiển vô lượng Bồ Tát chí San-đề-lam giới diệc như thị.

Nhĩ thời tây phương khứ thử bát vạn cửu thiên bá thiên ức thế giới, hữu thế giới danh An Lạc, hữu Phật hiệu Nhiếp Chư Căn Tịnh Mục Như Lai, kim hiện tại vị tứ bộ chúng thuyết tam thừa pháp. Hữu nhị Bồ Tát, nhất danh Hiền Nhật Quang Minh, nhị danh Sư Tử Hống Thân.

Thị nhị Bồ Tát bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Hà nhân duyên cố địa lục chủng động, hữu đại quang minh, vũ chủng chủng hoa?” Dư như thượng thuyết.

Như thị tây phương vô lượng thế giới diệc phục như thị.

Nhĩ thời bắc phương quá cửu vạn bá thiên ức thế giới, bỉ hữu thế giới danh Thắng Chân Bảo, hữu Phật hiệu Thế Gian Tôn Vương Như Lai, kim hiện tại vị chư Bồ Tát thuyết đại thừa pháp.

Hữu nhị Bồ Tát, nhất danh Bất Động Trụ, nhị danh Đắc Trí Huệ Thế Gian Tôn Vương. Thị nhị Bồ Tát bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Hà nhân duyên cố địa lục chủng động.” Dư như thượng thuyết.

Bắc phương vô lượng thế giới diệc như thị.

Nhĩ thời hạ phương quá cửu vạn bát thiên bá thiên ức na-do-tha thế giới, hữu thế giới danh Ly Ám Vụ, hữu Phật hiệu Ly Khủng Bố Vi Nhiễu Âm, kim hiện tại vị tứ bộ chúng thuyết tam thừa pháp. Hữu nhị Bồ Tát, nhất danh Nhật Tôn, nhị danh Hư Không Nhật. Thị nhị Bồ Tát bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Hà nhân duyên cố địa lục chủng động?” Dư như thượng thuyết.

Hạ phương thế giới diệc phục như thị.

The post Kinh Bi Hoa – PHẨM THỨ TƯ – PHẦN IV – BỒ TÁT THỌ KÝ appeared first on Bạch Hạc - Phật Giáo Việt Nam.

]]>